1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tính từ chỉ màu sắc trong thơ hàn mặc tử

60 1,4K 23
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Tính Từ Chỉ Màu Sắc Trong Thơ Hàn Mặc Tử
Tác giả Ngô Thị Hiền
Người hướng dẫn TS. Trịnh Thị Mai
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khóa luận tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 477 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó có thể nói, từ đơn chỉ màu vàng làmcho sắc thái màu trong thơ Hàn Mặc Tử mang giá trị biểu trưng cao hơn.Khảo sát 50 từ chỉ màu vàng trong thơ Hàn Mặc Tử thì chỉ có 8 từ ghép.Trong

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHKHOA NGỮ VĂN -

NGÔ THỊ HIỀN

TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ

VINH 2011

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

Trang 2

KHOA NGỮ VĂN -

TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG THƠ HÀN MẶC TỬ

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Khóa luận này được hoàn thành ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi còn được sự giúp đỡ tận tình của TS Trịnh Thị Mai – người trực tiếp hướng dẫn tôi, cùng với sự động viên, khích lệ và chỉ bảo của các thầy cô giáo khoa Ngữ Văn Trường Đại Học Vinh Mặc dù đã rất cố gắng, song thời gian và năng lực có hạn, khóa luận này không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, tôi rất mong được sự thông cảm và góp ý của các thầy cô giáo, cùng các bạn sinh viên để khóa luận này được hoàn chỉnh hơn.

Tôi xin chân thành cảm ơn.

Vinh, ngày 01 tháng 05 năm 2011

Sinh viên Ngô Thị Hiền

Trang 4

Mục lục

Trang

Mở đầu……… 1

1 Lý do chọn đề tài………… 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng, mục đích nghiên cứu 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Bố cục của luận văn 6

Chương 1 Những vấn đề chung liên quan đến đề tài 7

1.1 Tính từ và tính từ chỉ màu sắc 7

1.1.1 Tính từ 7

1.1.2 Tính từ chỉ màu sắc 10

1.2 Hàn Mặc Tử - Tác giả và tác phẩm 14

1.2.1 Tác giả 14

1.2.2 Tác phẩm 16

1.2.3 Vị trí của thơ Hàn Mặc Tử trong nền thơ ca Việt Nam 18

Chương 2 Phân loại tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử 21

2.1 Kết quả thống kê, phân loại 21

2.2 Các loại tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử 22

2.2.1 Tính từ chỉ màu vàng 22

2.2.2 Tính từ chỉ màu xanh 26

2.2.3 Tính từ chỉ màu trắng 32

2.2.4 Tính từ chỉ màu đỏ 35

2.2.5 Tính từ chỉ màu hồng 38

2.3 Tiểu kết 40

Chương 3 Vai trò của tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử 42

3.1 Tính từ chỉ màu sắc với vai trò là phương tiện thể hiện bức tranh thiên nhiên tràn đầy màu sắc 42

3.2 Tính từ chỉ màu sắc với vai trò là phương tiện thể hiện nỗi niềm, tâm trạng của một con người chịu nỗi đau bệnh tật 47

3.3 Tiểu kết 55

Kết luận 57

Tài liệu tham khảo 58

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài.

1.1 Ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ của cảm xúc, là sự thăng hoa của người

nghệ sĩ Mỗi từ ngữ, mỗi hình ảnh đều thể hiện những cung bậc tình cảm củangười viết Từ ngữ trong thơ giữ một vai trò quan trọng Nó không chỉ là chấtliệu để sáng tác mà còn là phương tiện để nhà thơ giãi bày cảm xúc

1.2 Hàn Mặc Tử là một trong những hiện tượng đôc đáo, là ngôi sao lạcủa nền thơ ca Việt Nam thế kỉ 20 Thơ Hàn Mặc Tử chính là con người, cuộcđời Hàn Mặc Tử Tuy quãng đời ngắn ngủi nhưng thi nhân đã để lại nhiều tậpthơ có giá trị đi vào lòng các thế hệ bạn đọc Thơ Hàn Mặc Tử là sự hòa sắccủa cả lãng mạn, tượng trưng và siêu thực Ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử đượcđánh giá là độc đáo, có sức ám ảnh lớn Tính từ chỉ màu sắc là một phươngdiện nổi trội góp phần làm nên cái độc đáo ấy Chính vì vậy, việc tìm hiểu

“Tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử” sẽ là cơ sở chắc chắn để chúng

ta khẳng định tài năng của nhà thơ, khẳng định một nét riêng biệt của thơ HànMặc Tử

1.3 Hiện nay, thơ của Hàn Mặc Tử đã được đưa vào giảng dạy ở trườngphổ thông Do đó, tìm hiểu “Tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử” cũng

là một việc làm có đóng góp thiết thực cho việc học tập và giảng dạy thơ ông

Trang 6

thường được nghiên cứu từ bình diện giải mã ngữ nghĩa, phân tích nội dung.Ngày nay thi pháp học hiện đại phát triển, việc tiếp cận một tác phẩm vănhọc được mở rộng ra từ nhiều góc độ khác nhau Xu hướng tiếp cận tác phẩmvăn học từ góc độ ngôn ngữ hiện nay được rất nhiều nhà nghiên cứu áp dụng.Việc phân tích tác phẩm văn học từ góc độ ngôn ngữ này sẽ phát hiện ra đượcvai trò, ý nghĩa của nó trong việc biểu hiện nội dung tác phẩm và thể hiệnphong cách nhà văn Trong đó việc nghiên cứu từ ngữ trong các tác phẩmcũng là một hướng đi mới của nhiều tác giả, nhất là hướng tiếp câ ̣n từ phươngdiê ̣n từ loa ̣i.

Vấn đề khảo sát từ loại tính từ trong các tác phẩm văn học tuy còn ítnhưng cũng có một số công trình đề cập tới, chủ yếu là các luâ ̣n văn tha ̣c sĩnhư : “Khảo sát từ loại tính từ trong Truyện Kiều” của Nguyễn Thị Kim Anh,

“ Khảo sát nhóm từ biểu thị màu sắc trong thơ Mới” của Nguyễn Thị NgọcQuỳnh, “Nhóm từ biểu thi ̣ hương vi ̣ trong thơ Mới” của Nguyễn Thi ̣ Ngân,

“ Tính từ mô phỏng trong tập thơ “ Góc sân và khoảng trời” của Trần ĐăngKhoa” của Hoàng Thị Yến,…

Riêng tính từ chỉ màu sắc không chỉ là mô ̣t tiểu loa ̣i quan tro ̣ng của tínhtừ trong Tiếng Viê ̣t mà còn là mô ̣t bô ̣ phâ ̣n từ ngữ rất quan tro ̣ng trong thơ cathì đã được nghiên cứu nhưng cũng chưa nhiều Đó là mô ̣t số bài viết hoă ̣cluâ ̣n văn như : Đào Thản với các bài viết : “Hê ̣ thống từ chỉ màu phu ̣ trongTiếng Viê ̣t” và “Màu đỏ trong thơ”, Nguyễn Thi ̣ Ngo ̣c Quỳnh với luâ ̣n văntha ̣c sĩ : “Khảo sát nhóm từ biểu thi ̣ màu sắc trong thơ Mới”, Nguyễn Hữu Anvới luâ ̣n văn : “Vốn từ chỉ màu sắc”, Nguyễn Thi ̣ Ngân Hoa với bài viết :

“Màu xanh trong thơ Tố Hữu” (Ngữ ho ̣c trẻ, 2005)

2.2 Những công trình nghiên cứu về thơ Hàn Mặc Tử

Ngay từ lúc mới sáng tác, ngôi sao Hàn Mặc Tử đã toả sáng trên thi đànThơ Mới như một hiện tượng kì dị Đương thời ông là “Con rồng của nhóm

Tứ linh”, “vị chúa của Trường thơ Loạn”, gương mặt tiêu biểu cho thơ caTượng trưng ở Bình Định Hơn nửa thế kỉ từ khi Hàn Mặc Tử qua đời, có

Trang 7

nhiều đánh giá khác nhau về thơ ông : người khen cũng lắm, kẻ chê cũng

không ít…Năm 1931, Phan Bội Châu khi đọc được ba bài thơ (Chùa hoàng,

Gái ở chùa, Thức khuya ) của Hàn Mặc Tử đăng ở Thực Nghiệp dân báo đã

tấm tắc khen ngợi “chưa gặp bài nào hay đến thế” và ước ao có ngày gặp gỡ.Năm 1936, với tập “Gái quê”, Hàn Mặc Tử khoác một dung nhan lạ lẫm khácthường chính thức ra mắt sàn diễn Thơ Mới khiến dư luận xôn xao Đặc biệtkhi “Trường thơ Loạn” và tập “Thơ điên” xuất hiện thì giới nghiên cứu khôngthể không chú ý tới hiện tượng này Hoài Thanh trong “Thi nhân Việt Nam”nhận xét : “Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm Có ngườibảo Hàn Mặc Tử, thơ với thẩn gì, toàn nói nhảm Có người còn nghiêm khắchơn nữa : “Thơ gì mà rắc rối thế Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc, cứ đọc

đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình” Năm 1940, khi thi sĩ tài hoa này qua đờithì Làng thơ Việt Nam, giới nghiên cứu phê bình và công chúng yêu thơ HànMặc Tử chợt bừng tỉnh.Trên các tờ báo liên tục đăng các bài viết của các tácgiả : Chế Lan Viên, Hoàng Trọng Miên, Quách Tấn, Bích Khê,… ca tụngthiên tài Hàn Mặc Tử Chế Lan Viên khẳng định một cách quyết liệt : “Tử làmột thiên tài Tử mới chính thật là thiên tài trên cái nghèo kém của đất nướcnày” Trọng Miên coi Hàn Mặc Tử là một thiên tài, một nguồn thơ tân kì làmbằng máu, bằng lệ, bằng hồn với tất cả sự say mê, rung động của một ngườihoàn toàn đau khổ Trần Thanh Mại trong “Thân thế và thi văn” khẳng định :

“Hàn Mặc Tử là người đầu tiên trong thế kỉ 20 mở một cuộc cải cách cho vănchương Việt Nam và thành công một cách rực rỡ” Năm 1940, Hoài Thanh,Hoài Chân giới thiệu Hàn Mặc Tử trong “Thi nhân Việt Nam” Năm 1945,

Vũ Ngọc Phan giới thiệu Hàn Mặc Tử trong “Nhà văn Việt Nam hiện đại”

Từ năm 1945 đến 1975 do nhiều lý do trên văn đàn Việt Nam ít nhắc tới HànMặc Tử Sau năm 1975, nhiều công trình nghiên cứu Hàn Mặc Tử xuất hiệntrở lại Đặc biệt chú ý tới 3 công trình của các tác giả : Phan Cự Đệ, VươngTrí Nhàn và Trần Thị Huyền Trang đã giới thiệu tương đối đầy đủ về thơ HànMặc Tử cũng như các ý kiến đánh giá về thơ ông qua các thời kì

Trang 8

Trên đây là các công trình nghiên cứu thơ Hàn Mă ̣c Tử từ góc đô ̣ lýluâ ̣n văn ho ̣c Riêng về ngôn ngữ thơ Hàn Mă ̣c Tử, cũng đã có mô ̣t số tác giảđề câ ̣p tới như : Chế Lan Viên, Quách Tấn, Trần Thanh Ma ̣i, Vũ Ngo ̣c Phan,

Thơ Hàn Mặc Tử trước hết được đánh giá ở cách sử dụng từ ngữ, câuthơ Đặc biệt ông hay sử dụng từ Hán Việt Đồng thời ông cũng thường sửdụng những từ, cụm từ quen thuộc, dân dã, gần gũi với người Việt Nam.Trong hành trình Thơ mới cũng như ngôn ngữ thơ ca Việt Nam, Hàn Mặc Tửđược đánh giá : “Nếu được kể tên 10 nhà thơ Tiếng Việt (chữ Nôm) được biếttới tôi dám kể có Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Du và cuốicùng là Hàn Mặc Tử” (Nguyễn Quân) Ngôn ngữ thơ Hàn Mặc Tử vừa cổđiển vừa tân kì, nó đặc sắc ở chỗ “ngũ quan” và “tứ chi” của người thơ khôngtách bạch ra được khỏi hồn và phách, ý và tứ thơ Các tác giả Trần Thị HuyềnTrang, Đặng Tiến, Yến Lan,…khẳng đi ̣nh thơ Hàn Mặc Tử có nhiều hình ảnh

và ngôn từ lấy trong Kinh Thánh Vương Trí Nhàn lại tìm thấy “vẻ đẹp kì dị”rất hiện đại của ngôn ngữ thơ câu thơ buộc ra như một sự dứt bỏ, tự giải thoát(Hàn Mặc Tử -Hương thơm và mật đắng) Còn Phan Cự Đệ lại nêu lên nhữngđặc điểm thơ Hàn Mặc Tử trên nhiều phương diện, đặc biệt là tính nhạc, tínhchính xác tuyệt diệu của ngôn từ thơ đến mức không thể thay thế [7, 29-30]

Nhìn chung đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về thơ Hàn

Mă ̣c Tử nhưng riêng về ngôn ngữ thì còn ít công trình chuyên sâu Đă ̣c biê ̣t,chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu tính từ chỉ màu sắc trong thơ ông.Chính vì vâ ̣y, chúng tôi cho ̣n đề tài “Tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mă ̣cTử” làm đối tượng nghiên cứu

3.Đối tươ ̣ng, mu ̣c đích nghiên cứu.

3.1 Đối tượng nghiên cứu.

Đối tươ ̣ng nghiên cứu của đề tài là các tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn

Mă ̣c Tử Tư liê ̣u thống kê là cuốn “Thơ Hàn Mă ̣c Tử” do Mã Giang Lân

Trang 9

tuyển chọn, nhà xuất bản Văn hoá thông tin với 6 tập thơ : Lệ Thanh thi tập,

Gái quê, Đau thương, Xuân như ý, Thượng thanh khí, Cẩm châu duyên.

3.2 Mục đích nghiên cứu.

Nghiên cứu đề tài này nhằm mu ̣c đích tìm hiểu các loa ̣i tính từ chỉ màusắc trong thơ Hàn Mă ̣c Tử, phân tích đă ̣c điểm của từng loa ̣i màu sắc trongthơ Hàn Mă ̣c Tử Từ những tính từ chỉ màu sắc đó để thấy được vai trò của nóđối với thơ Hàn Mă ̣c Tử Qua hê ̣ thống tính từ chỉ màu sắc, luâ ̣n văn nhằmtìm ra những đă ̣c trưng, những nét đô ̣c đáo của thơ Hàn Mă ̣c Tử

4 Nhiê ̣m vu ̣ nghiên cứu.

•Thống kê, phân loa ̣i các tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mă ̣c Tử

•Miêu tả các tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mă ̣c Tử qua các sắc đô ̣

màu để thấy được giá tri ̣ ngữ nghĩa của chúng Từ đó, thấy được du ̣ng ýcủa nhà thơ trong viê ̣c dùng các tính từ chỉ màu sắc

•Tìm hiểu vai trò của lớp tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mă ̣c Tử.

5 Phương pháp nghiên cứu.

Để thực hiê ̣n đề tài này, chúng tôi đã sử du ̣ng các phương pháp :

•Phương pháp thống kê, phân loa ̣i.

•Phương pháp phân tích, miêu tả.

• Phương pháp so sánh

6 Đóng góp của luâ ̣n văn

Luâ ̣n văn của chúng tôi là công trình đầu tiên đi sâu khám phá mô ̣t nét

đă ̣c sắc của ngôn ngữ thơ Hàn Mă ̣c Tử, đó là tính từ chỉ màu sắc Do đó, luâ ̣nvăn có những đóng góp nhất đi ̣nh cho viê ̣c phân tích ngôn ngữ thơ nói chungvà ngôn ngữ thơ Hàn Mă ̣c Tử nói riêng Đă ̣c biê ̣t, công trình có ý nghĩa thiếtthực đối với viê ̣c phân tích có hiê ̣u quả các bài thơ của Hàn Mă ̣c Tử ở trườngphổ thông, góp phần giúp ho ̣c sinh thấy được cái hay, cái đe ̣p và những nét

đô ̣c đáo của mô ̣t gương mă ̣t tiêu biểu trong nền thơ ca Viê ̣t Nam

Trang 10

7 Bố cục của luâ ̣n văn.

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luâ ̣n văn gồm có 3 chương : Chương 1 : Những vấn đề chung liên quan đến đề tài

Chương 2 : Phân loại tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử Chương 3 : Vai trò của tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Tính từ và tính từ chỉ màu sắc

1.1.1 Tính từ.

1.1.1.1 Khái niệm.

Trang 11

Tính từ là mô ̣t trong ba từ loa ̣i cơ bản của Tiếng Viê ̣t Khi bàn về tính từ,các nhà nghiên cứu đều thống nhất : Tính từ là những từ chỉ tính chất, đă ̣cđiểm của sự vâ ̣t, hiê ̣n tượng hoă ̣c của quá trình, hoa ̣t đô ̣ng.

1.1.1.2 Đặc điểm.

- Về ý nghĩa : Tính từ là những từ chỉ đă ̣c điểm, tính chất

- Về khả năng kết hợp trong cu ̣m từ

+ Tính từ có khả năng làm trung tâm của cu ̣m tính từ

Ví du ̣ : Anh ta rất lười ho ̣c.

TT+ Tính từ kết hợp trực tiếp với các phó từ chỉ mức đô ̣, chỉ sự tiếp diễn, chỉ sự phủ đi ̣nh,… ở phía trước và kết hợp với rất nhiều từ loa ̣i ở phía sau

Ví du ̣ : rất đẹp

hơi lười ho ̣c

không giỏi lắm

rộng thêng thang 8 mét

xanh biêng biếc

- Về chức vu ̣ ngữ pháp trong câu

Tính từ cũng như đô ̣ng từ luôn đảm nhâ ̣n chức vu ̣ vi ̣ ngữ trong câu.Ví du ̣ : Hoa lục bình // tím cả bờ sông.

Nàng // xanh xao như một tàu lá

Ngoài ra, tính từ còn có khả năng làm thành phần chủ ngữ, định ngữ chodanh từ, bổ ngữ cho động từ và cho các tính từ khác

Ví dụ:

Tia // lửa đỏ -> tính từ làm đi ̣nh ngữ cho danh từ.

Biển đen // màu mực ai mài.-> tính từ làm chủ ngữ.

1.1.1.3 Phân loại tính từ

Việc phân loại tính từ có nhiều quan điểm khác nhau:

Trang 12

Diệp Quang Ban trong “Ngữ pháp Tiếng Việt” chia tính từ thành hailoại:

- Lớp từ chỉ đặc trưng không xác định thang độ

Đây là lớp tính từ chỉ đặc trưng không biểu thị ý nghĩa tự thân Chúng

thường kết hợp với phụ từ chỉ ý nghĩa thang độ : rất, hơi, khi, quá, lắm,…

hoặc kết hợp với thực từ hàm ý chỉ thang độ Tính từ chỉ đặc trưng không xácđịnh thang độ gồm :

+ Tính từ chỉ phẩm chất : tốt, đẹp, xấu, hèn, mạnh,…

+ Tính từ chỉ đặc trưng về lượng : nhiều, ít, cao, thấp, rộng, hẹp,…

+ Tính từ chỉ đặc trưng về cường độ : nóng, lạnh, sáng, tối,…

+Tính từ đặc trưng về hình thể : vuông, tròn, thẳng, cong,…

+ Tính từ chỉ đặc trưng về màu sắc : xanh, đỏ, tím, vàng,…

+ Tính từ chỉ đặc trưng âm thanh : ồn, im, vắng, ồn ào, lặng lẽ,…

+ Tính từ chỉ đặc trưng mùi vị : thơm, thối, đắng, cay, ngọt,…

- Lớp từ chỉ đặc trưng xác định thang độ

Lớp tính từ này chỉ đặc trưng đồng thời biểu thị thang độ của đặc trưngtrong ý nghĩa tự thân, thường là ở mức tuyệt đối Do đó, chúng không kết hợp

với phụ từ mức độ như rất, hơi, quá, lắm,…và cũng không đòi hỏi thực từ đi

kèm để bổ nghĩa Trong lớp tính từ này có các nhóm :

+ Tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối Số lượng từ trong nhóm này rất hạn chế :

riêng, chung, công, tư, chính, phụ,… Chúng thường dùng kèm với danh từ,

hoặc với động từ để bổ nghĩa cho danh từ, động từ

+ Tính từ chỉ đặc trưng tuyệt đối không làm thành cặp đối lập Các từ

trong nhóm này thường là từ láy hoặc từ ghép : đỏ lòm, trắng phau, đen sì,

xanh xanh,… Ý nghĩa đặc trưng tự thân ở thang độ tuyệt đối, không được đặtvào thế đối lập, so sánh Nhóm này không kết hợp với phụ từ chỉ mức độ + Tính từ chỉ đặc trưng mô phỏng Các từ trong nhóm có cấu tạo ngữ âmtheo lối mô phỏng trực tiếp đặc trưng âm thanh, hoặc theo lối biểu trưng - âm

nghĩa, mô phỏng gián tiếp hình thể của sự vật, hành động hoặc tính chất : ào

Trang 13

ào, đùng đùng, lè tè, lênh khênh,…Tính từ mô phỏng có thể kết hợp hạn chế

với phụ từ hơi.

Cũng phân thành 2 loa ̣i tính từ được đánh giá theo thang đô ̣ và khôngđươ ̣c đánh giá theo thang đô ̣, còn có tác giả Lê Biên Theo ông, tính từ đượcchia làm 2 loa ̣i :

- Tính từ không được đánh giá theo thang đô ̣ (Tính từ chỉ đă ̣c trưng tínhchất tuyê ̣t đối) Đây là những tính từ mà bản thân đã hàm chứa ý nghĩa tuyê ̣tđối về đă ̣c điểm, tính chất cho nên không kết hợp với các phó từ chỉ mức đô ̣.Loa ̣i này gồm các tính từ :

+ công, chung, riêng, tư,…

+ trống, mái, chẵn, lẻ,…

+ đỏ au, xanh rì,…

- Tính từ được đánh giá theo thang đô ̣ Những tính từ này có thể so sánh vềmức đô ̣ của đă ̣c trưng nên nó kết hợp trực tiếp với các phó từ chỉ mức đô ̣.Tiểu loa ̣i này gồm :

+ Tính từ chỉ màu sắc, mùi vi ̣ : xanh, đỏ, đắng, cay,…

+ Tính từ chỉ thuô ̣c tính vâ ̣t lý : mềm, dẻo, cứng,…

+ Tính từ chỉ tra ̣ng thái tâm lý : hiền, ác, tử tế, di ̣u dàng,…

Tác giả Đỗ Thị Kim Liên trong “Ngữ pháp Tiếng Việt” chia tính từthành các tiểu nhóm sau :

-Nhóm tính từ chỉ tính chất - phẩm chất : xấu, đẹp, giàu, sang, hèn, kém,…

- Nhóm tính từ chỉ trạng thái : nhanh, chậm,…

- Nhóm tính từ chỉ kích thước - số lượng : to, nhỏ, nặng, nhẹ,…

-Nhóm tính từ chỉ màu sắc : xanh, đỏ, tím, vàng,…

1.1.2 Tính từ chỉ màu sắc.

1.1.2.1 Khái niệm màu sắc.

Màu sắc hiện diện mọi lúc mọi nơi trong cuộc sống hằng ngày, nhìn rathiên nhiên, biển trời bát ngát một màu xanh, mây trắng bồng bềnh, mái ngói

đỏ tươi, hoa lá muôn màu,…Và xung quanh ta từ những vật dụng thường

Trang 14

ngày, sách báo tranh ảnh cho đến quần áo, trang sức đều được tô điểm bằngnhững màu sắc đa dạng, phong phú và vui mắt Nghĩa là tất cả sự vật tồn tạixung quanh ta đều có màu sắc Màu sắc làm cho con người và cuộc sống thêmtươi đẹp, đáng yêu hơn.

Màu sắc là một hiện tượng phong phú, gần gũi mà con người nhận biếtđược liên tục hằng ngày Thông thường, mắt con người nhận biết được vô vànmàu sắc và màu sắc đó luôn biến đổi trong tương quan bất tận của chúng dướitác động của các nguồn sáng khác nhau Nguồn ánh sáng chủ yếu vẫn là mặttrời Ánh sáng mặt trời lại liên tục thay đổi : ánh sáng buổi bình minh khácánh sáng trưa, chiều, tối Nguồn sáng không chỉ tác động vào đối tượng cómàu mà còn tác động vào cả bộ máy quang học của con người là đôi mắt Bảnthân đôi mắt, với sự khép mở dưới tác động của nguồn sáng cũng thay đổiliên tục và tinh vi Như vậy cả ba yếu tố : ánh sáng, một vật thể và con mắtngười tạo điều kiện cho sự nhìn màu luôn thay đổi, do đó màu là gì là điều rấtkhó nắm bắt

Có thể nói, màu sắc trong tự nhiên đồng nhất với dải quang phổ mà ta lần

lượt có các màu: đỏ, da cam, vàng, lục, lam, chàm, tím Đó là các màu, các

khoảng nhìn thấy được của mắt Ranh giới giữa các màu nhiều khi chỉ là sựtương đối

Màu sắc là sự biểu hiện phức tạp của nhận thức và cảm thụ thị giác Nó

là đối tượng của hàng loạt ngành khoa học và kĩ thuật khác nhau Hoá học coi

nó là biểu hiện của phổ ánh sáng Nghề in coi việc in màu là một nghệ thuật,thực hiện các cách chồng màu để có màu gần với sự thực Và văn học cũng sửdụng nó như một phương thức nghệ thuật để chuyển tải những cảm quan nghệthuật, những tâm trạng, những nỗi niềm của thi nhân

Trong sáng tạo nghệ thuật không thể thiếu được màu sắc, bởi nó là mộttrong những ngôn ngữ tạo hình rất quan trọng Trong hội hoạ, các nhà nghiêncứu đưa ra khái niệm “vòng tròn màu” và “dải phổ màu” để nói đến cái gốccủa việc nghiên cứu màu Ánh sáng là thái cực đầu tiên Từ đó người ta tìm ra

Trang 15

ba màu gốc “thánh ba ngôi” là : đỏ - vàng - lam Ba màu này kết hợp từng đôimột cho ta ba màu phái sinh cơ bản nữa là : da cam - lục - tím Theo đĩa màucủa Niutơn ta có ba màu gốc là: đỏ - vàng – lam, với hai màu nóng (đỏ, vàng )

và một màu lạnh ( lam ) Ba màu nhị hợp là xanh lục, da cam, tím với hai màulạnh, một màu nóng Như vậy, vòng tròn màu có hai nửa nóng lạnh với bamàu nóng và ba màu lạnh Các màu đặt cạnh nhau hoặc đối lập nhau nênvòng tròn màu đều nảy sinh ra màu Độ sáng, tối của màu quyết định sắc độcủa màu

Một trong những yếu tố làm nên tính cá biệt, tính ấn tượng trong hội hoạ

đó là sự pha trộn, kết hợp hài hoà giữa các màu trong tranh Sự hài hoà củamàu là khái niệm khó định nghĩa Tuy nhiên nếu công nhận “vòng tròn màu”với khái niệm nàu, độ tối, sáng,…thì sự hài hoà của màu nghĩa là các yếu tố

đó phải đươc sử dụng thế nào để thoả đôi mắt một cách tốt nhất

Sự kết hợp, sắp xếp, pha trộn giữa các màu khác nhau gợi lên nhữngkhông gian có chiều rộng, chiều dài và cả chiều sâu Chính sự tương quangiữa các màu cụ thể tạo ra các hiệu quả thẫm mỹ cụ thể Vì vậy, không nêngắn cho các biểu hiện màu sắc một ngữ nghĩa cố định Màu đen không nhấtthiết là nặng nề, tăm tối mà có khi nó êm ái, ấm áp Màu hồng không nhấtthiết là vị ngọt và cảm giác mỏng, nhẹ Tất cả phụ thuộc vào tương quan cụthể và phong phú của màu, chỉ có đời sống màu sắc cụ thể của mỗi người cầmbút và người thưởng thức mới là chân lý đáng tin cậy

Sự nhận biết màu sắc rõ ràng do thị giác mang lại nhưng nó không baogiờ tách khỏi các hiệu quả tâm lý, xúc cảm do màu sắc gây ra Màu sắc tácđộng một cách phức tạp, tinh vi và rất nhanh nhạy vào tâm lý và gây ra xúccảm, gây liên tưởng, tác động mạnh mẽ tới con người Tâm lý màu dựa trênmột loạt thói quen không ổn định của con người về màu Đó là các thói quenthị giác màu có tính phổ quát nhất Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử của dântộc, do điều kiện khí hậu, địa lý, tôn giáo, tư tưởng, các tập tục văn hoá màmỗi dân tộc cố kết dần cho mình một tâm lý màu riêng với những nét độc đáo

Trang 16

riêng Với mỗi cá nhân con người cũng vậy, mỗi người có một tâm lý màuhình thành do kinh nghiệm màu trong lịch sử cá nhân để lại Tác động tâm lýcủa màu còn phụ thuộc vào mỗi cảnh và tình huống, nó không tách khỏi tìnhtrạng tâm lý cụ thể của người cảm thụ màu.

1.1.2.2 Tính từ chỉ màu sắc

a) Về từ “màu sắc”

Theo từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên ), từ “màu sắc” được địnhnghĩa như sau :

Khi đóng vai trò là danh từ, “màu sắc” có 2 nghĩa cơ bản :

1.Các màu không kể đen và trắng (nghĩa khái quát)

Ví dụ: Bức tranh nhiều màu sắc, màu sắc hài hoà,…

2.Tính chất đặc thù

Ví dụ : Màu sắc dân tộc, màu sắc tôn giáo,…

Bản thân từ “màu” cũng gợi lên sắc thái biểu thị “sắc”, “Từ điển TiếngViệt” của Hoàng Phê cũng định nghĩa :

Màu : 1 Thuộc tính vật thể hiện ra nhờ tác động của ánh sáng và nhận biếtbằng mắt cùng với hình dáng giúp phân biệt vật này với vật khác

Ví dụ : Màu vàng của lá, màu xanh của nước biển,…

2 Chất dung để tô thành các màu khi vẽ

Ví dụ : Pha màu, hợp màu,…

3 Màu không kể đen và trắng (nói khái quát)

Ví dụ : Ảnh màu, phông màu, phim màu,…

4 Toàn bộ những biểu hiện bên ngoài tạo nên cảm giác có một tínhchất nào đó

Ví dụ : Bầu không khí nhuộm màu tang tóc,…

b) Về tính từ chỉ màu sắc

Như đã nói, tính từ là những từ chỉ đă ̣c điểm, tính chất Tính từ đượcchia thành nhiều loa ̣i, trong đó có mô ̣t loa ̣i là tính từ chỉ màu sắc Tính từ chỉmàu sắc là tính từ chuyên thể hiê ̣n đă ̣c điểm về màu sắc của sự vâ ̣t, hiê ̣n tượng

Trang 17

như : xanh, đỏ, tím, vàng, đen, xanh lè, đỏ lòm, tím ngắt,… Số lượng tính từ

chỉ màu sắc tương đối nhiêu, bao gồm cả từ đơn, từ ghép và từ láy Do vâ ̣y,

trong đó vừa có những tính từ được đánh giá theo thang đô ̣ như : xanh, đỏ,

vàng,… và vừa có những tính từ không được đánh giá theo thang đô ̣ như : xanh rì, tim tím, đỏ loét,…

Tính từ chỉ màu sắc cũng có những đă ̣c điểm chung của tính từ như đãnêu ở trên

1.2 Hàn Mặc Tử - tác giả và tác phẩm

1.2.1 Tác giả.

Hàn Mặc Tử sinh ngày 22.12.1912 tại một làng quê nhỏ ven biển ĐồngHới - Quảng Bình Hàn Mặc Tử tên khai sinh là Nguyễn Trọng Trí kèm thánhdanh là Pierre sau đổi thành Fran cois Xavier (tên thánh thêm sức) Cậu bé ấy

đã lớn lên trong sự thương yêu đùm bọc của mẹ là Nguyễn Thị Duy - mộtngười phụ nữ xứ Huế hiền lành, trung hậu, chịu thương chịu khó cùng với bố

là Chủ sự Thương chánh Nguyễn Văn Toản Đó là một gia đình ngoan đạo, nềnếp Gia đình có tất cả 6 anh chị em Người anh cả là Nguyễn Bá Nhân, chínhnhờ anh mà Hàn Mặc Tử có điều kiện được tiếp tục con đường học vấn saukhi cha mất Cũng nhờ Bá Nhân dìu dắt mà Hàn Mặc Tử vững vàng bước vàolàng thơ khi mới 15 tuổi Hai chị gái là Nguyễn Như Nghĩa và Nguyễn Như

Lễ Hai em là Nguyễn Bá Tín và Nguyễn Khắc Hiếu

Sau khi cha mất vì bệnh nặng, gia đình Hàn Mặc Tử chuyển vào QuyNhơn Do muốn con theo đuổi sự nghiệp công danh nên gia đình đã gửi HànMặc Tử ra Huế học ở trường Dòng Pellerin - một trong những trường nổitiếng nhất ở Huế

Năm 1930 Hàn Mặc Tử nổi tiếng với bút danh Phong Trần do lời giớithiệu của Phan Sào Nam tiên sinh do Phan Bội Châu đang ẩn cư Với tài năng

Trang 18

đặc biệt, hội nhà Tây Du học đã giới thiệu và ghi tên Hàn Mặc Tử vào danhsách những người du học Pháp Nhưng cuối năm 1931, khi ra thăm Phan BộiChâu – ông già Bến Ngự, bị mật thám theo dõi, ông bị gạch tên ra khỏi danhsách đó.

Năm 1932, Hàn Mặc Tử vào làm việc ở Sở Đạc Điền Quy Nhơn Tạiđây do công việc nhàn rỗi nên ông dành nhiều thời gian cho đọc sách, làm thơđến nỗi bạn bè gọi ông là thằng “nghiện sách” Vào thời gian này ông quenQuách Tấn và Hoàng Cúc

Mùa thu năm 1935, Hàn Mặc Tử thôi việc ở đó và cũng thất vọng vềmối tình đầu với Hoàng Cúc, anh vào Sài Gòn làm báo theo lời mời của bàchủ bút Tại đây Hàn Mặc Tử gặp gỡ với rất nhiều bạn thơ rồi đổi bút danh là

Lệ Thanh rồi Hàn Mặc Tử

Năm 1936, Hàn Mặc Tử gặp Mộng Cầm và tình cảm giữa họ ngày càngthắm thiết nhưng đến cuối năm, khi bệnh có phần nặng thêm Hàn Mặc Tửđành phải chia tay Mộng Cầm và trở về Quy Nhơn

Suốt 6 năm cuối đời Hàn Mặc Tử sống trong sự đau đớn, hành hạ vềthể xác và sự mâu thuẫn vò xé về tinh thần Mộng Cầm đi lấy chồng, MaiĐình ghé thăm thì trốn, Thương Thương cũng chỉ là một cái bóng trongmộng… Hụt hẫng trong cảm giác bị người tình bỏ rơi cộng với mặc cảm bệnhtật và nỗi cô đơn khủng khiếp, nhà thơ gần như rơi vào trạng thái cuồng loạntriền miên Tưởng chừng như sụp đổ…Chính trong thời gian này ông đã sángtác rất nhiều tác phẩm có giá trị Các tập thơ, kịch thơ, thơ văn xuôi lần lượt

ra đời để giải thoát, cứu rỗi cho một tâm hồn, một con chiên ngoan đạo khi

“máu cuồng rền vang dưới ngọn bút” trong một “không gian rớm máu” , khi

mà thực, mộng đã lẫn lộn đến không ngờ

Ngày 11/11/1940 người bệnh tên Nguyễn Trọng Trí, số thứ tự 1134trong sổ ghi danh sách bệnh nhân của bệnh viện phong Quy Hoà, nhập việnchưa đầy 2 tháng đã qua đời Oái oăm thay, cướp Hàn Mặc Tử khỏi cuộc sớngkhông phải căn bệnh phong quái ác mà là chứng kiết lị đột khởi Phút ra đi

Trang 19

của nhà thơ mong manh như một làn khói không ai hay Chỉ có tiếng đọc kinhcầu nguyện thương tiếc cho một linh hồn của những người bạn đồng bệnh.Gia đình chưa biết Bạn bè ở xa Một cây thánh giá gỗ cắm trên một nấm mộđắp điếm đơn sơ, dưới một gốc phi lao, không hương khói, không một nhànhhoa tiễn…

Với cuộc đời đau khổ và tài năng kì lạ, Hàn Mặc Tử đã để lại cho đờinhững vần thơ độc đáo vào bậc nhất trong thi ca Việt Nam Mặc dù ông đã ra

đi quá sớm, nhưng cho đến ngày nay mọi người vẫn tìm đọc và tìm hiểu thơông như một hiện tượng lạ Và đó chính là sức sống lâu bền của thơ Hàn MặcTử

Hàn Mặc Tử làm thơ từ rất sớm và làm thơ xướng hoạ với anh trai mình

từ năm 15 tuổi Lúc này Hàn Mặc Tử duới sự dìu dắt của anh Bá Nhân đã làmthơ Đường luật với bút danh Minh Duệ Thị Khi Mộng Du thi xã của cụ Phan

tổ chức cuộc thi thơ, Hàn Mặc Tử đã gửi mấy bài dự thi và giành ngay giảinhất Phan Bội Châu đã tấm tắc khen ngợi “ chưa gặp bài nào hay đến thế” ,

“ước ao có ngày gặp gỡ, bắt tay nhau cười to một tiếng cho thoả hồn thơ đó”,

và viết ngay ba bài thơ họa vận lại với nhà thơ Đường trẻ tuổi

Năm 1931, thơ Hàn có mặt trên các báo Phụ Nữ Tân Văn, Tiếng Dân,

Lời Thăm,…làm xôn xao làng thơ Việt Nam lúc bấy giờ.

Trong thời gian Hàn làm việc ở Quy Nhơn cũng là lúc phong trào ThơMới do Phan Khôi khởi xướng như một cơn bão tác động mạnh mẽ đến ngườithanh niên xứ biển này Lúc này Hàn Mặc Tử mới chọn Thơ Mới làm đăng ởmột số tờ báo ở Sài Gòn, Huế Rồi Hàn được mời vào Sài Gòn làm chủ bút.Hàn đổi bút danh mới rất con gái : Lệ Thanh và cho ra đời những bài thơ saunày in trong tập “Lệ Thanh thi tập”

Cuối năm 1936, Hàn Mặc Tử phát hiện ra bệnh nên thôi làm báo, gặp gỡYến Lan, Hoàng Diệp, Nguyễn Minh Vỹ, Chế Lan Viên,…Từ đó, các tập thơ

“ Gái quê”, “Thơ điên” (sau này gọi là “Đau thương” ),… lần lượt ra đời Hàn

Trang 20

Mặc Tử được mệnh danh là “Vị chúa của Trường thơ Loạn” , “Con rồng củanhóm Tứ Linh”,…

Thơ của Hàn Mặc Tử có 6 tập, bao gồm : Lệ Thanh thi tập, Gái quê, Đau

thương, Xuân như ý, Thượng thanh kí, Cẩm châu duyên Ngoài ra còn có 2 vở

kịch thơ : Duyên kỳ ngộ, Quần tiên hội ,1 tập thơ văn xuôi : Chơi giữa mùa

trăng và trên dưới 24 bài thơ chưa in vào tập.

Lệ Thanh thi tập với phần lớn là những bài thơ Đường luật được sáng tác

trong thời gian Hàn Mặc Tử theo học ở Huế Thơ Hàn giai đoạn này chủ yếunghiêng về tức cảnh, cảm khoái, ngâm vịnh, thể hiện nỗi niềm ưu thời mẫnthế :

Non song bốn mặt ngủ mơ màng

Thức chỉ mình ta dạ chẳng an.

(Thức khuya)

Gái quê (1930) được sáng tác khi Hàn Mặc Tử đã bước sang địa hạt củaThơ Mới Đây là tập thơ khẳng định thiên tài thơ ca Hàn Mặc Tử Ở đây tatìm thấy một lời thơ duyên dáng, cảnh quê, tình quê gắn với những khônggian, sự vật quen thuộc : nắng mới, tre già, vườn cau, vườn cam, bóng trăng,hương gió,…; gợi cảm nhất là hình ảnh một “gái quê” với một tình yêu nhẹnhàng, trong sáng Những hình ảnh qua các sử dụng ngôn từ rất riêng đã thểhiện được vẻ “nồng nàn, lả lơi, rạo rực, đầy hình ảnh khơi gợi” [22,198] trongmột không gian rất quê nhưng cũng rất tân thời

Thơ điên, Xuân như ý, Thượng thanh khí với tất cả rung động của yêu

đương,đau khổ, vui buồn, hờn giận càng tăng thêm vẻ kỳ lạ cho thế giới nghệthuật thơ Hàn Chính tài năng độc đáo đã tạo cho thơ Hàn một thế giới nghệthuật dị biệt, những hình ảnh độc đáo, những cảm giác ám ảnh, siêu thực và

một quan niệm mĩ học có phần hơi cực đoan “Trăng, hồn, máu” là những

biểu tượng trong thơ Hàn Mặc Tử

Duyên kỳ ngộ và Quần tiên hội viết chưa xong Đây là những sáng táccuối cùng của Hàn, lúc thần chết đang lăm le từng phút nhưng lời thơ vẫn

Trang 21

trong trẻo, thần tiên Lúc này không gian trần tục hoàn toàn được rũ bỏ Thayvào đó là không gian cao sang của cõi tiên với bóng trăng ngà, tiếng chim hót,tiếng suối reo, tiếng tiêu ngân,…cùng một giai nhân tuyệt mỹ trong mộng –nàng Thương Thương.

Chơi giữa mùa trăng và những bài thơ chưa in vào tập càng khẳng định

tài năng và bản lĩnh dị thường của Hàn Mặc Tử Đó là một thế giới mà ngườithơ ngây ngất, mơ màng như đến “nước Nhược non Bồng” Ở đó, nhà thơhoàn toàn tự do để “yêu”, để “chơi”, để “chiêm bao”, để hát “khúc ly tao”,…

và để nói lên “quan niệm thơ” của một tâm hồn thơ hoàn toàn tinh sạch

Có thể có một cái nhìn tổng thể về thơ Hàn Mặc Tử như Mã Giang Lân

đã từng tổng kết :

“Thơ Hàn khởi đầu là Đường luật phương Đông tiến nhanh đến thơ hiệnđại phương Tây Thơ Hàn khởi đầu là cảm hứng hiện thực vươn sang lãngmạn, nhập vào tượng trưng siêu thực lại trở về lãng mạn Thơ khởi đầu làniềm non song đất nước, vườn tược, đồi quê,dân dã, rồi hướng tới Chúa Jêsu,trời Đao ly, Đâu Suất, ba ngàn thế giới Và quan trạng vinh quy với bút Xuânthu Cuối cùng là Thượng đế, Cung Quế, Quảng Hàn với những tiên nữ cõiĐào Nguyên Thơ Hàn khởi đầu là hình ảnh hoài niệm dân gian, ngôn ngữbình dị rồi bừng nở trong sắc màu hiện đại.” [13,17-18]

1.2.3 Vi ̣ trí của thơ Hàn Mặc Tử trong nền thơ ca Việt Nam hiện nay

Phong trào Thơ Mới xuất hiện năm 1932 là cả một cuộc cách mạng trongthi ca gắn với những tên tuổi của Thế Lữ, Xuân Diệu, Chế Lan Viên, LưuTrọng Lư, Huy Cận, Nguyễn Bính, Vũ Hoàng Chương,…Và Hàn Mặc Tửcùng với những tập thơ của mình đã góp phần đưa thơ ca Việt Nam lên đếnđỉnh cao mới của sự hiện đại hoá văn học Hàn Mặc Tử là một gương mặt tiêubiểu, đã xuất sắc hoàn thành sứ mệnh thi nhân của mình để làm nên “một thờiđại trong thi ca”

Hàn Mặc Tử là ngôi sao lạ của văn học Việt Nam thế kỉ 20 Nếu Thế Lữ,Lưu Trọng Lư, Nguyễn Bính, là những nhà thơ lãng mạn thuần khiết ; Huy

Trang 22

Cận, Xuân Diệu lãng mạn có pha chút tượng trưng…thì Hàn Mặc Tử là sựhoà sắc của cả lãng mạn, tượng trưng, thậm chí cả siêu thực nữa.

Thơ Hàn Mặc Tử khác với các nhà thơ khác ở chỗ không cần truyền cảm

nhưng rất gợi cảm, vừa kín đáo, vừa lộ liễu theo kiểu phương Đông : “nằm

song soãi” , “ngây tình”, “lả lơi”,…khác với lối nói trực tiếp như Xuân Diệu ( Hãy sát đôi đầu, Hãy kề đôi ngực, Hãy trộn nhau đôi mái tóc ngắn dài, Những cánh tay, Hãy quấn riết đôi vai,…) Chẳng cần miêu tả, như chưa hề

xúc cảm…mà người đọc vẫn nhận ra những trộn lẫn cảm xúc của nhà thơ qua

sự lung linh kết hợp các yếu tố ngôn ngữ Cảm xúc gợi lên từ những tín hiệungôn ngữ nhờ liên tưởng, cứ lan ra, toả ra như những làn sóng…

Có thể nói, Hàn Mặc Tử là người Việt Nam đầu tiên cũng duy nhất từtrước đến nay đưa chất Đạo vào thơ Chỉ có ở Hàn Mặc Tử mới có “tư duytôn giáo kết hợp nhuần nhuyễn với chất trữ tình trên cơ sở cái tôi cá nhân hiệnđại” [23,159] Chính điều này làm cho các yếu tố tượng trưng, cổ điển của thơĐường, tượng trưng của tôn giáo, lãng mạn, siêu thực…vốn rời rạc, khôngquan hệ trước đây trở thành một cấu trúc nghệ thuật hoàn chỉnh Mặt khác,chính điều này cũng làm cho thơ Hàn Mặc Tử mang tính huyền bí và để ra

những hiện tượng ít ai sánh kịp ( Cả niềm yêu, ý nhớ, cả một vùng / Hoá thành

vũng máu đào trong ác lặn… ).

Hàn Mặc Tử còn được đánh giá là một nhà thơ sử dụng ngôn ngữ hếtsức độc đáo, không giống ai, có sức ám gợi lớn :

Trăng nằm sóng soãi trên cành liễu Đợi gió đông về để lả lơi

Hoa lá ngây tình không muốn động Lòng em hồi hộp lắm chị hằng ơi

( Bẽn lẽn)

Có thể nói, Hàn Mặc Tử ra đi lặng lẽ nhưng tài năng và số lượng tácphẩm Hàn để lại cho đời lại không lặng lẽ chút nào Nó trở thành một đề tài

Trang 23

mà trong suốt mấy chục năm giới nghiên cứu phê bình phải tốn bao giấy mực,công sức để tìm hiểu và lý giải nó.

CHƯƠNG 2 PHÂN LOẠI TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC TRONG THƠ HÀN

MẶC TỬ2.1 Kết quả thống kê.

Trang 24

Kết quả thống kê và phân loa ̣i tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mă ̣c Tửđươ ̣c thể hiê ̣n ở các bảng sau :

Bảng 1 : Bảng thống kê số bài thơ có tính từ chỉ màu sắc.

Tổng số bài thơ dùng để

Các loa ̣i tính từ

chỉ màu sắc

Số lần xuất hiê ̣n Tỉ lê ̣ (%)

Nhâ ̣n xét : Tính từ chỉ màu sắc chiếm số lượng nhiều trong thơ Hàn Mă ̣c

Tử Tổng số bài thơ trong các tâ ̣p thơ của Hàn Mă ̣c Tử là 150 bài, trong đó 89bài có tính từ chỉ màu sắc Như vâ ̣y, tính từ màu sắc xuất hiê ̣n hầu hết trong

các bài thơ của Hàn Mă ̣c Tử Trong thơ Hàn Mă ̣c Tử xuất hiê ̣n 9 màu : vàng,

xanh, trắng, đỏ, hồng, trong, đen, nâu, tím Màu sắc có tần số xuất hiê ̣n cao

nhất là màu vàng với 50 lần (chiếm 33.8%), tiếp đó là màu xanh và màu trắngcùng xuất hiê ̣n 27 lần (chiếm 18.2%), mùa đỏ với 21 lần (chiếm 14.2%).Những màu xuất hiê ̣n ít như : màu hồng với 9 lần, mà trong với 9 lần,… thâ ̣mchí có những màu xuất hiê ̣n rất ít như : màu nâu và màu tím chỉ có 1 lần

2.2 Các loại tính từ chỉ màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử

2.2.1 Tính từ chỉ màu vàng.

Trang 25

Khi nói đến màu vàng người ta thường liên tưởng tới thứ kim loại quýhiếm cùng tên gọi Vì thế màu vàng thường biểu thị cho sự quý hiếm, với cáckết hợp như: tuổi vàng, đá vàng, lời vàng, tim vàng, tấm lòng vàng,… Mặtkhác màu vàng còn gắn với sự héo úa của cây trái nên cũng gợi lên cảm giácbệnh tật, ốm yếu, tương phản với màu đỏ là khỏe mạnh

Màu vàng đi vào thơ ca Hàn Mặc Tử với nhiều ý nghĩa khác nhau vàvới nhiều kết hợp độc đáo Màu vàng trở thành màu sắc xuất hiện nhiều nhấttrong số các màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử Tổng số lần xuất hiện của màuvàng là 50 lần chiếm đến 33.8% Trong thơ Hàn màu vàng thường đi với mùathu, âm nhạc, người thiếu nữ, nắng,… Đặc biệt màu vàng trở thành biểutượng của “trăng” - hình ảnh chủ đạo trong thơ Hàn Mặc Tử

Về cấu tạo, màu vàng được tác giả sử dụng chủ yếu là từ đơn Từ đơn

do một hình vị cấu tạo nên, khi các từ chỉ màu sắc là từ đơn thì đặc trưng, tínhchất của các sự vật, hiện tượng được nói đến thường mang ý nghĩa khái quáthơn Từ đơn chỉ màu vàng xuất hiện tương đối nhiều Trong số 50 từ chỉ màuvàng có đến hơn 40 từ là từ đơn Do đó có thể nói, từ đơn chỉ màu vàng làmcho sắc thái màu trong thơ Hàn Mặc Tử mang giá trị biểu trưng cao hơn.Khảo sát 50 từ chỉ màu vàng trong thơ Hàn Mặc Tử thì chỉ có 8 từ ghép.Trong số các từ ghép đã khảo sát, thống kê, từ ghép đẳng lập xuất hiện rất ít

mà đa số là từ ghép chính phụ Quan hệ giữa các hình vị của từ ghép chínhphụ là quan hệ chính – phụ , trật tự của các hình vị trong từ thường là trật tự

cố định Trong thơ Hàn Mặc Tử xuất hiện một số từ ghép chính phụ chỉ màu

vàng như : vàng lay, vàng úa, vàng khô, vàng vọ,… Những từ ghép chính phụ

chỉ màu vàng này có tác dụng nhấn mạnh thành phần sắc thái hóa, góp phần làmphong phú cho sự thể hiện màu sắc trong thơ Hàn Mặc Tử Trong số các tính từchỉ màu vàng trong thơ Hàn Mặc Tử không thấy sự xuất hiện của các từ láy

Màu vàng trong thơ Hàn Mặc Tử biểu trưng cho vẻ đẹp của người phụ

nữ :

Ơ kìa, bóng nguyệt trần truồng tắm

Trang 26

Lộ cái khuôn vàng dưới đáy khe

(Bẽn lẽn)

Màu vàng còn biểu trưng cho vẻ đẹp của thiên nhiên :

Tiếng vàng rơi xuống giếng Trăng vàng ôm bờ ao Gió vàng đang xao xuyến

Aó vàng hỡi chị chưa chồng đã mặc đi đêm.

(Ngủ với trăng) Trong thơ Hàn Mặc Tử, màu vàng còn tượng trưng cho một thế giớihuyền ảo, rực rỡ Đó là thế giới của tuổi thơ, thế giới của khát khao được sống

và được yêu :

Khói trầm lan nhẹ không gian

Giây phút buồn lây đến mộng vàng

(Mơ hoa)

Đo từ ngọn cỏ tới cung trăng

Những sợi hào quang vạn thước vàng

(Ước ao) Đặc biệt thơ Hàn Mặc Tử tràn ngập màu vàng của ánh trăng:

Từ ấy anh ra đi

Về các sắc độ màu vàng Màu vàng được tác giả sử dụng với nhiều sắc

độ khác nhau và chiếm số lượng nhiều nhất Số lượng các sắc độ màu vàng

trong thơ Hàn Mặc Tử là 8 sắc độ và chủ yếu là các sắc độ mạnh như : vàng

lay, vàng úa, vàng khô, vàng diệp, vàng chạm, vàng vọ, vàng ngọc, vàng anh ánh,… Chính sự xuất hiện phong phú như thế thể hiện sự đa dạng về sắc thái,

Trang 27

tạo nên sự hấp dẫn mới lạ, hứng thú cho người đọc Tuy nhiên mỗi sắc độ đólại có sự kết hợp khác nhau và mang những sắc thái ý nghĩa khác nhau.

Nếu màu vàng trong thơ Tố Hữu chủ yếu là những sắc thái rực rỡ, tươi

sáng, nổi bật như : vàng tươi, vàng rực, vàng rộm,…thì với các nhà thơ Mới,

màu vàng lại xuất hiện với sự tàn phai, nhợt nhạt,…Ta từng bắt gặp một màuvàng phai tàn, rệu rã trong thơ Phạm Huy Thông :

Lá úa vàng, từng đàn, bay lả tả.

(Thu)

Là một nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ Mới, Hàn Mặc Tử cũngkhông thoát khỏi cái nhìn tàn phai ấy Màu vàng trong thơ ông cũng mangđậm nỗi buồn với sự xác xơ, tàn tạ của thiên nhiên :

Không quen thưởng thức cái gì ngất ngây

Như là ánh nắng vàng lay

(Say nắng)

Em cố nghĩ ra một chiều vàng úa

Lá trên cành vắt vẻo, gió ngừng rơi

(Trường tương tư)

Cơn sốt sắng xinh hơn cầu vàng diệp

Ngửa tay thôi, ơn trời đà xuống hiệp.

(Say thơ)Với Hàn Mặc Tử, màu sắc không chỉ đơn thuần là sự thể hiện của thiênnhiên, cảnh vật mà ẩn đằng sau đó là cảm giác, cảm xúc của chính thi nhân.phải chăng chính bởi hồn thơ luôn mạnh mẽ, đau thương nên màu sắc trongthơ ông luôn là những sắc màu mạnh, nó phải được ánh lên, kêu lên,…để thểhiện tất cả mức độ của nó Màu vàng cũng vậy, nó luôn được đẩy lên đến đỉnhđiểm :

Để phiêu phiêu này, tơ thơ vàng vọ

Để dầm dề hạt lệ đôi ta

Trang 28

(Sao, vàng, sao)

Máu của sao, tủy của nguyệt bao giờ

Chảy sửng sốt như phông vàng anh ánh

(Hồn qua đêm)Hay :

Gió rít tầng cao trăng ngã ngửa

Vỡ tan thành vũng đọng vàng khô

(Say trăng)

Có thể nói, màu vàng trong thơ Hàn Mặc Tử không còn là sự biểu trưngcho sự cao quý, rực rỡ, tươi đẹp mà luôn mang một tâm trạng u buồn, phai tànhéo úa của cây cỏ, sự rệu rã, nhợt nhạt của con người

2.2.2 Tính từ chỉ màu xanh.

Màu xanh theo quan niệm của truyền thống là màu của sự tươi trẻ, nonmát và bình yên, nó thường gắn liền với cây cỏ, hoa lá và do đó nó thường là

biểu trưng cho tuổi trẻ, ước mơ,…Trong thơ Hàn Mặc Tử, tính từ chỉ màu

xanh xuất hiện 27 lần, chiếm 18,2% trong tổng số từ chỉ màu sắc Tính từ chỉ

màu xanh tuy có số lượng ít hơn màu vàng nhưng cũng là một màu sắc đóngvai trò quan trọng và mang nhiều ý nghĩa trong thơ Hàn Mặc Tử

Về mặt cấu tạo, cũng giống như màu vàng, tính từ chỉ màu xanh hầu hết là

từ đơn Trong số 27 từ chỉ màu xanh có đến 17 từ đơn, 8 từ ghép và 2 từ láy Cóthể thấy từ đơn chỉ màu xanh vẫn chiếm tỉ lệ cao trong tổng số tính từ chỉ màuxanh Điều này chứng tỏ tính từ chỉ màu xanh trong thơ Hàn Mặc Tử mang ýnghĩa khái quát cao và mang tính biểu trưng Từ đơn chỉ màu xanh mà tác giả đã

sử dụng trong các tác phẩm như : xanh, lam, biếc Nếu màu vàng trong thơ Hàn

gợi nhắc đến sự tàn tạ, héo úa thì màu xanh xuất hiện đưa đến những hình ảnhtrong trẻo, tươi sáng Đó là màu xanh của cỏ cây, hoa lá, bầu trời,…:

Sột soạt gió trêu tà áo biếc

Trên giàn hiên lý - Bóng xuân sang

(Mùa xuân chín)

Trang 29

Vườn ai mướt quá xanh như ngọc

Lá trúc che ngang mặt chữ điền

(Đây thôn Vỹ Dạ)

Những áng mây lam cuốn dập dìu

Những mảnh nhạc vàng rơi lả tả

(Lưu luyến)Trong thơ Hàn Mặc Tử, màu xanh còn là biểu tượng cho tuổi trẻ, tình yêu, hạnh phúc :

Ngày mai trong đám xuân xanh ấy

Có kẻ theo chồng bỏ cuộc chơi

(Mùa xuân chín)

Ghét xa mã nao nao uốn khúc

Giận thời gian những lúc xuân xanh

(Đêm khhuya tự tình với sông Hương)

Hẹn với xuân xanh chơi cái đã

Làm trai cho biết mặt sơn hà

(Tự thuật)Màu xanh cũng là biểu tượng của một thế giới huyền hoặc, huyền diệu trong thơ Hàn :

Lời nguyện gẫm xanh như màu huyền diệu

Não nề lòng viễn khách giữa cơn mơ

(Hãy nhập hồn em)

Một chiều xanh, một chiều xanh huyền hoặc

Sóng bao la vây lút cõi thiên không

(Ra đời)Mặc dù số lượng tính từ chỉ màu xanh ít hơn màu vàng nhưng từ ghépchỉ màu xanh lại tương đương với từ ghép chỉ màu vàng Điều này cho thấy,màu xanh trong thơ Hàn Mặc Tử không chỉ mang tính khái quát mà còn được

sắc thái hóa một cách cao độ như : xanh ngắt, xanh ngát, xanh tươi, xanh mơ,

Trang 30

xanh biếc,…Hình ảnh cỏ cây, hoa lá trở nên tươi sáng, sống động hơn chính

là nhờ những từ ghép chính phụ này:

Sóng cỏ xanh tươi gợn tới trời

Bao cô thôn nữ hát trên đồi

(Mùa xuân chín)Hay :

Cánh cô nhạn bơ vơ

Liệng dưới trời xanh ngát

(Nhớ nhung)

Ngàn trùng bóng liễu trông xanh ngắt

Cảnh sắp về đông mắt lệ rơi

(Buồn thu)Trong tính từ chỉ màu xanh, Hàn Mặc Tử sử dụng 2 từ láy với 3 lần xuất

hiện Đó là từ láy xanh xao và xanh xanh Tuy từ láy chiếm tỉ lệ không nhiều

nhưng đã góp phần tạo nên sự phong phú trong cách thể hiện màu sắc củaHàn Mặc Tử Các từ láy chỉ màu sắc được thể hiện bằng phương thức “hòaphối ngữ âm có tác dụng tạo nghĩa” Sắc thái hóa là tác dụng điển hình củaphương thức láy Do đó những từ láy chỉ màu xanh này cũng được sắc thái

hóa một cách cao độ Từ láy xanh xanh làm cho độ đậm đặc của màu xanh

giảm đi theo ấn tượng về sự loang rộng trên bề mặt :

Bốn mùa thơ xanh xanh như cẩm thạch

Chim ngàn trăng đem tiếng lạ về ca

(Say thơ)

Hay từ láy xanh xao chỉ nói về nước da của con người với sự ấn tượng về

sư bệnh tật, yếu đuối, thiếu sức sống :

Ánh trăng mỏng quá không che nổi

Những vẻ xanh xao của mặt hồ

(Huyền ảo)

Sao mặt sông xanh xao ra dáng

Ngày đăng: 29/12/2013, 15:23

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Hữu An, Vốn từ chỉ màu sắc, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vốn từ chỉ màu sắc
2. Nguyễn Thị Kim Anh, Khảo sát từ loại tính từ trong Truyện Kiều, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát từ loại tính từ trong Truyện Kiều
3. Đỗ Hữu Châu, Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Nhà XB: NXB Giáo dục
4. Diệp Quang Ban, Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Phan Cự Đệ (biên soạn), Hàn Mặc Tử – Tác phẩm, phê bình và tưởng niệm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử – Tác phẩm, phê bình và tưởng niệm
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Phan Cự Đệ (biên soạn), Hàn Mặc Tử – Về tác gia và tác phẩm, NXB Giáo dục, Hà Nội, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử – Về tác gia và tác phẩm
Nhà XB: NXB Giáodục
7. Phan Cự Đệ, Hàn Mặc Tử – Những vấn đề tranh luận, Tạp chí Nhà văn, số 3, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử – Những vấn đề tranh luận
8. Đinh Văn Đức, Ngữ pháp Tiếng Việt : Từ loại, NXB Đại học và trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1986 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt : Từ loại
Nhà XB: NXB Đại học và trung họcchuyên nghiệp
9. Nguyễn Thị Thanh Đức, Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử, Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2002 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các từ ngữ chỉ không gian trong thơ Hàn Mặc Tử
10. Nguyễn Khánh Hà, Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc Tiếng Việt, Luận văn thạc sĩ, 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ thống từ ngữ chỉ màu sắc Tiếng Việt
11. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi, Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
12. Đinh Trọng Lạc (chủ biên), Phong cách học Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
13. Mã Giang Lân (tuyển chọn và giới thiệu), Thơ Hàn Mặc Tử, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ Hàn Mặc Tử
Nhà XB: NXB Vănhóa thông tin
14. Mã Giang Lân (tuyển chọn và biên soạn), Thơ Hàn Mặc Tử – Những lời bình, NXB Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Thơ Hàn Mặc Tử – Những lờibình
Nhà XB: NXB Văn hóa thông tin
15. Đỗ Thị Kim Liên, Ngữ pháp Tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội, 1999 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Giáo dục
16. Thi Long, Hàn Mặc Tử, một đời thơ, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng, 2000 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử, một đời thơ
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
17. Vương Trí Nhàn (biên soạn), Hàn Mặc Tử, hôm qua và hôm nay, NXB Hội nhà văn, Hà Nội, 1996 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử, hôm qua và hôm nay
Nhà XB: NXBHội nhà văn
18. Lữ Huy Nguyên, Hàn Mặc Tử, thơ và đời, NXB Văn học, Hà Nội, 1985 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàn Mặc Tử, thơ và đời
Nhà XB: NXB Văn học
19. Hoàng Phê, Từ điển Tiếng Việt, , NXB Khoa học xã hội và nhân văn, Hà Nội, 1992 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Nhà XB: NXB Khoa học xã hội và nhân văn
20. Nguyễn Thị Ngọc Quỳnh, Khảo sát nhóm từ biểu thị màu sắc trong thơ Mới (1932 – 1945), Luận văn thạc sĩ, Đại học Vinh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khảo sát nhóm từ biểu thị màu sắc trong thơMới (1932 – 1945)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w