Cũng từ cách tiếp cận vấn đề trung tâm/ ngoại biên từ góc nhìn văn hóa, Nguyễn Văn Dân trong bài viết “Văn học trung tâm - ngoại vi nhìn từ góc độ văn hóa” 2013, đã có cách đánh giá một
Trang 1
TRẦN THỊ MAI HIÊN
Ý THỨC TRUNG TÂM TRONG THƠ TỐ HŨU
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
NGHỆ AN - 2018
Trang 2TRẦN THỊ MAI HIÊN
Ý THỨC TRUNG TÂM TRONG THƠ TỐ HŨU
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Mã số: 8.22.01.20
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS LÊ THANH NGA
NGHỆ AN - 2018
Trang 3MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 1
3 Đối tượng nghiên cứu và pham vi khảo sát 6
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
5 Phương pháp nghiên cứu 7
6 Đóng góp của luận văn 7
7 Cấu trúc của luận văn 8
Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ Ý THỨC TRUNG TÂM VÀ Ý THỨC TRUNG TÂM TRONG THƠ TỐ HỮU 9
1.1 Về khái niệm trung tâm- ngoại biên 9
1.1.1 Trung tâm - ngoại biên với tư cách là khái niệm của chính trị - văn hóa 9
1.1.2 Trung tâm - ngoại biên với tư cách là khái niệm của nghiên cứu văn học 11
1.2.3 Vấn đề vận dụng lí thuyết trung tâm - ngoại biên trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam 13
1.2 Ý thức trung tâm - một hiện tượng phổ biến của văn học Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 16
1.2.1 Nguồn gốc ý thức trung tâm trong văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 16
1.2.2 Những nội dung cơ bản của ý thức trung tâm trong văn học Việt Nam 1945 - 1975 20
1.2.3 Nhìn chung về việc thể hiện ý thức trung tâm trong văn học Việt Nam 1945 - 1975 28
Trang 41.3.2 Sự bắt gặp chủ nghĩa Cộng sản 36
1.3.3 Cách mạng và kháng chiến 39
Tiểu kết chương 1 41
Chương 2 BIỂU HIỆN CỦA Ý THỨC TRUNG TÂM TRONG THƠ TỐ HŨU 42
2.1 Thơ Tố Hữu, từ mặc cảm ngoại biên đến tìm gặp trung tâm 42
2.1.1 Mặc cảm ngoại biên - sự tủi cực của một người mất nước 42
2.1.2 Tình cảm yêu nước mang tính chất “tự phát” 44
2.1.3 Sự gặp gỡ lí tưởng: “từ ấy trong tôi bừng nắng hạ” 47
2.2 Nội dung ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu 50
2.2.1 Tình yêu đất nước 50
2.2.2 Niềm say mê lí tưởng 57
2.2.3 Niềm kiêu hãnh của người làm chủ 65
2.3 Sự thể hiện ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu 71
2.3.1 Tính chất trữ tình chính trị và cảm hứng lãng mạn sử thi 71
2.3.2 Ngôn ngữ chính trị khoa trương 76
2.3.3 Giọng điệu tráng ca hào hùng 81
Tiểu kết chương 2 85
Chương 3 QUÁ TRÌNH DỊCH CHUYỂN Ý THỨC TRUNG TÂM TRONG THƠ TỐ HỮU 87
3.1 Điều kiện lịch sử - xã hội - thẩm mỹ của sự chuyển hướng ý thức trong thơ Tố Hữu 87
3.1.1 Điều kiện lịch sử 87
3.1.2 Điều kiện văn hóa - thẩm mỹ 88
3.2 Sự nhạt dần của ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu 90
Trang 53.2.3 Những nỗi niềm cá nhân 95 3.3 Những thay đổi về hình thức thể hiện trong thơ Tố Hữu 96 3.3.1 Từ trữ tình chính trị sang màu sắc thế sự 96 3.3.2 Từ ngôn ngữ chính trị khoa trương sang ngôn ngữ đời thường 97 3.3.3 Từ giọng tráng ca hào hùng sang giọng chiêm nghiệm - triết lí 99
KẾT LUẬN 102 TÀI LIỆU THAM KHẢO 105
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trung tâm - ngoại biên là một cặp khái niệm được dùng trong nghiên cứu, phê bình văn học Việt Nam thời gian gần đây và tính khả dụng của chúng được thể hiện tương đối rõ rệt Nhưng điều đó chỉ thể hiện ở những công trình nghiên cứu cụ thể Từ góc nhìn tổng quan, thì việc sử dụng ứng dụng này vẫn đang còn khá dè dặt vì nhiều lí do khác nhau Lựa chọn nghiên cứu, tìm hiểu một hiện tượng văn học từ phương diện này, chúng tôi hy vọng sẽ góp phần vào việc làm rõ một lí thuyết đang mở ra những khả năng mới cho nghiên cứu văn học
1.2 Tố Hữu là nhà thơ cách mạng tiêu biểu, xuất sắc của văn học Việt Nam thời kì hiện đại Sự nghiệp sáng tác của ông gắn liền với đời sống dân tộc qua nhiều chặng đường cách mạng, để lại nhiều tác phẩm có giá trị theo đánh giá của nhiều nghiên cứu trước đây Thế giới nghệ thuật thơ Tố Hữu luôn là đối tượng được giới phê bình và bạn đọc quan tâm và đã có nhiều công trình nghiên cứu, phê bình ở nhiều khía cạnh Qua đó, thơ Tố Hữu đã được đánh giá trên nhiều phương diện từ nội dung tư tưởng đến hình thức nghệ thuật Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập tới vấn đề ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu
1.3 Tố Hữu là một tác gia có nhiều tác phẩm được đưa vào giảng dạy trong chương trình phổ thông Vì vậy đề tài luận văn có ý nghĩa thực tiễn to lớn
và hữu ích đối với việc dạy học của giáo viên và học sinh trong nhà trường
Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn nghiên cứu đề tài “Ý thức
trung tâm trong thơ Tố Hữu”
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Lịch sử nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng lý thuyết trung tâm - ngoại biên
2.1.1 Các nghiên cứu lý thuyết
Lý thuyết trung tâm/ ngoại biên trong văn học xuất phát từ những năm 60
Trang 7của thế kỉ XX trong các công trình nghiên cứu của các nhà khoa học theo chủ nghĩa hình thức Nga Ứng dụng của lý thuyết trung tâm/ ngoại biên ở thời kì này chủ yếu nhằm để phân định và đề cập tới quy luật phát triển, phát sinh, các hình thức cấu trúc của các thể loại văn học Khi nghiên cứu lý thuyết này, các nhà khoa học mà tiêu biểu là Bakhtin luôn đặt văn học trong mối quan hệ với văn hóa để đề xuất các hiện tượng, các quy luật cấu trúc hình thức trong văn học
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu, tìm hiểu về trung tâm /ngoại biên mới xuất hiện thời gian gần đây Thuộc số người quan tâm và tìm hiểu nhiều về vấn đề này có lẽ phải kể đến Inrasara - nhà thơ, nhà nghiên cứu văn hóa, văn học dân tộc Chăm Bởi được xem là người đại diện cho một nền văn hóa mang danh ngoại biên, Inrasara rất tích cực để phổ biến lý thuyết này, nhằm kiến giải cho những hiện tượng ngoại biên trong văn học Việt Nam, đặc biệt
trong nền văn học của quê hương ông Trong công trình Văn chương ngoại vi/ trung tâm - từ một góc nhìn (2006), Inrasara cho rằng: “Vấn đề ngoại vi/ trung
tâm chắc chắn không thuộc về bản chất của văn học, nhưng phiền nỗi nó là hiện tượngcó thật kéo dài dai dẳng hàng chục thế kỉ, ảnhhưởng trực tiếp hay gián tiếp, phát triển hay trì trệ của nhiều nền, dòng văn học Một dân tộc, một địa phương hay một khu vực Bức tường được hình thành nơi tâm lý xã hội khá phức tạp quy đình bởi vị trí địa lí - lịch sử, sức mạnh của kinh tế chính trị, văn hóa, ngôn ngữ, số dân, nỗi to bé của giải thưởng… Thậm chí cả sự cao thấp của chức vị hay địa vị chẳng dính dáng gì đến văn chương cả” [35] Bằng vốn kiến thức sâu rộng và quyết tâm cao, nhà nghiên cứu này đã có những đóng góp quý giá trong việc nghiên cứu về lý thuyết văn học này
Cũng từ cách tiếp cận vấn đề trung tâm/ ngoại biên từ góc nhìn văn hóa, Nguyễn Văn Dân trong bài viết “Văn học trung tâm - ngoại vi nhìn từ
góc độ văn hóa” (2013), đã có cách đánh giá một cách khái quát, hệ thống lịch
sử nghiên cứu về vấn đề văn học trung tâm/ ngoại biên Ông đã có sự kiến
Trang 8giải sâu sắc, toàn diện các quy luật vận động của văn hóa ảnh hưởng đến văn học Ông cũng khẳng định mối quan hệ trung tâm/ ngoại biên trong văn hóa cũng như trong văn học, đó không phải là mối quan hệ đối đầu mà là mối quan hệ biện chứng, quan hệ đó rất thống nhất và đa dạng
Trong thực tế những năm gần đây, việc thẩm định đánh giá các thành tựu văn học, vẫn còn xẩy ra thực trạng phân biệt, đối xử giữa các khu vực văn học khác nhau: miền núi hay miền xuôi, văn học dân tộc thiểu số hay văn học người Kinh, và sáng tác của các nhà văn nữ được xem là phụ so với sáng tác của nam giới ở nước ta Tác giả Lê Nguyên Long trong bài “Trung tâm và ngoại biên từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận” đã nhận thức được yêu cầu cần thiết phải có lý thuyết mới trong tiếp cận văn học Ở công trình đó, tác giả cho người đọc thấy được bản chất cấu trúc của cặp khái niệm trung tâm/ngoại biên.Điều đáng nói ở công trình nghiên cứu này, đó là tác giả đã nâng nhận thức về lý thuyết này lên tầm cao mới: tầm triết học, xem nó như là một công cụ tích cực trong nghiên cứu văn học
2.1.2 Các nghiên cứu ứng dụng lý thuyết
Ngoài những công trình nghiên cứu mang tính thuần lý thuyết trên chúng tôi còn tiếp cận với một số tiểu luận, tham luận ứng dụng lý thuyết của một số tác giả khác trong thời gian gần đây, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu sau:
Trần Đình Sử với tiểu luận Ngoại biên hóa trong tiến trình văn học Việt Nam đương đại (2013) ngoài việc làm rõ hơn một số khái niệm như “Trung tâm /ngoại biên”, “ngoại biên hóa”, “mở biên”, “vượt biên”, đã đưa vấn đề lý
thuyết để khảo cứu, đánh giá một hiện tượng văn học cụ thể Theo ông:
“Ngoại biên hóa chủ yếu là phương thức tồn tại thông thường của văn học” [51] Song xét một cách toàn diện, công trình này cũng mới chỉ dừng lại ở những đánh giá nhận xét mang tính khái quát, chưa đi sâu vào bản chất vấn
Trang 9đề, đặc biệt chưa chỉ ra một cách cụ thể những biểu hiện của “tính ngoại biên” trong sáng tác và phê bình văn học thời kì này
Cùng chung đối tượng nghiên cứu là những sáng tác mang tính ngoại biên trong văn học Việt Nam sau 1986 có một số bài viết của Nguyễn Văn Hùng, “Khuynh hướng “ngoại biên hóa” trong tiểu thuyết lịch sử Việt Nam
sau 1986 (Trường hợp Bùi Anh Tấn)”, (Nguồn: Tạp chí văn hóa nghệ An,
ngày 11/12/2012), Phan Tuấn Anh, “Ngoại biên hóa trong văn học hậu hiện
đại - Nhìn từ trường hợp Đặng Thân” (Nguồn: Tạp chí Sông Hương, ngày
02/08/2013)
Nhìn chung, các bài viết này đã ứng dụng lý thuyết trung tâm/ ngoại biên
để nghiên cứu những hiện tượng văn học cụ thể Khái niệm này giờ đây không còn là những nhận xét mang tính khái quát mà đã chạm tới một số vấn đề về
phương diện, về cấu trúc, về kiểu diễn ngôn, về cách sử dụng chất liệu…
2.2 Lịch sử nghiên cứu thơ Tố Hữu từ góc độ lí thuyết “ý thức trung tâm”
Thơ Tố Hữu đã trở thành đối tượng nghiên cứu lớn của các nhà phê bình văn học trong suốt khoảng thời gian dài Những công trình nghiên cứu qui mô lớn viết về Tố Hữu rất nhiều, tập trung làm nổi bật vai trò, vị trí của một tác giả văn học - đỉnh cao của thơ ca cách mạng Việt Nam
Khi thơ Tố Hữu xuất hiện trên báo chí cách mạng đã được công chúng đón nhận nồng nhiệt và các nhà phê bình đánh giá cao Càng về sau, xuất hiện nhiều bài viết, bài nghiên cứu, phê bình về thơ Tố Hữu Có thể xem chuyên
luận “Thơ Tố Hữu” của Lê Đình Kỵ (Nxb Đại học và trung học chuyên
nghiệp) xuất bản năm 1979 là công trình đầu tiên nghiên cứu về thơ Tố Hữu trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật Trong chuyên luận, người viết đã chỉ ra những chủ đề lớn trong thơ Tố Hữu: Chủ đề về đất nước, nhân dân, chủ đề về Đảng, Bác Hồ… Công trình cũng làm sáng rõ một số đặc điểm
cơ bản trong phong cách thơ Tố Hữu đó là tính dân tộc, trữ tình - cách mạng
Trang 10Tiếp đến là công trình Thi pháp thơ Tố Hữu của Trần Đình Sử Tác giả
đã tiếp cận thơ Tố Hữu theo phương pháp truyền thống, kết hợp khảo cứu công phu, khoa học với cảm thụ nghệ thuật tinh tế đem đến những cảm nhận
và đánh giá mới mẻ về thơ Tố Hữu Ở công trình này, bằng phương pháp nghiên cứu mác xít, tác giả đã xem thơ Tố Hữu như một chỉnh thể thống nhất,
có hệ thống Tác giả chuyên luận đã đi sâu vào một số phạm trù của thi pháp học hiện đại để xem xét thế giới nghệ thuật của nhà thơ Tố Hữu Với việc tiếp cận thơ Tố Hữu ở góc độ thi pháp, công trình này đã có nhiều đóng góp quan trọng, mới mẻ trong việc nghiên cứu lúc bấy giờ
Tác giả Hà Minh Đức cũng là một người có nhiều công phu trong
nghiên cứu thơ Tố Hữu qua hai lời giới thiệu cho hai Tuyển tập thơ Tố Hữu
vào các năm 1979 (Nxb Văn học) và 1995 (Nxb Giáo dục) Đặc biệt, chuyên
luận Tố Hữu - Cách mạng và thơ (Nxb ĐHQG HN, 2004) đã tập hợp nhiều
bài viết của các tác giả viết về tiểu sử con người và sự nghiệp thơ ca của Tố Hữu Chuyên luận gồm hai phần: Trò chuyện và ghi chép về thơ; Tiểu luận văn học Chuyên luận đã đi sâu vào những thành tựu quan trọng của đời thơ của Tố Hữu
Cuốn Tố Hữu về tác giả và tác phẩm (Nxb Giáo dục, 2003) do nhiều
tác giả biên soạn đã tập hợp những bài viết, tiểu luận, phê bình của các nhà nghiên cứu về thơ Tố Hữu trong gần nửa thế kỷ qua Cuốn sách đã đi sâu nghiên cứu những giá trị nội dung, nghệ thuật trong thơ ca Tố Hữu
Nguyễn Bá Thành với bài viết “Cái tôi trữ tình trong thơ Tố Hữu” đã nghiên cứu sự vận động của cái tôi trữ tình theo hướng biện chứng Để đi đến khẳng định Thơ Tố Hữu luôn hướng về ánh sáng của lý tưởng cách mạng Từ
đó, tác giả đã làm rõ được sự mới mẻ, khác biệt của tư duy thơ Tố Hữu với các nhà thơ đương thời ở mức độ và hướng vận động trong thơ
Bên cạnh đó, còn có rất nhiều bài nghiên cứu, phê bình về các tập
thơ của Tố Hữu Từ tập thơ đầu tay Từ ấy, đến các tập Việt Bắc, Gió lộng,
Trang 11Ra trận, Máu và Hoa,… đã có hàng trăm bài viết và công trình nghiên cứu
phê bình về các khía cạnh khác nhau dọc theo sự nghiệp thơ Tố Hữu Về
tập Từ ấy có các bài viết tiêu biểu của Phan Cự Đệ, Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc,… Tập Việt Bắc có các bài viết tiêu biểu của Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc, Hoàng Trung Thông Tập Gió lộng có các bài viết
tiêu biểu của Lê Đình Kỵ, Nguyễn Văn Long, Hoài Thanh, Hà Xuân Trường… Các tập thơ khác có các bài viết của Hà Minh Đức, Hoài Thanh, Nguyễn Văn Hạnh,… Ngoài ra, còn có rất nhiều bài nghiên cứu về thơ Tố Hữu cả ở trong và ngoài nước Nhìn chung, các bài nghiên cứu đều có sự nhìn nhận, đánh giá một cách khách quan những giá trị và đóng góp nổi bật của thơ Tố Hữu
Nghiên cứu về thơ Tố Hữu còn nhiều tác giả, nhiều bài viết, mỗi bài viết lại có những phát hiện riêng, hướng khai thác riêng Tuy nhiên, các tác giả đều khẳng định tài năng và những đóng góp to lớn của Tố Hữu đối với nền thơ ca dân tộc
Với tầm bao quát về lịch sử nghiên cứu (chắc chắn còn có những hạn chế) chúng tôi cũng đã bước đầu nhận thấy: việc nghiên cứu về phương diên
lý thuyết của vấn đề tuy chưa nhiều nhưng cũng đã có những thành quả đáng
kể và đang trở thành mối quan tâm trong nghiên cứu phê bình hiện nay Hơn nửa thế kỉ qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về thơ Tố Hữu, tuy nhiên chủ yếu là sử dung những lý thuyết truyền thống ít liên quan đến vấn đề của luận văn Tuy nhiên, những nghiên cứu ấy sẽ đem đến những gợi ý quý báu cho chúng tôi trong quá trình hoàn thiện luận văn này
3 Đối tƣợng nghiên cứu và pham vi khảo sát
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là
Ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu
Trang 123.2 Phạm vi tư liệu khảo sát
Phạm vi khảo sát của luận văn là các tập thơ của nhà thơ Tố Hữu:
- Thơ Tố Hữu (1977), Nxb Giáo dục, Hà Nội
- Tuyển tập thơ Tố Hữu (1998), Nxb Văn học, Hà Nội
- Toàn tập thơ Tố Hữu (2011), Nxb Văn học, Hà Nội
Ngoài ra, chúng tôi còn mở rộng khảo sát các tác phẩm thơ của một số tác giả của nền thơ ca cách mạng
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này, chúng tôi hướng đến việc vận dụng lí thuyết trung tâm - ngoại biên để chỉ ra/ làm rõ những đặc điểm cơ bản trong thơ
Tố Hữu
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Công trình này thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
4.2.1 Tìm hiểu những vấn đề lý thuyết về Trung tâm/ngoại biên làm tiền đề cho việc nghiên cứu thơ Tố Hữu
4.2.2 Giải thích được bản chất của ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu 4.2.3 Chỉ ra những đặc sắc nghệ thuật của thơ Tố Hữu trong việc thể
hiện ý thức trung tâm
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp hệ thống - cấu trúc
- Phương pháp loại hình
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp nghiên cứu liên nghành
6 Đóng góp của luận văn
Trang 13- Đây là công trình đầu tiên khảo sát, đánh giá thơ Tố Hữu ở phương
diện ý thức trung tâm
- Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng làm tài liệu tham khảo cho hoạt động nghiên cứu, dạy - học thơ Tố Hữu ở trường phổ thông
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung của luận
văn gồm 3 chương:
Chương 1 Giới thuyết về ý thức trung tâm và ý thức trung tâm trong
thơ Tố Hữu
Chương 2 Biểu hiện của ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu
Chương 3 Quá trình dịch chuyển ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu
Trang 14Chương 1 GIỚI THUYẾT VỀ Ý THỨC TRUNG TÂM
VÀ Ý THỨC TRUNG TÂM TRONG THƠ TỐ HỮU
1.1 Về khái niệm trung tâm- ngoại biên
1.1.1 Trung tâm - ngoại biên với tư cách là khái niệm của chính trị - văn hóa
Theo Từ điển tiếng Việt, khái niệm trung tâm được hiểu là nơi tập trung
những hoạt động trong lĩnh vực nào đó, có ảnh hưởng lớn đối với những nơi
khác [24; 1050] Còn ngoại biên (hay ngoại vi) là những thành phố (nơi) xa
trung tâm [24; 684] Đây là nghĩa đơn giản nhất của khái niệm Cùng với sự phát triển của tư duy cũng như thực tiễn sôi động của mọi phương diện đời sống xã hội, khái niệm trung tâm - ngoại biên ngày càng gắn với nhiều nội hàm khác nhau
Vận dụng lí thuyết trung tâm - ngoại biên trong nghiên cứu kinh tế, chính trị, phải kể đến nhà xã hội học đương đại người Mỹ Immanuel
Wallerstein Nhà nghiên cứu này quan niệm trung tâm là các vùng rộng lớn,
được hưởng lợi nhiều nhất từ hệ thống kinh tế thế giới tư bản ngay từ giai đoạn đầu, gắn với sự hình thành các trung tâm đầu tiên ở Tây Bắc Âu (Anh, Pháp, Hà Lan) Cùng với sự phát triển về kinh tế, các nhà nước châu Âu vùng này đã hoàn thiện một cách mạnh mẽ tổ chức nhà nước theo mô hình chủ nghĩa tư bản với sự tăng cường các thể chế quan liêu, và các đội quân đánh
thuê Còn ngoại vi là các vùng chưa phát triển tương ứng, lệ thuộc, nơi để các
trung tâm khai thác nguyên liệu bằng các hình thức khác nhau, và cuộc sống chủ yếu dựa vào các loại hình lao động cưỡng bức Vùng ngoại vi cung ứng theo cách bị cưỡng bức giá trị thặng dư tư bản cho các trung tâm thông qua mối quan hệ thương mại bất bình đẳng Hai vùng thể hiện rõ nhất đặc trưng của vùng ngoại vi là Đông Âu (đặc biệt Ba Lan) và Mỹ - La tinh
Trang 15Trung tâm - ngoại biên còn là cặp khái niệm được sử dụng trong nghiên cứu văn hóa Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng thuật ngữ “ngoại biên” nên dùng
để chỉ bộ phận cộng sinh cùng văn hóa chính thống Các nhà nghiên cứu Tây
Âu cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX cho rằng các sáng tạo văn hóa vốn có một xuất phát điểm tại một cộng đồng nào đó, và lan tỏa đi các nơi, trên cơ sở đó tạo động lực cho văn hóa (và cả xã hội) phát triển Theo cách hiểu này, đối với một số cộng đồng, bề dày văn hóa của họ chủ yếu có được nhờ sự tích lũy các yếu tố vay mượn Như vậy, ngoại biên hay trung tâm của văn hóa đều có những không gian xác định Tuy nhiên, M Bakhtin cho rằng, việc xác định một không gian tồn tại của văn hóa xem chừng bất khả Theo ông, bản chất của một nền văn hóa sống động là đa nguyên, nó hình thành trên cơ sở của sự tiếp biến, giao tiếp, đối thoại Mỗi nền văn hóa hình thành từ nhiều yếu tố văn hóa, mỗi yếu tố văn hóa đều là sự đan bện của nhiều nguyên tố văn hóa, là đa ngữ, đa thanh Nơi để các yếu tố văn hóa thể hiện tính quan trọng và nghiêm túc chính là ở những chỉ giới giao cắt ấy, xa rời đường biên thì nó đánh mất vùng sinh tồn, sẽ biến thành “sự ngạo mạn trống rỗng”, bị thoái hóa và đi đến tiêu vong Trên cơ sở đó Trần Đình Sử đã khẳng định “nếu văn hóa mà có nội địa thì nó sẽ vì sự đơn nhất mà không có mâu thuẫn nội bộ, mất đi nguồn động lực, ngừng hoạt động biến hóa và bắt đầu xơ cứng, thoái hóa và tiêu vong” Bởi vì vùng biên là nơi tiếp giáp, giao tiếp của nhiều thế giới, các nền văn hóa khác nhau, các nhân tố khác nhau, cho nên đó là nơi sôi động nhất, phong phú nhất [45; 2]
Từ cách lập luận trên, ta sẽ thấy biên giới không phải là chỉ giới có tính chất khép kín để phân biệt các không gian theo cách hiểu của khoa địa lí, mà ngược lại, là nơi mở ra, tạo thành tính chất chưa hoàn thành của đời sống và văn hóa Chúng ta có thể hình dung giá trị văn hóa như giá trị của mỗi con người Trong khi chúng ta tự mình làm một trung tâm thì chúng ta đồng thời
Trang 16là một ngoại biên trong cái nhìn của kẻ khác Và trong quan hệ đó, chúng ta đều là những sản phẩm chưa hoàn thành
Nói như thế cũng có nghĩa là ngoại biên làm nên trung tâm, không có ngoại biên sẽ không có trung tâm Sự phân biệt người này với người kia cũng như sự phân biệt các quốc gia, các xã hội khác nhau Chính chủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ ra rằng, sự tồn tại và phát triển của vạn vật có nguồn gốc từ sự đấu tranh, loại trừ lẫn nhau giữa các mặt đối lập Không có một xã hội chỉ duy nhất một ý thức, mà tất cả mọi xã hội đều tồn tại bởi nhiều ý thức khác nhau tham gia vào cuộc sống chung ở đường biên, từ đó tạo thành ý thức chung, một ý thức nằm ở đường biên của giao lưu, đối thoại Tuy nhiên, trong quá trình tương tác và đấu tranh ấy, sẽ có những “tiếng nói” lấn át các tiếng nói khác để giành vị trí trung tâm để đến một lúc nào đó nó sẽ lại bị đẩy ra ngoại biên, có những “tiếng nói” ngoại biên sẽ biết cách để xác lập cho mình một trung tâm khác khi nó bị đẩy ra bên lề Tất cả đều theo quy luật của phát triển
1.1.2 Trung tâm - ngoại biên với tư cách là khái niệm của nghiên cứu văn học
Khái niệm trung tâm - ngoại biên được hiểu theo nhiều cách khác nhau, trong nghiên cứu lí luận văn học, nhất là vấn đề ngoại biên Có ý kiến cho
rằng ngoại biên trong văn học tức là bản thân nội hàm văn học thay đổi,
nhưng có người lại cho rằng “tính văn học” thay đổi Có người hiểu là tác giả
đã chết, người đọc cũng chết, các giá trị thiêng liêng của văn học đang mất đi
Có người lại cho là trong xã hội hiện đại với văn hóa hình ảnh, văn học mất vị trí trung tâm của văn hóa và của các loại hình nghệ thuật Có người hiểu ngoại biên hóa có nghĩa là văn học nghiêm túc, tinh anh mất địa vị chủ lưu Có người nói văn học ngoại biên hóa là do chức năng văn học thay đổi, chức năng nhận thức, giáo dục không còn ở vị trí hàng đầu nữa Có người nói văn học ngoại biên hóa là do văn học không còn gắn với chính trị… Nhưng theo
Trang 17Trần Đình Sử thì “văn học ngoại biên hóa chủ yếu là phương thức tồn tại thông thường của văn học” [45; 6] Theo cách hiểu này, ngoại biên hóa chủ yếu là phương thức tồn tại thông thường của văn học? Trong tình hình tam giáo đồng nguyên ở nước ta thời trung đại (sự tồn tại đa nguyên của các học thuyết Nho, Phật Đạo), thơ của Nguyễn Trãi với sự ảnh hưởng của tất cả các học thuyết này là sản phẩm ngoại biên hóa của các thuyết cộng sinh, tạp giao
ấy Hiện tượng cộng sinh của chủ nghĩa Max với các học thuyết khác trên thế giới đã khiến chủ nghĩa này trở nên phong phú Mĩ học của Lí Trạch Hậu kết hợp mác xít với phân tâm học và mĩ học hình thức Toàn bộ lí luận văn học Trung Quốc hiện nay cũng là một sự tạp giao
Trong văn học, mọi sáng tác ở trung tâm đều bắt nguồn từ ngoại biên,
và chiếm dần vị trí trung tâm để lúc nào đó sẽ bị ngoại biên hóa Ở Việt Nam, dòng văn học cách mạng trước năm 1945 chỉ là ngoại biên, sau cách mạng tháng Tám liền trở thành dòng văn học trung tâm Thơ ca lãng mạn Việt Nam trước cách mạng là trung tâm nhưng đến sau cách mạng nó lại trở thành ngoại biên Cho đến nay, trong tầm đón đợi mới của công chúng văn học, nhiều tác phẩm văn học cách mạng vốn giữ vị trí trung tâm lại đã phải dịch chuyển ra phía ngoại biên
Từ đó cho thấy trong văn học, ở thời điểm này nó là ngoại biên, nhưng
ở một thời điểm khác nó là trung tâm Và đó chính là phương thức tồn tại thông thường của văn học
Nhận thức về vấn đề này, Nguyễn Văn Dân cho rằng "xu hướng ngoại biên hóa văn học" được xem như là một quy luật để khẳng định giá trị của văn học chứ không phải là “văn chương bên lề”, đối lập với dòng văn chương chính thống Một hiện tượng văn học chỉ có thể tiến vào trung tâm khi nó được đa số cộng đồng công chúng chấp nhận, tán thưởng Đấy cũng là xu hướng tất nhiên và mang tính chủ đạo trong cộng đồng văn học Hướng đến
Trang 18trung tâm là hướng vận động chủ yếu của văn học, trong đó có việc hình thành những trung tâm mới, bổ sung cho một trung tâm gốc
Có thể thấy đây là cách hiểu phổ biến nhất về khái niệm trung tâm - ngoại biên trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam Theo cách hiểu này, có các tiêu chí khác nhau để nhận diện khu vực trung tâm và ngoại biên trong văn học Chẳng hạn rất dễ để thấy rằng, về mặt thể loại, thời trung đại, thơ là trung tâm của văn học Và quả thực, với một đất nước giàu truyền thống về thơ như Việt Nam, không chỉ thời trung đại, mà bước sang thời hiện đại, thơ vẫn gần như thường xuyên chiếm được vị trí trung tâm, chỉ ít là tồn tại bên cạnh một trung tâm thể loại khác, như truyện ngắn hay tiểu thuyết, nửa đầu thế kỷ XX (chúng tôi cho rằng, hoàn toàn có thể có hiện tượng tồn tại trong một thời điểm nhiều trung tâm khác nhau, kể cả trong lĩnh vực kính tế, chính trị hay văn hóa, văn học) Thời chống Pháp, chống Mĩ, thơ vẫn bền bỉ giữ vị trí trung tâm do yêu cầu tuyên truyền tư tưởng và thế mạnh trong khả năng tạo
sự lây lan cảm xúc
Ở cách nhìn khác, văn học có chiếm được vị trí trung tâm hay không còn phụ thuộc yếu tố nhận thức Về mặt tư tưởng, sự thay thế các quan niệm trong văn học cho thấy điều này Ở văn học Lý - Trần, nhất là văn học thời Lý, trung tâm nằm ở tư tưởng Phật giáo Đến khoảng cuối đời Trần, nhất là thời Lê và sau đó của văn học trung đại, tư tưởng Nho giáo chiếm vị trí trung tâm Vị trí trung tâm trong văn học 1930 - 1945 thuộc về tư tưởng dân chủ tư sản, và sau
1945 sẽ thuộc về tư tưởng vô sản Thơ Tố Hữu thuộc trường hợp sau cùng
1.2.3 Vấn đề vận dụng lí thuyết trung tâm - ngoại biên trong nghiên cứu văn học ở Việt Nam
Việc vận dụng lí thuyết trung tâm - ngoại biên trong nghiên cứu văn
học ở Việt Nam cho đến nay đã trở nên khá phổ biến, từ các công trình của các nhà nghiên cứu lão thành đến các luận án, luận văn ở các trung tâm đào
Trang 19tạo sau đại học Với lý thuyết này, nhiều vấn đề của văn học qua nhiều thời kỳ
đã được soi tỏ Có thể kể đến các tác giả: Ngô Đức Thịnh với Lý thuyết trung tâm và ngoại vi trong không gian văn hóa, Lê Huy Bắc với Trung tâm - ngoại biên: Vua thất thế sãi làm vua, Lại Nguyên Ân với Từ trung tâm ra ngoại biên và từ ngoại biên vào trung tâm, Trở lại vấn đề trung tâm - ngoại vi, Nguyễn Văn Dân với Văn học nhìn từ lí thuyết trung tâm - ngoại vi, và Văn học trung tâm - ngoại vi, nhìn từ góc độ văn hóa, Trần Đình Sử với Ngoại biên hóa trong tiến trình văn học Việt Nam đương đại, Lê Nguyên Long với Trung tâm và ngoại biên: từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận, Hà Hữu Nga với Nhân học hóa và mối quan hệ trung tâm - ngoại vi và một số luận án Tiến sĩ, luận văn thạc sĩ văn học…
Trong các công trình kể trên, các tác giả đều nỗ lực giải mã khái niệm
và phân tích một số trường hợp cụ thể Dẫu các quan điểm vẫn còn có chỗ
chưa thống nhất (như công trình của Nguyễn Văn Dân Văn học nhìn từ lí thuyết trung tâm - ngoại vi, và bài viết Trở lại vấn đề trung tâm - ngoại vi của
Lại Nguyên Ân) nhưng cơ bản các nhà nghiên cứu đã làm rõ được vấn đề
trung tâm - ngoại biên trong quá trình nghiên cứu lí luận văn học Họ đã có
những đánh giá thỏa đáng về vai trò, vị trí của các thể loại văn học, các dòng
văn học lúc thì ở vị trí trung tâm, lúc lại ở vị trí ngoại biên, góp phần thúc đẩy
sự phát triển của nền lí luận, phê bình Sau đây luận văn sẽ điểm qua một số công trình tiêu biểu
Trước hết là bài viết Trung tâm - ngoại biên: Vua thất thế sãi làm vua
của tác giả Lê Huy Bắc Trong bài viết này, tác giả đã tiếp cận vấn đề từ cặp khái niệm “hỗn độn” và “trật tự” với tư cách là cái có trước và cái “can thiệp” trong tham vọng thay thế, hay xác lập trật tự mới Quá trình dịch chuyển trung tâm - ngoại vi trong văn học cũng là quá trình tương tự Tác giả đã phân tích khá sâu và cụ thể về sự dịch chuyển vị trí ngoại biên - trung tâm trong văn
Trang 20học trên thế giới và ở Việt Nam Đặc biệt, tác giả đi sâu phân tích vấn đề
ngoại biên - trung tâm trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam trên
bình diện thể loại
Trong Văn hóa trung tâm - ngoại vi, nhìn từ góc độ văn hóa, Nguyễn Văn Dân hiểu khái niệm trung tâm - ngoại biên từ góc nhìn văn học và góc
nhìn văn hóa Nhà nghiên cứu này coi vấn đề trung tâm - ngoại biên như sự
ưu thế hay không ưu thế của các thể loại văn học trong từng giai đoạn theo xu hướng trung tâm hóa và xu hướng li tâm để tiến tới độc lập của các nền văn hóa Và xu hướng ly tâm trên đây không phải là xu hướng ngoại biên hóa
Trong bài viết Trung tâm và ngoại biên từ hệ hình cấu trúc luận đến hệ hình hậu cấu trúc luận, Lê Nguyên Long lí giải khái niệm trung tâm - ngoại biên bằng việc nhấn mạnh tính chất hỗn nhập trên nhiều bình diện của bản
thân tác phẩm văn hoc, và tính đa nguyên trong tiếp nhận của người đọc Người nghiên cứu chủ trương đi tìm căn nguyên của hiện tượng nhị nguyên đối lập trung tâm - ngoại biên trong sự nghi ngờ tính khoa học chính xác của
sự đối lập này Tác giả đã chỉ ra những giới hạn của cách tiếp cận vấn đề từ góc độ hình thức - cấu trúc, tác giả cũng đi sâu phân tích nó từ điểm nhìn của chủ nghĩa hậu cấu trúc từ đó, đề xuất nghiên cứu trung tâm - ngoại biên trong văn học trong hệ quy chiếu rộng rãi của văn hóa học để nhận ra bản chất của trung tâm - ngoại biên chính là vấn đề quyền lực trong mối quan hệ tri thức - quyền lực nếu nhìn từ lí thuyết của Foucault
Trong Ngoại biên hóa trong tiến trình văn học Việt Nam đương đại, Trần Đình Sử đã từng bước làm rõ khái niệm ngoại biên và ngoại biên hóa từ phương diện văn hóa đến văn học Đặc biệt từ khái niệm ngoại biên hóa văn
học, tác giả bài viết đã khái quát được bức tranh toàn cảnh về quá trình ngoại biên hóa của văn học Việt Nam từ thời kì đổi mới Tác giả đã làm rõ quá trình trung tâm hóa văn học trong giai đoạn đổi mới Cụm từ ngoại biên gắn với
Trang 21những tác phẩm lí luận, phê bình, văn học nằm ngoài tư tưởng mác xít và do
đó tư tưởng mác xít chân chính là diễn ngôn trung tâm Từ năm 1943 do yêu cầu của lịch sử các sáng tác ngoại biên bị chối bỏ, sự đổi mới của nhà văn không được chấp nhận, văn học yêu cầu người nghệ sĩ có cái nhìn về trung tâm đó là hiện thực cách mạng của dân tộc Đầu những năm 90 nhu cầu ngoại biên của văn học diễn ra mạnh mẽ, văn học xuất hiện nhiều đề tài mới mẻ gần với đời sống, dẫu bị phê phán nhưng vẫn được người đọc chấp nhận, do đó sự khập khiễng giữa hai khái niệm ngoại biên và trung tâm càng rõ hơn
Đến giữa 1990, khuynh hướng văn học ngoại biên rõ rệt hơn, một sự thay đổi diễn ra ngấm ngầm nhưng vô cùng mạnh mẽ trong văn học Và hiện tượng này sẽ tạo ra những tác phẩm văn học có giá trị lớn cho văn học nước nhà trong thế kỉ mới
Như vậy, vấn đề vận dụng lí thuyết trung tâm - ngoại biên trong nghiên
cứu văn học ở Việt Nam diễn ra khá phong phú, đa dạng, có nhiều điểm thống nhất tích cực Dù được nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau nhưng các tác giả
đều xác định trung tâm - ngoại biên trong văn học thực chất là một quy luật
phát triển rất bình thường của văn học trong các giai đoạn lịch sử khác nhau, chứ không phải là khái niệm để phân biệt dòng văn học nào quan trọng hơn,
có giá trị hơn Cùng với sự phát triển của văn học nước nhà, hiện tượng trung tâm - ngoại biên trong văn học cũng góp phần không nhỏ trong việc tạo ra
một diện mạo mới cho lí luận văn học
1.2 Ý thức trung tâm - một hiện tƣợng phổ biến của văn học Cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975
1.2.1 Nguồn gốc ý thức trung tâm trong văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975
Văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực nhận thức, tình cảm, tư tưởng của con người, gắn liền với cuộc sống, với mọi hoạt động của con người trong xã
Trang 22hội Nó phản ánh cuộc sống bằng cách tạo lại thành những hình tượng nghệ thuật, thành những nhân vật điển hình, những hoàn cảnh điển hình Từ hiện thực cuộc sống, thông qua nhận thức, cảm xúc và tài năng nghệ thuật, tác giả tạo nên hiện thực mới, hay hình ảnh hiện thực trong tác phẩm Đó là sản phẩm của tưởng tượng, hư cấu nhưng nó thật sự bắt nguồn từ hiện thực, khái quát, đúc kết, nâng cao, soi sáng được hiện thực
“Điều quyết định nhất cho nền văn học nghệ thuật phát triển là tự do chính trị, là độc lập của đất nước Hồ Chủ tịch nói: “Dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do Văn nghệ muốn tự do thì phải tham gia cách mạng” Đề cương văn hóa của Đảng năm 1943 đã nêu rõ: “Mặt trận văn hóa là một trong
ba mặt trận (kinh tế, chính trị, văn hóa), ở đó người cộng sản phải hoạt động… Cách mạng văn hóa có thể hoàn thành khi nào cách mạng chính trị thành công” Vận mệnh của văn nghệ gắn liền với vận mệnh của dân tộc Vì vậy, trong thời kì đất nước bị đô hộ, dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ dân tộc chân chính là văn nghệ đấu tranh chống lại sự áp bức của chủ nghĩa thực dân và phong kiến, tố cáo mọi sự bất công trong xã hội Văn nghệ và cách mạng gắn
bó với nhau: văn nghệ chân chính là văn nghệ phục vụ cách mạng, và cách mạng tạo điều kiện và thúc đẩy cho văn nghệ tiến tới Lịch sử văn nghệ thế giới cũng như lịch sử văn nghệ dân tộc ta đều chứng minh chân lí ấy” [ 56; 140]
Nền văn học cách mạng Việt Nam giai đoạn 1945- 1975 gắn liền với hai cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc và quá trình đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc “Giai đoạn cách mạng và nhiệm vụ cách mạng
có quan hệ khăng khít đến văn hóa, văn nghệ, bởi vì văn hóa, văn nghệ phải phục tùng chính trị của Đảng, phục vụ việc thực hiện đường lối cách mạng, hoàn thành nhiệm vụ cách mạng của mỗi giai đoạn Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, từ sau cách mạng tháng Tám, chúng ta xây dựng một nền kinh tế dân chủ mới, thực hiện chế độ dân chủ mới, thì đồng
Trang 23thời chúng ta cũng xây dựng nền văn hóa dân chủ mới mang tính chất dân tộc, khoa học, đại chúng” [69; 39]
Có thể nói, nguồn gốc ý thức trung tâm trong văn học cách mạng Việt Nam 1945 - 1975 xuất phát từ những đặc điểm của đường lối văn học, nghệ thuật của Đảng
Trước hết, văn nghệ của ta lấy yêu cầu của cách mạng qua từng giai đoạn làm mục đích đấu tranh cao nhất của mình Văn nghệ phải phục vụ chính trị, văn nghệ sĩ phải là chiến sĩ cách mạng Không có cách mạng thì không có văn nghệ cách mạng, không có tự do chính trị thì không có tự do của nghệ thuật Cuộc đấu tranh gay gắt của dân tộc để giành độc lập, để bảo
vệ độc lập và quyền tự chủ của đất nước đã từ lâu gắn chặt văn nghệ với chính trị Có những thời kì trong đấu tranh cách mạng tưởng chừng như văn nghệ và chính trị là một Văn nghệ phục vụ chính trị không chỉ là một nguyên
lí của chủ nghĩa Mác - Lênin, mà còn là một yêu cầu của thực tiễn, một đặc điểm của cuộc đấu tranh cho sự sống còn của dân tộc Việt Nam
“Đặc điểm đó bắt buộc văn nghệ sĩ phải ở trong cuộc đấu tranh của
cách mạng, phải gắn liền với cuộc sống Vấn đề vốn sống và tính chiến đấu
mà sự thể hiện cao nhất là tính đảng vô sản, đặt ra một cách nghiêm khắc đối
với văn nghệ sĩ và sự sáng tạo nghệ thuật Văn nghệ của ta mang tính dân tộc, nhưng phấn đấu cho lí tưởng của giai cấp công nhân, làm cho lí tưởng của giai cấp công nhân trở thành lí tưởng của dân tộc, góp phần tạo nên sự nhất trí
về tinh thần trong xã hội ta trên cơ sở của chủ nghĩa Mác - Lênin Văn nghệ của ta lấy sự thống nhất giữa tính tư tưởng và tính nghệ thuật làm tiêu chuẩn cho một tác phẩm có giá trị, có tính đảng Sự thống nhất đó là ở chỗ tính tư tưởng và tính nghệ thuật đều có một yêu cầu thống nhất nhằm đạt tới cái cao thượng, cái đẹp Và trên đời này, ở thời đại cách mạng, có gì cao thượng hơn, đẹp đẽ hơn lý tưởng xã hội chủ nghĩa và cộng sản chủ nghĩa, có gì đẹp hơn
Trang 24con người giác ngộ lý tưởng đó, con người có tình cảm trong sáng như lòng yêu nước, yêu nhân dân, yêu chủ nghĩa xã hội, tinh thần quốc tế vô sản, con người có những ước mơ và hòa bão rộng lớn, thoát ra ngoài những cái nhỏ nhen vụn vặt của cuộc sống cá nhân Văn nghệ ta nhằm xây dựng những điển hình nghệ thuật đấu tranh cho lí tưởng đó để giáo dục, đào tạo những con người mới sống theo lý tưởng đó Với cách nhìn nhận ấy, tính tư tưởng và tính nghệ thuật quyện vào nhau làm một, tạo nên tính thẩm mỹ cộng sản chủ nghĩa Với chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản, chúng ta xây dựng một nền văn hóa, văn nghệ cao đẹp nhất của loài người.” [ 69; 44, 45]
Đồng thời, văn nghệ phải ở trong lòng của cuộc đấu tranh cách mạng,
phải là một mặt trận của cuộc đấu tranh đó Cũng như các mặt trận chính trị,
quân sự, kinh tế, nó có vai trò, chức năng và trách nhiệm riêng Chính vì vậy,
Đảng ta đề cao tính chủ động, tính sáng tạo và vai trò cải tạo của văn nghệ
đối với cuộc sống Đảng hết sức coi trọng đặc trưng của văn nghệ và những yêu cầu chính đáng của sự sáng tạo nghệ thuật Văn nghệ xã hội chủ nghĩa
“phản ánh cái mới và đấu tranh cho cái mới thắng lợi Không những nó chỉ thể hiện cuộc sống mới và con người mới, mà còn tích cực góp phần thúc đẩy cuộc sống mới phát triển, góp phần sáng tạo và giáo dục con người mới Mỗi tác phẩm văn học phải có tác dụng rọi ánh sáng mới vào nhận thức, tư tưởng
và tình cảm của xã hội, cổ vũ nhân dân phấn khởi tiến lên…” [69; 48]
Khi còn là những mầm mống đầu tiên, văn nghệ cách mạng đã biết
khai thác các truyền thống tốt đẹp của dân tộc Văn nghệ cách mạng Việt
Nam bắt đầu từ truyền thống và luôn luôn gắn chặt với truyền thống nhưng không phải là nô lệ của truyền thống Văn nghệ Việt Nam biết chọn lọc, biết
kế thừa truyền thống tốt đẹp của dân tộc và dám sáng tạo những cái mới Đảng ta đề cao tính dân tộc, tâm hồn dân tộc, nhưng không tự bó mình vào chủ nghĩa dân tộc, mà biết tiếp thu tinh hoa xưa và nay của văn nghệ thế
Trang 25giới Văn nghệ Việt nam đấu tranh vì Tổ quốc và chủ nghĩa xã hội Việt Nam đồng thời đấu tranh vì chủ nghĩa xã hội, vì giai cấp công nhân quốc tế Chủ nghĩa yêu nước chân chính và chủ nghĩa quốc tế vô sản trong sáng quyện vào nhau, tác động lẫn nhau
Tại Đại hội văn nghệ toàn quốc lần thứ tư, nhận định về đường lối văn nghệ của Đảng, đồng chí Trường Chinh nhấn mạnh: “Lãnh đạo phong trào văn nghệ Việt Nam, Đảng ta không hề mắc sai lầm về đường lối Tất nhiên, chúng ta còn nhiều thiếu sót, nhưng đường lối văn nghệ của chúng ta đúng” [69; 48]
1.2.2 Những nội dung cơ bản của ý thức trung tâm trong văn học Việt Nam 1945 - 1975
Nền văn học mới ra đời từ cách mạng tháng Tám đến nay đã đi trọn một giai đoạn lịch sử, giai đoạn 1945 - 1975 Giai đoạn này kết thúc cùng với
sự kết thúc của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thống nhất đất nước Muốn hiểu rõ những đặc điểm của giai đoạn văn học 1945 - 1975 và đánh giá đúng những thành tựu của nó, cần đặt 30 năm văn học ấy trong hoàn cảnh đặc biệt mà nó đã sinh ra, tồn tại và phát triển
Nền văn học giai đoạn này đã trải qua một cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc vô cùng ác liệt kéo dài suốt 30 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trong hoàn cảnh đó, quan hệ quốc tế của nó chủ yếu thu hẹp trong vùng ảnh hưởng của phe Xã hội Chủ nghĩa, trước hết là Liên Xô, Trung Quốc Ngoài ra đây cũng là giai đoạn mà nền văn học ở bước đầu xây dựng theo mô hình mới, chưa có kinh nghiệm bao nhiêu, do đó khó tránh khỏi những lệch lạc ấu trĩ
Đề cập đến ý thức trung tâm của giai đoạn văn học 1945 - 1975, trước hết cần xác định: khi nói những nội dung cơ bản của ý thức trung tâm của một giai đoạn văn học thì nội dung ấy phải được rút ra từ sự khảo sát bản thân nền
Trang 26văn học trong giai đoạn lịch sử ấy, chứ không phải gán cho nó những nhãn hiệu theo mong muốn chủ quan của mình Những nội dung nếu thực sự là cơ bản thì phải thể hiện một cách có hệ thống ở giai đoạn văn học ấy Cố nhiên vẫn có thể có những yếu tố ngoại vi, phi hệ thống, nhưng đấy không phải là những yếu tố phổ biến và chiếm ưu thế Đã gọi là nội dung cơ bản phải gắn mới dòng chủ lưu, dòng chính thống trong giai đoạn văn học Những nội dung
ấy lại phải có quan hệ chặt chẽ với nhau tuân thủ theo qui luật nội tại, chứ không thể chỉ là những yếu tố ngẫu nhiên, rời rạc xếp cạnh nhau Chúng phải
so sánh được giai đoạn văn học từ nội dung đến hình thức, từ tư tưởng đến diện mạo trong quan hệ thống nhất Và tất nhiên, nội dung cơ bản của ý thức trung tâm một giai đoạn văn học phải giúp phân biệt được giai đoạn văn học
ấy với những giai đoạn trước và sau nó
Xuất phát từ quan niệm ấy, chúng tôi cho rằng ý thức trung tâm của văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 có ba nội dung cơ bản:
Trước hết, đây là một giai đoạn văn học phục vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu Cách mạng tháng Tám thành công, sau hơn 80 năm nô lệ, nay dân tộc đã
giành được độc lập tự do Toàn dân sống trong một không khí chính trị vô cùng sôi nổi, hào hứng với niềm vui của những người lần đầu tiên được làm chủ đất nước mình, làm chủ cuộc đời mình Họp đoàn thể, tập tự vệ, chào cờ
đỏ sao vàng, hát Tiến quân ca Không khí đó đã tác động, chi phối cuộc sống
của nhân dân Con người lúc này đều thích sinh hoạt chính trị, thích nói chuyện chính trị, thích gọi nhau là đồng bào, đồng chí để thấy rằng tất cả cùng chung một Tổ quốc, cùng là con người mới của thời đại mới và cùng chung lý tưởng cộng sản
Thế nhưng, độc lập tự do vừa giành được chưa bao lâu, giặc Pháp đã trở lại, rồi giặc Mỹ kéo vào Lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, ý chí căm thù giặc ngoại xâm, cái huyệt thần kinh nhạy cảm nhất của người Việt Nam bị
Trang 27chạm mạnh Ngay lập tức, cả nước đứng dậy, tất cả sẵn sàng chống giặc Lợi ích Tổ quốc được đặt lên trên hết, mà trước hết là vấn đề chủ quyền, là phải giữ lấy chế độ mới, nghĩa là phải bằng mọi giá giữ lấy lợi ích chính trị chung của
cả cộng đồng dân tộc Vì vậy, mọi lợi ích khác đều tạm thời phải xếp lại, phải đặt sang một bên thậm chí phải hi sinh, trong đó có lợi ích của văn học nghệ thuật Chủ trương của Đảng về nhiệm vụ của văn nghệ sĩ đó là: phải đứng trên lập trường kháng chiến, với nhiệm vụ tuyên truyền chính trị, cổ vũ chiến đấu Những cây bút chân chính đều nhận thức được vai trò và sứ mệnh cao cả của mình Họ sẵn sàng nhập cuộc, sẵn sàng nhận nhiệm vụ bởi với họ vào thời điểm đó nghĩa vụ công dân là cao cả nhất, thiêng liêng nhất, đẹp đẽ nhất
Nhìn chung, văn học giai đoạn này chỉ đề cập đến tình cảm công dân, tình cảm chính trị, tình đồng chí, đồng bào, tình quân dân, tình với Đảng, với Bác Hồ… Những tình cảm khác có được nói đến, nhưng được nâng lên thành tình cảm chính trị (chẳng hạn nâng tình yêu lứa đôi lên thành tình đồng chí), được đánh giá theo tiêu chuẩn chính trị Cảm hứng chính trị trở thành một nguồn thi hứng lớn nuôi dưỡng nền thơ ca Việt Nam suốt ba thập kỷ mà ở đó
Tố Hữu được xem là lá cờ đầu
Văn học có nhiệm vụ phục vụ chính trị nên quá trình vận động phát triển luôn theo sát từng bước đi của cách mạng, từng nhiệm vụ chính trị của đất nước: kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 - 1954), công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, kháng chiến chống đế quốc Mĩ
Đồng thời đây là một giai đoạn văn học hướng về đại chúng
Chủ tịch Hồ Chí Minh nói: “Viết cho ai? - Viết cho đại đa số; công nông binh Viết để làm gì? - Để giáo dục, giải thích, cổ động, phê bình Để phục vụ quần chúng” [68; 240]
Cách mạng và kháng chiến phải dựa vào công nông và nhằm giải phóng công nông Cho nên văn học với mục tiêu như trên tất phải hướng về
Trang 28công nông binh Quần chúng vừa là đối tượng phản ánh, vừa là đối tượng thưởng thức, và còn là lực lượng sáng tác Đó là phương hướng cơ bản để xác định nội dung và hình thức của văn học giai đoạn 1945 - 1975
Quan điểm văn nghệ này của Đảng cũng được các nhà văn chấp nhận, hưởng ứng một cách tự giác, tự nguyện Bởi vì, chính bản thân họ là những trí
thức yêu nước, yêu Đảng, yêu cách mạng, yêu nhân dân Trong Đôi mắt của
Nam Cao, văn sĩ Độ đã vô cùng khâm phục trước vai trò vĩ đại của người
nông dân Với sự thay đổi nhận thức của giới văn nghệ sĩ, Đôi mắt đã được
coi là bản tuyên ngôn nghệ thuật chung của cả một thế hệ nhà văn đi theo cách mạng và kháng chiến Có thể nói, đông đảo văn nghệ sĩ đã hiểu rõ về vai trò vĩ đại của quần chúng nhân dân lao động, họ đã “qui phục” quần chúng một cách hoàn toàn tự giác và đầy vui sướng Họ tự nhận mình chỉ là “anh tuyên truyền nhãi nhép” (Nam Cao) nhưng có ích cho kháng chiến, họ luôn xem đó là niềm vinh dự lớn cho mình, có thể kể đến những tên tuổi như: Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Hoài Thanh… Họ hăng hái đi thực tế sản xuất và chiến đấu sát cách với quần chúng để “Cách mạng hoá tư tưởng, quần chúng hoá sinh hoạt”
Hướng về đại chúng là trực tiếp ca ngợi quần chúng, hoặc bằng cách xây dựng hình tượng đám đông sôi động của công nhân, nông dân, bộ đội,
dân công… đầy khí thế và sức mạnh (Kí sự Cao Lạng của Nguyễn Huy Tưởng, Xung kích, Vỡ bờ của Nguyễn Đình Thi, Vùng mỏ của Võ Huy Tâm, Cửa biển của Nguyên Hồng, Dấu chân người lính của Nguyễn Minh Châu,
Ta đi tới, Hoan hô chiến sĩ Điện Biên của Tố Hữu, Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm, Đoàn thuyền đánh cá của Huy Cận, Đường ra mặt trận của Chính Hữu v.v…); hoặc xây dựng những nhân vật anh hùng kết tinh những phẩm chất cao đẹp của nhân dân, của dân tộc (Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Người mẹ cầm súng, Những đứa con trong gia đình của
Trang 29Nguyễn Thi, Sống như Anh của Trần Đình Văn… Hồ Chí Minh, Sáng tháng năm, Bác ơi!, Theo chân Bác, Người con gái Việt Nam, Mẹ Tơm, Mẹ Suốt…
của Tố Hữu v.v…)
Có thể nói, văn học chân chính không thể tồn tại bằng sự áp đặt từ bên ngoài của một đường lối văn nghệ nào, cũng không thể được tạo ra bằng sự gắng sức của lý trí đơn thuần Mà phải xuất phát từ tình cảm, cảm xúc, phải thuộc về vấn đề cảm hứng nghệ thuật Đường lối văn nghệ phục vụ chính trị,
cổ vũ chiến đấu hướng về quần chúng, do phù hợp với yêu cầu khách quan của lịch sử và bản chất yêu nước của văn nghệ sĩ, nên đã tạo được nguồn cảm hứng thực sự của những người cầm bút trong sáng tác nghệ thuật
Mặt khác, đây là một giai đoạn văn học chủ yếu sáng tác theo khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Ba mươi năm chiến tranh, nếu không có lòng yêu nước thiết tha và niềm tin vững chắc vào tương lai đầy ánh sáng của chiến thắng thì làm sao có
đủ sức mạnh tinh thần vượt qua mọi khó khăn gian khổ, mọi sự hi sinh mất mát của chiến tranh:
Củ khoai củ sắn thay cơm, Khoai bùi trong dạ, sắn thơm trong lòng Hớp ngụm nước suối trong đỡ khát, Trông trời cao mà mát tâm can…
(Tố Hữu - Ba mươi năm đời ta có Đảng)
Đấy là những năm tháng, con người tuy đứng trong gian khổ tột cùng, đau thương tột cùng nhưng tâm hồn chủ yếu sống với niềm tin, niềm vui ấm
áp của tình đồng chí, của tình dân nghĩa Đảng và trong ánh sáng rực rỡ của lý tưởng, của tương lai cách mạng
Chủ nghĩa lạc quan ấy có cơ sở từ thực tế Bởi dân tộc ta vừa phải trải qua một quá khứ vô cùng khủng khiếp: chính sách cai trị tàn bạo của thực dân
Trang 30Pháp và Phát xít Nhật đã dẫn tới nạn đói khủng khiếp năm 1945, khiến hơn hai triệu người chết đói Cách mạng tháng Tám thành công đã cứu đất nước ta ra
khỏi những ngày khủng khiếp đó mà nói như Nam Cao “có lẽ đến năm 2000, con cháu chúng ta vẫn còn kể lại cho nhau nghe để rùng mình” (Đôi mắt)
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được giải phóng, một nửa đất nước bắt tay xây dựng chủ nghĩa xã hội, khôi phục kinh tế đất nước nhanh chóng thay da đổi thịt với nhiều thành tựu quan trọng Những mái tranh nghìn năm đã được thay bằng mái ngói (gọi là phong trào “ngói hoá”), những vách đất, liếp nứa đã thay bằng tường xây, những mảnh sân đất đã thay bằng “cái sân gạch” (tên một tác phẩm của Đào Vũ)… Trong không khí ấy, Xuân Diệu nhìn cuộc sống xôn xao ngói mới, Huy Cận, vốn được xem là một hồn thơ ảo
não nhất trong phong trào Thơ mới, nhìn thấy Trời mỗi ngày lại sáng và Đất
nở hoa; còn Chế Lan Viên say ngắm Ánh sáng và phù sa…
Và tất cả đầy sức sống, đang mở ra những hiện thực triển vọng về một thế giới chưa từng có trong thơ Tố Hữu:
Năm năm mới bấy nhiêu ngày
Mà trông trời đất đổi thay đã nhiều…
Dân có ruộng dập dìu hợp tác Lúa mượt đồng ấp áp làng quê
Chiêm mùa cờ đỏ ven đê Sớm trưa tiếng trống đi về trong thôn
Màu áo mới nâu non nắng chói Mái trường tươi roi rói ngói son
Có thể còn nhiều điều phải lo, phải nghĩ, có thể cuộc sống hiện thực chưa đạt đến vẻ tươi đẹp như bức tranh mà nhà thơ đã vẽ, nhưng bằng những nét vẽ ấy, ông đã cho thấy những chiều kích của khát vọng, của ý chí và quyết
Trang 31tâm thời đại, dân tộc, cùng với đó, hẳn nhiên là chủ nghĩa lạc quan cũng được nhân lên với kích thước ấy:
Xuân ơi xuân, em mới đến dăm năm
Mà cuộc sống đã tưng bừng ngày hội
(Tố Hữu) Muốn trùm hạnh phúc dưới trời xanh
Có lẽ lòng tôi cũng hoá thành Ngói mới
(Xuân Diệu)
Cảm hứng lãng mạn thấm đẫm chất sử thi trong văn học giai đoạn này không chỉ sôi nổi trong thơ mà cả trong văn xuôi, ở tất cả các thể loại đều rất giàu chất thơ
Niềm tin ở tương lai là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn không thể thiếu khiến dân tộc ta có thể vượt lên trên mọi thử thách, làm nên những chiến công phi thường:
Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước
Mà lòng phơi phới dậy tương lai!
(Chính Hữu) Đường ra trận mùa này đẹp lắm
Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây
(Phạm Tiến Duật)
Trang 32Ta qua sông qua suối
Ta qua núi qua đèo Lòng ta vui như hội Như cờ bay gió reo
họ lúc này là: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự do hay nô lệ, ngục tù? Câu hỏi
ấy khiến cho mỗi con người chân chính tự nguyện dẹp đi tất cả mọi lợi ích cá nhân, hy sinh tất cả, kể cả tính mệnh của mình cho Tổ quốc:
Ôi Tổ quốc, ta yêu như máu thịt Như mẹ cha ta, như vợ như chồng
Ôi Tổ quốc, nếu cần, ta chết Cho mỗi ngôi nhà, ngọn núi, con sông…
(Chế Lan Viên)
Trong hoàn cảnh lịch sử đó, nhân vật trung tâm trong văn học là những con người đại diện cho quần chúng nhân dân, tiêu biểu của thời đại và kết tinh những phẩm chất cao quý của cộng đồng Chị Trần Thị Lý xuất hiện trong thơ
Tố Hữu không phải với tư cách là một cá nhân mà là một con người đại diện cho một dân tộc và nhân loại, với “trái tím vĩ đại không phải “đập cho em”
mà cho “lẽ phải trên đời, cho quê hương em, cho Tổ quốc, loài người” Vì vậy, tác giả không gọi nhân vật của mình là Trần Thị Lý mà là “người con gái Việt Nam”
Trang 33Những anh Núp của Nguyên Ngọc, chị Út của Nguyễn Thi,… đâu phải
chỉ là những cá nhân Đó là Đất nước đứng lên, là những Người mẹ cầm súng… Còn Lê Anh Xuân thì đã gặp anh giải phóng quân hy sinh trên đường
băng Tân Sơn Nhất như một tượng đài hùng vĩ Anh là biểu tượng của những chiến sĩ giải phóng quân, là “dáng đứng Việt Nam” “tạc vào thế kỷ”
Ba nội dung cơ bản trên đây của văn học giai đoạn 1945 - 1975 có quan
hệ mật thiết với nhau, là ba phương diện không tách rời được của giai đoạn văn học này
Quan hệ giữa ba nội dung có tính tất yếu, tính quy luật Văn học phục
vụ chính trị, cổ vũ chiến đấu, thì trước hết phải nhằm tác động vào đại chúng
Và để phản ánh và ngợi ca cuộc chiến đấu vì độc lập tự do của dân tộc thì như một cách tự nhiên phải tìm đến khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Và cả ba nội dung trên, xét đến cùng, đều bắt nguồn từ đường lối văn nghệ của Đảng và nhu cầu tự thân của văn học - nghệ thuật trong hoàn cảnh đặc biệt của 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc Ba nội dung nói trên đã giúp phân biệt ý thức trung tâm giai đoạn văn học 1945 - 1975 với các giai đoạn trước và sau nó
1.2.3 Nhìn chung về việc thể hiện ý thức trung tâm trong văn học Việt Nam 1945 - 1975
Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp bắt đầu, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ, văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 mang đặc điểm của nền văn học cách mạng, chiến đấu cùng toàn dân, lấy chủ nghĩa Mác - Lênin làm kim chỉ nam, nêu cao chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc
tế vô sản, lấy sự nghiệp anh hùng và chủ nghĩa anh hùng cách mạng của quân
và dân làm cảm hứng và đối tượng phản ánh, lấy chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa làm mẫu mực về phương pháp nghệ thuật
Đảng đặt ra yêu cầu của nền văn học cách mạng là phải có tính chiến đấu, nhiệt tình cách mạng cao, phải phục tùng chính trị, phục vụ đường lối,
Trang 34chính sách của Đảng, phục vụ sự nghiệp cách mạng vĩ đại của nhân dân Trong
bức thư Gửi hội nghị Văn hóa toàn quốc lần thứ II (15/7/1948), chủ tịch Hồ
Chí Minh huấn thị: “Trong sự nghiệp vĩ đại kháng chiến kiến quốc của dân tộc
ta, văn hóa ghánh một phần rất quan trọng… Nhiệm vụ của văn hóa chẳng những để cổ động tinh thần và lực lượng kháng chiến kiến quốc của nhân dân,
mà còn phải nêu rõ những thành tích kháng chiến kiến quốc vĩ đại của ta cho thế giới biết”… Bác một mặt vạch ra định hướng phục vụ chủ yếu của văn học cách mạng, và mặt khác nhấn mạnh chức năng chủ yếu của nó là nhận thức, phản ánh chân lý cuộc sống và giáo dục theo cách riêng của nó, bằng biện pháp nghệ thuật nhằm biểu dương, cổ động nhiệt tình cách mạng của nhân dân tạo
nên những tác phẩm xứng đáng Đặc biệt trong bức thư Gửi các họa sĩ nhân dịp triển lãm hội họa 1951, Bác viết: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt
trận Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”… Cũng như các chiến sĩ khác, chiến sĩ nghệ thuật có nhiệm vụ nhất định, tức là: phụng sự kháng chiến, phụng
sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân” [56; 198, 199]
Những lời trên đây nói lên hết sức tập trung quan điểm mác xít của Đảng, của Bác về văn học nghệ thuật, đặt ở vị trí hàng đầu yêu cầu về tinh thần cách mạng kiên định, tính chiến đấu của văn học, khẳng định “chiến sĩ nghệ thuật cần có lập trường vững, tư tưởng đúng”, “phải đặt lợi ích của kháng chiến, của Tổ quốc, của nhân dân”, của cách mạng lên trên hết, đó là vinh dự và vai trò “kĩ sư tâm hồn” của nhà văn, của nghệ sĩ trong chế độ mới.” [56; 199]
Nền văn học mới được khai sinh cùng với sự ra đời của nhà nước nhân dân còn non trẻ, lại trải qua ba mươi năm chiến tranh ác liệt chống thực dân Pháp và đế quốc Mĩ, vận nước có lúc ngàn cân treo sợi tóc nên sớm được kiến tạo theo mô hình “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận” (Hồ Chí Minh) cùng với kiểu nhà văn mới: nhà văn - chiến sĩ Ý thức trung tâm của văn học
Trang 35giai đoạn này thể hiện trước hết là tư tưởng cách mạng, văn học là một thứ vũ khí phục vụ sự nghiệp cách mạng Người nghệ sĩ phải đề cao ý thức, trách nhiệm công dân, phải gắn bó với nhân dân và đất nước, phải dùng ngòi bút để phục vụ kháng chiến, cổ vũ chiến đấu một cách tự nguyện “Văn nghệ phụng
sự kháng chiến, nhưng chính kháng chiến đem đến cho văn nghệ một sức sống mới Sắt lửa mặt trận đang đúc nên nghệ mới của chúng ta” (Nguyễn
Đình Thi, Nhận đường)
Gắn bó sâu sắc với vận mệnh chung của đất nước nên quá trình vận động, phát triển của nền văn học mới ăn nhịp với từng chặng đường lịch sử của dân tộc, theo sát từng nhiệm vụ chính trị của đất nước Ý thức trung tâm của văn học giai đoạn này là đề tài Tổ quốc: bảo vệ đất nước, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước Những người chiến sĩ trên mặt trận vũ trang và những lực lượng trực tiếp phục vụ chiến trường như dân quân du kích, thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến… trở thành nhân vật trung tâm trong văn học Tổ quốc trở thành nguồn cảm hứng lớn, một
đề tài chủ yếu xuyên suốt trong những bài thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Giang Nam, Thanh Hải, Thu Bồn, Lê Anh Xuân, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Khoa Điềm,…; trong những truyện ngắn của Nguyễn Thi, Anh Đức, Nguyễn Minh Châu,…
Đề tài của văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 là đề tài Tổ quốc, song song với đề tài đó là đề tài xây dựng chủ nghĩa xã hội.Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, Miền Bắc được giải phóng, vừa hàn gắn vết thương chiến tranh vừa bắt tay vào công cuộc xây dựng cuộc sống mới, con người mới Lúc này, mơ ước lớn nhất của toàn dân tộc là xây dựng chủ nghĩa
xã hội, điều quan tâm nhất của các nhà văn là hình ảnh con người mới, là mối quan hệ mới giữa những người lao động, là sự hòa hợp giữa cái riêng và cái chung, giữa cá nhân và tập thể Ở giai đoạn này, các tác phẩm văn học đều tập
Trang 36trung ngợi ca lao động và vẻ đẹp của những người lao động đặc biệt là đề cao những phẩm chất tốt đẹp của người lao động Những sáng tác tiêu biểu của các nhà văn như tiểu thuyết của Nguyễn Khải, Đào Vũ, Chu Văn, thơ của Tố Hữu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Hoàng Trung Thông… đã tập trung làm rõ điều đó
Như vậy, với hai nhiệm vụ: đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội, văn học giai đoạn 1945 - 1975 đã hoàn thành sứ mệnh lịch
sử của mình, là tấm gương phản chiếu hiện thực cách mạng Giai đoạn này cũng có một số sáng tác viết về các đề tài khác, nhưng những tác phẩm đó được xem như là ngoại biên, không thuộc dòng chủ lưu
Bên cạnh đó, văn học giai đoạn 1945 - 1975 còn là nền văn học hướng
về đại chúng Cách mạng và kháng chiến đã làm thay đổi hẳn cách nhìn nhân dân của đông đảo nhà văn; đồng thời, hình thành ở họ một quan niệm mới về đất nước: đất nước của nhân dân Qua hàng nghìn năm lịch sử, nhân dân đã xây dựng và bảo vệ đất nước bằng mồ hôi, nước mắt và máu xương của mình
Đó là cảm hứng chủ đạo, là chủ đề của nhiều tác phẩm viết về đất nước trong văn học giai đoạn này
Văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 quan tâm tới đời sống của nhân dân lao động, nói lên nỗi bất hạnh của những người lao động nghèo khổ bị áp bức, bóc lột trong xã hội cũ cũng như niềm vui, niềm tự hào của họ
về cuộc đời mới Nhiều tác phẩm đã thể hiện con đường tất yếu đến với cách mạng của những người dân lao động bị dồn đẩy đến bước đường cùng, phát hiện ở họ khả năng cách mạng và phẩm chất anh hùng Nền văn học mới cũng tập trung xây dựng hình tượng quần chúng cách mạng, miêu tả hình tượng người nông dân, người mẹ, chị phụ nữ, em bé, diễn tả vẻ đẹp tâm hồn của nhân dân lao động Có thể nói, đó là một nền văn học có tinh nhân dân sâu sắc
và có nội dung nhân đạo mới
Trang 37Hướng về đại chúng, văn học Việt Nam từ năm 1945 đến năm 1975 phần lớn là những tác phẩm ngắn gọn, nội dung dễ hiểu, chủ đề rõ ràng Các tác phẩm văn học thường sử dụng những hình thức nghệ thuật quen thuộc với nhân dân, đó là chất liệu văn hóa dân gian và văn học truyền thống Biểu hiện
rõ nhất, dễ thấy nhất là ở phương diện ngôn ngữ, ngôn ngữ nghệ thuật thường trong sáng, dễ hiểu, gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày
Ý thức trung tâm trong văn học Việt Nam 1945 - 1975 còn thể hiện ở khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn
Trong hoàn cảnh nền độc lập bị đe dọa, văn học tất yếu phải đề cập tới
số phận chung của cả cộng đồng, của toàn dân tộc chứ không thể là tiếng nói riêng của mỗi cá nhân Vì vậy, văn học tập trung phản ánh những vấn đề cơ bản nhất có ý nghĩa sống còn của đất nước: Tổ quốc còn hay mất, độc lập tự
do hay nô lệ, yếu tố sử thi in đậm trong từng tác phẩm Trong các tác phẩm văn học, nhân vật chính thường đại diện cho lý tưởng chung của dân tộc, gắn
bó số phận cá nhân với số phận đất nước, mang những phẩm chất cao đẹp của cả cộng đồng Các tác giả văn học tập trung khám phá con người ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, ý thức chính trị, ở lẽ sống lớn và tình cảm lớn Nếu có đề cập đến yếu tố riêng tư, đời thường thì cũng là để nhấn mạnh thêm trách nhiệm và tình cảm cá nhân đối với dân tộc Ngôn ngữ sử thi trang trọng, giọng điệu ngợi ca hào hùng, toát lên vẻ đẹp tráng lệ cho các tác phẩm
Khuynh hướng sử thi trong văn học đòi hỏi người cầm bút nhìn cuộc đời và con người bằng con mắt có tầm bao quát của lịch sử, dân tộc và thời đại chứ không chỉ là bằng con mắt của cá nhân mình Tố Hữu gọi đó là con mắt “nhìn bốn hướng/ Trông lại nghìn xưa, trông tới mai sau/ Trông Bắc trông Nam, trông cả địa cầu!”; còn Chế Lan Viên gọi là “con mắt Bạch Đằng/ con mắt Đống Đa” Với đặc điểm của khuynh hướng sử thi, các tác giả văn
Trang 38học đã giành hết tâm huyết của mình để viết về những con người bình dị mà
vô cùng cao đẹp, họ đại diện cho tinh hoa và khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc Đó là những con người có khả năng đáp ứng được những đòi hỏi của dân tộc và thời đại, nhân danh cộng đồng mà chiến đấu vì sự tồn vong của Tổ quốc Với ý nghĩa đó, chị Út Tịch trong sáng tác của Nguyễn Thi, chị Trần Thị Lý trong thơ Tố Hữu không phải chỉ là những cá nhân mà
còn là biểu tượng của Người mẹ cầm súng, là hình ảnh tiêu biểu của Người con gái Việt Nam mang “trái tim vĩ đại/ Còn một giọt máu tươi còn đập mãi/
Không phải cho em Cho lẽ phải trên đời/ Cho quê hương em Cho Tổ quốc,
loài người !” Núp, Tnú là hình ảnh anh hùng của Đất nước đứng lên, là biểu tượng của khí phách hiên ngang, tinh thần bất khuất của Rừng xà nu, của
đồng bào Tây Nguyên Ông tám Xẻo Đước trong truyện ngắn của Anh Đức là biểu tượng của sự vùng dậy quyết liệt của Đất; bà mẹ đào hầm chở che cho bộ đội trong thơ Dương Hương Ly là biểu tượng của tấm lòng “rộng vô cùng”
của nhân dân, của Đất quê ta mênh mông Anh giải phóng quân ngã xuống
trên đường băng Tân Sơn Nhất vẫn trong tư thế đàng hoàng nổ súng tiến công trong thơ Lê Anh Xuân trở thành hình ảnh tượng trưng của “Dáng đứng Việt Nam tạc vào thế kỉ” v.v…
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 mang đậm khuynh hướng
sử thi và cảm hứng lãng mạn, vừa khái quát được không khí thời đại, vừa thể hiện được nét tâm lí chung của con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam trong những năm tháng chiến tranh: dù chồng chất khó khăn, chồng chất hi sinh nhưng vẫn tràn đầy mơ ước, vẫn hướng tới tương lai Cảm hứng lãng mạn trong văn học giai đoạn này chủ yếu được thể hiện trong việc khẳng định lí tưởng của cuộc sống mới, vẻ đẹp của con người mới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng và niềm tin vững chắc vào tương lai tươi sáng của đất nước
Trang 39Chính cảm hứng lãng mạn đã góp phần nâng đỡ tâm hồn con người Việt Nam, giúp họ vượt lên mọi thử thách của chiến tranh để hướng tới ngày
chiến thắng Ở đó, những cuộc chia li cũng “chói ngời sắc đỏ” (Nguyễn Mỹ - Cuộc chia li màu đỏ); ở đó, “Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai!” (Tố Hữu - Theo chân Bác),… Vậy nên, cảm hứng lãng
mạn đã trở thành cảm hứng chủ đạo trong văn học giai đoạn này
Văn học Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 không phải không có những tác phẩm vượt ra ngoài khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, nhưng những tác phẩm đó chỉ thuộc về ngoại biên của nền văn học Với khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, văn học giai đoạn này mang đậm tinh thần lạc quan, đáp ứng được yêu cầu phản ánh hiện thực đời sống cách mạng trong thời kì kháng chiến
Với việc thể hiện ý thức trung tâm, văn học Việt Nam giai đoạn 1945
- 1975 luôn hướng vào đời sống xã hội rộng lớn với những biến cố, thăng trầm, để thực hiện đúng chức năng là phản ánh hiện thực của đất nước, đó là hiện thực về một thời kì lịch sử đầy gian khổ, hi sinh nhưng cũng rất đỗi vẻ vang, tự hào Văn học đã góp phần quan trọng trong việc nuôi dưỡng và phát huy lòng yêu nước, tinh thần dân tộc, niềm tin vào lí tưởng Cộng sản, góp phần quan trọng vào động viên, cổ vũ chiến đấu, bồi đắp tâm hồn, hoàn thiện và phát triển nhân cách cao đẹp của con người Việt Nam Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu to lớn, văn học giai đoạn này vẫn còn một số hạn chế Nội dung tư tưởng của nhiều tác phẩm chưa thật sâu sắc, cách nhìn con người và cuộc sống còn đơn giản, xuôi chiều, phiến diện Văn học chưa có cái nhìn toàn diện về đời sống, chưa phản ánh rõ những tổn thất, những hi sinh, mất mát to lớn trong chiến tranh Chất lượng nghệ thuật của khá nhiều tác phẩm còn non kém, cá tính sáng tạo và phong cách nghệ thuật của nhà văn còn mờ nhạt
Trang 401.3 Nguồn gốc của ý thức trung tâm trong thơ Tố Hữu
1.3.1 Lòng yêu quê hương đất nước
Văn hào Eerrenbua có nói: “Lòng yêu nước ban đầu là lòng yêu những vật tầm thường nhất, yêu cái cây trồng ở trước nhà, yêu cái phố nhỏ đổ ra bờ sông, yêu vị thơm chua chát của trái lê mùa thu…” Chiến tranh khiến cho mỗi người dân Việt Nam nhận ra vẻ đẹp thanh tú của quê hương mình và càng thêm yêu quý vẻ đẹp của quê hương đất nước mình Tình yêu quê hương đất nước là cảm hứng lớn của văn học Việt Nam nhiều thời đại Đó cũng là cảm hứng chủ đạo trong thơ ca miền Bắc giai đoạn 1945 - 1975, một giai đoạn thơ ca mà Tố Hữu được coi là lá cờ đầu
Truyền thống tình cảm yêu nước và truyền thống văn học yêu nước là những yếu tố hết sức quan trọng tạo tiền đề cho việc hình thành tình cảm yêu nước, hình thành ý thức trung tâm không chỉ trong thơ Tố Hữu mà còn trong phạm vi rộng lớn của nền văn học nghệ thuật giai đoạn 1945 - 1975 Lòng yêu nước của Tố Hữu và các văn nghệ sĩ cùng thời với ông không chỉ có từ sự kế thừa truyền thống như một yếu tố di truyền, một dạng ký ức cộng đồng, mà còn bởi nhận được những tác động trực tiếp của không khí thời đại Từ khi thực dân Pháp nổ những phát súng đầu tiên vào bán đảo Sơn Trà chính thức xâm lược nước ta đến Cách mạng tháng Tám 1945, trên toàn cõi Việt Nam hầu như không lúc nào tiếng súng hay tiếng thét đấu tranh ngừng vang, những suối máu đấu tranh ngừng chảy Sinh ra trong thời đại ấy, Tố Hữu và nhiều văn nghệ sĩ cùng thời với ông không thể không được nung nấu thêm lòng yêu nước, mà biểu hiện cụ thể của nó là tâm sự tiếc thương một quá khứ vàng son, lòng đau xót trước thân phận nô lệ của đồng bào, của người thân và của chính mình, là lòng căm thù đối với những kẻ cướp nước và bán nước Lòng yêu nước ấy, như nhiều nghiên cứu đã chỉ ra, biểu hiện một cách phong phú, đa dạng trong hầu khắp các loại hình, thể loại văn học nghệ thuật Lòng yêu