Màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa không chỉ đơn thuần là phương tiện miêu tả thế giới bên ngoài của các sự vật, hiện tượng, xã hội , con người mà còn có khả năng thể hiện “ màu sắc bên tr
Trang 1ĐẠI HỌC ĐÀ NẴNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KHOA GIÁO DỤC TIỂU HỌC – MẦM NON
- -
TRẦN THỊ NHUNG
Khảo sát hệ thống tính từ chỉ màu sắc
trong thơ Trần Đăng Khoa
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Trang 2PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trần Đăng Khoa là một nhà thơ đã đóng góp rất nhiều tác phẩm có giá trị trong thời kì kháng chiến chống Mỹ Hơn bốn mươi năm trôi qua nhưng thơ anh vẫn có chỗ đứng riêng và dành được nhiều tình cảm yêu mến của bạn đọc Đến với thơ Trần Đăng Khoa, ta được sống với một bầu không khí rất riêng - không khí của làng quê nông thôn Việt Nam
Dưới con mắt trẻ thơ, Trần Đăng Khoa đã miêu tả thế giới xung quanh bằng những hình ảnh quen thuộc Khoa đã viết rất nhiều bài thơ làm chấn
động bạn đọc trong và ngoài nước Với tập thơ đầu tay “Góc sân và khoảng
trời”, Trần Đăng Khoa đã tạo nên những nét riêng mà nhiều nhà thơ khác
không có được Thơ Trần Đăng Khoa vui tươi, ngôn từ trong sáng dễ hiểu, phù hợp với tâm hồn trẻ thơ
Với sự quan sát tinh tế và nhạy cảm của cậu bé Khoa, con người và thiên nhiên trong thơ Trần Đăng Khoa hiện lên thật sống động Bằng khả năng tư duy và nghệ thuật, cách sử dụng ngôn từ chính xác, biểu cảm và trí tưởng tượng phong phú, nhà thơ đã khiến cảnh vật xung quanh thành bầu bạn
và như có linh hồn Đặc biệt, Trần đăng Khoa đã sử dụng rất nhiều tính từ chỉ màu sắc trong thơ của mình Những tính từ chỉ màu sắc ấy được nhà thơ vận dụng linh hoạt tạo nên một vườn thơ ngào ngạt hương sắc Màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa không chỉ đơn thuần là phương tiện miêu tả thế giới bên ngoài của các sự vật, hiện tượng, xã hội , con người mà còn có khả năng thể hiện “ màu sắc bên trong” của các sự vật, hiện tượng đó
Đối với lứa tuổi thiếu nhi, các em thích nhìn sự vật bằng những hình ảnh trực quan Trong thơ Trần Đăng Khoa, những tính từ chỉ màu sắc đã phần nào mô tả chân thực được cuộc sống xung quanh Các em nhỏ được đón những vần thơ lấp lánh cảnh sắc quê hương Từ việc miêu ta thế giới hiện thực qua những vần thơ sử dụng tính từ chỉ màu sắc, Trần Đăng Khoa đã giúp
Trang 3các em nhỏ hiểu thêm về những năm tháng của chiến tranh Đồng thời tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa còn giúp chúng ta thấy được cách nhìn cũng như tình cảm của nhà thơ về quê hương, đất nước, con người Việt Nam
Chính vì vậy, chúng tôi chọn đề tài “Khảo sát hệ thống tính từ chỉ màu
sắc trong thơ Trần Đăng Khoa” để nghiên cứu
2 Lịch sử vấn đề
Có rất nhiều đề tài nghiên cứu về thơ Trần Đăng Khoa, nhưng tới nay vẫn chưa có một công trình nào nghiên cứu về tính từ chỉ màu sắc trong thơ anh Sau đây, chúng tôi xin điểm qua một số tác giả đã viết về thơ Trần Đăng Khoa:
- Nguyễn Đình Chú, Nguyễn Đăng Mạnh, Văn học tập 1, giáo trình
đào tạo Giáo viên Tiểu học, hệ Cao đẳng Sư phạm và hệ Sư phạm 12 +2, nhà xuất bản Giáo dục, năm 1998 Ở giáo trình này, các tác giả đã bàn về “ Thế giới Khoa bắt nguồn từ những cảnh sắc quen thuộc”, tất cả những tác phẩm của nhà thơ bắt đầu từ góc sân và khoảng trời, từ những bờ ao, bến nước Tất
cả những điều giản dị ấy đã làm nên màu sắc thơ Trần Đăng Khoa
- Hồng Diệu, Đọc lại tuổi thơ Trần Đăng Khoa, Báo văn nghệ số 48,
ngày 18 tháng 10 năm 1980 Tác giả đã thể hiện đầy đủ sắc màu nghệ thuật và cách sử dụng từ ngữ linh hoạt trong thơ Trần Đăng Khoa
- Lã Thị Bắc Lý, Giáo trình văn học trẻ em , Nhà xuất bản Đại học Sư
phạm, năm 2003 Tác giả đã đề cập đến con người và sự nghiệp sáng tác thơ của Trần Đăng Khoa, những nét đặc sắc về nghệ thuật trong thơ anh Qua đó bạn đọc thấy được tâm hồn trẻ thơ qua cách nhìn, cách miêu tả cảnh vật, với trí tưởng tượng phong phú, bay bổng, ngôn ngữ chính xác biểu cảm của nhà thơ nhỏ tuổi
- Trần Đức Ngôn, Dương Thu Hương, Văn học thiếu nhi Việt Nam, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 1, 1994 Tác giả đã đề cập đến “ Nông thôn
Việt Nam trong thơ Trần Đăng Khoa” Tác giả đã giúp bạn đọc nhìn thấy
Trang 4được thế giới thiên nhiên, loài vật và con người trong thơ Trần Đăng Khoa hiện lên thật sống động Đến với thơ trần Đăng Khoa, ta được sống với một bầu không khí rất riêng của làng quê nông thôn Việt Nam
Nhà thơ Tố Hữu viết: “Tập thơ Góc sân và khoảng trời có rất nhiều bài thơ hay, tập thơ này có vị trí xứng đáng trong thơ Việt Nam và tôi chưa thấy trên thế giới trẻ em nào lại có những bài thơ như vậy cả, tinh hoa văn hoá dân tộc đã dồn đúc lại trong một số ít người, trong đó có Khoa” (An ninh thế giới,số 116,11-3-1999)
Như vậy, các nhà nghiên cứu đã tìm hiểu về thơ Trần Đăng Khoa và thấy được giá trị trong việc thể hiện hình ảnh làng quê và con người Việt Nam với bao sự vật, hiện tượng cụ thể Và cũng đã phần nào thấy được vai trò của tính từ chỉ màu sắc Tuy nhiên, họ mới chỉ bước đầu đề cập đến chứ chưa thực sự đi sâu vào khai thác tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa Những đề tài nghiên cứu trên là tài liệu tham khảo quý giá, bổ ích cho chúng tôi trong việc thực hiện đề tài của mình
Với mong muốn tiếp nối những kết quả của những người đi trước,
trong phạm vi của khóa luận này chúng tôi đi vào nghiên cứu đề tài “Khảo sát
hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa”
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng
Trang 5chỉ màu sắc Qua việc khảo sát hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa , chúng tôi xây dựng một số bài tập bổ trợ giúp học sinh Tiểu học nhận biết về tính từ chỉ màu sắc
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, đề tài cần thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Thống kê, phân loại các tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa
- Xây dựng một số bài tập bổ trợ giúp học sinh Tiểu học nhận biết về tính
từ chỉ màu sắc
6 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lí thuyết: phân tích, tổng hợp các tài liệu liên quan đến đề tài
- Phương pháp nghiên cứu thống kê, phân loại: thống kê, phân loại tính
từ chỉ màu sắc trong các tập thơ của Trần Đăng Khoa
- Phương pháp phân tích, tổng hợp
7 Ý nghĩa của đề tài
Với đề tài “Khảo sát hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng
Khoa”, chúng tôi hi vọng sẽ tập hợp được hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong
tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và hai trường ca “Trường ca đánh thần
hạn”, “Trường ca khúc hát người anh hùng” nhằm giúp giáo viên và học sinh
Tiểu học có cái nhìn tổng thể về hệ thống tính từ chỉ màu sắc
Bên cạnh đó, chúng tôi xây dựng một số bài tập bổ trợ giúp học sinh Tiểu học nhận biết về tính từ chỉ màu sắc, góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn Tiếng Việt, bồi dưỡng kĩ năng nhận diện tính từ chỉ màu sắc cho học sinh Tiểu học
8 Cấu trúc của đề tài
- Phần mở đầu gồm: Lí do chọn đề tài, lịch sử vấn đề, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của đề tài, cấu trúc của đề tài
Trang 6- Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận
Chương 2: Khảo sát hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa Chương 3: Xây dựng một số bài tập bổ trợ giúp học sinh tiểu học nhận biết
về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa
Phần kết luận
Tài liệu tham khảo
Trang 7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1 Giới thiệu chung về nhà thơ Trần Đăng Khoa
1.1.1 Vài nét về tiểu sử nhà thơ Trần Đăng Khoa
Trần Đăng Khoa sinh ngày 26 tháng 4 năm 1958, quê ở làng Điền Trì,
xã Quốc Tuấn, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương, trong một gia đình nông dân
Trần Đăng Khoa sớm yêu thơ có lẽ do ảnh hưởng của gia đình Bố mẹ anh thuộc rất nhiều truyện, thơ ca cổ và đã đọc cho anh nghe Anh trai – Trần Nhuận Minh và em gái – Trần Thị Thúy Giang đều là những người say mê văn học, yêu thơ và thích làm thơ Riêng Trần Đăng Khoa, sáu bảy tuổi đã thuộc rất nhiều ca dao, thơ cổ và ham đọc sách Khoa thích nghe truyện cổ tích, thích nghe anh Minh đọc thơ và thích bắt chước anh làm thơ Gia đình luôn là bầu không khí thơ ca, và đó cũng chính là cái nôi văn hóa đầu tiên của một tâm hồn trẻ thơ
Từ nhỏ, Trần Đăng Khoa đã được nhiều người cho là thần đồng thơ văn Lên tám tuổi, Khoa đã có thơ đăng báo Năm 1968, khi mới lên mười
tuổi, tập thơ đầu tiên của ông “Từ góc sân nhà em” được nhà xuất bản Kim
Đồng xuất bản
Năm 1975, Trần Đăng Khoa nhập ngũ Anh tham gia đoàn giải phóng quân vào tiếp quân ở Sài Gòn, rồi trở thành chiến sĩ làm nhiệm vụ quốc tế tại chiến trường CamPuChia và sống đời lính ở đảo Trường Sa
Cuộc kháng chiến chống Mĩ kết thúc, Trần Đăng Khoa về học ở trường
Sĩ quan lục quân, rồi học tiếp ở trường viết văn Nguyễn Du khóa IV Anh được cử đi học tại Học viện văn học thế giới mang tên Gooc-ki (Cộng hòa liên bang Nga) Sau đó, anh về cộng tác tại Tạp chí văn nghệ quân đội
Trang 8Tháng 6 năm 2004 đến nay, ông phụ trách Ban văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam
1.1.2 Vài nét về sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Trần Đăng Khoa
Trần Đăng Khoa sinh ra trong một gia đình nông dân và lớn lên ở một làng quê Bắc Bộ, trong những năm tháng chiến tranh chống Mỹ diễn ra ác liệt trên cả hai miền Nam – Bắc của Tổ Quốc Anh đã sớm hiểu được những nỗi vất vả, gian lao của người nông dân, trong đó có cha mẹ mình và giá trị của cuộc sống hòa bình Vì vậy, thơ anh là tiếng hát yêu đời ca ngợi cuộc sống
Để trở thành một Thần đồng thơ, ngoài tài năng thiên bẩm, anh đã bền bền bỉ phấn đấu, tích lũy ngay từ nhỏ Bài thơ đầu tiên được đăng báo khi anh tròn tám tuổi “ Con bướm vàng” đã trở thành một mốc quan trọng trong quá trình hình thành và phát triển tư duy nghệ thuật của anh
Là một trong những tác giả của trào lưu thơ thiếu nhi thời chống Mĩ, Trần Đăng Khoa cùng các bạn đã viết nhiều đề tài khác nhau Đó là những đề tài mang âm hưởng thời đại như: lòng kính yêu Bác Hồ; lòng căm thù giặc Mĩ , chán ghét chiến tranh; tình cảm đặc biệt với chú bộ đội; niềm tự hào về sức mạnh Việt Nam trong chiến tranh… Trần Đăng Khoa còn dành sự quan tâm đặc biệt cho cảnh sắc quê nhà với các bài thơ viết về góc sân, khoảng trời, cánh đồng, dòng sông…nơi anh sinh ra và lớn lên, để rồi đóng góp thêm một nền thơ ca Việt Nam một Nhà thơ mục đồng
Năm 17 tuổi, khi làm nhiệm vụ tại chiến trường Campuchia và sống đời lính trên biển Trần Đăng Khoa đã làm nhiều bài thơ về đời lính, về nỗi gian truân mà các chiến sĩ đã tự nguyện gánh chịu cho dân tộc
* Những tác phẩm tiêu biểu của Trần Đăng Khoa:
- Từ góc sân nhà em (1968)
- Thơ Trần Đăng Khoa, tập 1 (tuyển 1966-1969, in năm 1970)
- Góc sân và khoảng trời-tập thơ(1973)
- Trường ca trừng phạt (1973)
Trang 9- Trường ca khúc hát người anh hùng (1975)
- Kể cho bé nghe (1979)
- Trường ca giông bão (thơ, năm 1983)
- Thơ Trần Đăng Khoa, tập 2 (tuyển 1969-1975, in năm 1983)
- Bên cửu sổ máy bay (thơ, 1986)
- Chân dung và đối thoại - tiểu luận phê bình(1998)
- Bài “Thơ tình người lính biển”đã được Hoàng Hiệp phổ nhạc
In nước ngoài
- Tiếng hát còn tiếp tục (Pháp, 1971)
- Góc sân và khoảng trời của tôi (Cuba, 1973)
- Cánh diều no gió (CHDC Đức, 1973)
Trần Đăng Khoa được nhận nhiều giải thưởng về văn học
1.2 Thơ Trần Đăng Khoa trong chương trình Tiểu học
Theo kết quả khảo sát, thơ Trần Đăng Khoa có nhiều bài được đưa vào Sách giáo khoa tiếng Việt Tiểu học Cụ thể từ lớp 1 đến lớp 5:
- Lớp 1: Bài: Ò ó o…, Kể cho bé nghe
- Lớp 2: Bài: Tiếng võng kêu, cây dừa
- Lớp 3: Bài: Khi mẹ vắng nhà
- Lớp 4: Bài: Trăng ơi…từ đâu đến?, Mẹ ốm
- Lớp 5: Bài: Hạt gạo làng ta
1.3 Khái quát chung về tính từ
Trang 10Theo Lê Biên: “Tính từ là một từ loại cần thiết có tác dụng miêu tả cả đơn vị ngôn ngữ và làm phong phú khả năng diễn đạt Nó là một từ loại tích cực về mặt cấu tạo từ.” [1;103]
Đào Thản cho rằng “Tính từ là những thực từ gọi tên tính chất, đặc trưng của sự vật, thực thể hoặc của vận động Những đặc trưng đó có thể là những thuộc tính về màu sắc như : xanh, đỏ, tím, vàng xuộm, trắng tinh…; những đặc tính về mùi vị, hình dáng, kích thước, phẩm chất như: chua, ngọt, chat, thơm, vuông…” [20;47]
Lê Cận và Phan Thiều cho rằng: “Tính từ là một trong ba lớp từ cơ bản (danh từ, động từ, tính từ), tính từ biểu thị ý nghĩa phạm trù đặc trưng (tính chất, thuộc tính, đặc trưng, đặc điểm…) của sự vật, có số lượng tương đối lớn,
có quan hệ với nhiều thành tố khác trong cụm từ, với những thành phần khác trong câu, đảm nhiệm những chức năng quan trọng trong câu” [4;145]
Quan niệm về tính từ của các tác giả trên tuy có sự khác nhau nhưng đều có những nét tương đồng Cụ thể tính từ được hiểu như sau:
- Tính từ là một trong ba lớp từ cơ bản (danh từ, động từ, tính từ) và mang những đặc điểm hay tính chất của sự vật
- Tính từ là một từ loại cần thiết có tác dụng miêu tả cả đơn vị ngôn ngữ
và làm phong phú khả năng diễn đạt
- Tính từ có quan hệ với nhiều thành tố khác trong cụm từ, câu và đảm nhiệm những chức năng quan trọng trong câu
Trang 11Khả năng kết hợp với các tính chất tiêu biểu của tính từ là có những phụ từ chỉ mức độ “hơi, khá, rất, cực kì” đi kèm, nhất là với phụ từ “rất” từ hứng duy nhất và cho nó một giá trị tuyệt đối trong sự phân loại
Ví dụ:
- Cái áo này hơi xấu
- Cô ấy vẫn còn đang rất trẻ
Những thành tố phụ đứng sau kèm đằng sau tính từ có thể là thực từ hoặc hư từ, có thể thuộc những từ loại khác nhau Danh từ hoặc tổ hợp quan
hệ từ + danh từ làm bổ ngữ cho tính từ
Ví dụ:
- xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người
- giỏi lắm; vui quá
- xanh biêng biếc
* Về chức vụ ngữ pháp
Ở tiếng Việt (cũng như các ngôn ngữ khác), chức năng phổ biến, thường trực của tính từ là làm định ngữ
Ví dụ:
Quyển sách mới có nhiều tranh đẹp
- Tính từ tiếng Việt có thể làm vị ngữ trực tiếp
Trang 12(Tục ngữ)
Sạch sẽ là mẹ của sức khỏe
- Làm thành phần phụ của câu
Ví dụ: Bình tĩnh, chị nhìn khắp mấy gian nhà
1.3.3 Các tiểu loại của tính từ
Căn cứ vào nghĩa và khả năng kết hợp của tính từ có thể chia tính từ thành những tiểu loại sau:
chúng không kết hợp với phụ từ chỉ ý nghĩa mức độ như rất, hơi, quá, lắm…
và cũng không đòi hỏi thực từ đi kèm để bổ nghĩa
Trong lớp tính từ này có những nhóm sau:
- Chỉ đặc trưng tuyệt đối: (nội dung ý nghĩa của chúng không thể hoặc không cần đưa vào thể so sánh) Số lượng từ trong nhóm này rất hạn chế, chúng thường dùng kèm với danh từ hoặc với động từ để bổ nghĩa cho danh
từ, động từ Đó là từ công, tư, riêng, chính, quốc doanh, công ích…
Ví dụ: việc công, đời tư, quyền lợi chung
- Chỉ đặc trưng tuyệt đối không làm thành cặp đối lập Các từ trong
nhóm này thường là từ láy hoặc từ ghép: đỏ lòm, trắng phau, đen sì…Nhóm
từ này không kết hợp với phụ từ chỉ mức độ
Trang 13- Chỉ đặc trưng mô phỏng Các từ trong nhóm này có cấu tạo ngữ âm theo lối mô phỏng trực tiếp đặc trưng âm thanh (tượng thanh), hoặc theo lối biểu trưng âm – nghĩa, mô phỏng gián tiếp đặc trưng hình thể sự vật, hành động hoặc tính chất (tượng hình) : ào ào, đùng đùng, nhoang nhoáng…
Những tính từ này thường kết hợp với các phụ từ chỉ mức độ: rất, hơi, lắm, thật, vô cùng, tuyệt…
Tiểu loại này gồm những lớp từ:
- Những tính từ chỉ phẩm chất: tốt, đẹp, xấu, hèn, mạnh, dũng cảm…
- Những tính từ chỉ đặc trưng về lượng thộc nhiều phương diện: nhiều, ít,
rậm, thưa, cao, thấp, rộng, hẹp…
- Những tính từ chỉ đặc trưng cường độ: mạnh, yếu, nóng, sáng…
- Những tính từ chỉ đặc trưng hình thể: vuông, tròn, méo, lệch…
- Những tính từ chỉ đặc trưng âm thanh: ồn ào, lặng lẽ, lặng…
- Những tính từ chỉ đặc trưng mùi vị: đắng, cay, ngọt, bùi
- Những tính từ chỉ đặc trưng màu sắc: xanh, đỏ, vàng, nâu, …
Và tính từ chỉ màu sắc mang đầy đủ đặc điểm của tính từ
1.3.4 Tính từ chỉ màu sắc
Tính từ chỉ màu sắc là một trong những tiểu loại của tính từ tiếng Việt, nên các tiêu chí nhận diện tính từ chỉ màu sắc cũng tuân theo tiêu chí nhận diện tính từ tiếng Việt
Theo Đào Thản thì tính từ chỉ màu sắc trong tiếng Việt được phân chia thành các lớp sau:
Trang 14- Lớp từ cơ sở gồm chín màu: đen, trắng, đỏ, vàng, xanh, tím, nâu, hồng, xám Lớp tính từ này có đặc điểm:
+ Hình thức: Đa số là từ đơn tiết, lớp từ phổ biến và đưa vào sử dụng rộng rãi
+ Ý nghĩa: Có phạm vi biểu vật rộng rãi, được sử dụng cho một số lượng
đa dạng các hiện tượng
Chín từ này có khả năng tạo ra hàng loạt từ chỉ màu phái sinh biểu vật hẹp hơn Đây là đặc điểm quan trọng nhất nhằm miêu tả sự vật hiện tượng một cách chính xác, trọn vẹn
Ví dụ: Từ “trắng” có khả năng phát sinh ra các từ mới mang ý nghĩa hẹp hơn như: trắng tinh, trắng xốp, trắng nõn… Tạo nên sự độc đáo về ý nghĩa trong vốn tính từ chỉ màu sắc của tiếng Việt
- Lớp từ cụ thể: Là lớp từ mượn trực tiếp từ tên gọi của đối tượng, sự vật và thuộc tính sự vật trong thế giới khách qua, chẳng hạn:
+ Nhóm tính từ chỉ các loại màu vải vóc, len sợi như: vàng tơ, xanh công nhân, tím nhung…
+ Nhóm tính từ gọi tên màu của các kim loại, khoáng sản: tím than, xanh thép, trắng bạc…
+ Nhóm tính từ chỉ màu sắc tự nhiên: xanh da trời, xanh nước biển, nâu đất… + Nhóm tính từ chỉ màu lấy tên gọi từ màu động vật: màu da bò, xanh trứng sáo, xanh cổ vịt…
+ Nhóm tính từ gọi tên màu từ một số loại thức ăn, thức uống: màu bánh mật, màu kem trắng sữa
+ Nhóm tính từ chỉ tên gọi màu các loại thực vật: đỏ bồ quân, vàng chanh, màu cốm…
Ngoài ra, lớp tính từ màu sắc trừu tượng và lớp tính từ chỉ màu sắc cụ thể còn có những loại từ khác hình thành bằng từ ghép chỉ màu sắc Nó được
Trang 15phát sinh từ chín màu cơ bản Ví dụ: đen: đen nhánh, đen xì, đen huyền…; đỏ:
đỏ au, đỏ ối, đỏ bừng…; tím: tím ngắt, tím biếc, tím phớt…
Như vậy, các tính từ chỉ màu sắc trước hết mang ý nghĩa định danh, giúp con người phân biệt sự khác nhau giữa các sắc màu Bên cạnh đó bản thân các tính từ chỉ màu, nhất là các màu chỉ màu cụ thể luôn kèm những nét nghĩa nhất định
Tính từ chỉ màu sắc rất đa dạng và phong phú Đặc biệt khi đi vào trong văn thơ, tùy theo dụng ý của người viết và ngữ cảnh nó trở nên phong phú nhưng cũng khá phức tạp Mỗi một ngôn ngữ, đều có một hệ thống từ chỉ màu sắc – màu sắc cơ sở như: xanh, đỏ, tím, vàng…Màu sắc là những từ chỉ tính chất, đặc trưng của các sự vật, hiên tượng Ngoài những màu sắc trên, trong quá trình sử dụng người ta đã có thêm cách gọi tên khác về màu sắc như: màu đậm, màu nhạt, màu cánh sen… Căn cứ vào các tiêu chí để nhận dạng từ tiếng Việt những từ trên không phải là các tính từ chỉ màu sắc như chúng ta vẫn thường quan niệm Vì những màu như màu đậm, màu nhạt… là cụm từ tự do
Như vậy, những màu như màu đậm, màu nhạt không phải là tính từ chỉ màu sắc nên trong quá trình tìm hiểu về tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa, chúng tôi không xét những trường hợp này
13.5 Hiện tượng chuyển loại của từ
Hiện tượng chuyển loại của từ là hiện tượng một từ khi được dùng với
ý nghĩa và đặc điểm ngữ pháp của từ loại này, khi thì được dùng với ý nghĩa
và đặc điểm ngữ pháp của từ loại khác [2;123]
Theo Nguyễn Văn Tu cho rằng “Chuyển di từ loại là hiện tượng tích cực và phổ biến, xảy ra hầu hết các ngôn ngữ đặc biệt là ở loại hình ngôn ngữ đơn lập” [ 22; 86]
Một số tính từ có thể chuyển loại thành danh từ Khi nào thành danh từ
những tính từ đó có thể dùng với từ chỉ loại cái như: cái đẹp, cái xấu, cái
hay…
Trang 16Những tính từ danh từ hóa mang những đặc điểm của danh từ như khả năng kết hợp với những từ chỉ loại, với những từ dùng làm định ngữ
Ví dụ: Anh quay lại, đôi mắt, nụ cười bộc lộ những vui sướng và cảm
động bất ngờ
Những tính từ thường chuyển thành danh từ với nghĩa trừu tượng chỉ
những tính chất, tinh thần và vật chất như: cái đẹp, cái xấu…những tâm trạng như: vui sướng, đắng cay…những trạng thái như: tự do, độc lập…
Ví dụ: Trong thơ Trần Đăng Khoa, chuyển di từ loại là một trong những hình thức tạo từ mới hiệu quả Đó là tính từ chỉ màu sắc được dùng như một danh từ chỉ người, sự vật và đơn vị tổ chức
Vàng ơi là Vàng ơi
(Sao không về Vàng ơi?)
Từ vàng là tính từ chỉ màu sắc nhưng trong câu thơ trên, tính từ vàng
được chuyển thành danh từ để đặt, gọi tên một chú chó – một người bạn gần
gũi, thân thiết với tuổi thơ cả tác giả - con chó Vàng
1.4 Tính từ và lý thuyết về tính từ trong chương trình tiếng Việt Tiểu học
Ở trong chương trình tiếng Việt Tiểu học, các em đã được làm quen với khái niệm tính từ Tính từ là những từ miêu tả đặc điểm hoặc tính chất cả
sự vật, hoạt động, trạng thái…
Ví dụ:
Vàng cơn nắng, trắng cơn mưa
Con sông chảy có rặng dừa nghiêng soi
(Truyện cổ nước mình - Lâm Thị Mỹ Dạ) Ngoài việc hình thành khái niệm đơn giản về tính từ, sách giáo khoa còn cung cấp cho học sinh nhận biết được các đặc điểm, mức độ của tính từ
Phẩm chất, màu sắc, hình dáng, kích thước và các đặc điểm khác của người,
sự vật hiện tượng…được tính từ biểu thị đều có những mức độ khác nhau
Có một số cách thể hiện mức độ của đặc điểm, tính chất như sau:
Trang 17- Tính từ có thể tạo ra từ ghép hoặc từ láy với các tính từ đã cho
Ví dụ: Xanh tạo ra xanh biếc, xanh lè, xanh thắm, xanh um…
Hàng chuối lên xanh mướt
(Bên sông Kinh Thầy – Trần Đăng Khoa)
Hay:
Cây bàng lá nõn xanh ngời
(Cây bàng – Trần Đăng Khoa)
Hay:
Thông hào luồn dưới bón cây xanh rờn
(Gửi theo các chú bộ đội – Trần Đăng Khoa)
- Thêm các từ rất, quá, lắm…vào trước hoặc sau tính từ
Ví dụ: Trăng nở vàng như xôi
(Trông trăng - Trần Đăng Khoa) + So sánh hơn kém
Ví dụ:
Hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xanh
(Truyện Kiều – Nguyễn Du)
+ So sánh tuyệt đối
Ví dụ: Cánh đại bàng rất khỏe, có bộ xương cánh tròn dài như ống sáo,
và trong như thủy tinh
Trang 181.5 Màu sắc nói chung và tính từ chỉ màu sắc trong văn thơ
1.5.1.Màu sắc nói chung
1.5.1.2.Màu sắc ngoài ngôn ngữ
Trong đời sống, màu sắc có mặt ở khắp mọi nơi, mọi chỗ, nhìn ra thiên nhiên, biển trời bát ngát một màu xanh, mây trắng bồng bềnh, mái ngói đỏ tươi, tường vôi trắng, hoa lá muôn màu…và xung quanh ta những vật dụng thường ngày, sách báo tranh ảnh, quần áo cái nào cũng được tô điểm bằng những màu sắc, tạo nên sự đa dạng phong phú và vui mắt Nghĩa là tất cả cảnh vật xung quanh ta đều có màu sắc Màu sắc cảnh vật rất phong phú làm cho con người và cuộc sống thêm tươi đẹp yêu đời [20;36]
Thông thường mắt con người nhận biết được vô vàn màu sắc và màu sắc luôn biến đổi trong các tương quan bất tận của chúng dưới tác động của các nguồn ánh sáng khác nhau Nguồn ánh sáng chủ yếu vẫn là ánh sáng mặt trời, ánh sáng mặt trời lại liên tục thay đổi: ánh sáng buổi bình minh khác với buổi trưa, chiều, tối Nguồn ánh sáng không chỉ tác động vào đối tượng có màu
mà còn tác động vào bộ máy quang học của con người là do đôi mắt Bản thân đôi mắt với sự khép mở dưới sự tác động của nguồn sáng, cũng thay đổi liên tục và tinh vi, như vậy đó là một hiện tượng hội tụ đủ ba yếu tố: ánh sáng, một vật thể và một hệ thống tiếp thụ như mắt
Trong sáng tạo nghệ thuật không thể thiếu được màu sắc, vì màu sắc là một trong những ngôn ngữ tạo hình rất quan trọng Đối với hội họa, các nhà
Trang 19nghiên cứu đã đưa ra khái niệm “vòng tròn màu” và “dải phổ màu” để nói đến cái gốc của việc nghiên cứu màu
Bảng màu
Sự nhận biết màu sắc là do thị giác đem lại, nhưng nó không bao giờ tách khỏi các hiệu qủa tâm lý, xúc cảm do màu gây ra Màu sắc có tác động tới trạng thái tình cảm của con người, gam màu tươi làm người ta vui vẻ phán chấn, gam màu trầm hợp với sự suy tư, gam màu tím lạnh gợi lên nỗi nhớ nhung man mác… Màu sắc đã có tác động một cách phức tạp tinh vi và rất nhanh nhạy vào tâm lý con người và gây ra xúc cảm, liên tưởng, xây dựng tình cảm con người mạnh mẽ Tuy nhiên, do điều kiện lịch sử của mỗi dân tộc, khí hậu, địa lý, tôn giáo, tư tưởng, các phong tục văn hoá mà mỗi dân tộc
cố kết dần cho mình một tâm lý màu riêng với những nét độc đáo riêng
1.5.1.3 Màu sắc trong ngôn ngữ
* Theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê chủ biên), màu sắc được định nghĩa:
- Khi đóng vai trò là danh từ – có hai nghĩa cơ bản sau:
+ Màu sắc: các từ không kể đen và trắng (nói khái quát)
Ví dụ: bức tranh thiên nhiên ngập tràn sắc màu
+ Màu sắc ẩn hiện: màu sắc gây cảm giác khi xa khi gần, khi mờ khi tỏ do sử dụng có cung bậc các mảng màu sáng tối xen kẽ nhau
đỏ
Đỏ cam
Huyết dụ tím
lam Vang cam
Xanh lá mạ
xanh lá cây
Chàm
Xanh lá cây thẫm lam
cam
Trang 20- “Bản thân từ màu” cũng gợi lên sắc thái biểu thị “sắc”: thuộc tính vật lý thể hiện ra nhờ tác động của ánh sáng và nhận biết được mắt cùng với hình dáng giúp phân biệt vật này với vật khác Ví dụ: màu xanh nước biển; chất dùng để
tô thành các màu khi vẽ Ví dụ: pha màu, hợp màu; màu không kể đen và trắng Ví dụ: ảnh màu, phông màu; toàn bộ nói chung những biểu hiện bên ngoài tạo nên cảm giác có một tính chất nào đó Ví dụ: bầu không khí đượm màu huyền bí
* Đi vào ngôn ngữ, màu sắc mang nghĩa bản thể, nghĩa dụng học, nói cách khác nó thuộc cấu trúc biểu niệm Các nét nghĩa này không đồng nhất
Ví dụ Cấu trúc biểu niệm của từ “hồng” có nét nghĩa phạm trù: thuộc tính vật lý, có cảm giác, về thị giác - màu sắc Đây là nét nghĩa miêu tả, phản ánh thuộc tính bản thể của màu “hồng” Nếu đem so sánh “hồng” và “hồng hào” có một số đặc điểm khác biệt, “hồng hào” chỉ màu da con người và đây cũng chính là nét nghĩa miêu tả, ngoài ra nó còn mang nghĩa biểu thị trạng thái khoẻ mạnh do con người cấp cho nó và đây là nét nghĩa dụng học
Các sự vật, hiện tượng, tính chất vốn tồn tại như một thực thể khách quan Màu sắc cũng không nằm ngoài quy luật đó Khi đi vào ngôn ngữ nó mang ý nghĩa biểu vật, tức là ngôn ngữ hoá vật chất, hiện tượng khách quan
đã là sự kiện dụng học Con người có khả nhận biết được những màu trong quang phổ: đỏ, xanh, tím, vàng, lam…là các màu sắc khách quan Việc lựa chọn thuộc tính nào để biến chúng thành nét nghĩa trong ý biểu niệm cũng là sản phẩm hoạt động của con người với tên gọi khác nhau là do con người cấp cho chúng Nghĩa là tên gọi màu sắc mang tính võ đoán Bị chi phối bởi ý thức và quan niệm chủ quan của con người
Ví dụ: Lá cây mang màu xanh nhưng chúng ta không lí giải được vì sao lại gọi như vậy Tính võ đoán nằm ở đó
Trang 21Nhóm từ chỉ màu sắc không đơn thuần chỉ có đỏ, cam, vàng, lục lam, chàm, tím, mà ngay trong bảy màu cơ bản đó cũng tồn tại những sắc độ khác nhau
Ví dụ: Xanh khác xanh lè, xanh rì, xanh ngắt, xanh non… Mỗi cấp độ màu xanh gắn với những liên tưởng, gán ghép cố hữu cho những sự vật, hiện tượng nhất định mà ta gọi là nghĩa liên hội
1.5.2 Mối quan hệ giữa tính từ chỉ màu sắc và hình ảnh sự vật trong thơ
Màu sắc trong thơ là một chất liệu hầu như không thể thiếu được Màu sắc thể hiện bức tranh thiên nhiên đất nước, con người mang đầy màu sắc nghệ thuật Lớp tính từ chỉ màu sắc bao phủ lên cảnh vật làm cho cảnh vật trở nên đẹp hơn và thể hịên được ý đồ nghệ thụât của người nghệ sĩ Màu sắc góp phần tô điểm cho cảnh vật và cảnh vật chính là cái để màu sắc thể hiện ra bên ngoài Chẳng hạn bài thơ “Trông trăng” của Trần Đăng Khoa:
“Áng chừng ông thích lắm
Trăng nở vàng như xôi”
Qua lớp từ này mà hình ảnh cuộc sống được khúc xạ và phản chiếu lại
Tiểu kết
Chúng tôi tìm hiểu về tác giả, sự nghiệp sáng tác của nhà thơ Trần Đăng Khoa Bên cạnh đó, chúng tôi khát quát, tổng hợp về tính từ như khái niệm tính từ nói chung và tính từ chỉ màu sắc nói riêng, cùng với những đặc điểm của chúng Trong thơ văn thì những tính từ chỉ màu sắc không chỉ để phân biệt những sự vật khác nhau mà còn giúp các thi nhân bộc lộ tình cảm, nỗi niềm của mình đối với cảnh sắc xung quanh Những vấn đề chung về lí luận trên là những cơ sở khoa học, làm tiền đề để chúng tôi nghiên cứu chương 2 và chương 3
Trang 22Chương 2 KHẢO SÁT HỆ THỐNG TÍNH TỪ CHỈ MÀU SẮC
TRONG THƠ TRẦN ĐĂNG KHOA
2.1 Cơ sở khảo sát
Chúng tôi dựa vào đặc điểm của tính từ nói chung và tính từ chỉ màu sắc nói riêng làm cơ sở để khảo sát, thống kê hệ thống tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa
2.2 Mục đích khảo sát
Chúng tôi khảo sát số lần xuất hiện của tính từ chỉ màu sắc trong tập
thơ “Góc sân và khoảng trời”, “Trường ca đánh thần hạn”, “Trường ca khúc
hát người anh hùng” của nhà thơ Trần Đăng Khoa nhằm tìm hiểu giá trị của
việc sử dụng của các tính từ chỉ màu sắc đó
Qua kết quả khảo sát, chúng tôi lấy cơ sở để xây dựng một số bài tập
bổ trợ giúp học sinh Tiểu học rèn luyện kĩ năng nhận diện tính từ chỉ màu sắc
2.3 Khảo sát tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa
2.3.1 Bảng thống kê
Qua việc khảo sát thơ Trần Đăng Khoa, số lần xuất hiện tính từ chỉ màu
sắc trong tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và hai trường ca “Trường ca đánh
thần hạn” và “Trường ca khúc hát người anh hùng” của nhà thơ Trần Đăng
Khoa, chúng tôi thu được kết quả sau:
Bảng 1: Tập thơ “ Góc sân và khoảng trời”
Trang 23Ảnh Bác 1 0.3% 17 Bên sông Kinh Thầy 3 1 % 18 Con chim hay hót 0 0 % 19 Lọc cà lọc cọc 3 1 % 20 Mùa xuân mùa hè 0 1 % 22
Gà con liếp nhiếp 2 0.6 % 23 Trăng sáng sân nhà em 2 0.6 % 25 Vườn cải 2 0.6 % 26 Đánh thức trầu 1 0.3 % 27
Nghe thầy đọc thơ 2 0.6 % 42 A! Em biết thằng giặc Mĩ rồi 3 1 % 43 Cây bang 1 0.3 % 45
Khi mẹ vắng nhà 2 0.6 % 49 Nửa đêm tỉnh giấc 2 0.6 % 50 Trăng tròn 1 0.3 % 51 Buổi sáng nhà em 2 0.6 % 52
Trang 24Hà Nội có Bác Hồ 2 0.6 % 53 Sao không về Vàng ơi? 5 2.3 % 57
Kẹo hồng kẹo xanh 7 3.25 % 64 Tiếng chim chích chòe 1 0.3 % 65 Hoa lựu 4 1.86 % 66 Tiếng trống làng 2 0.6 % 67 Thôn xóm vào mùa 5 2.3 % 69 Đám ma bác Giun 3 1 % 71 Tiếng võng kêu 1 0.3 % 72
Trăng ơi…từ đâu đến? 3 1 % 76
Em lớn lên rồi 0 0 % 78 Cánh đồng làng Điền Trì 1 0.3 % 79 Đêm Côn Sơn 1 0.3 % 81 Thả diều 4 1.86 % 82
Em dâng cô một vòng hoa 1 0.3 % 84 Hương nhãn 4 1.86 % 86 Trận địa bỏ không 1 0.3 % 88 Gửi theo các chú bộ đội 2 0.6 % 89
Kể cho bé nghe 1 0.3 % 91
Đánh tam cúc 4 1.86 % 94 Họp báo “ Chim họa mi” 1 0.3 % 97 Gửi bạn Chi Lê 2 0.6 % 99 Xem ảnh bạn thiếu nhi Mỹ đi 2 0.6 % 101
Trang 25biểu tình
Em kể chuyện này 4 1.86 % 104
Hạt gạo làng ta 2 0.6 % 109 Con cò trắng muốt 9 4.2 % 112
Mắt bão 1 0.3 % 116 Mang biển về quê 1 0.3 % 117 Cầu Cầm 6 2.8 % 118
Em về Hồng Gai 1 0.3 % 120 Lời của than 7 3.25 % 122
Đi tàu hỏa 2 0.6 % 125
Bà và cháu 1 0.3 % 130 Kính tặng chú Tố Hữu 2 0.6 % 134 Đất trời sáng lắm hôm nay 2 0.6 % 136
Em gặp Bác Hồ 1 0.3 % 137 Nhận thư anh 1 0.3 % 140 Hoa bưởi 1 0.3 % 143
Từ khi anh đi chiến trường xa 1 0.3 % 144 Điều anh quên không kể 2 0.6 % 145 Tiếng nói 0 0 % 148
Hạ Long 11 5.12 % 149 Ngôi đền Bãi Cháy 2 0.6 % 150 Nhớ và nghĩ 3 1 % 153 Cháu làm bà còng 0 0 % 154
Trang 26Ngắm hoa 1 0.3 % 156 Tháng ba 1 0.3 % 158 Hương đồng 0 0 % 159 Nói với con gà mái 3 1 % 161 Lời một bạn gái mười hai tuổi 0 0 % 164
Đồng chiều 0 0 % 167
Ghi ở bờ ao 1 0.3 % 170 Cơn giông 1 0.3 % 171
Ao nhà mùa hạn 0 0 % 173
Ở nhà chú Xuân Diệu 4 1.86 % 174 Tiếng đàn bầu và đêm trăng 0 0 % 176
Cô thị Màu 2 0.6 % 195
Sương muối 2 0.6 % 197 Đường sang nhà bạn 0 0% 198 Cây xoan 1 0.3% 199 Bãi cháy 4 1.86% 200
Trang 27Hoa duối 1 0.3% 202 Cây bàng mùa đông 1 0.3% 104 Ghi chép về ngọn đèn dầu 1 0.3% 206
Trang 28Khúc nước lửa 22 47.8 % 281 – 314 Khúc vô cùng 3 6.5 % 315 – 317
Tổng 46 100 %
Bảng 4:
Bảng tổng hợp
TT Tập thơ Số lần xuất hiện Tỉ lệ
1 Góc sân và khoảng trời 215 72,9 %
2.3.2 Nhận xét tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa
Qua việc khảo sát tập thơ “Góc sân và khoảng trời” và hai trường ca:
“Trường ca đánh thần hạn”, “Trường ca khúc hát người anh hùng”, chúng tôi
đã thống kê được 295 lượt Trần Đăng Khoa dùng tính từ chỉ màu sắc với số
lượng 15 màu khác nhau: xanh, đỏ, vàng, trắng, hồng, tím, đen, bạc, nâu,
xám, hung, vằn, đồng, da cam, tía Trần Đăng Khoa đã sử dụng tự nhiên các
màu sắc tươi sáng, tạo nên một vườn thơ đẹp và lung linh sắc màu
Từ các bảng số liệu trên, chúng tôi nhận thấy tính từ chỉ màu sắc trong
tập “Góc sân và khoảng trời” chiếm một số lượng lớn, xuất hiện tới 215 lần chiếm 72.9% “Trường ca đánh thần hạn” tính từ chỉ màu sắc xuất hiện 34 lần chiếm tỉ lệ 11,5 %, “Trường ca khúc hát người anh hùng” xuất hiện 46 lần
chiếm 15.6 %
2.3.2.1 Nhận xét tập thơ “ Góc sân và khoảng trời”
Theo kết quả khảo sát, tập thơ “Góc sân và khoảng trời” tính từ chỉ
màu sắc có mặt hầu như trong tất cả các bài thơ Và sự xuất hiện của các tính
Trang 29từ chỉ màu sắc cũng không giống nhau, có bài xuất hiện tới 11 lần chiếm tỉ lệ 5,12 % như bài “Hạ Long” ; có bài xuất hiện 9 lần chiếm tỉ lệ 4,2 % như bài:
“ Con cò trắng muốt”; có bài xuất hiện 7 lần chiếm tỉ lệ 3,25 % như bài :
“Lời của than”, “Thôn xóm vào mùa”, “ Cây đa”; có bài xuất hiện 5 lần chiếm
tỉ lệ 2,3 % như bài “Câu cá”, “Thôn xóm vào mùa”, “Sao không về Vàng ơi?”, “Con bướm vàng” Và ở một số bài thơ, tác giả không sử dụng tính từ chỉ màu sắc
Ví dụ: Trong bài thơ “Hạ Long”, nhà thơ Trần Đăng Khoa đã sử dụng rất nhiều tính từ chỉ màu sắc như: đen, xanh, tía, nâu, trắng phau, hồng, vàng xuộm, vàng hoe, tím tươi để dệt nên bức tranh tuyệt đẹp về vịnh Hạ Long:
Đảo xanh, đảo tía, đảo nâu Mênh mông sóng sóng trắng phau bạt ngàn
………
Biển đen màu mực ai mài Thoảng bay vệt nắng ban mai phớt hồng Gần xa vàng xuộm màu đồng
Vàng hoe lốm đốm cải ngồng lên hoa
Tím tươi lấp lánh hoa cà
Bất thần rừng rực, lòa lòa lửa gang Cầu vồng muôn sắc loang loang Vượt trên ngọn sóng cao ngang mặt người
(Hạ Long) Với một loạt tính từ chỉ màu sắc, tác giả đã đã miêu tả được màu nước biển vịnh Hạ Long, những cơn sóng “trắng phau” đang đùa giỡn nhảy múa Bầu trời buổi sáng thật đẹp, với những vệt “hồng” của nắng sớm mai Xa xa thì cải ngồng đang đơm hoa “vàng hoe”, màu hoa cà “tím tươi” lấp lánh Vịnh
Hạ Long vừa mang vẻ đẹp của tự nhiên, vừa mang vẻ đẹp của bàn tay con người Ở nơi ấy, người dân đã tạo nên những của cải thật giản đơn như hoa
Trang 30cà, hoa cải Tất cả màu sắc ấy đã tạo nên một bức tranh vịnh Hạ Long đầy đủ
sắc màu
Hay trong bài “Con cò trắng muốt”, nhà thơ sử dụng 9 lần tính từ chỉ
màu sắc chiếm 4,2 % so với toàn tập thơ đã làm cho cánh cò mang vẻ đẹp
tinh khôi
Khi cơn mưa đen râm đằng Đông
Khi cơn mưa đen râm đằng Tây Khi cơn mưa đen râm đằng Nam, đằng Bắc
Bằng tính từ “đen rầm”, tác giả đã vẽ ra cảnh tượng thiên nhiên, âm u
bao trùm một màu đen của mây trời Nhưng điểm vào trong mưa bụi của đất
trời, của những cơn giông tố ập xuống thì hình ảnh “cánh cò trắng muốt” hiện
ra
Em vẫn thấy Con cò
Trắng muốt
Bay ra đón cơn mưa
Đó là sắc trắng không hề có chút gì pha tạp như tấm lòng của cò Cò đã
đón cơn mưa để cho lúa, khoai, ngô…hưởng hạnh phúc thỏa thê, còn riêng
mình cò co ro chịu rét Trần Đăng Khoa miêu tả được điều mình tưởng tưởng
và mình biết Đến khi cơn mưa khác kéo đến, cánh cò lại tiếp tục bay ra để
dẫn đường cho cơn mưa rồi để mà hi sinh thầm lặng Trần Đăng Khoa đã sử
dụng màu trắng tinh khôi của cánh cò để xóa tan đi cơn mưa từ bốn phía
Nhà thơ đã sử dụng độ tương phản của hai sắc màu đen và trắng để đối lập cái
nhỏ bé của cánh cò với cái rộng lớn của đất trời
Trong bài “Con cò trắng muốt”, tác giả sử dụng đến 9 lần tính từ chỉ
màu sắc Qua bài “ Lời của than” Trần Đăng Khoa đã hạ xuống bằng việc sử
dụng 7 lần tính từ chỉ màu sắc nhưng vẫn tạo được âm hưởng nhịp nhàng của
đôi bạn là người và vật Nhắc tới than là người ta nghĩ ngay tới màu đen:
Trang 31Than ơi Bạn từ đâu ra
Mà bạn đen thế
( Lời của than) Nhà thơ sử dụng cách xưng hô tôi – bạn để gọi than Than như người bạn đồng hành, thân thiết với cậu bé Khoa Than khoác trên mình một màu đen nhưng nó lại mang lại giá trị kinh tế lớn cho đất nước ta
Sự xuất hiện tính từ chỉ màu sắc trong thơ Trần Đăng Khoa không giống nhau Trần Đăng Khoa miêu tả cảnh vật bằng nhiều tính từ chỉ màu sắc khác nhau Trong bài “Con bướm vàng” tính từ chỉ màu sắc xuất hiện tới 5 lần, chỉ có một màu vàng nhưng đã gây ấn tượng đối với bạn đọc và nhất là đối với các em nhỏ Với khả năng quan sát tinh nhạy của mình, Trần Đăng Khoa đã khám phá cảnh sắc thiên nhiên gần gũi, gắn liền với chính tuổi thơ của mình Con bướm từ xa bay tới, lớn dần, lượn vòng bay xa Cái chấm vàng lúc nhỏ lúc to, lúc xa lúc gần dập dờn trước mắt chú bé:
Con bướm vàng Con bướm vàng
Bay nhẹ nhàng Trên bờ cỏ
Em thích quá Liền đuổi theo
Con bướm vàng Con bướm vàng
(Con bướm vàng)
Với 5 lần xuất hiện tính từ chỉ màu sắc , cả bài thơ là gam màu vàng rực rỡ của chú bướm nhỏ Trần Đăng Khoa đã thực sự gây được thích thú với trẻ thơ Ta có thể hình dung được hình ảnh những cô, cậu bé đang đùa nghịch đuổi bắt bướm trên bãi cỏ Chú bướm khoác chiếc áo vàng rực rỡ đã thu hút
Trang 32sự chú ý của em Những sự việc tưởng chừng như đơn giản ấy đã được thần đồng thổi vào trang thơ như có hồn
Bài “Sao không về Vàng ơi ?” là tình cảm của chú bé Khoa dành cho con chó Vàng Nhà thơ nhí dã dành tình cảm đặc biệt cho chú chó bằng việc
sử dụng tính từ chỉ màu sắc để làm nổi bật con vật mà anh yêu thương Thần đồng thơ đã dùng gam màu vàng để miêu tả màu lông của nó
Cái đuôi vàng ngoáy tít Cái mũi đen khịt khịt
(Sao không về Vàng ơi ?) Con vật cũng có tâm trạng như con người Nó cũng biết buồn, vui Nếu Trần Đăng Khoa chỉ sử dụng tính từ “vàng” để miêu tả màu lông của chú chó thì bài thơ không có gì đặc biệt Nhưng nhà thơ đã dùng màu sắc của sự vật để gọi tên con vật:
Cả tuổi thơ gắn bó với nông thôn, với đồng ruộng, Trần Đăng Khoa đã đưa vào thơ những hình ảnh hết sức quen thuộc của làng quê Việt Nam Đến với thơ anh, ta được sống với một bầu không khí rất riêng – không khí của làng quê vùng Bắc Bộ Trần Đăng Khoa gắn bó trước hết với những cảnh vật
Trang 33thân quen gần gũi hàng ngày của mình.Từ thuở bé thơ anh đã gắn bó mảnh sân ruộng vườn với bao nhiêu là cảnh vật Mỗi cảnh vật lại mang những sắc màu riêng tạo nên một bức tranh thiên nhiên tuyệt đẹp Bài thơ “ Thôn xóm vào mùa” là bức tranh rộn ràng của ngày mùa Tác giả đã sử dụng 5 lần tính
từ chỉ màu sắc để miêu tả bức tranh đó
Hạt mẩy uốn cong bông Chim ngói bay đầy đồng Đường thôn tiếng cười nở
Vàng tươi hoa cải ngồng
(Thôn xóm vào mùa) Bằng việc sử dụng tính từ “vàng tươi”, tác giả gợi cho người đọc hình dung ra một vườn cải nở vàng, đang khoe sắc Với thủ pháp nghệ thuật đảo ngữ, Trần Đăng Khoa đem tính từ “vàng tươi” lên đầu câu để nhấn mạnh vẻ đẹp mượt mà của hoa cải đang nở rộ Nếu cải ngồng khoác trên mình màu
“vàng tươi” thì tác giả ưu đãi cho “thóc mặc áo vàng óng”:
Sân kho máy tuốt lúa
Chị chủ nhiệm giũ rơm Anh dân quân đạp lúa Thóc nở bung như sao
Nhuộm vàng cả trời cao
(Thôn xóm vào mùa)
Trang 34Thôn xóm vào mùa, ngập tràn trong niềm vui hân hoan với mùa bội thu, thóc gạo đầy nhà Trải qua cả một quá trình chăm bón dưới bàn tay của người nông dân, cây lúa xanh non bây giờ trở thành những bông lúa vàng óng Hạt gạo trắng, bông lúa vàng chính là thành phẩm cuối cùng của người nông dân Thành phẩm ấy đền đáp những ngày tháng cực nhọc “tay xới, tay cày” của các mẹ, các anh Trần Đăng Khoa đã sử dụng cùng một tính từ chỉ
màu sắc nhưng lại biểu thị chúng ở nhiều mức độ khác nhau: vàng, vàng tươi,
vàng óng, nhuộm vàng Bằng cách sử dụng như thế, anh đã tạo nên những hạt
lúa vàng, những sản phẩm cuối cùng của người nông dân cứ chất đầy, chất đầy
Trần Đăng Khoa đã sử dụng tính từ chỉ màu sắc có khi là 9 lần, 7 lần, 5 lần Anh đã có hàng loại bài thơ như: Con trâu đen lông mượt, hương nhãn, đánh tam cúc, em kể chuyện này, ở nhà chú Xuân Diêu… tính từ chỉ màu sắc chỉ xuất hiện 4 lần chiếm 1,86%
Ví dụ: Trong bài “Hương nhãn”, thần đồng thơ đã sử dụng 4 lần tính từ chỉ màu sắc để thể hiện tình cảm với anh trai mình Người anh trong thơ Trần Đăng Khoa tuy không có mặt ở nhà nhưng luôn có trong lòng nhà thơ Cứ hằng năm vào mùa nhãn chín, anh về thăm nhà Khoa lại tả rất chi tiết “Anh lên thoăn thoắt/ Tay với những chùm xa” Vậy mà, mùa nhãn năm nay anh không về, cảnh vật vẫn “dậy vàng sắc hoa” Dù giặc Mĩ có tàn khốc, ném hàng vạn tấn bom xuống mảnh đất bình yên của dân tộc ta Nhưng cây cối trong vườn vẫn đơm hoa, kết trái:
Cùi nhãn vừa vào sữa
Võ thẫm vàng sắc hoa
(Hương nhãn) Nhà thơ sử dụng tính từ “dậy vàng” để miêu tả sắc hoa, “thẩm vàng” để miêu tả độ chín của nhãn Cùng một màu vàng ấy, Khoa đã nhìn thấy sự tinh
tế trong sự kết hợp giữa hoa và quả Mỗi khi vào bàn học, Trần Đăng Khoa
Trang 35nghe tiếng trở mình thao thức của mẹ, biết mẹ đang nhớ anh và chính Khoa cũng đang nhớ tới anh mình Phải chăng những câu thơ này, Khoa như muốn mời gọi anh về
Vườn xanh biếc tiếng chim
Dơi chiều khua chạng vạng
Ai dắt ông trăng vàng
Thả chơi trong lùm nhãn
(Hương nhãn) Trần Đăng Khoa hướng tới người anh của mình với sự mong mỏi khôn nguôi, khung cảnh vươn nhà như đang mời gọi, tiếng chim hót vui nhộn, sắc
lá “xanh biếc”, sắc vàng của hoa nhãn và ánh trăng tỏa sáng xuống vườn nhãn Với ánh trăng “vàng” đang lấp ló chiếu xuống vườn nhãn, Trần Đăng Khoa mong mỏi anh về để được ngắm vẻ đẹp của tự nhiên đang hòa quyện trong khu vườn tuổi thơ của mình
Tuy nhiên, có nhiều bài thơ Trần Đăng Khoa chỉ sử dụng 2 lần tính
từ chỉ màu sắc nhưng cũng mang lại giá trị cho toàn bài Những sự vật hiện tượng được nhà thơ bao phủ lên nhiều sắc màu khác nhau, tạo nên một sự hoà phối màu sắc Nếu như người hoạ sỹ khéo léo trộn các màu để tạo nên bức tranh nhiều màu sắc thì Trần Đăng Khoa cũng có sự trao chuốt và phối hợp các tính từ chỉ màu sắc với nhau tạo nên một vườn thơ hay với hình ảnh thiên nhiên, con người và loài vật
Ví dụ: Trong bài “Khi mẹ vắng nhà”, nhà thơ chỉ sử dụng hai lần tính
từ chỉ màu sắc nhưng đã làm nổi bật được nỗi vất vả của mẹ Hình ảnh người
mẹ qua tấm lòng người con chí hiếu hiện lên thật giản dị mà cao cả Khoa biết rằng mình chưa ngoan dù mẹ đã khen bởi nhìn thấy:
Áo mẹ mưa bạc màu
Đầu mẹ nắng cháy tóc
Mẹ ngày đên khó nhọc
Trang 36Con chưa ngoan, chưa ngoan
(Khi mẹ vắng nhà) Người mẹ yêu quý của Khoa phải một mình lặn lội vất vả vì cuộc sống mưu sinh, Khoa rất thấu hiểu điều đó, hình ảnh chiếc áo mẹ bạc màu bởi gió sương mà thành, tóc mẹ đã bị ánh nắng làm cho biến đổi, từ đó mà cho thấy Trần Đăng Khoa đã thương mẹ của mình vô cùng Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng em cũng biết rằng mẹ đã phải cực nhọc, luôn phải đối mặt với thiên nhiên khắc nghiệt thất thường Nỗi vất vả nhọc nhằn đã hằn sâu trong da thịt của mẹ “Nắng mưa từ những ngày xưa/ Lặn trong đời mẹ bây giờ chưa tan” Cũng chính bởi thế mà hình ảnh người mẹ hiện lên trong thơ Trần Đăng Khoa với dáng tảo tần vất vả nhưng thật vĩ đại vô cùng Nhà thơ chỉ sử dụng tính từ
“ bạc” nhưng đã cho bạn đọc thấy nỗi vất vả, nắng gió của mẹ Mẹ một đời lam lũ để nuôi anh trưởng thành
Tình cảm của Trần Đăng Khoa lan rộng trong từng mạch ngầm của thơ anh Anh dành tình cảm cho người thầy kính yêu “ Nghe thầy đọc thơ” thể hiện tất cả tình cảm đó Trần Đăng Khoa chỉ sử dụng hai tính từ chỉ màu sắc “ đỏ” và “ xanh” để miêu tả tiếng thơ của thầy
Em nghe thầy đọc bao ngày
Tiếng thơ đỏ nắng, xanh cây quanh nhà
(Nghe thầy đọc thơ)
Là nhà thơ nhí Trần Đăng Khoa ghi lại giọng đọc của thầy thật khác thường những đứa trẻ cùng trang lứa Cả một thế giới của âm thanh, màu sắc, vừa quen, vừa lạ, vừa ảo vừa thực đã hiện lên: tiếng thơ làm “đỏ nắng, xanh cây” Màu đỏ của nắng được hình thành qua tiếng thơ trầm ấm của thầy tích
tụ lâu mà đọng lại thành Nó đâu còn là màu sắc tự nhiên đơn thuần nữa, tiếng thơ đã làm lay động lòng người, lay động cậu bé Trần Đăng Khoa và lan truyền sức ảnh hưởng tự nhiên và sắc nắng cũng không phải là ngoại lệ Tiếng thơ ấy đã chuyển thành sức sống làm màu nắng thêm sắc đỏ và cây thêm sắc
Trang 37xanh Trần Đăng Khoa thật tinh tế khi sử dụng tính từ “xanh” và “đỏ” để miêu
tả tiếng thơ Người ta thường dùng những tính từ: xanh, đỏ, tím, vàng để miêu
tả sự vật, những cái nhìn thấy được Nhưng Khoa đã dùng tính từ chỉ màu sắc
để làm nền cho “tiếng thơ”, màu sắc được miêu tả cho âm thanh Tiếng thơ đã tác động vào sự vật, làm cho sự vật xung quanh thay đổi Tiếng thơ ấy có sức lan tỏa mạnh mẽ không chỉ con người mà còn cả vạn vật
Khoa vui khi được chính anh bộ đội kể lại những chuyện trên chiến trường:
Những chiến công chấn động cả loài người Anh kể lại, giọng tâm tình nho nhỏ
Thỉnh thoảng cái vành tai lại đỏ
(Điều anh quên không kể) Vành tai “đỏ” lên theo những câu chuyện kể với niềm thương mến, cuộc sống chiến trường gian khổ đã được tái hiện qua lời kể của anh Sắc đỏ
ấy cũng làm ta liên tưởng đến màu của cách mạng của kháng chiến và của niềm tin chiến thắng Trần Đăng Khoa luôn hướng về hình tượng anh bộ đội
cụ Hồ với sự biết ơn sâu sắc Các anh phải chịu bao gian khổ hiểm nguy để giữ lại sắc màu cho quê hương: cánh rừng xanh, bầu trời trong xanh, mái trường ngói đỏ… Khoa đã dành những tình cảm đặc biệt của mình để viết về
họ với niềm kính phục Họ đã hi sinh cả tuổi thanh xuân ra đi theo tiếng gọi của non sông đất nước Họ chiến đấu gian khổ để đem lại những chiến công mới, đem mùa xuân và hoà bình về trên mỗi tấc đất quê hương
Trong bài “Buổi sáng nhà em”, Trần Đăng Khoa đã tả một buổi sáng thật huyên náo Cả một thế giới đồ vật bừng sức sống:
Ông trời nổi lửa đằng đông
Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay
(Buổi sáng nhà em)
Trang 38Bình minh ngày mới thu gọn lại ở hành động của hai nhân vật rất gần gũi: ông trời đang nổi lửa còn bà sân thì được quàng chiếc khăn màu hồng Thật dí dỏm với hình ảnh bà sân, nếu dùng tính từ “đen” hay một màu gì khác thì rất đúng với chiếc khăn vấn đầu của các bà ở thôn quê Nhà thơ đã sử dụng biện pháp nghệ thuật gieo vần nhưng tính từ “hồng” được sử dụng không phải
do áp lực gieo vần mà là cách nhìn nhận sự vật từ thực tế khách quan Do ánh nắng từ phương đông hắt vào sân, cái vần viền bên ngoài sân đã tạo thành một dải sáng màu hồng Bé Khoa nhìn bà sân một cách hồn nhiên và người lớn có thể mỉm cười vì cái lối làm dáng không hợp chuẩn với tuổi tác của bà sân Thông qua biện pháp gieo vần trong câu thơ trên mà từ chỉ màu sắc tạo nên
ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc Có thể nói, với tâm lý và cách nhìn nhận cuộc đời của tuổi thơ được thể hiện trong thơ Trần Đăng Khoa, nhiều lúc ngay cả người lớn cũng không thể có được Thế giới vật – người vô cùng
đa dạng và phong phú
Theo kết quả khảo sát, có những bài thơ Khoa chỉ sử dụng có một tính
từ chỉ màu sắc chiếm tỉ lệ 0,3 % nhưng lại mang lại cho bạn đọc những cảm giác lạ và độc đáo
Ví dụ: Trong bài “Họp báo Chim họa mi”, Trần Đăng Khoa chú ý miêu
tả mái tóc “nhà thơ Lộ
Đầu tiên “ nhà thơ” Lộ
Tóc đỏ như râu tôm
Chưa bước vào đến cửa
Đã đọc thơ ồm ồm
(Họp báo “chim họa mi”)
Trần Đăng Khoa miêu tả mái tóc “nhà thơ” Lộ “đỏ như râu tôm” Mái
tóc ấy không phải hằn lên màu đỏ thẫm, đỏ đục hay vằn đỏ Màu đỏ ấy không phải như phượng nở “đỏ rực” trời mùa hè mà đỏ nhàn nhạt như tôm chín Mái tóc của “nhà thơ” Lộ không phải được nhuộm đỏ mà mái tóc ấy bị cháy cùng
Trang 39thời gian Giữa cái nắng nóng của trưa hè miền Bắc, giữa sự sống và cái chết trong bom đạn của chiến tranh, các bạn nhỏ vừa phải đi “ hôi cá”, làm những việc đồng áng, vừa phải tới trường nên màu tóc cũng ánh lên như màu nắng
mà “đỏ như râu tôm” Chỉ bằng việc sử dụng một tính từ chỉ màu sắc, tác giả
đã lột tả cho người đọc hình dung được cái sự vất vả của những bạn nhỏ trong năm tháng chiến tranh
Hay trong bài thơ “ Bắt ông rừng nộp củi” và “Em gặp Bác Hồ”, Trần Đăng Khoa sử dụng một tính từ “bạc” để thể hiện tình cảm với Bác
Và xa kia, Bác Hồ
Tóc bạc bên ngọn điện
Bác ngồi chữa câu thơ
Và vạch đường quân tiến
Bác đi đêm không lạc Bác ơi, Bác
(Em gặp Bác Hồ)
Trang 40Chiếc áo Bác mặc được nhuộm sương rừng Pắc Bó, in lên màu sắc của
thiên nhiên, lâu dần mà ngấm vào màu áo của Bác “bàng bạc” mà không có
một hoá chất nhân tạo nào nhuộm được như vậy Với tính từ “bàng bạc” trong chiếc áo ka –ki sờn chỉ, Bác trông thật vĩ đại mà cũng thật giản dị
Qua việc khảo sát tập thơ, chúng tôi thấy rằng Trần Đăng Khoa sử dụng rất nhiều tính từ chỉ màu sắc vào từng bài thơ Tuy nhiên, cũng có những bài ông không sử dụng tính từ chỉ màu sắc nào như bài: Dặn em, Chọc ếch, Đồng chiều, Đêm thu…
2.3.2.2 Nhận xét trường ca “ Khúc hát người anh hùng”
Qua bảng thống kê cho thấy, “Trường ca khúc hát người anh hùng” số
lần xuất hiện tính từ chỉ màu sắc là 46 lần chiếm tỉ lệ 15,6 % trong 3 tập thơ Trong đó, “Khúc bốn- khúc nước lửa” tính từ chỉ màu sắc xuất hiện tới 22 lần
so với trường ca Ở trường ca này, nhà thơ tiếp tục sử dụng tính từ chỉ màu sắc để miêu tả cảnh vật của đất trời, miêu tả cảnh vật của làng quê trong chiến tranh Đặc biệt, Trần Đăng Khoa đã vẽ lại người anh hùng “Mạc Thị Bưởi” với tất cả lòng tự hào và yêu quý chị Ở trường ca này, những gam màu: đỏ, đen, trắng được tác giả sử dụng nhiều hơn
Ví dụ: Trong “Khúc nước lửa”, Trần Đăng Khoa đã sử dụng tới 22 lần tính từ chỉ màu sắc chiếm tỉ lệ 47,8 % Người nữ anh hùng Mạc Thị Bưởi với
vẻ đẹp trong sáng vô ngần:
Tên lính cổ cò Trói quặt Bưởi vào cây cột gỗ
Trên đầu cô: rực vàng nắng gió Dưới chân cô: trắng xoá sóng Kinh Thầy
Trước mắt cô: lúa mát cả nền mây
Chân trời xanh non trong hơi mưa và tiếng sấm
(Trường ca người anh hùng)