1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Hư từ trong ca dao nghệ tĩnh

145 530 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hư Từ Trong Ca Dao Nghệ Tĩnh
Tác giả Bùi Thị Dung
Người hướng dẫn TS. Ngô Văn Cảnh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 864,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hư từ có rất nhiều tác dụng khác nhau: biểu thị ý nghĩa ngữ pháp phụ thể hiện tình thái khác nhau của người nói; là phương tiện nối kết từ với từ, câu với câu; biểu thị cảm xúc và nhấn m

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

BÙI THỊ DUNG

HƯ TỪ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Trang 2

VINH - 2010

Trang 3

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

TS NGÔ VĂN CẢNH

Trang 4

VINH - 2010

Trang 5

Để hoàn thành đề tài Hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh, tôi đã nhận được sự

hướng dẫn tận tình, chu đáo của thầy giáo hướng dẫn khoa học: TS Ngô Văn Cảnh Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến thầy.

Nhân đây, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, khoa đào tạo Sau Đại học - Trường Đại học Vinh.

Do thời gian có hạn và năng lực bản thân nên luận văn có những hạn chế nhất định Chúng tôi mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và những người quan tâm đến đề tài.

Xin trân trọng cảm ơn !

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả Bùi Thị Dung

Trang 6

MỞ ĐẦU 9

1 Lý do chọn đề tài 9

2 Lịch sử nghiên cứu 9

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Phương pháp nghiên cứu 13

5 Đóng góp của đề tài 13

6 Cấu trúc của luận văn 14

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 15

1.1 Hư từ 15

1.1.1 Khái niệm hư từ và tiêu chí phân loại 15

1.1.2 Các từ loại hư từ trong tiếng Việt 17

1.2 Ca dao Nghệ Tĩnh 20

1.2.1 Vài nét về ca dao 20

1.2.2 Về ca dao Nghệ Tĩnh 20

1.3 Các nhân tố giao tiếp và các quy tắc hội thoại 21

1.3.1 Khái niệm giao tiếp 21

1.3.2 Các nhân tố giao tiếp 21

1.3.3 Khái niệm hội thoại 21

1.3.4 Cấu trúc cuộc thoại 21

1.3.5 Các quy tắc hội thoại 23

1.3.6 Giao tiếp hội thoại trong ca dao Nghệ Tĩnh và vai trò của hư từ .25 1.4 Lập luận và các chỉ dẫn lập luận 26

1.4.1 Khái niệm lập luận 26

1.4.2 Các chỉ dẫn lập luận 26

1.4.3 Lập luận, thuyết phục trong ca dao Nghệ Tĩnh và vai trò của hư từ .27

1.5 Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái 29

1.5.1 Khái niệm nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái 29

1.5.2 Các toán tử tình thái và các phương tiện biểu thị tình thái 29

1.5.3 Vai trò biểu thị nghĩa tình thái của hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh32 1.6 Tiểu kết 32

Chương 2 SỰ PHÂN BỐ CỦA HƯ TỪ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH 34

2.1 Sự phân bố của phụ từ trong ca dao Nghệ Tĩnh 34

Trang 7

2.1.1 Kết quả thống kê phụ từ 34

2.1.2 Ngữ nghĩa của phụ từ 37

2.2 Sự phân bố của quan hệ từ trong ca dao Nghệ Tĩnh 66

2.2.1 Kết quả thống kê quan hệ từ 66

2.2.2 Ngữ nghĩa của QHT 68

2.2.2.1 QHT bình đẳng 68

2.3 Sự phân bố của trợ từ trong ca dao Nghệ Tĩnh 84

2.3.1 Kết quả thống kê trợ từ 84

2.3.2 Ngữ nghĩa của trợ từ 84

2.4 Sự phân bố của tình thái từ trong ca dao Nghệ Tĩnh 92

2.4.1 Kết quả thống kê tình thái từ 92

2.4.2 Ngữ nghĩa của tình thái từ 93

2.5 Tiểu kết 98

Chương 3 VAI TRÒ CỦA HƯ TỪ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH 100

3.1 Giá trị nhận thức của hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh 101

3.1.1 Hư từ giữ vai trò chỉ dẫn lập luận trong ca dao Nghệ Tĩnh .101

3.1.2 Hư từ với tiền giả định và hàm ý trong ca dao Nghệ Tĩnh 102

3.1.3 Hư từ với hiệu lực lập luận và thuyết phục trong ca dao Nghệ Tĩnh .109

3.2 Giá trị biểu cảm của hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh 111

3.2.1 Hư từ biểu thị tình thái của hành động nói 111

3.2.2 Hư từ biểu thái tình thái liên cá nhân 114

3.2.3 Hư từ biểu thị tình thái khách quan và chủ quan 116

3.3 Vai trò của hư từ trong việc thể hiện đặc trưng ngôn ngữ- văn hoá 118

3.3.1 Hư từ với việc thực hiện các quy tắc và phương châm hội thoại .118

3.3.2 Vai trò của hư từ với việc thể hiện tập quán ứng xử trong giao tiếp qua lời ca dao Nghệ Tĩnh 123

3.4 Tiểu kết 132

KẾT LUẬN 134

TÀI LIỆU THAM KHẢO 137

PHỤ LỤC

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Hư từ là một trong hai mảng lớn của hệ thống từ loại tiếng Việt Tuy số lượng các đơn vị từ vựng của các nhóm từ loại hư từ không nhiều so với thực từ, nhưng hư từ có một vai trò vô cùng quan trọng Chúng không có

ý nghĩa từ vựng chân thực như thực từ nhưng chúng có ý nghĩa quan hệ, ý nghĩa ngữ pháp Hư từ có rất nhiều tác dụng khác nhau: biểu thị ý nghĩa ngữ pháp phụ thể hiện tình thái khác nhau của người nói; là phương tiện nối kết từ với từ, câu với câu; biểu thị cảm xúc và nhấn mạnh

1.2 Ngôn ngữ nghệ thuật với những phẩm chất đặc trưng như tính hình tượng, tính thẩm mĩ, tính biểu cảm thường ít có chỗ cho hư từ, và người ta ít

đề cập đến vai trò của nó Tuy nhiên văn bản nghệ thuật không chỉ là sự kết hợp đơn thuần của từ ngữ mà nó có tính “cộng hưởng, giao thoa” lẫn nhau, do

đó không thể phủ nhận vai trò của hư từ và sự xuất hiện của nó đặc biệt trong các tác phẩm thơ ca

1.3 Trong ca dao Nghệ Tĩnh, sự xuất hiện dày đặc các hư từ tiếng Việt nói chung và hư từ địa phương nói riêng đã làm cho ca dao Nghệ Tĩnh có những nét riêng biệt Thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh nói chung, ca dao Nghệ Tĩnh nói riêng đã được nhiều nhà nghiên cứu văn học và ngôn ngữ học quan tâm, thế nhưng chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu vai trò của hư từ trong đó

Vì những lí do trên, chúng tôi mạnh dạn tìm hiểu hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh nhằm khẳng định rõ nét hơn vai trò của hư từ trong văn bản nghệ thuật nói chung và văn bản ca dao Nghệ Tĩnh nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu về hư từ trong tiếng Việt, từ lâu đã nhiều công trình đề

Trang 10

Trọng Kim, Nguyễn Hiệt Chi, Lê Thước, Nguyễn Tài Cẩn, Diệp Quang Ban, Đinh Văn Đức, Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Anh Quế, Hồ lê, Lưu Vân Lăng, Cao Xuân Hạo, Đái Xuân Ninh, Hoàng Tuệ, Phan Thiều, Lê Biên, Đỗ Thị Kim Liên

Lê Biên trong cuốn “Từ loại tiếng Việt hiện đại” đã dành hẳn chương II phân chia hệ thống từ loại tiếng Việt Tác giả đã đưa ra khái niệm về hư từ và phân loại khá kỹ lưỡng các từ loại hư từ tiếng Việt Sự trình bày của tác giả

đi từ đặc trưng đến các tiểu loại và hoạt động cơ bản của các nhóm từ

Diệp Quang Ban trong cuốn “Ngữ pháp tiếng Việt” đã bàn đến vấn đề

từ loại trong chương V Sau khi nhìn lại vấn đề nguyên tắc phân chia từ loại

và tên gọi các lớp từ của các tác giả khác, tác giả đưa ra tiêu chí phân định từ loại của mình và đưa ra bảng từ loại hư từ

Đinh Văn Đức với công trình “Ngữ pháp tiếng Việt” (từ loại) không chia từ loại thành hai mảng lớn như nhiều tác giả mà chia từ loại thành ba lớp: thực từ, hư từ, tình thái từ

Nguyễn Anh Quế với một chuyên luận riêng về hư từ “Hư từ trong tiếng Việt hiện đại” đã tổng kết các ý kiến của các tác giả đi trước bàn về hư

từ và đưa ra những nguyên tắc, cơ sở của việc phân định hư từ trong tiếng Việt Tác giả cũng đã đề cập đến ý nghĩa và chức năng của hư từ, đưa ra tiêu chí và các bước phân chia hư từ; miêu tả từng nhóm hư từ, từng hư từ rất kỹ lưỡng, sự khác nhau của các hư từ trong nhóm được đặt trong những văn cảnh

Trang 11

Nghiên cứu về ca dao Nghệ Tĩnh đã có rất nhiều công trình khác nhau nghiên cứu từ hình thức đến nội dung Có thể kể đến các công trình,các luận

án, luận văn, các bài nghiên cứu của các tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Trương Xuân Tiếu, Ngô Văn Cảnh, Nguyễn Phương Châm Tuy nhiên, có hai công trình nghiên cứu liên quan trực tiếp đến đề tài của chúng tôi là công trình của TS Ngô Văn Cảnh và PGS.TS Hoàng Trọng Canh

Trong luận án “Đặc trưng hình thức của các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh”, TS Ngô Văn Cảnh nhận xét: “Sử dụng các hư từ để thể hiện tình thái với mục đích tu từ là một biện pháp nổi trội trong các thể thơ ca dân gian xứ Nghệ Các hư từ được dùng để thể hiện tình thái với mục đích tu từ trong thơ

ca dân gian Nghệ Tĩnh là các phụ từ, quan hệ từ và tình thái từ (gồm cả trợ từ, tiểu từ tình thái và thán từ)” [10, tr 178]

Sau khi phân tích vai trò của phụ từ, tình thái từ, quan hệ từ trong việc biểu thị nghĩa tình thái, tác giả đưa ra nhận xét: “Cứ 10 lời ca dao xứ Nghệ thì có tới 5 lời thể hiện tình thái bằng các hư từ Hát ví đồng bằng Hà Bắc có

3 lời còn ca dao Quảng Bình có 2 lời Lời ca dao xứ Nghệ thường không mượt mà như ca dao xứ Bắc Hành vi ngôn ngữ trực tiếp được dùng phổ biến hơn hành vi ngôn ngữ gián tiếp Biện pháp thể hiện tình thái bằng các hư từ kết hợp chặt chẽ sắc thái biểu cảm với nghĩa miêu tả của lời thơ” [10, tr 183] Tác giả cũng đồng thời nhấn mạnh vai trò của các biện pháp thể hiện tình thái của câu bằng các hư từ với việc tổ chức kết cấu lời thơ

Như vậy có thể nói, công trình chỉ khai thác vấn đề hư từ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh trong một dung lượng trang viết rất nhỏ so với toàn bộ dung lượng của công trình nhưng với những nhận xét xác đáng về vai trò của

nó đã gợi mở trực tiếp cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài này

Công trình “Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ- văn

Trang 12

phương Nghệ Tĩnh lấy dẫn liệu là các tác phẩm thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, trong đó có ca dao Nghệ Tĩnh Nhận xét về vai trò của phụ từ, tác giả viết:

“Hai loại đại từ và phụ từ tuy có số lượng từ ít nhưng lại có số lần xuất hiện cao là phản ánh đặc điểm chung của chúng trong ngôn ngữ và trong hành chức của tiếng Việt Ở đây đại từ và phụ từ được sử dụng trong những tác phẩm mà các sáng tác cụ thể của nó ra đời trong môi trường giao tiếp cụ thể, thiên về hình thức đối đáp, sắc thái biểu cảm của lời được thể hiện rõ nên đại

từ, phụ từ được sử dụng với tần số cao” [9, tr.325]

Cuối cùng tác giả đưa ra kết luận: “như vậy mỗi loại từ trong phương ngữ đều được dùng với vai trò góp phần sáng tạo nên tác phẩm thơ mang đặc trưng Nghệ Tĩnh, trong đó nét đặc biệt là hư từ được dùng với tần số cao đã tạo nên dấu ấn riêng của cách nói, cách ứng xử của người Nghệ”[9, tr.336]

Như vậy, công trình nghiên cứu của thầy Hoàng Trọng Canh với những nhận xét, đánh giá cao về vai trò của hư tư địa phương trong các tác phẩm thơ

ca dân gian Nghệ Tĩnh như một định hướng giúp chúng tôi nghiên cứu đề tài này Vì khi nghiên cứu “hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh” dĩ nhiên bao giờ cũng bao gồm hư từ phương ngữ Nghệ Tĩnh

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài chọn đối tượng khảo sát là các hư từ xuất hiện trong kho tàng ca dao xứ Nghệ (tập 1 và 2)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn giải quyết những vấn đề sau:

3.2.1 Thống kê sự xuất hiện của từng từ loại hư từ, tiểu nhóm của các

từ loại đó và chỉ ra ngữ nghĩa của chúng

3.2.2 Chỉ ra vai trò của hư từ với tiền giả định, hàm ý và việc tạo hiệu lực lập luận và thuyết phục trong CDNT

Trang 13

3.2.3 Chỉ ra vai trò của hư từ trong việc biểu đạt nghĩa tình thái trong CDNT.

3.2.4 Tìm ra những dấu hiệu bản sắc văn hoá- ngôn ngữ của người Nghệ được biểu hiện qua việc sử dụng hư từ

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Để có được nguồn tư liệu khảo sát, luận văn sử dụng phương pháp thống kê xác định được tổng số các đơn vị từ loại hư từ và số lượng các đơn

vị của từng từ loại có trong CDNT và phân loại theo các nhóm nghĩa của từng từ loại

4.2 Phương pháp miêu tả

Trên cơ sở thống kê, chúng tôi tiến hành miêu tả các nghĩa của từng từ, nhóm từ trong từng từ loại hư từ

4.3 Phương pháp so sánh đối chiếu

So sánh đối chiếu nghĩa của từng từ, nhóm từ; so sánh CDNT và ca dao các vùng khác để thấy nét đặc biệt của CDNT do sự góp mặt đông đảo của hư từ

4.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Qua những bước trên, chúng tôi tiến hành tổng hợp lại rồi phân tích chỉ

ra vai trò của hư từ trong CDNT

5 Đóng góp của đề tài

Thông qua việc thống kê, phân tích giá trị ngữ pháp và ngữ nghĩa của các từ loại hư từ, luận văn làm rõ sự phân bố của hư từ, vai trò của hư từ trong văn bản ca dao Nghệ Tĩnh

Góp thêm cứ liệu khẳng định những nét riêng trong tập quán ngôn ngữ- văn hoá con người Nghệ Tĩnh

Trang 14

Bước đầu cung cấp một số tư liệu cho việc học tập, giảng dạy hư từ trong văn bản văn chương nghệ thuật

6 Cấu trúc của luận văn

Theo những nhiệm vụ nghiên cứu đã dự định, ngoài phần mở đầu, phần kết luận và phụ lục, luận văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2 Sự phân bố của các từ loại hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh.Chương 3 Vai trò của hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh

Sau cùng là phần tài liệu tham khảo

Trang 15

Chương 1NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Hư từ

1.1.1 Khái niệm hư từ và tiêu chí phân loại

Là một trong hai mảng lớn của từ loại tiếng Việt, hư từ được rất nhiều nhà ngôn ngữ học quan tâm nghiên cứu Các nhận định, đánh giá về hư từ rất khác nhau cả về khái niệm lẫn tiêu chí

Bàn về hư từ, Lê Biên đưa ra định nghĩa:“ Chiếm số lượng từ không lớn, khác với thực từ, hư từ không có ý nghĩa định danh; ý nghĩa của các hư từ

có tính chất ngữ pháp và là phương tiện diễn đạt quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy theo cách thức phản ánh bằng ngôn ngữ của người Việt” [8,

tr.23] Tác giả đưa ra hai tiêu chí để phân chia từ loại:

- Dựa vào ý nghĩa khái quát của các lớp từ (thực chất nói đến ý nghĩa khái quát của các từ cũng là nói đến một loại ý nghĩa ngữ pháp)

- Dựa vào đặc điểm hoạt động ngữ pháp của các lớp từ (trong tiếng Việt những đặc tính cú pháp học có tác dụng quyết định chi phối những đặc trưng

cú pháp của các lớp từ loại).

Đinh Văn Đức thì cho rằng: “Khác với thực từ, bản chất ý nghĩa của hư

từ thiên về tính chất ngữ pháp Hư từ không trực tiếp biểu niệm, nó là phương tiện dùng để phân suất các hình thức của khái niệm và biểu đạt mối quan hệ giữa các khái niệm trong tư duy” [31, tr.53] Tác giả đưa ra ba tiêu chí để

phân chia từ loại:

Trang 16

- Căn cứ vào ý nghĩa khái quát giống nhau của các từ (ý nghĩa từ vựng,

ý nghĩa ngữ pháp).

- Căn cứ vào đặc điểm ngữ pháp giống nhau (khả năng kết hợp và chức

vụ ngữ pháp của các từ trong câu).

Theo chúng tôi hư từ là những từ:

+ không mang ý nghĩa từ vựng

+ Không độc lập tạo thành câu

+ Làm thành tố trong cụm từ hoặc liên kết tạo cụm từ mới.

Về tiêu chí phân định từ loại, chúng tôi dựa vào hai tiêu chí (dựa theo quan điểm của giáo sư Đỗ Thị Kim Liên):

- Dựa vào ý nghĩa phạm trù: là ý nghĩa khái quát chung cho nhiều từ Ý

nghĩa chung có tính chất khái quát, trừu tượng có tác dụng phân loại vốn từ

Ví dụ: danh từ là những từ mang ý nghĩa sự vật: nhà cửa, cây cối, chó, mèo, bàn ghế ; động từ là những từ chỉ hành động: gào, thét, đi, đứng, ăn, ngủ ; tính từ là những từ chỉ đặc điểm, tính chất: chua, cay, mặn, ngọt, v.v

- Dựa vào khả năng kết hợp:

+ Trong cụm từ: có khả năng làm trung tâm của cụm từ, làm thành phần phụ của cụm từ hoặc liên kết trong cụm từ

Ví dụ: Tất cả/ những/ thúng/ gạo/ nếp/ ấy.

-2 - 1 D1 D2 1 2

Trên đây là một cụm danh từ trong đó vị trí trung tâm là danh từ chỉ loại D1 và danh từ chỉ vật D2 Đứng trước danh từ là các định từ chỉ tổng thể (-2) và định từ chỉ lượng (-1) Phía sau danh từ có hai vị trí: định ngữ (1) và định từ chỉ định (2)

+ Dựa vào khả năng kết hợp trong câu: có khả năng làm thành phần chính của câu hay làm thành phần phụ hay không có khả năng này

Ví dụ:

Đứng ở vị trí chủ ngữ, bổ ngữ thường là danh từ

Trang 17

Đứng ở vị trí vị ngữ thường là động từ, tính từ.

Đứng ở vị trí định ngữ thường là tính từ

Những từ loại khác như tình thái từ, trợ từ không tham gia thành phần chính của câu và chỉ giữ chức năng phụ trợ

1.1.2 Các từ loại hư từ trong tiếng Việt

Do tiêu chí phân loại khác nhau nên bảng từ loại hư từ của các tác giả cũng rất khác nhau

Lê Biên chia hư từ thành 4 nhóm: phụ từ, quan hệ từ, tình thái từ gồm trợ từ và thán từ Có thể nói, sự phân chia từ loại của Lê Biên khá gần gũi và

dễ hiểu Tuy nhiên nên tách tình thái từ và trợ từ ra hai nhóm ngang bằng nhau chứ không nên để trợ từ và thán từ là những tiểu loại của tình thái từ

Đinh Văn Đức đưa ra bảng từ loại sau:

- Thực từ: danh từ, động từ, tính từ, số từ, đại từ (đứng ở vị trí trung gian giữa thực từ và hư từ)

- Hư từ: từ phụ, từ nối

- Tình thái từ: tiểu từ, trợ từ

Như vậy, bảng phân chia hư từ nói riêng và từ loại nói chung của Đinh Văn Đức đã để tình thái từ ngang hàng với thực từ và hư từ Tuy nhiên theo chúng tôi không nên để tình thái từ làm thành một nhóm riêng ngang hàng với thực từ và hư từ Tình thái từ cũng không có ý nghĩa từ vựng chân thực nên xếp vào tiểu nhóm của hư từ Hơn nữa tên gọi các từ loại hư từ của ông cũng chưa thống nhất: “từ phụ”, “từ nối” là không thống nhất với danh từ, động từ,

Trang 18

Bảng phân loại hư từ của Nguyễn Anh Quế chưa thật sự thống nhất Thứ nhất có từ loại tác giả đặt tên (các liên từ, trợ từ và phụ từ) nhưng có những nhóm từ tác giả không đặt tên (các hư từ chuyên làm thành tố phụ đoản

ngữ được chia làm hai nhóm A và B) Thứ hai, các hư từ như: à, ư, nhỉ, nhé

thực chất là các tình thái từ chứ không phải là phụ từ Tuy nhiên bảng phân loại hư từ của Nguyễn Anh Quế rất kỹ lưỡng Tác giả đi sâu phân tích, đưa ra những văn cảnh cụ thể để nêu bật ý nghĩa của từng từ, từng nhóm từ

Diệp Quang Ban đã chia hư từ gồm 6 loại sau: đại từ, mạo từ, phó từ, quan hệ từ, tiểu từ tình thái, thán từ Có thể nói bảng từ loại hư từ của Diệp Quang Ban khá phong phú, hơn hẳn các tác giả khác về số lượng từ loại (6 từ loại) Tuy nhiên bảng phân loại này có sự trùng lặp Từ loại mạo từ bao gồm

những từ như: những, các, mấy, mọi, từng thực chất là những định từ, nên

xếp chúng vào nhóm định từ (tức là phụ từ) Nhóm ngữ thái từ trong từ loại tiểu từ tình thái nên gộp chung vào nhóm thán từ (tình thái từ) Thứ hai, sự phân chia các tiểu nhóm của từ loại phó từ và tiểu từ tình thái hơi quá kĩ lưỡng do đó có chỗ rườm

Đối chiếu các định nghĩa, tiêu chí (1.1.1) và hệ thống phân loại các hư

từ tiếng Việt, chúng tôi nhận thấy rằng quan điểm phân loại của GS Đỗ Thị Kim Liên là phù hợp hơn Theo quan điểm đó, hư từ tiếng Việt gồm các từ loại với những đặc điểm xác định sau:

1 Phụ từ: không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà chỉ đi kèm danh

từ, động từ, tính từ để bổ sung ý nghĩa phụ cho danh từ, động- tính từ: đã, sẽ, đang, những, các, mọi…

Về khả năng kết hợp: phụ từ thường đi kèm danh từ, động- tính từ để

cấu tạo cụm từ; không làm thành phần chính của câu

Về tiểu nhóm: Bao gồm:

a Định từ: Định từ cái chỉ xuất; định từ chỉ lượng: mỗi, từng, mọi, mấy ; định từ tạo ý nghĩa số: những, các, một.

Trang 19

b Phó từ: Phó từ đứng trước động từ, tính từ: đã, đang, sẽ, vừa, mới, sắp, từng, vẫn, còn, cứ, càng, đều, cùng, cũng, thường ; phó từ đứng sau động từ, tính từ: đi, lên, được, mất, ra, tới, đi, về, lấy, theo, nhau, ngay, liền, dần,nữa, mãi, lắm, quá ; phó từ vừa có khả năng đứng trước, vừa có khả năng đứng sau động từ, tính từ: mãi, vô cùng, tuyệt, cực, kỳ, luôn luôn

2 Quan hệ từ: là những từ không mang ý nghĩa từ vựng chân thực mà

chỉ dùng để liên kết từ, cụm từ, kết cấu C-V

Về khả năng kết hợp: không có khả năng làm thành tố chính của cụm, của câu mà chỉ xúc tác để tạo cụm từ, vế câu

Về tiểu nhóm:

a Nhóm biểu thị quan hệ chính phụ: vì, bởi, do, của, bằng, về, với, tuy

b Nhóm biểu thị quan hệ đẳng lập: và, hay, hoặc, nhưng, song, mà, rồi

c Nhóm biểu thị quan hệ C-V: là.

3 Tình thái từ: là những từ biểu thị tình cảm, cảm xúc của người nói.

Về khả năng kết hợp: thường đứng trong câu, không phụ thuộc vào bất

cứ thành phần nào

Về tiểu nhóm:

a Tình thái từ đứng đầu câu biểu thị sự gọi-đáp: ơi, hỡi, ời, ạ, vâng, dạ

b Tình thái từ đứng đầu câu biểu thị sự ngạc nhiên, vui mừng, sợ hãi,

bực tức, tiếc thương, xúc động: ô, ô kìa, xà, a, eo ôi, ôi, ôi thôi thôi

c Tình thái từ đứng cuối câu thể hiện những sắc thái tình cảm: nghi

vấn, cảm xúc, ngạc nhiên: à, ư, nhỉ, nhé, hở, hả, nhé, nhá, nghen

4 Trợ từ: không mang nghĩa từ vựng mà chỉ phụ trợ cho một từ nào đó

ở trong câu thể hiện thái độ người nói hoặc nhằm mục đích nhấn mạnh

Về khả năng kết hợp: không đứng một vị trí nào cố định mà xuất hiện trước từ nào thì nhấn mạnh từ đó hoặc thể hiện thái độ đánh giá của người nói

Về tiểu nhóm:

Trang 20

a Những từ thể hiện thái độ khẳng định: tự, chính, ngay, đích, mãi, mới,

1.2.2 Về ca dao Nghệ Tĩnh

Nghệ Tĩnh là một vùng văn hoá Đây là nơi “ núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng tươi sáng, gọi là đất có danh tiếng hơn cả Nam Châu” [33, tr.20] Chính mảnh đất này đã sản sinh ra một kho tàng văn hóa

dân gian đồ sộ với nhiều thể loại; trong đó có ca dao

CDNT là những lời thơ dân gian được nhân dân Nghệ Tĩnh sáng tạo hoặc tiếp thu từ các thể loại dân ca khác và sáng tạo lại theo hình thức, nội dung đề tài, mục đích giao tiếp của ca dao, sau khi đã tách rời giai điệu âm nhạc và hoàn cảnh diễn xướng của các thể loại dân ca ban đầu

Ca dao các vùng là vốn chung của cả nước Ngoài những đặc điểm phổ quát chung, ca dao của từng vùng còn mang những nét riêng, độc đáo, phản ánh đặc trưng ngôn ngữ của những vùng quê khác nhau CDNT cũng không

Trang 21

nằm ngoài thông lệ đó “Dù ngọn nguồn của từng bài có khác nhau, song tất

cả ca dao đang lưu truyền ở Nghệ Tĩnh đều phản ánh các mặt sinh hoạt và tính cách của những con người đã bao năm sinh sống, chiến đâu và xây dựng đất Hồng lam” [21, tr.26] Góp phần vào việc thể hiện các đặc trưng ngôn ngữ-

văn hoá của CDNT có vai trò của các hư từ

1.3 Các nhân tố giao tiếp và các quy tắc hội thoại

1.3.1 Khái niệm giao tiếp

“Giao tiếp là hoạt động trao đổi thông tin giữa các thành viên trong xã hội có tính mục đích” [13, tr.9]

1.3.2 Các nhân tố giao tiếp

Những nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp, có ảnh hưởng đến quá trình lập mã và giải mã thông điệp, thực hiện các chức năng thông tin, tạo lập quan hệ và biểu hiện của hoạt động giao tiếp được coi là các nhân tố giao tiếp

Theo Jakobson các nhân tố giao tiếp gồm sáu yếu tố được tác giả trình bày qua lược đồ sau: Chu cảnh

Người gửi…Thông điệp…Người nhận

Tiếp xúcMãCác nhân tố giao tiếp trên đây được giáo sư Đỗ Hữu Châu mở rộng thêm [17, tr.15-38] với nhiều khái niệm mới

1.3.3 Khái niệm hội thoại

“Hội thoại là một trong những hoạt động ngôn ngữ thành lời giữa hai hoặc nhiều nhân vật trực tiếp trong một ngữ cảnh nhất định mà giữa họ có sự tương tác qua lại về hành vi ngôn ngữ hay hành vi nhận thức nhằm đi đến một đích nhất định” [49, tr.18]

1.3.4 Cấu trúc cuộc thoại

Trang 22

- Các hành động ngôn trung

Hành động ngôn trung là đơn vị hành động nhỏ nhất tạo nên hành động hội thoại Mỗi một câu gồm một nội dung miêu tả và được nói theo một cách thức nào đó gọi là hành động ngôn trung Hành động ngôn trung là nhân tố quan trọng nhất tạo nên tình thái của một câu

Ví dụ: Dung đi làm về →Nội dung miêu tả này có thể được nói ra theo

những hành động ngôn trung khác nhau Ví dụ:

- Dung đi làm về chưa? (hỏi)

- A ha! Dung đi làm về rồi (cảm thán, tỏ thái độ vui mừng)

- Các dấu hiện đánh dấu hình thức ngôn trung

Các phương tiện ngôn ngữ giúp người nghe nhận biết hành động ngôn trung từ phía người nói chính là các dấu hiệu đánh dấu hình thức ngôn trung

Ví dụ: hành vi hỏi dùng các từ: có…không, đã…chưa, nào, sao,… Hành vi khuyên nhủ, răn bảo dùng các phụ từ như: hãy, đừng, chớ, nên…

- Các đơn vị hội thoại

+ Cuộc thoại: (hay còn gọi là cuộc tương tác) là đơn vị hội thoại bao trùm lớn nhất; cuộc thoại là toàn bộ cuộc đối đáp, trò chuyện giữa các nhân vật tham dự giao tiếp kể từ khi bắt đầu tới khi kết thúc cuộc đối thoại, trò chuyện đó

+ Đoạn thoại: là một bộ phận của cuộc thoại Một đoạn thoại được đánh dấu bằng một chủ đề và một đích

+ Cặp thoại: là đơn vị lưỡng thoại tối thiểu cũng tức là cặp kế cận gồm đơn vị dẫn nhập và hành vi hồi đáp Cặp thoại được hiện thực hóa qua tham thoại trao đáp

+ Tham thoại: là đơn vị đơn thoại do một cá nhân nói ra cùng với tham thoại khác làm thành một cặp thoại Tham thoại có thể trùng, lớn hơn hoặc nhỏ hơn lượt lời

Trang 23

+ Hành động ngôn ngữ: là đơn vị tối thiểu tạo nên tham thoại Trong một phát ngôn có thể có một hành động ngôn ngữ nhưng cũng có thể có một

số hành động ngôn ngữ

1.3.5 Các quy tắc hội thoại

Quy tắc hội thoại là những quy tắc bất thành văn nhưng được xã hội chấp nhận và những người tham gia hội thoại phải tuân theo khi thực hiện các vận động hội thoại để cho cuộc thoại vận động như mong muốn

Sau đây là một số quy tắc thường gặp:

- Quy tắc thương lượng:

Thương lượng là bàn bạc trước với nhau, thống nhất với nhau về một số thông tin nhất định, có liên quan đế cuộc thoại (hình thức, nội dung, vị thế và cấu trúc hội thoại) nhằm làm cho cuộc thoại đạt hiệu quả như mong muốn Chẳng hạn, về cấu trúc hội thoại có sự thỏa thuận (thương lượng) về việc kết thúc có thể là lời cảm ơn, lời xin lỗi, lời tạm biệt, hứa hẹn, khuyên răn Ví dụ:

- Ai bảo anh Hai thổi chi cho mạnh Con bé nói rồi thút thít.

- Ừ, tại anh! Nhưng kem còn dính tay này Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi (Lý Thanh Thảo, truyện Mini 91) [13, tr.205].

Lời kết thúc là lời nhận lỗi, xin lỗi; một chi tiết mang tính hàm ngôn thể hiện rõ quy tắc thương lượng

- Quy tắc luân phiên lượt lời

Quy tắc này đòi hỏi những người tham gia giao tiếp phải có sự chú ý đến việc trao lời, đáp lời, cũng như việc nhường lời, tiếp lời trong quá trình hội thoại Người nói nên biết kết thúc lượt lời của mình đúng lúc và nhường lời cho người khác Mỗi lần A nói hay B nói được coi là một lượt lời Trong

sự luân phiên lượt lời này những cặp kế cận là lõi của cuộc thoại Cặp lượt lời

kế cận là những cặp có sự hòa phối chặt chẽ với nhau Ví dụ:

-Cháu đã ăn cơm chưa?

Trang 24

- Quy tắc liên kết

Trong hội thoại A nói với B và đến lượt B đáp phải có sự liên kết, tránh tình trạng rời rạc không liên kết Sự liên kết hội thoại thể hiện ở cả nội dung lẫn hình thức hội thoại

Về nội dung: Các lượt lời phải cùng đề cập đến cùng một đề tài, phạm

vi hiện thực Ngoài ra các lượt lời cần phải có sự liên kết chặt chẽ với nhau về lập luận Bởi lập luận tạo thành các mạch liên tục về nội dung Về hình thức: Các phương tiện liên kết như: đại từ, quan hệ từ hay trợ từ, tình thái từ, các quán ngữ ; các phép liên kết như phép tĩnh lược, phép lặp… chính là những dấu hiệu liên kết hội thoại về hình thức Ví dụ:

- Hà ngon Về chị ấy thấy hụt tiền thì bỏ bố.

- Làm đếch gì có vợ Này, nói đùa chứ, có về với tớ thì ra khuân hàng

lên xe rồi cùng về (Kim Lân) [12, tr.43].

- Quy tắc tôn trọng thể diện người nghe:

Quy tắc này được thể hiện người nói tỏ thái độ đề cao tôn trọng thể diện người nghe Nghĩa là trong giao tiếp, người nói cần đề cao, khuyến khích người nghe cũng như nên nói đến những mặt mạnh, mặt tốt của họ Vì thế khi hội thoại cần phải biết lựa chọn những lời nói sao cho phù hợp Muốn vậy, khi nói nên sử dụng những biện pháp tu từ như: nói giảm, nói vòng… để tránh xúc phạm đến thể diện của người nghe cũng như cố gắng gìn giữ thể diện của chính mình Ví dụ:

- Tin đồn nào hả con? Hình như con chưa nói hết.

- Tựa hồ như ở tổ làm phim của ba có một diễn viên trẻ bị chết và hình như ba có tình ý với cô ấy- Ta-nhi-a đỏ mặt (I Bôn-đa-rép) [13, tr 76].

- Quy tắc khiêm tốn về phía người nói:

Người nói phải tỏ ra khiêm nhường, tự mình nói giảm nhẹ đi vị thế

phát ngôn của mình Vì thế trong lời nói người nói thường dùng các từ: anh à, chị ơi, thế à, vâng, đúng thế…biểu hiện thái độ khiêm nhường Ví dụ:

Trang 25

- Mẹ con tên là Cam phải không?

- Dạ, mẹ con có vết chàm đen che hơn nửa mặt và không nói được

(Truyện ngắn hay 2001, Nhật ký cuối đời, tr223) [52, tr.222].

- Quy tắc cộng tác:

Cộng tác hội thoại có nghĩa là mỗi người phải góp một phần của mình

về lượt lời, về nội dung để đạt tới đích cuộc thoại Theo H.P.Grice có các phương châm về lượng (không nên nói ít quá hay nhiều quá), phương châm

về chất (không nên nói những điều không có căn cứ chắc chắn), phương châm

về cách thức (nên nói một cách rõ ràng, rành mạch), phương châm về quan hệ (trình bày sao cho câu chuyện dính líu đến câu chuyện đang diễn ra)

1.3.6 Giao tiếp hội thoại trong ca dao Nghệ Tĩnh và vai trò của hư từ

Có nhiều hình thức hội thoại: độc thoại, đơn thoại, song thoại, đa thoại Trong CDNT chủ yếu là đơn thoại và song thoại Ví dụ:

Tình tơ có nhớ nghĩa tằm hay không?

Đáp Lâu năm thì mặc lâu năm

Tình tơ vẫn nhớ nghĩa tằm không quên.

(764 tr.311- T1)

Chủ đề hội thoại của CDNT không dừng lại ở tình yêu nam nữ mà liên quan đến nhiều đề tài khác nhau: đề tài thiên nhiên, đặc điểm địa bàn cư trú, quan hệ xã hội, dân tộc, …Ở hầu hết các bài ca dao đó, đều thấy sự xuất hiện

Trang 26

vai trò không nhỏ trong việc thể hiện những ứng xử và phương châm giao tiếp hội thoại của con người xứ Nghệ

1.4 Lập luận và các chỉ dẫn lập luận

1.4.1 Khái niệm lập luận

Lập luận là đưa ra những lí lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận nào đấy mà người nói muốn đạt tới [17,

tr.155]

Trong quan hệ lập luận, lí lẽ được gọi là luận cứ Vậy có thể nói quan

hệ lập luận là quan hệ giữa luận cứ với kết luận

Ví dụ: Muốn học giỏi thì chúng ta phải siêng học.

LC KL

1.4.2 Các chỉ dẫn lập luận

Chỉ dẫn lập luận (CDLL) là dấu hiệu hình thức mà nhờ chúng ta nhận

ra định hướng lập luận, đặc tính lập luận của luận cứ trong một quan hệ lập luận CDLL gồm hai loại:

1.4.2.1 Tác tử lập luận

Tác tử lập luận là các từ ngữ được đưa vào phát ngôn chứa nội dung miêu tả nào đó sẽ làm thay đổi định hướng hay tiềm năng lập luận của nó

Các tác tử: tận, ngay, mới, đã, chỉ… khi đưa vào phát ngôn sẽ trở thành

những tác tử lập luận làm thay đổi định hướng lập luận của các phát ngôn

Ví dụ: Tớ chỉ có hai cái kẹo thôi! → Chỉ tạo định hướng là ít.

1.4.2.2 Kết tử lập luận

Kết tử lập luận là những từ ngữ (như quan hệ từ đẳng lập, quan hệ từ chính phụ), tổ hợp từ phối hợp hai hay nhiều phát ngôn tạo thành một lập luận duy nhất Nhờ kết tử mà các phát ngôn trở thành luận cứ hay kết luận của một lập luận

Có thể chia kết tử lập luận thành kết tử hai vị trí và kết tử ba vị trí:

Trang 27

+ Kết tử hai vị trí là kết tử chỉ cần hai phát ngôn là đủ làm thành một

lập luận, không nhất thiết có thêm phát ngôn thứ ba Chúng gồm: vậy, do đó,

do vậy, thế, cho nên, thì, thế thì…

Ví dụ: Anh mệt thì anh đi nghỉ đi!

+ Kết tử ba vị trí là kết tử nhất thiết phải có ba phát ngôn mới đủ làm

thành một lập luận Chúng gồm: nhưng, vả lại, hơn nữa, thêm vào đó,

Ví dụ: Tôi rất bận nhưng tôi muốn đến thăm anh ấy nên tôi vẫn đi.

Các kết tử lại có thể chia ra: Kết tử dẫn nhập luận cứ và kết tử dẫn nhập kết luận Kết tử dẫn nhập luận cứ là kết tử mà khi có nó thì phát ngôn miêu tả

trở thành một bộ phận cấu tạo của lập luận, đó là phần luận cứ: vì, hơn nữa, nhưng, nếu, dù, tuy, dầu… Còn kết tử dẫn nhập kết luận là kết tử khi có nó thì

biến một phát ngôn thành một bộ phận cấu tạo của lập luận, đó là phần kết

luận: vậy nên, thì, vậy là, do đó, bởi vậy… Ví dụ:

Tuy trời mưa to nhưng tôi vẫn lang thang ngoài đường phố.

→ Tuy: kết tử dẫn nhập luận cứ Nhưng: kết tử dẫn nhập kết luận

1.4.3 Lập luận, thuyết phục trong ca dao Nghệ Tĩnh và vai trò của hư từ

Theo nhận định của Ninh Viết Giao, một nét riêng biệt của ca dao xứ Nghệ là tính chất trí tuệ, chữ nghĩa do có sự tham gia sáng tác của đội ngũ các nhà Nho Theo chúng tôi tính chất trí tuệ còn phụ thuộc vào logíc diễn đạt, kết cấu lời thơ, ở hiệu lực lập luận và thuyết phục của văn bản ngôn từ trong hoạt động hội thoại Ví dụ:

Đá có rêu bởi vì nước đứng Núi bạc đầu là tại sương sa

(Tr.81-T1)

“Đá có rêu, núi bạc đầu” là những hiện tượng tự nhiên bình thường mà

Trang 28

tâm đến điều đó, lý giải vì sao lại có những tồn tại như vậy Các nhà Nho xứ Nghệ đã suy nghĩ, tìm tòi, cắt nghĩa lý giải vấn đề đó Hai câu ca dao được tổ chức thành hai lập luận có sức thuyết phục một phần quan trọng nhờ vai trò

của các hư từ Bởi vì, tại là những kết tử lập luận mà nhờ chúng người ta

nhận ra rằng: “nước đứng, sương sa” là những kết luận hiển nhiên rút ra từ luận cứ “đá có rêu” hay “núi bạc đầu” Ta thấy ở đây quả có tiết tấu, nhịp điệu nổi bật của thể thơ bảy chữ (3/2/2, trắc bằng), có cả cấu trúc song song (đá có rêu- núi bạc đầu; bởi vì- là tại; nước đứng- sương sa) nhưng trên hết

vẫn là cấu trúc cú pháp giải thích bởi vì- tại mà nhờ đó người ta phát hiện ra

một chân lý vĩnh hằng của đời sống Chính khám phá ra những điều bình thường giản dị như những tồn tại muôn thuở của đời sống đã tạo nên tính trí tuệ cho bài ca dao Nó không chỉ là cảm xúc của người viết mà còn là sự chiêm nghiệm cuộc sống, đúc rút từ những kinh nghiệm bản thân, từ sự trải nghiệm cuộc sống Từ những quy luật về tự nhiên như vậy mà con người liên

hệ, suy ngẫm về quy luật cuộc đời

Như vậy chính hư từ đã tạo nên hiệu lực lập luận, làm nên sức thuyết phục của lập luận trong ca dao Nghệ Tĩnh

Cùng với vai trò tổ chức lập luận, hư từ đồng thời nhấn mạnh sắc thái biểu cảm Hai chức năng này không tồn tại biệt lập mà hòa kết vào nhau:

Khi vui ngó núi cũng vui Khi buồn nhặt trái sim rơi cũng buồn

(Tr.81- T 1) Hai phụ từ cũng xuất hiện ở hai vị trí tương đồng nhau ở hai câu cho

thấy một sự suy nghiệm của bản thân như chắt lọc bao hiểu biết cuộc sống

về một quy luật cảm xúc “buồn- vui” của con người Nhờ đó ta nhận ra một

lẽ thường, một quy luật lây lan và tương đồng cảm xúc giữa con người và cảnh vật

Trang 29

Như vậy, hư từ bên cạnh vai trò tổ chức lập luận còn biểu đạt ý nghĩa tình thái, đem lại giá trị biểu cảm làm tăng tính chất suy luận và thuyết phục của câu ca dao xứ Nghệ.

1.5 Nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái

1.5.1 Khái niệm nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái

Nghĩa miêu tả là một bộ phận trong cấu trúc nội dung nghĩa của phát ngôn do các yếu tố từ vựng đưa lại Nghĩa tình thái là một bộ phận trong cấu trúc nội dung nghĩa của phát ngôn (bên cạnh nghĩa miêu tả) biểu thị cảm xúc, thái độ, sự đánh giá của người nói đối với hiện thực được thông báo

1.5.2 Các toán tử tình thái và các phương tiện biểu thị tình thái

1.5.2.1 Toán tử tình thái

Toán tử tình thái (TTTT) là những phương tiện ngôn ngữ mà khi tác động đến các đơn vị ngôn ngữ thuộc cùng một cấp độ nào đó thì cho ta những đơn vị ngôn ngữ mới (thường là cùng cấp độ) Có thể nói rằng có toán tử ở tất

Đã đành máu chảy về tim

Mong gì gắn lại phím đờn ngang cung

Tổ hợp từ tình thái đã đành cho thấy một sự nhượng bộ, một sự chấp

nhận Qua đó ta thấy có một sự chôn vùi tuổi xuân, chôn vùi kí ức từ trong sâu thẳm trái tim người chị khi bước chân đi lấy chồng trong “lỡ bước sang ngang” của Nguyễn Bính

b) TTTT có khả năng thể hiện đặc điểm về tính cách một cách rõ nét,

Trang 30

Ví dụ: - Có sư thì mặc có sư

Giơ tay anh bẻ có hư anh đền

(168- tr.240- T2) Trợ từ thì trong phát ngôn của chàng trai là một TTTT thể hiện sự liêu

lĩnh, có vẻ “gàn” trong tính cách của chàng trai

c) TTTT có khả năng kiệm lời mà đầy đủ ý nghĩa mà nếu thay vào đó một tổ hợp từ khác hoặc một vài phát ngôn mà chưa chắc đã chính xác tinh tế bằng chính TTTT đó

Ví dụ: Nó đã chết rồi ư ?

Sẽ được giải thích bằng phát ngôn: Sao nhanh thế, tội nghiệp nó quá Tuy vậy cả phát ngôn này chưa hẳn đã chuyển tải nội dung chính xác như

TTTT ư.

1.5.2.2 Các phương tiện biểu thị tình thái

* Cấp độ ngữ âm: thanh điệu là TTTT

* Cấp độ từ vựng: Phương tiện biểu thị tình thái ở cấp độ từ vựng gồm: các từ tình thái hoặc các tổ hợp từ tình thái, các phụ từ, đại từ, quan hệ từ, các

động từ tình thái ; thủ pháp iếc hóa, thủ pháp thêm thành tố với chả iếc, thủ pháp lặp lại âm tiết gốc và thêm yếu tố là, hoặc ơi là, trật tự từ, ngữ điệu

+ TTTT đứng ở đầu vị trí phát ngôn thể hiện thái độ cảm xúc chủ quan

của người nói như vui mừng, ngạc nhiên, than phiền: ôi, chao ôi, ái chà

Ví dụ: Chao ôi ! đau qua đi mất.

+ TTTT đứng ở giữa phát ngôn (gắn với khung vị từ) tiêu biểu là các

phụ từ biểu thị ý nghĩa phủ định: không, chưa, chẳng.

Ví dụ: Tôi không thích cô ấy tí nào.

Nhóm các phụ từ cầu khiến-thúc dục đi trước động từ tính từ Các TTTT đi với động từ tính từ thể hiện các tình thái của hành động phát ngôn:

hãy, đừng, chớ, cứ, vẫn Ví dụ:

Trang 31

Người ta bảo không trông

Ai cũng nhủ đừng mong

(Thăm lúa-Trần Hữu Thung)

Nhóm động từ tình thái: mang nghĩa tình thái thể hiện các hành vi thuộc

về dự định ý chí: toan, định, cần, muốn, có thể, đành, dám Ví dụ:

Tôi muốn buộc gió lại

Cho hương đừng bay đi

(Vội vàng- Xuân Diệu)

+ Các TTTT đứng ở cuối phát ngôn:

Các TTTT thể hiện thái độ nghi vấn: à, ư, nhỉ, nhé, nhá, hả Ví dụ:

Vợ tôi hỏi:“mấy cân gạo hả chú?” (Tướng về hưu- Nguyễn Huy Thiệp)

Các từ tình thái thể hiện tình thái thúc dục mệnh lệnh cầu khiến:đi, lên,

đã, nào, thôi, nhé…

Ví dụ: Con ở nhà một mình nhé !

Từ tình thái đứng cuối phát ngôn thể hiện thái độ giả trình, giải thích

nhằm làm rõ một điều gì đó: thôi mà, mà thôi, cơ mà, đấy thôi…

Ví dụ: Tao chỉ nợ có hai nghìn thôi mà.

Từ tình thái đứng cuối phát ngôn trong câu tường thuật thể hiện thái độ

khẳng định, bác bỏ:mà lại, mà lị, cơ mà, kia mà…

Ví dụ: Tớ đã bảo là tớ làm được bài mà lị.

Dùng tổ hợp từ tình thái: phương tiện thể hiện TTTT thường do một số

từ kết hợp với nhau khá chặt chẽ, thành thói quen cố định, gần với quán ngữ

như: quả thật, theo ý tôi, quả là, cứ như ý tôi, xin lỗi đi, là cái chắc

Ví dụ: Tao thắng ván này là cái chắc.

Dùng các TTTT kết hợp trong các phát ngôn nhằm tạo nghĩa tình thái khác nhau thể hiện các sắc thái tình cảm đa dạng của lời

Trang 32

1.5.3 Vai trò biểu thị nghĩa tình thái của hư từ trong ca dao Nghệ Tĩnh

Trong CDNT, sự xuất hiện dày đặc các hư từ làm cho sắc thái nghĩa của lời ca vừa phong phú, vừa sâu sắc Việc sử dụng hư từ trong lời ca dao tạo nên các sắc thái tu từ khác nhau là một biện pháp nổi trội trong CDNT “Cứ

10 lời ca dao xứ Nghệ thì có tới 5 lời thể hiện tình thái bằng các hư từ Hát ví đồng bằng Hà Bắc có 3 lời còn ca dao Quảng Bình có hai lời Lời ca dao xứ Nghệ thường không mượt mà như lời ca dao xứ Bắc Hành vi ngôn ngữ trực tiếp được dùng phổ biến hơn hành vi ngôn ngữ gián tiếp Biện pháp thể hiện tình thái bằng các hư từ kết hợp chặt chẽ sắc thái biểu cảm với nghĩa miêu tả của lời thơ”.[10,tr.183]

Đã dở lời hẹn lang quân Mấy thu cũng đợi mấy xuân cũng chờ

(452- tr.273- T1) Cặp phụ từ: mấy- cũng xuất hiện tới hai lần trong một phát ngôn làm cho tình thái khẳng định càng rõ nét Mấy kết hợp với danh từ “thu, xuân”

thành “mấy thu, mấy xuân” để chỉ thời gian phiếm định lâu dài Thời gian càng dài bao nhiêu thì sự đợi chờ cũng đằng đẵng bấy nhiêu Lấy sự đo đếm thời gian “mấy thu, mấy xuân” để khẳng định tình yêu chung thủy “cũng đợi, cũng chờ ” là một cách chứng minh tình yêu nồng cháy, mãnh liệt của trai gái

Trang 33

Nắm được khái niệm hư từ và các từ loại hư từ trong Tiếng Việt sẽ giúp người nghiên cứu hiểu rõ vấn đề và tiến hành thực hiện các nhiệm vụ một cách hiệu quả, nhất quán

Việc nghiên cứu có hiệu quả sẽ làm rõ vai trò rất lớn của hư từ trong việc tạo nên giá trị biểu cảm, tổ chức kết cấu lời thơ và thể hiện tập quán ứng

xử, phương châm hội thoại trong văn bản ca dao của người Nghệ Tĩnh

Trang 34

Chương 2

SỰ PHÂN BỐ CỦA HƯ TỪ TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

2.1 Sự phân bố của phụ từ trong ca dao Nghệ Tĩnh

2.1.1 Kết quả thống kê phụ từ

Thống kê hai tập kho tàng ca dao xứ Nghệ (tập 1 và tập 2) do Ninh Viết

Giao chủ biên, chúng tôi thu được kết quả sau:

14831298

Định từ chỉ lượng

584454

Định từ tạo ý nghĩa số

126189442934

401701373148

PT chỉ thời gian 705

18

19

KhôngNỏ

595132

Phó từ phủ định 1173

Trang 35

Không nhẽ

Nỏ lẽChẳng lẽ

Không lẽ

Lẽ nào

25316731511221130

31

32

33

ChỉCó

Có lẽ

Ắt là

1516431

Phó từ khẳng định

2420076

Phó từ cầu khiến

Bỗng dưng

121

Phó từ chỉ diễn biến bất ngờ của hành động

447

Phó từ chỉ mức độ

315378

Phó từ chỉ sự thống nhất, tiếp diễn tương tự của hành động, trạng thái

396

Trang 36

47

RồiXong

1171

Phó từ kết thúc hành động

9710711222

Phó từ chỉ kết quả

896211063139862183512107

Phó từ chỉ hướng

2818

Phó từ chỉ ý nghĩa cùng chung hành động, trạng thái

136130

Phó từ chỉ sự tiếp diễn của hành động

95

71 Lấy 85 Phó từ chỉ hành

động tự mình

85

Trang 37

Mỗi tạo ý nghĩa số ít, tương đương với một nhưng lại chỉ sự lặp đi lặp

lại của hành động theo thời gian:

Mỗi ngày một chục bị gon

Nuôi chồng thì được, nuôi con nhọc nhằn

(111- tr.155- T1)

Có khi chính ý nghĩa số ít đó lại tạo nên sự phân ly, cắt xẻ, rời rạc:

Mỗi người, mỗi nước, mỗi nơi

Gặp nhau ta muốn ở đời với nhau

(2188- tr.484- T1)

+ Từng

Tương đương với mỗi, chỉ số ít nhưng cho thấy sự lặp lại của hành

động trên một quãng thời gian nhất định:

Ai ơi công việc nhà nông

Mưa mưa nắng nắng ta mong từng ngày

(69- tr.146- T1)

Trang 38

Từng còn cho ý nghĩa nhiều vô hạn mà mỗi, một không thể chuyền tải

(18- tr.132- T1)

+ Mấy

Biểu thị một số lượng nào đó không rõ Có thể là rất nhiều (tương

đương với bao nhiêu):

Trên trời biết mấy cái sao

Dưới đất biết có là bao nóc nhà

Trang 39

Nhóm 2: Định từ tạo ý nghĩa số

+ Những

Tạo ý nghĩa số nhiều:

Dang tay hứng nước mưa trời

Sao anh chẳng nhớ những lời khi xưa

(115- tr.112- T2) Những còn cho ý nghĩa rất nhiều nhằm đối lặp với cái ít ỏi, cô đơn, bé

nhỏ của con người:

Bơ vơ góc bể chân trời

Những nơi thiên hạ nào người tri âm

(154- tr.239- T1)

+ Các

Chỉ số nhiều nhưng khác với những ở chỗ các chỉ ý nghĩa toàn bộ của đối tượng được đề cập tới, còn những đứng trước danh từ để chỉ số đông:

Cau tươi thầy dặn các hàng

Cau khô ba thúng trầu vàng ba nong

(2-tr.139- T2)

+ Một

Đứng trước danh từ tạo ý nghĩa số ít:

Một sông đôi chiếc thuyền kề

Chiếc ra Hà Nội, chiếc về Nghệ An

(11- tr 130- T1) Một tạo ý nghĩa toàn bộ, toàn khối của đối tượng được đề cập đến:

Lam Cầu có núi Thất Tinh

Một hàng bảy ngọn như hình ngôi sao

(36- tr.138- T1)

Trang 40

Một đi thành cặp sóng đôi với các từ chỉ số lượng: trăm, hai để tạo sự

đối lập số ít và số nhiều:

Trăm hoa đua nở tháng mười

Chỉ một hoa riềng đua nở tháng hai

(238- tr.133- T2)

Có khi một đi kèm với cả danh từ, tính từ để chỉ sự tăng tiến:

Lấy Tây vừa được chín tháng mười ngày

Quan sai tàu chạy một ngày một xa

(232- tr.238-T2)

2.1.2.2 Ngữ nghĩa của phụ từ đứng trước vị từ

Nhóm 1: Phó từ tiếp diễn

+ Cứ

Chỉ sự tiếp diễn tương tự của hành động trạng thái:

Ở đâu cũng giàu có em ơi

Lấy ai thì lấy răng cứ ngồi vân vi

(129- tr.158-T1) Nét nghĩa chính của cứ là biểu thị ý nghĩa khẳng định về hành động,

trạng thái nhất định là như thế, bất chấp mọi điều kiện:

Cứ đường chợ Vẹo mà lên Chợ Dinh mà xuống chợ Lèn mà sang

(156- tr.164- T1)

+ Còn

Nét nghĩa chính của còn là chỉ sự chưa kết thúc, chưa xong của hành

động, trạng thái:

Ai ơi có biết cho không

Chăn loan còn đợi gối huê phong còn chờ

(93- tr.218- T1)

Ngày đăng: 18/12/2013, 21:39

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban và Lù Thị Hồng Nhâm (1999), “Cặp phụ từ và cặp đại từ hô ứng với các kiểu quan hệ giữa hai vế câu”, Ngôn ngữ, (số 8), tr.9-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cặp phụ từ và cặp đại từ hô ứng với các kiểu quan hệ giữa hai vế câu”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban và Lù Thị Hồng Nhâm
Năm: 1999
2. Diệp Quang Ban (2003), “Phân biệt ba bình diện văn bản, giao tiếp, biểu hiện trong ngữ pháp câu”, Ngôn ngữ, (số 7), tr.11-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân biệt ba bình diện văn bản, giao tiếp, biểu hiện trong ngữ pháp câu”, "Ngôn ngữ
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2003
3. Diệp Quang Ban (2003), Giao tiếp văn bản- mạch lạc liên kết đoạn văn, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giao tiếp văn bản- mạch lạc liên kết đoạn văn
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Khoa học Xã hội
Năm: 2003
4. Diệp Quang Ban (2005), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2005
5. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên) (1999), Từ điển từ địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hoá Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển từ địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hoá Thông tin
Năm: 1999
6. Nguyễn Nhã Bản (2001), bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
7. Nguyễn Thị Bé (2005), Hàm ngôn trong lời thoại nhân vật, Luận văn tốt nghiệp đại học, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hàm ngôn trong lời thoại nhân vật
Tác giả: Nguyễn Thị Bé
Năm: 2005
8. Lê Biên (1999), Từ loại tiếng Việt hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Lê Biên
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
9. Hoàng Trọng Canh (2009), Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ- văn hoá, Nxb Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ địa phương Nghệ Tĩnh về một khía cạnh ngôn ngữ- văn hoá
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2009
10. Ngô Văn Cảnh (2004), Đặc trưng hình thức của các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh, Luận án tiến sĩ ngữ văn, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng hình thức của các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ngô Văn Cảnh
Năm: 2004
11. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2001
12. Phan Mậu Cảnh (2002), Ngôn ngữ học văn bản, Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học văn bản
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2002
13. Phan Mậu Cảnh (2008), Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý thuyết và thực hành văn bản tiếng Việt
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2008
14. Nguyễn Tài Cẩn (1996), Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1996
16. Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo (1992), Tiếng Việt lớp 12, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt lớp 12
Tác giả: Đỗ Hữu Châu, Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
17. Đỗ Hữu Châu (2001), Đại cương ngôn ngữ học, tập II, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương ngôn ngữ học, tập II
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2001
18. Đỗ Hữu Châu (2007), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2007
19. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), Ninh Viết Giao (1962), Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập II, Viện sử học Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), Ninh Viết Giao
Năm: 1962
20. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), Ninh Viết Giao (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập I (thượng), Nxb Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1963
21. Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), Ninh Viết Giao (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập I (hạ), Nxb Khoa học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi (chủ biên), Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Khoa học
Năm: 1963

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Qua bảng thống kê chúng tôi thấy số lượng hư từ được dùng trong CDNT nhiều hơn hẳn so với CDVN (99 hư từ trên 600 câu) - Hư từ trong ca dao nghệ tĩnh
ua bảng thống kê chúng tôi thấy số lượng hư từ được dùng trong CDNT nhiều hơn hẳn so với CDVN (99 hư từ trên 600 câu) (Trang 142)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w