Đặc trưng giao tiếp ngôn từ của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu kho tàng ca dao xứ Nghệ, ca dao Nghệ Tĩnh, hát phường vải, hát giặm Nghệ Tĩnh và kho tàng vè xứ Nghệ)
Trang 1Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Như mọi người đều biết, ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng
nhất của con người và là phương tiện, công cụ biểu đạt tư duy Không phải cái gì khác, ngôn ngữ là phương tiện truyền đạt và tàng trữ thông tin từ thế hệ này sang thế
hệ khác
1.2 Giao tiếp là chức năng quan trọng nhất, chức năng số một của ngôn ngữ
Hay nói đúng hơn, ngôn ngữ ra đời để thỏa mãn nhu cầu đòi hỏi bức xúc của sự giao tiếp giữa người với nhau Điều này đã được các nhà nghiên cứu lý giải và chứng minh
1.3 Nghệ Tĩnh hay xứ Nghệ là vùng đất biên viễn, viễn trấn, đất cổ nước non
nhà Đất nước Việt Nam đã xảy ra bao nhiêu thăng trầm thì đất Nghệ cũng xảy ra chừng đó biến cố Xét về mặt ngôn ngữ học, Nghệ Tĩnh là khu vực trầm tích, còn bảo giữ, chứa đựng những nét cổ xét từ phương diện ngữ âm và từ vựng Điều này đã được các nhà nghiên cứu khẳng định Chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu “Đặc trưng giao tiếp ngôn từ của người Nghệ Tĩnh” cũng vì lí do vừa nêu
2 Mục đích nghiên cứu
2.1 Qua việc khảo sát, nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ trong giao tiếp của
người Nghệ Tĩnh, luận án cố gắng chỉ ra đặc điểm, đặc thù xét về mặt ngôn ngữ của cộng đồng cư dân một khu vực Tiếng Nghệ thuộc phương ngữ Bắc Trung Bộ
2.2 Trong những giới hạn cho phép, luận án cũng hướng tới xem xét, tìm hiểu
mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa - tìm hiểu cái biểu đạt văn hóa khu vực, vùng qua phương tiện ngôn ngữ
3 Phương pháp nghiên cứu và xử lý tư liệu
3.1 Luận án sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu: điều tra qua văn
bản, miêu tả, thống kê định lượng, so sánh - đối chiếu số liệu và tư liệu để lí giải các vấn đề có liên quan, đưa ra những nhận xét, đánh giá và kết luận theo các mục đích nghiên cứu đã được xác định
3.2 Luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp phân tích - tổng hợp, chủ yếu
là phương pháp phân tích ngôn ngữ
3.3 Người viết sử dụng tổng hợp cách thức sưu tầm để tập hợp (đến mức tối đa)
các tư liệu hiện có Hệ thống các tư liệu sẽ được người viết xử lí, triển khai trong từng
Trang 2chương, nội dung cụ thể của luận án Tư liệu của luận án được khảo sát qua các tác phẩm: HPV, HGNT, CDNT, KTVXN, KTCDXN, song tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà trong từng chương, phần có thể sử dụng tư liệu của tác phầm này mà không sử dụng tư liệu của tác phẩm kia Tư liệu chúng tôi điều tra là ngôn ngữ viết Ngôn ngữ viết phân biệt với ngôn ngữ nói bởi những tiêu chí khác nhau
3.4 Trong quá trình sưu tầm, điều tra tư liệu, chúng tôi luôn sử dụng kết hợp
các phương pháp, cách nhìn vừa đồng đại vừa lịch đại, trong đó nghiên cứu theo hướng đồng đại là chủ yếu
4 ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
4.1 Hiện tại, đã có những công trình nghiên cứu cả từ phía lí thuyết cũng như
vấn đề thực tiễn của giao tiếp ở đây chúng tôi muốn qua việc khảo sát tư liệu của việc giao tiếp để hiểu thêm cách sử dụng ngôn từ ở một khu vực, một vùng cụ thể - Nghệ Tĩnh
4.2 Mô tả những đặc trưng sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp của người Nghệ
Tĩnh có thể hiểu sâu hơn, làm rõ hơn bản sắc văn hóa của cư dân một khu vực qua ngôn ngữ
5 Lịch sử vấn đề
5.1 Vấn đề giao tiếp hay lí thuyết giao tiếp đã được F de Saussure nêu ra từ rất
lâu Tiếp đó, hàng loạt tác giả phương Tây đã xem xét vấn đề này với những phát hiện mới, công bố nhiều tác phẩm có giá trị ở Việt Nam, các tác giả Cao Xuân Hạo, Đỗ Hữu Châu, Diệp Quang Ban,… đã quan tâm thỏa đáng, có đóng góp thật sự cả về mặt
lý thuyết lẫn thực tiễn của vấn đề giao tiếp
5.2 ở Việt Nam, liên quan đến vấn đề địa phương học mà cụ thể là ngôn ngữ
đã có những công trình có hướng tiếp cận khác nhau; hoặc từ phương diện ngữ âm hoặc từ phương diện từ vựng học trên các địa bàn khác nhau: Võ Xuân Trang khảo sát ngữ âm khu vực Bình Trị Thiên, Trần Thị Ngọc Lang nghiên cứu từ vựng - ngữ nghĩa
đồng bằng Nam Bộ Ngoài ra còn có hàng loạt công trình nghiên cứu địa danh ở những vùng khác nhau: Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Trị, Đắc Lắc, Nghệ An Tại khu vực Nghệ Tĩnh, có nhiều công trình khoa học, luận án, luận văn, những bài báo,… viết về ngữ âm, từ vựng, đặc trưng hình thức thơ ca dân gian, địa danh Luận án này tiếp cận theo hướng nghiên cứu đặc trưng giao tiếp ngôn từ của người Nghệ Tĩnh trên dẫn liệu thơ ca dân gian địa phương
Trang 36 Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục, luận án triển khai theo ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Vốn từ ngữ và khả năng sử dụng chúng trong giao tiếp của người
Nghệ Tĩnh
Chương 3: Một số đặc điểm tổ chức bài - văn bản Hát phường vải, Hát giặm
Nghệ Tĩnh thể hiện đặc trưng giao tiếp của người Nghệ
Chương 4: Văn hóa Nghệ Tĩnh biểu hiện qua giao tiếp
Trang 4Chương 1 Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tμi
1.1 Tiểu dẫn
1.1.1 Thuật ngữ giao tiếp (Communication) đã được sử dụng rất rộng rãi trong
ngôn ngữ học Một mặt, thuật ngữ này làm rõ bản chất xã hội của ngôn ngữ và mặt khác, đây là thuật ngữ nhằm chỉ ra những đặc trưng vốn có trong ngôn ngữ học
1.1.2 Xét về công lao, phải kể đến F de Saussure - người đã lí giải và chỉ ra
khá tường minh kể cả nội hàm và ngoại diên của thuật ngữ giao tiếp Cũng như nhiều người đã nhận xét ông là cha đẻ của ngôn ngữ học hiện đại Nội dung của sự giao tiếp
được diễn đạt theo nhiều kiểu loại khác nhau, liên quan đến ngữ nghĩa, cảnh huống,
điều kiện giao tiếp Đó là chưa nói đến sự khác nhau của từng ngôn ngữ, vùng, khu vực cụ thể Luận án này nhằm chỉ ra nét khác biệt trong giao tiếp của một khu vực qua phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ ở đây, có thể là vốn từ ngữ, cấu trúc hội thoại, cách sử dụng các đơn vị, sự hành chức của ngôn từ trong quá trình giao tiếp
1.2 Một số vấn đề xung quanh lý thuyết giao tiếp
Theo cách diễn đạt của V.B Kasevich: “Sự trao đổi kinh nghiệm cá nhân, sự phối hợp giữa các hành động có thể thực hiện được là nhờ ngôn ngữ Nó chính là cái công cụ cho phép “rót” các kết quả của hoạt động tư duy cá nhân vào các “khuôn” có giá trị chung” Giao tiếp được hoàn thành trong hoạt động giao tiếp của hai người hoặc trên hai người trong bối cảnh nhất định và có cùng ngôn ngữ thống nhất Mô hình giao tiếp được F de Saussure nêu ra: người phát, thông điệp, người nhận Theo Diệp Quang Ban, chức năng của các yếu tố ngôn ngữ lần đầu tiên đã được K Buhler xác định gồm có:
- Chức năng biểu hiện (representation),
- Chức năng hiệu lệnh (appel),
- Chức năng biểu cảm (expression)
Khi các thông điệp hoàn thành được các chức năng của mình thì phải cần có: ngữ cảnh (context), mã (code) Quá trình giao tiếp phải có ngữ cảnh, tình huống giao tiếp Ngữ cảnh phải được người nhận biết rằng các ngôn từ trong thông điệp Mã là
đối với người kí mã và giải mã, nghĩa là danh sách các kí hiệu và cách sử dụng kí hiệu
Trang 5đó Và chính tiếp xúc (contact) là đường kênh vật lí và mốc quan hệ tâm lí giữa người phát ngôn và người nhận, hay nói khác đi là sự thiết lập và duy trì sự giao tiếp Các nhân tố giao tiếp, theo Đỗ Hữu Châu, bao gồm: ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn Ngữ cảnh là những nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài diễn ngôn, bao gồm: nhân vật giao tiếp, (nhân vật giao tiếp là những người tham gia vào cuộc giao tiếp bằng ngôn ngữ), vai giao tiếp - vai phát ra diễn ngôn là vai nói (viết),
và vai tiếp nhận diễn ngôn tức là nghe (đọc) Trong cuộc giao tiếp nói, hai vai nói và nghe thường luân chuyển với nhau Quan hệ liên cá nhân chi phối cả tiến trình giao tiếp, cả nội dung và hình thức của diễn ngôn Theo Đỗ Hữu Châu, quan hệ liên cá nhân giữa các nhân vật giao tiếp có thể xét theo hai trục: trục tung là trục vị thế xã hội, còn gọi là trục quyền uy, trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách còn gọi là trục thân cận Ngoài ra, Đỗ Hữu Châu cũng lí giải các thuật ngữ: hiện thực ngoài diễn ngôn, hoàn cảnh giao tiếp, thoại trường và tác giả đã chỉ ra các chức năng của giao tiếp: thông tin, tạo lập quan hệ, biểu hiện, giải trí, hành động Các tác giả như A.N
1.3 Ngôn ngữ và văn hóa có quan hệ hữu cơ Ngôn ngữ là thành tố và là thành
tố quan trọng nhất của văn hóa Ngôn ngữ biểu hiện văn hóa Qua ngôn ngữ, chúng ta
có thể hiểu được “sự phân cách thế giới”, “bức tranh thế giới”, “thế giới ngây thơ” trong các dân tộc khác nhau và ngay trong cùng một dân tộc Ngôn ngữ là địa chỉ của
văn hóa
1.4 Xét về mặt loại hình học (Linguistic Tylology) thì tiếng Việt cùng với
tiếng Hán, tiếng Thái, thuộc loại hình các ngôn ngữ đơn lập Về mặt nguồn gốc, tiếng Việt thuộc ngữ hệ Nam Á, đại chi Môn - Khmer, tiểu chi Việt - Mường
1.5 “Nghệ Tĩnh được các triều vua Đại Việt coi như phên dậu của Tổ quốc
Nghệ Tĩnh không chỉ là bức bình phong ngăn chặn các đạo quân xâm lược đến từ phương Nam, Nghệ Tĩnh còn là kho dự trữ chiến lược về nhân lực, vật lực, tài lực trong cuộc đấu tranh chống các đạo quân xâm lược đến từ phương Bắc” Nghệ Tĩnh thuộc phương ngữ Bắc Trung bộ Phương ngữ này còn bảo giữ nhiều nét cổ cả từ phương diện ngữ âm lẫn từ vựng ngữ Nếu xét sự đối ứng ngữ âm trong thành phần của cấu trúc âm tiết : thanh điệu, phụ âm đầu và vần của phương ngữ Nghệ Tĩnh với Tiếng Việt văn hóa thì bức tranh diễn ra rất phức tạp Điều này đã được một số tác giả
Trang 6nói đến, Tại Nghệ Tĩnh còn tồn tại một số từ cổ : tre (pheo), cộ (xe), lịp (nón), lói (pháo), tấp trôộc (ăn hỏi),
1.6 Nghệ Tĩnh có vốn thơ ca dân gian phong phú: vè, hát giặm, hát ví, ca dao,
Trong đó hát ví và hát giặm được coi như “đặc sản” Chúng tôi lựa chọn kho tàng ca dao dân gian Nghệ Tĩnh để khảo sát trên văn bản viết và tùy thuộc vào mục đích nghiên cứu mà từng chương, phần có thể khảo cứu tác phẩm này mà không sử dụng tác phẩm kia
1.7 Tiểu kết
1.7.1 Giao tiếp là chức năng quan trọng nhất của ngôn ngữ Ngôn ngữ ra đời
do sự đòi hỏi của sự truyền đạt, chuyển tải thông tin giữa người với người Quá trình giao tiếp, con người truyền đạt cho nhau những tư tưởng, tình cảm, cảm xúc Chính nhờ thế con người có thể hiểu nhau hơn và giúp nhau hoàn thiện các nhiệm vụ trong cuộc sống hiện tại của mình Những thông tin của ngôn ngữ phản ánh không chỉ là những thông tin biểu thị tình cảm của từng cá nhân riêng lẻ mà còn có cả những thông tin mang tính xã hội Ngôn ngữ tham gia như phương tiện giao tiếp trong cả độc thoại lẫn hội thoại “Có thể nói rằng việc giao tiếp bằng một ngôn ngữ cụ thể chính là một
“sự trao đổi văn bản”
1.7.2 Nghệ - Tĩnh là mảnh đất đã sản sinh ra kho tàng văn học dân gian đồ sộ
với nhiều thể loại như truỵên kể dân gian, câu đố, tục ngữ, thành ngữ và các thể loại thơ ca dân gian Trong đó, phải kể đến thể loại hát giặm, hát ví phường vải,vè và ca dao Các thể loại này có thể dùng để hát, dùng để đọc hoặc ngâm Phần lời ca được tách khỏi giai điệu âm nhạc để tồn tại độc lập Hát giặm Nghệ Tĩnh diễn ra quanh năm, khu biệt với hát giặm Hà Nam vốn là bài ca tụng các vị thần, được biểu diễn trong dịp tế lễ đầu xuân Hơn thế, hát giặm Nghệ Tĩnh có hát giặm vè và hát giặm nam nữ Hát phường vải (còn được gọi là hát ví phường vải) là thể hát ví: ví phường cấy, ví phường gặt, ví phường nón, ví phường đan, ví phường củi, ví phường buôn, Trong đó, hát ví phường vải có tuổi đời hàng trăm năm, thủ tục chặt chẽ, ổn định, có
sự tham gia của nhiều lớp người Ca dao Nghệ Tĩnh có những nét phổ quát của ca dao người Việt nhưng cũng có các đặc trưng riêng
1.7.3 Tiếng Nghệ hay “giọng” Nghệ đã làm nên những nét khu biệt so với
tiếng Thanh, tiếng Quảng, tiếng Huế, Theo các nhà nghiên cứu, hệ thống thanh điệu
Trang 7ở Nghệ Tĩnh có bao nhiêu thanh vẫn là câu hỏi chưa có lời giải đáp cuối cùng, hệ thống phụ âm đầu còn nhiều âm cổ, đặc biệt tồn tại hai tổ hợp phụ âm /tl/ và /dz/, phần vần cũng có sự đối ứng rất đa dạng với tiếng Việt văn hóa Xét về mặt từ vựng, mảnh đất này còn nhiều từ cổ: tấp trôộc (ăn hỏi), lịp (nón), cộ (xe), pheo (tre), mấn (váy), lói (pháo),
1.7.4 Xét về nguyên tắc, hoạt động ngôn ngữ cũng như hoạt động văn hóa là
một hoạt động tinh thần, cả hai đều giúp cho xã hội phát triển Về mặt thuật ngữ, khái niệm văn hóa rộng hơn ngôn ngữ và ngôn ngữ chỉ là thành tố của văn hóa Ngôn ngữ
là thành tố quan trọng nhất của văn hóa, ngôn ngữ biểu đạt văn hóa Mối quan hệ này
đã được các nhà nghiên cứu đề cập từ cuối thế kỉ XIX do nhà ngôn ngữ Đức
Humboldt Theo Humboldt, “tinh thần dân tộc” sáng tạo ra ngôn ngữ Hai tác giả nổi tiếng người Mỹ Sapir - Wholf đã đưa ra giả thuyết “tính tương đối ngôn ngữ”
(linguistic relativity) Bức tranh ngữ nghĩa - văn hóa của từng cộng đồng người, tức là
“mô hình thế giới”, “bức tranh thế giới”, “sự phân cắt thế giới” được phân chia khác nhau giữa các dân tộc và ngay trong cùng một cộng đồng người
Trang 8Chương 2 Vốn từ ngữ vμ việc sử dụng chúng trong giao tiếp
của người Nghệ Tĩnh
2.1 Tiểu dẫn
Trong chương này, ở một chừng mực nhất định trên tư liệu hiện có, người viết
cố gắng khảo sát vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh được thể hiện trong giao tiếp
2.2 Từ và vốn từ
2.2.1 Một số vấn đề về từ ngữ
Đến nay đã có hàng trăm định nghĩa khác nhau về từ LV Sherba: “Trong thực
tế một từ ngữ âm nào đó có bao nhiêu nghĩa thì chúng ta có bấy nhiêu từ”
- Nguyễn Kim Thản: “Câu là đơn vị của lời nói, từ là đơn vị cơ bản của ngôn ngữ”
- Các định nghĩa cuả Nguyễn Tài Cẩn, Nguyễn Văn Tu, Đỗ Hữu Châu và của nhiều nhà nghiên cứu nước ngoài khác
2.2.2 Hình vị - đơn vị cơ bản của ngôn ngữ
Dù theo cách tiếp cận nào cũng phải thừa nhận hình vị là đơn vị cơ bản, đơn
vị cấu tạo từ Mối quan hệ giữa mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của hình vị tùy thuộc vào
đặc trưng từng loại hình của các ngôn ngữ Có thể có hình vị một nghĩa và hình vị nhiều nghĩa
Hình vị có thể chia làm ba loại : hình vị thực, hình vị hư và hình vị hệ thống
2.2.3 Cấu tạo từ
Từ tiếng Việt được cấu tạo nên bởi hai phương thức chủ yếu: phương thức láy
và phương thức ghép Tất cả các từ tiếng Việt đều có cấu tạo đơn âm hoặc đa âm tiết:
từ đơn âm tiết hoặc đa âm tiết
Từ láy là từ gồm hai hình vị láy âm với nhau, trong đó có một hình vị có thể tách ra làm thành từ đơn Từ ghép là từ gồm hai hình vị trở lên, có khả năng tách ra
đứng độc lập
Từ là đơn vị kí hiệu rõ nhất, đơn vị cơ bản trong hệ thống ngôn ngữ Từ khác hẳn với các đơn vị thuộc những cấp độ khác nhau: âm vị, hình vị, câu, văn bản
Trang 92.3 Vấn đề từ địa phương của tiếng Việt
2.3.1 Chúng tôi ủng hộ cách hiểu về từ địa phương của Nguyễn Nhã Bản trong
Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh: “Từ địa phương là vốn từ cư trú ở một địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hoá hoặc các địa phương khác về ngữ
âm và ngữ nghĩa”
2.3.2 Vốn từ địa phương trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
2.3.2.1 Từ đơn tiết trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Từ tiếng Việt xét về mặt cấu tạo chủ yếu từ hình vị cơ sở để cấu tạo từ bằng hai phương thức: phương thức láy (trên quan hệ ngữ âm) và phương thức ghép (trên quan
hệ ngữ nghĩa)
Trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh, tần số xuất hiện của vốn từ đa âm tiết là rất cao Những từ có vỏ ngữ âm càng ngắn, tần số xuất hiện càng cao thì sự đa nghĩa càng tăng
Những từ xuất hiện cao trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh (từ 3 ngữ cảnh trở lên) đã được chúng tôi khảo sát Ví dụ: ả (26 lần), bay (45), bẻ (34), chi (698), chộ (191), choa (45), coi (90), cội (41), cơn (78), cức (35), dạm (20), đàng (39), đội (53),
du (21), giừ (314), ló (187), mần (120), lưa (48), mô (280), mụ (55), nác (21), ná (12), nậy (59), ngái (40), ngài (46), ngong (34), nhủ (33), ni (242), nỏ (408), nường (39), o (130), phô (19), răng (111), rành (34), rầy (154), ri (20), rú (100), rứa (182), tau (30), tày (20), thậm (54), tra (24), trộ (39), tru (64), trù (41), trự (54), trửa (37), vô (293), van (61), vưa (12), xáp (10)
2.3.2.2 Từ đa tiết trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Theo kết quả thống kê của chúng tôi, từ đơn tiết có 615, từ đa tiết có 761 Từ đa
âm tiết được chia ra hai kiểu loại: từ đa âm tiết ghép và từ đa âm tiết láy Trong 761 từ
đa âm tiết có 124 từ đa âm tiết láy
2.3.2.3 Vốn từ trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh xét từ phương diện
từ loại
Thuật ngữ từ loại (parts of speech) có chung cho mọi ngôn ngữ Các từ này (thuộc một từ loại) có chung đặc điểm từ vựng - ngữ pháp cơ bản ở những ngôn ngữ khác nhau, từ loại hoàn toàn không như nhau Rõ ràng từ loại trong các ngôn ngữ đơn lập nói chung và tiếng Việt nói riêng khác với những ngôn ngữ biến thái Âu châu Đó
Trang 10là chưa nói đến hiện tượng chuyển loại: từ có thể thay đổi nghĩa và cũng đồng thời thay đổi đặc điểm ngữ pháp Trong luận án này, chúng tôi ủng hộ cách phân loại từ loại của “Ngữ pháp tiếng Việt” Dĩ nhiên việc phân chia từ loại đang là vấn đề phức tạp giữa các nhà nghiên cứu Việt ngữ Qua thống kê của chúng tôi, vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh xét từ phương diện từ loại được thể hiện qua bảng sau:
Vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh xét từ phương diện từ loại:
2.3.2.4 Vốn từ trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh xét trong mối quan hệ
về âm thanh và ngữ nghĩa so với ngôn ngữ văn hóa
F de Sausure đã nêu ra mối quan hệ giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt của
kí hiệu ngôn ngữ Mối quan hệ giữa chúng hết sức chặt chẽ, không thể tách rời cái này khỏi cái kia và ngược lại ở phần này chúng tôi tiếp tục tìm hiểu mối quan hệ giữa “từ ngữ âm” và “từ từ vựng - ngữ nghĩa” mà ở chương 1đã đề cập đến Theo thống kê, vốn từ ngữ âm là 210/1376 và vốn từ ngữ nghĩa là 1166/1376
2.3.2.5 Việc sử dụng thành ngữ trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Thành ngữ là đơn vị tương đương với từ và có nghĩa biểu trưng, sắc thái hóa Thành ngữ không chỉ được quan tâm nghiên cứu trong ngôn ngữ học mà còn được các nhà nghiên cứu văn học, đặc biệt là văn học dân gian Chúng tôi khảo sát và tìm hiểu
cách sử dụng thành ngữ trong giao tiếp Ví dụ: Xán rá đá niêu, ăn no béo mỡ, Bóc tranh lòi tre, Đó rách ngáng trộ, mắt sâu lỗ đáo, béo bạo như tru, mặt buồn rười rượi như khoai mới trồng,
Trang 112.3.2.6 Vài nét về hiện tượng chơi chữ trong Hát phường vải và Hát giặm Nghệ Tĩnh
Trong các hoạt văn hóa dân gian xứ Nghệ, hiện tượng chơi chữ xuất hiện khá phong phú : chơi chữ bằng nói lái, chơi chữ bằng dẫn ngữ, chơi chữ cùng trường nghĩa, chơi chữ đồng âm, chơi chữ đồng nghĩa, chơi chữ trái nghĩa,
2.3.2.7 Sử dụng các địa danh trong giao tiếp của người Nghệ Tĩnh
Địa danh là đơn vị tương đương với từ Tần số xuất hiện của các địa danh trong HPV và HGNT là rất cao Có thể phân chia thành các loại địa danh như: địa danh chỉ cácđối tượng tự nhiên và địa danh nhân tạo (phân theo đối tượng phản ánh); địa danh thuần Việt và địa danh Hán Việt (phân theo nguồn gốc),
2.4 Tiểu kết
Ngôn ngữ văn hóa là sự kết tinh tinh hoa từ các phương ngữ khác nhau Như vậy, phương ngữ đã làm đẹp thêm cho ngôn ngữ văn hóa từ các phương diện khác nhau như ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp và đặc biệt là ngữ âm, từ vựng
2.4.1 Vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh xét về mặt cấu tạo bao gồm từ đơn tiết và
từ đa tiết như từ vựng của ngôn ngữ văn hóa nói chung Từ đơn tiết hầu hết thuộc vốn
từ vựng cơ bản, tần số xuất hiện rất cao và có những từ thuộc vốn từ cổ như pheo (tre), gấu, gú (gạo), cộ (xe), mấn (váy), Từ đa tiết được cấu tạo bằng hai phương thức chủ yếu: phương thức ghép và phương thức láy Xét về số lượng, từ ghép hơn hẳn từ láy Người Nghệ đã sử dụng những cách láy mang tính biểu trưng, tạo hình rất rõ, chẳng hạn như láy đôi: lúng liếng, trập triềng, dấp dới, xấp xới, Phương thức ghép trong tiếng địa phương Nghệ Tĩnh cũng tạo ra từ ghép đẳng lập và từ ghép chính phụ, số lượng từ ghép đẳng lập rất nhiều so với từ ghép chính phụ
2.4.2 Xét về phương diện từ loại, vốn từ ngữ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh có
mặt đầy đủ ở các từ loại Xếp theo thứ tự là danh từ, động từ, tính từ, đại từ, Nếu quy xếp vào sự phân loại thì vốn từ tập trung ở thực từ và hư từ ít hơn Mặc dù phân bố trong nhóm các hư từ với số lượng ít nhưng có một số từ lại xuất hiện với tần số cao
2.4.3 Xét từ mối quan hệ giữa từ ngữ âm và từ vựng - ngữ nghĩa Từ ngữ âm là
vốn từ có sự đối ứng về ngữ âm với vốn từ vựng trong ngôn ngữ văn hóa Các từ này
có sự đối ứng ngữ âm về thanh điệu, phụ âm đầu và phần vần Từ vựng ngữ nghĩa đã mang đến bản sắc riêng của từ ngữ ở một khu vực Ví dụ như: trẻo (khôn ranh), tơi,
Trang 12nhút, mần, Bên cạnh đó, có một số từ được gọi là từ có sự giao thoa về nghĩa như bù,
cụ, mự,
2.4.4 Vốn thành ngữ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh cũng có những đặc trưng
riêng chẳng những về cấu trúc mà cả ngữ nghĩa Ví dụ: đó rách ngáng trộ, mắt sâu lỗ
đáo, kẻ tra con nít, thành ngữ so sánh: béo bạo như tru, tóm như dam, mặt như mèo ngao, mồm như ang,
2.4.5 Địa danh là đơn vị tương đương với từ và địa danh là từ Địa danh xuất
hiện trong thơ ca dân gian xứ Nghệ cũng có đặc trưng khác biệt chẳng những về cấu trúc mà cả ngữ nghĩa
2.4.6 Chơi chữ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa, khai thác tiềm năng của các
phương tiện ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp để tạo ra những thông tin mới, bất ngờ Qua tư liệu hiện có trên các văn bản thơ ca dân gian, người Nghệ Tĩnh chơi chữ bằng các biện pháp : chơi chữ chiết tự và sử dụng từ Hán -Việt, chơi chữ nói lái, dẫn ngữ, chơi chữ cùng trường nghĩa, chơi chữ đồng âm, chơi chữ đồng nghĩa, chơi chữ trái nghĩa
Trang 13Chương 3 Một số đặc điểm tổ chức bμi - văn bản Hát phường vải, Hát giặm Nghệ Tĩnh thể hiện đặc trưng giao tiếp
của người Nghệ tĩnh 3.1 Tiểu dẫn
ở chương này, bằng những dân liệu ngôn ngữ, chúng tôi cố gắng làm rõ một số
đặc điểm cấu trúc trong việc đặt tiêu đề, ngữ nghĩa các tiêu đề, trong mẫu câu, các loại cấu trúc bài thơ, của HPV và HGNT
3.2 Một số đặc điểm về tổ chức bài - văn bản thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh
Mỗi bài ca dao, hát ví, hát giặm là một văn bản Mỗi bài bao gồm các thành tố (đơn vị) hợp thành Đơn vị nhỏ nhất của bài, xét ở góc độ giao tiếp, là lời (tương
đương với “câu” trong văn xuôi, “dòng thơ” trong bài thơ Nhiều lời tạo thành các
đoạn (mỗi đoạn tương đương với khúc, khổ, với phần trong bài) Nhiều đoạn hợp thành “bài”
3.2.1 Nhận xét
3.2.2 Tiêu đề trong các văn bản thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh
Do những đặc trưng riêng về thể thơ mà HPV, HGNT, có sự khu biệt về tiêu
đề Bên trong những tiêu đề lớn bao hàm nhiều tiêu đề nhỏ, tạo thành một hệ thống lớn bao gồm những hệ thống con khác nhau
3.2.2.1 Tiêu đề trong Hát phường vải
Quy trình có cuộc Hát phường vải có ba chặng
Chặng 1: 1 Hát dạo, 2 Hát chào hát mừng, 3 Hát hỏi
Chặng 2: Hát đố, hát đối
Chặng 3: 1 Hát mời, 2 Hát xe kết, 3 Hát tiễn
Mỗi tiêu đề như thế có gắn liền với nội dung của từng kiểu loại văn bản cụ thể,
có một ngữ nghĩa khác nhau
3.2.2.2 Tiêu đề trong Kho tàng ca dao xứ Nghệ
KTCDXN bao gồm 7 chương với 7 tiêu đề gồm: Đặc điểm về địa phương xứ Nghệ; Tình yêu nam nữ; Quan hệ gia đình và hôn nhân; Cuộc sống trong xã hội nông