- Tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt được thể hiện rõ ở ngữ pháp, ngữ nghĩa của lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ.. Phương pháp phân tích - miêu tả Dựa vào
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ NGỌC
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP, NGỮ NGHĨA LỚP DANH TỪ TRONG CA DAO XỨ NGHỆ
VÀ DÂN CA NAM TRUNG BỘ
Chuyên ngành: NGÔN NGỮ HỌC
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:
TS TRƯƠNG THỊ DIỄM
Vinh - 2010
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi đã nhậnđược sự hướng dẫn tận tình chu đáo của GS, TS Đỗ Thị Kim Liên, TS.Trương ThịDiễm, cùng sự đóng góp quý báu của các thầy cô giáo bộ môn ngôn ngữ, khoa Ngữvăn, khoa sau Đại học trường Đại học Vinh, cũng như sự quan tâm động viên giúp đỡcủa gia đình, bạn bè, đồng nghiệp Nhân dịp này cho phép tôi được bày tỏ lòng biết
ơn sâu sắc đến quý thầy cô, bạn bè, đồng nghiệp và những người thân
Học viên Nguyễn Thị Ngọc
Trang 31.2 Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ là hai tuyển tập được sưu tầm,
tuyển chọn, ghi lại những nét sinh hoạt văn hoá, phản ánh tâm tư, tình cảm của con
người xứ Nghệ và con người Nam Trung bộ Đặc biệt, Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ còn được các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều như một kho lưu giữ vốn
từ địa phương, vốn địa danh mang đậm dấu ấn bản sắc văn hoá xứ Nghệ và NamTrung Bộ Đây là nguồn tư liệu quý giá góp phần giúp chúng tôi tìm hiểu thêm vềcon người xứ Nghệ và con người Nam Trung bộ
1.3 Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ đã được nhiều tác giả quan tâm
nghiên cứu Nhưng đó là những đánh giá hết sức khái quát, chưa có công trình nào đisâu nghiên cứu những biểu hiện cụ thể của từng lớp từ để hiểu và cảm nhận sâu sắchơn về văn hoá từng vùng miền
Vì những lí do trên, chúng tôi đi vào tìm hiểu: Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa
lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ.
2 Đối tượng và nhiệm vụ
2.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của chúng tôi là:
Trang 4Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa lớp danh từ thuộc Kho tàng ca dao xứ Nghệ An Tập 1, mảng tình yêu lứa đôi [tr.218 – tr.442] và Dân ca Nam Trung bộ - Tổng tập
-Văn học dân gian người Việt - Tập 16, Ca dao tình yêu lứa đôi
2.2 Nhiệm vụ
Đề tài hướng tới thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Thống kê, phân loại các nhóm danh từ trong 2 tập Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ Trên cơ sở đó, chúng tôi mô tả, làm rõ đặc trưng ngữ pháp, ngữ nghĩa
lớp danh từ đó
- Tìm hiểu những điểm tương đồng và khác biệt được thể hiện rõ ở ngữ pháp, ngữ
nghĩa của lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ.
- Bổ sung kết quả thống kê, đánh giá tư liệu cho việc hiểu thêm văn hoá, conngười xứ Nghệ và con người Nam Trung bộ
3 Lịch sử nghiên cứu
3.1 Lịch sử nghiên cứu Ca dao xứ Nghệ
Điểm lại những công trình nghiên cứu Ca dao xứ Nghệ, chúng tôi thấy tình
hình như sau:
Trước tiên, phải kể đến bài “Vị trí và đặc điểm của vùng văn học dân gian Nghệ Tĩnh” của PGS Hoàng Tiến Tựu 1 Ông đặt vấn đề: “Mỗi vùng, mỗi khu vực văn họcdân gian của dân tộc và đất nước đều có một vị trí quan trọng và một phong cách truyền
thống riêng của mình” Trong bài “Đất nước, con người xứ Nghệ qua Kho tàng ca dao
xứ Nghệ” (Tạp chí Văn hoá dân gian số 3-1997), Trương Xuân Tiếu viết: “Đất nước xứ
Nghệ thật là hùng vĩ, hữu tình, con người xứ Nghệ thật là thông minh, quả cảm Nhữngtên núi, tên sông, tên làng, tên xã và tên những dòng họ, những con người cụ thể ở xứNghệ đã bước vào trong những câu hò, điệu hát, bài ca góp phần tô thắm những nét sontruyền thống trong bản sắc văn hoá dân gian xứ Nghệ”
PGS Ninh Viết Giao là người có công sưu tầm, lựa chọn, phân loại hàng nghìn
câu a dao xứ Nghệ mà kết quả là “Kho tàng ca dao xứ Nghệ” (2 tập) do Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao chủ biên Tuy không trực tiếp nghiên cứu về các lớp từ trong Ca
1 In trong Thông báo khoa học số 1 - ĐH Vinh - 1983.
Trang 5dao xứ Nghệ nhưng tác giả đã có nhiều công trình nghiên cứu về văn học dân gian xứ
Nghệ Ngoài phần giới thiệu sơ lược về đặc điểm đất đai, khí hậu, hoàn cảnh lịch sửcủa cả xứ Nghệ cũng như sơ lược về nội dung của ca dao, PGS Ninh Viết Giao đãdành một số trang nhất định giới thiệu về ca dao tình yêu nam nữ, qua đó làm nổi bậttính cách, tình cảm, tâm hồn của con người xứ Nghệ
Khi đi vào nghiên cứu Ca dao xứ Nghệ, PGS Ninh Viết Giao đã nêu ra một
phương pháp luận: Xem ca dao – trong đó có ca dao của vùng Nghệ Tĩnh – là vốnchung của cả nước Ca dao các vùng dù có mang những đặc điểm riêng, sắc thái riêngvẫn thể hiện những đặc điểm chung, phổ biến của cả nước Đây là một phương pháp rất
quan trọng giúp chúng ta đi vào tìm hiểu những nét riêng của Ca dao xứ Nghệ, tìm hiểu
ngọn nguồn của từng bài ca dao
Ở phần 2 của bài nghiên cứu, PGS Ninh Viết Giao đã giới thiệu nội dung của
Ca dao xứ Nghệ qua các chủ đề, qua đó làm nổi bật tính cách, đời sống tình cảm của
con người xứ Nghệ Về bộ phận ca dao nói về tình yêu trai gái, tác giả viết: “Thể hiệntính cách, tình cảm của con người xứ Nghệ rõ rệt và đầy đủ là ở bộ phận nói về tìnhyêu trai gái, về hôn nhân gia đình Riêng tình yêu trai gái, ở đây ta thấy mọi phươngdiện cũng như mọi mức độ của tình yêu lứa đôi” [tr.59], “cũng như ca dao toàn quốc,với bộ phận này, ta bắt gặp lại những lời ướm hỏi tinh tế, những câu trao duyên tế nhị,những lời xe kết diết da, những câu thề nguyền gắn bó, những lời than thở, nhớ nhung,những câu trách móc ai oán, những niềm tủi nhục, những số phận đắng cay Ta cũngbắt gặp những mối tình éo le, như tình cũ, tình già, tình muộn, tình phụ, tình lầm, tìnhnghèo, tình chờ, tình chênh lệch, tình ép buộc, dở dang với mọi nỗi giận hờn, lo lắng,đau xót nhưng ấm tình đời, dào dạt sức sống Tất cả đều trong sáng lành mạnh vớiphong cách suy nghĩ có bản sắc riêng của người xứ Nghệ” [tr.60 - 61] Trong bàinghiên cứu này, PGS Ninh Viết Giao đã dùng phương pháp khảo sát thống kê, nhưthống kê số lượng câu “ra về”, “đôi ta” hoặc một số bài mở đầu bằng chữ “thương”
Nghiên cứu về hình thức nghệ thuật của Ca dao xứ Nghệ, PGS đồng ý với ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, nếu so sánh với ca dao ngoài Bắc thì Ca dao xứ Nghệ không được mượt mà, bay bướm Về ngôn ngữ của Ca dao xứ Nghệ, tác giả viết: “Những bài
ca dao ấy, ngôn ngữ giản dị mà tươi rói như đất mới cày, áo nâu non mới mặc, chứađầy nhựa sống [1, tr.80] Về tiếng địa phương trong ca dao, tác giả nhận xét: “Mà
Trang 6hình như trong các loại hình văn vần của kho tàng văn học dân gian xứ Nghệ, ca dao ít
từ địa phương, ít phương ngữ hơn cả Có chăng là những từ phổ biến dễ hiểu ”[tr.80]
Từ nhận xét của PGS thì có một nét riêng biệt của Ca dao xứ Nghệ là tính chất
“trí tuệ”, “chữ nghĩa” mang nhiều “điển tích” (tr.80) và một nét riêng biệt nữa của Ca dao xứ Nghệ là “trạng” “Trạng” ở đây thể hiện tính vui vẻ, thông minh, nhanh trí, dí
dỏm, nghịch ngợm của con người xứ Nghệ ” [tr.85]
Về hình thức đối trong thể lục bát và song thất lục bát xứ Nghệ, PGS nhận định:
“Có thể nói thêm về hình thức đối trong thể lục bát của Ca dao xứ Nghệ vì hình thức này
khá nhiều và cũng khá đa dạng, độc đáo, không chỉ đối ngẫu mà còn đối câu, đối bài”[tr.88]
Có thể nói xét về mặt hình thức nghệ thuật, tức là thi pháp của Ca dao xứ Nghệ,
PGS Ninh Viết Giao đã khảo sát được một số mặt và đã đưa ra một số nhận xét xác
đáng Những nhận xét ấy đã khái quát được những nét đặc trưng, riêng biệt của Ca dao xứ Nghệ Tuy nhiên, do đặc điểm và tính chất của một bài giới thiệu chung về Ca dao xứ Nghệ nên tác giả không đi sâu vào việc tìm hiểu nghiên cứu về thi pháp của Ca dao xứ Nghệ như ông tự nhận xét: " về hiện tượng gieo vần, về ngôn từ nhất là các từ
địa phương, về các dạng kết cấu, về thời gian và không gian nghệ thuật; sông núi,trăng sao, thuyền biển, mận đào, trúc mai, hoa lá, loan phượng, cây đa, mái đình, cáigiếng, con đường, cánh đồng, bướm hoa, miếng trầu, bát nước, con diều, chim thú nhưng bài viết của tôi đã khá dài xin để dịp khác ” [tr.89]
Bên cạnh đó, các bài “Bước đầu so sánh những sắc thái miền Trung qua bốn vùng dân ca: Thanh Hoá, Nghệ An, Bình Trị Thiên và Nam Trung Bộ” của Lê Văn
Hảo 1; bài “Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc” của Nguyễn
Phương Châm 2; bài “Ca dao tình yêu và tình cảnh con người ở Bình Trị Thiên” của
Trần Thuỳ Mai (Hội thảo khoa học Văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất) cũng lànhững công trình có giá trị về mảng đề tài này
1 Hội thảo khoa học Văn học dân gian miền Trung lần thứ nhất.
2 Tạp chí Văn hóa dân gian số 3 – 1997.
Trang 7Lê Văn Hảo đã khái quát về phong cách Nghệ Tĩnh: “Phong cách Nghệ Tĩnh cócái gì gân guốc, cứng cỏi, quyết liệt” [tr.24] Trần Thuỳ Mai thì cho rằng: “Nếu sosánh phong cách ca dao Bình Trị Thiên với ca dao Nam Trung bộ và Nghệ Tĩnh ta sẽthấy ca dao Bình Trị Thiên gần gũi với phong cách ca dao Nghệ Tĩnh hơn Nhưngphong cách Nghệ Tĩnh vẫn khác phong cách Bình Trị Thiên ở chỗ thiên về tính chânchất, chuộng diễn ý, mộc mạc” [tr.76].
So sánh với ca dao Nam Trung bộ, Trần Thuỳ Mai cho rằng: Ca dao Nghệ Tĩnhchuộng diễn ý nhưng cũng như ca dao miền Nam Trung bộ không có khuynh hướngchuộng hình ảnh âm điệu như ca dao ở Bình Trị Thiên” [tr.77]
Về ca dao tình yêu xứ Nghệ, Nguyễn Phương Châm nhận xét: “Ca dao tình yêu
xứ Nghệ ngoài cái chất lãng mạn vốn có của ca dao Việt Nam nó còn thực tế, gần gũivới cuộc sống đời thường, đôi khi táo bạo quyết liệt” [tr.13]
Về cách sử dụng địa danh, tác giả nhận xét: “Nhắc đến tên núi, tên sông nhưbao nơi khác nhưng ca dao xứ Nghệ thường dùng một cặp núi – sông tạo thành biểutượng cho quê hương mình” “Cách dùng một cặp địa danh núi – sông như thế đã trởthành một mô típ quen thuộc thường gặp trong ca dao xứ Nghệ” [tr.15]
Về không gian nghệ thuật, Nguyễn Phương Châm đã đưa ra nhận xét: “Khônggian nghệ thuật cũng có sự khác nhau giữa ca dao xứ Nghệ và ca dao xứ Bắc Cũng làkhông gian làng quê nhưng ca dao xứ Bắc nói một cách xa xôi bóng gió nhiều hơn là
cụ thể Không gian trong ca dao xứ Nghệ thường cụ thể, gần gũi thân thiết với conngười lao động hơn”
Về phương ngữ, Nguyễn Phương Châm nhận xét: “Mỗi địa phương đều có nétriêng về ngôn ngữ và ngôn ngữ ấy in dấu đậm nét vào ca dao Xứ Bắc thật sự mờ nhạtphương ngữ nhưng xứ Nghệ, tiếng Nghệ từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiềunhà ngôn ngữ học ” [3, tr.20]
3.2 Lịch sử nghiên cứu Dân ca Nam Trung bộ
- Ca dao, dân ca chứa đựng cả một thế giới tinh thần của người lao động ngàyxưa Thế giới đó vừa có cái hữu hình vừa có cái vô hình cho nên thế hệ con cháukhông thể nắm bắt hết được những gì mà cha ông ta đã gửi gắm, đã để lại trong ca dao,
Trang 8dân ca Nghiên cứu ca dao, dân ca là việc làm liên tục, lâu dài và hình như không cókết thúc Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về ca dao, dân ca nói chung, trong đóbao gồm cả dân ca Nam Trung Bộ của các tác giả như: Vũ Ngọc Phan, Chu XuânDiên, Cao Huy Đỉnh, Hoàng Tiến Tựu, Bùi Mạnh Nhị, Nguyễn Xuân Kính, Đặng VănLung
- Mặc dù chưa có công trình nào cụ thể đi sâu vào vấn đề đặc điểm ngữ pháp,ngữ nghĩa trong dân ca Nam Trung Bộ nhưng nhìn chung các công trình nghiên cứucủa các tác giả trên đã phần nào đề cập đến nội dung ngữ nghĩa của ca dao, dân ca VũNgọc Phan trong cuốn "Tục ngữ ca dao, dân ca Việt Nam" NXBKHXH (1971) đã đềcập đến tình yêu của nhân dân Việt Nam trong ca dao dân ca Chu Xuân Diên trongcuốn "Văn học dân gian" NXBĐH &THCN (1991) đã nói về ca dao dân ca với laođộng sản xuất, ca dao dân ca với đời sống tình cảm của nhân dân lao động, ca dao, dân
ca với cuộc đấu tranh giai cấp Nguyễn Xuân Kính trong cuốn "Thi pháp ca dao"NXBKHXH Hà Nội (1992) đã đề cập đến yếu tố không gian và thời gian trong ca dao,
dân ca và nêu ra một số biểu tượng như trúc, mai, hoa trong ca dao, dân ca.
- Và một số tác giả đã đi vào vấn đề ngữ nghĩa nhưng chỉ phân tích ở một vàibài ca dao dân ca cụ thể, như: Phan Đăng Nhật thì "Giải mã một chùm ca dao, tìm hiểuđặc điểm của xứ Lạng" - Văn hóa dân gian số 1 (1987); Võ Xuân Quế với "Vẻ đẹptruyền thống qua một bài dân ca" - Văn hóa dân gian (1989); Đào Thản, Nguyễn XuânNam, Nguyễn Thế Lịch thì tìm hiểu "Ý nghĩa những câu ca" - Tạp chí ngôn ngữ số 3,1989
- Đối với Dân ca Nam Trung bộ, ta có thể thấy nổi bật một số tác giả: Trần Việt Ngữ, Trương Đình Quang, Hoàng Chương với cuốn biên khảo “Dân ca miền Nam Trung bộ”, tập 1,2, Nxb Văn hóa, Hà Nội, 1963 đã khái quát về mảnh đất con người Nam Trung bộ và nêu những nhận xét khái quát về giá trị Dân ca Nam Trung bộ Các tác giả viết: Dân ca Nam Trung bộ là bản trường ca trữ tình vừa thắm thiết tế nhị vừa
mộc mạc Tính chất trữ tình đó chủ yếu được biểu hiện trong quá trình trai gái yêu
nhau; nhà thơ Xuân Diệu trong lời bạt cho cuốn Dân ca miền Nam Trung bộ có nhan
đề Sống với ca dao dân ca Nam Trung bộ viết ngày 16-5-1963 đã phát biểu cảm nghĩ
chung về dân ca Nam Trung bộ và ông đã đề cập tới cái độc đáo trong chất sống, chất
Trang 9tình của dân ca vùng này, nhưng đó mới chỉ là những nhận xét khái quát nhất mangtính cảm xúc chứ chưa đi sâu vào phân tích nghiên cứu.
Trong lời bạt của Xuân Diệu: Sống với ca dao, dân ca Miền Nam Trung Bộ.
Ông đã viết:
Ca dao về tình yêu ở Dân ca Nam Trung Bộ Trong khi phê bình Tây Sương ký
là một áng văn kiệt tác nói về tình yêu của Thôi Oanh và Trương Quân Thụy, nhà phêbình học rộng hiểu sâu là Thánh Thán có nhắc đến thơ Quốc Phong trong Kinh Thi;Kinh thi là ca dao của quần chúng nhân dân Trung Hoa đã làm trước đời Khổng Tử,đến đầu đời Xuân Thu, Khổng Phu Tử mới góp nhặt lại "sưu tầm, chọn lọc", sắp xếp;tức là việc mà ta làm hiện nay cách mấy nghìn năm sau Người xưa có khen: "Thơquốc phong mê gái mà không dâm" Thánh Thán bình luận thêm, ý nói: thơ mê gái ấycủa quần chúng mà lại được "qua tay sửa chữa của đức tiên sư ta là cụ Khổng Vậy nó
là thứ văn của bậc đại thánh nhân!" [tr.267]
Ca dao cổ của Trung Quốc, qua tay Khổng phu tử đã lưu lại nhiều bài về tìnhyêu Công việc sưu tầm hiện nay trong ca dao Việt Nam ta cũng bước đầu cho ta thấyrằng: những bài về tình yêu chiếm một số lượng rất lớn Chẳng hạn mở tập Hátphường vải, dân ca Nghệ Tĩnh, ta sẽ thấy đó là hàng mấy trăm câu hát hoa tình, ân tìnhcủa trai gái
Các Mác của chúng ta trước đây đã tự tay sưu tầm những dân ca, những tình cahay nhất; quay trở về với dân ca cổ truyền của Nam Trung Bộ Việt Nam, chúng tôinhận thấy phần rất lớn của 2 tập sưu tầm đã in, là những tình ca; và đó là phản ánhhiện thực của sự sáng tác chứ không phải do ngẫu nhiên của sự sưu tầm
“Tình yêu trong ca dao, ở đây hẵng chỉ nói ca dao, dân ca Nam Trung Bộ, rấtphong phú, trong thơ cổ điển ta, rất hiếm cái giọng trữ tình trực tiếp về tình yêu, họachăng có cái "khạc chẳng cho ra, nuốt chẳng vào" của Ôn Như Hầu và khóc TrươngQuỳnh Như của Phạm Thái Không chờ đợi thơ chính quy, thơ chuyên nghiệp diễn tả
hộ cho mình, những người lao động đã, thế kỷ này qua thế kỷ khác, diễn tả trực tiếplòng mình yêu đương, sướng vui, đau khổ Và không ở đâu bằng văn học dân gian,trong ca dao, người phụ nữ tha hồ nói rằng mình yêu, họ đã ngang nhiên và dĩ nhiênthi hành cái quyền tự do diễn đạt tâm tư của mình Tôi chưa nói về chất lượng tác
Trang 10phẩm, tôi hẵng nói: trong phạm vi ta đang bàn ở đây, văn học chính quy đã lạc hậuhơn văn học bình dân, văn học bình dân, không biết từ xưa bao lâu, đã là một nền vănhọc dân chủ, bình đẳng giữa nam và nữ” [tr.268]
Ngoài những bài nghiên cứu về Dân ca Nam Trung Bộ có tính chất tổng quan,
còn có một số đề tài đã đi sâu nghiên cứu về ngữ nghĩa dân ca Nam Trung Bộ như
Khảo sát ngữ nghĩa lời thoại trong dân ca Nam Trung Bộ của Trịnh Thị Mai đã kết
luận:
“Nhân vật đưa ra lời thoại trong Dân ca Nam Trung Bộ là nam và nữ Họ đã sử
dụng vốn từ xưng hô trong lời thoại khá đa dạng, phong phú Vừa sử dụng từ xưng hôtoàn dân, vừa sử dụng từ xưng hô của địa phương Vừa sử dụng đại từ nhân xưng vừa
sử dụng đại từ phiếm chỉ và có cả cách dùng các hình ảnh mang tính ẩn dụ để xưng hô
Và ngay trong lớp đại từ nhân xưng cũng hết sức phong phú, người Nam Trung Bộ đãdùng rất nhiều cặp đại từ nhân xưng khác nhau để xưng hô Chỉ dừng lại ở vốn từ xưng
hô, chúng ta cũng đã thấy được sự da màu của Dân ca Nam Trung Bộ” [tr.101]
- Thời gian, không gian cho lời thoại xuất hiện cũng có những nét đặc thù riêng:Thời gian xuất hiện lời ca cũng thật phong phú Trong dân ca Nam Trung Bộ, ta bắtgặp mọi khoảng thời gian, từ sáng sớm đến thời gian ban trưa đến chiều và đến thờigian đêm khuya Mỗi khoảng thời gian phù hợp mỗi loại tâm trạng khác nhau và mỗikhoảng thời gian gắn với mỗi mức độ của trạng thái cảm xúc khác nhau Cho nênchính thời gian đã góp phần quy định cái muôn màu muôn điệu trong tâm trạng củacon người
Không gian xuất hiện lời ca cũng thật phong phú, ở đây có cả không gian củasông nước, có cả không gian của các địa danh và có cả không gian của ruộng đồng.Đặc biệt có một không gian nổi lên để cho người đọc dễ dàng nhận ra những lời ca của
vùng Nam Trung Bộ đó là không gian sông nước Có thể nói phần lớn những câu Dân
ca Nam Trung Bộ đều thẫm đẫm cái mênh mang của sông nước Chính không gian
sông nước đã khơi dậy cảm xúc của người Nam Trung Bộ
- Nội dung mà lời thoại đề cập đến chủ yếu là nói về tình yêu nam nữ Đểchuyển tải những nội dung này thì dân ca Nam Trung Bộ đã dùng nhiều cách thức bày
tỏ lời trao đáp khác nhau như cách thức nghi vấn, so sánh, dùng các cấu trúc quan hệ
Trang 11Từ những cách thức này để đi đến thể hiện một số hành vi ngôn ngữ: hỏi, chào, mời,
kể Nhưng cách hỏi, cách chào, cách mời, cách kể của người Nam Trung Bộ có nhữngđặc trưng riêng thông qua việc sử dụng các từ ngữ hình ảnh
Qua ngữ nghĩa lời thoại, ta có thể tìm đến những nét văn hóa đặc trưng củamiền đất Nam Trung Bộ khác với miền đất khác đó là: văn hóa sông nước với sự cómặt đầy đủ của những tên gọi, những phương tiện thuộc về sông nước Văn hóa làng
xã với những phong tục tập quán riêng của vùng đất này; Văn hóa ứng xử chứa đầy cáitình, cái nghĩa sự thủy chung của con người Nam Trung Bộ không thể lẫn lộn với mộtvùng nào khác
Tóm lại, chúng tôi lược trích những nội dung của các bài nghiên cứu trên vàxem đây là những gợi mở cho đề tài của mình Từ đó, chúng tôi đi vào những khíacạnh mà các nhà nghiên cứu trước chưa đi sâu, hoặc chưa đề cập tới nhằm hoàn thiện
đề tài: “Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ”.
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong đề tài này, chúng tôi sử dụng những phương pháp sau:
4.1 Phương pháp khảo sát, thống kê - phân loại
Chúng tôi khảo sát, thống kê lớp danh từ trong Kho tàng Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ Sau đó, tiến hành phân loại lớp danh từ đã thống kê theo
những tiêu chí nhất định
4.2 Phương pháp phân tích - miêu tả
Dựa vào kết quả khảo sát, thống kê và phân loại, chúng tôi nghiên cứu phântích, miêu tả vị trí, tần số và một số dạng xuất hiện, cách cấu tạo và khả năng kết hợp;
ngữ nghĩa của lớp danh từ trong Kho tàng Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ.
4.3 Phương pháp so sánh - đối chiếu
Từ những đặc điểm rút ra được về lớp danh từ trong Kho tàng Ca dao xứ Nghệ
và Dân ca Nam Trung Bộ, chúng tôi so sánh, đối chiếu sự đồng nhất và khác biệt của
lớp danh từ trong hai tập ca dao và dân ca trên
Trang 124.4 Phương pháp tổng - phân - hợp
Trên cơ sở khảo sát, thống kê, phân loại, so sánh, đối chiếu, chúng tôi phân tích,tổng hợp được những đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa tiêu biểu của lớp danh từ trong
Kho tàng Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ Từ đó, thấy được vai trò của lớp
danh từ trong việc biểu đạt từ hình thức ngữ pháp đến nội dung ngữ nghĩa
5 Cái mới của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên đi sâu vào tìm hiểu: Đặc điểm ngữ pháp, ngữ nghĩa lớp
danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ một cách có hệ thống.
6 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, phần nội dung chính được triển khai thành
3 chương:
Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Đặc điểm ngữ pháp của lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân
ca Nam Trung bộ
Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân
ca Nam Trung bộ
Trang 13Chương 1 MỘT SỐ GIỚI THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Về ca dao, dân ca
1.1.1 Khái niệm ca dao, dân ca
1.1.1.1 Ca dao
Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên định nghĩa về ca dao như sau:
1 “Thơ ca dân gian được truyền miệng dưới dạng những câu hát không theomột điệu nhất định, thường phổ biến theo thể thơ lục bát cho dễ nhớ, dễ thuộc 2 Thểloại văn vần, thường làm theo thể lục bát” [33, tr.126]
Như vậy, ca dao là những câu thơ có thể hát thành những làn điệu dân ca, hátru hoặc ca dao là lời dân ca đã lược bỏ đi những luyến láy khi hát Ca dao đã để lạidấu vết rõ rệt nhất trong ngôn ngữ văn học Phần lớn nội dung ca dao thể hiện tình yêunam nữ, ngoài ra còn có những nội dung khác như: quan hệ gia đình, các mối quan hệphức tạp khác trong xã hội
1.1.1.2 Dân ca
“Dân ca là bài hát lưu truyền trong dân gian không có tác giả” [33, tr.78] Dân
ca là một thể loại ca hát dân gian, chủ yếu xuất phát từ môi trường nông ngư nghiệp ởthôn làng, rất có thể bắt đầu từ một cá nhân có năng khiếu dệt nhạc vào một bài ca dao(thơ dân gian), rồi được truyền miệng và nhào luyện, uốn nắn, gọt giũa qua nhiềungười trong tập thể, từ làng này đến làng khác, từ thời này qua thời khác, có thể sinh ranhiều dị bản khác nhau, thường khó xác định được gốc xuất phát, nói chi đến tên tácgiả hoặc tập thể đầu tiên phác hoạ ra làn điệu gốc của bài dân ca Từ môi trường nôngngư nghiệp đó, dân ca có nhiều chức năng trong các sinh hoạt của cuộc sống, như chứcnăng hỗ trợ các thao tác lao động trên cạn, trên nước , chức năng giao tiếp tạo cơ hộicho nam nữ trao đổi tâm tình
1.1.2 Phân biệt ca dao và dân ca
Trang 14Trong cuốn Thi pháp ca dao, Nguyễn Xuân Kính đã viết: "Trong giới nghiên
cứu, trong các sách sưu tầm, so với thuật ngữ ca dao, thuật ngữ dân ca xuất hiện muộnhơn" [tr.78] Phải đến những năm 50, thuật ngữ này mới chính thức được sử dụng với
sự xuất hiện của cuốn sách Tục ngữ và dân ca Việt Nam1
Hiện nay, các nhà nghiên cứu quan niệm về dân ca và ca dao như sau: Dân cabao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thứcdiễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát
Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nhắc đến ca dao, người ta thường nghĩđến lời ca Khi nhắc đến dân ca người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hátnhất định Như vậy, không có nghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loạidân ca nào đó (như hát trống quân, hát quan họ, hát ghẹo, hát phường vải ) cứ tướcbớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đưa hơi, thì sẽ đều là ca dao Ca dao là những sáng tácvăn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế hệ, mang nhữngđặc điểm nhất định và bền vững về phong cách Vì thế, ca dao trở thành một thuật ngữdùng để chỉ một thứ thơ dân gian Đối với ca dao, người ta không chỉ hát mà cònngâm, đọc và xem bằng mắt thường
1.1.3 Những đặc điểm của ca dao và dân ca
1.1.3.1 Thể thơ
Đại đa số ca dao, dân ca được sáng tác theo thể lục bát Lục bát là một thể thơ
có tính chất cổ truyền, có tính dân tộc cao Thể lục bát có trong thơ và ca dao, dân ca.Trong quá trình phát triển, một mặt thể lục bát đã hoàn thiện mình, mặt khác tự nó phá
vỡ để tạo ra những biến thể nhằm tạo khả năng chiếm lĩnh và tái tạo hiện thực xã hộirộng lớn hơn Chính vì vậy, lục bát có hai dạng: nguyên thể và biến thể Bên cạnh đó,
ca dao dân ca còn được sáng tác bằng những thể thơ khác như thể song thất lục bát, thểthất ngôn, thể hỗn hợp
Với thể thơ lục bát, mới nghe qua người ta dễ nghĩ rằng nhịp điệu của nó sẽ lặplại nhàm chán theo kiểu dòng trên: 2/2/2, dòng dưới: 2/2/2/2 Trên thực tế, nhịp điệuthơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt vô cùng
1 Vũ Ngọc Phan biên soạn, in lần đầu năm 1956.
Trang 15Cây thầu đâu, lá lại thầu đâu,Anh về từ đó, em sầu từ đây.
- Em sầu, anh có vui chi,
Em gạt nước mắt cũng có khi anh khóc thầm [tr.192]
Ngoài ra, với sự không gò bó, không bị hạn chế về độ dài, ngắn của tác phẩm,thể lục bát có sở trường trong việc diễn đạt các cảm xúc vốn rất phong phú, thể hiệnnhững nội dung hết sức đa dạng của hiện thực
Thể lục bát trong tuyển tập Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ chiếm một tỉ lệ nhất định Theo khảo sát của chúng tôi thì trong Ca dao xứ Nghệ, thể thơ lục bát 1345/1894 chiếm 71%; trong Dân ca Nam Trung bộ 108/358 chiếm 30% Qua số liệu này, ta thấy, thể lục bát của Ca dao xứ Nghệ chiếm tỉ lệ lớn hơn trong Dân ca Nam Trung bộ.
1.1.3.2 Kết cấu
Trong cuốn Từ điển tu từ - phong cách thi pháp học, Nguyễn Thái Hòa đưa ra
khái niệm kết cấu như sau: “Kết cấu nghệ thuật (gọi tắt là kết cấu) là quan hệ khôngđổi giữa các đối vị được lựa chọn trong tác phẩm nghệ thuật Nó không lệ thuộc vàonội dung, đề tài hay thể loại văn học Hiểu như vậy thì thuật ngữ kết cấu nghệ thuậttương đương với cấu trúc mã của R.Jakobson, người đã xem xét cấu trúc không chỉ ở
sự kết hợp mà cả sự lựa chọn trong hệ thống [17, tr.108]
Từ lí thuyết trên, chúng tôi tìm hiểu kiểu kết cấu trong ca dao, dân ca Mỗi bài
ca dao, dân ca tuy không dài nhưng kết cấu lời thơ trong ca dao khá phức tạp Điều
này đã được Nguyễn Xuân Kính khảo sát kỹ lưỡng trong chuyên luận Thi pháp ca dao Vận dụng lý thuyết của Nguyễn Xuân Kính, chúng tôi khảo sát Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ với 5 dạng kết cấu sau:
Thứ nhất: kết cấu một vế đơn giản Nội dung của lời là một ý lớn do các phán đoán tạo thành Ca dao xứ Nghệ (CDXN) chiếm 93%; Dân ca Nam Trung bộ
(DCNTB) chiếm 46,2%
Dốc bồ thương kẻ ăn đong,
Trang 16Vắng chồng thương kẻ nằm không một mình.
Dân ca Nam Trung Bộ như:
Ai trắng như bông, lòng tôi không chuộngNgười đó đen giòn làm ruộng tôi thương
Biết rằng dạ có vấn vương
Để tôi cậy mối tìm đường sang chơi
Thứ hai: kết cấu một vế có phần vần Dạng này có hai phần rõ rệt, phần đầu là
phần gợi hứng, phần sau là phần chính của lời CDXN chiếm 0,8%; DCNTB chiếm10,8%
Chim bay sóng vỗ mạn tàu Yêu em thì phải qua bàu lội sông [CDXN, tr.341]
Dân ca Nam Trung Bộ như:
Liệu cơm mà gắp mắm ra
Liệu cửa liệu nhà mà lấy chồng đi
Nữa một mai quá lứa lỡ thì Cao em không tới, thấp thì chẳng thông [DCNTB, tr 26]
Thứ ba: kết cấu hai vế tương hợp Dạng này thường xuất hiện trong hát đối đáp.
Nội dung gồm hai ý lớn ở thế tương hợp CDXN chiếm 3%; DCNTB chiếm 9,3%
Anh quen em năm ngoái lại giừCơi trầu anh mang đến, em chối từ không ăn
Và người con gái trả lời:
Có phải mô anh, có rứa mô anhNăm qua bé nhỏ, chưa dám ăn trầu người
Dân ca Nam Trung Bộ như:
Nước không chân sao rằng nước đứng
Trang 17Cá không dò sao gọi cá leoAnh mà đáp trúng, em thả chèo đợi anh
- Ghe không tay, sao kêu ghe vạchBánh không cẳng, sao gọi bánh bò Anh đà đáp trúng nói ngay giờ em nghe [DCNTB - 41]
Thứ tư: kết cấu hai vế đối lập Dạng này gồm hai ý lớn đối lập nhau CDXN
chiếm 1%; DCNTB chiếm 17,4%
Anh đến tìm hoa thì hoa đã nởAnh đến tìm đò thì đò đã chở qua sông Anh đến tìm em thì em đẫ lấy chồng
Em yêu anh như rứa đó có mặn nồng chi mô
- Hoa đến kì thì hoa phải nở
Đò đã đầy thì đò phải qua sôngĐến duyên em thì em phải lấy chồng
Em yêu anh như rứa đó có mặn nồng thì tùy anh
Dân ca Nam Trung Bộ như:
Chờ anh nên tuổi em cao Nên duyên em lợt, má đào em phai
- Má đào em ra nắng nó phai
Ra mưa nó lợt, chớ nào ai biểu chờ [DCNTB, tr.12]
Thứ năm: nhiều vế nối tiếp Nội dung của lời gồm nhiều ý nối tiếp CDXN
chiếm 0,5%; DCNTB chiếm 16,3%
Ước gì lòng được như lòngƯớc gì quân tử sánh cùng thuyền quyênƯớc gì nguyện được như nguyền
Trang 18Ước gì lá thắm xe duyên chỉ hồngƯớc gì đó vợ đây chồng
Để cho Tần Tấn giao thông một nhà
Ước gì đó thất đây daChâu Trần hai họ giao hoà cùng nhauƯớc gì trầu được bén cau
Để cho đôi lứa cùng nhau sum vầy
Dân ca Nam Trung Bộ như:
Hai tay cầm lạt bẻ còLòng anh thương da diết, sao em dả đò làm lơ
Thương em phát dại phát khờ Đang ăn đũa rớt bao gờ không hayCần kéo quên cắt, quên mayCầm em quên rượu, cầm khay quên trầuCầm đèn quên bấc, quên dầuCầm trang sách đọc, quên đầu quên đuôiCầm quân quên giá, quên luiCầm tiền mà xỉa, không biết mấy mươi một tiền Thương em nhất dại nhì điên [DCNTB, tr.70]
Năm dạng trên đây được xem là cơ sở để tìm hiểu đặc điểm ngữ pháp ở phươngdiện khả năng kết hợp giữa danh từ và một số từ loại khác
1.1.3.3 Hình tượng
“Hình tượng là sự phản ánh hiện thực một cách khái quát bằng nghệ thuật dướihình thức những hiện tượng cụ thể, sinh động, điển hình, nhận thức trực tiếp bằng cảm
tính Hình tượng nghệ thuật” [3, tr 427]
Trang 19Hình tượng nghệ thuật có ba đặc điểm chủ yếu: 1 vừa phản ánh cái điển hình,vừa có cá tính 2 vừa có tính khách quan của hiện thực, vừa có tính chủ quan, thể hiệntình cảm và những suy nghĩ của tác giả 3 vừa xúc cảm, vừa duy lý, thể hiện một thái
độ đúng đắn đối với đối tượng được thể hiện
Hình tượng nghệ thuật là phương tiện nghệ thuật nhằm thể hiện cuộc sống Phátsinh từ cuộc sống, các hình tượng nghệ thuật trở về với cuộc sống, tác động vào tìnhcảm, thức tỉnh tư duy, giúp cho con người ý thức được mình, ý thức được mối quan hệgiữa chủ thể và khách thể, giữa cá nhân và xã hội, giữ hiện thực và lý tưởng Hìnhtượng nghệ thuật là điều kiện đầu tiên để tạo nên giá trị của tác phẩm nghệ thuật (Từđiển Bách khoa toàn thư Việt Nam, Tập 2 – Xuất bản năm 2002)
Hình tượng nghệ thuật xuất hiện trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung
bộ nổi bật hơn cả là mảng tình yêu lứa đôi với những hình tượng tiêu biểu như: anh, em; trầu, cau, vôi, trúc mai Khảo sát sơ bộ chúng tôi thấy trong Ca dao xứ Nghệ có các hình tượng tiêu biểu: trầu, cau xuất hiện 200 lượt trúc, mai: 48 lượt Dân ca Nam Trung bộ thì trầu, cau xuất hiện 38 lượt; trúc mai: 16 lượt.
Qua khảo sát trên, ta thấy tần số xuất hiện hình tượng trầu, cau, trúc, mai trong
Ca dao xứ Nghệ nhiều hơn trong Dân ca Nam Trung Bộ
1.1.3.4 Không gian, thời gian
- “Không gian trong tác phẩm nghệ thuật không chỉ là bối cảnh sinh tồn và hoạtđộng của nhân vật mà còn là quan niệm nghệ thuật thể hiện ở sự thống nhất hữu cơgiữa nhân vật và hoàn cảnh, giữa thế giới bên trong của nhân vật và thế giới bên ngoài.Không gian nghệ thuật cũng là một loại tín hiệu thẩm mĩ mang đặc trưng bút pháp thểloại, phong cách của nhà văn và có "ngôn ngữ riêng" trong ngôn ngữ chung của tácphẩm Có thể phân chia thành ba loại không gian: Không gian bối cảnh bao gồm bốicảnh thiên nhiên và bối cảnh xã hội làm nên môi trường sống của nhân vật ví nhưkhông gian làng quê, không gian đường sá ; không gian sự kiện: có thể chỉ có những
sự kiện trong cấu trúc nghệ thuật, trong đó quan hệ nhân quả được xác lập làm nổi bậthình tượng nhân vật trong ứng xử xã hội; không gian tâm lí có thể đó là những trạngthái tâm lí xuất hiện trong một chuỗi dài tâm tư” [17, tr.116,117]
Trang 20Không gian trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ là những không gian bình dị của làng quê có quy mô vừa phải: dòng sông, con thuyền, cái cầu, bờ ao, mảnh vườn, cánh đồng, con đường, trong nhà, ngoài sân Đó là không gian vật lí
thường gặp trong ca dao trữ tình người Việt
- Thời gian nghệ thuật: “Trong thơ trữ tình, thời gian nghệ thuật rút ngắn đếnmức nhỏ nhất: một phút ngẫu hứng, cảm hoài, ngậm ngùi, tương tư trong một khung
thời gian tổng thể: buổi chiều, ban đêm, hôm qua, đêm qua, bây giờ ”[17, tr.217]
Thời gian nghệ thuật trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ là thời gian hiện tại - diễn xướng: chiều chiều, đêm qua, đêm đêm, hôm qua
Khi nghiên cứu về thời gian nghệ thuật trong ca dao tình yêu, Trần Thị An đãnhận xét rất đúng rằng: Ở đây thời gian cá nhân riêng biệt, thời gian khách quan, thờigian xã hội bị nhạt nhoà Tính chất công thức ước lệ là đặc điểm nổi bật trong việc tácgiả dân gian khi miêu tả thời gian Ví dụ:
Muối ba năm muối đang còn mặn Gừng chín tháng gừng hãy còn cay Đôi ta tình nặng nghĩa dày
Dù có xa nhau đi nữa ba vạn sáu nghìn ngày cũng nỏ xa.
Ở đây, hình ảnh ba vạn sáu ngàn ngày là hình ảnh ước lệ để chỉ thời gian vô
Trong hoạt động ngôn ngữ, thao tác lựa chọn liên quan đến vốn ngôn ngữ, tức
là đến những đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong óc cá nhân, vận dụng năng lực liên tưởng
để cung cấp sự lựa chọn những đơn vị ngôn ngữ cần thiết Chẳng hạn thay từ em bằng
Trang 21từ nàng trong câu Anh yêu em thì câu này sẽ mang sắc thái khác Còn thao tác kết hợp
lại dựa trên một khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ: các yếu tố ngôn ngữ có thểđặt cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tương cận giữa chúng Chính vì mối quan hệ này
mà người ta nói Tôi ăn cơm, chứ không thể nói Tôi cơm ăn Cũng chính vì mối quan
hệ này mà điểm yếu khác yếu điểm.
Với hai thao tác lựa chọn và kết hợp các đơn vị ngôn ngữ, khi sáng tác thơ và
ca dao người ta sàng lọc đến từng con chữ Kết quả của thao tác kết hợp là những vănbản tạo hình Còn kết quả của thao tác lựa chọn là những văn bản biểu hiện
Một mặt, chúng ta phân biệt hai dạng văn bản tạo hình và văn bản biểu hiện,văn bản tạo hình là văn bản mà nghĩa của nó bằng nghĩa đen của các từ cộng lại cònvăn bản biểu hiện thì không phải là nghĩa đen của các từ cộng lại Mặt khác chúng tathừa nhận “hai thao tác lựa chọn và kết hợp là xoắn xuýt với nhau, dạng tạo hình vàbiểu hiện cũng luôn xen lẫn nhau”1; vấn đề là ở mỗi văn bản, dạng nào là chủ yếu.Trong ca dao tình yêu, có cả văn bản biểu hiện và văn bản tạo hình Ví dụ:
- Trách cha trách mẹ muôn phầnNgồi trên đống bạc mà cân lấy chì
- Thò tay mà ngắt ngọn ngòThương em đứt ruột giả đò ngó lơKhả năng kết hợp và lựa chọn ngôn ngữ là một nghệ thuật Ví như cách dùngtên riêng chỉ địa điểm thì trong bộ phận ca dao có tên riêng chỉ địa điểm, phản ánh tìnhyêu nam nữ, quan hệ vợ chồng là chủ đề phổ biến nhất: địa danh gắn với niềm thươngnỗi nhớ; địa danh dùng để thể hiện lòng quyết tâm trong tình yêu Và cách dùng tênriêng chỉ nguời gắn với chủ đề tình yêu lứa đôi, tình cảm vợ chồng cũng phổ biến Vídụ:
Anh say em như bướm say hoa,Như Lưu Linh say rượu, Bá Nha say cầm
- Ngôn ngữ hoạt động thường gắn với một phong cách nào đó Ví dụ: ngôn ngữsinh hoạt, ngôn ngữ nghệ thuật, ngôn ngữ khoa học Ngôn ngữ trong ca dao, dân ca
1 Nguyễn Phan Cảnh (1987), Ngôn ngữ thơ, Nxb Đại học và giáo dục chuyên nghiệp, H, Sđd ,tr.40
Trang 22thuộc ngôn ngữ nghệ thuật "Ngôn ngữ nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ trong đời sốnghàng ngày, ngôn ngữ trong sách vở cũ và mới, nói chung là tất cả các lớp một cáchrộng rãi nhưng được tái tạo lại hay nói đúng hơn là "được cải tạo về mặt chức năng"(V.V.Vinogradov) Một lời thoại hàng ngày, một bản tin, một bản lý lịch, một văn bản
cổ, một lớp từ địa phương đều có thể đi vào thế giới ngôn ngữ nghệ thuật nếu nó trởthành một yếu tố của tác phẩm nghệ thuật, một chi tiết nghệ thuật trong tác phẩm Nhưvậy, ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ tái tạo, thông qua chủ quan sáng tạo nghệ thuật,chứ không hoàn toàn giống ngôn ngữ tự nhiên" [17, tr.153]
Chúng ta có thể thấy, ca dao, dân ca là sáng tác của nhân dân lao động thuộcnhiều vùng, miền khác nhau Vì vậy, dấu ấn từ địa phương trong sáng tác dân gian là
điều dễ nhận thấy Điều này được thể hiện rất đậm nét trong Ca dao xứ Nghệ và Dân
ca Nam Trung bộ.
Từ địa phương là lớp từ chỉ được sử dụng trong một địa phương mà không phổ
biến ở các địa phương khác Ví dụ: Trong Ca dao xứ Nghệ xuất hiện từ rú, nống, nác ; trong Dân ca Nam Trung bộ từ bậu, qua
Về mặt tu từ, từ địa phương đối lập với từ toàn dân khi người dùng có dụng ýmiêu tả màu sắc địa phương, con người với những phong tục, tập quán địa phương đểbức tranh thêm sinh động, cụ thể “Từ địa phương có nhiều yếu tố tích cực được toàndân chấp nhận thì dần dần trở thành từ toàn dân làm phong phú thêm kho từ vựng
tiếng Việt” [17, tr.244 - 255] Ngôn ngữ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung
bộ cũng nằm trong hệ thống chung vốn ngôn ngữ dân tộc
Tóm lại, ca dao, dân ca là những thể loại của Văn học dân gian với các đặctrưng riêng về thi pháp Trong đó, phương diện ngôn ngữ của ca dao, dân ca là vấn đềcần được tìm hiểu, phân tích Việc đi sâu khám phá các mặt biểu hiện của các yếu tốngôn ngữ có tác dụng rất lớn trong việc tìm hiểu cái hay, cái đẹp của ca dao, dân cacũng như khẳng định những đóng góp của thể loại này trong việc sáng tạo ngôn ngữvăn học dân tộc
1.2 Vài nét về Kho tàng ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ
1.2.1 Kho tàng ca dao xứ Nghệ
Trang 231.2.1.1 Đặc điểm vùng đất và con người xứ Nghệ
Trong cuốn Kho tàng ca dao xứ Nghệ, Tập 1, Ninh Viết Giao (chủ biên) đã nêu đặc điểm vùng Nghệ Tĩnh như sau:
- Nghệ Tĩnh “đất cổ nước non nhà”, gắn liền với sự sinh trưởng, thăng trầm của Tổ quốc kể từ khi lịch sử có tên nước là Văn Lang.
- Nghệ Tĩnh đất đai rộng lớn có đủ các vùng kinh tế: miền núi, miền trung du, miền đồng bằng, miền biển; với nhiều nông sản, lâm sản và hải sản, khoáng sản và có giá trị hàng hoá cao, song điều kiện tự nhiên rất phức tạp [1, tr.20]
Một phương diện khác để hiểu thêm con người xứ Nghệ đó là mê hát - một nétđặc trưng văn hóa của người dân xứ Nghệ Trong khi hát, họ vừa sáng tác tại chỗ vừa
sử dụng những câu đã được lưu truyền hoặc cải biên một số câu lấy trong truyện Kiều,truyện Nôm khuyết danh thích hợp như Phương Hoa, Hoàng Trừu Chính môi trườngsinh hoạt văn hóa này đã “thai nghén” nhiều bài ca dao, dân ca Nghệ Tĩnh
Một trong những chủ thể làm nên sự phong phú của ca dao, dân ca nơi đâychính là sự tham gia của các thầy đồ, các nhà nho xứ Nghệ Khi tắm gội vào dòng sôngdân ca mát mẻ, nhà nho xứ Nghệ không những đã làm cho ca dao Nghệ Tĩnh phongphú thêm mà còn được mài giũa về mặt nghệ thuật, nhất là ở phương diện ngôn từ Cũng như người nông dân Việt Nam, trong cuộc vật lộn gian khổ, bền bỉ giữa con
người với thiên nhiên, người nông dân xứ Nghệ đã tự xác định rằng “Muốn no thì phải chăm làm; một hột thóc vàng, chín giọt mồ hôi” nên họ rất cần cù trong lao động.
Cuộc sống đời thường đã được ánh xạ trong các tác phẩm văn chương, cụ thể làtrong ca dao, con người xứ Nghệ hiện lên với những đức tính: có bản lĩnh vững vàngtrong cuộc sống, lại thường xuyên vật lộn với cõi thiên nhiên khô cằn, cay nghiệt liêntục đấu tranh chống giai cấp thống trị độc ác, bất nhân và nhiều lần vung gươm chínhnghĩa giết quân cướp nước Cuộc chiến đấu không mệt mỏi trong quá trình lịch sử đãhun đúc con người Nghệ Tĩnh trở nên cứng cỏi, gang thép, luôn đứng đầu sóng ngọngió trong các cuộc đấu tranh
1.2.1.2 Đặc điểm Ca dao xứ Nghệ
Trang 24Ca dao xứ Nghệ đã phản ánh được tính cách con người xứ Nghệ, không hoàn toàn chỉ có thế, nghĩa là chỉ: can đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan Song đó chỉ là một khía cạnh của tính cách, của bản chất con người xứ
Nghệ Kỳ thực đời sống tình cảm của con người ở đây, đối với tự nhiên, với conngười, với cái đẹp của tự nhiên, của con người, với cái đẹp của lý tưởng, tuy khôngbộc lộ một cách ồn ào, hời hợt, nhưng lại có phần suy nghĩ, điềm tĩnh, sâu sắc và bền
1.2.2 Dân ca Nam Trung bộ
1.2.2.1 Đặc điểm vùng đất và con người Nam Trung Bộ
Duyên hải Nam Trung bộ là dải đất màu mỡ có nhiều thắng địa của biển và núi
Đó là núi Bà Nà, bán đảo Sơn Trà, chùa Non Nước, động Linh Nham, ngũ Hoành Sơn(Đà nẵng), Hội An (Quảng Nam) là núi Bà cao hơn nghìn thước, đầm Thị Nại (BìnhĐịnh) Những thắng địa ấy luôn là nguồn cảm hứng cho những câu dân ca Nam Trung
Bộ trữ tình, sâu lắng Nam Trung Bộ ngoài những cánh đồng lúa, còn có cả những cánhđồng mía, những rừng quế bạt ngàn Cây quế trở thành một hình ảnh rất quen thuộctrong cuộc sống của người nơi đây và nó đi vào trong những làn điệu dân ca rất đỗi tựnhiên
Xin đừng thấy quế phụ hương Quế già, quế trụi, hương còn thơm xa.
Nhân dân Nam Trung Bộ rất ưa chuộng văn nghệ Ở đây, có cả một truyềnthống hát bài chòi và hát bội lâu đời như: xứ Quảng, vùng Bình Định Đây cũng là xứ
Trang 25sở của những điệu hò: đẩy che mía, hò giã gạo, hò xay lúa (vùng Bình Định, QuảngNam, Phú Yên, Khánh Hoà) Mặt khác, nơi đây còn là quê hương của một loại vè nổitiếng không thể trộn lẫn đó là vè xứ Quảng.
Do hoàn cảnh địa lý và kinh tế, cùng các cuộc đấu tranh quyết liệt với thiênnhiên và bọn xâm lược đã hun đúc nên con người Nam Trung Bộ có tinh thần kiêncường bất khuất cùng một tâm hồn chân thành mộc mạc, một đời sống tình cảm sôinổi, phong phú Tất cả đều để lại dấu ấn đậm nét trong những làn điệu dân ca
1.2.2.2 Đặc điểm của Dân ca Nam Trung Bộ
Trong lời bạt của tuyển tập Dân ca Nam Trung bộ Xuân Diệu viết: “Ca dao,
dân ca Nam Trung Bộ có một cái gì rất độc đáo trong chất thơ, trong chất sống, chấttình ở đây”[4, tr.285]
“Nhìn gộp cái đã, thì ca dao Bình - Trị - Thiên trở vào Nam có những nét khácvới ca dao Tĩnh - Nghệ - Thanh trở ra Bắc So sánh ca dao với thơ cổ điển thì rõ ràng
là ca dao xốc vác hơn, chất sống còn để nguyên chất hơn, đây còn là hình thái tựnhiên, chưa được và cũng chưa bị đẽo gọt Nhưng so sánh trong nội bộ ca dao vớinhau, thì có thể nói: ca dao đất mới khác với ca dao đất cũ Chưa nói các loại ca daokhác, chỉ nói về loại ca dao ân tình, thì ca dao ân tình trên Bắc Bộ, nói chung hơi thơ
đã thật trau chuốt” [4, tr.285]
Cổ tay em trắng như ngà, Con mắt em liếc như là dao cau Miệng cười như thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu như thể hoa sen.
Tuy nhiên, trong cái trau chuốt, nhiều khi xảy ra cái khuôn sáo; ca dao cũng cócái khuôn sáo của ca dao; cái chất sáng tạo và phát hiện của nghệ thuật dường nhưmòn dần, và đó là nhược điểm của nhiều bài ca dao Bắc Bộ
Còn dân ca Nam Trung bộ thì tự do, mộc mạc hơn Và phải khẳng định rằng Dân ca Nam Trung Bộ đã đóng góp đáng kể vào kho tàng ca dao, dân ca Việt Nam đó
Trang 26là những câu hò mái nhì, hò mái đẩy ở Bình Trị Thiên đem thêm vào cái vốn ca dao dân tộc một hơi mới; đó là thể loại hô bài chòi [4, tr.286]
Bớt câu than thở, em ơi!
Đừng e ngại dạ Trước sau anh đã tính rồi Lâu mau gì cũng kết đôi một nhà.
Dân ca miền Nam Trung bộ mang những đặc điểm riêng cả về nội dung và hìnhthức nghệ thuật Chính những nét độc đáo ấy, nhất là trên bình diện ngôn từ của dân ca
đã góp phần thể hiện đời sống tâm hồn, tính cách con người nơi đây
1.3 Vấn đề danh từ trong tiếng Việt và danh từ trong thơ ca dân gian
Để làm căn cứ cho việc nghiên cứu đề tài, chúng tôi lựa chọn quan điểm củaPGS TS Đỗ Thị Kim Liên Theo đó, khái niệm danh từ được hiểu như sau:
“Danh từ là lớp từ có ý nghĩa phạm trù sự vật, biểu thị những đơn vị có thể nhận thức được trên cơ sở tồn tại của chúng dưới hình thức những hiện tượng trong tự nhiên và xã hội hoặc trong suy nghĩ của con người” [22, tr.44]
1.3.2 Đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của danh từ tiếng Việt
1.3.2.1 Đặc điểm ngữ pháp của danh từ tiếng Việt
Trong hệ thống từ loại tiếng Việt, danh từ là một trong ba từ loại cơ bản Mặtkhác, nó chiếm một số lượng rất lớn trong kho từ vựng tiếng Việt
Trang 27- Theo Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (1986) cho rằng: "Danh
từ là từ loại quan trọng bậc nhất trong số các từ loại của một ngôn ngữ nói chung và tiếng Việt nói riêng Danh từ có khối lượng rất lớn trong vốn từ vựng và có một chất lượng hết sức quan trọng trong cơ cấu ngữ pháp Đặc biệt trong quan hệ với động từ Danh từ cùng động từ cho nên một cái trục mà quay quanh nó là các vấn đề của cả từ pháp lẫn cú pháp, chẳng hạn như các vấn đề phạm trù ngữ pháp, tổ hợp từ, chức năng thành câu"
- Nguyễn Kim Thản trong: Nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt (1963) [tr162] viết "Danh từ là từ loại có ý nghĩa phạm trù sự vật, có phạm trù ngữ pháp giống, số, cách (được thể hiện không giống nhau trong các ngôn ngữ khác nhau) thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ, định ngữ".
Ví dụ: Học sinh đi học Đây là bố tôi, thầy giáo giảng bài Ao làng thả sen Mẹnghỉ ở nhà
Danh từ là loại thực từ biểu thị sự vật tính (sinh vật) vật thể, hiện tượng, sự việc trong đời sống thực tại và tư duy có những đặc trưng ngữ pháp sau đây:
a Không trực tiếp làm vị ngữ Do đó khi làm vị ngữ phải có hệ từ là (câu khẳng định) hoặc không phải, không phải là (câu phủ định) không đặt sau những từ như: đừng, hãy , sẽ
b Có thể kết hợp với một trong những từ loại sau đây và được từ loại này xác định, hạn chế: số từ (một, hai ) đại từ chỉ số (tất cả), lượng từ (những, các) phó định
từ (con, cái ) đại từ chỉ định (này, ấy, kia )
- Trương Dĩnh trong "Về vấn đề hình thành khái niệm ngữ pháp cho học sinh phổ thông" (1974), cho "Danh từ là chỉ người, sự vật Danh từ có thể kết hợp với những
từ số lượng ở trước nó và những từ để ở sau nó Khi dùng vị ngữ, danh từ thường phải đặt sau từ "là" [tr.19]
- Tác giả Nguyễn Tài Cẩn trong Từ loại danh từ tiếng Việt (1975) cũng cho rằng "Danh từ là từ loại không thể độc lập làm vị ngữ Đó là một từ loại không có vị ngữ tính" (tr.29)
Trang 28- Hồ Lê: "Một số vấn đề xung quanh vị trí bắt buộc và vị trí ý trong danh ngữ tiếng Việt hiện đại ngôn ngữ" (1983), Danh từ là từ có khả năng đứng giữa và kết hợp hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp với số từ (hay những phụ từ chỉ lượng: những, các, mọi , mấy; hay những đại từ chỉ lượng bao nhiêu, bấy nhiêu, ) và với từ chỉ định (này, kia,
ấy, đó, nọ) để tạo ra các cấu trúc danh từ" [tr.37]
- Hoàng Phê (chủ biên): Từ điển tiếng Việt (1998), đã viết: "Từ chuyên biểu thị ý nghĩa sự vật đối tượng, thường làm chủ ngữ trong câu (người, nhà, tinh thần ) Từ hoặc tổ hợp từ chuyên dùng để gọi tên sự vật hoặc biểu đạt khái niệm, thường trong lĩnh vực chuyên môn Giải thích những danh từ chính từ mới Danh từ khoa học"
[tr.234]
- Diệp Quang Ban, Hoàng Văn Thung Ngữ pháp tiếng Việt (1996), "Danh từ có đầy đủ chức năng cú pháp của thực từ Trong mối quan hệ với động từ, tính từ, nét riêng biệt của danh từ là ít được làm vị ngữ đặt trực tiếp sau chủ ngữ của câu Trong những trường hợp đó, thường danh từ được kết hợp với một từ biểu thị quan hệ ngữ nghĩa, ngữ pháp giữa hai thành phần câu" [tr.78]
Từ những quan điểm của các nhà nghiên cứu nêu trên, chúng tôi rút ra một sốđặc điểm cơ bản về ngữ pháp của danh từ như sau:
Thứ nhất, về ý nghĩa khái quát: Danh từ là những từ chỉ thực thể (sự vật)
Thứ hai, về khả năng kết hợp: Danh từ có khả năng làm thành tố chính trong
cụm danh từ và thường kết hợp với các từ loại như: chỉ từ (đây, đó, kia, nọ, ), số từ (một, hai, một trăm, hai trăm, ), lượng từ (những, các, mọi, mỗi, từng, cả, tất cả, ).
Thứ ba, về chức vụ cú pháp: Danh từ thường giữ chức vụ chủ ngữ trong câu, chỉ
khi kết hợp với từ chỉ quan hệ (là) danh từ mới đóng vai trò làm vị ngữ Ví dụ: Kỉ luật
là sức mạnh; Nhân dân là bể, Văn nghệ là thuyền (Tố Hữu).
1.3.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của danh từ tiếng Việt
Theo Nguyễn Như Ý trong Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, ngữ nghĩa là toàn bộ nội dung, thông tin được ngôn ngữ truyền đạt hoặc được đơn vị nào
đó của ngôn ngữ thể hiện (như hình thái ngữ pháp của từ, cụm từ, câu) [tr.183]
Trang 29Lớp danh từ tiếng Việt nói chung và lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ, Dân ca Nam Trung Bộ đều mang hai nét nghĩa: nghĩa thực và nghĩa biểu trưng.
Nhìn chung, trong ca dao, dân ca, các tác giả dân gian thông qua hình ảnh, cácyếu tố ngôn ngữ để nói lên “một cái gì ngoài nó” nhằm thể hiện những trạng thái, cảmxúc của nhân vật trữ tình
1.3.3 Phân loại các tiểu nhóm của danh từ tiếng Việt
Căn cứ vào khả năng kết hợp của danh từ với từ khác, căn cứ vào khả năng đảmnhiệm các chức vụ khác nhau ở trong câu người ta có thể phân loại danh từ ra các tiểuloại như danh từ tổng hợp, danh từ không tổng hợp, danh từ chỉ chất liệu, danh từ chỉthời gian Mỗi tiểu loại trong danh từ tuy có chung một đặc điểm về ý nghĩa ngữpháp khái quát nhưng lại khác nhau ở một số đặc điểm ngữ pháp
Ví dụ: sách, vở, bàn, cá, thịt đều là danh từ chỉ vật nhưng đặc điểm ngữ pháp rất
khác nhau: có những danh từ có thể kết hợp trực tiếp với số từ nhưng có những danh từkhông thể kết hợp được mà phải thông qua một từ chỉ đơn vị
- Có thể nói: Ba cái bàn hoặc ba bàn (+)
- Không thể nói: Hai thịt, ba cá (-)
Đã có nhiều cách phân chia về tiểu nhóm của từ loại danh từ, trong phạm vi đềtài này chúng tôi chọn cách phân chia của tác giả Đỗ Thị Kim Liên
Theo đó, trong Ngữ pháp tiếng Việt, Nxb GD, (2002), Đỗ Thị Kim Liên đã chia
danh từ thành các tiểu nhóm sau đây:
Riêng
Danh từ
Trang 30Tổng hợp
Chung
Không tổng hợp
Không chỉ loại
Đơn vị Chất liệu Chỉ người Động - thực vật Đồ đạc Trừu tượng
Dựa vào cách phân chia về các tiểu nhóm danh từ trên, chúng tôi đi đến thốngnhất trong luận văn này sẽ sử dụng và đi theo cách phân loại của tác giả Đỗ Thị KimLiên
1.3.4 Vai trò của danh từ trong thơ ca dân gian
1.3.4.1 Vai trò của danh từ trong thơ ca dân gian
Danh từ là những từ chỉ người, vật, sự vật Có khả năng kết hợp với từ đứng
trước là những từ chỉ số lượng và có khả năng kết hợp với chỉ từ đứng sau: này, kia,
nọ, ấy Và nó thường làm chủ ngữ, có thể làm vị ngữ có từ "là" đứng trước.
Từ lý thuyết về danh từ ở trên, chúng ta khẳng định rằng danh từ có vai trò hếtsức quan trọng về cả số lượng, nội dung và các mối quan hệ để tạo nên ý nghĩa chocâu văn
Danh từ trong thơ ca dân gian cũng không nằm ngoài khái niệm và cách hiểuchung về danh từ Tuy nhiên, trong nhiều nhóm danh từ xuất hiện thì mỗi nhóm đềubiểu thị những dấu ấn riêng của thể loại văn học dân gian diễn xướng này
1.3.4.2 Vai trò của lớp danh từ trong Kho tàng ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ
Trong quá trình khảo sát, thống kê và phân loại Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ, chúng tôi đã dựa vào lý thuyết chung về danh từ để phân loại thành 8
nhóm như sau: danh từ chỉ con vật, thực vật, đồ vật; danh từ thân tộc dùng để xưng hô;danh từ chỉ thời gian, không gian; danh từ trừu tượng; danh từ chỉ người và bộ phận cơ
Trang 31thể người; danh từ chỉ tên riêng và địa danh; danh từ chỉ vật, chỉ người là từ địaphương; danh từ chỉ hiện tượng tự nhiên và danh từ đơn vị Tuy nhiên, tám nhóm danh
từ đó tần số xuất hiện nhiều, ít khác nhau, phản ánh những giá trị tinh thần và cung bậctình cảm khác nhau
Số lượng khảo sát Kho tàng ca dao xứ Nghệ gồm 1.894 bài, riêng lớp danh từ chúng tôi khảo sát được 8308 lượt từ Dân ca Nam Trung bộ gồm: 358 bài và lớp danh
từ có 3715 lượt từ xuất hiện Với một số lượng lớn lớp danh từ như vậy, nó phải giữmột vị trí quan trọng trong việc phân loại cấu tạo từ; cách kết hợp các từ loại với nhau
và diễn đạt nhiều tầng nghĩa khác nhau về đời sống tinh thần của con người trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung bộ.
Từ đó, chúng tôi thấy lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung
Bộ có vị trí, vai trò hết sức quan trọng về cả phương diện ngữ pháp và ngữ nghĩa.
Danh từ không chỉ có chức năng định danh, mang nghĩa đen, tả thực mà còn mangnhững nghĩa bóng, nghĩa biểu trưng nhằm chuyển tải những thông điệp thẩm mĩ củacác tác giả dân gian muốn gửi gắm qua những lời ca dao, dân ca Danh từ chính là mộttrong những từ loại đóng vai trò nòng cốt làm nên cấu trúc của sự tình được nói đếntrong diễn ngôn Sự thiếu vắng của danh từ sẽ không chuyển thể hết toàn bộ nội dungcủa sự việc được nói đến trong phát ngôn
1.4 Tiểu kết chương 1
Qua phần trình bày trên, chúng tôi rút ra những kết luận sau:
1 Xét về phương diện: thể thơ, kết cấu, hình tượng, không gian, thời gian, ngônngữ thì ca dao và dân ca cơ bản cùng một phương pháp nghiên cứu về mặt thi pháp.Tuy nhiên, ca dao phân biệt với dân ca ở những phương diện: ngữ nghĩa và ngữ pháp
2 Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ đã ghi lại được dấu ấn mỗi miền
quê Bên cạnh đó, ca dao dân ca mảng tình yêu lứa đôi đã thể hiện được những tìnhcảm, những nét cảm xúc tiêu biểu của người Việt Nam nói chung
3 Danh từ có một vị trí quan trọng trong tiếng Việt và trong thơ ca dân gian, cụ
thể ở đây là Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ Danh từ được phân thành
nhiều lớp từ như danh từ chỉ con vật, thực vật, đồ vật; danh từ thân tộc dùng để xưng
Trang 32hô; danh từ chỉ thời gian, không gian; danh từ trừu tượng; danh từ chỉ người và bộphận cơ thể người; danh từ chỉ tên riêng và địa danh; danh từ chỉ vật, chỉ người là từđịa phương; danh từ chỉ hiện tượng tự nhiên và danh từ đơn vị Từ sự phân chia đó,chúng tôi tìm hiểu danh từ trên hai phương diện ngữ pháp và ngữ nghĩa trong hai tuyển
tập Ca dao xứ Nghệ và Dân ca Nam Trung Bộ để thấy được sự tài tình, sáng tạo ngôn
ngữ của tác giả dân gian ở hai thể loại này
Chương 2
ĐẶC ĐIỂM NGỮ PHÁP CỦA LỚP DANH TỪ
Trang 33TRONG CA DAO XỨ NGHỆ VÀ DÂN CA NAM TRUNG BỘ
2.1 Đặc điểm ngữ pháp của lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ
2.1.1 Thống kê, phân loại
Danh từ là những từ có ý nghĩa thực thể (ý nghĩa sự vật) kết hợp được với các
từ chỉ định (này, nọ, kia, ấy ) và ít khi tự mình làm vị từ (thường phải đứng sau từ là).
Từ loại danh từ là một lớp lớn và đa dạng Căn cứ vào ý nghĩa khái quát, khả năng kếthợp và chức vụ cú pháp của danh từ chúng tôi thống kê phân loại danh từ về mặt cấu
tạo gồm có: Từ đơn, từ phức (từ láy và từ ghép) trong Ca dao xứ Nghệ.
Từ đơn là những từ do một hình vị tạo nên Đa số từ đơn tiếng Việt là từ đơnđơn âm Từ phức là những từ bao gồm hai hình vị trở lên Dựa vào phương thức cấutạo từ, có thể chia ra hai nhóm: từ láy và từ ghép Từ láy là những từ được cấu tạo dựatrên phương thức láy ngữ âm Còn từ ghép là một trong hai kiểu từ phức được tạothành bằng cách ghép hai hoặc hơn hai hình vị theo một kiểu quan hệ nhất định Từghép được chia làm hai nhóm: từ ghép đẳng lập và chính phụ
Bảng 2.1 Từ đơn và từ phức của lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ
Trang 34Ca dao xứ Nghệ, chúng tôi thấy số lượng từ đơn là danh từ có 684 từ chiếm tỉ lệ
37.6%, số lượng từ phức là danh từ có 1133 từ chiếm tỉ lệ 62.4% Trong đó, từ ghép làdanh từ có 1087 từ chiếm tỉ lệ 59.8% và từ láy là danh từ có 46 từ chiếm tỉ lệ 2.5%
Lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ được chia thành 8 nhóm đó là: danh từ chỉ
con vật, thực vật, đồ vật; danh từ thân tộc dùng để xưng hô; danh từ chỉ thời gian,không gian; danh từ trừu tượng; danh từ chỉ người và bộ phận cơ thể người; danh từchỉ tên riêng và địa danh; danh từ chỉ vật, chỉ người là từ địa phương; danh từ chỉ hiệntượng tự nhiên Căn cứ vào cách chia, chúng tôi đi vào mô tả, nhận xét như sau:
Trang 35- Trong lớp danh từ chỉ con vật, thực vật, đồ vật tần số xuất hiện từ đơn và từphức cũng khác nhau Đó là các từ chỉ con vật như:
Trong nhóm từ phức có từ láy và từ ghép Từ láy xuất hiện rất ít gồm có: ngọn nguồn, cột cờ, động đào, trống đồng, tử tiêu (5) Còn từ ghép thì từ ghép chính phụ số lượng nhiều hơn từ ghép đẳng lập Ví dụ: Từ ghép chính phụ có từ chim → chim trời, chim nhạn, chim én, chim oanh, chim đa đa Từ ghép đẳng lập có vợ hoặc chồng →
vợ chồng, chồng vợ
- Lớp danh từ thân tộc dùng để xưng hô trong Ca dao xứ Nghệ, từ đơn có
42/684 từ, chiếm tỉ lệ 6.1%; từ phức có 64/1133 từ chiếm tỉ lệ 5.7% Với lớp từ này,bên cạnh từ đơn thì từ ghép đẳng lập xuất hiện nhiều hơn bởi khi xưng gọi thường gắnnhững người yêu thương với nhau để gọi một cách trân trọngnhư:
Từ đơn Từ ghép đẳng lập Từ ghép chính phụ
chàng (232), thiếp mẹ thầy (6), mẹ cha lang quân (2), đông quân (2),
Trang 36(103), mẹ (65), vợ (55),
chồng (37), quan (18)
(10), vợ chồng (2), quan khách (1), phu thê (4), phu phụ (1), nam nữ
(1)
cô nàng (2), quân tử (1)
- Lớp danh từ chỉ thời gian, không gian có số lượng từ đơn 59/684, từ chiếm tỉ
lệ 8.6% gồm các từ: đường (72), nơi (54), chốn (23), vườn (14), làng (9), xã (8), xóm (4), miền (3), bến (1), ngõ (1), bờ (1); ngày (80), đêm (53), năm (41), xuân (21), canh (20), chiều (19), sáng (17), khuya (13), trưa (12), đông (10), tuổi (9), tháng (8), tối (8) Các từ chỉ không gian, thời gian thường nêu vị trí, thời điểm rõ ràng để nhân vật
gửi gắm tình cảm, nỗi niềm Còn từ phức có 214/1133 từ chiếm tỉ lệ 18.9% Trong đó,
từ ghép chính phụ nhiều hơn: vườn bầu/ vườn hồng/ vườn trúc; nhà ngoài/ nhà trong/ nhà buồng; khúc sông/ khúc nước; ngày mùa, đêm khuya/ đêm nay/ đêm qua/ đêm thu; năm nay/ năm ngoái/ năm qua/ năm xưa; buổi chiều/ buổi chợ Từ ghép đẳng lập có các từ như: xuân thu, ngày tháng, giang sơn, nam bắc, sơn lâm.
- Trong nhóm danh từ trừu tượng số lượng từ đơn có 16/684 từ chiếm tỉ lệ 2.3%
đó là: duyên (107), tình (93), thơ (37), phận (20), đời (13), đạo (10), kinh (1), thiên (1), địa (1), lễ (1) Từ phức có số lượng 134/1133 từ chiếm tỉ lệ 11.9% Lớp danh từ trừu
tượng chủ yếu là từ Hán – Việt Số lượng từ ghép chính phụ nhiều hơn từ ghép đẳnglập, đó là:
Từ ghép đẳng lập Từ ghép chính phụ
đào liễu, bút nghiên, càn khôn, giang
sơn, loan phượng, mận đào, quan sơn
tâm giao, chiêm bao, khuê trung, ân tình, công trình, sính lễ, thiên trường, tiền môn, tri tâm, trường thi
Lớp từ trừu tượng làm tăng thêm phần trang trọng trong lời nói tri ân giữa hai
người với nhau: tâm giao, tri tâm, ân tình
Kỳ sơn, kỳ thuỷ, kỳ phùng,
Lạ non, lạ nước, lạ lùng gặp nhau
- Tri ân, tri diện, tri tâm,
Trang 37Kháp người, kháp mặt, kháp tri âm với nàng.[tr.788]
- Trong lớp danh từ chỉ người và bộ phận cơ thể người trong Ca dao xứ Nghệ,
số lượng từ đơn là 38/684 từ chiếm tỉ lệ 5.6 %; còn số lượng từ phức là 127/1133 từchiếm tỉ lệ 11.2% Trong đó, từ ghép chính phụ xuất hiện nhiều bên cạnh từ đơn như:
lòng (101)/ lòng em (10), lòng son (3); mặt (52)/ mặt mũi (1); tiếng (47)/ tiếng cười (2); mắt (18); thân (17)/ thân em (7), thân gái (1), thân anh (1); tóc (11)/ tóc mai (2), tóc mây (1) Lớp danh từ chỉ người và bộ phận cơ thể người góp phần diễn tả biểu hiện của con người, của em: Hoa thơm thơm ở trên cây/ Đôi con mắt em lúng liếng, dạ
anh say lừ đừ
- Trong lớp danh từ chỉ tên riêng và địa danh, số lượng từ đơn là 42/684 từ
chúng gồm: Nam, Vạc, Tâm, Hán, Phật, Tấn, Huế, Hồ, Lan, Tàu, Kiều, Ngô, Sở, Tần, Tàu, Tây, chiếm tỉ lệ 6.1%; số lượng từ phức là 134/1133 từ chiếm tỉ lệ 11.9% Trong
đó, lớp danh từ chỉ các địa danh bên cạnh một danh từ chung có một danh từ riêng
như: (núi) Hùng Lĩnh, (cầu) Giăng, (cầu) Ngân,(sông) Ngân, (sông) Lam, (cảnh) Bồng Lai, (cảnh) Kim Liên; còn lớp từ chỉ tên riêng đó là gọi tên một nhân vật cụ thể nào đó trong sách vở hoặc trong dân gian như: Kim Trọng, Thúy Kiều, Châu Trần, Hằng Nga,
Bá Nha, Anh Đài, Chức Ngưu, Phạm Tải, Ngọc Hoa sự gắn kết các tên gọi như Thúy
Kiều – Kim Trọng; Phạm Tải – Ngọc Hoa Ý đồ nghệ thuật của tác giả dân gian là
gửi gắm những mong muốn, khát khao trong tình yêu lứa đôi, ví dụ: Phạm Công bấm với Cúc Hoa/ Sơn Bá, Anh Đài hai kẻ bấm nhau.
- Lớp danh từ chỉ vật, chỉ người là từ địa phương, số lượng từ đơn là 22/684 từ
chiếm tỉ lệ 3.2% gồm: chỉ (chỉn), đàng, rương, nồi, rú, nhạn (nhãn), nống, cẳng, đờn, đọt, rèm, du (dâu), đúa (rổ), gấy (vợ), nhông (chồng), ná (nứa), rọt (ruột), trấy (trái), vừng (vầng); số lượng từ phức 12/1133 từ chiếm tỉ lệ 1.1% gồm: nống kén, nống tằm, gấy nhông, hột dưa, khu beo, mô chèo, vừng trăng. Với lớp từ này, từ đơn nhiều hơn
từ ghép Lớp từ này không nhiều nhưng đã cho chúng ta hiểu được con người xứ Nghệ
từ giọng điệu đến phẩm chất: không mượt mà nhưng chất phác: Đất ta là đất rú ri/ Con gái đen sì cũng cứ kén nhông”
Trang 38- Lớp danh từ chỉ hiện tượng tự nhiên thì số lượng từ đơn là 30/684 chiếm tỉ lệ4.4%; số lượng từ phức là 27/1133 từ chiếm tỉ lệ 2.4% Bên cạnh một từ đơn xuất hiệnvới tần số lớn là hệ thống từ ghép chính phụ như:
Từ ghép đẳng lập rất ít: trăng gió (3), gió hương (2), biển hồ (1), biển sông (1).
Với lớp từ này, từ đơn nhiều hơn từ phức
Tóm lại, danh từ trong Ca dao xứ Nghệ số lượng từ đơn và từ phức xuất hiện ở
mỗi lớp danh từ khác nhau: Có lớp từ thì từ đơn nhiều hơn; có lớp từ thì từ đơn ít hơn
Từ đơn là cơ sở cho từ phức xuất hiện nhiều ít khác nhau Trong từ phức, từ ghépchính phụ xuất hiện nhiều hơn từ ghép đẳng lập Từ ghép chính phụ có số lượng lớn cógiá trị nhắc đi, nhắc lại nhằm nhấn mạnh một nội dung cần thiết cần gửi gắm tình cảm
Ví dụ: trầu → trầu hồi, trầu quế, trầu cay, trầu vàng, miếng trầu: Đôi ta chung một chuyến đò/ Trông cho vắng khách, trao cho miếng trầu”
2.1.3 Khả năng kết hợp của lớp danh từ trong Ca dao xứ Nghệ
Một danh từ trong câu đều có thể kết hợp với nhiều từ loại khác nhau Tuy nhiên,trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xem xét một số từ có tần số xuất hiện lớn Ví dụ: danh
từ anh, em có tần số xuất hiện rất lớn, có thể kết hợp với các danh từ khác để tạo nên mối
quan hệ gần gũi, gắn bó giữa con người với nhau, con người với các biểu tượng, các sự vật,
hay địa danh liên quan đến tình yêu; cụ thể là từ em (753).
2.1.3.1 Danh từ với danh từ
Em là cách xưng hô gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống và tình yêu Em thường đi liền với anh tạo thành một cặp Trong Ca dao xứ Nghệ, cách xưng gọi em
xuất hiện với tần số lớn hơn cả (740 lần), khả năng kết hợp hết sức linh hoạt đó là:
anhchồng
Trang 39em cha, mẹ
thầy mẹ bạn dâu
Em được đặt trong quan hệ với chồng, vậy em là vợ Ở đây, nghĩa vợ chồng thật
giản dị và cao đẹp
- Anh nghe em đau đầu chưa khá (khỏi), Anh băng ngàn (rừng) bẻ lá em xông, Biết mần răng (làm sao) cho đó vợ đây chồng,
Để mồ hôi ra thì anh chận (lau), ngọn gió nồng anh che
Em trong quan hệ với cha, mẹ; thầy mẹ, vậy em là con Đạo làm con luôn phải
vẹn toàn chữ hiếu Vai trò dâu con cũng được đặt ra
- Anh về đường ấy mấy cung,
Cho em về cùng, thăm mẹ thăm cha.
Vậy ở đây, em được đặt trong nhiều mối quan hệ: chữ tình (anh), chữ nghĩa
(chồng), chữ hiếu (cha mẹ) và tấm lòng của em với cha mẹ (con và dâu)
Em đi với danh từ chỉ sự vật, biểu tượng:
duyênngọn đèn con mắt
Em miếng trầu
nước mắtphậnyếm
Trang 40Từ em trong Ca dao xứ Nghệ nói riêng, ca dao nói chung thường gắn với chữ duyên, cái phận, nhan sắc Đây là quan niệm người con gái luôn có số phận, có cái
duyên khác nhau do ông Trời định đoạt, ví dụ:
Anhvề cho em về cùng,Đói no là phận, lạnh lùng có đôi [tr.76]
Anhqua bờ giếng, anhlượn bờ ao,Nước thì không khát, khát khao duyên nàng [tr.40]
Con lươn ngóc cổ thì con lươn bò,Con cò ngóc cổ thì con cò bay,Hôm nay anhgặp em đây, Trời khuyên đất bảo lòng say lấy lòng [tr.221]
Em thường gắn với hình ảnh ngọn đèn nhằm diễn tả nhiều cung bậc cảm xúc, những nỗi niềm sâu kín; em thường gắn với sự khéo léo “đường kim, mũi chỉ”, em với chiếc yếm truyền thống Em gắn với cau và trầu, đó là mơ ước đi tới hạnh phúc trong
hôn nhân
- Anh chơi cho rạng đông ra, Nhà em gần cạnh mời qua ăn trầu
- Ước gì anh rể em dâu,
Lo chi những sự ăn trầu rứa (thế) em!
Em được gắn với những sự vật, hiện tượng quen thuộc đó đã giúp chúng ta hiểu
thêm về em: người con gái mang đầy đủ những vẻ đẹp truyền thống cả vẻ bên ngoàilẫn cảm xúc, tâm trạng bên trong
Danh từ em đi với những danh từ riêng:
Châu Trần
Em Hằng Nga