Phơng pháp đối chiếu so sánh: So sánh, đối chiếu các từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu để thấy đợc sự giống nhau và khác nhau về tần số xuất hiện, khả năng hoạt động ngữpháp, kh
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
==== ====
Lơng thị Bích Nga
Đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa Của từ ngữ biểu thị tâm trạng Trong ca dao tình yêu ng ời việt
1.1 ở đâu có con ngời, ở đó có tâm lý - cảm xúc, có quan hệ tình cảm.
Do đó, không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà triết học, tâm lý học xa nay đãdày công phân tích những vấn đề liên quan tới trạng thái đặc biệt này củanhân loại Nhiều công trình nghiên cứu về con ngời đã tìm hiểu các biểu hiệntâm lý của con ngời, trong đó có việc nghiên cứu tâm lý của con ngời quangôn ngữ Ngôn ngữ là phơng tiện có khả năng phản ánh hiện thực, thể hiện
đời sống xã hội Trong từ vựng của ngôn ngữ, có một số từ ngữ có chức năng
Trang 2định danh tâm lý, đánh dấu các biến thái của trạng thái cảm xúc Tìm hiểu các
từ ngữ này sẽ phần nào cho ta thấy đợc ngôn ngữ hành chức ra sao trong cuộcsống và cuộc sống - trong đó có đời sống tinh thần - đã đợc thể hiện vào ngônngữ nh thế nào
1.2 Hạnh phúc và khổ đau, thơng nhớ và giận hờn, đợi chờ và thao thức,
buồn và vui… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, củatình yêu nói riêng - loại tình cảm lớn lao và đẹp đẽ nhất chỉ có trong xã hộiloài ngời Những cung bậc tình cảm này thể hiện trong các lĩnh vực giao tiếp,
rõ nhất là trong hội thoại hàng ngày, trong sáng tác thơ văn… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của Ca dao là lời ăntiếng nói của nhân dân, là tiếng hát tâm tình, kết tinh trí tuệ và xúc cảm tự bao
đời của biết bao thế hệ Việc tìm hiểu ca dao là góp phần làm rõ những đặc
tr-ng văn hoá dân tộc, tâm lý dân tộc Từ năm 1948, báo cáo “Chủ tr-nghĩa Mác vàvấn đề văn hoá Việt Nam” đã nêu rõ: “Bên cạnh văn hoá chính thống của cácthời đại, có cả một nền văn hoá nhân dân còn lu lại ở phơng ngôn, ngạn ngữ,
ca dao, cổ tích, tranh gà lợn… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của Văn hoá này tả sự phấn đấu của ngời sản xuất(làm ruộng, làm thợ), lòng mong mỏi hay chí phản kháng của dân, chế giễu
mê tín hủ tục hay khuyên răn điều thiện Đó là một kho tàng rất quý mà cácnhà văn hoá, sử học và khảo cổ nớc ta còn phải dày công tìm bới mới hiểu hết
đợc” [7; 15]
“Không có một chiếc chìa khóa vạn năng nào để mở cửa vào cuộc sốngnội tâm của một dân tộc, ngoại trừ ngôn ngữ của dân tộc đó” (Havvett) Vìthế, tìm hiểu ngôn ngữ trong ca dao, trong đó có mảng ca dao về tình yêu đôilứa là một trong những hớng nghiên cứu có khả năng chứng minh, lý giải đợcnhững cung bậc trạng thái tế vi của tình cảm con ngời, ngôn ngữ ca dao có thểxem là “chìa khoá mở cửa cuộc sống nội tâm của dân tộc”
Trên đây là những lí do cơ bản để chúng tôi thực hiện đề tài: “Đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu ngời Việt”.
2 Lịch sử nghiên cứu
2.1 Nghiên cứu về ca dao
Là tiếng vọng ân tình của ngời bình dân trong cuộc sống, ca dao có hìnhthức dễ hiểu, dễ nhớ, dễ thuộc Nhng từ “hiểu” đợc nội dung để “biết” một vấn
đề trong ca dao là một khoảng cách không phải lúc nào cũng dễ vơn tới Vìthế, nghiên cứu về folklre nói chung và nghiên cứu về ca dao nói riêng là mộtcông việc có mở đầu mà cha biết khi nào mới có kết thúc Đã có nhiều công
Trang 3trình nghiên cứu về ca dao với quy mô và hớng tiếp cận khác nhau Chúng tôinhận thấy có các xu hớng nghiên cứu sau:
2.1.1 Nghiên cứu về ca dao từ góc độ thi pháp học
Năm 1992, trong “Thi pháp ca dao”, Nguyễn Xuân Kính đã đề cập nhữngvấn đề sau:
- Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp ca dao
- Ngôn ngữ trong ca dao
- Thể thơ
- Kết cấu
- Thời gian và không gian nghệ thuật
- Một số biểu tợng trong ca daoNăm 1998, tác giả Trần Đình Sử nghiên cứu những đặc điểm sau:
- Nhân vật trữ tình trong ca dao
- Kết cấu trong ca dao
- Hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ trong ca dao
2.1.2 Nghiên cứu ca dao từ góc độ ngôn ngữ học
Đã có một số công trình, bài nghiên cứu đề cập đến ngôn ngữ trong cadao ở các khía cạnh:
“Nghiên cứu lời đối đáp trong ca dao trữ tình”, Cao Huy Đỉnh, Tạp chí
2.2 Nghiên cứu về từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao nói chung
và ca dao tình yêu nói riêng
Đã có một số công trình nghiên cứu cũng ít nhiều, trực tiếp hoặc gián tiếp
đề cập đến vấn đề này Có thể kể đến các luận văn:
- Hồ Thị Bảy, Yếu tố thời gian trong ca dao tình yêu đôi lứa, ĐHSP, 1998.
- Đỗ Hữu Vân, Đặc điểm phần mở đầu trong ca dao trữ tình Việt Nam,
ĐHSPV, 2002
Trang 4- Nguyễn Thị Mai Hơng, Ngôn ngữ thể hiện hành động trong ca dao
Việt Nam, ĐHSPV, 2006.
Tuy nhiên các công trình đó chỉ có tính chất điểm qua chứ cha đi sâunghiên cứu cụ thể các từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu Trên cơ sởnhững công trình đi trớc, luận văn sẽ góp thêm tiếng nói của mình, đa ra sốliệu và phân tích đặc điểm một phơng diện sử dụng ngôn ngữ trong ca dao ng-
ời Việt, làm cho văn học dân gian thêm phong phú, đa dạng
3 Đối tợng, mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng
Luận văn tìm hiểu hoạt động của các từ ngữ chỉ tâm trạng đợc dùng phổbiến, có tần số xuất hiện cao trong ca dao Việt Nam viết về đề tài tình yêu.Nguồn t liệu khảo sát lấy từ công trình: “Kho tàng ca dao ngời Việt” (hai tập),Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thị Loan, Đặng Diệu Trang,Nxb VHTT, 2001 (3080 trang) Ngoài ra, nguồn t liệu còn đợc tham khảotrong các cuốn:
- “Ca dao tình yêu”, Vơng Trung Hiếu tuyển chọn, biên soạn, Nxb Tổnghợp Đồng Nai, 2006
- “Ca dao Nghệ Tĩnh”, Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao su tầm, biênsoạn, Nghệ An, 1984
3.2 Mục đích
- Tìm hiểu khả năng hành chức của các từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca daotình yêu, giúp cho công tác giảng dạy và hoạt động văn học dân gian trongnhà trờng phổ thông có cái nhìn toàn diện, sâu sắc về ca dao, đặc biệt là cadao tình yêu dới góc độ ngôn ngữ
- Phân tích các đặc điểm về ngữ nghĩa của các từ ngữ chỉ tâm trạng trong
ca dao tình yêu qua từng ngữ cảnh, góp phần làm nổi bật những nét đẹp tâmhồn của ngời bình dân Việt Nam
3.3 Nhiệm vụ
- Thống kê phân loại các từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu ngời Việt
- Nêu các đặc điểm về ngữ pháp của từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca daotình yêu ngời Việt
- Nêu các đặc điểm về ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tâm trạng trong các ngữcảnh sử dụng trong ca dao tình yêu ngời Việt
4 Phơng pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm vụ đã đề ra, trong quá trình khảo sát, luận văn sửdụng các phơng pháp sau:
Trang 54.1 Phơng pháp thống kê, phân loại:
- Thống kê các từ ngữ chỉ tâm trạng và tần số xuất hiện của từng từ trong
ca dao tình yêu trong nguồn t liệu đã xác định
- Phân loại các từ ngữ đã thống kê theo từng tiểu loại
4.2 Phơng pháp đối chiếu so sánh:
So sánh, đối chiếu các từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu để thấy
đợc sự giống nhau và khác nhau về tần số xuất hiện, khả năng hoạt động ngữpháp, khả năng biểu đạt ý nghĩa… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
4.3 Phơng pháp phân tích - miêu tả và tổng hợp
Phân tích kết hợp với miêu tả để thấy đợc một cách cụ thể đặc điểm vềngữ pháp và ngữ nghĩa của từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu, từ đó
có cái nhìn tổng quát hơn về đối tợng nghiên cứu
5 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, luận văn gồm ba chơng:
Chơng 1: Một số vấn đề liên quan đến đề tài
Chơng 2: Đặc điểm ngữ pháp của từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu ngời Việt
Chơng 3: Đặc điểm về ngữ nghĩa của từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu ngời Việt.
Cuối cùng là th mục Tài liệu tham khảo giúp ngời đọc có cơ sở tra cứu
khi cần thiết
Chơng 1 Một số vấn đề liên quan đến đề tài
1 Một số đặc điểm của ca dao Việt Nam
1.1 Khái niệm ca dao
Khái niệm về ca dao đợc nhiều tác giả bàn đến trong các công trìnhnghiên cứu khoa học Song cho đến nay vẫn cha có sự thống nhất trong quanniệm Trớc đây, ngời ta gọi ca dao là phong dao vì có những bài ca dao phản
Trang 6ánh phong tục tập quán, lễ nghi của mỗi địa phơng, mỗi thời đại Nhng dầndần cách gọi này ít đợc sử dụng, nhờng chỗ cho từ ca dao.
Ca dao là một thuật ngữ Hán - Việt Theo cách hiểu thông thờng thì cadao là lời của các bài hát dân ca đã tớc bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, củahoặc ngợc lại, là những câu thơ có thể phổ thành những làn điệu dân ca Nhvậy, giữa ca dao và dân ca không có ranh giới rõ rệt Sự phân biệt giữa ca dao
và dân ca chỉ là ở chỗ khi nói đến ca dao, ngời ta thờng nghĩ đến những lời thơdân gian, còn khi nói đến dân ca ngời ta nghĩ đến cả làn điệu, những thể thứchát nhất định
Tác giả Vũ Ngọc Phan định nghĩa: "Ca dao là một loại thơ dân gian cóthể ngâm đợc nh các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca"
Định nghĩa này xem ca dao là một thuật ngữ chỉ một thể thơ dân gian Ôngcho rằng: "Nếu xét về nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao ở chỗ
đợc hát lên trong hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nhất định, hay những
địa phơng nhất định Dân ca thờng mang tính chất địa phơng, không nh ca dao
là những bài ít có địa phơng tính, dù nội dung ca dao có nói về một địa phơngthì chúng vẫn đợc phổ biến rộng rãi" [44, 43]
Tác giả Nguyễn Xuân Kính cho rằng: "Ca dao đợc hình thành từ dân ca.Khi nói đến ca dao, ngời ta thờng nghĩ đến lời ca Khi nói đến dân ca, ngời tanghĩ đến cả làn điệu và những thể thức khác nhất định Nh vậy, không cónghĩa là toàn bộ hệ thống những câu hát của một loại dân ca nào đó (nh háttrống quân, hát quan họ… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của) cứ tớc bớt tiếng đệm, tiếng láy, tiếng đa hơi thì sẽ
đều là ca dao" Từ cách lập luận đó, ông đi đến định nghĩa: " Ca dao là nhữngsáng tác văn chơng đợc phổ biến rộng rãi, đợc lu truyền qua nhiều thế hệ,mang những đặc điểm nhất định và bền vững phong cách" [30,79]
Theo "Bách khoa tri thức phổ thông" (Nxb VHTT, H 2000, tr.1191) thì
“Ca dao là những bài thơ trữ tình dân gian truyền khẩu đợc phổ biến rộng rãi,
lu truyền qua nhiều thế hệ”
Hiện nay, từ ca dao có ba cách hiểu:
a Ca dao là những bài hát dân ca hay - là dân ca (là phần lời và điệu)
b Chỉ có phần lời bài hát
c Những lời hay nhất
Tuy có nhiều cách hiểu và mỗi cách hiểu là một cách tiếp cận khác nhau,nhng ở đây chúng tôi không bàn về khái niệm ca dao mà chỉ điểm qua các ýkiến nh trên để đi đến thống nhất theo một quan niệm nhất định để làm cở sở
Trang 7khảo sát Chúng tôi đã áp dụng định nghĩa của nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần
Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi: "Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ nhữngbài hát lu hành phổ biến trong dân gian, có hoặc không có khúc điệu" [21, 22]
1.2 Một số đặc điểm về hình thức và nội dung của ca dao Việt Nam
Ca dao là nguồn thơ dân gian vô tận, có lịch sử lâu đời và sức sống mãnhliệt Ca dao Việt Nam là biển cả mênh mông, là nơi hợp nguồn của vô vàndòng sông, con suối từ khắp các vùng, miền trong nớc Ca dao là tiếng vọngtâm hồn, tiếng nói tình cảm của nhân dân lao động trong trờng kì xây dựng vàbảo vệ Tổ quốc, hành trình song song cùng với lịch sử dân tộc Vì vậy, ca daokhông chỉ lớn về số lợng tác phẩm mà còn hết sức phong phú về nội dung, đadạng về hình thức nghệ thuật
1.2.1 Nội dung phản ánh của ca dao
Có thể nói, muốn hiểu biết về tình cảm của nhân dân Việt Nam xem dồidào, thắm thiết, sâu sắc đến mức độ nào, rung động nhiều hơn cả về nhữngkhía cạnh nào của cuộc đời thì không thể nào không nghiên cứu ca dao ViệtNam Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thớc cho lối thơ trữ tình.Tình yêu của ngời lao động Việt Nam biểu hiện trong ca dao về nhiều mặt:tình yêu giữa đôi bên trai gái, yêu gia đình, yêu xóm làng, yêu đồng ruộng,yêu đất nớc, yêu lao động, yêu giai cấp, yêu thiên nhiên, yêu hoà bình Khôngnhững thế, ca dao còn biểu hiện t tởng đấu tranh của nhân dân Việt Nam trongcuộc sống xã hội, trong những khi tiếp xúc với thiên nhiên và ca dao còn biểuhiện sự trởng thành của t tởng ấy qua các thời kỳ lịch sử
Do ở cảm xúc mà cấu tạo nên lời ca, nên tính t tởng của nhân dân ViệtNam biểu lộ ở ca dao không những làm cho ngời ta cảm nhận đợc tình yêuthắm thiết mặn nồng của họ, mà còn cho ngời ta thấy phẩm chất của họ trongcác cuộc đấu tranh thiên nhiên, đấu tranh xã hội Họ đã vất vả nh thế nàotrong công cuộc cải tạo thiên nhiên, hào hứng nh thế nào trong khi thu đợcthắng lợi, họ đã căm hờn những kẻ áp bức bóc lột mình và đã bền bỉ đấu tranhchống kẻ ấy nh thế nào, họ đã vơn lên không ngừng nh thế nào để giành lấyhạnh phúc Tìm hiểu đợc những điều đó, chúng ta sẽ thấy đợc tính chiến đấu,tính phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa của ca dao
Nh vậy, ngoài sự biểu hiện đời sống tình cảm, đời sống vật chất của conngời, ca dao còn phản ánh ý thức lao động, sản xuất của nhân dân Việt Nam
và tình hình xã hội thời xa trên tất cả các mặt kinh tế và chính trị, xã hội
Trang 8Những biểu hiện ấy đều xuất phát từ cảm xúc trữ tình của ngời lao động nên
đã trở thành lời ca đi cùng năm tháng với lịch sử dân tộc
1.2.2 Hình thức nghệ thuật của ca dao
Phạm vi nghiên cứu thi pháp ca dao rất rộng nhng ở đây chúng tôi chỉ đềcập đến một số đặc điểm chính liên quan đến đề tài luận văn
1.2.2.1 Ngôn ngữ
Nói đến ca dao, trớc hết phải nói đến phơng tiện biểu hiện chủ yếu của
ca dao, tức là ngôn ngữ Bởi vì ca dao là phần lời của dân ca, các yếu tố nhạc
điệu, động tác có vai trò rất quan trọng trong dân ca, còn ở phần lời thơ thì vaitrò chủ yếu thuộc về ngôn ngữ, các yếu tố khác trở thành thứ yếu Chính vìvậy mà ca dao có khả năng sống độc lập ngoài ca hát và trở thành nguồn thơtrữ tình dân gian truyền thống lâu đời và phong phú nhất của dân tộc
Trớc hết, ngôn ngữ ca dao là sự kết hợp giữa ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ
đời thờng Có những câu ca dao sử dụng ngôn ngữ điêu luyện, tinh tế:
Vì hoa tham sắc lấy vàng Cho nên hoa phải mặn mà tiết thu.
Và cũng có những câu ca dao với những lời mộc mạc, đời thờng, rất khẩu ngữ:
Gặp em thì gặp cho lâu
Đừng gặp một tí cho sầu lòng em.
Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong “Thi pháp ca dao” cho rằng: “Đa sốnhững lời ca dao trữ tình là những văn bản biểu hiện” Điều này có nghĩa làkhi sáng tác thơ và ca dao, các tác giả đã lựa chọn và kết hợp các đơn vị ngônngữ Kết quả của thao tác chọn lựa này là những văn bản biểu hiện Nội dungbiểu hiện trong ca dao có thể là miêu tả, bày tỏ trực tiếp tình cảm, thái độ:
Gặp em anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này, có lấy anh không?
Nội dung ca dao cũng có thể là nghĩa bóng, nghĩa hàm ẩn:
Công anh chăn nghé đã lâu Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày
hay:
Anh nói em cũng nghe anh Bát cơm đã trót chan canh mất rồi Nuốt đi đắng lắm anh ơi
Bỏ ra thì để tội trời ai mang.
Trang 9Vì vậy, trong ca dao Việt Nam, ta còn thấy nhiều bài có còn có tính đanghĩa trong hầu hết các lời ca, đặc biệt là ca dao cổ truyền Thật vậy, đằng saunhững cách diễn đạt bóng bẩy, gợi cảm có sức hấp dẫn và lôi cuốn khi trìnhbày lại chứa hai, ba hình thức biểu hiện của tính đa nghĩa Cũng bởi nhờ cácbiện pháp tu từ, sự diễn đạt vừa mang tính cụ thể, hình ảnh do nghĩa đen gợi
ra, vừa mang tính khái quát hàm súc do nghĩa bóng chứa đựng Chính vì thế,
sự xuất hiện với tần số cao của các biện pháp tu từ, đặc biệt là so sánh và ẩn
dụ trong văn bản ca dao là điều có thể lí giải đợc
Có thể nói, tính đa nghĩa là một đặc trng của văn học nghệ thuật nóichung và của ca dao nói riêng Xem xét ca dao với tính đa nghĩa trên bìnhdiện ngôn ngữ văn học thực chất là nghiên cứu thi pháp ngôn ngữ ca dao, vàcông việc này đã góp phần tích cực tạo nên sự hấp dẫn và sức quyến rũ lâu bềncho bộ phận thơ ca dân gian này
1.2.2.2 Kết cấu
Phạm vi của kết cấu (hay cấu trúc) ca dao rất rộng, bao gồm sự tổ chứcthanh điệu, vần, nhịp, tổ chức nội dung, cấu tạo ý, tứ, đoạn mạch, độ dàingắn Vì thế việc nghiên cứu, lí giải một cách toàn diện các phơng tiện khácnhau của ca dao là rất khó và đến nay chỉ mới có một số nhận xét bớc đầu vềmột số phơng diện nhất định
Từ xa các học giả Trung Quốc dựa vào ca dao cổ trong Kinh Thi đă nêu
lên ba cách làm ca dao cổ điển gọi là ba thể “phú”, “tỉ”, “hứng” Nhiều nhà
nghiên cứu nớc ta đã tiếp thu và coi đó là ba thể cổ điển trong ca dao truyềnthống Việt Nam
Gần đây, tác giả Nguyễn Xuân Kính trong “Thi pháp ca dao” đã căn cứvào “ý lớn” và “các phán đoán” trong mỗi lời ca dao để phân ra các dạng kếtcấu của ca dao Tác giả đã nêu lên năm dạng kết cấu của ca dao là:
- Kết cấu một vế đơn giản
- Kết cấu một vế phần vần
- Kết cấu hai vế tơng hợp
- Kết cấu hai vế đối lập
- Kết cấu nhiều vế nối tiếpTuy còn khác nhau khá nhiều về cách nhìn nhận, tiếp cận và kết quảnghiên cứu, nhng những ý kiến nêu trên với mức độ khác nhau đã góp phần
đáng kể cho việc tìm hiểu kết cấu ca dao
Trang 10Xét theo quy mô (độ dài ngắn) có thể phân ca dao (chủ yếu là ca dao lụcbát, bộ phận lớn nhất của ca dao) thành ba loại chính:
- Loại ca dao ngắn, từ 1 – 2008 2 câu (mỗi câu 2 vế hay 2 dòng)
- Loại ca dao trung bình, từ 3 - 5 câu (6 đến 10 dòng)
- Loại ca dao dài, từ 6 câu trở lên (12 dòng trở lên)
Xét theo phơng thức thể hiện, diễn đạt, ca dao có ba phơng thức thể hiện
- Kết hợp cả ba phơng thức: trần thuật, miêu tả, đối thoại
Do điều kiện truyền miệng và nhu cầu ứng tác, nhân dân thờng sử dụngnhững khuôn, dạng có sẵn, tạo nên những đơn vị tác phẩm hoặc dị bản haohao nh nhau Tác giả Nguyễn Xuân Kính gọi đó là hiện tợng lắp ghép hay làhiện tợng trùng lặp dòng thơ
Tác giả Triều Nguyên trong “Tiếp cận ca dao bằng phơng pháp xâuchuỗi” đã thống kê, phân loại và mô hình hóa các bài ca dao thành 4 dạng:
- Dạng 1: Các dị bản của cùng một bài ca dao
- Dạng 2: Các bài ca dao có cùng mô hình cấu trúc
- Dạng 3: Các bài ca dao cùng có một bộ phận lời ca giống nhau
- Dạng 4: Các bài ca dao cùng chứa một mô hình cấu trúc (Tr 28)
1.3 Mảng đề tài tình yêu trong ca dao Việt Nam
Ca dao tình yêu bao gồm toàn bộ lời ca về đề tài tình yêu nam nữ, ra đờitrong sinh hoạt dân ca của nhân dân, chủ yếu là trong hát giao duyên Đây là
bộ phận lời ca chiếm tỉ lệ lớn nhất xét về mặt số lợng và có nhiều bài hay nhấtxét về mặt chất lợng trong ca dao trữ tình của ngời Việt Tại sao lại nh vậy?
Có ngời giải thích bằng nguyên nhân đề tài, cho rằng tình yêu là đề tài phổbiến và trờng cửu, có nhiều ngời ở nhiều thời kì khác nhau cùng tham gia sángtác lu truyền, từ đó mà tích luỹ thành số lợng lớn Thực ra nguyên nhân chủ
Trang 11yếu và quan trọng không phải nh vậy Ca dao tình yêu cũng là một sản phẩmlịch sử nh mọi thể loại Văn học dân gian khác Nó nảy sinh rất sớm do nhucầu thổ lộ tình cảm yêu đơng nam nữ thanh niên trong nhân dân Và sự nở rộcủa ca dao tình yêu chính là một biểu hiện, một bộ phận của trào lu nhân vănchủ nghĩa, đòi quyền sống, quyền tự do, tự chủ cho con ngời, chống lại những
t tởng quan niệm phong kiến lạc hậu lỗi thời trong giai đoạn xã hội phongkiến suy tàn ở nớc ta
Đến với ca dao tình yêu đôi lứa, chúng ta thấy xuất hiện hai nhân vật trữtình chủ yếu, đó là chàng trai và cô gái Hai nhân vật này thờng xng hô vớinhau bằng những cặp đại từ và những hình tợng ẩn dụ, tợng trng quen thuộc,
nh: Anh - em, thiếp - chàng, mình - ta, mận - đào… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của Họ bộc lộ tình cảm củamình, tâm t của mình, thế giới nội tâm của mình và cảm xúc thẩm mỹ củamình trong tác phẩm thơ ca
Toàn bộ ca dao tình yêu giống nh một vở kịch thơ dài với trăm hồi, ngàncảnh khác nhau Trong đó, hai nhân vật chính chàng trai và cô gái thờngxuyên có mặt và trò chuyện với nhau suốt mọi hồi, mọi cảnh Cuộc trò chuyệncủa họ diễn ra ở nhiều nơi, nhiều lúc Khi thì bên khung cửi, cối gạo đêm trăng,khi thì trên ruộng gặt… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của nói chung là khung cảnh lao động nông thôn gần gũi,thân thuộc và nên thơ
Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng,
Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?
Đan sàng thiếp cũng xin vâng, Tre vừa đủ lá non chăng hỡi chàng?
Nhng tình yêu đâu chỉ là hạnh phúc và ngọt ngào Trong ca dao tình yêu,
chúng ta gặp gỡ biết bao số phận, biết bao nỗi niềm nỗi niềm của họ: vui,
buồn, yêu thơng, nhớ nhung, đợi chờ, thất vọng, đau khổ… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của với ngời từng yêuthơng hoặc mới chỉ một lần gặp gỡ Các nhân vật trữ tình dù ở cung bậc nàocủa tình yêu cũng luôn thể hiện đợc nỗi lòng mình một cách sâu sắc và tế nhị
Trang 12ở luận văn này, chúng tôi tìm hiểu "Đặc điểm ngữ pháp - ngữ nghĩa của
từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu ngời Việt" là dựa vào bảng tracứu ca dao theo chủ đề của Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Nguyễn ThịLoan, Đặng Diệu Trang biên soạn, Nxb VHTT, 2001 Chúng tôi tra cứu theo
chủ đề "quan hệ nam nữ" với bốn tiểu mục:
* Những lời phản ánh tâm trạng chung cho cả nam và nữ
* Những lời thể hiện tình cảm của nữ
* Những lời diễn đạt tình cảm của nam
* Những lời nam nữ đối đáp
Trong từng tiểu mục, chúng tôi đều khảo sát các từ ngữ biểu thị tâm trạngtheo hai cung bậc trạng thái: Tích cực (+) và tiêu cực (-)
• Trạng thái (+): tập hợp những từ ngữ phản ánh trạng thái tình cảm thắm
thiết, tình cảm trong hoàn cảnh thuận lợi may mắn hoặc ít nhất cũng cha códấu hiệu trắc trở, tan vỡ
• Trạng thái ( -): tập hợp những từ ngữ mang cảm xúc nảy sinh trong tình
huống rủi ro, ngang trái hoặc trong điều kiện tình yêu không thành
2 Khái niệm "tâm trạng" và từ ngữ biểu thị tâm trạng
2.1 Khái niệm" tâm trạng"
Trong đời sống hàng ngày, "tâm lí" có thể hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ thái độ,cách c xử của con ngời Nhng để hiểu "tâm lí" một cách chính xác và khoa học,loài ngời đã phải trải qua một thời gian dài nghiên cứu, thử nghiệm, đã phảichứng kiến biết bao cuộc đấu tranh quyết liệt giữa các khuynh hớng khác nhau.Các nhà chủ nghĩa duy tâm cho rằng "hiện tợng tâm lí là bản chất siêu hình đặcbiệt của sinh vật và đợc gọi là linh hồn" [23, 15] Đối lập với quan điểm trên,các nhà chủ nghĩa duy vật cho rằng "tâm lí là biểu hiện của vật chất, là sản
phẩm dới dạng đặc biệt của vật chất, có tổ chức cao là bộ não của con ngời"
[23,16]
Qua các ý kiến trên, chúng ta có thể hiểu một cách chung nhất, "tâm lí"
là sự phản ánh chủ quan thế giới khách quan, có cơ sở tự nhiên là hoạt độngthần kinh và hoạt động nội tiết, đợc nẩy sinh bằng hoạt động sống của từngngời và gắn bó với các quan hệ xã hội lịch sử Đặc biệt, sự phản ánh này làmuôn màu, muôn vẻ và phức tạp Phản ánh là một quá trình đi từ nhận thứccảm tính tới nhận thức lí tính rất phức tạp để nhận biết bản thân sự vật hiện t-ợng từ thuộc tính bên ngoài đến bản chất Tâm lí ngời không phải do thợng đế,
Trang 13do trời sinh mà tâm lí ngời là sự phản ánh hiện thực khách quan khách quanvào não ngời thông qua "lăng kính chủ quan" Trong mối quan hệ qua lại vớithế giới xung quanh, con ngời không chỉ cảm nhận, suy nghĩ, nhớ lại hoặc t-ởng tợng ra mà còn thực hiện những hành động khác nhau gây nên những biến
đổi xung quanh nhằm thoả mãn nhu cầu không ngừng tăng lên của mình
Nh vậy, hiện tợng tâm lý là những hiện tợng phức tạp nằm ngay trongthực thể, diễn biến theo các cung bậc tình cảm và ý thức khác nhau khi chủthể cảm nhận, tri giác, nhận thức hoặc bị tác động bởi một đối tợng nào đó Cóthể chia hiện tợng tâm lý của con ngời ra thành hoạt động tâm lý, quá trìnhtâm lý, t thế tâm lý, trạng thái tâm lý (hay còn gọi là tâm trạng)
Theo cuốn "Từ điển tiếng Việt" của Viện ngôn ngữ học, (2006) tâm trạng
đợc định nghĩa: "tâm trạng là trạng thái tâm lý, tình cảm" (tr 897)
Ví dụ: Tâm trạng vui vẻ, phấn chấn
Tâm trạng sảng khoái lúc ban mai
Có tâm trạng hoài nghi chán nản của kẻ liên tiếp bị thất bại Theo cuốn "Từ điển Hán Việt" của tác giả Lê Hữu Thảo, Trần Văn Nam,
(2002) thì khái niệm"tâm trạng" đợc giải thích: "Tâm là lòng, tình cảm Trạng
Văn học là nhân học, tác phẩm văn học nào cũng biểu hiện cảm xúc vàtình cảm, tâm trạng của con ngời Nhng ca dao tình yêu đôi lứa ngời Việt làtấm gơng phản ánh đợc mọi biểu hiện của tình yêu ở những cung bậc sắc tháikhác nhau Bởi tình yêu, đó là trạng thái tình cảm khó nói nhất, phức tạp nhất
mà đáng yêu nhất của con ngời Đến với thế giới của tình yêu là chúng ta bớcvào thế giới lung linh, kỳ ảo của biến đổi về cảm xúc, tâm trạng Điều đó đợcthể hiện qua các từ ngữ biểu thị tâm trạng hết sức giản dị nhng vẫn không kémphần sâu sắc
2.2 Các từ ngữ biểu thị tâm trạng trong tiếng Việt
Những từ tiếng Việt biểu thị trạng thái tâm lý - tình cảm của con ngời đợc
gọi là từ ngữ chỉ tâm trạng Chẳng hạn nh vui, buồn, giận, sợ, yêu,
Trang 14ghét Nhóm từ này có số lợng khá lớn Tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong
“Đặc trng ngữ nghĩa - ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí - tình cảm trongTiếng Việt” đã dựa vào từ điển tiếng Việt thống kê sơ bộ đợc 300 từ chỉ tâmtrạng Nếu thu thập đầy đủ những từ phái sinh và thu thập thêm các tổ hợp,các thành ngữ biểu thị tâm trạng (nh hết hồn, tím ruột bầm gan, méo mặt )thì số lợng từ ngữ này chiếm trên 1% tổng số đơn vị thu thập của từ điển tiếngViệt (gồm 36.000 mục từ)
Nhng điều quan trọng hơn là từ ngữ chỉ tâm trạng thuộc lớp từ vựng cơbản, nó biểu thị một trong những hoạt động cơ bản của con ngời - đó là hoạt
động tâm lí ở đâu có con ngời ở đó có phản ứng tâm lí - tình cảm, có quan hệtình cảm Các từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm, do đó, có tần số sử dụngcao Ví dụ, trong 1627 câu thơ lục bát của Truyện Kiều thì từ “thơng” đợcdùng 44 lần, “nhớ” – 2008 33 lần, “sợ” – 2008 11 lần, “buồn” – 2008 10 lần, “ngờ” – 2008 9lần, “yêu” – 2008 8 lần, “mong” – 2008 8 lần, “tin” – 2008 8 lần, “ghen” – 2008 7 lần
2.2.1 Đặc điểm ngữ pháp
2.2.1.1 Các từ ngữ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm trong tiếng Việt tạo
thành một nhóm từ đặc biệt mà hầu hết các sách ngữ pháp tiếng Việt đềunhắc tới (Nguyễn Tài Cẩn -1975, Nguyễn Kim Thản – 2008 1977, Đinh Văn Đức– 2008 1986, Đỗ Thị Kim Liên - 1999) Đó là các động từ có khả năng kết hợp với
các phụ từ chỉ mức độ, giống nh tính từ (so sánh rất vui, ghét quá và rất đẹp,
to quá)
Tác giả Nguyễn Tài Cẩn khi phân tích trung tâm động ngữ đã dựa vào
khả năng kết hợp với thành tố phụ xong đối lập “động từ chỉ sự việc có khả
năng kết thúc” nh ăn, đọc với những “động từ chỉ sự việc không có khả năng kết thúc”, nh biết, hiểu, ghét Rồi dựa vào khả năng kết hợp với phụ từ chỉ mức
độ hơi, rất quá để phân biệt những “động từ có khả năng tăng giảm mức độ”,
nh yêu, ghét, lo sợ, giận với những “động từ không có khả năng giảm mức
độ”, nh đánh, ngồi (9, 255).
Tác giả Nguyễn Kim Thản dựa vào sự "phân phối của các từ h phục vụ
động từ " để chia tiếng Việt ra thành 6 nhóm, trong đó nhóm 5 và nhóm 6phần lớn là các từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm.Tác giả đã sử dụng ba nhómtiêu chí trong việc phân loại động từ: phụ từ biểu thị sự lặp lại của hoạt động
đi lại; phụ từ biểu thị phơng hớng của hoạt động ra, vào, lên, xuống; phụ từ
biểu thị mức độ rất, hơi, khí Theo tác giả, nhóm từ biểu thị trạng thái tâm lí
Trang 15-tình cảm có đặc trng không thể kết hợp đợc với cặp phụ từ biểu thị sự lặp lạicủa hoạt động, những phó từ phơng hớng và chỉ kết hợp đợc với những phó từ
biểu thị mức độ, nh áy náy, băn khoăn, bứt rứt, hối hận, lo sợ, lo ngại, mơ ớc,
luyến tiếc [52, 123].
Tác giả Đinh Văn Đức lại xử lí nhóm từ biểu thị trạng thái - tâm lí tìnhcảm nh tính từ Tác giả cho rằng: “tính từ còn bao gồm những đặc trng đợchình thành theo những chủ quan của con ngời trong quan hệ với đối tợng - những
quan hệ của trạng thái tình cảm (vui, buồn, thơng, yêu)" [17, 150] Nhng theo tác giả: “những tính từ chỉ đặc trng thiên về trạng thái nên có sắc thái “động” (vui,
buồn, thơng, yêu, nhớ, mong ) cho nên đấy là những từ mà từ một phơng diện
khác còn có thể coi là động từ chỉ cảm xúc” [17, 160]
Tất cả những điều vừa nêu nói lên những đặc điểm riêng về mặt từ loạicủa các từ chỉ trạng thái tâm lí – 2008 tình cảm trong tiếng Việt Đến đây, chúngtôi tạm thừa nhận phần lớn những từ này mang đặc trng từ loại động từ, một số
ít mang đặc trng tính từ hay có đặc trng vừa của động từ, vừa của tính từ Nhvậy, hiện tợng hoạt động tâm lí - tình cảm đợc biểu thị trong tiếng Việt chủyếu bằng từ loại động từ Điều này hợp lí và phù hợp với ý nghĩa của từ loại
động từ: lớp từ có ý nghĩa khái quát về hoạt động, trạng thái Hiện tợng tâm lí
- tình cảm chính là sự hoạt động của tình cảm, sự dao động của trạng thái nộitâm ở mức độ nào đó, từ hoạt động tâm lí – 2008 tình cảm “ghi lại” trạng thái
Yếu tố đáng, dễ có thể kết hợp với nhiều động từ chỉ trạng thái tâm lí – 2008 tình cảm để tạo thành tổ hợp tính từ: đáng yêu, đáng thơng, dễ ghét Còn
yếu tố tình, nỗi, niềm, lòng kết hợp với động từ chỉ trạng thái tâm lí – 2008 tình
cảm để tạo thành tổ hợp danh từ: tình yêu, nỗi buồn, niềm vui, lòng thơng.
Ngoài ra, trong nhóm từ này còn có hiện tợng gọi là “đa từ loại” – 2008 một
đặc điểm của từ tiếng Việt Chẳng hạn, so sánh buồn trong tôi buồn (động từ)
và chia buồn (danh từ); hoặc hận trong hận đời (động từ) và ôm hận (danh từ).
Trang 162.2.1.2 Với đoản ngữ có động từ tâm lí – 2008 tình cảm làm trung tâm, ở
phần đầu cũng xuất hiện những phụ từ đứng ở phần đầu động từ nh đã, đang,
hãy, đừng, Nhng ở vị trí này cũng nh ở phần sau của đoản ngữ còn có thể có
các phụ từ chỉ mức độ rất, hơi, quá, lắm, khiến cho những đoản ngữ này
khác hẳn các động ngữ thông thờng Và nói chung phần sau của đoản ngữphức tạp hơn
Một số động từ: thẹn, ngạc nhiên, vui, buồn,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của không có yếu tố chỉ đối tợng trực tiếp Trờng hợp này gần giống những động từ nội động biểu thị trạng
-thái, nh ngủ, nằm, đi,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
Một số động từ: yêu, ghét, giận, sợ, thích, thơng,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của có yếu tố chỉ đối tợng
nh những động từ ngoại động Nhng “đối tợng” ở đây lại là những sự vật cótác động tới hoạt động tâm lí – 2008 tình cảm
Hay gặp nhất là yếu tố chỉ nguyên nhân:
Ví dụ: Vui vì hoàn thành nhiệm vụ
cảm nhằm biểu thị mức độ cao bằng hình ảnh đa ra đối chiếu Ví dụ: Tức sôi
gan (tức đến mức nh sôi gan), thơng đứt ruột (thơng đến mức nh đứt ruột), nhớ điên (nhớ nh phát điên) Loại yếu tố này gắn với động từ thành những tổ
hợp cố định có tính thành ngữ
Trang 17Nhng một số từ chỉ trạng thái tâm lí – 2008 tình cảm nh ngợng, vui, buồn,
chán còn có đặc trng của tính từ Vậy phần đầu của đoản ngữ tính từ chỉ
trạng thái tâm lý – 2008 tình cảm không có gì đặc biệt ở đây thờng xuất hiện các
yếu tố chỉ mức độ, các yếu tố khẳng định, phủ định nh: (chuyện) không vui,
(phim) rất chán, (động tác) còn ngợng,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của ở phần sau của đoản ngữ tính từ chỉtrạng thái tâm lý – 2008 tình cảm thờng chỉ có yếu tố chỉ phạm vi thể hiện của tính
chất, chẳng hạn, vui tính, buồn tình,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của và có thể cả các tổ hợp nh ngợng mặt,
vui lòng,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
Danh từ biểu thị tâm lý – 2008 tình cảm thờng xuất hiện trong một số tổ hợp
hạn chế, chẳng hạn, nén xúc động, ôm hận,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của Đây là những danh từ trừu tợng
Đặc điểm của chúng là phần trớc thờng có yếu tố số lợng không xác định, ví
dụ, (có) nhiều ớc mơ, những lo lắng, một tình yêu (đẹp),… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
Nh vậy, vì động từ là loại phổ biến nhất trong nhóm, nên đoản ngữ động
từ có cấu tạo đầy đủ và phức tạp hơn cả Đoản ngữ tính từ và đoản ngữ danh từchỉ trạng thái tâm lý – 2008 tình cảm thờng mang tính chất đặc biệt, không điểnhình, có nhiều trờng hợp trở thành những tổ hợp cố định
2.2.1.3 Động từ tâm lý - tình cảm có chức năng làm vị ngữ trong câu với
chủ ngữ là danh từ hay đại từ chỉ ngời Ngoài ra, chủ ngữ có khi là một vàidanh từ chỉ bộ phận cơ thể có nghĩa khái quát đợc coi là biểu tợng của tâm lý -
tình cảm, nh là nơi “chứa tình cảm”, ví dụ: lòng vui phơi phới, lòng bồi hồi
xao xuyến,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
Cấu tạo vị ngữ của loại câu này gồm hai kiểu đoản ngữ động từ: động từ cóyếu tổ chỉ đối tợng trực tiếp và động từ không có yếu tố chỉ đối tợng trực tiếp Ngoài ra động từ chỉ trạng thái tâm lý - tình cảm còn thực hiện nhữngchức năng đặc biệt khác, ví dụ:
Nói thế e quá lời
Phải nổ lực hơn nữa mới mong đạt kết quả
Trong trờng hợp này các động từ e, mong không có, hoặc không thể có
chủ ngữ Chúng cũng không làm vị ngữ trong câu Chúng thực hiện vai trò ngữpháp nh của từ chêm Về ý nghĩa, chúng không biểu thị một trạng thái, một
hoạt động tình cảm nào E, mong có vai trò biểu thị sự đánh giá chủ quan của
ngời nói đối với nội dung của câu.Nếu không có chúng, câu vẫn đúng ngữpháp và không biến đổi về nội dung cơ bản
ở các câu:
Rất tiếc là hôm qua tôi bận
Không ngờ công việc lại trôi chảy nh vậy
Trang 18động từ chỉ trạng thái tâm lí tâm lý – 2008 tình cảm không có chức năng ngữ pháp
thông thờng Tuy không dễ lợc bỏ nh trờng hợp trên nhng tiếc, ngờ đều không
thuộc về trọng tâm thông báo của câu, trọng tâm thông báo của hai câu thơtrên đều ở các mệnh đề tiếp sau động từ
Trong cả hai trờng hợp vừa nêu, từ chỉ trạng thái tâm lý – 2008 tình cảmkhông còn nội dung vốn có mà ý nghĩa của chúng đã h hoá Vai trò và ýnghĩa của chúng phải đợc xét tới trong quan hệ với toàn câu: đó là vai trò biểuthị thái độ của ngời nói với hiện thực đợc nêu ra; đó là ý nghĩa tình thái củacâu
Nh vậy, một số từ tâm lý – 2008 tình cảm nh e, mong, tiếc, ngờ, … đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của có thể tạomột ý nghĩa tình thái cho câu
Đến đây, có thể tóm tắt một số đặc điểm ngữ pháp của từ tâm lí – 2008 tìnhcảm
a Về mặt từ loại, từ chỉ trạng thái tâm lý – 2008 tình cảm tiếng Việt phần lớn
là động từ, có một số là tính từ và một số là danh từ Có hiện tợng “đa từ loại”trong nhóm này
b Động từ chỉ trạng thái thái tâm lý - tình cảm có khả năng kết hợp với
phụ từ chỉ mức độ (rất, hơi, quá, lắm,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của) giống nh tính từ,đây là nhóm động từ
đặc biệt Động từ chí trạng thái tâm lí – 2008 tình cảm phân thành hai nhóm: nhóm
có yếu tố chỉ đối tợng (bổ ngữ) và nhóm không có yếu tố chỉ đối tợng
c Một số động từ tâm lí – 2008 tình cảm có chức năng biểu thị ý nghĩa tìnhthái của câu
2.2.2 Đặc điểm ngữ nghĩa
2.2.2.1 Do những đặc điểm ngữ pháp kể trên của từ chỉ trạng thái tâm lí
-tình cảm, khi khảo sát ngữ nghĩa nhóm từ này, thực chất là đứng trớc vấn đềngữ nghĩa động từ Mà ngữ nghĩa động từ đợc phản ánh qua quan hệ của nóvới danh từ kết hợp Có khuynh hớng dựa vào tính chất hay chức năng củadanh từ kết hợp với động từ để phân tích hay phận loại động từ (nh NguyễnKim Thản 1977) đi sâu vào quan hệ giữa động từ và danh từ và khái quátthành những phạm trù “cách” của động từ trong câu có tính chất phổ quát
“Cách” hay “vai ngữ nghĩa” là phần tử thuộc cấu trúc sâu
Động từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm đợc diễn giải theo hai mô hìnhcảnh huống:
a X ~ về/vì Z
Trang 19Mẹ buồn vì đứa con h.
b X ~ Y về/vì Z
Nó giận bạn vì chuyện lỡ hẹn
Động từ ở cảnh huống a có hai vai ngữ nghĩa (X,Z), động từ ở cảnhhuống b có ba vai ngữ nghĩa (X, Y,Z) (Cần nói thêm, cảnh huống của động từbiểu thị quan hệ thuộc cấu trúc sâu, phân biệt với ngữ cảnh là dữ liệu ngônngữ xét trên cấu trúc bề mặt Ngữ cảnh là toàn bộ những đơn vị đứng trớc và
đứng sau quy định ý nghĩa của từ đang xét Tuy vậy trong nhiều trờng hợp, môhình ngữ cảnh của một động từ cũng phản ánh mô hình cảnh huống của động
từ đó)
Chủ thể X của động từ chỉ trạng thái tâm lí – 2008 tình cảm là chủ thể thụcảm Đặc điểm nổi bật của chủ thể thụ cảm là tính thụ động, phân biệt nó vớichủ thể hành động, chủ thể tiếp nhận Chủ thể thụ cảm không tự điều khiển vàkiểm soát đợc bản thân Nguyên nhân Z của từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảmứng đợc thể hiện trên cấu trúc bề mặt bởi một đối tợng tuỳ nghi, không bắtbuộc Còn quan hệ giữa Y và động từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm rất phức
tạp, thờng Y là đối tợng mà tình cảm hớng tới (yêu mẹ), đồng thời Y cũng là
sự vật tác động tới chủ thể tình cảm (sợ rắn) hoặc là sự việc thuyết minh cho
vị từ tâm lý (tôi ngờ là nó bỏ trốn).
2.2.2.2 Xuất phát từ quá trình tâm lí – 2008 tình cảm của con ngời (a có một
tác động bên ngoài, b đánh giá tác động đó theo yêu cầu bên trong, và c phảnứng tâm lí – 2008 tình cảm), xuất phát từ cách lí giải nghĩa từ của ngời bản ngữ đã
đợc sử dụng trong nhiều từ điển giải thích (nh, buồn là trạng thái tình cảm của
ngời gặp điều không nh ý), có thể rút ra hai yếu tố cơ bản tạo nên nghĩa từ chỉtâm lí - tình cảm, đó là:
A Trạng thái tâm lí – 2008 tình cảm
B Sự đánh giá tác động tâm lí – 2008 tình cảm
Đây là hai thành tố nghĩa cơ bản thờng xuyên có mặt trong nghĩa từ chỉtâm lí - tình cảm Thành tố A có tính chất phạm trù, là đặc trng ngữ nghĩachung của tất cả các từ tâm lí - tình cảm Thành tố B mang đặc trng ngữ nghĩariêng của từng nhóm nhỏ hay từng từ Hai thành tố gắn bó với nhau bằng mốiquan hệ nhân quả, quan hệ giữa cái kích thích và sự phản ứng Tuy mỗi thành
tố đều có vai trò quan trọng trong cấu trúc ngữ nghĩa của từ chỉ tâm lí - tìnhcảm, nhng trong thực tế, việc phân tích và mô tả thành tố đánh giá thờng kĩ
Trang 20hơn, cụ thể hơn Đến lợt mình, mỗi thành tố lại bao gồm các nét nghĩa nhỏ
hơn Thuộc về thành tố A có các nét nghĩa, nh tâm trạng tích cực (vui, yêu,
tin)/ tâm trạng tiêu cực (buồn, giận, chán), tâm trạng không “đặc thù” (có thể
tích cực hoặc có thể tiêu cực) nh (ngạc nhiên, xúc động)/ trạng thái không có dao động tình cảm, trạng thái cân bằng nh (dửng dng, thờ ơ); thái độ chủ động (giận, thích)/ thái độ thụ động (buồn, vui); trong thời gian xác định nhất thời (vui, ngạc nhiên) / trong thời gian không xác định, bền vững (yêu, khinh).
Thành tố B có cấu tạo phức tạp hơn do tính đa dạng của hiện thực tác độngvào tâm lí và sự đánh giá theo những yêu cầu chủ quan khác nhau Để tách racác nét nghĩa thuộc bộ phận đánh giá chúng tôi dựa vào sự kết hợp tính chấtcủa sự kiện Z tác động vào tâm lý và tính hiện thực của sự kiện đó Sự kiện Z
có thể có tính chất sau:
- Z phù hợp / không phù hợp yêu cầu, nguyện vọng của chủ thể (vui, buồn).
- Z nguy hiểm, có khả năng gây tổn thất / không nguy hiểm (sợ – 2008 yên tâm).
- Z là thật, đúng / không thật, sai (tin - ngờ)
Sự kiện Z lại có thể có hai khả năng hiện thực là:
- Z đã xảy ra, đang xảy ra (tiếc - thơng)
- Z cha xảy ra nhng có khả năng xảy ra (mong – 2008 hồi hộp)
Nh vậy khả năng đánh giả về Z có thể làm nảy sinh các trạng thái tâm lí tình cảm.Nhng sự đánh giá về Z là điều kiện cần chứ không phải đủ để có mộtphản ứng tâm lí – 2008 tình cảm
-Tóm lại A và B là hai thành tố nghĩa bắt buộc thờng xuyên có mặt trongnghĩa từ Còn các nét nghĩa lại là vô số, bởi vì, chẳng hạn, sự đánh giá hiệnthực bao giờ cũng có nhiều mặt, nhiều khía cạnh, hoàn cảnh,… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của không thể liệt
kê hết đợc Cho nên, các nét nghĩa là một tập hợp mở Đây là đặc điểm trongcấu trúc ngữ nghĩa của động từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm, và của động từnói chung
3 Tiểu kết
Trong chơng 1, chúng tôi trình bày những vấn đề mang tính lý thuyết liênquan đến đề tài, đó là: một số đặc điểm về hình thức và nội dung của ca dao,mảng đề tài về tình yêu trong ca dao Đồng thời, chúng tôi cũng trình bày kháiniệm tâm trạng và tìm hiểu một cách tổng quát các từ ngữ biểu thị tâm trạng
Trang 21trong tiếng Việt để làm cơ sở khảo sát đặc điểm ngữ pháp và ngữ nghĩa của từngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu.
Chơng 2
đặc điểm ngữ pháp của từ ngữ Biểu thị tâm trạng
trong ca dao tình yêu ngời Việt
Trong chơng này, chúng tôi giới hạn trong việc tìm hiểu một số đặc điểm ngữpháp tiêu biểu của các từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu ngời Việt trên cácphơng diện: từ loại, khả năng kết hợp, chức vụ cú pháp, một số cấu trúc thờng gặp… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, củathể hiện trong ca dao
1 Các từ loại Biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu
1.1 Kết quả khảo sát, thống kê và phân loại
Ca dao viết về tình yêu đôi lứa là bộ phận phong phú, đa dạng nhất trongkho tàng văn học dân gian Tình yêu có bao nhiêu cung bậc, sắc màu thì cũng
có bấy nhiêu nỗi niềm tâm trạng của nhân vật trữ tình gửi gắm trong đó.Chính vì thế, các từ ngữ biểu thị tâm trạng có tần số sử dụng cao Qua việckhảo sát 5054 bài ca dao viết về tình yêu đôi lứa trong “Kho tàng ca dao ngờiViệt” (Nguyễn Xuân Kính, Phan Đăng Nhật, Nguyễn Thị Loan, Đặng DiệuTrang, Nxb VHTT, 2001), chúng tôi thống kê đợc 180 từ với 5502 lợtdùng.Kết quả thống kê đợc mô tả một cách khái quát nh sau:
TT Từ chỉ tâm trạng Số lần xuất
Số lần xuất hiện
1 Thơng 945 91 Thơng yêu 5
Trang 2348 Båi håi 14 138 O¸n hËn 2
49 Bèi rèi 13 139 Xèn xang 2
50 M¬ mµng 13 140 R· rêi 2
52 Xãt xa 13 142 M¬ tëng 2
53 B©ng khu©ng 12 143 Mª mÖt 2
Trang 2454 GiËn hên 12 144 Luþ 2
71 Khuyªn 8 161 Ng©y ngÊt 1
72 Tho¶ 7 162 QuyÕn luyÕn 1
Trang 2588 Ưu phiền 6 178 ái ngại 1
90 Ngậm ngùi 6 180 Khẩn cầu 1
Trong đó, tham gia vào các từ ngữ chỉ tâm trạng cảm xúc bao gồm các từthuộc nhiều từ loại khác nhau Chúng tôi thống kê đợc 3 từ loại tiêu biểu đó làdanh từ, động từ và tính từ
2 Tính từ 32 17,6%
3 Danh từ 20 11,0%Bảng thống kê phân loại trên cho thấy kết quả khảo sát các từ ngữ chỉ tâmtrạng trong ca dao tình yêu về mặt từ loại nh sau:
1.1.1 Động từ
Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, động từ là “từ loạithực từ biểu thị hành động hoặc trạng thái nh một quá trình và chủ yếu làmchức năng vị ngữ trong câu Trong ngôn ngữ biến hình, động từ có các phạmtrù ngữ pháp để chỉ ra các quan hệ của phát ngôn với thời điểm nói năng, vớithực tế; nêu rõ những ngời tham gia vào một hành vi ngôn ngữ, … đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của Các phạmtrù ngữ pháp đó là: thể, thời, thức, dạng, ngôi, số, giống Động từ trong cácngôn ngữ biến hình thờng có hệ thống hình thái và mô hình cấu tạo riêng”[58, 95]
Trang 26Trong ca dao tình yêu đôi lứa, động từ bao gồm loại chỉ trạng thái nh:
vui, buồn, sầu, giận, thơng, nhớ, quên, xao xuyến… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của và loại chỉ hành động cử
chỉ nh: liếc, thở dài, hôn, nâng niu, nguýt Loại từ này chiếm 71,4% trong
các từ loại đã khảo sát.Ví dụ:
Ai làm cho bến xa thuyền
Cho trăng xa Cuội, bạn hiền xa nhau
Cha mẹ sao nghĩ chẳng sâu
Để th ơng để nhớ để sầu cho cả hai ta.
[A48, 61]
Đôi cô vác gậy chòi đào
Cô lớn, cô bé, cô nào với ai?
Cô lớn vuốt bụng thở dài
Trời ơi đất hỡi lấy ai đỡ buồn?
[Đ 768, 939]
Động từ là từ loại cơ bản nhất trong tiếng Việt Với một số lợng khá lớntrong vốn từ vựng, động từ có vai trò hoạt động ngữ pháp hết sức quan trọngtrong việc tổ chức, cấu tạo câu tiếng Việt Vì vậy, khi xem xét một nét nghĩanào đó của động từ thì phải đặt nó vào trong ngữ cảnh của câu ca dao
1.1.2 Danh từ
Danh từ là “từ loại có ý nghĩa phạm trù “sự vật”, có các phạm trù ngữpháp giống, số, cách (đợc thể hiện không giống nhau trong các ngôn ngữ khácnhau), thực hiện các chức năng ngữ pháp khác nhau trong câu nh chủ ngữ, vịngữ, bổ ngữ, định ngữ” [58, 67]
Trong ca dao tình yêu đôi lứa, trờng hợp danh từ thờng là hiện tợng danh
từ hoá động từ Có nghĩa là các yếu tố nh tình, nỗi, niềm, lòng kết hợp với
động từ chỉ trạng thái tâm lí - tình cảm để tạo thành tổ hợp danh từ nh: tình
thơng, tình yêu, nỗi sầu, nỗi đau, mối sầu… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, củaLoại từ này chiếm 11,0% trongcác từ loại đã khảo sát Ví dụ:
Trang 27Mối sầu này chàng để cho ai đây
Cho thiếp tuôn luỵ ngọc, nguyệt xế non đoài, khổ đau.
[NH 865, 1772]
1.1.3 Tính từ
Tính từ là “từ loại có vị trí quan trọng trong các thực từ, sau danh từ và
động từ Tính từ có một số lợng lớn và nh lệ thờng, đợc coi là từ loại có ý nghĩachỉ tính chất, rộng hơn, là chỉ các đặc trng nói chung” [58, 302]
Trong ca dao tình yêu, các tính từ nh: cay đắng, vội vàng, mặn nồng… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
chiếm trung bình 17,6% trong các từ loại đã khảo sát Ví dụ:
Anh ra đi cay đắng nh gừng
Đờng xa xôi ngàn dặm, khuyên em đừng nhớ thơng
[A 310,115]
Đồng tâm son sắt với nhau
Thiếp cha phụ bạc chàng sao vội vàng?
Ngoài ra, trong nhóm từ này còn có hiện tợng “đa từ loại” - một đặc điểmcủa từ tiếng Việt Theo tác giả Nguyễn Ngọc Trâm trong “Đặc trng ngữ nghĩa
- ngữ pháp của nhóm từ biểu thị tâm lí - tình cảm trong tiếng Việt” thì trongtiếng Việt, một từ có thể dùng theo hai từ loại khác nhau đợc gọi chung là
“hiện tợng chuyển loại” Vậy đa từ loại cũng là hiện tợng chuyển loại nhng làmột hiện tợng chuyển loại đặc biệt Soi chiếu điều này trong quá trình khảosát, chúng tôi thấy các từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu có hiệntợng này Chúng ta so sánh từ “sầu” trong hai câu ca dao sau:
Ngày ngày ra đứng cổng chùa
Trông chả thấy bạn, lại mua lấy sầu.
DT
Trang 28[NG173, 1628] …Mình Mình sầu còn chỗ thở than
ĐT
Tôi sầu chẳng khác nhang tàn đêm khuya… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
ĐT
[NH781, 1752] Trong ca dao tình yêu, hiện tợng đa từ loại này đã đợc sử dụng khá phổbiến và tạo nên nhiều cảm xúc mới lạ cho ngời đọc
2 Hoạt động ngữ pháp của từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu
2.1 Khả năng kết hợp của từ ngữ biểu thị tâm trạng
Nh chúng ta đã biết, phần lớn những từ ngữ biểu thị tâm trạng trong cadao tình yêu mang đặc trng từ loại động từ (xem mục 1.1, phần 1, chơng II).Vì thế, khi tìm hiểu khả năng kết hợp của những từ ngữ này, chúng tôi đi theohớng lấy cụm từ làm đơn vị nghiên cứu, trong đó động từ chỉ tâm trạng làtrung tâm
2.1.1 Phần phụ trớc của nhóm động từ biểu thị tâm trạng
Thực tế sử dụng ngôn ngữ cho thấy tại phần phụ trớc của cụm động từ cóthể gặp hai lớp từ khác nhau:
- Những từ mang nhiều ý nghĩa ngữ pháp, chuyên đi kèm động từ (hoặctính từ) có thể gọi chung là những phụ từ
- Những từ đi kèm với động từ có ý nghĩa từ vựng rõ ràng gọi là thực từ.Qua khảo sát, chúng tôi thấy các từ ngữ chỉ tâm trạng chỉ có khả năng kếthợp với phụ từ đứng trớc còn khả năng kết hợp với thực từ rất hạn chế
động từ - thành tố chính, tức là chuyên giữ vai trò thành tố phụ trớc
Số lợng phụ từ có thể làm thành tố phụ trớc trong cụm động từ chỉkhoảng vài chục từ Đặc điểm của những từ này là không thuần nhất về nộidung và không có một trật tự sắp xếp ổn định nh cụm danh từ” [4,74]
Trang 29a Khả năng kết hợp với phụ từ chỉ sự tiếp diễn tơng tự của hoạt động,
trạng thái nh: cũng, còn, lại, đều, vẫn, cứ
“Cũng”: là phụ từ mang ý nghĩa khẳng định sự quyết tâm khi thực hiệnmột điều gì đó:
Thùng thùng trống đánh đò đa
Ôi ngời bạn cũ, sớm tra cũng đợi chờ.
[TH 679, 2191]hoặc biểu thị các hiện tợng, trạng thái tình cảm đồng thời diễn ra cùng trongmột hoàn cảnh:
[TH 862, 2229]
Lời thề chứng có nớc non Vàng tan ngọc nát vẫn còn thơng nhau.
[L411, 1413]
“Lại”: biểu thị một hành động, trạng thái tình cảm tiếp tục sau một hành
động, trạng thái tình cảm trớc đó:
Nghĩ thôi đã giận lại thơng
Trách thay dạ đó, không tờng lòng đây
[NG 259, 1644]hoặc biểu thị một trạng thái tình cảm đợc lặp đi lặp lại nhằm mục đích nhấnmạnh:
Chiều chiều lại nhớ chiều chiều
Nhớ ngời đẫy gấm, khăn điều vắt vai.
[CH 786, 507]
Ngày sầu tơ đêm lại sầu tình
Anh trách ai gièm siểm, đôi lứa mình lôi thôi.
[NG 185, 1630]
Trang 30b Khả năng kết hợp với phụ từ chỉ quan hệ thời gian của hoạt động, trạng
thái nh: từng, đã, vừa, mới, đang, sẽ… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
“Đã”: biểu thị sự việc, hiện tợng tình cảm nói đến xảy ra trớc hiện tạihoặc trớc một thời điểm nào đó đợc xem là mốc, của quá khứ hoặc tơng lai.Trong ca dao tình yêu, phụ từ “đã” kết hợp với động từ chỉ tâm trạng để nói
đến một cái gì đó đã qua, một sự tiếc nuối ngậm ngùi, trách móc giận hờn haynhấn mạnh lời hẹn ớc:
Trăng thanh nguyệt rạng mái đình
Chén son cha cạn sao tình đã quên.
Hai ta đang nhớ đang thơng
Ai đem phân quế rẽ hơng cho đành!
[H 35, 1183]
Đôi ta nh rợu với men
Đang say ngây ngất, ai gièm chớ xa.
[Đ 43, 1183]
“Mới”: biểu thị sự việc hoặc thời gian xảy ra không lâu trớc thời điểm nói,hoặc trớc một thời điểm nào đó trong quá khứ.Trong ca dao tình yêu, phụ từ
“mới” kết hợp với từ chỉ tâm trạng tạo thành nhiều nét nghĩa khác nhau:
Bao giờ lở núi Tản Viên
Cạn sông Tô Lịch mới quên lời nàng.
[B 202, 248]
Bởi thơng nên dạ mới trông
Trang 31Không thơng em đã lấy chồng còn chi.
[B 572, 323]
c Khả năng kết hợp với phụ từ nêu ý khẳng định hay phủ định nh: có,
không, cha chẳng… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
“Có”: biểu thị ý khẳng định trạng thái tình cảm tồn tại, sự xảy ra của điềugì hoặc biểu thị ý muốn hỏi về điều muốn khẳng định là nh thế (hay là trái lại)
Thuyền ơi có nhớ bến chăng
Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền.
[TH 748, 2206]
Căn duyên đây đó dật dờ
Có thơng bậu phải đợi chờ một đôi thu.
[C 216, 399]
Tay nâng chén muối đĩa gừng
Gừng cay muối mặn, xin đừng có quên
“Chẳng”: biểu thị ý phủ định đợc nhấn mạnh đối với điều đợc nêu ra sau
đó(có thể là một hiện tợng hoặc trạng thái tâm lí tình cảm):
Trúc đợi mai, mai không đợi trúc
Sao chẳng nhớ lời giao ớc thở xa.
[TR 2020, 2475]
Nói thơng mà ở chẳng thơng
Đi đâu nỡ bỏ buồng hơng lạnh lùng.
[N 941, 1786]
d Khả năng kết hợp với phụ từ nêu lên ý sai khiến nh: hãy, đừng, chớ… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
“Hãy”: biểu thị ý yêu cầu có tính chất mệnh lệnh hoặc thuyết phục, độngviên nên làm việc gì đó hoặc có thái độ nào đó
Trang 32Trót đã lỡ một nớc cờ
Anh có thơng xin hãy đợi chờ kiếp sau
Giờ đây chi khác hoa rầu
Giận con bớm bạc để lỡ để sầu duyên lứa trăm năm.
[TR 1794, 2424]
Dầu mà hai ngả phân li
Mình ơi hãy nhớ hồi khi cơ nghèo!
[D 86, 761]
“Đừng”: biểu thị ý khuyên ngăn, bảo không nên hoặc biểu thị ý phủ định
đối với điều ngời nói mong không xảy ra
Đã trong nh đĩa dầu vừng
Dầu hay dầu dở xin đừng quên nhau.
[Đ 42, 791]
Cây cao, anh dứt nửa chừng
Oán căn, oán nợ, xin đừng oán em.
[C 291, 413]
“Chớ”: biểu thị ý khuyên ngăn dứt khoát, một lời đề nghị hớng đến ngời
nghe
Tôi với mình nguyền thệ giữa trời
Giữ đồng sanh tử ghi lời chớ quên.
[T 1222, 2303]
Chén son nguyện với trăng già
Càn khôn đổ lại một nhà vui chung
Xa xôi xin chớ ngại ngùng
Xa ngời xa tiếng nhng lòng không xa.
[CH 652, 482]
e Trong quá trình khảo sát, chúng tôi còn thấy một số động từ có khảnăng kết hợp với nhiều phụ từ làm phụ trớc Mô hình:
Phụ từ + Phụ từ + V
ở những trờng hợp này, các phụ từ trong một nhóm hoặc giữa các nhóm
đã xét có khả năng liên kết với nhau tạo thành một tổ hợp các phụ từ ở vị trí
tr-ớc động từ Ví dụ:
Dầu chàng năm bảy mặt con
Thiếp đôi ba lứa vẫn còn nhớ nhau.
Trang 33[D 67, 758]
Chị hai buông áo tôi ra
Để tôi đi học kẻo đà bị tra
Bao giờ chiếm bảng khôi khoa
Yêu nhau hãy cứ đợi chờ vội chi.
[CH 725, 496]Khi các phụ từ liên kết lại với nhau nh trên, nó có khả năng nhấn mạnh,nêu bật đợc mối quan hệ so sánh giữa cảm nhận, đánh giá của chủ thể động từvới thời gian, với sự cảm nhận đánh giá của những đối tợng xung quanh, nêulên sự chuyển đổi nhận thức, cảm nhận, đánh giá của chủ thể động từ
Nhận xét: Qua thống kê, trong ca dao tình yêu có 732 lợt phụ từ kết hợp
với từ chỉ tâm trạng, trong đó nhóm phụ từ chỉ sự tiếp diễn tơng tự của hoạt
động trạng thái: 220 lợt, nhóm phụ từ chỉ quan hệ thời gian của hoạt độngtrạng thái: 150 lợt, nhóm phụ từ nêu ý khẳng định hay phủ định: 202 lợt,nhóm phụ từ nêu ý sai khiến: 160 lợt Có thể thấy đây là nhóm từ có khả năngkết hợp với lớp từ chỉ tâm trạng hết sức phong phú, có số lợng lớn nhất nhằmlàm nổi bật các cung bậc trạng thái tình cảm đồng thời khẳng định sự chungthuỷ, bền vững, thắm thiết trong tình yêu lứa đôi
2.1.2 Phần phụ sau của nhóm động từ biểu thị tâm trạng
Cũng nh phần phụ trớc, phần phụ sau của động từ chỉ tâm trạng có thểchia làm hai loại:
- Thứ nhất là những từ mang nhiều ý nghĩa ngữ pháp chuyên đi kèm
2.1.2.1 Khả năng kết hợp với phụ từ sau
a Kết hợp với nhóm phụ từ chỉ sự cùng chung gồm: với, cùng …Mình
Ai ơi đợi với tôi cùng
Tôi còn dở mối tơ hồng cha xe.
[A 113,75]
… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, củaChữ nhân duyên trên trời đã định
Một mình em biết tính làm sao
Trang 34Thơng sao cho vẹn thì thơng
Kẻo mà thẹn với nớc non sau này.
[M287, 1481]
Ai về anh dặn lời này
Phợng hoàng chỉ quyết đậu cây ngô đồng
Ai ơi thơng lấy nhau cùng
Đỗ ngâm ra giá đãi đùng nhau chi.
Chuồn chuồn mắc phải nhện tơ
Đã trót quấn quýt thì thơng nhau cùng.
Trang 35Nghĩa chàng nhớ mãi chàng ơi!
Nhớ chàng nh nớc hồ vơi lại đầy.
[G 265, 1645]
Một trăm năm lòng anh không sai chạy
Đá nát vàng phai lời hẹn ấy không sai
Tai anh nghe em ở ngụ chốn này
Trốn cha trốn mẹ, anh tới đây kết nguyền
Ngọn đèn treo trớc gió ngọn đèn lờ
Nghe lời anh nói, em tơ tởng hoài.
[NG 419, 1672]Qua thống kê, trong ca dao tình yêu có 317 lợt phụ từ sau kết hợp với từchỉ tâm trạng, trong đó nhóm phụ từ chỉ sự cùng chung: 76 lợt, phụ từ chỉ ý tựlực: 63 lợt, phụ từ chỉ quan hệ qua lại: 86 lợt, phụ từ cách thức diễn ra trongthời gian hoạt động: 92 lợt
- Những động từ chỉ hành động tự dời chuyển nh: đi, chạy, nhảy, bò,
ngã… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
- Những động từ chỉ t thế tĩnh tại của vật nh: nằm, ngồi, quì… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
- Những động từ chỉ trạng thái sinh lí nh: ngủ, thức, ốm… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
Trang 36- Những động từ vốn là những từ láy tợng thanh tợng hình chỉ hoạt độngvật lí, tâm lí, sinh lí khi không có động từ chỉ hoạt động, trạng thái cụ thể đi
kèm nh: quằn quại, càu nhàu, bực bội, hậm hực… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
Ngoài ra, ba nhóm con động từ đặc biệt sau đây cũng không đòi hỏi thực
từ - thành tố phụ sau trong những điều kiện dùng nhất định
- Những động từ chỉ hoạt động, trạng thái của bộ phận trong chỉnh thể
danh từ chỉ bộ phận đứng trớc động từ nh: (chân) duỗi, (tay) co, (mắt nhắm)… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
- Những động từ chỉ một số trạng thái của vật khi có danh từ chỉ chủ thể
của trạng thái đứng trớc động từ nh: (mây) tan,(đê) vỡ, (nhà) cháy… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
- Những động từ chỉ sự tồn tại, tiên biến khi có danh từ chủ thể của trạng
thái đứng trớc động từ nh: (giấy) còn, (mực) hết, (hai ngời) xuất hiện… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của
Nh vậy, theo sự phân biệt của Diệp Quang Ban thì một số từ chỉ tâm
trạng trong ca dao tình yêu nh: ngạc nhiên, vui, buồn… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của thuộc lớp động từ
không đòi hỏi thực từ - thành tố phụ sau, một số động từ nh: yêu, ghét, giận,
thơng… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của thuộc lớp động từ trực tiếp đòi hỏi sự có mặt của các thực từ - thành
tố phụ sau Các thực từ này có thể là danh từ, động từ, tính từ, đại từ hay cụm
C - V
a Khả năng kết hợp với danh từ
Danh từ là lớp từ có ý nghĩa phạm trù, sự vật biểu thị những đơn vị có thểnhận thức đợc trên cơ sở tồn tại của chúng dới hình thức những hiện tợngtrong tự nhiên và xã hội hoặc trong sự suy nghĩ của con ngời [6, 44] Tuynhiên ngay trong bản thân danh từ cũng đợc chia ra nhiều tiểu loại, trong đókhông phải tiểu loại danh từ nào cũng có khả năng kết hợp với động từ chỉ tâmtrạng Cho đến nay, bản thân việc phân chia tiểu loại cũng rất phức tạp - luậnvăn này không đi sâu vào vấn đề của danh từ mà từ ý kiến của các tác giả xin
đa ra một hệ thống tiểu loại danh từ để xem xét khả năng kết hợp với nhóm
Trang 37Qua khảo sát, trong bảy tiểu loại danh từ trên thì danh từ đơn vị và danh
từ trừu tợng có khả năng kết hợp rộng rãi nhất với từ chỉ tâm trạng
+ Khả năng kết hợp của từ ngữ chỉ tâm trạng với danh từ đơn vị
Danh từ đơn vị trong tiếng Việt bao gồm nhiều lớp từ nhỏ: Danh từ đơn vịtính toán, danh từ đơn vị thời gian,không gian, danh từ đơn vị tổ chức, danh từchỉ khái niệm Trong ca dao tình yêu, danh từ đơn vị chỉ thời gian, không gianthờng kết hợp với từ chỉ tâm trạng Đặc biệt, yếu tố chỉ thời gian đợc dùng có
điều kiện và thờng là thời gian không xác định Qua thống kê có 157 lợt kếthợp, chẳng hạn:
Nhớ hồi mẹ đẻ thiếp ra
Nhai cơm sún nớc, lớn mà chừng ni
Nghe lời chàng, bỏ mẹ ra đi
Thất hiếu với phụ mẫu có hề chi không, huớ chàng?
[NH 849, 1767]
Nhớ khi gánh nặng anh chờ
Qua cầu anh đợi, bây giờ em quên
[NH 852, 1768]
Nhớ chàng lắm lắm chàng ơi
Nhớ lời chàng nói, nhớ nơi chàng nằm.
[NH 839, 1765]+ Khả năng kết hợp của từ chỉ tâm trạng với danh từ trừu tợng
Danh từ trừu tợng là những từ chỉ những sự vật, hiện tợng mà mắt thờngkhông nhìn thấy, không thể gợi tả đợc hình dáng của sự vật, sự việc kiểu nh: ttởng, quan điểm, lập trờng, duyên, tình, nghĩa Ca dao tình yêu thờng cất lênnhững tiếng hát yêu thơng, tình nghĩa nên các từ chỉ trạng thái tình cảm - tâm
lí thờng kết hợp với danh từ trừu tợng nh: duyên, tình, nghĩa… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của Qua thống kê
có 175 lần kết hợp, chẳng hạn:
Ngời ta say thuốc lờ đờ
Sao anh say thuốc cũng nh say tình
[NG 604, 1712]
Ngó lên mây trắng, con trăng sáng
Đám mây áng, con trăng lờ
Làm sao anh cũng đợi chờ duyên em.
[NG 328, 1656]
Trang 38Ra về nhớ nghĩa em không Hay thuận buồm xuôi gió, biệt mông xa chừng!
[R 129 - 1945]
Trăng thanh vằng vặc giữa trời Nhớ tình nhớ nghĩa nhớ nơi bạn nằm.
[TR 1567, 2368]
b Khả năng kết hợp với đại từ
Đại từ là những từ dùng để xng hô hoặc để chỉ định Chức năng đặc trngcủa đại từ là dùng để thay thế và chỉ trỏ, trong trờng hợp là đại từ thay thế, nó
có thể xuất hiện với t cách là danh từ, động từ, tính từ… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, của tuỳ trờng hợp mà nóthay thế Đây là từ loại có khả năng kết hợp rộng rãi nhất, phong phú nhất với
từ chỉ tâm trạng Qua thống kê, trong ca dao tình yêu có 965 lợt đại từ kết hợpvới từ ngữ chỉ tâm trạng
Trong số đại từ kết hợp thì cặp đại từ xng hô “mình - ta” đợc sử dụngnhiều nhất Ta - mình, mình - ta đan xen vào nhau, làm nền cho nhau tạo nên
sự gần gũi thân quen trong cách bày tỏ tình cảm Và chỉ có tình cảm chânthành, sâu lắng thì mới có thể thốt lên những lời ngọt ngào, những lời bộcbạch giản dị nhng rất dễ đi vào lòng ngời Chẳng hạn:
ơng đối nhiều.Trong ca dao tình yêu lứa đôi, đại từ này chất chứa nhiều sắcthái biểu cảm Sống trong cảnh đơn chiếc ngổn ngang trăm mối tâm sự màkhông có ai để giãi bày, các nhân vật trữ tình trong ca dao không thể gọi đíchdanh ai đợc nên đành chia sẻ thở than với một đối tợng nào đó trong tởng tợng
Trang 39của mình Vì thế, qua đại từ “ai” chúng ta có thể cảm nhận đợc đó là tâmtrạng chung, nỗi niềm chung của tất cả những chàng trai, cô gái đang yêu.
Nhớ ai, em những khóc thầm
Hai hàng nớc mắt đầm đầm nh ma
Nhớ ai ngơ ngẩn ngẩn ngơ
Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai?
Nhớ ai bổi hổi bồi hồi
Nh đứng đống lửa, nh ngồi đống than.
Chiếu kia nửa đắp nửa mòng
Chăn đơn nửa đắp, nửa phòng đợi ai.
[TH 816, 2221]Ngoài đại từ phiếm chỉ, trong ca dao tình yêu còn sử dụng đại từ chỉ định
“đó - đây”.Chẳng hạn:
Ai trao thẻ bạc đừng cầm
Lòng đây thơng đó thâm trầm đó ơi
Lòng đây thơng đó ngùi ngùi
Ai trao thẻ bạc cũng chùi thẻ đi.
[A 150, 83]
Trong tiếng Việt, đại từ chỉ định là những từ chỉ nơi chốn, thời điểm xác
định (định vị về thời gian, không gian) nhng trong ca dao tình yêu lứa đôi “đó
- đây” là cách nói ẩn ý, tế nhị giống nh bản chất của tình yêu vậy
Có thể khẳng định rằng cách sử dụng các đại từ nhân xng thể hiện rõ
ph-ơng thức diễn xớng, lối đối đáp trong ca dao trữ tình Chính vì có nhân vật đốithoại trò chuyện nên việc sử dụng đại từ nhân xng cũng rất linh hoạt và độc
đáo Và xuất từ phát từ đặc trng đó nên ca dao tình yêu phảng phất hơi thở củatập thể, của cộng đồng Đến với ca dao tình yêu, ta nh gặp đợc tâm sự, suy
nghĩ, tình cảm, tiếng nói của chính lòng mình
Trang 40Trong ca dao tình yêu, động từ chỉ tâm trạng còn có thể có nhiều yếu tố
kết hợp không bắt buộc, có tính chất tuỳ nghi Hay gặp nhất là yếu tố chỉ
nguyên nhân Chẳng hạn:
Ba tàn ba héo vì cây
Con sầu vì mẹ vì thầy ép duyên
[B 52, 220]
Con tằm bối rối vì tơ
Anh say sa vì rợu, em ngẩn ngơ vì tình.
[C 1637,677]
… đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, củaTiếc vì nón lá quai mây
Nên em chẳng dám trao tay chàng cầm.
[N 961, 1790]Tóm lại, qua khảo sát chúng tôi thấy rằng, phần phụ sau của động từ chỉtâm trạng phức tạp hơn về nhiều phơng diện so với phần phụ trớc Đó là những
đối tợng cụ thể có tác động lớn tới tâm trạng của nhân vật trữ tình trong ca daotình yêu đôi lứa
2.2 Các chức vụ cú pháp của từ ngữ biểu thị tâm trạng trong ca dao tình yêu
Nh đã trình bày ở trên, các từ ngữ chỉ tâm trạng trong ca dao tình yêu chủyếu là các động từ
Theo “Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học”, động từ là “từ loạithực từ biểu thị hành động hoặc trạng thái nh một quá trình và chủ yếu làmchức năng vị ngữ trong câu Trong ngôn ngữ biến hình, động từ có các phạmtrù ngữ pháp để chỉ ra các quan hệ của phát ngôn với thời điểm nói năng, vớithực tế; nêu rõ những ngời tham gia vào một hành vi ngôn ngữ, … đó là những cung bậc trạng thái của tình cảm nói chung, củaCác phạmtrù ngữ pháp đó là: thể, thời, thức, dạng, ngôi, số, giống Động từ trong cácngôn ngữ biến hình thờng có hệ thống hình thái và mô hình cấu tạo riêng” [58,95]
Trớc khi đi vào xem xét khả năng đảm nhận các chức vụ ngữ pháp củanhóm động từ chỉ tâm trạng ở lời ca dao, chúng tôi mợn kết luận của TSHoàng Thị Kim Ngọc khi tiếp cận ca dao trữ tình tù góc nhìn của lí thuyếtgiao tiếp ngôn ngữ và phân tích diễn ngôn: ca dao nói chung là một hình thái
đặc biệt của giao tiếp ngôn ngữ
Giao tiếp là một khái niệm rất rộng Nó bao hàm và đợc thể hiện dớinhiều hình thái khác nhau rất đa dạng và phức tạp Giao tiếp ngôn ngữ chỉ là