1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

PHÉP SO SÁNH TU từ TRONG CA DAO TRỮ TÌNH

130 578 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 130
Dung lượng 804,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

[3;3] Như vậy, so sánh trước hết có thể hiểu là biện pháp tu từ được hình thành trên cơ sở liên tưởng tương đồng của ít nhất hai đối tượng và được nêu một cách công khai Trong khi đó tá

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

BỘ MÔN NGỮ VĂN



DIỆP THỊ KIM NGÂN

PHÉP SO SÁNH TU TỪ TRONG CA DAO TRỮ TÌNH

Luận văn tốt nghiệp đại học ngành Ngữ Văn

Cán bộ hướng dẫn: ThS Nguyễn Thị Ngọc Điệp

Cần Thơ, năm 2011

Trang 2

1 Lý do chọn đề tài

Trong Cổ học tinh hoa có chép câu chuyện Huệ Tử khi nói cứ hay ví dụ Một

lần, trong cuộc đối thoại giữa vua Lương và Huệ Tử, vua đã phải nói rằng:

-“Tiên sinh nói gì xin cứ nói thẳng, đừng ví dụ nữa.”

-“ Có một người không biết cái nỏ hỏi tôi hình dáng của cái nỏ như thế nào Nếu tôi nói nó giống cái nỏ thì người ấy có hiểu không?”

-“ Hiểu sao được”

-“Thế nếu tôi bảo nó giống cái cung có cán, có lẫy thì người ấy có biết được không?”

-“Biết được”

-“ Khi nói với ai phải lấy cái người ta đã biết làm ví dụ với cái người ta chưa biết

để khiến người ta biết Nhà vua bảo tôi đừng ví dụ nữa thì tôi không sao nói được”[14]

Câu chuyện trên đã phản ánh vai trò quan trọng của so sánh đối với việc tri nhận sự tình được đề cập của con người So sánh là một trong những cánh cổng mở

ra lối đến ngắn nhất để nắm bắt thông tin được diễn đạt Có lẽ thế mà ngay từ những câu hát ca dao dân tộc đầu tiên đều được dân gian gọi là câu ví và những câu

ví này chứa đựng những giá trị vô tận Chính điều này đã thúc đẩy mong muốn chúng tôi tìm hiểu về giá trị của so sánh tư từ trong thể loại ca dao trữ tình

Bên cạnh, chúng tôi luôn có mối quan tâm đặc biệt đến tiếng mẹ đẻ của mình, đến văn chương dân tộc Đây là cơ hội cho chúng tôi tiếp xúc nhiều hơn với nền văn chương ấy, qua đó, giúp chúng tôi thấu hiểu thêm về những giá trị đáng trân trọng mà dân gian đã kết tạo nên Nhờ sự thấu hiểu đó, chúng tôi mới thật sự thấy yêu thương nhiều hơn, thúc đẩy mong muốn gìn giữ văn hóa dân tộc của mình

Từ hai nguyên nhân đó, chúng tôi quyết định thực hiện đề tài nghiên cứu cho luận

văn tốt nghiệp là “ phép so sánh tu từ trong ca dao trữ tình”

2 Lịch sử vấn đề

Trang 3

Có thể nói, đề tài nghiên cứu các biện pháp tu từ được sử dụng sáng tác ca dao trữ tình, trong đó có phép so sánh tu từ là một đề tài khá hấp dẫn đối với không

ít các nhà nghiên cứu Việt ngữ và văn học

Trong công trình nghiên cứu Lịch sử văn học Việt Nam- văn học dân gian (tập hai) của nhóm tác giả Đinh Gia Khánh và Chu Xuân Diên, các tác giả này đã

đề cập đến các biện pháp nghệ thuật của ca dao như : thể hứng, so sánh, ẩn dụ và nhân hóa Tuy nhiên, các tác giả này chỉ mới dừng lại ở việc nêu mà chưa có mô tả

cụ thể

Tương tự, tác giả Bùi Văn Nguyên cùng nhiều tác giả khác với công trình “

Lịch sử văn học Việt Nam” (tập I, phần II) cũng chỉ đề cập so sánh như một biện

pháp nghệ thuật của ca dao, chưa có sự phân tích sâu về biện pháp tu từ này trong

ca dao

Năm 1999, một công trình nghiên cứu khác về ca dao của tác giả Nguyễn

Xuân Kính hoàn thành với tên gọi “ Thi pháp ca dao” Qua công trình này, tác giả

công trình đã mang đến nhiều hiểu biết về nghệ thuật ca dao Song, phép so sánh cũng chưa phải là mối quan tâm hàng đầu trong công trình này

Năm 2005, nhóm tác giả Lữ Huy Nguyên, Đặng Văn Lung và Trần Thị An

đã cho ra đời quyển sách Ca dao trữ tình chọn lọc Trong công trình này, các tác

giả đề cập ca dao chi tiết hơn các công trình kể trên Các tác giả nêu lên sự khác nhau giữa so sánh trực tiếp và so sánh gián tiếp Theo nhóm tác này, so sánh trực

tiếp, hay còn gọi là tỉ dụ, bằng các từ như như, như thể…để so sánh vật này với vật

kia, nghe tự nhiên, thân mật Trong khi đó, so sánh gián tiếp là ẩn dụ Nhưng ở công trình này, so sánh cũng chỉ được giới thiệu sơ lượt

Song để có thể gọi là đề cập đầy đủ thì phải kể đến công trình của tác giả Lê

Đức Luận “ Cấu trúc so sánh trong ca dao” Trong công trình này tác giả Lê Đức

Luận gộp tất cả các phương thức chuyển nghĩa có cùng kiểu so sánh như so sánh, ẩn

dụ, nhân hóa, tượng trưng vào một phương thức chung cùng quan hệ liên tưởng Như vậy, trong công trình này, so sánh được xem xét như đề tài chính nghiên cứu trong ca dao Nhưng, tác giả khái quát rộng hơn về so sánh nói chung, chưa tác bạch

ra so sánh và ẩn dụ cũng như chưa đi đến những giá trị tu từ của từng loại so sánh trong ca dao

Trang 4

Một bước tiến hơn trong nghiên cứu so sánh trong ca dao phải kể đến công

trình “ Tương quan ngữ nghĩa giữa thể được so sánh và thể dùng để so sánh trong các câu ca dao về tình yêu đôi lứa có chứa sự tình quan hệ so sánh ” của tác giả Lê

Thị Lan Anh Như tên gọi, tác giả công trình tập trung vào việc tìm hiểu quan hệ

giữa thể được so sánh và thể dùng so sánh, để thông qua đó thấy được “ thể được so sánh bao giờ cũng trừu tượng hơn, khó hình dung, khó nắm bắt hơn còn thể dùng so sánh bao giờ cũng cụ thể hơn”.[1;253]

Tác giả Hoàng Kim Ngọc trong công trình so sánh và ẩn dụ trong ca dao trữ tình ( dưới góc nhìn ngôn ngữ- văn hóa học) cũng đã có những khám phá mới

và thú vị về phép so sánh tu từ trong ca dao trữ tình Theo ông, các dạng thức so sánh thương gặp trong ca dao là : so sánh thường, so sánh đơn, so sánh kép, và so sánh bổ sung Riêng công trình của mình, ông đi vào phân tích vế A, vế được so sánh, từ so sánh và vế B, vế so sánh

Một tác giả khác, Lê Đức Mậu cũng có mối quan tâm về phép so sánh trong

ca dao nói chung Theo ông, cấu trúc so sánh trong ca dao bao gồm : So sánh trực tiếp, so sánh có từ so sánh; so sánh nữa trực tiếp, so sánh không có từ so sánh; so sánh gián tiếp, kiểu so sánh hàm ẩn; so sánh vừa trực tiếp, vừa gián tiếp

Như vậy , mỗi công trình nghiên cứu đề cập về so sánh nghệ thuật trong ca dao trữ tình ở nhiều khía cạnh, mức độ khác nhau Điểm gặp nhau giữa các công trình này chính là họ đều nhận ra vai trò của so sánh nói riêng và các biện pháp tu từ

nói chung trong ca dao trữ tình:“Nhờ các biện pháp tu từ, sự diễn đạt vừa mang tính

cụ thể, hình ảnh do nghĩa đen gợi ra, vừa mang tính khái quát, hàm súc do nghĩa bóng chứa đựng”[24]

Cùng chung mối quan tâm đó, đề tài “phép so sánh tu từ trong ca dao trữ tình”

được tiến hành trên cơ sở kế thừa các kết quả mà các công trình đi trước tích tụ

3 Mục đích nghiên cứu

Ca dao là nơi thể hiện tập trung, sâu sắc nhất trí tuệ, tâm hồn Việt Nó cũng

là nơi biểu hiện rõ nhất tài năng sáng tạo ngôn ngữ của dân tộc ta từ những ngày xa xưa Trong đó, các biện pháp tu từ như so sánh vừa phản ánh tài năng sáng tạo nghệ thuật vừa truyền tải quan điểm thẩm mỹ, nhân sinh của dân gian So sánh góp phần tạo nên cái đẹp ở ca dao cũng như ẩn chứa qua đó là cái tài của những người tay lắm chân bùn Nay, chúng tôi muốn tự đi tìm và giải mã cái đẹp trong ca dao qua lối

Trang 5

so sánh tu từ Hay nói đúng hơn, chúng tôi thực hiện đề tài “ phép so sánh tu từ trong ca dao trữ tình” nhằm tìm câu trả lời cho thắc mắc :

Phép so sánh tu từ có vai trò ý nghĩa như thế nào trong ca dao trữ tình?

Cụ thể, trên cơ sở hệ thống hóa lý thuyết về so sánh tu từ , chúng tôi sẽ khảo cứu các kiểu cấu trúc của so sánh, các hình ảnh so sánh được sử dụng trong ca dao trữ tình Chúng tôi tìm hiểu các mô hình so sánh nào được sử dụng phổ biến nhất trong so sánh ở ca dao trữ tình, ý nghĩa của các mô hình này cũng như khám phá ra những đặc điểm hình ảnh so sánh Chúng tôi nghĩ rằng, hình ảnh so sánh đóng vai trò quan trọng đối với mô hình so sánh Chính vì vậy, chúng tôi kết hợp tìm hiểu mô hình và hình ảnh so sánh, xem xét mối quan hệ giữ hình ảnh so sánh tương ứng với đối tượng được so sánh: hình ảnh so sánh có ý nghĩa như thế nào với nội dung biểu đạt ở đối tượng được so sánh

Ngoài ra, qua việc tìm hiểu lối so sánh nghệ thuật, chúng tôi hi vọng sẽ khám phá được thêm những giá trị văn hóa dân tộc được tìm ẩn dưới những biểu tượng thẩm mĩ, kết quả của lối so sánh nghệ thuật

4 Phạm vi giới hạn đề tài

Trên cơ sở tham khảo một số tài liệu văn học dân gian, chúng tôi nhận thấy

Ca dao trữ tình Việt Nam của nhóm tác giả Vũ Thúy Anh- Vũ Quang Hào là sưu

tầm chọn lọc những câu ca dao phản ánh được những tâm tư tình cảm cũng như những khát vọng của dân gian Qua đó, công trình này cũng phản ánh rõ những giá trị nội dung lẫn nghệ thuật của thể loại thơ dân gian này

Bên cạnh đó, qua tìm hiểu một số tài liệu về phong cách học, có thể thấy nhiều công trình nghiên bao gộp cả so sánh tu từ và so sánh logic Kết hợp tham khảo một số nghiên cứu về các biện pháp tu từ trong đó có so sánh ở các thể loại văn học dân gian như ca dao, chúng tôi hướng đến tìm hiểu so sánh tu từ, mà không

bao gộp cả so sánh logic Hơn nữa, đề tài của chúng tôi là phép so sánh tu từ trong

ca dao trữ tình Do đó, chúng tôi áp dụng kiến thức so sánh tu từ để hoàn thành đề

tài luận văn

Với lí do đó, chúng tôi sẽ thực hiện khảo sát phép so sánh tu từ được vận dùng trong quyển “ Ca dao trữ tình Việt Nam” trên

Trang 6

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài “ phép so sánh tu từ trong ca dao trữ tình” chúng tôi

dùng chủ yếu các phương pháp nghiên cứu sau:

Trang 7

Chương I: KHÁI QUÁT VỀ PHÉP SO SÁNH TU TỪ VÀ CA

DAO TRỮ TÌNH VIỆT NAM

1.1 Khái niệm về phép so sánh tu từ

1.1.1 Các quan niệm về phép so sánh tu từ

So sánh tu từ là biện pháp tu từ ngữ nghĩa phổ biến vì vậy nó đã được mô tả rộng rãi trong các sách nghiên cứu văn phạm tiếng Việt trước đây và trong các giáo trình phong cách học tiếng Việt sau này.Có không ít các nhà Việt ngữ học đã đưa ra những quan niệm khác nhau về khái niệm so sánh tu từ

Tác giả Hồng Dân quan niệm: “Nếu liên tưởng đến nét giống nhau giữa hai đối tượng được nêu ra một cách công khai, ta có phép so sánh” [3;3]

Như vậy, so sánh trước hết có thể hiểu là biện pháp tu từ được hình thành trên cơ sở liên tưởng tương đồng của ít nhất hai đối tượng và được nêu một cách công khai

Trong khi đó tác giả Nguyễn Thế Lịch có một cách diễn đạt khác.Ông viết: “

So sánh là đưa một vật ra xem xét sự giống nhau, khác nhau, sự hơn kém về một phương diện với một vật khác được xem là chuẩn, có thể không phải là một mà là nhiều sự vật, nhiều thuộc tính được so sánh”[14;62]

Định nghĩa này của tác giả Nguyễn Thế Lịch cho thấy điều kiện cần của một phép

so sánh là phải có từ hai đối tượng, trong đó có một đối tượng được so sánh và đối tượng làm chuẩn để thực hiện so sánh đối tượng cần được so sánh, diễn đạt

Giống như Nguyễn Thế Lịch, tác giả Bùi Đức Thao trong bài viết về phép so sánh trong tiếng Việt đã đưa ra nhận định về so sánh nghệ thuật như sau: “ So sánh

là đưa một sự vật ra để xem xét, đối chiếu sự giống nhau, khác nhau, hơn kém nhau

về một phương diện nào đó với một sự vật khác được coi là chuẩn Đích của so

Trang 8

sánh là các giá trị nhận thức, miêu tả, hình tượng và biểu cảm”[30; 229] Khái niệm

này chưa làm rõ được cơ sở so sánh của hai sự vật trong một phép so sánh

Cùng có một mối quan tâm đến phong cách học tiếng việt nói chung và phép

so sánh nói riêng, tác giả Nguyễn Thái Hòa ( trong quyển sách viết chung với Đinh

Trọng Lạc) đã đưa khái niệm về so sánh : “ So sánh là phương thức diễn đạt tu từ khi đem sự vật này đối chiếu với sự vật khác miễn là giữa hai sự vật có một nét tương đồng nào đó, để gợi ra những hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức người đọc , người nghe”[11;189]

Rõ ràng, ở định nghĩa này, ông đã mang đến cách hiểu khá toàn diện hơn về phép so sánh Có sự gặp gở tình cờ giữa hai quan niệm về phép so sánh của hai tác giả Nguyễn Thái Hòa và Hồng Dân Cả hai đều cho rằng so sánh là sự đối chiếu hai sự vật có nét tương đồng Song, tác giả Nguyễn Thái Hòa có bước phát triển hơn khi ông đề cập thêm về giá trị biểu đạt của phép so sánh tu từ tiếng Việt: gợi hình ảnh, tính cảm xúc thẩm mỹ trong nhận thức người đọc, người nghe

Bên cạnh đó, tác giả Đinh Trọng Lạc cũng cùng quan điểm với tác giả

Nguyễn Thái Hòa: “ So sánh( còn gọi là so sánh hình ảnh, so sánh tu từ) là biện pháp tu từ ngữ nghĩa trong đó người ta đối chiếu hai đối tượng khác loại của thực

tế khách quan không đồng nhất với nhau hoàn toàn mà chỉ có một nét giống nhau nào đó nhằm diễn đạt bằng hình ảnh một lối tri giác mới mẻ về đối tượng”.[10;262]

Tác giả Bùi Tất Tươm cũng cho rằng: “ So sánh tu từ là sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng khác loại , giống nhau một thuộc tính nào đó nhằm biểu hiện một cách hình ảnh, biểu cảm đặc điểm của một đối tượng” [26;233]

Khái niệm này mở rộng hơn về đối tượng trong phép so sánh : hai hay nhiều đối

tượng khác loại

Còn theo tác giả Cù Đình Tú thì : “So sánh tu từ là một cách công khái đối chiếu hai hay nhiều đối tượng cùng có một dấu hiệu chung nào đấy ( nét giống nhau) nhằm diễn tả một cách hình ảnh đặc điểm của một đối tượng” [27;175]

Trang 9

Quan điểm này là sự tập hợp của các quan điểm đã nêu ở trên, trong đó có sự đối chiếu hai hay nhiều đối tượng của các tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thái Hòa hay Bùi Tất Tươm, và sự đối chiếu công khai mà tác giả Hồng Dân đề cập trong quan niệm về so sánh của ông Vì vậy quan niệm so sánh của tác giả Cù Đình Tú mang tầm khái quát hơn

Trong khi đó, theo tác giả Hữu Đạt, so sánh tu từ “ là dùng thuộc tính hay tình trạng của sự vật hay hiện tượng này giải thích cho thuộc tính hay tình trạng của sự vật khác” [5;295]

Quan điểm này cung cấp cho người tiếp nhận những thông tin chung chung về so sánh mà chưa có được cách hiểu cụ thể như các quan niệm trên bởi tác giả Hữu Đạt chỉ giới thiệu về so sánh như sự giải thích thuộc tính, tình trạng của sự vật hay hiện tượng từ sự vật hiện tượng khác Điều này không phải là khuyết điểm nhưng nếu để được đầy đủ hơn thì phải đến quan niệm của tác giả Đào Thản

Theo tác giả Đào Thản,“So sánh là lối nói đối chiếu hai sự vật hoặc hai hiện tượng có một hay nhiều dấu hiệu giống nhau về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong Lối đối chiếu như vậy được dùng với mục đích giải thích, miêu tả, đánh giá và biểu lộ tình cảm về đối tượng được nói đến.” [29;123]

Nếu làm phép cộng lại đối với hai quan niệm so sánh tu từ của hai tác giả Cù Đình Tú và Đào Thản thì ta sẽ có được quan niệm của tác giả Nguyễn Văn Nở Ông

nhận định rằng :“ So sánh tu từ là cách công khai đối chiếu hai hay nhiều đối tượng

có một nét tương đồng nào đó về hình thức bên ngoài hay tính chất bên trong để gợi

ra hình ảnh cụ thể, những cảm xúc thẩm mỹ trong nhân thức của người đọc, người nghe”.[18;57]

Nhìn chung, có rất nhiều định nghĩa thế nào là phép so sánh tu từ Nhưng tụ chung lại, chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt đáng kể giữa các quan điểm về phép so sánh của các nhà Việt ngữ học Từ các định nghĩa trên có thể thấy rằng một phép so sánh tu từ phải hội đủ ít nhất hai điều kiện:

Thứ nhất : Phải có từ hai đối tượng khác loại trở lên, đối tượng được so sánh

và đối tượng so sánh; hai đối tượng này được đối chiếu công khai với nhau

Trang 10

Thứ hai : Hai hay nhiều đối tượng khác loại này đều phải có một hay nhiều nét tương đồng ( về bản chất bên trong hay hình thức bên ngoài) bởi so sánh tu từ là một trong những biện pháp nghệ thuật được dựa trên cơ sở của hai mối quan hệ liên tưởng : liên tưởng tương đồng và liên tưởng logic khách quan So sánh tu từ được hình thành từ mối quan hệ liên tưởng tương đồng

Về điều kiện thứ nhất, có ý kiến cho rằng trong một phép so sánh tu từ, hai đối tượng khác loại phải cùng có hiện diện, nghĩa là cả đối tượng được so sánh và đối tượng làm chuẩn so sánh không thể vắng mặt Cũng theo nhóm ý kiến trên, đây chính là điểm khác nhau giữa so sánh và ẩn dụ Tuy nhiên, thực tế đã kiểm chứng

sự thiếu sót trong những ý kiến này

Theo tác giả Đậu Thành Vinh ( ĐHKHXH & NV TPHCM ), trong một phép

so sánh tu từ của một phát ngôn không phải luôn luôn có sự xuất hiện của đối tượng được so sánh và đối tượng so sánh

“Khi xưa phong gấm rủ là Giờ sao tan tác như hoa giữa đường”

(Truyện Kiều - Nguyễn Du)

Hay

“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay”

(Bên kia sông Đuống - Hoàng Cầm)

Trong hai ví dụ trên, người tiếp nhận dễ nhận ra đối tượng được so sánh không được xuất hiện, chỉ có sự có mặt của đối tượng so sánh nhưng người tiếp nhận hoàn toàn có thể nhận ra đối tượng được so sánh: ở hai câu thơ thứ nhất là nàng Kiều và hai câu thơ thứ hai chính là tác giả Hoàng Cầm Sự thiếu vắng đối tượng được so sánh thường tồn tại trong thơ bởi vì đối tượng được so sánh đã được gắn liền với đối tượng trữ tình, hay nhân vật trữ tình Và như vậy thì lúc này đối tượng được so sánh có thể được người sản sinh và người tiếp nhận luận giải dễ dàng, được coi như là hiển nhiên (không cần phải nói ra)

Ở ví dụ trích từ truyện Kiều của Nguyễn Du, đối tượng được so sánh tuy không

được nêu ra trên văn bản, nhưng người tiếp nhận văn bản hoàn toàn có thể nhận ra

Trang 11

đối đượng được so sánh ở đây chính là Thúy Kiều Bởi vì đây là đoạn độc thoại nội tâm của nàng

Tương tự, ở ví dụ được trích từ Bên kia sông Đuống của Hoàng Cầm thì đối tượng

được so sánh chính là tác giả- nhân vật trữ tình

“ Ở đây sự vắng mặt cái được so sánh ( hay đối tượng được so sánh) trong biện pháp so sánh khác hoàn toàn về bản chất so với sự vắng mặt của cái được so sánh trong biện pháp ẩn dụ- ở đó để xác định được cái được so sánh người tiếp nhận phải huy động rất nhiều kiến thức ngoài ngôn ngữ Một dấu hiệu khác để xác định

so sánh dạng này là bao giờ cũng có sự xuất hiện của cơ sơ so sánh.”[33;33]

Đem điều này áp dụng vào hai ví dụ trên, chúng ta thấy cơ sở so sánh lần lượt là “

tan tác” , “xót xa”, không vắng mặt trong cấu trúc so sánh của phát ngôn Như thế,

nhận định trên đã được xác thực cụ thể Song, khi tác giả Đậu Thành Vinh cho rằng trong kiểu cấu trúc so sánh vắng đối tượng được so sánh thì bao giờ cũng có sự xuất hiện của cơ sở so sánh, chúng tôi nghĩ có vài điều cần bàn thêm

Theo tác giả Nguyễn Thế Lịch, trong các kiểu cấu trúc so sánh không hoàn chỉnh có cả cấu trúc so sánh thiếu mất đối tượng được so sánh và cả cơ sở so sánh Tác giả nêu lên dẫn chứng sau:

Như nước vỡ bờ Như đấm bị bông

Trong hai ví dụ trên, đối tượng được so sánh và cơ sở so sánh đều vắng mặt, chỉ còn lại đối tượng so sánh Người đọc phải dựa vào ngữ cảnh để đoán biết được đối tượng được nói đến Tương tự, điều này cũng tìm thấy trong những câu thơ sau

Như đất nước vừa đi qua thời lửa đạn Lại ngỡ ngàng: chim nhỏ, tháng giêng xuân ( Những con đường tháng giêng – Xuân Quỳnh)

Để hiểu được đối tượng được so sánh vắng mặt ở hai câu thơ trên thì người tiếp nhận phải căn cứ vào ngôn cảnh, nghĩa là căn cứ vào những câu thơ đứng trước và sau đó

Trang 12

Bởi kiểu cấu trúc so sánh được vận dụng trong hai câu thơ trên đều chỉ có mặt đối tượng so sánh Dựa vào những câu thơ trước và sau đó, chúng tôi có thể hiểu đối tượng cần được làm rõ, tức đối tượng được so sánh có thể là tình yêu, đề tài mà nhà thơ Xuân Quỳnh muốn đề cập Tất nhiên, đối tượng được so sánh không chỉ bó hẹp

mà tùy vào mỗi người tiếp nhận giải mã

Kiểu cấu trúc chưa hoàn chỉnh này thường ít được dùng như các kiểu cấu trúc so sánh khác Chúng có khả năng xuất hiện với tần số cao ở thành ngữ hơn so với các thể loại văn học nghệ thuật khác, theo ý kiến của chúng tôi

Đúc kết từ những gì đã được trình bày, có thể thấy để có sự ra đời của một phép so sánh tu từ thì phải có ít nhất hai đối tượng khác loại Trong hai đối tượng này, đối tượng được so sánh có thể có mặt hoặc đôi khi vắng mặt Nói cách khác, đối tượng được so sánh có thể được hiểu ngầm trong sự hiện diện của đối tượng so sánh Sự vắng mặt của đối tượng này cũng có thể kéo theo sự vắng mặt của cơ sở so sánh mà chỉ còn lại đối tượng so sánh Người tiếp nhận đoán biết được đối tượng so sánh bị khuyết dựa vào văn cảnh và ngôn cảnh

Về điều kiện thứ hai: Hai đối tượng khác loại trong một phép so sánh phải có

ít nhất một nét tương đồng( về bản chất bên trong hay hình thức bên ngoài)

Thật vậy, khi hai đối tượng được đem so sánh( dù là so sánh logic hay so sánh tu từ), nghĩa là hai đối tượng này phải được xét trên cùng một phạm trù có nghĩa lâm thời Ở so sánh nghệ thuật hai từ phạm trù được hiểu theo nghĩa biểu trưng Hai đối tượng xuất hiện trong một phép so sánh nghệ thuật bao giờ cũng là hai thực thể thuộc hai phạm trù khác nhau Cái kéo chúng lại gần nhau để thực hiện lối so sánh, đối chiếu chính là nét nghĩa biểu trưng của đối tượng so sánh Nét nghĩa biểu trưng này sẽ phải có nét tương đồng với nét nghĩa cần biểu đạt của đối tượng cần được so sánh

Ngay từ hai câu thơ trên của Hoàng Cầm :

Đứng bên này sông sao nhớ tiếc Sao xót xa như rụng bàn tay

Hình ảnh so sánh giữa nỗi đau của chính tác giả trước cảnh quê hương mình

bị tàn phá với nỗi đau của một phần cơ thể , cánh tay đều đi ra từ ít nhất một điểm tương đồng Đó là quê hương như một phần cơ thể của ông Qua bao năm gắn bó,

quê hương không còn là mảnh đất “chỉ là nơi đất ở” mà đã từ lâu “đất đã hóa tâm

Trang 13

hồn”.Chính vì vậy nên khi phải chứng kiến sự mất đi quê hương, tâm hồn, một phần

cơ thể ấy thì nỗi đau xót xa ấy khác nào nỗi đau xót xa như rụng bàn tay Mất đi quê hương là nỗi đau khó tả, trừu tượng nên tác giả đã mượn nỗi đau của việc mất đi bàn tay,có thể nắm bắt , cụ thể và không khác chi nỗi đau không thốt nên lời ấy Cả hai đều là những thân thương không thể mất đi và khi phải gánh chịu mất mát đều gây tổn thương khôn xiết cho con người Nếu tác giả không tìm thấy sự gần nhau của tình yêu quê hương như yêu một bộ phận trên chính con người, không tìm thấy

sự tương đồng cái xót xa trong đau đơn của việc phải mất đi bộ phận cơ thể và cái xót xa đau đớn khi quê hương bị hủy hoại thì biện pháp so sánh tu từ không thể được diễn ra Hay nói khác đi, tác giả đang vận dụng lối so sánh lấy trạng thái cảm giác thân thể để biểu thị cảm xúc, tình cảm của tác giả

Tóm lại, phép so sánh tu từ là biện pháp tu từ được hình thành trên cơ sở liên tưởng tương đồng của ít nhất hai đối tượng có chung một hay nhiều nét tương đồng

về tính chất bên trong hay hình thức bên ngoài Hai đối tượng này ( trong đó có đối tượng được so sánh và đối tượng làm chuẩn) được đem ra đối chiếu công khai nhằm gợi ra nhận thức cụ thể, giàu hình ảnh lẫn biểu cảm về đối tượng cần biểu đạt, tức đối tượng được so sánh

1.1.2 Sự khác nhau giữa so sánh tu từ và so sánh luận lý

So sánh tu từ và so sánh luận lý là hai kiểu so sánh đã được các nhà phong cách học bàn đến khá nhiều Điểm xuất phát hai so sánh đều là sự đối chiếu ít nhất hai đối tượng So sánh tu từ ít nhiều cũng chịu sự tác động của so sánh logic đến quá trình ra đời của mình So sánh tu từ xét cho cùng cũng được hình thành trên nền tảng lí thuyết của so sánh logic : so sánh trên nét tương đồng hay so sánh giữa hai đối tượng có cùng một nét giống nhau Mọi so sánh nghệ thuật đều dựa trên cái nền của so sánh logic, nói khác đi, khơi nguồn của mọi so sánh nghệ thuật cũng là từ các so sánh logic

Tuy nhiên, đi sâu vào từng loại so sánh, chúng ta có thể thấy điểm khác biệt không nhỏ giữa hai kiểu so sánh này

Trang 14

Dựa vào các phương

Đôi ta như cá ở đìa Ngày ăn tản lạc, tối dìa ở chung

Cùng loại

ví dụ:

Con hơn cha nhà có phúc

Năm nay, con gái cao bằng mẹ rồi nhỉ

Mục đích so sánh Nhằm diễn tả một cách hình

ảnh đặc điểm của một đối tượng, biểu đạt bằng hình ảnh,

có tính biểu cảm, thẩm mỹ trong nhận thức người tiếp nhận

Xác lập sự tương đương giữa hai đối tượng so sánh, nhấn mạnh tính tương đương về mặt giá trị

Phương thức so sánh Dựa vào nét cá biệt giống

nhau giữa các đối tượng

Dựa vào tính đồng chất đồng loại giữa các đối tượng

Yêu cầu so sánh Cần phải có sự chọn lọc về

hình ảnh so sánh, phải chọn những hình ảnh sinh động và khó thể thay thế được hình ảnh

đã chọn bằng hình ảnh khác vì vậy nó mang tính nghệ thuật cao

Mang đậm dấu ấn cá nhân của

Đơn giản, không cần yêu cầu cao về cách dung từ cũng như cách diễn đạt, không cần có sự tuyển chọn về hình ảnh so sánh Mang tính khách quan

Trang 15

người sử dụng

Như vậy có sự khác nhau giữa so sánh tu từ và so sánh luận lý về mặt đối tượng so sánh và mục đích so sánh

1.2 Hình thức của phép so sánh tu từ

Đối với việc tìm hiểu về cấu tạo hình thức của so sánh tu từ,có không ít những quan niệm khác nhau

Một số tác giả như Hữu Đạt, Bùi Tất Tươm đưa ra mô hình phép so sánh tu

từ khái quát gồm hai vế : A - X- B

Trong đó : A : Là cái chưa biết được đem ra so sánh

B : Là cái đã biết đem ra để so sánh

X :Là phương tiện so sánh được biểu hiện bằng các từ : như, giống

như, là , như là

Tác giả Hữu Đạt nêu lên các dạng so sánh bao gồm:

- So sánh không có từ so sánh : A – B

- So sánh có từ so sánh : A x B

- So sánh ngang bằng : có các từ so sánh như, bao nhiêu…bấy nhiêu, là

- So sánh bậc hơn- kém : có các từ so sánh cao hơn, hơn, kém

- So sánh bậc cao nhất ( bậc tuyệt đối)

Theo ý kiến của chúng tôi, mô hình khái quát của phép so sánh mà tác giả trên đưa ra chưa giúp người tiếp nhận nhìn ra được cơ sở so sánh của vế A và B Cũng theo như tác giả Nguyễn Thế Lịch, các quan niệm như trên đều không tách ra một thành phần của cấu trúc so sánh là yếu tố cơ sở so sánh, đều cho thuộc tính được nói đến hay ngầm ẩn thuộc vế được so sánh hay bộ phận A Phân tích cấu trúc so sánh để chỉ ra được đâu là thuộc tính trở thành thuộc tính chung giữa các sự vật, trạng thái nào trở thành trạng thái chung giữa các hành động được đem ra so sánh Cùng với đó, như chúng tôi đã giới thiệu, tác giả Hữu Đạt chia so sánh ra thành năm dạng : so sánh không có từ so sánh, so sánh có từ so sánh, so sánh ngang bằng,

so sánh bậc hơn – kém, so sánh bậc cao nhất Nhưng riêng hai so sánh sau, so sánh bậc hơn – kém và so sánh bậc cao nhất, tác giả đưa ra những ví dụ mà việc so sánh

Trang 16

không thể hiện được mục đích diễn đạt một cách hình ảnh và biểu cảm của một phép so sánh tu từ

Tác giả Hữu Đạt lấy ví dụ minh họa : Thủy Hử cũng hay nhưng kém Tam Quốc và Đông Chu Liệt Quốc (Đôi Mắt – Nam Cao)

Ví dụ này không thích hợp để được xem là so sánh nghệ thuật mà nó nghiêng về so sánh luận lý bởi mụch đích so sánh hai đối tượng so sánh nhằm nhấn mạnh đến mặt

giá trị hay dở của tác phẩm Tam Quốc và Đông Chu Liệt Quốc so với tác phẩm Thủy Hử

Như vậy, khi phân chia so sánh thành 5 dạng mà chưa có sự phân tích chi tiết, vô tình tác giả đã gộp chung cả so sánh tu từ và so sánh luận lý

Qua tham khảo một số tài liệu nghiên cứu về phép so sánh tu từ, chúng tôi nhận thấy mỗi tác giả đều có sự nhìn nhận khác nhau về cấu trúc so sánh tu từ Nhưng trong giới hạn của luận văn, chúng tôi chỉ có thể giới thiệu một số công trình nghiên cứu có tính phổ biến trong giới tu từ học

1.2.1 Quan niệm của tác giả Cù Đình Tú

Khảo sát cấu tạo so sánh tu từ, Cù Đình Tú căn cứ về hai mặt : khảo sát cả

về mặt hình thức (cấu tạo bên ngoài) và về mặt nội dung (cấu tạo bên trong)

Trước hết về mặt hình thức, tác giả nhận định : so sánh tu từ bao giờ cũng công khai phô bày hai vế: Vế được so sánh và vế so sánh Hai vế này gắn với nhau lập thành các hình thức so sánh theo công thức sau :

- A như (tựa như, giống như…) B

Đôi ta làm bạn thong dong Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng

(Ca dao)

Đêm qua trăng sang Cổ Ngự Trăng in mặt ngọc, trăng như mặt người (Ba bài thơ trăng (III)- Tố Hữu)

Ai về ai ở mặc ai

Ta như dầu đượm thắp hoài năm canh

Trang 17

(Ca dao)

- A bao nhiêu B bấy nhiêu:

Qua đình ngả nón trông đình Đình bao nhiêu ngói thương mình bấy nhiêu

- A là B

Trong dạng này tác giả lưu ý :

Thứ nhất, cần phân biệt dạng so sánh tu từ này với phán đoán logic khẳng định có công thức là “S là P”.Ở phán đoán logic khẳng định, nếu thay hệ từ logic

“là” bằng “như là” thì nội dung cơ bản của phán đoán lập tức bị thay đổi, giá trị

khẳng định logic cũng không còn Hãy xét ví dụ sau:

Em là con gái Bắc Giang (khẳng định logic)

Em như là con gái Bắc Giang (không khẳng định) Ngược lại, so sánh tu từ ,nếu thay là bằng như là thì nội dung cơ bản không thay đổi

,chỉ thay đổi về sắc thái ý nghĩa ,từ sắc thái khẳng định chuyển sang sắc thái giả định

Chúng chị là hòn đá tảng trên trời Chúng em chuột nhắt cứ đòi lung lay

(Ca dao)

Có thể thay từ là bằng như là: Chúng chị như là hòn đá tảng trên trời thì sắc thái ý

nghĩa khẳng định chuyển sang sắc thái giả định nhưng không làm thay đổi nội dung của phát ngôn trên

Thứ hai, dạng so sánh này , từ là có ý nghĩa và có giá trị tương đương từ so sánh như nhưng có sắc thái ý nghĩa khác nhau Như có sắc thái ý nghĩa giả định , trong khi là có sắc thái ý nghĩa khẳng định:

Trang 18

Lũ đế quốc như là bầy dơi hốt hoảng (sắc thái giả định)

Lũ đế quốc là bầy dơi hốt hoảng (sắc thái khẳng định)

Tác giả Cù Đình Tú cũng nói thêm rằng trong cấu tạo so sánh, đôi khi do yêu cầu của vần luật nên trong thơ ca người ta không dùng từ so sánh mà để khuyết

Ngày ngày dòng người đi trong thương nhớ Kết tràng hoa dâng bảy mươi chín mùa xuân

( Viếng lăng Bác - Viễn Phương)

Trong hai câu thơ này , tác giả Viễn Phương đã vận dụng cấu trúc so sánh

khuyết mất từ so sánh Tác giả đã so sánh hình ảnh từng dòng người đi vào viếng lắng Bác như đang kết lại thành tràng hoa để dâng lên Bác Thông qua biện pháp so sánh tu từ ở dạng lượt bỏ từ so sánh này tác giả Viễn Phương vừa bảo đảm về vần luật của thơ vừa biểu thị được tấm lòng kính yêu Bác của tác giả và mọi người Việt Dòng người vào viếng Bác từng ngày cứ nối tiếp nhau tạo nên cảm giác: dòng người này như những bông hoa đang kết đan lại thành một tràng hoa thành kính dâng Bác Dòng người đổ về lăng Bác như những đứa con về thăm lại vị Cha vĩ đại của dân tộc Họ kết thành tràng hoa để dâng lên Bác chính bằng tấm lòng thơm thảo Hình ảnh tràng hoa từ dòng người này gợi nên ảo tượng trong tâm linh ta rằng Bác vẫn hiện hữu giữa cuộc sống hôm nay

Sau nữa là về mặt nội dung (cấu tạo bên trong), tác giả dựa trên tiêu chí sự

có mặt của cơ sở so sánh mà chia thành so sánh tu từ nổi và so sánh tu từ chìm

- So sánh tu từ nổi: khi nét giống nhau có thể biểu hiện ra bằng các từ ngữ cụ thể

hay cơ sở so sánh có mặt trong cấu trúc so sánh tu từ

Ví dụ : Ngôi nhà dài như một tiếng chiêng ngân

Trong ví dụ này , cơ sở so sánh tu từ là : dài là thuộc tính của ngôi nhà và cũng là

của tiếng chiêng ngân

Hay Dù ai nói ngả nói nghiêng

Lòng ta vẫn vững như kiềng ba chân

Nét giống nhau của hình ảnh so sánh này là sự vững lòng trước lời dèm pha cũng giống như sự vững chắc như kiềng ba chân

Trang 19

- So sánh tu từ chìm : Nét giống nhau giữa hai vế không được phô bày ra bằng các

từ ngữ cụ thể mà lẩn vào bên trong hai vế của phép so sánh để người tiếp nhận phải

tự tìm ra

Đôi mắt của em Như hai giếng nước

(Văn Cao)

Đôi mắt của em có một số thuộc tính; giếng nước cũng có một số thuộc tính nên

người tiếp nhận phải “rà” tìm ra thuộc tính chung của hai hình ảnh trên Có thể đó là

trong veo, long lanh, long lanh, long lánh, sâu thẳm…

Chính vì vậy mà so sánh tu từ chìm tạo sự liên tưởng rộng rãi hơn so sánh tu từ nổi

Một cách khái quát,qua những sự trình bày trên, tác giả Cù Đình Tú đã phân cấu tạo so sánh tu từ gồm cả mặt nội dung lẫn hình thức

Về mặt nội dung, tác giả Cù Đình Tú chia so sánh tu từ thành so sánh tu từ nổi và so sánh tu từ chìm

Về mặt hình thức, tác giả khảo sát chủ yếu trên bốn dạng theo cấu tạo bên ngoài của

so sánh tu từ tiếng Việt ( ba dạng so sánh cụ thể có từ so sánh và một dạng so sánh không có từ so sánh, xuất hiện trong thể loại thơ) và trong mỗi dạng đều có sự có mặt của hai vế (vế được so sánh và vế so sánh)

1.2.2 Quan niệm của Nguyễn Thế Lịch và Đinh Trọng Lạc

Có thể nói khi đề cập đến cấu trúc so sánh tu từ, thì mô hình cấu trúc so sánh

tu từ của tác giả Nguyễn Thế Lịch được xem là hoàn chỉnh hơn và khơi nguồn tìm kiếm các biến thể của phép so sánh tu từ Tác giả Nguyễn Thế Lịch phác thảo mô hình cấu trúc so sánh gồm bốn yếu tố như sau :

Yếu tố 4 : Yếu tố chuẩn

Sự vật A Thuộc tính chung Từ so sánh Sự vật B – thuộc

tính của B

Trang 20

Trong mô hình cấu tạo hoàn chỉnh của so sánh tu từ trên tác giả chú trọng đến vai trò của yếu tố thứ hai : yếu tố cơ sở so sánh Chúng tôi hoàn toàn đồng ý với nhận xét của tác giả Nguyễn Thế Lịch : trong một phép so sánh tu từ, đã so sánh thì phải dựa trên một cơ sở nhất định Trong các mô hình cấu trúc so sánh, yếu tố cơ

sở so sánh là yếu tố bắt buộc phải có, hoặc hiện ra thành lời, hoặc ngầm ẩn

Tán thành quan niệm của tác giả Nguyễn Thế Lịch về mô hình cấu trúc so sánh nghệ thuật này, tác giả Đinh Trọng Lạc đã tiếp thu thông tin của tác giả Nguyễn Thế Lịch vào những nghiên cứu của mình sau này

Trong Phong cách học tiếng Việt năm 1998 [dt(21);92] Đinh Trọng Lạc đã

phân loại phép so sánh thành sáu dạng cấu trúc so sánh

a) A + t + tss + B : Đây là dạng thức đầy đủ nhất gồm bốn yếu tố :

A : Đối tượng được so sánh

t : Tính chất, trạng thái của A được so sánh

Người ngồi đó lớn mênh mông

Lá phong đỏ như mối tình đượm lửa

Trang 21

A t

Trời xanh, biển rộng, ruộng đồng, nước non

B1 B2 B3 B4

e) A bao nhiêu, B bấy nhiêu:

Qua cầu than thở với cầu Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu

f) A là B

Tình tôi là giọt thủy ngân

A là B

Dù nghiền chẳng nát dù lăn vẫn tròn Tình cô là đóa hoa đơn

A là B

Bình minh nở để hoàng hôn mà tàn ( Tình Tôi-Nguyễn Bính)

Ngoài sáu dạng thức trên, tác giả Nguyễn Thế Lịch còn khảo sát tỉ mỉ sự thể hiện

của cấu trúc so sánh trong thực tế để bổ sung bốn dạng thức nữa, đó là:

- Dùng các động từ biểu thị hành động đè bẹp bằng vũ lực:

Cái nết đánh chết cái đẹp ( tục ngữ)

- Thể hiện quan hệ so sánh bằng cân đo:

Nghĩa người tôi để lên cân Bên vàng nặng chín, bên ân nặng mười ( ca dao)

- Dùng cách đối lập giữa hai câu và mâu thuẩn trong từng câu( nghịch dụ):

Đàn ông nông nổi giếng khơi Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu ( ca dao)

Chúng tôi tạm dừng lại ở đây bởi theo ý kiến của chúng tôi dạng này không phải là

so sánh tu từ bởi hai đối tượng xuất hiện trong phép so sánh trên không có một nét tương đồng nào

Trang 22

- Dùng cách đặt hai sự vật cạnh nhau:

Ngán thay cái mũi vô duyên Câu thơ thi xã, con thuyền Nghệ An Bên cạnh việc đưa ra các kiểu cấu trúc so sánh trên, trong Phong cách học tiếng Việt năm 1999, tác giả Đinh Trọng Lạc lại đưa ra thêm các dạng so sánh khác

Chúng bao gồm:

- So sánh chìm ( tức so sánh vắng yếu tố 2)

Trẻ em như búp trên cành ( Hồ Chí Minh)

- So sánh đối chọi ( tức so sánh sử dụng chỗ ngắt giọng)

Gái thương chồng, đương đông buổi chợ Trai thương vợ, nắng quái chiều hôm

Đến đây, một kết luận có thể được rút ra : mô hình cấu trúc so sánh nghệ thuật của tác giả Nguyễn Thế Lịch là một trong những mô hình hoàn chỉnh và mang đến hiệu quả cho người nghiên cứu về so sánh nghệ thuật Chính vì vậy mà chúng tôi nhận thấy không có sự khác biệt lớn giữa cách nhìn nhận về cấu trúc so sánh tu

từ của tác giả Đinh Trọng Lạc và tác giả Nguyễn Thế Lịch Điểm chung của hai tác giả này là đều căn cứ vào sự dao động của bốn yếu tố xuất hiện trong một phép so sánh để đưa ra các dạng so sánh nghệ thuật khác nhau

1.2.3 Nhận xét chung

Lần theo lịch sử nghiên cứu tu từ học, trong đó có phép so sánh tu từ chúng tôi thu nhận không ít điều thú vị về biện pháp tu từ đắc dụng này trên con đường sáng tạo nghệ thuật của nhân loại nói chung và của dân tộc nói riêng

Như đã biết, để nhận ra sự vật muôn hình muôn vẻ trong thực tế khách quan, con người bao giờ cũng phải nhờ đến lối ví von so sánh sự vật này với sự vật khác, cùng phạm trù hoặc không cùng phạm trù, để phát hiện ra những thuộc tính “ cần”

và “ đủ” nhằm phân biệt sự vật này với sự vật khác cũng như nhấn mạnh đến giá trị của đối tượng cần được tri nhận Đồng thời qua so sánh, ta cũng gởi gắm được thế giới tâm tư tình cảm đến đối tượng cần tri nhận đó, thông qua đó tìm kiếm sự thay

Trang 23

đổi theo hướng tốt đẹp hơn, một sự mong muốn hi vọng về tình trạng của đối tượng được biểu đạt đang tồn tại Chính tất cả lí do đó nên phép so sánh trở nên quen thuộc đối với cuộc sống con người và là đề tài nghiên cứu phổ biến cho các nhà Việt ngữ học Điều này giải thích cho sự phong phú đa dạng các quan niệm về so sánh tu từ học như chúng tôi đã giới thiệu qua một số tác giả tiêu biểu ở trên

Mỗi tác giả có cách khác nhau trên bước đường khám phá ra những tầng lớp cấu tạo nên một cấu trúc tổng thể của lối so sánh nghệ thuật Nhưng tất cả những kết quả thu nhận được của các tác giả dường như đều chưa tìm ra kết quả thích hợp nhất Sự ra đời của mô hình cấu trúc so sánh gồm bốn yếu tố của tác giả Nguyễn Thế Lịch đã có những ảnh hưởng nhất định Theo chúng tôi, mô hình này có thể xem như khái quát được tất cả các mô hình của các tác giả khác Nó giống như thân cây, trên thân cây ấy có nhiều nhánh tủa ra theo nhiều hướng khác nhau

Một cách gián tiếp, các tác giả như Hữu Đạt, Bùi Tất Tươm, Cù Đình Tú và Đinh Trọng Lạc đều ít nhiều chịu sự ảnh hưởng của mô hình cấu trúc so sánh của tác giả Nguyễn Thế Lịch Bởi như chúng tôi đã giới thiệu, các tác giả kể trên dù đưa

ra các cách phân loại khác nhau nhưng tụ trung lại đều phụ thuộc vào hai yếu tố : yếu tố từ so sánh và yếu tố cơ sở so sánh Vì thế điều này cho phép chúng tôi đưa ra kết luận này Khi áp dụng mô hình cấu trúc so sánh của tác giả Nguyễn Thế Lịch,

mô hình này có thể dẫn đến các cách phân loại cấu trúc so sánh khác

Song, khi nói thế không có nghĩa chúng tôi chỉ tập trung vào quan điểm của tác giả Nguyễn Thế Lịc mà phủ nhận tất cả các cách nhìn nhận về cấu trúc so sánh của các tác giả khác Chúng tôi hiểu rằng về phân loại so sánh, có nhiều cách phân loại so sánh Nó phụ thuộc vào các tiêu chí phân loại Nếu dựa vào tiêu chí chức năng và phong cách thì ta có so sánh logic và so sánh nghệ thuật; nếu dựa vào sự tương quan giữa các yếu tố đưa ra so sánh và yếu tố được dùng làm chuẩn so sánh thì ta có so sánh ngang , so sánh hơn và so sánh kém hoặc dựa vào tiêu chí số lượng các yếu tố trong một phép so sánh, ta lại có so sánh đầy đủ và so sánh không đầy đủ

Tóm lại, điều nhận xét đầu tiên chúng tôi muốn đề cập là về mô hình cấu trúc

so sánh của tác giả Nguyễn Thế Lịch Chúng tôi nhận thấy mô hình này có vai trò tích cực trong quá trình tìm hiểu phép so sánh tu từ

Trang 24

Điều kế đến có thể tích kết được là sự phong phú của các quan điểm về phép so sánh tu từ Giữa các quan điểm về cấu trúc so sánh của các tác giả như Hữu Đạt, Cù Đình Tú, Đinh Trọng Lạc và Nguyễn Thế Lịch có nhiều điểm khác biệt Tác giả Hữu Đạt có năm dạng so sánh nhưng tác giả này lại gộp chung so sánh nghệ thuật

và so sánh logic Đến tác giả Cù Đình Tú và hai tác giả Đinh Trọng Lạc, Nguyễn Thế Lịch, sự khác nhau về cách phân chia cấu trúc so sánh là không nhiều Có thể thấy sự khác nhau là ở việc gọi tên và tiêu chí phân loại cấu trúc so sánh Nhưng vẫn có sự trùng nhau giữa hai tác giả Cù Đình Tú và Đinh Trọng Lạc Đó là các dạng so sánh khi tác giả Đinh Trọng Lạc căn cứ vào yếu tố 3 để xếp loại so sánh

Yếu tố 3 là : - Từ như tương đương dạng A như B (Cù Đình Tú)

- Từ hô ứng bao nhiêu…bấy nhiêu tương đương dạng A bao

nhiêu…B bấy nhiêu (Cù Đình Tú)

- Từ là tương đương dạng A là B (Cù Đình Tú)

Và cả hai tác giả đều có nhắc đến phân loại so sánh về mặt nội dung : so sánh chìm

Điều phân tích vừa nêu trên đã cho phép chúng tôi tái khẳng định lại nhận xét: dù khác nhau về quan điểm phân loại cấu trúc so sánh nhưng các tác giả vẫn có

sự gặp gở ngẫu nhiên Đó là các tác giả đều gián tiếp hay trực tiếp căn cứ vào hai yếu tố : yếu tố từ so sánh và yếu tố cơ sở so sánh để đi đến đích phân chia cấu trúc

so sánh nghệ thuật

Nếu nối kết những điều chúng tôi đã trình bày sẽ có bức tranh như sau:

Căn cứ vào yếu tố 2 :

Cơ sở so sánh

Căn cứ vào yếu tố3:

từ so sánh

Cấp độ so sánh Vắng yếu tố2 Có yếu tố2 Có từ so sánh

Thân em như tấm lụa đào

Phất phơ trước gió

Không có từ

so sánh

Người giai nhân: bến

So sánh có

từ so sánh

và so sánh không có

Trang 25

biết vào tay ai ( ca dao)

đợi dưới cây già

Tình du khách:

thuyền qua không buộc lại (Lời người kỉ nữ-

Xuân Diệu)

từ so sánh (Theo quan điểm của tác giả Hữu Đạt)

( Theo quan điểm của tác giả Cù Đình Tú)

A như B

A là B B(A) bấy nhiêu…A(B)bao nhiêu

( Theo quan điểm của tác giả Đinh Trọng Lạc và Cù Đình Tú)

So sánh bằng( Theo quan điểm của tác giả Hữu Đạt)

So sánh hơn- kém (Theo quan điểm của tác giả Hữu Đạt)

A : B

Cả dân tộc thương Người nhất

So sánh bậc nhất(Theo quan điểm của tác giả Hữu Đạt)

Trang 26

Điều đáng chú ý trong bảng tóm tắt trên là kiểu so sánh bậc nhất theo quan điểm của tác giả Hữu Đạt Theo chúng tôi, đây chưa phải là so sánh nghệ thuật Trong so sánh này không hướng đến mục đích biểu đạt một cách hình ảnh, thẩm mỹ

và biểu cảm Nó nhấn mạnh đến mặt nhận thức về giá trị tuyệt đối

Ở cấp độ so sánh người viết thấy rằng không phải tất cả mọi trường hợp so sánh bằng, so sánh hơn- kém chỉ là so sánh logic, so sánh luận lý Đó còn là so sánh tu từ

như câu thơ của Nguyễn Du trong truyện Kiều sau :

Hoa cười ngọc thốt đoan trang Mây thua nước tóc, tuyết nhường màu da

Mụch đích so sánh của tác giả không phải nghiêng về đánh giá giá trị mà miêu tả vẻ đẹp rất tuyệt vời của Kiều.Vẻ đẹp đó mang tính phi thương bởi xưa nay con người luôn lấy thiên nhiên làm chuẩn để so sánh, cái đẹp của thiên nhiên bao giờ cũng là cái đẹp chuẩn cho con người Nhưng Nguyễn Du đã phác họa nên vẻ đẹp hơn hẳn thiên nhiên của Kiều, nét đẹp đó trở thành tiêu chuẩn cho cái đẹp đên mức độ thiên nhiên phải thua, phải nhường

Bên cạnh đó, chúng tôi cũng có vài ý kiến về cấu trúc so sánh dạng A bao

nhiêu…B bấy nhiêu

Như tất cả những ai có mối quan tâm tìm hiểu về so sánh tu từ , tác giả Bùi Trọng

Ngoãn, trường đại học Sư Phạm Đà Nẵng đã có góp ý về cấu trúc so sánh dạng A

bao nhiêu… B bấy nhiêu”

Như đã được định nghĩa truớc, A là yếu tố được so sánh, B là yếu tố so sánh Hay

nói cách khác:

A là đối tượng đang được nói đến trong ngữ cảnh, là đề tài trong phát ngôn, là yếu

tố cần được làm sáng tỏ và về mặt thông tin, đây là cái chưa biết

B là cái được dùng làm rõ cho A, cái dùng làm chuẩn, làm thước đo để giải thích,

minh họa cho A và về mặt thông tin đây là cái đã biết

Từ cách hiểu trên, có thể thấy kiểu cấu trúc so sánh dạng A bao nhiêu… B bấy

nhiêu có

dạng phổ biến phải là B bao nhiêu…A bấy nhiêu

Áp dụng điều này vào phân tích bài ca dao sau :

Qua cầu than thở với cầu

Trang 27

Cầu bao nhiêu nhịp, dạ em sầu bấy nhiêu

(Ca dao)

Ở bài ca dao trên yếu tố cần được so sánh , diễn tả, thể hiện là sự sầu buồn của nhân vật trữ tình em: nỗi sầu nhớ của em chất chồng nhiều như số nhịp của cây cầu kia.Nếu điếm được bao nhiêu nhịp cầu kia thì có thể hiểu mức độ sầu nhớ của

em Bài thơ trên cũng có thể diễn dịch thành : Dạ em sầu nhiều như nhịp cầu kia

Như thế, “dạ em sầu” trở thành chủ thể của phát ngôn; là cái cần được thể hiện và là

A trong hai yếu tố so sánh tu từ Trong khi đó, “cầu bao nhiêu nhịp” đóng vai trò như yếu tố chuẩn để so sánh với nỗi sầu của cô gái, là cái để thể hiện và nó đóng vai trò là B

Qua việc phân tích bài ca dao này đã củng cố cho nhận định :kiểu cấu trúc so sánh

phổ biến của dạng A bao nhiêu…B bấy nhiêu là dạng B bấy nhiêu…A bao nhiêu

Chúng tôi dùng hai từ phổ biến, điều này đồng nghĩa chúng tôi không phủ nhận cấu trúc so sánh A bao nhiêu…B bấy nhiêu Tùy vào nội dung , mục đích sử dụng mà

kiểu cấu trúc so sánh nào sẽ được vận dụng vào trong phát ngôn so sánh hay văn cảnh

Điển hình như trong bài ca dao sau, cấu trúc so sánh A bao nhiêu…B bấy nhiêu”được đưa vào sử dụng:

Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang Bao nhiêu tất đất tất vàng bấy nhiêu

Nói cách ngắn gọn hơn, qua sự phân tích trên, chúng tôi tán đồng ý kiến của tác

giả Bùi Trọng Ngoãn: cấu trúc phổ biến của dạng A bao nhiêu…B bấy nhiêu nên

là dạng B bấy nhiêu…A bao nhiêu Hay để tránh nhầm lẫn, ta nên gọi đây là dạng

so sánh có dùng cặp đại từ bao nhiêu…bấy nhiêu

Đến đây, từ nhiều kiến giải về cấu trúc so sánh tu từ tiếng Việt, chúng tôi nghĩ rằng định hướng cho luận văn của chúng tôi sẽ là mô hình cấu trúc so sánh gồm bốn yếu tố so sánh của tác giả Nguyễn Thế Lịch Nghĩa là chúng tôi sẽ đi vào khảo sát phép so sánh tu từ trong ca dao trữ tình ở bốn yếu tố so sánh như yếu tố được so sánh, yếu tố từ so sánh, yếu tố cơ sở so sánh và yếu tố so sánh Cụ thể,

Trang 28

chúng tôi khảo sát sự có mặt hay vắng mặt của các yếu tố này trong phép so sánh ở

sánh A …bao nhiêu B bấy nhiêu chúng tôi sẽ sử dụng dạng phổ biến của cấu trúc này là B bấy nhiêu…A bao nhiêu như chúng tôi đã trình bày trên

1.3 Chức năng của phép so sánh tu từ

Tác giả Đào Thản từng nhận xét rằng so sánh là một phương tiện quen dùng

có thể đáp ứng yêu cầu diễn tả, làm cho lời nói có xương, có thịt

Nhận xét này cũng đã phản ánh ý nghĩa của lối so sánh đối với nhu cầu diễn tả tình cảm, những vấn đề liên quan đến cuộc sống của con người, qua lối so sánh lời nói hay cách diễn đạt của họ trở nên được đầy đặn, có “xương”, có “ thịt” hơn

Vai trò chủ yếu của lối so sánh, theo các nhà tu từ học tiếng Việt, thể hiện ở hai chức năng : nhận thức và biểu cảm

Thấy bạn mà chẳng thấy chàng bâng khuâng như mất lạng vàng trên tay

Trang 29

Nỗi lòng của người con gái khi không thấy người yêu thật là điều khó diễn thành lời Đó là những cung bậc cảm xúc của tình yêu nên ắt hẳn không thể nào có được sự định hình, định tính trong cách diễn đạt Nó thuộc về cái gì đó trừu tượng Song, chính vì thế, nghệ nhân dân gian đã mượn đến lối so sánh như công cụ đắc dụng Bằng lối so sánh nỗi lòng khó nắm bắt kia lại trở nên gần gũi và nhận thức được : không gặp mặt chàng lòng dạ em buâng khuâng như vừa bị đánh mất lạng vàng Vàng là vật rất có giá trị đối với con người, xét về mặt vật chất Chính vì thế trong lối so sánh này “chàng” bằng vàng, chàng là điều quý quá đối với “ em”, không thấy được chàng chẳng khác nào người ta vừa bị đánh mất của cải có giá trị

Chức năng biểu cảm là chức năng biểu hiện các tình cảm, thái độ về đối tựợng được nói đến Nói theo tác giả Cù Đình Tú : Qua bất cứ một phép so sánh

tu từ nào người ta cũng có thể nhận ra long yêu ghét, ý khen chê, thái độ khẳng định hay phủ định của người nói đối với đối tượng được miêu tả

Trông anh như thể sao mai Biết rằng trong có như ngoài hay không

(Ca dao)

Hình ảnh “sao mai” gợi cho người đọc hình ảnh về đối tượng “anh”: một người con trai có vẻ bề ngoài đẹp và thu hút thiện cảm của người giao tiếp Nhưng câu cuối là lời phát biểu ý nghĩ, nhận xét của người phát ngôn Có thể là người con gái nói người con trai , là lời của nhân dân trong ca dao này: anh đẹp đấy nhưng biết đâu “ trong có như ngoài hay không” Anh có được vẻ đẹp bề ngoài nhưng có thể chỉ

là ở hình thức trau chuốt bóng bẩy mà bản chất bên trong là dấu chấm hỏi Lời và ý rất tế nhị, rất lịch sự nhưng cũng đủ làm những ai nếu chỉ có vỏ “nước sơn” phải méo mặt mà không thể trách người nói được Bên cạnh đó, thái độ và quan điểm chọn bạn của người phát ngôn trong bài ca dao trên còn được thể hiện rõ: em không chỉ chú

Trang 30

trọng vào hình thức bên ngoài mà điều quan trọng là phẩm chất bên trong Cái Đẹp là

sự kết hợp của cả hai : hình thức và nội dung

Lời ít nhưng dụng ý nhiều nên câu phát ngôn tạo dấu ấn trong lòng người tiếp nhận

Đã là dấu ấn thì rất khó phai trong lòng người cảm thụ

1.4 Khái niệm ca dao và ca dao trữ tình

1.4.1 Khái niệm ca dao

Trong quyển Tổng hợp văn học dân gian người Việt tập ( tập 15 ca dao) do

Nguyễn Xuân Kính làm chủ biên, tác giả Nguyễn Xuân Kính đã lượt thuật về nguồn gốc sự ra đời của ca dao Theo tác giả, trong dòng văn học dân gian đã tồn tại những hình thức văn nghệ được gọi người dân gọi bằng các từ ca, hát, hò…

Ra đây mà hát mấy câu Được thua thua được cho nhau bằng lòng Như vậy, trong dân gian chưa có những tên gọi mang tính khái quát cao để chỉ các hiện tượng và hoạt động ca hát.[7;15]

Căn cứ theo những tài liệu tham khảo, tác giả Nguyễn Xuân Kính cho rằng thuật ngữ ca dao đến từ các nhà nho qua quá trình sưu tầm, biên soạn những câu hát thôn

dã đó Cùng với sự vận động của xã hội, con người ngày càng có khuynh hướng thưởng thức ca dao giống như thưởng thức văn học viết

Tác giả Nguyễn Xuân Kính đưa ra quan niệm về ca dao như sau : “ Ca dao là những sáng tác văn chương được phổ biến rộng rãi, được lưu truyền qua nhiều thế

hệ mang những đặc điểm nhất định và bền vững về mặt phong cách” [7;56]

Như thế, có thể rút ra kết luận từ những thông tin mà tác giả Nguyễn Xuân Kính đã cung cấp Ca dao là thuật ngữ văn học để chỉ những khúc hát của người bình dân được sáng tác ra nhằm phục vụ đời sống tinh thần

Còn theo Dương Quảng Hàm, Ca dao là thơ dân gian, có nội dung trữ tình

và trào phúng, bao gồm hàng loạt những lời như đã trình bày Người ta có thể hát, ngâm, đọc ( và cả xem bằng mắt sau khi ca dao đã được ghi chép lại)

Theo tác giả Lê Chí Quế: “ Ca dao là những bài có hoặc có chương khúc, sáng tác bằng thể văn vần dân tộc ( thường là lục bát) để miêu tả, tự sự, ngụ ý, và diễn đạt tình cảm”[32;216]

Trang 31

Bên cạnh các quan niệm trên, theo tác giả Đinh Gia Khánh: “ Ca dao vốn là thuật ngữ Hán- Việt Theo cách hiểu thông thường thì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy…Hoặc ngược lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca”[9;436]

Qua các định nghĩa trên có thể nhận ra nhiều điều xung quanh thuật ngữ “ ca

dao” Tuy được vay mượn từ Hán- Việt, nhưng thuật ngữ “ ca dao” đã nhanh chóng được phổ cập và được hiểu là “ câu hát dân gian không có điệu có khúc nhất định”[19] hoặc ca dao là “ thơ dân gian truyền miệng dưới hình thức những câu hát, không theo một nhịp điệu nhất định”[9;19]

Có thể nói văn học dân gian là bộ bách khoa toàn thư về đời sống nông dân Trong cuộc sống đặt ra bao nhiêu vấn đề thì ca dao dân ca cũng có bấy nhiêu điều cần phân tích

Nói như tác giả Hoàng Kim Ngọc, dẫn lời tác giả Minh Hiệu thì “ Chung quanh vấn

đề ca dao, hiện đương có nhiều điều cần được làm cho sáng tỏ, cả về học thuật cũng như về yêu cầu nâng cao chất lượng nghệ thuật và nội dung cho ca dao mới”[6;20]

Vậy hiểu ca dao như thế nào, đến nay vẫn là vấn đề đang được tiếp tục làm sáng tỏ

Ca dao và dân ca

Theo tác giả Dương Quảng Hàm, Ca dao được hình thành từ dân ca Khi nói đến ca dao, người ta thường nghĩ đến lời ca

Ngược lại khi nói đến dân ca, người ta nghĩ đến cả làn điệu và những thể thức hát

nhất định “Dân ca bao gồm phần lời (câu hoặc bài), phần giai điệu (giọng hoặc làn điệu), phương thức diễn xướng và cả môi trường, khung cảnh ca hát”[ 6; 20]

Dân ca và ca dao có mối quan hệ đặc biệt

Cũng theo tác giả, nội dung ca dao phản ánh tình yêu quê hương đất nước, những mối quan hệ gia đình, thể hiện cái nhìn của người dân đối với các tầng lớp thống trị phản ánh các nghề nghiệp, các sinh hoạt hội hè đình đám, ca hát văn nghệ

Thể hiện các cung bậc, cảnh ngộ của tình yêu lứa đôi

Theo tác giả Vũ Ngọc Phan thì ca dao “vốn là một thuật ngữ Hán – Việt Và

ca dao “ là một loại thơ dân gian có thể ngâm được như các loại thơ khác và có thể xây dựng thành các điệu dân ca

Trang 32

Còn dân ca là câu hát đã thành khúc điệu, là những bài hát có nhạc điệu nhất định,

nó ngả về nhạc nhiều ở mặt hình thức

Xét từ nguồn gốc phát sinh thì dân ca khác với ca dao là ở chỗ, dân ca được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định, trong những nghề nghiệp nhất định, hay ở những địa phương nhất định Dân ca thường mang tính địa phương, không như ca dao là những bài ca dao có ít tính địa phương hơn, dù nội dung ca dao có nói vè một địa phương nào thì vẫn được phổ biến rộng”.[25;43]

Trong khi đó dân ca ít được phổ biến hơn Dân ca của địa phương nào thì được nhân dân ở đó biết và ca hát được.Song vẫn có ngoại lệ như lời hát ru vẫn được phổ biến như ca dao

1.4.2 Khái niệm ca dao trữ tình

Về khái niệm ca dao trữ tình, tác giả Vũ Ngọc Phan cho rằng phần lớn ca dao Việt Nam là ca dao trữ tình : “ Ca dao xưa có tình và có cảnh, cảnh tình gắn bó với nhau mật thiết, cảnh sinh tình và tác giả mượn cảnh để nói lên nội tâm của

Trang 33

mình; do đó, ca dao xưa có sức truyền cảm mạnh và sống mãi trong lòng nhân dân”

[6;41]

Tác giả Mã Giang Lân thì nhận xét : “…Về cơ bản, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian Những tác phẩm trong thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con người trong lao động, trong sinh hoạt gia đình, xã hội hoặc nói lên những kinh nghiệm

sống và hành động thì bao giờ cũng bộc lộ thái độ chủ quan của con người đối với những hiện tượng khách quan, chứ không phải miêu tả một cách khách quan những hiện tượng, những vấn đề Cho nên ở ca dao cái tôi trữ tình được nổi lên rõ nét.”

[6;15]

Đồng nhận định với tác giả Mã Giang Lân, tác giả Lê Chí Quế cho rằng mặc

dù có thể phân loại ca dao thành nhiều loại khác nhau nhưng chất trữ tình luôn hiện hữu trong tất cả các dạng ca dao Cụ thể, tác giả Lê Chí Quế xếp ca dao thành ba dạng chủ yếu:

- Ca dao dân ca gắn liền nghi lễ phong tục

- Ca dao dân ca gắn liền với các hoạt động lao động sản xuất từ thô sơ đến phức tạp

- Ca dao dân ca trữ tình sinh hoạt

Trong các dạng ca dao trên, chúng tôi chú ý đến ca dao dân ca trữ tình sinh hoạt bởi

ở đây ca dao thể hiện quan hệ giao lưu tình cảm giữa các thành viên trong cộng đồng ( cộng đồng gia đình và xã hội) Qua tham khảo nội dung ba dạng ca dao trên

từ tài liệu của tác giả Lê Chí Quế, chúng tôi nhận thấy dạng ca dao cuối cùng là nơi

sử dụng các biện pháp nghệ thuật nhiều hơn

Đến với khái niệm ca dao trữ tình , tác giả Lê Chí Quế đã có nhận định rất đáng được lưu ý Tác giả viết : “ Nếu hiểu trữ tình như là một yếu tố thì nó xuất hiện, đan xen vào tất cả các thể loại văn học dân gian : cổ tích, vè, sân khấu dân gian…nhưng khái niệm trữ tình dân gian được sử dụng ở đây được đặt trong sự đối lập với khái niệm tự sự dân gian xét dưới góc độ loại hình Đặc trưng nghiên cứu của trữ tình dân gian là những sáng tác phản ánh hiện thức đời sống thông qua sự điển hình tâm trạng của các nhân vật trữ tình Ở đây không có sự xung đột của hàng loạt hành động nhân vật Mặt khác, trữ tình dân gian cũng mang nét đặc thù của mình ở chỗ nó thể hiện qua các cuộc sinh hoạt ca hát, lễ hội chứ không phải bằng sự liên kết văn bản như sáng tác thơ ca hiện đại”

Trang 34

Tán thành với nhận định trên, tác giả Cao Huy Đỉnh thì nhận xét rằng : “

Ngày xưa, phần lớn ca dao trữ tình làm ra để hát” Mà hát ở đây là hát đối đáp Đối đáp là nói chuyện bằng lời thơ, điệu hát giữa đôi trai gái, giữa hai họ, hai phường Nói chuyện thật sự chứ không phải thổ lộ tâm tình theo nghĩa rộng của thơ trữ tình”[6;43]

Tác giả Mã Giang Lâm cũng tỏ ra đồng tình với nhận xét này của tác giả Cao

Huy Đỉnh khi tác giả viết về tính trữ tình của ca dao trữ tình Việt Nam : “ Phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ Trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tình cảm với nhau trong khi lao động, hội hè đình đám vui xuân

Họ có thể thổ lộ với nhau bằng câu ví, bằng hình thức giao duyên trong những cuộc hát đối đáp nam nữ…”[6;16]

Như vậy có thể thấy ca dao trữ tình có thể hiểu là thơ trữ tình dân gian, là lời

ví von, được dùng để đối đáp, để nói chuyện về tình duyên giữa những người bạn tình với nhau Không chỉ thế, đó còn là lời diễn tả tình cảm vợ chồng, mẹ con, bạn

bè, tình cảm đối với đất nước quê hương và những tâm tình trong đời sống lao động

và sinh hoạt của người bình dân

Chương II : PHÉP SO SÁNH TU TỪ TRONG CA DAO

TRỮ TÌNH

2.1 Các mô hình so sánh tu từ trong ca dao trữ tình

Tiến hành khảo sát toàn bộ 2586 bài ca dao của quyển Ca dao trữ tình chọn lọc do nhóm tác giả…biên soạn, có 354 câu( bài) ca dao sử dụng biện pháp so sánh

tu từ, thể hiện ra ở 437 lượt so sánh, với sáu kiểu cấu trúc so sánh

Số tt Dạng cấu trúc so sánh Số lượt xuất hiện

trong ca dao Tỉ lệ phần trăm(%)

Trang 35

Qua số liệu thống kê, có thể hình dung bức tranh phân bố các kiểu cấu trúc

so sánh tu từ trong ca dao trữ tình người Việt như sau:

Bảng số 1 : Các kiểu cấu trúc so sánh tu từ trong ca dao trữ tình

Bảng tổng hợp trên cho thấy: kiểu cấu trúc so sánh có tần số xuất hiện trong

sáng tác ca dao trữ tình nhiều nhất là kiếu cấu trúc A + tss + B: 297 / 437 lượt so sánh tu từ, tương đương 67.96 % , kế đến là kiểu cấu trúc A + x + tss + B: 60 / 437 lượt so sánh tu từ, tương đương 13.73 % Trong khi đó, kiểu cấu trúc A + B xếp thứ

ba với 51 lượt, chiếm 11.67 %, sau đến là hai kiểu cấu trúc B bao nhiêu …A bấy nhiêu và X + tss + B có tần số sử dụng bằng nhau, đều xuất hiện 13 lượt, tương đương 2.97 % Ngược lại, tỉ lệ xuất hiện thấp nhất rơi vào kiểu cấu trúc so sánh Tss + B, chỉ chiếm 0.70 %, , nghĩa là chỉ có 3 / 437 lượt

2.1.1 Mô hình A + tss + B

Cấu trúc so sánh khuyết cơ sở so sánh A + tss + B được vận dụng phổ biến

ở các nội dung ca dao đề cập đến như ca dao về tình yêu đôi lứa, về thân phận người phụ nữ v.v

1/ Bây giờ ta gặp mình đây, Như cá gặp nước như mây gặp rồng

Mây gặp rồng bát phong bát vũ,

Cá gặp nước con ngựoc con xuôi

2/ Thương nhau nên phải đi tìm Nhớ nhau một lúc như chim lạc đàn 3/ Đấy vàng đây cũng đồng đen

Trang 36

Đấy hoa thiên lý , đây sen Tây Hồ Đấy em như tượng mới tô Đây anh nhu người ngọc họa đồ trong tranh

4/ Em như cá lượn đầu cầu

Anh về lấy lưới, người câu mất rồi Cấu trúc so sánh khuyết cơ sở so sánh A + tss + B có một số đặc điểm khác

với các kiểu cấu trúc so sánh khác Cơ sở so sánh vừa là nét tương đồng của hai đối tượng xuất hiện trong phép so sánh vừa là nội dung cần biểu đạt Do yếu tố này vắng mặt nên nội dung thông tin biểu đạt được hiểu gián tiếp qua nghĩa biểu trưng của các đối tượng so sánh Điều này có ý nghĩa đối với ca dao có nội dung về tình yêu đôi lứa hay những đánh giá, cảm nhận…về thân phân người phụ nữ trong xã hội ngày xưa Bởi các đề tài này cần cách bày tỏ kín đáo, ý nhị, tránh thể hiện sổ sàng, lộ liễu Ngay trong lời nói sinh hoạt hằng ngày, dân gian vốn chuộng sự tế nhị

và kín đáo Trong cách bày tỏ tình cảm, điều này càng được chú trọng

Bằng lối ví von, dân gian mượn những câu chuyện của các hình ảnh để thay lời muốn nói

Mình về mình bỏ ta đây Như con tơ rối gở ngày nào xong

Đứng trước giờ phút của sự chia ly, tâm trạng của người đi kẻ ở đều rơi vào hỗn độn khó tả “Sức nặng” tâm trạng thường nghiêng về kẻ ở lại Nỗi lòng xáo trộn của kẻ ở lại khó có thể diễn đạt trọn vẹn trong một số từ ngữ định tính cụ thể Tâm trạng này cũng không thể được bộc bạch trực tiếp ra bên ngoài Lối so sánh khuyết

cơ sở so sánh là cứu cánh trong trường hợp này Câu ca dao trên chỉ xuất hiện hai đối tượng : Đối tượng được so sánh ( A): kẻ ở lại ( tâm trạng của kẻ ở lại),

đối tượng so sánh ( B): con tơ rối

Nét tương đồng (tức cơ sở so sánh) của hai đối tượng trên không được thể hiện Sự vắng mặt của cơ sở so sánh giúp lời ca dao thêm kín đáo bởi người tiếp nhận tự giải

mã thông điệp từ hình ảnh so sánh Từ như nối kết hai thực thể hoàn toàn không có

mối liên hệ sâu sa nào lại với nhau, để thông qua đó, hình ảnh con tơ rối nói hộ tâm trạng của kẻ ở lại: người ra đi để lại người tiễn đưa tâm trạng xốn xang, bối rối khôn

tả Mối rối rắm này chẳng biết khi nào có thể gở xong Hình ảnh con tơ rối tạo nên dấu ấn khắc sâu vào lòng người đi Dấu khắc ấy không phai theo cùng năm tháng dù

Trang 37

rằng, kẻ ở lại không than thở một lời nào Chỉ bằng hình ảnh, tâm trạng kẻ ở lại có sức mạnh khắc họa vào tâm cốt Qua đó, lời ca dao cũng bộc lộ nét duyên thầm ở con người Việt Nam : lời nói ý nhị, thầm kín nhưng có cả chiều sâu, chiều dài tình cảm

Thêm nữa, cấu trúc khuyết cơ sở so sánh kéo theo đặc tính khác của ca dao:

ca dao chỉ gợi mà không tả Ngay việc phân tích ví dụ trên cũng cho thấy điều này

Hay nói cách khác, trong số các kiểu cấu trúc so sánh tu từ, cấu trúc A + tss+B do

vắng đi cơ sở so sánh nên nó có sức liên tưởng rộng mở và chứa nhiều hàm ý hơn

Nó giúp người tiếp nhận có đươc sự liên tưởng phong phú và cảm nhận được nhiều thông tin từ nội dung mà bài ca dao muốn truyền tải đến Chính vì vậy Nguyễn Thế

Lịch từng ví sự vắng mặt yếu tố cơ sở so sánh “ không phải là để làm một phép tính trừ mà lại là thực hiện một phép tính nhân”

Bây giờ em đã có chồng Như chim vào lồng, như cá cắn câu

Có thể thấy: Em đã có chồng là đối tượng được so sánh, chim vào lồng, cá cắn câu là đối tượng so sánh Qua cấu trúc khuyết cơ sở so sánh, câu ca dao mang

đến ít nhất hai cách hiểu về nội dung biểu đạt

Lời ca dao trên như một lời đáp của người con gái đối với chàng trai Lời đáp khôn ngoan không chỉ nhằm đáp trả thông tin cho chàng trai mà còn nhằm an ủi nỗi buồn của chàng trai một cách tế nhị : bây giờ em đã có chồng Người con gái đã

có chồng đồng nghĩa với đánh mất tự do, khác chi chim đã vào lồng, con cá đã cắn

câu Và sự mất tự do này không biết khi nào có thể tìm lại được bởi:

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ Chim vào lồng biết thưở nào ra

Nội dung thông điệp của người con gái không chỉ là sự mất tự do Đó có thể

là trạng thái,vị trí… của người con gái khi chưa có chồng mà nay chúng đã trở nên

vô nghĩa khi cô cất bước sang ngang Cô đã có chồng thì cô sẽ chung thủy với chồng bởi đó là hợp đạo lý Sự thật này không thể thay đổi

Mặt khác, hình ảnh chim vào lồng, cá cắn câu có thể mang thêm nét nghĩa:

có nơi có chốn, đã an bài, yên với hoàn cảnh thực tại và không thể thay đổi được

Trang 38

Chính vì thế, có giai thoại: Đào Duy Từ đã mượn hai câu ca dao trên để thay lời từ chối với Trịnh Tráng Đào Duy Từ dùng hai câu ca dao trên để ngụ ý mình đã có chủ mới, chúa Nguyễn, ví như chim đã vào lồng người khác, cá đã cắn câu người khác rồi

Như vậy, từ những phân tích trên cho thấy cấu trúc so sánh khuyết cơ sở so sánh mở rộng liên tưởng cho người tiếp nhận và ca dao mang nhiều hàm ý hơn

Ngoài ra, theo cách nghĩ của chúng tôi, kiểu cấu trúc này thích hợp cho môi trường diễn xướng, khi người sáng tác vừa phải tuân theo vần luật trong ca dao vừa

phải ứng tác nhanh Do đó, chúng tôi cho rằng cấu trúc khuyết cơ sở so sánh A + tss + B được sử dụng nhiều hơn các kiểu cấu trúc so sánh khác trong ca dao trữ tình,

đặc biệt ở ca dao có nội dung về tình yêu và thân phận người phụ nữ

Các từ so sánh thường gặp trong kiểu cấu trúc so sánh A + tss +B là như , như thể, cũng như, như là, là, bằng, cũng bằng, không bằng, thể, khác nào, khác chi, khác gì, còn hơn, tựa Mỗi từ so sánh có tần số sử dụng khác nhau mà chúng tôi

dùng bảng sau để chi tiết hóa

Số tt Từ so sánh Số lượt xuất hiện trong tác

Trang 39

Bảng 2 Lượt xuất hiện của các từ so sánh cấu trúc so sánh A + tss + B trong ca

Kiểu cấu trúc so sánh xếp thứ hai là kiểu cấu trúc so sánh có mặt đầy đủ bốn

yếu tố so sánh : A + X + tss + B Các trường hợp xuất hiện của kiểu so sánh này

thường rơi vào nội dung miêu tả nhan sắc, diện mạo bên ngoài, tính chất của sự tình

Nhớ ai bổi hổi bồi hồi Như đứng đống lửa như ngồi đống than

Do yếu tố cơ sở so sánh có mặt trong cấu trúc so sánh nên người tiếp nhận dễ dàng nắm bắt nội dung cần biểu đạt của câu ( bài) ca dao trữ tình Cấu trúc so sánh này có một sự khác biệt so với cấu trúc so sánh vừa nêu trên: cách thể hiện thông điệp có tính trực tiếp hơn Nội dung ca dao hướng đến được giới hạn cụ thể

Trang 40

Răng đen như thể hột dưa

Miệng cười tủm tỉm như chưa có chồng

Qua lối so sánh, dân gian khắc họa nên vẻ đẹp của người phụ nữ Vẻ đẹp không kiêu sa lộng lẫy mà bình dị, duyên dáng và cuốn hút ánh nhìn Người nghệ nhân dân gian không miêu tả toàn diện vẻ đẹp ấy mà chỉ dừng lại ở vài nét chính trên khuôn mặt người phụ nữ Bằng cấu trúc so sánh đầy đủ nét đẹp đầu tiên của

người phụ nữ hiện ra: hàm răng (đối tượng được so sánh: A) được gọi là đẹp của

phụ nữ ngày xưa theo phong tục dân tộc sẽ là răng đen và màu đen ( cơ sở so sánh:

X) được ví như (từ so sánh như) màu đen của hột dưa ( đối tượng so sánh: B): màu

đen huyền Đây là người phụ nữ đẹp theo quan điểm thẩm mỹ của người xưa Như vậy, vẻ đẹp của người phụ nữ trong bài ca dao trên chính là vẻ đẹp ở nụ

cười có duyên nở trên một hàm răng đẹp Dân gian vẫn truyền nhau câu: cái răng cái tóc là gốc con người Mô tả về hàm răng đẹp hay mái tóc dày bóng mượt là mô

tả vẻ đẹp của người phụ nữ Cơ sơ so sánh của cấu trúc so sánh ở trong trường hợp này cần phải thể hiện ra bên ngoài nhằm tạo nên nét nổi bậc của hàm răng: hàm răng đẹp là hàm răng có màu đen huyền Tác giả dân gian tập trung vào màu đen của hàm răng để tạo nên điểm nhấn của khuôn mặt người phụ nữ Vì vậy, màu đen chứ không phải tính chất nào khác của hàm răng cần được thể hiện ngoài tính chất này

Em như cây quế giữa rừng Thơm tho ai biết, ngát lừng ai hay

Ở bài ca dao này, phẩm chất, giá trị của người con gái được so sánh với hình ảnh cây quế mọc giữa rừng Giữa người con gái và cây quế là hai thực thể khác nhau Nhưng tác giả dân gian đã kéo hai hình ảnh này lại gần nhau Dân gian căn cứ vào tính chất thơm vốn có ở cây quế nhưng do nó nằm ở trong rừng nên hương thơm đó ít được ai biết đến Điểm cơ sở này dẫn sự liên tưởng đến phẩm chất đáng trân trọng của người con gái Phẩm chất cao quý của người con gái được bộc lộ qua hình ảnh so sánh cây quế Tác giả dân gian chọn và chỉ chọn tính chất đáng quý của cây quế, chứ không phải đặc điểm nào của cây quế nên đã trực tiếp đem đặc tính này ra để ca ngợi về người phụ nữ Cùng với đó, ở cảnh ngôn này tác giả dân gian muốn nhấn mạnh đến phẩm chất đáng quý của người phụ nữ hơn các đặc điểm khác

Ngày đăng: 02/04/2018, 05:12

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w