Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1bộ giáo dục và đào tạo
trờng đại học vinh
Võ Hữu Vân
đặc điểm ngôn ngữ phần mở đầu trong ca dao trữ tình việt nam
=======================
Luận văn thạc sỹ ngữ văn
Vinh, 2002
Trang 2môc lôc
TrangPhÇn më ®Çu
PhÇn néi dungCh¬ng 1
Kh¸i qu¸t vÒ ca dao vµ phÇn më ®Çu
trong ca dao tr÷ t×nh
II- PhÇn më trong v¨n b¶n vµ trong ca dao tr÷ t×nh 25
Trang 31.2- PhÇn më ®Çu theo thÓ song thÊt lôc b¸t 32
trong ca dao tr÷ t×nhI- C¸c tõ ng÷ biÓu thÞ néi dung më ®Çu cña ca dao tr÷ t×nh 56
10- Më ®Çu lµ tõ ng÷ chØ cuéc sèng sinh ho¹t cña con ngêi 77
13- Më ®Çu lµ tõ ng÷ chØ h×nh ¶nh vò trô, thiªn nhiªn 80
II- Vai trß cña phÇn më ®Çu víi néi dung vµ phÇn kÕt trong bµi ca dao 85
Trang 4trữ tình.
1.1-Phần mở đầu có vai trò làm nguyên cớ khi tỏ tình 851.2- Phần mở đầu có vai trò làm nền để thể hiện tâm trạng 861.3- Phần mở đầu có vai trò đa đẩy khi diễn xớng 881.4- Phần mở đầu có vai trò nêu vấn đề, định hớng 89
III- Các loại quan hệ ngữ nghĩa của phần mở đầu với toàn bài ca dao 92
phần Kết luận 97 tài liệu tham khảo tài liệu tham khảo 100
Phần mở đầu1- Lý do chọn đề tài.
Ca dao trữ tình là tiếng nói tâm tình của ngời lao động Tiếng nói đó nhằmbộc lộ thái độ cảm xúc thẩm mỹ của con ngời, trớc những đối tợng khác nhaucủa tự nhiên, xã hội
Đây là mảng đề tài phong phú nhất, phát triển mạnh nhất của ca dao,mảng đề tài này đợc nhiều nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học quan tâm Tuynhiên, các nhà nghiên cứu chỉ tập trung khai thác ở các mặt, giá trị nội dung, giátrị nghệ thuật, thi pháp ca dao mà ít chú ý tới một khía cạnh khác dới góc độngôn ngữ học Đó là chức năng, ý nghĩa, vai trò, quan hệ của phần mở đầu bài cadao nhìn trong tổng thể của văn bản
Cũng nh các thể loại khác, phần mở đầu của ca dao trữ tình bao giờ cũng
có một hình thức, cấu trúc nhất định, nhằm chuyển tải một phần quan trọng củanội dung văn bản Đồng thời nó cũng có một vị thế riêng, đặc thù riêng trongviệc phát triển nội dung và triển khai chủ đề văn bản Song tuy theo nội dungphản ánh của từng tiểu loại ca dao mà phần mở đầu có hình thức, cấu tạo vàquan hệ khác nhau
Việc nghiên cứu phần mở đầu trong ca dao nói chung và ca dao trữ tìnhnói riêng, giúp chúng ta hiểu thêm tính tổng thể của văn bản, đồng thời lý giải đ-
ợc mối quan hệ giữa các phần của văn bản
2- Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Nghiên cứu phần mở đầu trong ca dao trữ tình nhằm mục đích:
Trang 5- Qua khảo sát: cấu tạo, nội dung ý nghĩa, vai trò, chức năng, quan hệ củacác kiểu mở đầu trong ca dao trữ tình, nhằm làm cho ngời đọc một phần hiểuthêm bản chất, cách thức của các kiểu mở đầu đó.
- Giúp ngời nghiên cứu và giảng dạy văn học, giảng dạy ngôn ngữ, có cáinhìn tổng thể về văn bản, nhất là văn bản ca dao
3- Đối tợng, phạm vi nghiên cứu của đề tài.
3.1- Đối tợng nghiên cứu
Luận văn lấy các kiểu mở đầu trong ca dao ngời Việt làm đối tợngnghiên cứu Khi nghiên cứu, luận văn nghiên cứu kiểu mở đầu trong quan hệ vớinội dung văn bản, với các phần khác trong bài ca dao
3.2- Phạm vi nghiên cứu
Ca dao trữ tình là mảng đề tài lớn, da dạng, phong phú, luận văn chỉ đềcập tới các kiểu mở đầu ở các khía cạnh:
- Ca dao trữ tình với đề tài thiên nhiên đất nớc
- Ca dao trữ tình với đề tài quan hệ xã hội
- Ca dao trữ tình với đề tài tình cảm gia đình
- Ca dao trữ tình với đề tài tình yêu lứa đôi
Về t liệu phục vụ cho việc su tầm khảo sát:
Ca dao trữ tình chọn lọc - NXB Văn học - 2001 - Nhóm tác giả Lữ HuyNguyên, Đặng Văn Lung, Trần Thị An
Tục ngữ - Ca dao - Dân ca Việt Nam - NXB Văn học - Vũ Ngọc Phan
4- Phơng pháp nghiên cứu.
Các phơng pháp đợc sử dụng khi nghiên cứu luận văn này:
4.1- Phơng pháp khảo sát, thống kê, phân loại: Khảo sát số liệu, thống kê số liệu
sau khi đã khảo sát, phân loại số liệu, nhóm các kiểu câu mở đầu
4.2- Phơng pháp phân tích đối chiếu:
Sau khi có số liệu, ngời nghiên cứu miêu tả, phân tích các kiểu mở đầu, cóthể đối chiếu với một số thể loại khác để làm nổi bật vấn đề
5- Cái mới của luận văn.
Luận văn nêu một cách hệ thống, chuyên sâu về các kiểu mở đầu trong cadao trữ tình và mối quan hệ giữa phần mở đầu với các phần khác trong bài cadao
6- Lịch sử vấn đề.
Ca dao là đề tài hấp dẫn, thu hút nhiều nhà nghiên cứu, nhiều lĩnh vựcnghiên cứu, từ góc độ văn học, thi pháp học và ngôn ngữ học Song từng lĩnh vựcnghiên cứu lại có những cách nhìn nhận riêng để khai thác các khía cạnh khácnhau của ca dao:
6.1- Hớng nghiên cứu từ góc độ văn học dân gian
Trang 6Hoàng Tiến Tựu (tái bản 1999) nghiên cứu ca dao về các mặt: nội dungphản ánh của ca dao, nghệ thuật của ca dao, kết cấu của ca dao, VHDG ViệtNam - Giáo trình đào tạo giáo viên THCS - hệ CĐSP - NXB Giáo dục - 1999.
Bùi Mạnh Nhị (1999) nghiên cứu đặc trng cấu trúc của bài ca dao trữ tìnhdân gian (Folklore) ở khía cạnh: Công thức truyền thống và đặc trng cấu trúc của
ca dao, dân ca trữ tình (Những công trình nghiên cứu VHDG Việt Nam)
Đặng Văn Lung (1999) nghiên cứu những yếu tố trùng lặp trong ca daotrữ tình: Sự trùng lặp về hình ảnh, sự trùng lặp về ngôn ngữ (những công trìnhnghiên cứu VHDG Việt Nam)
Nguyễn Tấn Phát (1999) nghiên cứu nội dung phản ánh của ca dao, dân caNam Bộ (Những công trình nghiên cứu VHDG Việt Nam)
Chu Xuân Diên (1997) nghiên cứu lịch sử xã hội, đất nớc và con ngờitrong cao dao, dân ca Việt Nam - Cấu tứ trong thơ trữ tình dân gian và nhữngtruyền thống nghệ thuật của ca dao dân ca Việt Nam (Văn học dân gian ViệtNam) NXB Giáo dục
6.2- Hớng nghiên cứu từ góc độ thi pháp
Nguyễn Xuân Kính (1992) nghiên cứu tổng thể của ca dao về các mặt thipháp:
- Thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp ca dao
- Ngôn ngữ trong ca dao
- Kết cấu trong ca dao
- Một số biểu tợng trong ca dao
(Thi pháp ca dao - NXB KHXH - HN - 1992Trần Đình Sử (1998) nghiên cứu những đặc điểm của ca dao:
Đinh Gia Khánh - Nghiên cứu đặc điểm câu mở đầu trong thơ ca dân gian
- Thông báo khoa học - Văn học, ngôn ngữ, trờng Đại học tổng hợp HN 1996
Điểm qua một số công trình nghiên cứu về ca dao, chúng ta có thể nóirằng: ca dao là mảng đề tài phong phú nhất cho những nhà nghiên cứu quan tâm.Song việc nghiên cứu ấy, chỉ tập trung và các vấn đề: nội dung, hình thức, thểloại ca dao
7 Bố cục của luận văn.
Luận văn tiến hành nghiên cứu trong ba chơng:
Trang 7Chơng 1: Khái quát về ca dao và phần mở đầu trong ca dao trữ tình
Phần nội dung
Chơng 1Khái quát về ca dao và phần mở đầu
trong ca dao trữ tình
I- Khái quát về ca dao và ca dao trữ tình.
1- Khái quát về ca dao
Ca dao và dân ca là hai thuật ngữ đợc dùng trong giới nghiên cứu văn học
và âm nhạc Song nội dung của hai thuật ngữ này, nhất là thuật ngữ ca dao thì lại
đợc xác định không giống nhau Tuỳ cách hiểu, tuỳ quan niệm của mỗi ngời mànội dung thuật ngữ đợc trình bày, đợc diễn giải bằng những cách khác nhau
Về dân ca, cách hiểu tơng đối thống nhất là những bài hát dân gian doquần chúng nhân dân sáng tác, diễn xớng, lu truyền
ở dân ca, yếu tố văn học (lời ca) và âm nhạc (làn điệu) cũng với thể thứcdiễn xớng, gắn bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Có loại dân ca lutruyền chủ yếu ở một vùng, một miền và có quan hệ mật thiết với sinh hoạt vănhoá, tinh thần của vùng đất đã sản sinh ra nó Chẳng hạn, dân ca quan họ BắcNinh, hát dặm Nghệ Tĩnh, hò Đồng Tháp Có loại dân ca lu hành phổ biến ởnhiều nơi, nhiều địa phơng khác nhau nh: Điều cò lả, hát trống quân ở đồng bằngBắc bộ, hò chòi ở miền Trung
Về khái niệm ca dao: có nhiều quan niệm khác nhau Theo Dơng QuảngHàm: ca dao thì ca là hát, dao là bài hát không có chơng khúc
Đó là những bài hát ngắn, lu truyền trong dân gian, thờng tả tính tình, phong tụccủa ngời bình dân Theo cách hiểu này thì ca dao và dân ca đồng nghĩa với nhau,chúng không có ranh giới phân biệt Phải chăng, từ thuở mới khai sinh, các tácgiả dân gian chỉ làm ca dao để hát, nên thuật ngữ ca dao mới đợc xác định Đó lànhững bài hát ngắn
Thuật ngữ ca dao đợc sử dụng rộng rãi ở nớc ta từ thế kỷ thứ XX, nhữngviệc xác định nội hàm của nó ở các nhà nghiên cứu, su tầm, biên soạn sách vănhọc dân gian những thập niên sau này lại có thêm nội dung mới, cách hiểu mới
Thời xa xa, trong sinh hoạt văn nghệ, các nghệ sỹ dân gian làm ra các bàihát ngắn để hát Chúng gồm hai phần, lời ca và làn điệu Dần dần theo thời gian,lời bài hát phát triển thành một thể thơ dân gian Các thế hệ tiếp theo dựa vàophong cách cấu tạo của thể thơ này mà đặt thêm những lời ca mới, hoặc để háttheo những làn điệu mới, sáng tác, hoặc để ngâm, để đọc Một số tác phẩm của
Trang 8các nhà thơ, nhà văn sáng tác theo phong cách dân gian đi vào đời sống đợc nhândân hoá, cũng trở thành ca dao Do vậy, khái niệm ca dao đã mang một nội dungmới, không đồng nhất với ca dao nữa
Giáo s Hoàng Tiến Tựu trong tập "Văn học dân gian Việt Nam" tập 2trang 139 viết: Ca dao là bộ phận chủ yếu quan trọng nhất của thơ dân gian, làloại thơ dân gian truyền thống có phong cách riêng, đợc hình thành và phát triểntrên cơ sở các thành phần nghệ thuật ngôn từ trong các loại dân ca trữ tình truyềnthống (ngắn và tơng đối ngắn) của ngời Việt
2- Khái quát về ca dao trữ tình
Ca dao trữ tình là những bài ca mà nội dung và hình thức diễn xớng của
nó không nhằm mục đích nghi lễ và không kèm những động tác có tính chấtnghi lễ Những bài ca này vẫn đợc hát trong lao động nhng nội dung cơ bản của
nó là nhằm bộc lộ tâm t tình cảm của nhân vật trữ tình, bộc lộ tình yêu tha thiếtcủa nhân dân đối với quê hơng đất nớc, tình yêu lứa đôi, tiếng ca tình nghĩa củanhân dân trong quan hệ gia đình và những mối quan hệ khác Những bài ca này
có thể đợc hát, đợc hò, ít nhiều có lề lối có tổ chức hoặc hát đơn lẻ có đối đáphoặc không đối đáp (ví dụ: hò chèo ghe, hát điệu lý )
Xu hớng khám phá, phát triển cơ bản của thể loại này là thế giới nội tâmvô cùng đa dạng của nhân dân Mỗi bài ca mang một vẻ đẹp riêng của một vì saolấp lánh nhng cũng mở rộng đến vô biên chiều rộng và chiều sâu của thế giới bêntrong, đậm chất trữ tình của con ngời
Đây là thể loại nẩy nở khắp mọi vùng đất nớc, một thể loại quen thuộc, gần gũi với mọi lứa tuổi Tiếng hát trữ tình của nó, có thể vọng đến mọi nhà,vang trên đồng ruộng, bến nớc, ngoài biển khơi xa tít chiều sâu trong nội dungbài ca, vẻ đẹp duyên dáng trong hình thức cấu tạo của nó, sức hấp dẫn thu hút kỳlạ của những làn điệu đậm đà màu sắc dân tộc đã đem đến cho ngời đọc một sự
đam mê say đắm
Tất cả các điều ấy, đã gây cho chúng ta, một cảm giác khoan khoái, dễchịu, có thể ví nh ngời đang sống mệt mỏi, nơi ngột ngạt ồn ào, bỗng đợc hít thởkhông khí trong lành tơi mát, nơi hơng đồng gió nội vào những đêm thu yên tĩnh3- Những đặc điểm của ca dao
Ca dao là mảng đề tài phong phú nhất, đa dạng nhất của văn học dân gian
Đồng thời ca dao cũng là đề tài phong phú nhất về mặt thể loại Nghiên cứu về
ca dao, chúng ta không thể không nghiên cứu về mặt cấu tạo của nó Việc nghiêncứu này, giúp chúng ta có cái nhìn tổng thể cả nội dung và hình thức trong mộtvăn bản cụ thể
3.1- Về mặt thể loại
Nhìn chung đa số ca dao đợc sáng tác theo thể thơ: lục bát, thể song thấtlục bát, thể song thất, thể hỗn hợp, thể vãn
3.1.1- Thể lục bát:
Trang 9Đa số lời ca trong ca dao đợc sáng tác theo thể lục bát Nhắc tới ca dao,
ngời ta nhắc đến thể loại này
Vì sao phần lớn bài ca dao đợc sáng tác theo lể lục bát Vì thể thơ này mớinghe qua ngời ta dễ nghĩ rằng: Nhịp điệu lặp lại nhàm chán, theo kiểu dòng trên
2 - 2- 2, dòng dới 2 - 2 - 2 - 2 Trên thực tế, nhịp điệu thơ lục bát uyển chuyển,linh hoạt vô cùng Ngoài ra, với sự không gò bó, không bị hạn chế về độ dài,ngắn của tác phẩm (số lợng cặp thơ tuỳ thuộc vào tác giả) Thể lục bát có sở tr-ờng trong việc diễn đạt cảm xúc rất phong phú, thể hiện nội dung hết sức đadạng của hiện thực
Theo thống kê, trong số 1010 lời ca (CDVN) có 975 lời đợc sáng tác theothể lục bát, chiếm tỷ lệ 96,5% Các thể còn lại nh: song thất lục bát, song thất,thể hỗn hợp, chiếm 3,5%
Chiều hôm vắng vẻ, sáng mai lạnh lùng
(Ca dao Việt Nam)
Ước gì sông rộng một gang Bắc cầu giải yếm cho chàng sang chơi
(Ca dao Việt Nam)
Lửng lơ vầng quế soi thềm Hơng đa bát ngát càng thêm bận lòng Dao vàng bỏ đáy kim nhungBiết rằng quân tử có dùng ta chăng
Đèn ta thấp thoáng bóng trăng
Ai đem ngời ngọc thung thăng chốn này
(Ca dao Việt Nam) 3.1.2- Thể song thất lục bát:
Những bài ca thuộc thể loại này, bao gồm một khổ thơ bốn dòng, trong đóhai dòng bảy tiếng đứng đầu, tiếp đến một dòng sáu tiếng, cuối khổ thơ mộtdòng tám tiếng
Đêm năm canh, trông ngắm lần lần Khoảnh làm chi, bấy chúa xuânChơi hoa cho rữa nhị dần lại thôi
(Ca dao Việt Nam)
Nớc giếng vàng, vừa trong vừa mátNâu chợ Chùa nhuộm lạt lâu phai Cá Cựa Nhợng, khoai Mục BàiKhuyên ai về huyện Cẩm, kẻo một mai tiếc thầm
(Ca dao Việt Nam) 3.1.3- Thể song thất:
Trang 10Trong ca dao, thể loại này không phổ biến, song không phải là không có.Thể loại này đợc cấu tạo gồm hai dòng thơ, mỗi dòng bảy tiếng Hai dòng thơ đãtạo cho văn bản vẻ đẹp hài hoà cân đối
áo vá quàng chí quyết vợ anh
(Ca dao Việt Nam)
Trầu không vôi ắt là thuốc lạtCau không hạt ắt là cau già
(Ca dao Việt Nam) 3.1.4- Thể hỗn hợp:
Thể hỗn hợp là thể thơ sáng tác không theo một niêm luật nào, mang tính
tự do, không bị gò ép số tiếng, số câu Dài hay ngắn là do nội dung phản ánhrộng, hẹp của bài ca, thể loại này chiếm khoảng 1%
Ai ngồi, ai câu
Ai sầu, ai thảm
Ai thơng, ai cảm
Ai nhớ, ai trôngThuyền ta thấp thoáng bên sông
Đa câu mái đẩy chạnh lòng nớc non
(Ca dao Việt Nam)
Đờng không đi không biếtChuông không đánh sao kêuNghe lời anh nói bao nhiêuKhiến lòng thắc thẻo, trăm chiều xót đau
(Ca dao Việt Nam)
Hai bài ca dao trên có kiểu cấu trúc tự do Số tiếng trong mỗi dòng thơ và
số câu trong bài ca dao hoàn toàn khác nhau
ở ví dụ 1, dòng thơ đầu, sáu tiếng, tiếp đến, bốn dòng sau, mỗi dòng bốntiếng, và cuối cùng là một cặp lục bát
ở ví dụ 2, hai dòng thơ đầu, mỗi dòng năm tiếng, hai câu cuối bài ca làmột cặp lục bát
3.1.5- Thể vãn:
Đây là thể thơ đơn giản đợc dùng trong đồng giao và những lời ca khẩn
nguyền, phù chú Thể vãn bao gồm các loại:
- Vãn hai: Ông giăng
Ông giăng Xuống đây Cùng chị
- Vãn ba: Lng đằng trớc
Bụng đằng sau
Đi bằng đầu
Trang 11Tè he chân rụt
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
- Vãn năm: Kẻ trong nhà đói khổ
Trời gió rét căm căm Nơi ớt để mẹ nằmNơi khô xê con lạiChỗ khô bồng con lại
(Ca dao trữ tình Việt Nam) 3.2- Nội dung phản ánh của ca dao
Ca dao là nguồn thơ dân gian vô tận, có lịch sử lâu đời và sức sống mạnh
mẽ Chúng ta có thể hình dung ca dao Việt Nam nh một dòng sông lớn, bắtnguồn từ hàng trăm con sông, thậm chí hàng ngàn con sông, con suối ca dao,dân ca của các địa phơng, các vùng, miền trong cả nớc Tuy việc su tầm cha đầu
đủ, song ca dao là tiếng nói tâm hồn, tiếng nói tình cảm của nhân dân trong ờng kỳ lịch sử dân tộc Vì vậy, ca dao không chỉ lớn về số lợng tác phẩm mà cònhết sức phong phú về nội dung, đa dạng về hình thức nghệ thuật
tr-Trong dòng văn học dân gian, ca dao đợc coi là một trong những dòngchính của thơ ca trữ tình Với tính cách là thơ ca trữ tình, ca dao mang một đặc
điểm nổi bật đó là lối thơ trữ tình trò chuyện ở ca dao, dù kết cấu theo lối đối
đáp hay lối kể chuyện, chủ thể trữ tình ẩn hay hiện, ta luôn thấy bóng dáng mộtnhân vật đang trò chuyện, tức là kể chuyện hoặc giải bày cảm nghĩ, tâm tình củangời khác
Trong quá trình biểu hiện, giá trị độc đáo của ca dao là ở chỗ, nó phản ánhchân thực tâm hồn, khí sắc dân tộc Sinh ra giữa thiên nhiên khắc nghiệt, sốngtriền miên trong xã hội hà khắc, là trải qua bai chiến tranh loạn lạc, dân tộc nàykhông thể không nói đến khổ đau và căm giận, nhng cội nguồn và sức mạnh của
nó lại chủ yếu là chất tơi sáng, rắn rỏi của tâm hồn, là tình bầu bạn, là tình cảmyêu thơng, là tình nghĩa thuỷ chung, là lòng trung hậu với gia đình, quê hơng đấtnớc
Trong việc phản ánh, ca dao không tờng thuật những biến cố lịch sử, songnếu ta hiểu lịch sử là toàn bộ cuộc sống của nhân dân, thì ca dao chính là cuộcsống của nhân dân N.V.Gô Gôn đã từng nhận xét về dân tộc Nga: "Một lịch sửchân thực, sinh động, nhiều màu vẻ lịch sử qua những tên đất, tên ngời, lịch sửqua niềm tởng nhớ của lòng dân, lịch sử qua những phong tục, tập quán thổ nghi
Trang 12của các làng quê, lịch sử của những "sử, cuộc, nỗi, niềm" của cuộc đời hàngngày”
Khác với truyện cổ tích, nếu nh truyện cổ tích chiếu rọi một ánh sáng hyvọng và một cuộc sống khác, khác hẳn với cuộc đời hàng ngày, tẻ nhạt, khô cằnthì ca dao, tìm thi hứng ở ngay cả cuộc đời hàng ngày đó Cuộc đời đầm mồ hôilao động, nớc mắt, tủi nhục, song cũng có lúc ấm áp những nhịp đập bồi hồi củatình cảm yêu thơng, dạt dào những khoái cảm của niềm vui, của sự đùa cợt Bởivậy, ca dao đợc coi là pho bách th đời sống mọi mặt của nhân dân
Ngoài những đặc điểm nêu ở trên, trong ca dao, chủ thể trữ tình cha phải
là một cá nhân riêng lẻ, cha phải là một con ngời có thể khai thác những suynghĩ và tình cảm của mình ở những góc độ riêng t, mà các nhân vật trữ tình còngắn bó không tách rời với đời sống nhân dân, còn hoàn toàn đắm mình trong môitrờng của nhân dân và chỉ là tính cách, là chủ thể cái khí quan, qua đó biểu hiệnchất trữ tình của đời sống nhân dân Vì vậy, ta chỉ thấy ở ca dao một số nhân vậttrữ tình nhất định, những con ngời cùng cảnh ngộ Qua ca dao, đó là nhữngtiếng hát cất lên từ chính trái tim mình của những chàng trai, cô gái trong quan
hệ tình duyên, những ngời phụ nữ, kẻ làm con, ngời làm dâu, ngời làm vợ, làm
mẹ trong nghịch cảnh về hôn nhân gia đình, những ngời lao động trong côngviệc làm ăn, trên đồng ruộng hay trên sông nớc, trong cảnh ngộ nghèo khó
Chúng ta có thể gói gọn trong một câu: ca dao nói chung và ca dao trữ tìnhnói riêng, trớc hết và chủ yếu là tiếng hát than thân và tiếng hát nghĩa tình củangời nông dân và ngời lao động sông nớc trong khung cảnh làng xã Việt Nam 4- Những đặc điểm của ca dao trữ tình
4.1- Khái niệm về ca dao trữ tình
Ca dao trữ tình là bộ phận lớn nhất, phát triển mạnh nhất, phong phú và đadạng nhất của ca dao Nó chẳng những là phần lời thơ các loại dân ca trữ tình nhhát cò lả, hát trống quân, hát quan họ mà con bao gồm cả những lời trữ tìnhtrong các loại dân ca mà chức năng gốc của nó không phải là trữ tình nh: các
điệu hò lao động, các loại dân ca gắn với nghi lễ phong tục Dù sinh ra từ loại cadao, dân ca nào, địa phơng và thời kỳ lịch sử nào, thì ca dao trữ tình cũng làtiếng nói từ đáy lòng của ngời lao động, nhằm trực tiếp bộc lộ thái độ cảm xúcthẩm mỹ của con ngời trớc những đối tợng cụ thể khác nhau của tự nhiên, xã hội
Trang 13Theo thể này, lần lợt một câu sáu tiếng, rồi đến một câu tám tiếng Haicâu là một cặp lục bát (vì thế gọi là lục bát) Muốn đặt dài ngắn bao nhiêu cũng
đợc miễn là phải dừng lại ở câu thứ tám
Cách hiệp phần: chữ cuối câu lục, vần với chữ sáu câu bát, rồi chữ cuốicâu bát lại vần với chữ cuối câu lục sau
Tiếng chuông Trấn vũ canh gà Thọ Xơng
Mịt mù khói toả ngàn sơng Nhịp chày Yên Thái, mặt gơng Tây Hồ
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Câu tám có hai vần, một vần ở tiếng thứ sáu gọi là vần lng, một vần ởtiếng thứ tám gọi là vần chân Cứ một cặp câu, một lần đổi vần, bao giờ cũnggieo vần bằng
Luật bằng trắc: Luật bằng trắc thể lục bát đợc tóm tắt bằng mô hình nh sau: Câu sáu: b - b - T - T - b - b
Câu tám: b - b - T - T - b - b - T - b
(b là bằng, T là trắc)
Về nhịp: Nhịp của câu lục bát khá đa dạng Câu 6 có thể ngắt theo nhịp 2-2-2(nhịp đôi) hoặc 2-4; 3-3; 4-2 Câu 8 có thể ngắt theo nhịp 2-2-2-2; 4-4;6-2 Nhịp tựnhiên của câu thơ lục bát là nhịp đôi
Do tính chất uyển chuyển của nhịp, với sự không gò bó, không bị hạn chế về độdài ngắn của tác phẩm, thể lục bát có sở trờng trong diễn đạt cảm xúc, thể hiện các nộidung hết sức đa dạng của hiện thực
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen Thài lài mọc cạnh bờ sôngTuy rằng xanh tốt vẫn tông thài lài
(Ca Dao trữ tình Việt Nam)
Thể biến thức của lục bát đợc hiểu là những câu ca dao có hình thức lục bát
nh-ng có sự thay đổi về số tiếnh-ng của các dònh-ng thơ Nó khônh-ng khít trên sáu, dới tám nh thểchính thức
Một số lời ca lục bát biến thể, trong khuôn hình về vần vẫn đợc giữ nguyên, còn
số tiếng trong mỗi dòng thơ có thể thay đổi, với lẽ đó, trong thể biến thức, ta thờng gặpmột số biến thức nh sau:
- Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên
Trang 14Chân đi thất thểu lời anh dặn dò
(Ca dao trữ tình Việt Nam )
Tởng giếng sâu, nối sợi gầu dàiHay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
- Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi
Dừa Tam Quan hết nớc thì em đây mới hết tình
( Thi pháp ca dao)
Lời nguyền trớc cũng nh sau
Ta không ham vui bỏ bạn, bạn chớ tham giàu bỏ ta
( Thi pháp ca dao)
- Cả hai dòng, lục và bát thay đổi
Đó băn khoăn đó nhớ, đây bùi ngùi đây thơng
( Thi pháp ca dao )
Anh thơng em thầy mẹ ngăm nghe Cậu, cô, chú, bác đòi đậu bè thả trôi
( Thi pháp ca dao)
Trong thể lục bát biến thể, việc số lợng âm tiết tăng hay giảm đóng vai trò quyết
định để nhịp thơ thay đổi Hình thức lục bát biến thể, có u thế trong việc diễn đạtnhững hoàn cảnh điều kiện khó khăn, không thuận lợi và sự quyết tâm khắc phụcnhững trở ngại ấy
Thất bát sông cũng lội, tứ cửu tam thập lục đèo cũng sang
Trót đã mang vào kiếp bồng bềnh Xuống ghềnh lên thác, một lòng ta thơng nhau
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Ngoài ra biến thể lục bát còn có tác dụng trong việc châm biếm trào phúng
Ngày ba mơi tết có thịt treo trong nhà
(Thi pháp ca dao )
Nhác trông lên thấy bóng cô mình Múa may nhày nhót, rập rình với chú công văn
( Thi pháp ca dao)
Nh vậy, hình thức lục bát biến thể chỉ có trong ca dao với những chức năng nh
đã phân tích trên Hình thức này không có trong truyện thơ tự sự, cũng nh thơ trữ tìnhbác học làm theo thể lục bát
Đây là thể thơ bao gồm: Một khổ thơ bốn dòng, trong đó hai dòng bảy tiếng,một dòng sáu tiếng, cuối khổ thơ là một dòng tám tiếng Muốn đặt dài hay ngắn tuỳ ý,miễn là phải đặt cho trọn từng đoạn
Trang 15Ví dụ: Lụa làng Trúc vừa thanh vừa bóng
May áo chàng cùng sóng áo em Chữ tình cùng với chữ duyênXin đừng thay áo mà quên lời thề
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Đồng Đào Nguyên lạch nớc quanh co Trách mình không đắn nỏ đo Rã rời duyên nợ oan cha hỡi trời
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Về vần: Thể song thất lục bát đợc thể hiện bằng mô hình
là vần trắc Chữ cuối câu bảy dới, vần với chữ cuối câu sáu đều là vần bằng, chữ cuốicâu sáu, vần với chữ sáu câu tám, đều là vần bằng theo thể lục bát Nh vậy mỗi đoạn cóbốn câu, có bốn vần, một vần trắc và một vần bằng
Luật bằng trắc: Trong ca dao trữ tình sáng tác theo thể lục bát đợc tóm tắt theomô hình sau:
Việc thay đổi cấu trúc bất thờng nh vậy, nhằm thể hiện những cảm xúc mạnh
mẽ của tác giả và diễn đạt những nội dung có tính chất bất ngờ, không bình thờng
Trang 16Thể loại này rất ít xuất hiện, song chúng ta vẫn gặp trong một số trờnghợp đặc biệt
Đêm canh chày thức đủ năm canh
(Thi pháp ca dao)
Lý mấy câu kẻo sầu trong dạ
Nh ta với mình trớc lạ sau quen
(Ca dao trữ tình Việt Nam) 4.2.4- Thể vãn:
Thể vãn đợc sử dụng nhiều trong hát dặm Nghệ Tĩnh, nhiều khi còn đợc dùng
để hát đối nam nữ hoặc trong một số loại ca dao, dân ca nh những bài hát trẻ em.Chẳng hạn thể vãn nằm trong hát dặm Nghệ Tĩnh có một số phong cách riêng, gắn liềnvới lối hát của loại dân ca này Hai câu vần trắc láy lại ở mỗi đoạn thơ hát dặm, có giátrị nh một điệp khúc Nếu dùng đúng chỗ, thì có thể gây đợc ấn tợng mạnh mẽ
Đêm nằm nghĩ lại, khúc nhôi đoạn trờng
Sáng dậy ra tha làng Lính anh đi không đợc Việc quan làng nớc Làng đã đặt tên cho Phải cúi đầu mà lo Phải cúi đầu mà gánh
( Một số bài ca về ngời lính)
ở các bài ca dao, dân ca khác, thể vãn đợc dùng với thể loại lục bát, trongnhững trờng hợp này, tiết tấu và âm điệu phong phú, câu thơ có khả năng diễn tả đợcnhững cung bậc khác nhau của tình cảm
Nh rựa chém xuống đá
Nh rạ cắt xuống đất
Nh mật rót vào tai
Bây chừ anh đã nghe ai
Bỏ em giữa chốn thuyền chài rứa ri
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Tuy nhiên, Thể vãn thờng hay gặp thấy trong ca dao cổ Trong ca dao trữ tình,vào những giai đoạn phát triển, thể vãn ít đợc dùng hơn so với thể lục bát và song thấtlục bát
4.2.5- Thể hỗn hợp.
Đây là loại thể, sáng tác không theo niêm luật nào, là một sự hỗn hợp bao gồmnhiều thể loại khác nhau trong một bài ca Sự hỗn hợp khá đa dạng Trong ca dao, thểthơ này không đợc dùng nhiều bằng thể lục bát nhng nhiều hơn so với thể song thất lụcbát hoặc thể song thất
Trang 17Để anh gánh nớc Cao Bằng về ngâm Nớc Cao Bằng ngâm thì trắng gạo Anh biết em có liệu đợc chăng Trần trần nh cuội cung trăng Biết rằng cha mẹ có bằng lòng không
Để anh chờ đợi luống công
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Khổ thơ này gồm nhiều cặp lục bát xen vào hai câu thất Bài ca dao là một sựhỗn hợp hai thể loại, thể lục bát và song thất lục bát
Ca dao trữ tình là mảng đề tài phong phú nhất của ca dao Việt Nam Bộ phận cagiao này, phản ánh nhiều sự việc, nhiều tâm trạng khác nhau của tự nhiên, xã hội vàcon ngời Trong việc phản ánh đó, chúng ta thờng gặp một số nội dung cơ bản sau đây
4.3.1- Ca dao trữ tình phản ánh thiên nhiên đất nớc.
Thiên nhiên là yếu tố có mặt trong nhiều thể loại của văn học dân gian nh thầnthoại, cổ tích, truyền thuyết Song ở mỗi thể loại, thiên nhiên đợc nhìn nhận ở nhữngphơng diện khác nhau
Trong ca dao, nhất là những lời ca miêu tả cảnh đẹp quê hơng đất nớc đã đivào ca dao những hình ảnh hết sức đẹp đẽ, giàu sức gợi cảm, thẩm mỹ
Đờng vô Xứ Nghệ quanh quanhNon xanh nớc biếc nh tranh hoạ đồ
Về đề tài thiên nhiên, bên cạnh những lời ca, lời lẽ hồn nhiên, ta bắt gặp nhiềulời ca , nhiều kết cấu chặt chẽ, hoàn chỉnh, ngôn ngữ khá điêu luyện
Gió đa cành trúc la đàTiếng chuông Trấn Vũ cánh gà Thọ Xơng
Mịt mù khói toả ngàn sơngNhịp chày Yên Thái mặt gơng Tây Hồ Bên cạnh những bài ca phải ánh vẻ đẹp của đất nớc, chúng ta còn bắt gặp nhómcác lời ca phản ánh diễn biến các hiện tợng tự nhiên nh : Gió, ma, nắng
- Về gió: Tháng giêng là tiết gió may
Tháng hai gió mát trăng bay vào đèn
- Về ma: Tháng giêng là tiết ma xuân
Tháng hai ma bụi dần dần ma sa
- Về nắng: Tháng giêng là nắng hơi hơi
Tháng hai là nắng giữa trời nắng ra
Những lời ca dao về thời tiết vừa nêu trên, phần lớn đợc sản sinh trong sinhhoạt dân ca Đặc biệt là trong hình thức đối đáp nam - nữ, vì thế, chúng ta thờng gặpnhững câu mở đầu và kết thúc nh sau:
Anh đây tài tử trí caoLắng nghe anh hoạ bài sao trên trời
Bài thơ em hoạ đã xong Mặt đất anh hoạ vài dòng anh nghe
Trang 18Sự phong phú và đa dạng của thiên nhiên cũng nh tình yêu và sự cảm xúc tinh tế
về thiên nhiên của nhân dân, chẳng những đợc thể hiện trong những bài ca dao lấythiên nhiên làm đối tợng phản ánh mà còn đợc phản ánh rất nhiều trong các bộ phận cadao khác nh: Ca dao lao động, ca dao tình yêu lứa đôi không chỉ là một loại đề tài,thiên nhiên còn là nguồn cảm hứng, nguồn chất liệu, phơng tiện nghệ thuật hết sứcquan trọng và thờng xuyên của tác giả ca dao Vì thế, thiên nhiên có mặt và đầy ắptrong ca dao, làm cho ca dao tơi mát, hấp dẫn, sống động và trờng tồn Nếu ta bỏ hếtnhững câu, những bài nói về thiên nhiên thì chắc rằng thiên nhiên sẽ bị thu hẹp vànghèo nàn đến mức không thể tởng tợng nổi Thiên nhiên phong phú và đa dạng đãgiúp nhân dân tạo đợc bao hình ảnh nghệ thuật, giàu sức khái quát, gợi cảm theo lối
ẩn dụ, tợng trng, hoán dụ nh: "Hạt ma sa", "Con cò", "Cái vạc"
4.3.2- Ca dao trữ tình phản ánh tình cảm gia đình.
Gia đình là mảng đề tài quan trọng và thờng xuyên của văn học dân gian
Đặc biệt là trong ca dao và truyện cổ tích.Gia đình đợc phản ánh trong ca dao,chủ yếu là gia đình nông thôn trong thời kỳ phong kiến tự chủ Trong việc phản
ánh, ca dao không chỉ phản ánh những tình cảm tốt đẹp mà còn phản ánh sựxung đột, mâu thuẫn, nhiều khi gay gắt giữa các thành viên trong gia đình
Trong các mối quan hệ, tình cảm vợ chồng và tình cảm với cha mẹ là hailoại tình cảm đợc nói nhiều nhất trong ca dao, đặc biệt là tình mẫu tử Nhiều câu
ca dao trong bộ phận ca dao này ra đời từ rất sớm, nhng vấn nh tiếng nói củangày hôm nay và chắc chắn vẫn tơi xanh trờng tồn với thế hệ ngày mai
Công cha nh núi Thái SơnNghĩa mẹ nh nớc trong nguồn chảy raTình mẫu tử là tình cảm đặc biệt của con ngời Tình cảm đợc nói nhiều vànói một cách thiết tha trừu mến ở những lời ca dao nói về ngời con gái, nhất làngời con gái lấy chồng xa
Chiều chiều ra đừng bờ sông Muốn về quê mẹ mà không có đò
Về tình cảm vợ chồng, trong ca dao trữ tình có rất nhiều lời ca có nhiềuhình ảnh đặc sắc, thể hiện tình cảm trừu mến đó
Chẳng dậm thì thuyền chẳng đi Dậm ra nát ván, thuyền thì lonh đanh
Đôi ta lên thác xuống ghềnh
Em ra đứng mũi, để anh chịu sàoBên cạnh những tình cảm tốt đẹp mà ca dao trữ tình phản ánh, chúng tacòn gặp những xung đột, những mâu thuẫn trong gia đình Những xung đột,những mâu thuẫn bao gồm: Vợ chồng, cha mẹ, chị em, con cái Trong các mốiquan hệ đó, quyết liệt nhất, phổ biến nhất vẫn là mẹ chồng, nàng dâu, chị dâu,
em chồng
Thơng chồng phải khóc mụ giaNgẫm tôi với mụ có bà con chi
Trang 19Xung đột giữa cha mẹ và con cái, mà ca dao phản ánh, phần nhiều liênquan đến tình yêu và hôn nhân của con cái Khi cha mẹ ép duyên, cỡng duyêntheo tập tục "cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" nhiều ngời con đã phản ứng gay gắt.
Cha mẹ bú mớm nâng niuTội trời xin chịu không yêu bằng chồngTay mang khăn gói sang sông
Chồng gì anh, vợ gì tôiChẳng qua là cái nợ đời chi đây
Sự xung đột trong gia đình, đặc biệt là gia đình đa thê, mâu thuẫn giữa vợcả và vợ lẽ diễn ra thờng xuyên, quyết liệt Tất cả nỗi khổ, chính là ngời vợ lẽ.Bỡi vậy hầu nh mọi lời ca, đều nói về ngời vợ lẽ
Lấy chồng làm lẽ khổ thay
Đi cấy, đi cày chị chẳng kể côngTối tối, chị giữ mất chồngChị cho mảnh chiếu nằm không ngoài nhà
Sáng sáng, chị kêu ơ haiDậy mà nấu cám, thổi cơm, băm bèo
Đây là bộ phận ca dao phản ánh những nỗi khổ, lời thở than, oán tráchcủa tầng lớp nhân dân lao động trong xã hội phong kiến ngày xa (ngời làm thuê,con ở, ngời tá điền, ngời đi phu vv ) song nhiều nhất vẫn là ngời phụ nữ
Đứa con ở trong gia đình, họ không chỉ than thân trách phận mà còn bộc
lộ sự phản kháng với chủ nhà một cách cơng quyết
Tóc quăn chải lợc đồi mồiChảy đứng chải ngồi, quăn vẫn hoàn quăn
Nên thì tớ ở tớ ănKhông nên tớ giả đầu quăn tớ vềVới ngời lính và vợ ngời lính đã để lại trong ca dao trữ tình nhiều lời cagiàu ý nghĩa xã hội
Kìa ai tiếng khóc nỉ non
ấy vợ chú lính trèo hòn đèo ngangChém cha lũ giặc chết hoang
Để cho thiếp phải gánh lơng theo chồng
Gánh qua xứ Bắc xứ ĐôngHết gạo theo chồng lại gánh theo con
Trang 20Bên cạnh lời ca nói về nỗi khổ của ngời lính và đứa ở, chúng ta còn gặpnhững lời ca than thân trách phận của ngời phụ nữ Bộ phận ca dao này, thờng đ-
ợc sáng tạo theo thể tỉ và đợc mở đầu bằng cụm từ "thân em", "em nh" vừa gợicảm vừa có tính khái quát cao
Thân em nh tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ biết vào tay aiTất cả những vấn đề nêu trên, đều toát lên vấn đề thiếu tự chủ Đó là nỗikhổ lớn nhất của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến ngày xa
4.3.4- Ca dao trữ tình phản ánh tình yêu lứa đôi.
Ca dao về tình yêu, bao gồm toàn bộ lời ca về đề tài tình yêu nam nữ Bộphận ca dao này ra đời trong sinh hoạt dân ca của nhân dân, chủ yếu là trong hátgiao duyên Đây là bộ phận lời ca lớn nhất, trong số ca dao truyền thống đã đợc
su tầm, phần lớn những bài ca dao hay thờng thuộc bộ phận lời ca này
Căn cứ vào chủ đề, đề tài, chúng ta có thể chia ca dao tình yêu thành bốn
bộ phận chính: ca dao tỏ tình, ca dao tơng t, ca dao thề nguyền, ca dao hận tình
Nhân vật trữ tình trong ca dao tình yêu là chàng trai và cô gái Các nhânvật này thờng xng hô với nhau bằng những cặp đại từ nhân xng và những hình t-ợng ẩn dụ, tợng trng quen thuộc: "anh -em" "thiếp - chàng", "mình - ta", "mận - đào"
Đặc điểm của bộ phận ca dao này là tính lãng mạn và sự lí tởng hoá ở
đây có hàng trăm cách tỏ tình khác nhau giữa các chàng trai, cô gái Có nhiềucách nói độc đáo, sáng tạo hết sức tế nhị
Đầu làng cây chuối, cuối làng cây dừa
Anh đã có vợ hay cha
Mà anh ăn nói gió ma ngọt ngào
Mẹ già anh ở nơi nao
Để em tìm vào hầu hạ thay anhKhi yêu nhau, ngời ta càng lạc quan yêu đời Từ đó, họ nhìn thấy nhiều
điều tốt đẹp của thế giới xung quanh mà bình thờng họ không hề nhìn thấy Vìthế trong ca dao tỏ tình, không có ngời xấu, cảnh nào buồn, lời nào nhạt Tất cả
đều phơi phới, mới mẻ có duyên
- Đôi ta nh lửa mới nhen
Nh trăng mới mọc nh đèn mới khêu
Hoặc: - Tình anh nh nớc dâng cao
Tình em nh giải lụa đào tẩm hơng
ở bộ phận ca dao tơng t, nhiều trạng thái tâm lý tình cảm khi yêu đơng,nhất là khi xa cách, đợc phản ánh rất thực và hồn nhiên
Thơng ai rồi lại nhớ ai Mặt buồn rời rợi nh khoai mới trồng Nếu nh ở bộ phận ca dao tỏ tình, các chàng trai chủ động nói nhiều hơn,hay hơn thì bộ phận ca dao tơng t có phần ngợc lại Phần lớn lời ca hay là lời nữ giới
Bóng trăng em ngỡ bòng đènBóng cây em ngỡ bóng thuyền anh sang
Trang 21Khác với ca dao tỏ tình và tơng t, bộ phận ca dao thề nguyền lại toát lênsức mạnh phi thờng của nghị lực, ý chí ở đây các chàng trai, cô gái thể hiện sựsáng suối giám nhìn thẳng vào thực tế khó khăn, chấp nhận mọi thử thách, vợtqua mọi trở ngại để thể hiện tình yêu của mình.
Rủ nhau xuồng biển mò cua
Đem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ai ơi chua ngọt đã từng Rừng xanh nớc bạc ta đừng quên nhauMặc dầu quyết tâm lớn, hẹn ớc nhiều, song tình yêu nam nữ vẫn bắt gặpnhiều trở ngại Đó là nguyên nhân làm cho bộ phận ca dao này phát triển phongphú khắp mọi nơi Đây là những lời ca nặng nề, bi thiết, giàu tính hiện thực, giàu
ý nghĩa xã hội
Trách ngời quân tử bạc tìnhChơi hoa rồi lại bẻ cành bán rao Nói tóm lại: Ca dao trữ tình là mảng đề tài hết sức phong phú Ca daophản ánh cuộc sống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân trên mọi miền đất nớc
Là sáng tạo của tập thể, trải qua nhiều thế hệ, tất cả mọi ngời đều đem tài năngcủa mình đã làm cho ngôn ngữ ca dao đẹp đẽ, trong sáng, phong phú, giàu tínhhiện thực Bởi vậy ca dao đã phản ánh nhiều sự việc, nhiều tâm trạng khác nhaucủa con ngời và cuộc sống
Từ tình yêu thiên nhiên, từ cội nguồn lịch sử xã hội đến tình yêu lứa đôi,tình cảm gia đình là cả một chặng đờng lịch sử lâu dài đã đi vào ca dao nh mạchnguồn xuyên thấm vào lòng đất không bao giờ ngng cả
Nghiên cứu ca dao, chúng ta tiếp xúc với một loại văn bản, đẹp về ngônngữ, trong sáng về nội dung Đây là sản vật vô giá đối với con ngời và những nhànghiên cứu văn học, nghiên cứu ngôn ngữ với thể loại này
II- Phần mở trong văn bản và trong ca dao trữ tình.
1- Khái niệm về văn bản và phần mở đầu trong văn bản
1.1- Văn bản là gì ?
Văn bản là một sản phẩm ngôn ngữ, do con ngời tạo ra trong quá trìnhgiao tiếp Trớc hết, chúng ta cần hiểu văn bản là một đơn vị ngôn ngữ đợc tổchức từ các câu, bao gồm nhiều câu Chẳng hạn một bài văn, một bài thơ, mộtbản báo cáo Tuy vậy, có những văn bản chỉ có một câu nh một câu châmngôn, một câu tục ngữ, một lời quảng cáo Dù số lời có ngắn nhng đó là mộtvăn bản vì những đơn vị này có những đặc điểm của một văn bản, tồn tại nh vănbản
Văn bản bao gồm nhiều câu nhng giữa các câu đó phải liên hệ gắn bó vớinhau, để trở thành một chỉnh thể thống nhất Tính chỉnh thể này đợc thể hiện ởmột số phơng diện nh sau:
Mỗi văn bản tập trung thể hiện một chủ đề Chủ đề này đợc phát triển quacác chủ đề bộ phận nhng toàn văn bản luôn luôn đảm bảo tính nhất quán chủ đề
Trang 22Một văn bản trình bày trọn vẹn về mặt nội dung thông báo Tất nhiên tínhtrọn vẹn này có nhiều mức độ khác nhau nhng văn bản thờng đạt đến mức độtrọn vẹn nhất so với đơn vị thấp hơn (câu và đoạn văn) Tính nhất quán về chủ đề
và tính trọn vẹn về nội dung, khiến cho văn bản gọi tên bằng một đầu đề hoặctiêu đề
Mỗi văn bản có một kết cấu bên trong khá chặt chẽ Đó không phải là mộttập hợp hỗn độn giữ các câu mà các câu trong văn bản, có mối quan hệ qua lại,chặt chẽ và chiếm một vị trí thích hợp trong văn bản Các mối liên hệ này, tạonên kết cấu của văn bản Đó là kết cấu của một chỉnh thể
Nh vậy ta có thể hiểu: văn bản là một chỉnh thể ngôn ngữ, thờng bao gồmmột tập hợp các câu và có thể có một đầu đề, có tính nhất quán về chủ đề và tínhtrọn vẹn về nội dung, đợc tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ, độc lập và giao tiếp
Thông thờng, văn bản đợc chia thành ba phần: Phần mở đầu, phần nộidung triển khai và phần kết luận Mỗi phần nh vậy có những đặc điểm riêng vềhình thức, cấu tạo và chức năng chuyển tải thông tin trong cấu trúc chung nộidung của văn bản
Các loại hình phong cách văn bản khác nhau thì cách thể hiện những phần
đó cũng khác nhau Nó góp phần tạo điều kiện cho việc nghiên cứu và phân tíchcác loại văn bản
Để phục vụ cho đề tài này, chúng tôi xin nêu một số điểm cơ bản về phần
Xác định phần mở đầu trong văn bản là vấn đề hết sức khó, ít có tác giảnghiên cứu tới vấn đề này Phần mở đầu mới đợc xem xét ở vị trí là phần mở đầucủa văn bản Vì vậy nó làm nhiệm vụ của phần mở đầu nói chung Tác giả DiệpQuang Ban, trong cuốn "Văn bản và liên kết tiếng Việt" chỉ rõ, đoạn văn mở làmnhiệm vụ phần mở hoặc mở văn bản (Trang 213,214)
Phần mở đầu trong văn bản, với t cách là đơn vị ngôn ngữ cấu thành vănbản, bao giờ cũng có hình thức và nội dung nhất định
1.2.2- Về hình thức cấu tạo.
Phần mở trong văn bản thờng nằm ở phần đầu trong văn bản hoặc đứng
đầu một phần của văn bản Mỗi loại văn bản có một kiểu mở đầu phù hợp với nộidung mà văn bản thể hiện Mỗi văn bản, phần mở đầu thực hiện những chứcnăng phản ánh khác nhau Mỗi loại văn bản, phần mở đầu có các kiểu cấu tạo
Trang 23khác nhau, chẳng hạn: trong văn xuôi, đoạn văn mở đầu có thể là đoạn văn bìnhthờng, cũng có thể là đoạn văn có cấu tạo đặc biệt (một từ, một cụm từ )
Ngợc lại, trong ca dao, phần mở đầu khác với văn xuôi Vì tác giả dângian sáng tác ra ca dao không phaỉ để đọc mà để diễn xớng Vì vậy phần mở đầutrong ca dao là những lời ca để hỏi, để kể, để khuyên, để cảm
Ngời về em dặt câu này
Đâu hơn ngời lấy đâu bằng đợi em
đọc, kích thích sự suy nghĩ, lôi cuốn ngời đọc và quá trình tìm hiểu nhận thức
Ví dụ: "Một buổi tối mùa đông, chúng tôi ngồi bên lò sởi, trong một căn buồng
ấm áp Tự nhiên trong câu chuyện, một ngời nói đến những cơn giận, tự nhiên
đến tràn ngập cả tâm hồn ta và có khi gây nên nhiều kết quả không hay Rồi mỗingời bày tỏ ý kiến riêng của mình"
(Một cơn giận- Thạch Lam)
Trong tổng thể của văn bản, phần mở đầu có vai tròi hết sức quan trọngkhông chỉ về phơng diện nội dung mà còn thể hiện ý tởng triển khải nội dung,bộc lộ cảm hứng , gợi trí tò mò, làm nên giọng điệu cho phần tiếp theo của vănbản
Ví dụ: Mở đầu truyện "thằng Quýt" bằng một giọng mỉa mai, châm chọc của
Nguyễn Công Hoan: "Xa nay, ngời ta chỉ thờng đợc nghe thấy bọn thằng Quýtcon đòi kể lệ ông Thám nó ác, bà Phán nó nghiệt, chứ đố ai đã nghe thấy các ôngchủ, bà chủ phàn nàn đứa ở ác nghiệt bao giờ"
2- Phần mở trong ca dao.
Giống nh văn xuôi, bài ca dao là một văn bản, trong bài ca dao nói chung,
ca dao trữ tình nói riêng, giữa phần mở và phần nội dung lời ca có kết cấu chặtchẽ, có quan hệ qua lại khăng khít với nhau, có chức năng phản ánh khác nhau
và có vị trí thích hợp trong văn bản Các mối liên hệ này, tạo nên kết cấu vănbản Đó là kết cấu của một chỉnh thể Trong chỉnh thể đó, việc xác định ranh giớigiữa các phần trong bài ca dao là vấn đề khó, phức tạp Với luận văn này, ngờinghiên cứu phân định ranh giới giữa các phần trong bài ca dao chỉ mang tính t-
ơng đối Theo ý chúng tôi, giữa phần mở đầu và phần nội dung lời ca trong bài
ca dao đợc xác định bởi những cơ sở nh sau:
- Dựa vào vị trí phần mở dầu trong văn bản
- Dựa vào chức năng biểu hiện của câu mở đầu trong văn bản
- Dựa vào hình thức đơn vị câu mở đầu
Trang 24- Dựa vào ranh giới phần mở và phần nội dung lời ca.
Chẳng hạn bài ca dao sau đây:
Trên trời có đam mây xanhBên sông nớc chảy có nàng quay tơ
Nàng buồn nàng bỏ quay tơ
Chàng buồn chàng bỏ thi thơ học hànhNàng buồn nàng bỏ cửu canhChàng buồn chàng bỏ, học hành chàng đi
- Về vị trí: hai câu đầu bài ca dao là phần mở đầu, hai dòng thơ này đứng
đầu bài ca dao
- Chức năng biểu hiện: hai dòng thơ đầu miêu tả cảnh thiên nhiên, giớithiệu nhân vật Đây là những yếu tố để gợi hứng Qua yếu tố gợi hứng để thểhiện tâm trạng ở nội dung lời ca
- Dựa vào đơn vị hình thức câu mở đầu: hai câu đầu là câu trần thuận (tả,kể)
- Ranh giới giữa phần mở và phần nội dunglời ca khá rõ ràng: Hai câumiêu tả cảnh thiên nhiên có vai trò làm nền, phần còn lại biểu thị tâm trạng củanhân vật
Ca dao trữ tình là những bài ca mà nội dung và hình thức diễn xớng của nókhông nhằm mục đích nghi lễ Nội dung cơ bản của ca dao trữ tình là nhằm bộc
lộ tâm t, tình cảm của nhân vật, bộc lộ tình yêu tha thiết của nhân dân với quê
h-ơng đất nớc, tình yêu lứa đôi, tiếng ca tình nghĩa của nhân dân trong quan hệ gia
đình
2- Ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng đợc sáng tác chủ yếu theo cácthể loại: Lục bát, song thất lục bát, song thất, thể hỗn hợp, thể vãn Trong các thểloại trên thể lục bát đợc sử dụng nhiều nhất
Ca dao Việt Nam cũng nh các loại hình nghệ thuật khác, đợc sáng tạo nên
do nhu cầu của hiện thực đời sống lịch sử xã hội của các thành phần dân c trênlãnh thổ Việt Nam qua các thời đại Mặt khác nó cũng nằm trong quỹ đạo sángtạo nghệ thuật của loại hình trữ tình dân gian thế giới Bởi vậy phản ánh hiệnthực là nội dung cốt lõi của ca dao cũng nh ca dao trữ tình
3- Việc nghiên cứu phần mở đầu trong văn bản, đợc một số nhà nghiên cứu quantâm nhng cha có một công trình nào nghiên cứu một cách đầy đủ về kiểu mở đầu
Trang 25trong văn bản Có chăng, đoạn văn mở đầu trong văn bản, chỉ đợc xem xét quantâm với t cách đoạn văn nói chung, có chức năng mở đầu văn bản.
Khi nghiên cứu phần mở đầu trong văn bản, chúng ta đề cập đến hai vấn
đề: hình thức cấu tạo và nội dung phản ánh của phần mở đầu văn bản Đây là haivấn đề cơ bản tạo nên tính hoàn chỉnh một bộ phận của văn bản
Về phần mở trong ca dao: trong ca dao, giữa phần mở đầu và phần nộidung lời ca có kết cấu bên trong khá chặt chẽ, có mối quan hệ qua lại khăng khítvới nhau và có vị trí thích hợp trong văn bản Các mối quan hệ này tạo nên kếtcấu của văn bản Đó là kết cấu của một chỉnh thể Bởi vậy việc xác định ranhgiới giữa phần mở đầu và phần nội dung lời ca, khá phức tạp Việc phân định nàychỉ mang tính tơng đối khi nghiên cứu ca dao
Với lẽ đó, khi nghiên cứu đặc điểm, hình thức cấu tạo phần mở đầu trong
ca dao trữ tình, chúng ta xem xét ở một số phơng diện nh sau:
Gió thu khêu dục, gẹo ngời tình chung
Buồn tênh cái tiếng thu chung
Đêm thu ta biết, vui cùng với ai?
Thờ ơ trúc muốn gẹo mai
Trang 26Vì tình nên phải miệt mài đêm thu
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Có nàng Tô Thị có chùa Tam Thanh
Ai lên xứ Lạng cùng anhTiếc công Bác mẹ sinh thành ra em Tay cầm bầu rợu nắm nemMải vui quên hết lời em dặn dò
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu sáng tác theo thể lục bát có số lợng lớnnhất Theo thống kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca (CDTT VN) có 1742 lời cóphần mở đầu sáng tác theo thể lục bát, chiếm tỷ lệ 91,1%
Khi thể chính thức có sự thay đổi về số tiếng ở cặp lục bát gọi là thể biếnthức Căn cứ vào sự thay đổi số tiếng ở các dòng thơ, chúng ta có các kiểu biếnthức nh sau:
- Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên
Bình thờng, trong cặp lục bát, câu thứ nhất sáu tiếng, câu thứ hai támtiếng Trong biến thể này, dòng thứ nhất (dòng lục) có sự biến thể về số lợngtiếng
Trời hỡi trời sao, chẳng bớt nhớ thơngSợi chỉ hồng em lỡ vấn vơng
Gặp anh một bữa nhớ thơng muôn ngày
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Nớc chảy xuôi, con cá buôi lội ngợc
Nớc chảy ngợc, con cá đợc chảy xuôi
Anh với em, xa cách ngậm ngùi Mong cho gặp mặt, xác vùi cũng ng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
- Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi:
Trờng hợp này, dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi, thay đổi về số ợng tiếng không theo đúng luật lục bát
Công anh chẳng thấy chỉ thấy những thơng cùng sầu
Lại đây ăn một miếng trầu Kẻo mai tóc nhuộm trên đầu hoa râm
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Đờng về Kiếp Bạc bao xa
Đờng về Kiếp Bạc có cây đa bồ đề
Có yêu anh cắp nón ra về Giàu ăn khó chịu, chớ hề thở than
Trang 27(Ca dao trữ tình Việt Nam)
- Sự thay đổi cả dòng lục và dòng bát:
Biến thức theo thể này, toàn cặp lục bát có sự thay đổi về số tiếng
Để ta mang cốm, mang hồng sang chơi
Ta sang mình có con rồi
Để cốm ta mốc, hồng thì cong tai
- Nớc xanh xanh, chảy quanh cồn cát trắng
Con chim Phợng hoàng rày vắng tiếng kêu
Ơi ngời thơng ơi, ta nhắn một điềuDẫu mà mai quán, chiều lều cũng ng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Vì sao trong ca dao trữ tình, thể lục bát lại xuất hiện hiện tợng này (xem
đặc điểm trong ca dao trữ tình, chơng 1 - mục 4)
Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu sáng tác theo thể lục bát biến thể có sốlợng ít hơn so với phần mở đầu sáng tác theo thể lục bát chính thức Theo thống
kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca (CDTTVN) có 132 lời sáng tác theo thể lụcbát biến thức chiếm tỷ lệ 6,9%
1.2- Phần mở đầu theo thể song thất lục bát:
Theo thể loại này cứ hai câu bảy chữ (bảy tiếng) rồi đến một câu sáu chữ,một câu tám chữ Cứ bốn câu, tạo thành một đoạn Chúng ta muốn đặt dài hay ngắn làtuỳ ý
Trong phần mở đầu ca dao trữ tình, thể loại này xuất hiện ít Theo thống
kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca (CDTTVN) thể loại này chỉ xuất hiện 11 lần,
tỷ lệ 0,57% Theo Phan Ngọc, cấu trúc từng khổ: 7+7+6+8 tiếng, cho phép thêloại này nói lên sự đi về của cảm xúc nh đợt sóng lên cao, xuống thấp, rồi lại dàn
ra đón lấy một đợt sóng khác "Suy nghĩ về thể thơ song thất lục bát, T.75"
Chàng xa thiếp, vạn kẻ vạn thơng
Trăm năm chiếu nỏ bén giờng
Ví nh đòn gánh gãy giữa đờng chàng ơi
(Ca dao trữ tình Việt Nam) 1.3- Phần mở đầu theo thể song thất.
Trong ca dao trữ tình, loại này ít xuất hiện, chỉ trừ trong một số tr ờng hợp
đặc biệt Trong 1912 lời ca, loại thể này chỉ xuất hiện bảy lần, tỷ lệ 0,36%
Trang 28Ví dụ: Chồng chềnh nh nón không quai
Nh thuyền không lái nh ai không chồng
Gái có chồng nh gông treo cổGái không chồng nh phản gỗ long đanhPhản long đanh anh còn đóng đợcGái không chồng chạy ngợc chạy xuôiKhông chồng khổ lắm ai ơi
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trờng hợp này mở đầu bằng một cặp lục bát, kết thúc bằng một dòng lục,
ở giữa là hai cặp song thất Qua ví dụ trên, chúng ta thấy phần mở đầu trong cadao trữ tình khá phong phú, đa dạng Mặt đa dạng này khiến cho ca dao thể hiện
đợc nhiều nội dung, nhiều tâm trạng khác nhau
2- Số lợng câu mở đầu trong bài ca dao trữ tình
Trong ca dao nói chung và ca dao trữ tình nói riêng, số lợng câu (dòng)trong phần mở đầu rất đa dạng Tuỳ thuộc vào nội dung rộng, hẹp của bài ca dao
mà bài ca dao đó có số lợng câu mở đầu phù hợp Trong những bài ca dao trữtình ngắn (một cặp lục bát), giữa hai dòng thơ có sự liên kết với nhau khá chặtchẽ, việc xác định ranh giới giữa phần mở đầu và phần kết thúc bài ca rất khókhăn Cho nên việc xác định ranh giới đó cũng chỉ mang tính chất tơng đối
Tình em nh giải lụa đào tẩm hơng
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Thơng ai em đứng em trông
Nhớ ai mỏi mắt bên sông đợi chờ
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trách gà vội gáy tan canh
Không lâu tý nữa cho tình thở than
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Căn cứ vào chức năng thể hiện và số lợng câu mở đầu (dòng thơ) trong bài cadao trữ tình, chúng ta có số lợng câu mở đầu nh sau:
2.1- Phần mở đầu là một câu.
Phần mở này thờng nằm trong những bài ca dao ngắn (một cặp lục bát) trong đócâu lục là câu mở câu bát là câu kết Hai phần này kết hợp với nhau khá chặt chẽ, đểtạo nên tính chỉnh thể của văn bản Nội dung phản ánh của bài ca dao thuộc loại nàythờng là những phán đoán đơn giản, rõ ràng
Tình ta tháng tháng, năm năm vẫn tròn
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trời ma bong bóng phập phồng
Mẹ đi lấy chồng con ở với ai
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trang 29Ngoài thể lục bát, chúng ta còn gặp một số rất ít lời ca có kiểu câu mở đầu mộtdòng không phải thể lục bát mà thể song thất hoặc thể tự do
Cắt dây tình nào có dao đâu
- Dòng sông Thanh nớc trong lại mát
Mái tóc thề thơm ngát hơng hoa
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Nớc chảy re re, con cá he nó xoè đuôi phuợng
Anh xa em rồi trong bụng còn thơng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, số bài ca dao có phần mở đầu bằng một dòng thơ (chủyếu là cặp lục bát) xuất hiện nhiều nhất Theo thốn kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca(CDTTVN) có 1188 lời có kiểu mở một dòng, tỷ lệ 62,1%
2.2- Phần mở đầu là hai câu.
Phần mở này, thờng nằm ở những bài ca dao dài, ít nhất là bốn dòng thơtrở lên Nội dung phản ánh của bài ca dao rộng Ranh giới giữa phần mở và phầnnội dung rõ ràng, rành mạch
ở giữa mây trắng, xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy đợc nàng
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây
Xây dọc rồi lại xây ngangXây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân
Có rửa thì rửa chân tayChớ rửa lông mày chết cá ao anh
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Nhác trông lên núi Thiên Thai
Thấy hai con quạ ăn xoài trên cây
Đôi ta dắt díu lên đây
áo trải làm chiếu chăn quây làm màn
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, những bài ca dao có phần mở đầu bằng hai dòng thơxuất hiện tơng đối nhiều Theo thống kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca, có 648lời có kiểu mở đầu bằng hai dòng thơ, tỷ lệ 33,8%
2.3- Phần mở đầu là ba câu
Kiểu mở này thờng nằm ở những bài ca dao dài, ít nhất là bốn dòng thơtrở lên Các bài ca dao đó có nội dung phản ánh các vấn đề về xã hội, con ng ời ởphạm vi rộng Trong ca dao trữ tình, kiểu mở đầu bằng ba dòng thơ ít xuất hiện
So với kiểu mở đầu bằng một dòng (trong cặp lục bát), kiểu mở đầu bằng haidòng thơ thì kiểu mở đầu bằng ba dòng thơ ít hơn rất nhiều Theo thống kê củachúng tôi, trong ca dao trữ tình, số bài ca có kiểu mở đầu bằng ba dòng thơ là 28lời, tỷ lệ 1,46%
Trang 30Ví dụ: Tay anh cầm chai rợu buồng cau
Đi ngã đằng sau thầy mẹ chê khó
Đi ngã đằng ngõ, chú bác chê nghèo
Nhắm chừng duyên nợ cheo leoSóng to, thuyền nặng, không biết chống chèo có qua không
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
mở đầu và phần nội dung lời ca rõ ràng dễ phân biệt
Bớc xuống vờn cà hái nụ tầm xuân
Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc
Em lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay
Ba đồng một mớ trầu caySao anh không hỏi những ngày còn không Bây giờ em đã có chồng
Nh chim trong lồng nh cá cắn câu Cá cắn câu biết đâu mà gỡChim trong lồng biết thuở nào ra
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trầu này trầu tĩnh trầu tình
Trầu têm cánh phợng trầu mình trầu ta
Trầu này trong tráp bỏ ra Trầu têm cánh phợng cau vừa chạm xong
Miếng trầu có bốn chữ tòngXin chàng cầm lấy vào trong thăm nhà
Nào là chào mẹ chào cha Cậu, cô, chú, bác mời ra xơi trầu
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu bằng bốn dòng thơ, so với kiểu mở đầubằng ba dòng thơ thì kiểu mở này xuất hiện nhiều hơn Theo thống kê của chúng tôi,trong số 1912 lời ca thì kiểu mở đầu bằng bốn dòng thơ xuất hiện 81 lợt, tỷ lệ 4,23%
Nói tóm lại: Trong ca dao trữ tình, số lợng câu mở đầu trong phần mở đầucủa bài ca dao, phụ thuộc vào nội dung phản ánh của bài ca dao đó Bài ca dao
có nội dung phản ánh nhiều vấn đề, nhiều chi tiết thì số lợng câu mở đầu nhiềuhơn Và ngợc lại bài ca dao có nội dung phản ánh hẹp, ít chi tiết thì số lợng câu
mở đầu ít hơn Trong số bốn kiểu mở đầu vừa nêu trên, kiểu mở đầu bằng một
Trang 31dòng thơ và hai dòng thơ chiếm tỷ lệ lớn nhất Đây là những bài ca dao có phầnnội dung đơn giản Các bài ca dao đó đã trở thành lời ăn tiếng nói hàng ngàytrong cuộc sống sinh hoạt của ngời nông dân.
3- Phân loại câu mở đầu theo mục đích phát ngôn
Nghiên cứu câu mở đầu trong phần mở đầu của ca dao nói chung và cadao trữ tình nói riêng, chúng ta không nên nghiên cứu theo xu hớng ngữ phápcấu trúc (ngữ pháp truyền thống) Vì rằng về mặt ngữ pháp, giữa câu thơ và câutrong văn xuôi hoàn toàn khác nhau Với lẽ đó, khi nghiên cứu cấu tạo câu trong
ca dao, chúng ta nên dựa vào mục đích giao tiếp trong ngôn ngữ để xem xét Vìrằng ngời ta sáng tác ca dao với mục đích diễn xớng, ca hát, chứ không phải để
đọc, để viết Căn cứ vào mục đích giao tiếp, câu mở đầu trong phần mở đầu của
ca dao trữ tình bao gồm các loại câu nh sau:
Trong ca dao trữ tình, đây là loại câu đợc dùng nhiều nhất, có số lợng lớnnhất Câu trần thuật là loại câu dùng để kể, để tả, để thuật, để thông báo vềnhững hiện tợng, những hoạt động trạng thái, tính chất trong hiện thực kháchquan, thể hiện nhận định, đánh giá của ngời nói về một sự vật hiện tợng nào đó
ở giữa mây trắng xung quanh mây vàng
Ước gì anh lấy đợc nàng
Hà Nội, Nam Định dọn đờng đa dâu
Tỉnh Thanh cung đốn trầu cauNghệ An thì phải thui trầu mở bò
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Chơi xuân quá lứa đi rồi
Vắt tay mà ngẫm cõi đời mà lo
Trông gơng luống những thẹn thòMột mai tóc bạc lng gù mới dơ
Thơng thay xuân chẳng đợi chờTiếc thay xuân những hững hờ với xuân
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Hai dẫn chứng vừa nêu trên, dẫn chứng thứ nhất phần mở đầu là nhữngcâu tả Qua cảnh thiên nhiên để thể hiện tâm trạng ớc mong Bài ca dao đợc sángtác theo thể hứng, qua ngoại cảnh để nói lên nỗi lòng ở dẫn chứng thứ hai phần
mở đầu là câu kể, qua lời kể, nhân vật trữ tình tiếc nuối tuổi xuấn đã qua Giờ
đầy nhìn lại chỉ lo lắng cho tuổi già chóng tới
Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu có kiểu câu trần thuật chiếm số lợnglớn nhất Phần nhiều lời trong các bài ca dao là lời miêu tả tâm trạng, cảm xúc,
sự việc theo thống kê của chúng tôi, trong 1912 lời ca, có 1426 lời có phần mở
đầu là câu trần thuật, tỷ lệ 74,4%
3.2- Phần mở đầu là câu hỏi.
Câu hỏi trong bài ca dao trữ tình đợc sử dụng nhiều trong hát dao duyên
Trang 32Hát dao duyên là hình thức sinh hoạt văn hoá dân gian của ngời lao động Quasinh hoạt văn hoá, các chàng trai, cô gái có thể hỏi nhau để tỏ tình, nguyện ớccùng nhau Khi hỏi, có thể hỏi những điều cha biết hoặc còn hoài nghi mà ngờihỏi muốn nghe trả lời hoặc giải thích cho rõ thêm
Còn không hay đã chung tình với ai ?
Hôm xa tát nớc gầu giai
Có phải nhân ngãi hay ai tát cùng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Gặp đây anh hỏi thực nàng
Còn không hay đã, đá vàng cùng ai
Còn không để chúng anh chờ Hay là đã có nơi nhờ thì thôi
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Trúc nhớ mai, mai về trúc nhớ
Trúc trở về, mai nhớ trúc không
Bây giờ kẻ Bắc ngời Đông
Kể sao cho xiết tấm lòng tơng t
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
So với kiểu câu trần thuật, trong phần mở đầu của các bài ca dao trữ tìnhthì phần mở đầu có kiểu cấu tạo bằng câu hỏi xuất hiện ít hơn Theo thống kê,trong số 1912 lời ca có 80 lời có phần mở đầu là câu hỏi, tỷ lệ 4,18%
Trong ca dao trữ tình, đây là câu nhằm mục đích yêu cầu ngời nghe thựchiện nội dung đợc nêu trong câu Nó chứa đựng ý muốn, nguyện vọng hay mệnhlệnh của ngời nói với ngời nghe
Đừng nhang khói nữa mà h mất đời
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Lấy ai thì lấy một ngời
Tàu bè chi mà chờ chín mời khúc sông
Lấy chồng theo thói nhà chồngBao nhiêu thói cũ trả lòng mẹ cha
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Gió vàng hiu hắt đêm thanh
Đờng xa dặm vắng xin anh đừng về
Mảnh trăng đã trót lời thề Làm chi để gánh nặng nề riêng ai
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu bài ca dao có kiểu cấu tạo là câu cầukhiến xuất hiện tơng đối nhiều Trong số 1912 lời ca (CDTTVN ) có 375 lầnkiểu câu này xuất hiện, tỷ lệ 19,6% Kiểu câu này xuất hiện nhiều nhất ở mạng
Trang 33văn hoá ứng xử Căn cứ vào nội dung cầu khiến và mục đích cầu khiến, câu cầukhiến trong phần mở đầu bài ca dao trữ tình bao gồm một số kết cấu nh sau:
3.3.1- Dùng đại từ phiếm chỉ "ai" đứng đầu câu
Kiểu kết cấu nh thế này có mô hình: dùng đại từ phiếm chỉ "ai" ở đầu câu,tiếp theo là một đồng từ có ý nghĩa khuyên bảo, sau động từ khuyên bảo là mộtdanh từ chỉ địa danh (địa danh mà danh từ biểu thị thờng rất cụ thể):
Câu cầu khiến có kiểu cấu tạo nh thế này, biểu thị đối tợng đợc khuyênbảo rất rộng, không nhằm vào một đối tợng cụ thể nào
Mặc lụa chợ Hạ, uống chè Hơng Sơn
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Ai về Phú Thọ cùng ta
Vui ngày giỗ Tổ tháng ba mồng mời
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Ai qua núi Tản sông Đà
Ghé qua Tú Vũ mặn mà tình thơng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Theo số liệu thống kê, trong ca dao trữ tình có 375 lời khuyên nằm ở phần
mở đầu bài ca dao, trong số 375 có lời khuyên, có 90 lời dùng đại từ phiếm chỉ
"ai" đứng đầu câu, tỷ lệ 24%
3.3.2- Dùng phụ từ đứng đầu câu, kết hợp với động từ hoặc tính từ đứng sau để biểu thị ý nghĩa khuyên bảo
Câu có kiểu kết cấu nh trên, lời khuyên chủ yếu khuyên về hành động
Những của đầy nồi là của không ngon
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Không thơng nhau nữa thì thôi
Xin chàng đừng tẩy nớc vôi mà nồng
Không yêu nhau nữa thì đừng Xin chàng đừng tẩy nớc gừng mà cay
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Không nên tình cũng xa nay
Làm chi sấp mặt xây mày rứa anh
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Bên cạnh kiểu kết cấu dùng phụ từ kết hợp với động từ hoặc tính từ trongcâu, chúng ta còn gặp một số ít kiểu câu có cấu tạo: Dùng một động từ khôngdùng độc lập đứng đầu câu, kết hợp với một động từ hoặc một tính từ có khảnăng dùng độc lập để khuyên bảo
Em lên phố Cát Đại Đồng cùng anh
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Muốn ăn đỗ phụ tơng Tàu
Trang 34Mài dao đánh kéo, gọt đầu đi tu
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Muốn ăn bún sốt lòng tơi
Có con thì gả cho ngời làng Đông
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Theo khảo sát của chúng tôi, trong số 375 lời khuyên trong phần mở đầucủa ca dao trữ tình thì kiểu câu dùng phụ từ hoặc động từ không dùng độc lập
đứng trớc, kết hợp với động từ hoặc tính từ đứng sau, biểu thị ý nghĩa khuyênbảo có 92 lời, tỷ lệ 24,5%
3.3.3- Kiểu câu cầu khiến có kết cấu đầy đủ hai thành phần, chủ thể khuyên và hành động khuyên.
Xét về chức năng biểu thị, kiểu câu cầu khiến này đầy đủ hai thành phần,chủ thể và hành động khuyên Do kết cấu đầy đủ hai thành phần nên nội dung đểkhuyên đầy đủ trọn vẹn, trọn vẹn cả về chủ thể, trọn vẹn cả nội dung khuyên
Đối tợng đợc khuyên và hành động để khuyên rất cụ thể, rõ ràng
Đừng nơi có vợ, chớ nơi có chồng
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Anh về để áo lại đây
Những khi em nhớ cầm tay đỡ buồn
Anh về xin chớ về luôn Phòng loan trăng úa, gió luồn đêm thâu
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Chồng sang vợ đờng đi dày
Vợ ngoan chồng đợc tối ngày cậy trông
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, đây là kiểu câu cầu khiến xuất hiện nhiều hơn sovới kiểu câu dùng đại từ phiếm chỉ "ai" và kiểu câu cầu khiến dùng phụ từ đứng
đầu câu Trong số 375 lời ca có nội dung cầu khiến thì kiểu câu nh thế này xuấthiện 193 lần, tỷ lệ 51,1%
Trong ca dao, đây là những câu dùng để bộc lộ cảm xúc, thái độ của ngờinói đối với ngời nghe hoặc sự vật hiện tợng đợc nói tới
Để cho bèo tấm, bèo ong lọt vào
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Tằm ơi say đắm nơi đâu
Mà tằm bỏ nghĩa cành dâu không nhìn
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Hỡi cô cắt cỏ một mình
Cho anh cắt với chung tình đôi ta
Cô còn cắt nữa hay thôi
Trang 35Cho anh cắt với thành đôi vợ chồng
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
So với kiểu câu trần thuật, câu hỏi, câu cầu khiến, trong phần mở đầu của
ca dao trữ tình, kiểu câu có kiểu cấu tạo là câu cảm xuất hiện ít nhất Trong số
1912 lời ca, kiểu câu có cấu tạo là câu cảm xuất hiện 33 lần, tỷ lệ 1,72%
Căn cứ vào nội dung, cách thức và mức độ biểu đạt tình cảm, câu cảmthán trong phần mở đầu của ca dao trữ tình có hai kiểu kết cấu
3.4.1- Câu cảm thán dùng tình thái từ đứng trớc để bộc lộ tình cảm
Phần lớn câu cảm thán trong phần mở đầu của câu ca dao trữ tình có kếtcấu theo kiểu dùng tình thái từ đứng đầu câu Kết cấu theo kiểu này, bài ca dao
có nội dung hỏi hoặc khuyên bảo
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Hỡi ngời vác cuốc thăm đồng
Thăm lúa thăm mạ, hay là thăm ai ?
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Chàng ơi chớ giận thiếp cùng
Xá cho bèo bọt, anh hùng giận chi
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Theo thống kê của chúng tôi, trong 33 lời cảm thán ở phần mở đầu các bài cadao trữ tình thì kiểu câu dùng tình thái từ đứng trớc gồm 26 lời, tỷ lệ 78,7%
3.4.2- Câu cảm thán dùng tình thái từ đứng sau để bộc lộ tình cảm, thái độ
Mở đầu bài ca dao kết cấu theo kiểu dùng tình thái từ đứng sau, thờng nội dungbài ca dao là những điều than vãn oán trách
Núi che mặt trời , không thấy ngời thơng
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Cha già con muộn anh ơi
Anh đi đánh bạc suốt đời suốt năm Anh thiêu hàng chục hàng trăm
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trang 36Trong ca dao nói chung ca dao trữ tình nói riêng, những bài ca dao có lời mở
đầu là câu cảm thán có kiểu kết cấu có tình thái từ đứng sau để bộc lộ thái độ, cảm xúcthờng xuất hiện ít hơn so với kiểu câu cảm thán có tình thái từ đứng trớc Theo thống
kê của chúng tôi, trong ca dao trữ tình, phần mở đầu các bài ca dao có 33 lời cảm thán,thì kiểu kết cấu có tình thái từ đứng sau là bảy lời, tỷ lệ 21,2%
II Các cách thức mở đầu trong ca dao trữ tình
Nh văn xuôi, bài ca dao bao giờ cũng có phần mở và phần nội dung của nó.Phần mở trong bài ca dao là phần đứng đầu văn bản Phần mở gắn bó chặt chẽ vớiphần nội dung bài ca để tạo nên tính hoàn chỉnh của văn bản Trong kết cấu của vănbản, tuỳ thuộc vào nội dung phản ánh mà văn bản đó có kiểu mở đầu phù hợp
Căn cứ vào nội dung phản ánh và cách thức phản ánh, trong ca dao trữ tìnhchúng ta thờng gặp hai kiểu mở phổ biến
1- Kiểu mở trực tiếp
Mở trực tiếp là kiểu mở, nhân vật trữ tình diễn tả, thể hiện tâm trạng, sự việcthẳng vào vấn đề Ngữ nghĩa các yếu tố ngôn ngữ trong phần mở đầu hoàn toàn mangnghĩa thực (nghĩa đen), các yếu tó trong phần mở đầu luôn liên kết chặt chẽ với nhau,
để cùng nhau thực hiện chức năng giới thiệu, tạo tình huống cho việc phát triển các sựviệc ở phần nội dung lời ca
Tay ngắn tay dài đã có chồng cha
Anh hỏi thì em xin tha Vài ba nơi hỏi nhng cha nhận trầu
( Thi pháp ca dao)
Gặp em thì gặp cho lâu
Đừng gặp một tý mà sầu lòng em
( Thi pháp ca dao)
Đời em đã có chồng con đi rồi
Sống thì cực lắm anh ơi
Ly dị thì để tội trời ai mang
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, phần mở đầu chủ yếu là mở trực tiếp Kiểu mở trựctiếp thờng ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu Mỗi đối tợng khi tiếp xúc với văn bản, cóthể nhận thức đúng nội dung phản ánh thực của văn bản Theo thống kê củachúng tôi, trong số 1912 lời ca (CDTTVN) có 1874 lời ca có kiểu mở trực tiếp,
tỷ lệ 98%
Căn cứ vào nội dung phản ánh và cách thức phản ánh của bài ca dao, trong
ca giao trữ tình, chúng ta thờng gặp một số cách thức mở trực tiếp nh sau:
1.1- Cách thức trần thuật
Trang 37Trần thuật là cách thức nhân vật trữ tình thể hiện tâm trạng, cảm xúc củamình bằng việc kể lại hoặc miêu tả Nếu là kể, nhân vật trình bày các chi tiết,các sự việc đang xảy ra trong cuộc sống của mình
Chẳng hạn, chống đối với thói tham ô truỵ lạc của giai cấp thống trị, nạnnhân là một phụ nữ thì phần mở đầu bài ca dao miêu tả ngay ngời phụ nữ đó,công việc của ngời phụ nữ đó Qua phần mở đầu, phần nội dung trình bày chongời ta thấy việc làm bỉ ổi của bọn quan lại ngày xa
Em đi bán rợu qua dinh ông nghè
Ông nghè sai lính ra ve Trăm lạy ông nghè tôi đã có con
Có con thì mặc có con Thắt lng cho giòn mà lấy chồng quan
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Nếu là miêu tả, phần mở đầu trong bài ca dao tả ngay cảnh đẹp đó Quacảnh để bộc lộ tâm trạng của nhân vật
Cách một trái núi với ba quãng đờng
Ai ơi đứng lại mà trông Kìa núi Thành Lạng, kìa sông Tam Cờ
Em chớ thấy anh lắm bạn mà ngờ Bụng anh vẫn phẳng nh tờ giấy phong
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Với cách mở trực tiếp nh thế này, ca dao phản ánh dấu vết của lối t duy cổngày xa, xuất phát từ sự gần gũi, tơng đồng giữa các hiện tợng của thiên nhiên và
đời sống con ngời Những bức tranh thiên nhiên, sinh hoạt, thờng đứng đầu bài
ca làm bối cảnh duyên cớ, dẫn dắt cảm xúc sau đó mới là bức tranh tâm trạng,tình cảm của con ngời Giữa hai bức tranh có mối quan hệ tơng ứng, cái này làmsáng tỏ cái kia, nhng nội dung chính là ở bức tranh tâm trạng,
Nớc thì muốn chảy nhng mơng cha đào
Em về lo liệu thế nào
Để cho nớc chảy đi vào trong mơng
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Sao anh ăn ở bấp bênh
Em nh thuyền thúng lênh đênh giữa dòng
May ra thì gặp nớc trong
Trang 38Chẳng may nớc đục đau lòng em ra
(Văn học dân gian Việt Nam)
Trong ca dao trữ tình, cách thức mở trần thuật xuất hiện nhiều nhất, theothống kê của chúng tôi, trong số 1912 lời ca (CDTTVN ) có 1427 lời có cáchthức mở trần thuật, tỷ lệ 74,6%
1.2- Cách thức hỏi đáp
Đây là cách mở đầu trong những bài ca dao có kết cấu theo hình thức hỏi
đáp Kết cấu hỏi đáp là những lời trò chuyện trực tiếp bằng thơ ca Chủ thể củanhững bài ca dao có cách thức hỏi đáp là nhân vật chính của cuộc trò chuyện.Phần lớn là những chàng trai, cô gái Vì phần lớn ca dao trữ tình đều này sinh và
đợc sử dụng, lu truyền trong sinh hoạt ca hát đối đáp nam nữ Trong cách thức
đối đáp, các cặp đại từ xng hô: "Anh - em", "chàng - thiếp", "mình - ta" là sựtồn tại theo vế bài ca Mỗi lời ca là lời của một bên trong cuộc đối ca
Sang đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này có lấy anh không
( Thi pháp ca dao) Đến đây hỏi bạn một lời
Anh hỏi thì em xin tha
Xa gần đã có mà cha vừa lòng
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Hoa cúc vàng nở ra cúc tím
Hoa cúc vàng nở ra hoa cúc xanh Yếm em, em mặc yếm gì anh, anh đòi
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Cách thức hỏi - đáp thờng đợc sử dụng trong những lời ca hát đối nam - nữ
ở những bộ phận ca dao trữ tình khác, cách thức hỏi - đáp ít xuất hiện Theo thống kêcủa chúng tôi, trong số 1912 lời ca, có 80 lời ca có kiểu mở đầu bằng cách thức hỏi -
đáp, tỷ lệ 4,1% Căn cứ vào nội dung phản ánh và cách thức mở, trong kiểu mở đầubằng cách thức hỏi - đáp, chúng ta thờng gặp hai kiểu hỏi - đáp
1.2.1- Cách thức hỏi - đáp một vế.
Cách thức hỏi đáp một vế thờng xuất hiện trong kiểu mở hỏi - đáp nói chung.Lời ca chỉ có vế hỏi, không có vế đáp Tuy vậy, nó vẫn bảo đảm là một tác phẩm hoànchỉnh, Bài ca dao hoàn chỉnh và tự nó đã có đầy đủ đặc tính kết cấu đối - đáp (khôngcần dấu hiệu bên ngoài đó là vế đáp) vì bản thân nó là một lời trò chuyện Qua lời cathờng thấp thoáng bóng dáng hai nhân vật đang trò chuyện cùng nhau
Hôm qua không ngủ, hôm nay không nằm
Một chăn đắp chẳng kín chân
Trang 39Hai chăn đắp để muôn phần xót xa
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Hỡi anh đi đờng cái quan
Em xem khăn gói anh mang những gì
Hay là giận vợ ra đi Anh cứ thú thật em thì mang cho
(Ca dao trữ tình Việt Nam) Miếng trầu ăn nặng bằng chì
Ăn thì đã vậy lấy gì trả ơn
Miếng trầu ăn nặng ai têm Xin chàng cầm lấy cho êm miếng trầu
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Qua các ví dụ đã dẫn ở trên, nhìn bề ngoài lời ca chỉ có một vế Tuy chỉ tồn tại vế hỏi nhng lời ca có kết cấu rất hoàn chỉnh Bản thân nó có đầy đủ đặctính kết cấu hỏi - đáp Đằng sau lời ca, thấp thoáng hai nhân vật trữ tình đangtâm sự cùng nhau ở ví dụ 1: Đây là lời tâm sự của một cặp vợ chồng Lời tâm sựdiễn ra trong một đêm vắng bóng một ngời Sự trống vắng không rõ nguyênnhân Qua lời tâm sự, tạo nên tâm trạng xót xa, buồn tủi, ngậm ngùi Ngợc lại ở
ví dụ 2 là lời hỏi đùa nghịch của một thiếu nữ với một chàng trai nào đó Lời hỏituy đùa nghịch nhng đầy ý vị Lời ca nhìn bề ngoài chỉ có một vế nhng đằng saulời ca là bóng dáng hai ngời Cách thức hỏi đáp một vế, trong ca dao trữ tình xuấthiện khá nhiều, nhất là mảng ca dao trữ tình về tình yêu lứa đôi và hạnh phúc gia
đình Theo khảo sát của chúng tôi, trong số 80 lời ca có cách thức hỏi đáp(CDTTVN) thì có tới 62 lời ca có cách thức hỏi một vế, tỷ lệ 77,5%
1.2.2- Cách thức hỏi- đáp hai vế.
Hỏi đáp hai vế thờng xuất hiện trong hát đối đáp nam nữ Nội dung lời cabao gồm hai vế, có thể ở thể tơng hợp, cùng có thể ở thể đối lập Vế đầu hìnhthức là câu hỏi, vế sau là lời đáp lại Trong quá trình lu truyền , vế đầu có thểtách ra Khi tách ra vế này có thể xem nh một lời riêng biệt và vẫn đảm bảo mộttác phẩm có kết cấu hoàn chỉnh, vì nội dung của riêng nó, cùng có thể diễn đạtmột điều mà ngời hát mong muốn
Khác với cách thức hỏi đáp một vế, hỏi đáp hai vế bao giờ cũng có hainhân vật Hai nhân vật đó đang trực tiếp tâm sự hoặc tỏ tình bên nhau theo chiềutuyến tính: Hỏi - Đáp Kết hợp cả hai yếu tố đã tạo cho văn bản có kiểu kết cấucân đối, nội dung lời ca sinh động, hấp dẫn ngời đọc
Ta nh lạt buộc khăng khăng đợi mình
Ta về ta cùng nhớ mìnhNhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao
( Thi pháp ca dao )
Em về tha với mẹ cha
Có cho em lấy chồng xa quê ngời
Trang 40Em về hỏi mẹ thầy rồiChồng xa cùng lấy, quê ngời cùng đi
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Kiểu mở trực tiếp bằng cách thức hỏi đáp hai vế, trong ca dao trữ tình cótần số xuất hiện ít hơn so với kiểu mở đầu cách thức hỏi đáp một vế Theo khảosát của chúng tôi, trong 80 lời ca (CDTTVN) có cách thức hỏi đáp thì cách thứchỏi đáp hai vế có 18 lời ca, tỷ lệ 2,55%
Kiểu hỏi đáp hải vế vừa nêu ở phần trên, đợc gọi là đối - đáp hai vế ở thểtơng hợp
Bên cạnh cách thức đối - đáp hai vế ở thể tơng hợp, chúng ta còn gặp một
số ít lời ca có cách thức hỏi đáp ở thể đối lập Lời ca có kiểu mở và phần nộidung ở thể đối lập thờng có hai nhân vật Hai nhân vật trữ tình đang tâm sự cùngnhau Điều mà họ tâm sự bao gồm hai ý kiến, hoặc hai hiện tợng, hai sự việc,hai tính chất, hoàn toàn đối lập nhau ngợc nhau
Anh đến tìm đò thì đò đã sang sông Anh đến tìm em thì em đã lấy chồng Anh yêu em nh rứa có mặn nồng chi mô
Hoa đến kì thì hoa phải nở
Đò đã đầy thì đò phải sang sông
Đến duyên, thì em phải lấy chồng
Em yêu anh nh rứa đó, còn mặn nồng thì tuỳ anh
(Thi pháp ca dao) Trai tân đang đứng đang chờ
Ai bng mắt em lại, em lại vơ cha dòng
Cha dòng áo rách em thơngTrai tân quần lợt, áo lơng không tầy
(Ca dao trữ tình Việt Nam)
Qua lời ca, bộ phận mở dầu và phần nội dung hoàn toàn đối lập nhautrong nhận thức của nhân vật Nếu ở bộ phận mở đầu lời ca, ngời con trai rấtngỡ ngàng hỏi ngời con gái cái điều hiếm thấy: Tại sao trai tân không lấy mà lạiphải vớ cha dòng làm "đấng phu nhân" thì ở vế sau, ngời con gái trả lời dứtkhoát: Tuy cha dòng, áo rách em vẫn thơng còn hơn trai tân quần lợt, áo lơng emchẳng vừa lòng Những lời ca có kiểu kết cấu đối lập nh thế này tính liên kếtgiữa các phần trong văn bản rất chặt chẽ, giá trị biểu cảm rất cao
Mở trực tiếp bằng cách thức khuyên bảo, thờng là những lời khuyên củanhân vật trữ tình, họ khuyên bảo nhau, do ý muốn răn bảo, truyền kinh nghiệmsống cho nhau để cùng nhau tạo nên cuộc sống vật chất lẫn cuộc sống tinh thầnphong phú tơi đẹp Lời để khuyên có thể khuyên ở chủ thể, có khi lại khuyênhành động của chủ thể (Xem mục 3.3 của chơng 2: Đặc điểm hình thức cấu tạocâu mở đầu trong ca dao trữ tình )