tất cả những giá trị của con ngời sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội và với bản thân mình, thì đặc trng dân tộc đợc thể hiện trong văn hoá”Đi tìm “cách ứng xử của ng
Trang 12 Một số khái niệm cơ bản về ca dao.
3 Những nét riêng của ca dao xứ Nghệ liên quan đến ứng xử.
Chơng II: Những từ ngữ và nghệ thuật sử dụng ngôn từ về cách ứng xử của ngời Nghệ qua kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh 31 a) Những từ ngữ về cách ứng xử trên các ph ơng diện:
1 Những từ ngữ thể hiện cách ứng xử của ng ời Nghệ đối với thiên nhiên, quê hơng, đất nớc (419 câu)
2 Những từ ngữ thể hiện cách ứng xử của ng ời Nghệ đối với cộng đồng:
1894 câu về tình yêu lứa đôi; 389 câu về quan hệ vợ chồng; 79 câu về quan hệ cha mẹ, con cái; 70 câu về quan hệ ông bà.
3 Những từ ngữ thể hiện cách ứng xử của ng ời Nghệ đối với bản thân và những thói h tật xấu (707 câu).
4 Những từ ngữ thể hiện thái độ phản kháng với chế độ phong kiến, đế quốc (101 câu).
b) Nghệ thuật sử dụng từ ngữ của ng ời Nghệ trên ba vấn đề:
Chơng III:Đặc trng văn hoá ứng xử của ngời Nghệ 63
1 Văn hoá ứng xử mang tính cộng đồng làng xã.
2 Văn hoá ứng xử “thẳng ruột ngựa” nh ng đầy tình nghĩa.
3 Văn hoá ứng xử Nho học, thâm sâu triết lí, h ớng về cội nguồn.
Trang 2xử của ngời Nghệ qua kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh ” để qua
đó tìm ra nét đặc trng văn hoá riêng của ngời Nghệ trong
đặc trng văn hoá chung của ngời Việt
2
Theo tinh thần nghị quyết V Trung ơng Đảng cộngsản Việt Nam , chúng ta đang trong thời kì xây dựng nềnvăn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắn dân tộc; vì vậy, để chovăn hoá Việt Nam hội nhập với văn hoá khu vực và thế giới, thì nhu cầu “nhìn lại mình để luôn là chính mình, để làm bạn với toàn thế giới” là điều rất quan trọng.
Do đó, chúng ta cần phảinghiên cứu nghiêm túc vănhoá ứng xử của ngời Việt nói chung và văn hoá ứng xửcủa từng vùng, miền nói riêng để tìm ra những quy luậtphát triển văn hoá, nhằm vận dụng vào công cuộc xây dựngvăn hoá dân tộc Việt Nam hiện đại Đúng nh giáo s Phạm
Trang 3tất cả những giá trị của con ngời sáng tạo ra trong quá trình ứng xử với tự nhiên, xã hội và với bản thân mình, thì đặc trng dân tộc đợc thể hiện trong văn hoá”
Đi tìm “cách ứng xử của ngời Nghệ Tĩnh” chính là làm
công việc mà F.Engels đã nhận xét:
“ Quá trình phát triển văn hoá chính là quá trình trong đó con ngời in cái dấu của mình vào giới tự nhiên , làm biến đổi cả diện mạo, khí hậu cả nơi họ ở, làm biến đổi cả thú vật và cây cỏ, và làm biến đổi đến mức độ mà kết quả tác động của họ chỉ biến mất khi nào toàn bộ trái đất bị tiêu vong ” (NXB Hà Nội,1972: Biện
chứng pháp của tự nhiên)
3
Đến nay, chúng ta đã có khá nhiều công trình khoahọc nghiên cứu về ca dao xứ Nghệ và về “bản sắc văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh” Có ngời cho rằng: xứ Nghệ nghèo vì
đất đai cằn cỗi, thiên nhiên khắc nghiệt nên ng ời Nghệcũng cục cằn, đến nỗi:
Cha đi cha biết Nghệ An
Đi rồi mới biết nó gàn làm sao
Cái từ “gàn” mà một ngời con Nghệ Tĩnh nổi tiếng
(giáo s Phan Ngọc) giành cho cho ngời Nghệ quả là chứabao nhiêu điều đáng nói, đáng bàn về “cách ứng xử của ngời Nghệ qua kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh ”, chúng tôi
muốn lọc tìm nét đặc trng văn hoá chủ đạo trong quãng
Trang 4thời gian tơng đối dài đã đợc đúc kết qua ca dao (trên dẫnliệu ngôn ngữ) để góp phần khẳng định thêm bản sắc ng ờiNghệ Tĩnh
là đã nói đến một nét văn hoá ngời Nghệ Tĩnh, cũng cónghĩa là nói đến con ngời Nghệ Tĩnh, dù chỉ ở một góchẹp: “cách ứng xử”.
Thiên nhiên và tiến trình lịch sử đã tạo ra con ng ờiNghệ với nhiều nét tính cách độc đáo ngời Nghệ Tĩnh cónhững nét tính cách chung của ngời Việt Nam , đồng thờicũng có những phẩm chất riêng biệt gắn với điều kiệnsống Họ quen chịu đựng gian khổ, làm việc cần cù, thôngminh, hiếu học và rất tiết kiệm trong sinh hoạt vật chất;nổi bật lên nh những tính cách riêng biệt có thể là gan góc,
mu trí Có ngời nói: dân Nghệ quen chịu khổ nhng khôngquen chịu nhục; và, “trong cái gan góc có cái bớng bỉnh, trong cái trung thực có cái thô bạo, trong cái m u trí có cái liều lĩnh” (Đinh Gia Khánh, 1995, trang 142).
Hiếu học và trọng đạo lí làm ngời cũng là nét tínhcách thể hiện rất rõ trong cách ứng xử của ng ời Nghệ Tĩnh Đặng Thai Mai đã rất có lí khi nhận xét các nho sĩ xứNghệ: “Khi chế độ khoa cử còn thịnh, cơ hồ một làng đều nhìn thấy trong túi của mình một cái bảng, một quản bút, một cái án th hoặc một thanh gơm, một chiếc ấn, một con nghê vàng, một cái yên ngựa ”(1959).
Trang 5Tác giả của “ Đại Nam nhất thống chí” thì cho
rằng: “học trò Nghệ chuộng khí tiết, có chí chăm học, văn chơng thì dùng lời lẽ cứng cáp, không cần đẹp lời ”.
Tính cách Nghệ đã bám rễ trong kho tàng văn học
đặc biệt là kho tàng văn học dân gian; đây cũng chính làcơ sở văn hoá, là trí tuệ, tài năng và biến thành sức mạnhvật chất của nhân dân xứ Nghệ
Học trò mà mò nồi khoChị nho bắt đợc - lạy o tôi trừaBựa ni ăn phúng vừa vừaBựa mai ăn phúng từ tra đến triều
hay:
Răng móm còn đòi gặm xơng
Kẻ giàu giám nói là thơng ngời nghèo
Muốn thử sức trong điều kiện khó khăn nhất, để rồi,khi đã “hiểu” là “tin”; khi “đủ sức” là “chiến thắng” ; âu
đó cũng là một kiểu ứng xử “chẳng giống ai” của ngờiNghệ Tĩnh
Từ trớc đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu cadao Nghệ Tĩnh, nhiều ý kiến bàn luận về bản chất, phongcách ngời Nghệ
Nghệ đằm nặng và trầm hùng”.
một lối ứng xử cực đoan theo các hớng thẩm mĩ: anh hùng
mà nghệ sĩ, nghèo mà thơ mộng ”.
Trang 6Giáo s Phan Ngọc dùng từ “gàn” để chỉ tính cách
ngời Nghệ Tĩnh
Phó giáo s, Tiến sĩ Nhã Bản: “Cái giọng Nghệ đã làm nên bản sắc văn hoá riêng Và ở Nghệ Tĩnh có trọn cho mình một kho tàng vốn từ riêng mà không thể hoà lẫn với một vùng hay khu vực nào khác”.
Các bài viết của giáo s Ninh Viết Giao, Đặng VănLung, Trơng Xuân Tiến, Nguyễn Phơng Châm.v.v bàn vềmột vùng ca dao Nghệ Tĩnh (đăng trên các “Tạp chí văn hoá và đời sống”, “Ngôn ngữ và đời sống” là những tác
phẩm, những công trình rất có giá trị đã giúp chúng tôitrong nghiên cứu “cách ứng xử của ngời Nghệ Tĩnh” Tuy
vậy, trên đây mới chỉ là những bài viết riêng lẻ góp phầnnghiên cứu những khía cạnh khác nhau về bản sắc văn hoá
xứ Nghệ, chứ cha có công trình dài hơi nào tập trungnghiên cứu về ngôn ngữ qua ca dao Nghệ Tĩnh để rút ra
“cách ứng xử của ngời Nghệ Tĩnh” Trên cơ sở tiếp thu
các công trình đã nói ở trên, ở luận văn này, chúng tôimuốn đi sâu tìm hiểu “cách ứng xử của ngời Nghệ qua ngôn ngữ trong ca dao Nghệ Tĩnh” để chỉ rõ những nét
đặc thù về cách ứng xử, bổ sung vào bản sắc văn hoá củamột vùng “non xanh nớc biếc”
Đối t ợng và nh iệm vụ nghiên cứu:
Trang 71. Đối t ợng nghiên cứu :
Luận văn đã sử dụng các nguồn t liệu sau:
- Kho tàng ca dao xứ Nghệ, 2 tập, Nguyễn Đổng Chi, NinhViết Giao, Võ Văn Trực, NXB Nghệ An, 1996
- Ca dao Nghệ Tĩnh (trớc Cách mạng tháng Tám), Nguyễn
Đổng Chi, Ninh Viết Giao, NXB VHTT Nghệ Tĩnh, 1984
- Bản sắc văn hoá của ngời Nghệ Tĩnh, Nguyễn Nhã Bản(chủ biên), NXB Nghệ An, 2001
để qua đó chỉ ra các dẫn liệu ngôn ngữ phản ánh những đặctrng văn hoá mang tính đặc thù của xứ Nghệ Chúng vừamang những đặc trng chung của ngời Việt nhng vẫn cónhững nét riêng, khác biệt, mang tính vùng miền Hiểu đ ợcnét văn hoá chủ đạo này sẽ giúp chúng ta xây dựng đ ợcmột nền kinh tế văn hoá của địa phơng một cách có cơ sởkhoa học
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Xác định khái niệm về cách ứng xử nói chung và
“cách ứng xử của ngời Nghệ Tĩnh” nói riêng; từ đó có
thêm những nhận xét về văn hoá và con ngời xứ Nghệ
- Phân tích hệ thống đơn vị ngôn ngữ trong ca daoNghệ Tĩnh (phần nói về ứng xử) bao gồm nhiều cấp độ: từ,cụm từ, câu, văn bản từ trớc cách mạng tháng Tám -
1845 đến nay để chỉ ra cách ứng của ngời Nghệ chủ yếutrên hai quan hệ: quan hệ với thiên nhiên và quan hệ với xãhội
- Phân tích tác động lịch sử của hai động thái vănhoá chủ yếu là giứ nớc và xây dựng đất nớc đến cách ứng
xử của ngời Việt nói chung, ngời Nghệ nói riêng
Trang 8IV. Ph ơng pháp nghiện cứu :
Đề tài vận dụng những phơng pháp nghiên cứu:
a) Phơng pháp thống kê t liệu
b) Phơng pháp phân loại các t liệu thu thập đợc
c) Phơng pháp phân tích, tổng hợp các t liệu để tìm ra
sự đồng nhất và khác biệt về các nét văn hoá
d) Phơng pháp so sánh t liệu ca dao Nghệ Tĩnh với cadao ngời Việt nói chung
V Đóng góp của luận văn:
Đây là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách có
hệ thống trên cơ sở khảo sát t liệu ca dao Nghệ Tĩnhquanh “cách ứng xử” Chúng tôi cố gắng dựng một môhình ứng xử của ngời Nghệ Tĩnh - cái nôi miền trung - cáinôi ngôn ngữ Việt cổ ( quan niệm của giáo s Phạm Đức D-
ơng) Chúng tôi muốn định danh, định tính mô hình đó làmô hình ứng xử: tình nghĩa đến “thẳng ruột ngựa”, hay nói
dị đến cục cằn; vừa thông minh sắc sảo, rõ ràng rành mạch đến quá quắt ”.
Từ nghiên cứu, tìm hiểu “cách ứng xử của ngời Nghệ Tĩnh”, chúng tôi hi vọng sẽ góp thêm một tiếng nói để
thẩm định bản sắc văn hoá của con ngời xứ Nghệ trongcộng đồng các dân tộc Việt Nam
Ch
ơng I: những giới thuyết xung quanh đề tài.
I Môt số khái n iệm cơ bản về cách ứng xử.
Trang 9Năm 1997, nhân tổng kết "thập kỉ văn hóa"(1987 1997), ông De Cucllar, nguyên tổng giám đốc Unesco củaLiên hợp quốc đã có nhận xét khá lí thú về văn hóa: " Văn hóa là cách sống (cách ứng xử) cùng nhau".
Bách khoa toàn th của Liên Xô (trớc đây) có định nghĩa
về từ : " hệ thống các quan hệ tơng tác, các phản ứng đợc thực hiện bởi các vật thể sống để thích nghi với môi trờng ứng xử (hành vi, tập tính) của động vật và con ngời đợc nghiên cứu bởi các ngành Tập tính học, Tâm
lí học, Xã hội học".
Nh vậy, cách ứng xử là một hệ thống quan hệ tơng tác,phản ứng giữa sinh vật (và cả con ngời) và môi trờng (tựnhiên và cộng đồng)
- Nhà báo kiêm học giả Nguyễn Hữu Ngọc từ các khái
niệm Behaviour conduet (Anh), Comportement conduite
(Pháp) đã nhận xét: Tuy các khái niệm trên có ý nghĩa khác nhau ít nhiều nhng trên các văn bản hay lời nói th - ờng dùng thay nhau và có thể coi nh nhau Trong ngôn ngữ Việt, khái niệm hành vi và ứng xử cũng đợc quen dùng nh nhau.
Từ tiếng Pháp Comportement (tập tính, hành vi) là sự
tiếp nhận một kích động, một kích thích từ bên ngoài(stimulus) từ đó có ứng phó lại, nên có thể dùng chung chohành động của động vật (kể cả con ngời) Còn ứng xử nênchăng để chỉ loại hành vi cao cấp, phức tạp, có ý đồ, cónội tâm chi phối Về góc độ này cũng có thể coi ứng xử
Trang 10- Theo TS Đào Văn Tiến: Con ngời cũng là một sinh vật,
cũng có các hành vi bắt chớc các hành vi sinh vật (môphỏng, sinh học) Vì vậy, tập tính học hoạt động cũng gópphần tìm hiểu cách ứng xử của con ngời
- Mặt khác, trong tiếng Anh-Mỹ, thuật ngữ Bahavior,
tiếng Pháp Comportment hay Conduite, tiếng Anh-Anh
Behaviour, tiếng Nga đợc dịch là "hành vi",
đối với động vật có lúc dich là "tập tính", còn hầu hết đều
thống nhất với nghĩa "cách ứng xử".
Nh chúng tôi đã đề cập trên, hiện nay có hai quan niệm
về phơng pháp tâm lí học về ứng xử:
a) Có thể miêu tả những cái đó - hoặc bằng trực giác(Bergon) hoặc suy diễn từ cái riêng cá nhân cho chung mọingời (Alain), Việt Nam ta có câu "suy bụng ta ra bụng ng- ời", "lòng trâu sao, dạ bò thế" v.v ghi nhận tất cả các
hiện tợng tâm lí, coi là thật tất cả (Hiện tợng luận E.Husserl, J.P.Sartre) Nói cách khác, đó là khuynh h ớngchủ quan theo với phơng pháp nội quan (introspection)trên cơ sở cá nhân và cộng đồng, dựa vào t duy, tình cảm,cảm xúc bản thân và cộng đồng mà tìm hiểu tâm lí riêng
chung
b) Khuynh hớng thứ hai tiếp cận cách ứng xử làkhách quan (Objectivism), tức là qua ca dao, tục ngữ, hành
vi ứng xử cũng là đúng về định hớng khoa học tâm lí
Trang 11TS Phan Mậu Cảnh trong bài “Về các lời chửi của
ng-ời Việt” cũng đã khái quát: “Trong giao tiếp hàng ngày…
có lối giao tiếp ứng xử mang tính văn hoá … nh: lời chào, cảm ơn, xin lỗi, các lời thăm hỏi chúc mừng, ca tụng, … Nhng ở một mặt khác ta cũng gặp những lời chửi mắng, nguyền rủa, mỉa mai, giễu cợt…” Và tác giả cho rằng:
“Nh vậy, xem ra các phản ứng bất bình của con ng ời, thông qua hành vi ngôn ngữ, làm thành một bảng màu cực kì sinh động và phong phú”
Đầu thế kỉ XX, J.B.Watson trong "thuyết ứng xử"
(Behaviorism) - đại biểu của tâm lí học ứng xử đã chốnglại phơng pháp nội quan Watson và các nhà hành vi chủnghĩa đã bỏ qua những suy diễn về nội tâm mà hầu nh chỉxét đến các hành vi máy móc Các học giả Xô Viết và cảJ.P.Pavlov đã phê phán mạnh mẽ học thuyết này.B.F.Skinner đã vận dụng thêm những khái niệm ngôn ngữ,
t duy, ý thứcmột cách khách quan Ông cho rằng nhữngkích động bên ngoài không tạo ra phản ứng (ứng xử) mộtcách máy móc, mà chỉ có tác dụng tuyển lựa những tiềmnăng mà thôi Thuyết tâm lí ứng xử đợc vận dụng đểnghiên cứu ứng xử xã hội của con ngời cả trong giáo dục.Nội dung luận văn đi theo hớng này
2 ứ ng xử nh một khái niệm nhân học văn hóa
Trong cuốn "Đạo làm ngời" (qua tục ngữ, ca dao Việt
Nam), nhà giáo u tú Nguyễn Nghĩa Nhân cho rằng: "Tục
Trang 12ngữ ca dao về đạo làm ngời đã góp phần cơ bản trong hình thành và phát triển nhân cách ng ời Việt Nam từ hàng nghìn ăm qua và đến nay đai bộ phận vẫn còn nguyên giá trị nhân đạo cao cả về t tởng, đạo đức và lối sống, rất qúy đối với cuộc sống hiện đại của nhân dân ta".
Đối tợng của nhân học văn hóa thật rộng lớn nhng chủyếu vẫn lấy con ngời làm đối tợng nghiên cứu - con ngời
đợc coi nh những sinh vật mang tính xã hội và tính vănhóa Từ những mô hình ứng xử, những tập tục, tín ng ỡng,nhân học văn hóa sẽ chứng minh rằng: tới một mức nào đó,văn hóa ảnh hởng đến sự hình thành nhân cách Nó khôngchú trọng đến hành đông ứng xử có tính chất cá biệt mà nótập trung nghiên cứu môi trờng xã hội văn hóa ảnh hởng rasao đến ứng xử con ngời
Một đặc điểm khác mà nhân học văn hóa hớng tới là:chỉ ra (nh Leslie White) mức độ ứng xử - hành vi co ngờisống trong một thế giới biểu tợng (symbol) và ớc lệ(convention) nổi bật hơn hẳn những con vật khác đó chính
là văn hóa
Nh trên đã nói, khái niệm nhân học văn hóa quá rộng
ở đây, chúng tôi đề nghị chấp nhận nội hàm định nghĩavăn hóa của ngời Trung Quốc cổ: văn hóa là dấu hiệu đặctrng bị thu hẹp đến mức chung nhất, "văn hóa là tất cả những gì do con ngời sáng tạo ra ( khu biệt với cái tự nhiên) trong quá trình ứng xử với tự nhiên và xã hội".
Trang 13Cũng tơng tự nh vậy, Lesie White cho rằng: văn hóa làtoàn bộ những tín điều, truyền thống hớng dẫn hành xử
mà các cá nhân trong một xã hội đợc xã hội đó trao truyềnbằng nhiều hình thức học tập:
Đã thơng thì thơng cho chắc
Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn
Đừng nh con thỏ đầu truông Khi vui dỡn bóng khi buồn dỡn trăng
Đất nớc ta trải qua hàng ngàn năm lịch sử, trong đó, giátrị gia đình và cộng đồng đợc đặt lên trên giá trị cá nhân.Ngời dân Nghệ Tĩnh cũng nằm trong cái chung đó, nh ngcách ứng xử của họ không ồn ào dữ dội mà điềm tĩnh đếnlạnh lùng, trung thực và rất kiên quyết; bên ngoài có vẻthô tháp nhng bên trong là cả một sự đằm thắm, thôngminh, tỉnh táo, sâu sắc Ngời Bắc Hà qua giao tiếp bằngkhẩu ngữ hay văn bản nhận thấy ngôn từ xứ Nghệ có vẻkhông chải chuốt, thiếu mợt mà Thật tình, thứ ngôn ngữ
ấy đợm và sâu lắng tình ngời , thẳng tắn, bộc trực, "mất lòng trớc đợc lòng sau".
PGS - TS Nguyễn Nhã Bản tâm sự: "Chúng ta hãy nghe và hiểu những thành ngữ, tục ngữ sau đây của dân Nghệ phản ánh quan hệ với tự nhiên và xã hội : tru cỏ, ló nác; xấu có gấu mà ăn; chú khi ni, mi khi khác; trăm rác mà lấy nác mần sẹc; chết no hơn sống sèm; mất cộ chộ mới; xán rá đá mê; sụng nồi trôi rế; cuốc cùn chộng rách nhao nhao nh bồ chao bể ổ; trốc cúi quá tai Thật sự hiểu
Trang 14từng từ ngữ thì chúng ta mới rút ra những ý t ởng hay hàm ngôn của các thành ngữ, tục ngữ đó."
Trong ca dao nói về cách ứng xử, ngời Nghệ Tĩnh cũngvận dụng khá nhuần nhuyễn các thành ngữ, tục ngữ để tạonên bản sắc riêng khó trộn lẫn
Đá mòn nhng dạ không mònTrời kia còn đó anh cón ở đây
Ra đi anh nhớ câu này
Có công mài sắt có ngày nên kim
Có thể nói, tâm lí học và nhân học văn hóa tạo cho conngời nhập thân cả khi còn nằm trong bụng mẹ Chả thể màcác "bà Mụ" dạy bé cời, dạy khóc, dạy bú, dạy nói v.v lúc trẻ mới lọt lòng, để cho trẻ "ba tháng biết lẩy, bảy tháng biết bò, chín tháng lò dò chạy đi " ; lớn lên đợc ng-
ời lớn dạy ăn, dạy nói, dạy gói, dạy mở , và muốn thànhngời thì phải "học ăn học nói, học gói, học mở" Hãy
nghe ngời miền biển dạy con về kinh nghiệm sông nớc
Con ơi nghe lấy lời cha Đôi mơi tháng chín thật là bão rơi Khoảng từ mồng năm tháng mờiThì con đi lộng về khơi mặc lòng Tháng chín nớc cả cờng rơiCon lu con chét trêu ngơi lái bè Còn nh con nhám con heKhi ở trong lộng, khi dè ra khơiKhi tối bấc, khi động trờiTìm con cá ngộ mà xơi thẳng diều
Trang 15Tháng giêng tháng bảy nớc triều Mồng năm mồng chín đợi chiều mới ra
Hai tám sinh từ mồng baMời bảy hâm chín thật là ba phen Tháng ba tháng chín kép liền Mời ba hâm bảy tục truyền cờng rơi
Tháng t ăn với tháng mời Nớc sinh mời một sau rồi hăm nhăm
Tháng một ăn với tháng năm Nớc sinh mồng chín sau nhằm hăm ba
Bàn về cách ứng xử của một cộng đồng ngời (dù chỉ qua
ca dao của một vùng miền), muốn hay không, cũng đã
đụng chạm tới văn hóa Mà văn hóa lại là khái niệm quárộng, "là sản phẩm đặc biệt của con ngời", là sự bộc lộ vàphát triển các "lực lợng bản chất của con ngời" (Mac) bao gồm văn hóa vật chất (hay văn hóa vật thể hữu hình)
và văn hóa tinh thần (hay văn hóa phi vật thể, vô hình)
có quan hệ biện chứng với nhau Nó là dấu ấn của một cộng đồng lên mọi hiện tợng tinh thần vật chất của thể cộng đồng ấy" (Nguyễn Nghĩa Đôn - Đạo làm ngời" -
Trang 17)
Cách ứng xử hay lối sống, nếp sống là một tổngthể các hình thái hoạt động của con ngời - "cách hoạt
động ứng xử của những chủ thể với tự nhiên, xã hội và con ngời" (Nguyễn Nghĩa Nhân).
Theo hớng này, trong cuốn "Văn hóa và đổi mới" (NXBChính trị quốc gia - H1994) , cố thủ tớng Phạm Văn Đồng
Trang 16nêu luận điểm về giá trị cốt lõi của văn hóa Việt Nam cóliên quan đến ứng xử và lối sống, nếp sống: " một là tính cộng đồng gồm ba cái tục: gia đình (nhà), làng và n -
ớc hai là xu thế nhân văn hớng về con ngời và cộng
đồng con ngời, tìm thấy ở con ngời tiềm lực của những
đức tính xiết bao tốt đẹp với lòng mong muốn phát triển
nó, phát huy nó."
II Một số khái niệm cơ bản về ca dao :
Nhìn tổng quát ca dao thuộc về thể loại trữ tình dângian, nó chính là những cảm xúc của quần chúng nhân dântrớc xã hội, thiên nhiên, quan hệ ; thể hiện ớc mơ khátvọng; hoặc sự nghi ngại, sự chê cời, chế diễu những thói htật xấu
Về nguồn gốc, ca dao đợc ghi trong các sách biên soạnbằng Hán Nôm nh: "Nam giao cổ kim lí hạng ca dao chú giải" (Kí hiệu AB194 - Viện nghiên cứu Hán Nôm - cha rõ
năm và soạn giả); "Lí hạng ca dao" (VNV303 - Viện Hán
Nôm - cha rõ năm và soạn giả)
Nhà nho Trần Danh án dùng từ Nam Phong; Vơng DuyTrinh dùng từ Quan Phong; Ngô Giáp Đậu dùng từ QuốcTúy sách "Quốc phong thi tập hợp thái" (cha rõ soạn
giả), Nguyễn Văn Mại dùng từ Phong Sử Những cáchdùng từ nh trên để chỉ ca dao của các nhà Hán Nôm cũngnói lên sự quan tâm từ lâu của các nhà nghiên c ú Việt Nam
đối với ca dao
Trang 17Về sách chữ quốc ngữ, có thể nhắc tới: "Tục ngữ phong giao"(1928) của Nguyễn Văn Ngọc; "Tục ngữ ca dao"(1932) của Phạm Quỳnh; "Phong giao, ca dao, phơng ngôn, tục ngữ" (1936) của Nguyễn Tấn Chiểu.
Cho đến nay, ca dao có ba cách hiểu:
a) Ca dao là danh từ ghép chỉ chung toàn bộ nhữngbài hát lu truyền phổ biến trong dân gian, có hoặc không
có khúc điệu (ca dao đồng nghĩa với dân ca)
khá rộng rãi, đợc lu truyền qua nhiều thế hệ, mang những
đặc điểm nhất định và bền vững về phong cánh Ca dao trởthành một thuật ngữ để chỉ một thể thơ dân gian
ca) của dân ca (không kể những tiếng đệm, tiếng láy, tiếng
đa hơi) Tuy nhiên, không phải cứ tớc bớt tiếng đệm, tiếngláy của một loại dân ca nào đó thì nó sẽ trở thành cadao
Theo "Bách khoa tri thức phổ thông" NXBVHTT
-2000 thì ca dao là những bài thơ trữ tình dân gian truyềnkhẩu đợc phổ biến rộng rãi, lu truyền qua nhiều thế hệ.Hiện nay, từ ca dao có ba cách hiểu:
lời và điệu)
b) Chỉ có phần lời bài hát
c) Những lời hay nhất (Trang 1191)
Về nội dung, có thể kể đến hàng chục lĩnh vực mà cadao đề cập:
Trang 18- Bày tỏ thái độ với quân xâm lợc, với kẻ thù.
- Ca ngợi tình cảm, sự ngỡng mộ đối với các nhân
vật lịch sử, những vĩ nhân; ca ngợi vẻ đẹp quê hơng đất ớc
n Phản ánh các mối quan hệ xã hội và gia đình, họ
- Dùng ca dao để bông đùa, mua vui
- Phản ánh sinh hoạt văn hóa truyền thống, lễ
hội.v.v
- Chế diễu những thói h tật xấu, tệ nạn xã hội
- Bày tỏ niềm vui nỗi khổ.
- Đúc rút kinh nghiệm sống, kinh nghiệm ứng xử và
các quan niệm về xã hội khác
Về hình thức lời ca, ca dao Việt Nam nói chung và
ca dao Nghệ Tĩnh nói riêng đều có mối tơng đồng, ảnh ởng lẫn nhau Trong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ", chúng
h-tôi đã thống kê đợc số lời ca dao hai dòng là 77% (3058lời ca dao), số lời bốn dòng là 16%, số lời sáu dòng là2,3%, số lời tám dòng 1,2%; số lời 10 dòng 0,8%; từ 12dòng trở lên 1,3%
Trang 19Qua thống kê, ta thấy trên 70% số lời ca dao là haidòng Điều này khẳng định tính chất ngắn gọn, súc tíchcủa ca dao xứ Nghệ và cũng là của ca dao Việt Nam.
PGS Ninh Viết Giao cho rằng: "Ca dao của các vùng là vốn chung của cả nớc Và tất cả ca dao của từng vùng dù
có mang những đặc điểm, những sắc thái riêng vẫn thể hiện những đặc điểm chung, phổ biến của cả nớc "
ở Nghệ Tĩnh, với những đặc thù riêng về địa lí, lịch sử,văn hóa, là chiếc đòn gánh gánh hai miền Bắc Nam, vì thế,
sự giao lu, ảnh hởng của văn hóa xứ Bắc, xứ Nam là khôngthể tránh khỏi
Mặt khác, xứ Nghệ cũng là mảnh đất của biết bao thầy
đồ, thầy nho nổi tiếng Với chiếc tay nải, thầy đồ Nghệ đikhắp đất nớc để dạy học và kiếm sống; và, ca dao xứ Nghệ
đã theo chân họ đến với nhiều vùng miền khác nhau trongcả nớc; và ngợc lại, chính họ cũng mang về xứ Nghệ ảnhhởng của ca dao các miền khác
Tội thân cá chậu chim lồngThuyền quyên tủi mặt anh hùng chẹt chân
Trang 20Ai về Gia Định thong dong con ngờiHoặc câu này lại mang cả dáng dấp miề quan họ:
Quan họ chạy lại xôn xaoRăng mà mụ chạy xuống ao ớt mình
Nh vậy, có những lời ca dao chỉ cần thay đổi địa danh
là phù hợp với nhiều vùng quê khác nhau Đơng nhiên, sự
ảnh hởng qua lại giữa các vùng ca dao là do lu truyền Mặcvậy, dù lu truyền, chuyển hóa, chịu ảnh hởng đến đâuchăng nữa thì cái cốt cách, bản vị từng vùng, miền vẫn khóbiến đổi Điều đó cũng phù hợp với những gì rất riêngtrong cái chung của ca dao xứ Nghệ
III N hững nét riêng của ca dao Nghệ Tĩnh liên quan đến ứng xử.
Nhà thơ Huy Cận gọi Nghệ Tĩnh là "đất cổ nớc non nhà" Xứ Nghệ nằm ở phía Nam nớc Văn Lang - Âu Lạc x-
a, là phía Nam của lãnh thổ Đại Việt Trải qua thời gian, ítnhất cho đến thời Lí - Trần, mảnh đất này là điểm dừngchân, là căn cứ phòng thủ và dự trữ binh lực, vật lực củanhiều cuộc chiến tranh giữ nớc
1 Về mặt văn hóa, có thể nói, xứ Nghệ bảo l u đợcnhững nét văn hóa rất cổ qua vốn từ ngữ Những từ ngữnày hiện còn lu giữ trong lời ăn tiếng nói thờng nhật làmthành cặp tơng đồng với ngôn ngữ toàn dân
Cái gầu thì gọi là đài
Ra sân thì bảo ra ngoài cái cơi Chộ tức là thấy mình ơi
Trang 21Trụng là nhúng đấy, đừng cời nghe em
Khi mô đi nhởi bên choa
Bà o đã nhốt con ga trong truồng
(Tiếng Nghệ - Nguyễn Bùi Vợi)Mặt khác, phía Nam xứ Nghệ giáp với nớc Chăm Pa cổ -trong khi văn hóa Bắc kì chịu ảnh hởng khá nhiều của vănhóa ấn Độ, văn hóa Trung Quốc, nhng văn hóa xứ Nghệvẫn bảo trì nhiều nhất những yếu tố bản sắc của văn hóa
Đại Việt
Văn hoá Hoà Bình (Tơng Dơng-Nghệ An) mà các nhàkhảo cổ đã nghiên cứu,khẳng định có di tích văn hoá tạicác hang động thuộc các dãy đá vôi dọc các huyện QuếPhong, Con Cuông, Tơng Dơng, Tân Kì, Quỳ Châu…
Một vài hang động ở Nghệ Tĩnh đã tìm thấy nhữngchiếc rìu bằng đá cuội đợc mài dũa Tại đây xuất hiện các
đồ dùng bằng đất sét, đồ gốm… Rồi các bộ lạc sáng tạonền văn hoá Quỳnh Văn (Quỳnh Lu) còn gọi là văn hoáBàu Tró Gần đây, các nhà khảo cổ đã phát hiện thêm vănhoá làng Vạc (Nghĩa Đàn), rú Quyết (Vinh) tơng đơng vớithời cực thịnh của văn hoá Đông Sơn
Phan Huy Chú đã có nhận xét: “Con ngời ở đây rất cần kiệm và hiếu học, vật sản thì quí báu và hiếm lạ, thần
Trang 22núi, thần biển đều linh dị, khí thiêng non sông kết thành nhiều bậc danh hiền Đất này là vùng thông với xứ Man Lào, lại là vùng giới hạn giữa Nam Bắc do đó mà nó xứng
đáng là một thành trì kiên cố, là then chốt của nớc nhà trải qua các triều đại ” (Phan Huy Chú, 1997, tr74).
Nét khác biệt đầu tiên của ca dao xứ Nghệ so với cadao Bắc Bộ, Nam Bộ chính là sự phong phú hơn về chủ đề.Nếu nh chủ đề về phê phán thói h tật xấu hay thể hiệnquan điểm lao động và kinh nghiệm cuôc sống rất ít thấytrong ca dao Bắc Bộ và chỉ thấp thoáng trong ca dao Nam
Bộ, thì ở ca dao Nghệ Tĩnh lại đợc phản ánh một cách sinh
động và sâu sắc ở "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" có tới 271
lời ca dao về chủ đề quan điểm lao động sản xuất và kinhnghiệm cuộc sống; có 291 lời về chủ đề phê phán thói h tậtxấu và phong tục lạc hậu Những chủ đề trên đ ợc cácsoạn giả "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" xếp vào những chơng
cụ thể Trong khi đó, ở ca dao Bắc Bộ và Nam Bộ, nhữngchủ đề này cũng đợc đề cập nhng không nhiều và cha đợcsắp xếp thành chơng mục riêng mà chỉ rải rác trong cácchủ đề khác
Chỉ riêng chủ để phê phán và kinh nghiệm sản xuất đủthấy ngời Nghệ khen - chê rõ ràng, và vùng đất khắcnghiệt nắng gió miềm Trung cũng đã ảnh hởng đến cả cáchứng xử không chỉ với con ngời mà cả với thiên nhiên
Một ngày một nắng xắt khoai
Trang 23Con gái vất vởng, con trai vật vờ
Bà già bở bụi bở bờ
Ông già phanh bụng ngồi phờ râu ra
hay:
Bao giờ cho đến tháng Năm
Đọi cơm khúc cá vừa nằm vừa ăn
hay:
Bao giờ cho đến tháng Mời
Đọi cơm khúc cá vừa cời vừa ănNhiều nhất, rõ nhất, dào dạt sức sống nhất có lẽ làchủ đề tình yêu nam nữ trong ca dao nói chung, ca daoNghệ Tĩnh nói riêng
Khác với nỗi nhớ thơng cứ dìu dịu nh dòng nớc mátchảy vào lòng ngời của trai gái xứ Bắc, tình yêu nhớ thơngcủa trai gái xứ Nghệ "nh một núi lửa hơi đầy Nó ầm ĩ, nung nấu, sục sôi trong lòng, song ngoài mặt vẫn điềm tĩnh, trầm lặng, cái trầm lặng của Hỏa Diệm sơn ch a đến ngày phụt lửa " ( Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao, Võ
hay:
Đất ta là đất rú ri
Trang 24Con gái đen sì cũng cứ kén nhônghoặc:
Một trăm ông chú không lo
Lo vì một chút mụ o nhọn mồmCàng soi vào ca dao Nghệ Tĩnh, ta mới thấy hết những
đức tính tốt đẹp và "gàn dở" của con ngời xứ Nghệ
Họ tự hào về quê hơng đất nớc Họ bất khuất, kiêngan, táo bạo đến liều lĩnh ở lĩnh vực nào, ngời Nghệ cũng
để lại dấu ấn sâu sắc, tạo ra những vẻ đẹp ngay cả tronghoàn cảnh ngặt nghèo Đây là tâm trạng của lính Tây khichúng không may gặp phải đối thủ là dân Nghệ:
Chặt tay năm ngón mà chừaChớ trêu quân Nghệ, hắn muối da đi giừ
Tác giả Bùi Dơng Lịch trong cuốn "Nghệ An kí" đã
viết: "Do đất xấu, dân nghèo nên chịu khổ, nhẫn nại, cần
cù, kiệm ớc đã quen nề nếp Kẻ sỹ không chuộng hoa phấn, yêu cảnh bần hàn, thờng dân không sơ suất những
điều nhỏ mọn, tâm ở yên bởi sự tiết kiệm "
Dùng những lời lẽ nói thẳng ý mình mộc mạc đến thôvụng
Thân em nh tấm lụa đào
hay:
Diết da da diết quá chừng
Em cho anh chụt một cái, em đừng kêu đau.
hay:
Con gái mà đợc chồng yêu
Trang 25Xỏ chân lỗ mũi, đấy niêu canh cần
hay:
Có chồng nh gông mang cổKhông chồng cởi lổ mà đi.
Những từ "xé, chụt, xỏ, đấy, cởi lổ, trù, tru, rú, rì,
đen sì, mụ o " ta gặp khá nhiều trong ca dao Nghệ Tĩnh.
chính những ngôn từ đó đã góp phần bày tỏ cách ứng xử
"thẳng ruột ngựa" của ngời Nghệ.
Qua khảo sát 3628 câu ca dao (trong đó có 121 câu cadao ngời Thái) trong kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh, chúng tôi
đã tìm đợc 338 câu đặc biệt bộc lộ rõ tính cách "thẳng
ruột ngựa" trong ứng xử của ngời Nghệ Nếu tính chung về
nội dung thì có tới hai phần ba (trong tổng 3628 câu) ít
nhiều thể hiện tính cách bộc trực, thẳng thắn đến " mất
lòng trớc đợc lòng sau" của ngời Nghệ.
Bộc trực, "thẳng ruột ngựa", ngay từ đầu đã gợi niềm
tin, gợi sự nếm trải, gợi sự chung tình, chung thủy , cóphải thế mà con gái xứ Bắc, đặc biệt con gái Hà thành th-ờng chọn các chàng trai Nghệ làm chồng cho trụ cột gia
đình thêm vững chắc? Và, dù hơi khó chịu trong ứng xửnhng dễ chịu cả cuộc đời
Dù ai khoét mắt chặt tayCũng lần hơi hớng đờng này với anh
Xin trích dẫn ý kiến của GS Trần Đình Hợu và GS PhanNgọc nói về Nghệ Tĩnh và tính cách ngời Nghệ:
GS Trần Đình Hợu nhân viết về Phan Bội Châu đã trìnhbày khá đầy đủ: “Nghệ Tĩnh - là một vùng địa thế rộng,
Trang 26nhng đất xấu, lắm đồi, núi, sông, biển Đời sống nhân dân dựa nhiều vào kinh tế tự nhiên: săn bắn, đánh cá,
đốn gỗ, lấy tranh củi Dân công nhiều ngời phải bỏ quê hơng đi nơi khác kiếm ăn Nét khác nổi bật là dân Nghệ - Tĩnh học tập rất cần cù; làm thầy đồ dạy học là một việc của rất nhiều ngời Nhiều ngời hàng năm đi dạy học ở các tỉnh xa.
Trong bản đồ xa, Doan Diễm tức Nghệ Tĩnh ngày nay,
là đất biên viễn, nơi lu đầy, nơi đóng binh, nhiều thế kỉ là nơi chiến trờng tranh chấp Nghệ - Tĩnh cũng là nơi căn
cứ của Trần Qúy Khoáng, rồi của Lê Lợi chống quân Minh, là căn cứ của Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm chống Mạc,
là đồn binh chủ yếu của Trịnh chống Nguyễn Vì vai trò
đó ở Nghệ Tĩnh có những dòng họ công thần gắn với nhà
Lê, với chúa Trịnh, sống nhiều ở Thăng Long; dân Nghệ Tĩnh đợc tin cậy, làm chỗ chọn lính Tam phủ, thân binh của vua chúa Những điều đó ảnh hởng đến văn hoá, xã hội cả vùng sau khi Nguyễn ánh thắng Tây Sơn, Nghệ - Tĩnh ở vào một tình thế đặc biệt Nó là đất căn bản của vua Lê chúa Trịnh, là quê hơng và là Phợng Hoàng Trung
Đô của Nguyễn Huệ, nên với triều đại mới, nó bị coi là
đất phản nghịch, không đáng tin cậy Với thực tế lịch sử
nh vậy dân Nghệ - Tĩnh thành quen với quân sự, chính trị, thấy mình dính dáng với quốc sự Dới thời Tự Đức, trớc đờng lối đầu hàng của triều đình, văn thân Nghệ - Tĩnh đã dâng sớ bác bỏ từng điểm một chỉ dụ của Tự Đức
Trang 27bằng những lời lẽ rất phạm thợng Và cuối cùng, bất chấp lệnh của triều đình, họ đã nổi lên “Bình Tây sát tả”, gây thành phong trào năm Tuất mà Phan Bội Châu nhiệt liệt
ca tụng Sau khi mất nớc, phong tràp chống Pháp ở Nghệ
- Tĩnh sâu rộng và kéo dài hơn tất cả Dới sự lãnh đạo của Phan Đình Phùng, Nguyễn Xuân Ôn, huyện nào cũng lập quân thứ, có tổ chức kháng chiến Sau khi Phan Đình Phùng mất, phong trào chống Pháp vẫn dai dẳng Nhiều ngời bỏ vào núi hay tránh sang địa ph ơng khác, sống ngoài vòng pháp luật, đi về nh những kẻ du hiệp Những ngời khác chống một cách tiêu cực, không làm cho Pháp, không đọc chữ Pháp, không dùng hàng Pháp … tinh thần yêu nớc và hoạt động chống Pháp vẫn liên tục cho đến Cách mạng Tháng Tám.
Con đờng rừng núi sang Lào, sang Xiêm, mà sự nghèo
đói và sự khủng bố của quân thù vạch sẵn, trở thành con
đờng mòn, có nhà đồng hơng làm nơi tạm trú ngụ, không ngớt đa nhiều thanh niên ra nớc ngoài theo Phan Bội Châu, rồi theo Hồ Chí Minh Nghệ- Tĩnh đã cung cấp cho dân tộc những ngời con u tú Lớp trớc Phan Bội, Đặng Thái thân, Đặng Thúc Hứa, Hoàng Trọng Mẫu, Trần Hữu Lực , lớp sau có Hồ Chí Minh, Hồ Tùng Mậu, Trần Phú,
Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai, Hà Huy Tập,
Phan Đăng Lu…Nghệ - Tĩnh cũng lại nổi tiếng là đất văn
vật Nho học phát triển không sớm nhng sâu rộng Tĩnh cũng là quê hơng của Nguyễn Huy Tự, Nguyễn Huy
Trang 28Nghệ-Hổ, Nguyễn Du, Nguyễn Công Trứ…Những con ngời đó sống về thời gian không cách xa Phan Bội Châu bao nhiêu và về không gian lại rất gần, đều hoặc ảnh h ởng
đến Phan Bội Châu hoặc chịu ảnh hởng của Phan Bội Châu Điều kiện tự nhiên lịch sử và xã hội đó ảnh h ởng
đến con ngời Đặng Thai Mai nói:“Ngời Nghệ-Tĩnh can
đảm đến sơ suất, cần cù đến liều lĩnh, kiên quyết đến khô khan, tằn tiện đến cá gỗ” Tính cách địa phơng ở một ngời thờng tác động qua cách làm ăn sinh sống, qua tổ chức xã hội, qua các sự biến trong lịch sử, qua tính cách những nhân vật lớn, qua tập tục Trong những điều kiện kinh tế, lịch sử vừa kể, Nghệ - Tĩnh có những ng ời ngang tàng, thị tài nh Nguyễn Hữu Chỉnh, Nguyễn Công Trứ; có những ngời coi thờng công danh cả các triều đại nh Nguyễn Thiếp; có ngời chống triều đình nh Hoàng Phan Thái, Trần Tấn (Trần Đình Hợu, 1997, tr.96).
Còn GS Phan Ngọc phát biểu rất thực mà cũng rất
tiêu biểu ở thái độ rạch ròi đến mức khô khan, cực đoan
đến mức toán học Biểu hiện bên ngoài của văn hoá ấy là cái gàn Xét về thao tác luận, gàn là làm theo cái mô hình trong óc, coi mô hình trong óc lớn hơn thực tế Con ng ời quê hơng tôi không hoà mình vào cuộc đời nh con ngời Nam Bộ mà thích nghi với cuộc đời bằng cáchvạch giữa cuộc đời với mình với giới hạn cho phép anh ta sống với
Trang 29cái thế giới mô hình mà anh ta ham thích…” (Phan Ngọc,
1994, tr.136)
Ch
ơng II: những từ ngữ và nghệ thuật sử dụng
ngôntừ về cách ứng xử của ngời Nghệ qua kho tàng
ca dao Nghệ Tĩnh.
a) Những từ ngữ về cách ứng xử trên các ph ơng diện:
1 Những từ ngữ thể hiện cách ứng xử của ngời Nghệ
đối với thiên nhiên, quê hơng, đất nớc.
Trong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" do Ninh Viết Giao,
Nguyễn Đổng Chi su tầm giới thiệu, có tới 419 lời ca daonói về thiên nhiên, đặc điểm quê hơng, đất nớc (xem tr.128
đến tr.217)
"Ca dao là dòng sữa mẹ, là tấm lòng cha, là chiếc nôi
ấm áp; là chiếc võng đu đa; là làng mạc trong lũy tre xanh; là tấm gơng sáng soi rọi mọi điều tâm sự, mọi u uẩn của cõi lòng với mọi lành dữ, khen chê; là kho tri thức của quần chúng nên cũng là tấm g ơng sáng soi vào
Trang 30tinh thần của Quốc sử, làm cho Quốc sử có linh hồn "
(Hồ Xuân Hùng - Cảm nghĩ về ca dao xứ Nghệ )
Nh đã nói ở trên, do hoàn cảnh địa lí chi phối, tính cáchngời Nghệ dẫu muốn hay không, cũng co nét thích nghi đểtồn tại:
Gánh cực mà đổ lên nonCòm lng mà chạy, cực còn đuổi theo
Rõ ràng, ngời Nghệ không ai muốn cực, nhng ở thế núi
lòng sông này, ắt phải có những ngời vợt ngỡng "cực" để
đến "thái lai" Cái "vợt ngỡng" ấy tạo nên tính cách mạnh
mẽ, nh một thứ khoa trơng, ngoa ngữ trong ứng xử
Hát cho đổ quách xiêu đìnhCho long lanh nớc rung rinh trời
hay là:
Hát đàn cho rạng đông raMai về quan bỏ nhà pha cũng đành
"Đổ quách xiêu đình", "rung rinh trời", "quan bỏ nhà
pha" vẫn không cản đợc cuộc chơi cuộc hát , cái mê hát
của con ngời xứ Nghệ cũng trở thành nét đặc tr ng riêngkhông pha trộn với một vùng đát nào khác
Có ai mong ma nh trời hạn, vậy mà dân ca Nghệ vẫn
dùng lời "giải buồn nhà nông":
Sấm cũng ở trên nguồnChớp cũng ở trên nguồn Không ma giông đôi ba trộ để giải buồn nhà nông.Cũng nỗi kêu trời trớc nớc lụt, nhng ngời Nghệ còn nh
"đùa cợt" với nỗi đau, một sự đùa còn đau hơn cả sự thật:
Trang 31Gió ma chi lắm hỡi trờiLúa mùa toan gặt lại trôi đầy đồng
Con đau vợ đói nhìn chồngKhóc thảm khóc thiết đỏ tròng con ngơihay là:
Đỗ thì mọc mậm, lúa giừ nổi trôiNghệ An có năm con sông đổ nớc ra biển nhng đángchú ý vẫn là sông Lam (sông Cả) Từ ngã ba Tam Sơn đếnngã ba Tam Chế trớc khi nớc sông La từ Ngàn Sâu, NgànPhố đổ vào đã có tới bốn con sông khác là: sông Con, sôngGiăng, sông Hoàng Bảng, sông Rào Gang đổ vào Vì vậy,
lũ lụt từ Anh Sơn đến biển là thử thách của nhiều thế hệ
Ai về kẻ Mọ làm chi
Đồng bằng thì ít, rú ri thì nhiều
Ai về ớc Lệ mà coiThịt thì bốn miếng, cá mòi cắt t
Trang 32Muốn ăn cơm hẩm mắm troiThì về kẻ Sáo, kẻ Ngòi mà ăn.
Ai về Tràng Cát mà coi Khoai hai tháng rỡi đã moi hết rồi
Kẻ Mỏ là đất nu, mâyMấn thì trổ rỡi, nợ xây tứ bề
Những địa danh ca dao xứ Nghệ nhắc đến có ở khắpvùng miền: Phủ Qùy, Anh Sơn, Thanh Chơng, Nam Đàn,Qùy Hợp, Hơng Sơn, Đức Thọ.v.v
Ngoài vẻ "non xanh nớc biếc nh tranh họa đồ", ca
dao xứ Nghệ viết về thiên nhiên luôn là sự cảnh báo, quởtrách, hoặc bày tỏ kinh nghiệm, kêu gọi tiết kiệm để đốiphó với thiên tai
Phủ Qùy là đất Phủ Quì
Rú rậm rì rì, khái chạy loanh quanh
Ai lên trên nớ rừng xanhNắm xơng giữ lại cho anh mang về
Những ngữ "thịt chia bốn miếng", "cá mòi cắt t", "ăn
cơm hẩm mắm troi", "moi hết rồi", "mấn thì trổ r ỡi",
"nợ tứ bề", "giữ lại nắm xơng" nói lên sự gian khổ, sự
đấu tranh quyết liệt với thiên nhiên để giành giật từngmiếng cơm manh áo
Trong gian khổ khó khăn, qua ngôn ngữ, ta thấy ngờiNghệ vừa lách tránh thiên tai, vừa chống đỡ quyết liệt, bởi
họ tin tởng vào khả năng lao động sản xuất của mình:
Trang 33Có khó mới có miếng ăn
Có nhọc có nhằn mới có phong luhoặc:
Sông kia lúc lở lúc bồiCon ngời khổ mãi thì rồi cũng vinhThiên nhiên khắc nghiệt, nhng chính từ lao động sảnxuất , từ niềm tin, thiên nhiên xứ Nghệ cũng cho họ biếtbao sản vật nổi tiếng: gạo Đức Thọ, cá sông Giăng, măngchợ Chùa, mía Cẩm Đờng, lụa Phơng Lịch, tơng Nam Đàn,nhút Thanh Chơng, khoai Nghi Lộc Rồi các lu vực vensông Lam, sông La, sông Giăng, sông Phố, sông Bùng vớinhững cánh đồng màu mỡ, những xóm làng trù phú từ xa x -
a đã đợc ca dao nhắc tới:
Quan Nội lắm thóc nhiều tiền
Có sông tắm mát, có miền nghỉ ngơi
Ai lên Bãi Sở mà coiLúa reo trớc mặt, ngô cời sau lng
Tiếng đồn cá mát sông GiăngDẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Chùa
Quê ta ngọt mía Cẩm ĐờngChè Giăng ấm giọng Minh Sơn một vùng
Muốn mặc áo lụa áo theThì xuống Phợng Lịch mà ve má hồng
Trang 34Có thể khẳng định, đối với thiên nhiên, quê hơng đất
n-ớc, ngời Nghệ ứng xử khá minh bạch Họ ngợi ca nhữngnét đẹp, những cảnh đẹp, những truyền thống đẹp, và cũngkhông tiếc lời "hờn ghen" với sự khắc nghiệt của thiên
nhiên, quê hơng đất nớc Điều đó chứng tỏ lòng trung trinh
đến minh bạch với quê hơng mình
2 Những từ ngữ thể hiện cách ứng xử của ngời Nghệ
đối với cộng đồng.
+ Tình yêu đôi lứa:
Không kể đến 105 lời ca dao của ngời Thái, ca dao nói
về tình yêu nam nữ của ngời Kinh Nghệ Tĩnh có 1894 câu,chiếm gần 50% số lời ca dao trong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ".
Đôi ta nh thể con tằmCùng ăn một nống, cùng nằm một nia
Đắm say, da diết, mộc mạc, chân chất ngay từ cáchdùng từ Ca dao xứ Nghệ không dùng từ "hôn" để chỉ nụ
hôn mà dùng những từ nh "hun", "chụt", nghe âm thanh
t-ởng tợng đến động tác để cảm nhận cái sâu đằm của nụhôn ngời xứ Nghệ
Khi nào kiềng sắt bén munChàng hun má thiếp, thiếp hun má chàng
Khác với lời nguyền nhờ vả vào trăng, sao, trời đất củatrai gái xứ Bắc, trai gái xứ Nghệ lấy nhiều hơn cái chết, sự
hi sinh bản thân để bảo vệ tình yêu
Anh mà không lấy đợc nàng
Trang 35Thì anh tự vẫn giữa gia đàng nhà em.
Anh mà không lấy đợc nờngThì anh tự vẫn sông Lờng em ơi
Những cụm từ "dao kề cổ", "súng nổ bên tai", "tự vẫn",
"chọc huyết", "khoét mắt chặt tay" tự nó đã nói lên ý
nghĩa sống còn của cuộc đời
Chúng tôi lấy làm thú vị khi thống kê đợc con số 15 lần(Trong chơng 2 về tình yêu đôi lứa - Tập 1 - "Kho tàng cadao xứ Nghệ" ) trai gái xứ Nghệ đã mợn cái chết để bảo vệtình yêu hoặc quyết tâm trọn nghĩa vẹn tình, đầu bạc rănglong của đôi lứa
Hai tay cầm tám gơm vàngChết thì mặc chết, buông chàng không buông
Ninh Viết Giao đã có lí khi cho rằng: trong ca daoNghệ Tĩnh, "ta cũng gặp những mối tình éo le nh tình cũ tình già, tình muộn, tình phụ, tình lầm tình nghèo, tình chờ, tình chênh lệch, tình ép buộc, dở dang với mọi nỗi giận hờn, lo lắng, đau xót nhng ấm tình đời, dạt dào sức sống Tất cả đều trong sáng, lành mạnh với phong cách suy nghĩ có cái bản sắc riêng của ngời xứ Nghệ"
Ta hãy chia sẻ tâm trạng trai xứ Nghệ khi bắt nhịp yêuthơng:
Tròn tròn cái giếng, soi mặt ngời yêu
Nhớ em gánh nớc chiều chiều trên vai
Nớc trên vai kìa ai chân bớc
Ta đứng trông nàng trăm ớc ngàn mơ
Trang 36Đêm khuya trăng tắt hay mờ
Ra ngồi bên giếng đợi chời ngời thơng
Còn đây là tâm trạng ngời con gái xôn xao, đang cảmnhận một thứ tình cảm dấu yêu
Thấy anh em muốn nói ra
Sợ mẹ bằng đất, sợ cha bằng trờiThấy anh em muốn trao lời
Sợ chòm mây bạc giữa trời mau tan
Và chính họ khi đã "trăm năm tạc một chữ đồng; kẻ vun cây đức, ngời trồng cây nhân" thì một mực gắn bó,
thủy chung son sắt:
Anh đi ra đá mềm chân cứng
Em ở nhà vẫn vững nh đồngMặc dù gió rét ma dông
Em lăn tròn chiếu lại vắng chồng vẫn vui
Trong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" có đến 64 lần lời ca
dao mở đầu bằng hai từ "đôi ta" (trong phần nói về tình
yêu đôi lứa): "Đôi ta nh lửa mới nhen; Đôi ta nh con một nhà; Đôi ta nh thể con tằm; Đôi ta nh bấc với đèn; Đôi ta
nh phấn với hồ; Đôi ta nh cúc với khuy ".
Còn chữ "thơng" ( thơng em, thơng chàng, thơng mình,
th-ơng ai, thth-ơng nhau ) thì trang nào cũng có, phần tình yêu
đôi lứa có tới 75 bài xuất hiện chữ "thơng": "Thơng em rọt cắt làm ba; Thơng nhau cắp quách nhau đi; Thơng mình, mình biết cho mô; Thơng ta thì nói với ta ".
Những từ, ngữ "cắt, cắp quách, máu rơi từng giọt "
cũng chính là lời thách thức, những "tuyên bố về quyền tự
Trang 37do yêu đơng" của trai gái xứ Nghệ đối với những ràng
buộc khắt khe của luân lí, lễ giáo phong kiến
+ Quan hệ vợ chồng, anh em, cha mẹ, họ hàng.
Trong "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" có tới 389 câu nói vềquan hệ vợ chồng, hôn nhân; 79 câu về quan hệ cha mẹ vàcon cái; 12 câu nói về quan hệ anh chị em ruột, anh em rể,chị em dâu; trên 70 câu nói về quan hệ ông bà - cháu chắt,
mẹ chồng - nàng dâu, bố mẹ vợ - con rể, bố dợng, dì ghẻ,cô bác, thông gia
Trớc khi đi vào nghiên cứu tìm hiểu cách ứng xử củangời Nghệ về quan hệ họ hàng vợ chồng, gia đình, chúngtôi thiết ngĩ cũng cần nhắc đến ý kiến của Henrri Poirier,
ông cho rằng: lịch sử loài ngời xoay quanh ba nguyên lí:+ Nguyên lí cùng dòng dõi: ở Việt Nam có từ thế kỉ
Trang 38- Anh em ruột cùng cha cùng mẹ.
- Dòng, tông
- Dòng dõi bên cha hay bên mẹ
- Quan hệ đôi bên do hôn nhân qua lai giữa hai họ
- Cũng có gia đình có nhiều dòng con: cùng cha khác mẹ;cùng mẹ khác cha, "con anh, con em, con chúng ta" ; và
tạo ra thế ứng xử "cha chung không ai khóc", "mẹ ghẻ con chồng"
G.P Murdock đề nghị xử lí ít nhất 8 mối quan hệ tronggia đình làm hạt nhân:
- Vợ - chồng
- Cha - con trai
- Cha - con gái
Chim có tổ ngời có tông
Nh cây có cội nh sông có nguồnTrong cai tơng quan hệ tộc, gia đình ấy, ca dao xứNghệ cũng đã phản ánh một cách trung thực, với lối ứng
xử không thể nhầm lẫn với địa phơng nào cả Đó có thể làthái độ dứt khoát, cứng rắn; mới nghe, mới nhìn thì cho là
"bớng bỉnh, liều lĩnh".
Vợ anh anh lấy đã lâu
Đố ai lắm ruộng nhiều trâu vô giành
Đố ai lấy đợc vợ anh
Trang 39Thì anh cho một cẳngChân đi lủng lẳng nh cẳng đánh cù
Đã thù thì anh thù cho nốtNhà thì anh đốt khói bay lên trời
Câu ca dao trên thể hiện một bản lĩnh tiết tháo, mộthoài bão ích nớc lợi nhà, yên lòng với cuộc sống nhng dámthách thức với cả sự hiểm nghèo để vơn tới chí lớn Tínhcách này của con ngời xứ Nghệ hình nh đã thấm đậm từthủa nằm nôi
Ru con con ngủ à ơiTrông cho con lớn nên ngời khôn ngoan
Là trai gánh vác giang san
Mẹ cha trông xuống, thế gian trông vào
Ru con con ngủ đi nào
Cù lao dỡng dục biết bao cho cùngLàm trai quyết chí anh hùng
Ra tay đánh dẹp vẫy vùng nớc non
Trang 40Qua ca dao, ngay cả trong quan hệ gia đình thân tộc,ngời Nghệ cũng quen nhìn thẳng vào mọi khó khăn hiểmnghèo trong cuộc sống; tất nhiên ngời Nghệ đã sớm địnhhình cho mình một tính cách gân guốc, rắn rỏi đến khôkhan Song, chúng ta cần phải nhìn toàn diện hơn để thấy
"đời sống tình cảm của con ngời đối với thiên nhiên , với con ngời , với cái đẹp tuy không bộc lộ một cách ồn ào hời hợt, nhng lại có phần suy nghĩ điềm tĩnh, sâu sắc và bền bỉ cảm động đến thiết tha." (Đặng Thai Mai)
3 Những từ ngữ thể hiện cách ứng xử của ngời Nghệ đối
với bản thân và những thói h tật xấu.
Trong tập 2 của "Kho tàng ca dao xứ Nghệ" có tới 416
lời ca dao nói về cuộc sống trong xã hội nông nghiệp trong
đó có 291 lời phê phán những thói h tật xấu
Cá lẹp mà kẹp rau mng
Ông ăn to miếng mụ trừng mắt lên
Những từ "tép khô; đọi; mô mà; cá lẹp; to miếng;
trừng mắt " mang sắc thái ứng xử và còn mang cái giọng
Nghệ - giọng mà theo nh dân Nghệ cho rằng: "giọng Nghệ bày tui nh một ngời gánh nặng đi đờng xa, trời nắng, nớc ráo cổ, đến chỗ nghỉ, ngời mệt, cái chân không muốn bớc nữa, đặt xuống ịch một cái".
Thân phận ngời phụ nữ bị lễ giáo phong kiến đè nặng,rồi ngời chồng lại phụ tình, ngời vợ vừa oán trách vừa chịu
đựng:
Nớc chảy hòn đá trôi nghiêng