1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc trưng ngữ nghĩa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình việt nam

72 767 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Trưng Ngữ Nghĩa Các Nhóm Động Từ Trong Ca Dao Trữ Tình Việt Nam
Người hướng dẫn PGS. TS. Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 345,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đi vào nghiên cứu đặc trng ngữ nghĩa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình Việt Nam , ngời đọc không chỉ tiếp nhận đợc những giá trị tinh thần đẹp đẽ mà nhân dân ta để lại, cảm nhận thê

Trang 1

Lời nói đầu

Ca dao trữ tình đã thực sự trở thành khúc hát tâm tình của nhân dân Việt Nam lu truyền qua năm tháng.

Đi vào nghiên cứu đặc trng ngữ nghĩa các nhóm động

từ trong ca dao trữ tình Việt Nam , ngời đọc không chỉ tiếp nhận đợc những giá trị tinh thần đẹp đẽ mà nhân dân ta để lại, cảm nhận thêm về cái hay, cái đẹp của ca dao mà còn là một bớc khám phá thú vị về động từ trong tiếng Việt.

Đợc sự hớng dẫn tận tình chu đáo của PGS TS.

Đỗ Thị Kim Liên, sự động viên chân thành của các thầy cô giáo khoa Ngữ văn trờng ĐH Vinh, cùng với

sự yêu thích văn học dân gian, đặc biệt là ca dao trữ tình, chúng tôi mạnh dạn đề cập đến đề tài này Mặc

dù có nhiều cố gắng, song đây là một đề tài mới, thời gian nghiên cứu lại ngắn nên Khoá luận này không tránh khỏi những thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận

đợc sự góp ý, bổ sung của các thầy cô giáo cũng nh của tất cả các bạn đã và đang quan tâm đến đề tài này.

Nhân dịp này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc

và lời cảm ơn chân thành nhất tới PGS TS Đỗ Thị Kim Liên cùng các thầy cô giáo khoa Ngữ văn trờng

ĐH Vinh đã hớng dẫn và giúp đỡ chúng tôi hoàn thành Khoá luận này.

Trang 3

III Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 06

1.2.2 Khái niệm ca dao trữ tình 17

1.2.3 Những đặc trng khái quát của ca dao trữ tình 18

Trang 5

mở đầu

I Lý do chọn đề tài

1 Ca dao là tiếng hát yêu thơng tình nghĩa, là lời than vãn về thân phận tủinhục, đắng cay, niềm lạc quan tin tởng vào tơng lai Ca dao phản ánh lịch sử, miêutả khá chi tiết về phong tục tập quán trong sinh hoạt vật chất và tinh thần của nhândân lao động, nhng trớc hết là bộc lộ tâm hồn dân tộc trong đời sống riêng t, đờisống gia đình và đời sống xã hội

2 Nội dung ngữ nghĩa mà ca dao đề cập là đất nớc, lịch sử, những danh lamthắng cảnh, những đặc sản của các địa phơng, những truyền thống chống giặc ngoạixâm, chống chế độ áp bức phong kiến của nhân dân Song phong phú nhất sâu sắcnhất là mảng ca dao về tình yêu nam nữ, trai gái gặp gỡ, tìm hiểu nhau, thổ lộ tìnhcảm với nhau trong khi lao động, hội hè, đình đám, vui xuân Nội dung những câu

ca dao này phản ánh đợc mọi biểu hiện sắc thái, cung bậc trong tình yêu: những tìnhcảm thắm thiết trong hoàn cảnh may mắn hạnh phúc với những niềm mơ ớc, nhữngnỗi nhớ nhung da diết, hoặc cảm xúc nảy sinh trong những tình huống rủi ro ngangtrái, thất bại khổ đau với những lời than thở, oán trách Những nội này chủ yếu docác động từ và danh từ chuyển tải

Động từ là một trong hai từ loại thuộc nhóm thực từ đợc xuất hiện với số lợnglớn, tần số cao trong ca dao trữ tình Chúng có tác dụng thể hiện các trạng thái cảmxúc, hành động của nhân vật Việc tìm hiểu các tiểu nhóm này góp phần:

- Hiểu thêm các tiểu nhóm động từ về mặt lý thuyết

- Bổ sung mảng t liệu thực tiễn về động từ trong ca dao trữ tình

Đó là lý do để chúng tôi khảo sát: Đặc trng ngữ nghĩa các nhóm động từ

trong tập Ca dao trữ tình Việt Nam

Ii Lịch sử vấn đề

Văn học dân gian nói chung, ca dao Việt nam nói riêng là mảng đề tài kháphong phú, đã có không ít những công trình nghiên cứu về ca dao từ nhiều góc độkhác nhau Song những lĩnh vực nghiên cứu lại có những cách nhìn nhận riêng đểkhai thác từng khía cạch trong ca dao:

Trong bài Nghiên cứu ngôn ngữ ca dao Việt Nam (Tạp chí văn học, tháng 2

năm 1991) tác giả Mai Ngọc Chừ đã đi vào nghiên cứu về ngôn ngữ ca dao ViệtNam, trong đó ông có đề cập đến ngôn ngữ gắn với lời ăn tiếng nói hằng ngày của

nhân dân đợc đa vào ca dao Tác giả Nguyễn Xuân Kính trong cuốn Thi pháp ca

dao (NXBKHXH - HN, 1992) đã đi vào nghiên cứu tổng thể của ca dao về các mặt

thi pháp nh: thi pháp học và việc nghiên cứu thi pháp ca dao; ngôn ngữ trong ca dao;kết cấu trong ca dao Với tác giả Cao Huy Đỉnh, ông lại đi vào nghiên cứu lời đối

đáp trong thơ trữ tình, đó là bài Nghiên cứu lời đối đáp trong thơ trữ tình (Tạp chí

Trang 6

văn học tháng 9 năm 1996) ở bài viết này tác giả đã đề cập đến những bài ca daomang tính chất đối đáp mà chủ yếu là đối đáp, giao duyên giữa nam - nữ, vợ -

chồng Còn tác giả Chu Xuân Diên trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam

(NXBGD, 1997) lại nghiên cứu lịch sử xã hội, đất nớc và con ngời trong ca dao dân

ca Việt Nam; đồng thời ông còn nghiên cứu về mặt cấu tứ trong thơ trữ tình dân gian

và những truyền thống trong ca dao dân ca Việt Nam Giáo s Trần Đình Sử thì lạinghiên cứu những vấn đề rất cụ thể trong ca dao nh: nhân vật trữ tình trong ca dao;

hệ thống hình ảnh và ngôn ngữ trong ca dao ở công trình này tác giả đã chỉ ra dợcnhững đặc điểm về nhân vật trữ tình cũng nh phân tích về mặt kết cấu của một bài cadao dù dài hay ngắn Đặc biệt ông đi sâu vào nghiên cứu hệ thống hình ảnh phong

phú và ngôn ngữ đa dạng trong ca dao Bên cạnh đó, trong cuốn Những công trình

nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam (NXBGD,1999) các tác giả đã đề cập đến

nhiều vấn đề trong ca dao nh: tác giả Bùi Mạnh Nhị nghiên cứu đặc trng cấu trúctrong bài ca dao trữ tình dân gian ở khía cạnh công thức truyền thống và đặc tr ngcấu trúc trong ca dao dân ca trữ tình; tác giả Đặng Văn Lung nghiên cứu những yếu

tố trùng lặp trong ca dao trữ tình: sự trùng lặp về ngôn ngữ; tác giả Nguyễn Tấn Phátnghiên cứu về nội dung phản ánh của ca dao, dân ca Nam Bộ Trong công trình

riêng Những vấn đề thi pháp văn học dân gian (NXBKHXH, 2003), ở mảng ca dao,

tác giả Nguyễn Xuân Đức đã nghiên cứu các vấn đề nh: thể lục bát trong ca dao,không gian nghệ thuật trong một áng ca dao, tiếng Nghệ -văn hoá trong ca dao xứNghệ

Ngoài những công trình nghiên cứu trên còn có một số đề tài khoá luận tốt

nghiệp nghiên cứu về ca dao Chẳng hạn, khoá luận Đại từ trong ca dao Việt Nam (Vinh 2004) nghiên cứu về từ loại đại từ trong ca dao, khoá luận Đặc điểm ngôn ngữ

ở phần mở đầu trong ca dao trữ tình Việt Nam (Vinh 2002) nghiên cứu về ngôn ngữ

mở đầu trong một bài ca dao; khoá luận Những từ ngữ biểu hiện quan niệm giới tính

trong ca dao trữ tình Việt Nam (Vinh 2004) nghiên cứu về quan niệm giới tính trong

ca dao thông qua những từ ngữ cụ thể; khoá luận Đặc trng ngữ nghĩa các nhóm

danh từ trong ca dao trữ tình Việt Nam (Vinh 2005) nghiên cứu về từ loại danh từ

đ-ợc sử dụng trong ca dao trữ tình

Điểm lại các công trình nghiên cứu đi trớc, ta bắt gặp những vấn đề trong cadao đợc nghiên cứu khá kỹ lỡng và chi tiết với mọi khía cạnh của vấn đề Tuy nhiêncha có công trình nào đề cập đến đặc trng các nhóm động từ trong ca dao Do vậy, ởkhoá luận này chúng tôi bổ sung thêm một vấn đề về ca dao, đó là “Đặc trng ngữnghĩa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình Việt Nam” Khoá luận này chúng tôi

đi sâu vào các mặt nh: động từ trong tiếng Việt, khảo sát số lợng động từ trong cadao, ngữ nghĩa của các nhóm động từ trong ca dao trữ tình, sự hành chức và vai tròcủa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình

III Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

Trang 7

1 Đối tợng nghiên cứu

Đề tài này chúng tôi xác định tiến hành khảo sát: Các nhóm động từ trong Ca

dao trữ tình Việt Nam của tác giả: Vũ Dung,Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào

(NXBGD, 1998)

2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt đợc mục đích và nội dung nghiên cứu của đề tài này chúng tôi tậptrung giải quyết các vấn đề:

- Thống kê phân loại các tiểu loại động từ trong ca dao trữ tình Việt Nam

- Miêu tả ngữ nghĩa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình Việt Nam

- Rút ra ý nghĩa của việc dùng động từ trong ca dao trữ tình Việt Nam, cácnét văn hoá của nhân loại qua các động từ đó trong các câu ca dao

IV Phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện khoá luận này, chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứusau:

- Phơng pháp khảo sát thống kê phân loại

- Phơng pháp phân tích miêu tả

- Phơng pháp quy nạp – diễn dịch

- Phơng pháp so sánh đối chiếu

V Cái mới của đề tài

Đề tài này nêu một cách hệ thống, chuyên sâu về các nhóm động từ trong cadao trữ tình Việt Nam, sự hành chức và vai trò của các nhóm động từ

VI Cấu trúc khoá luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của khoá luận gồm:

Chơng1: Những vấn đề lý thuyết liên quan đến đề tài.

Chơng2: Ngữ nghĩa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình Việt Nam.

Chơng3: Sự hành chức và vai tròcủa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình

Việt Nam.

Trang 8

nội dung

Chơng 1: Những vấn đề lý thuyết chung

1.1 Về động từ trong tiếng Việt

- Động từ có khả năng đứng làm thành tố trung tâm của cụm từ; sau các phó

từ chỉ thời gian, mệnh lệnh, phủ định;đứng trớc các phụ từ; có khả năng kết hợp với

tình thái từ: thôi, nào, chứ

- Động từ không có khả năng đứng sau những từ chỉ vị trí: trên, dới, trong,

- Thừa nhận sự tồn tại trong động từ

Hớng ý kiến thứ nhất gồm có M.Grammon- Lê Quang Trinh , hai tác giảviết: “ Trong tiếng Việt không có mạo từ, danh từ đại từ , động từ, cũng không cógiống, số mà chỉ có từ không thôi Những từ này đều đơn âm tiết, nói chung khôngbiến đổi” (Nghiên cứu tiếng An Nam, Pa-ri, 1992)

Hiện nay hớng ý kiến này khó đứng vững

Hớng ý kiến thứ hai - Thừa nhận sự tồn tại động từ - Hớng này chia ra bốnnhóm tác giả khác nhau về xuất phát điểm và kết quả phân loại:

a Dựa vào chức năng

Lẫn lộn động từ và chức vụ cú pháp (vị ngữ) do động từ đảm nhận, gồm cócác tác giả: Trần Trọng Kim, Bùi Đức Thịnh

Tác giả Trần Trọng Kim viết: “ Động từ là những tiếng biểu diễn cái dụngcủa chủ từ ”

b Dựa vào ý nghĩa

Trang 9

Nhóm này gồm các tác giả: G.Obare, Trơng Vĩnh Ký, Bacbie và Nguyễn

Lân Tác giả Nguyễn Lân trong cuốn Ngữ pháp Việt Nam (1956) viết: “Động từ là

từ dùng để diễn đạt một động tác, một hành vi, một ý nghĩ, một cảm xúc, một trạngthái”

c Dựa vào hình thức

Nhóm này có các tác giả:Lê Văn Lý, Ê-mơ-nô Thấy đợc hạn chế của quan

điểm chỉ dựa vào ý nghĩa, Lê Văn Lý đã cố gắng đi theo một hớng mới, khách quanhơn là dựa vào hình thức Ông viết: “Ngời chức năng chủ nghĩa tốt nhất là làm việckhông dựa vào ý nghĩa các từ mà dựa vào chức năng của chúng, sự ứng phó và kếtcấu của chúng” Ông chia tiếng Việt thành ba nhóm lớn: nhóm A là danh từ, nhóm

B là động từ - tính, nhóm C là các từ loại khác

Quan niệm của Lê Văn Lý có nhiều cống hiến nhất định, tỏ ra khách quan,giải quyết triệt để Tuy vậy hạn chế của tác giả là bỏ qua mặt ý nghĩa - đó là mộttrong hai mặt không thể thiếu đợc khi nghiên cứu bất kỳ một hiện tợng ngôn ngữnào

d Mactini, Hoàng Tuệ, Nguyễn Kim Thản, Diệp Quang Ban, Lê Biên, ĐinhVăn Đức, Nguyễn Anh Quế, Phan Thiều, Lê Cận, Đỗ Thị Kim Liên lấy tiêu chuẩn

ý nghĩa khái quát và khả năng kết hợp để xác định từ loại của động từ Quan điểmnày tỏ ra thuyết phục và đợc nhiều ngời ủng hộ

1.1.3.2 Về phân loại động từ trong tiếng Việt

Vấn đề phân loại động từ đợc rất nhiều tác giả quan tâm, việc phân chia tiểuloại động từ cũng là một vấn đề hết sức phức tạp Đã có nhiều ý kiến phân chia tiểuloại động từ tiêu biểu là:

a Theo Đào Thanh Lan trong cuốn Cơ sở tiếng Việt (NXBGD, HN, 1998),

chia động từ thành 7 tiểu loại:

a1 Động từ ngoại hớng (động từ ngoại động)

Động từ ngoại hớng chỉ những hoạt động chi phối đến các sự vật ở ngoài nó

Động từ ngoại hớng đòi hỏi phải có thành tố phụ nêu đối tợng của hoạt động gọi là

bổ tố Các động từ đó gồm: làm, cày, cấy, trồng, ơm, cắt, đập, mua, bán, ăn, uống,

rán, nấu, nghe, nhìn, trông, xây dựng, phát triển, đàn áp, ngợi khen, bao hàm, chịu,

đựng, gặp, ra, vào, lên, xuống, tặng, nộp, trả, vay, mợn, nhận, chiếm…

a2 Động từ nội hớng (động từ nội động)

Động từ nội hớng chỉ những hoạt động không chi phối đến các sự vật ở ngoài

nó Động từ nội hớng đối lập với động từ ngoại hớng nên nó không có bổ tố Trạng

tố là thành tố phụ bổ sung những chi tiết chung cho bất cứ động từ nào, đó là phụ tốthời gian, không gian, hoàn cảnh, trả lời cho câu hỏi "nh thế nào? ra sao?" Các động

từ nội hớng gồm: ngủ, ngồi, nằm, chạy, bò, cời, nói, càu nhàu, hậm hực, lê la, quằn

quại, rơi, lo, hối hận…

Trang 10

a4 Động từ tổng hợp

Là động từ có cấu tạo song tiết gồm hai tiếng đơn kết hợp theo quan hệ đẳnglập (ngang bằng nhau) ý nghĩa tổng hợp của tiểu loại này là kết quả của sự kháiquát hoá ý nghĩa của từng biểu vật bộ phận trong từng tiếng đơn của từ Gồm các

động từ: đi đứng, chờ đợi, bàn cãi, móc nối, mua bán, kêu gọi, cấy cày, dàn xếp, học

hỏi, ca hát, trò chuyện… một số từ thuộc loại này có một tiếng là yếu tố h hoá (bị

mờ hoặc mất nghĩa từ vựng) nh: hỏi han, viết lách, làm lụng, cãi vã… nh nhng ý nghĩakhái quát của cả từ vẫn là ý nghĩa tổng hợp

Trang 11

a5 Động từ chuyển động

Động từ chuyển động chỉ hoạt động di chuyển trong không gian nh: đi, chạy,

bò, leo, trèo, trợt, lớt, bay… và cả những động từ chuyển động bao hàm phơng hớng

của sự di chuyển nh: ra, vào, lên, xuống, sang, qua, về, lại, đến, tới …

a6 Động từ cảm nghĩ - nói năng

Động từ cảm nghĩ - nói năng chỉ những hoạt động về nghĩ ngợi, nhận biết,thụ cảm, nói năng (thuộc về hoạt động trí não) của con ngời đối với thực tại kháchquan Loại động từ này có đặc điểm: bổ tố cho động từ thờng là một cú (cụm từ chủ

- vị) có cấu tạo giống câu Bao gồm các động từ: biết, nghĩ, tin, tởng, ngờ, ngỡ, bảo,

thấy, cảm thấy, hiểu, khen, chê, nhận định, tuyên bố, thanh minh…

a7 Động từ xuất hiện, tồn tại, tiêu tan

Nhóm động từ này chỉ trạng thái tồn tại, xuất hiện, biến mất của sự vật

Động từ nhóm này có đặc điểm vừa có thể làm thành phần chính vị ngữ trongkiểu câu đơn hai thành phần (câu chủ - vị) lại vừa có thể làm thành phần chính trongcâu một thành phần để biểu thị và nhấn mạnh sự tồn tại, xuất hiện, biến mất của sự

kiện đợc miêu tả Bao gồm các động từ nh: có, còn, mất, hết, mọc, nổ, nổi, vọt, bật

ra, hiện, xuất hiện, biến mất…

b.Theo Đinh Văn Đức trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt - từ loại

d Theo Diệp Quang Ban trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt (NXBGD, 2002) đã

chia từ loại động từ nh sau:

Các lớp động

từ Ví dụ Bản chất ý nghĩa quá trình gắn với động từ

Trang 12

bị, đợc, mắc phải, chịu… nhcho, xem, thấy… nh

là, làmcòn, có, mất, biến… nhcó

hoá, hoá thành, hoá ra… nhbắt đầu, tiếp tục… nhgần, xa, gần gụi… nhgiống, khác, hơn, kém

- Hành động (không tác

động - không đòi hỏi thực

từ đi kèm)

đánh, trồng, học… nhcho, tặng, gửi, lấy… nhsai, bảo, khiến… nh

ra, vào, lên, xuống… nh

đi, chạy, bò, lăn… nhkéo, đẩy, xô… nh

- Hành động (tác độnghoặc bị tác động, hoặcchuyển động - thờng có

động từ đi kèm)

e ý kiến của Đỗ Thị Kim Liên trong công trình Ngữ pháp tiếng Việt

(NXBGD, HN, 1999) đã chia động từ ra nhiều tiểu nhóm sau (dựa vào khả năng kết hợp với các thành tố phụ ở phía sau động từ):

có thì thờng là bổ ngữ giántiếp mang ý nghĩa thời gian,

địa điểm, nguyên nhân,mục đích

+ Có khả năng kết hợp vớiphó từ chỉ thời gian (đã, sẽ,

Trang 13

đang), chỉ sự tiếp diễn (đều,vẫn, cứ, lại )

2 Nhóm động từ ngoại

động (tác động)

Là những động từ chỉhoạt động mà kết quả

của chúng làm cho đối ợng khách quan phảithay đổi vị trí, tính chất,

3 Nhóm động từ phát

nhận

Là những động từ biểu thịnhững hoạt động có tínhchất ban phát hoặc tiếp

nhận: đa, gửi, biếu, cho,

tặng cấp, trao tặng

(ban phát); nhận, vay, lĩnh, đoạt, chiếm, lấy, thu, nhặt (tiếp nhận).

+ Thờng đòi hỏi hai thành

tố phụ: một biểu thị đối ợng tiếp nhận và một biểuthi đồ vật, sự vật do hoạt

t-động của t-động từ chi phối

4 Nhóm động từ gây

khiến

Là những động từ biểuthị sự hoạt động có tácdụng cho phép, thúc đẩyhay cản trở việc thựchiện những hoạt động

khác: giúp, bảo, khuyên,

cho phép, yêu cầu, cấm, ngăn, đình chỉ, chấm dứt

Thờng đòi hỏi hai thành tốphụ: danh từ (đối tợng tiếpnhận sự gây khiến), và động

từ (chỉ kết quả hoạt độnggây khiến)

5 Nhóm động từ xuất

hiện, tồn tại, tiêu

huỷ

Là những động từ biểuthị sự xuất hiện, tồn tại,

biến mất của sự vật: có,

còn, nổi lên, xuất hiện, mọc, khuất, biến mất

+ Thờng đòi hỏi thành tốphụ là danh từ vốn là chủthể (không phải là chủ ngữ)của động từ tồn tại

+ Loại động từ này thờngdùng trong câu đặc biệt (chỉ

có một thành phần)

Trang 14

Do đặc điểm này mà thành

tố phụ đặt sau động từ cóthể đặt lên trớc động từthành chủ ngữ (còn tiền tiền còn)

6 Nhóm động từ cảm

nghĩ, nói năng

Là những động từ biểuthị sự hoạt động thuộc

nhận thức: biết nghĩ,

hiểu, cảm thấy, tin, tuyên bố, chứng minh, nói, nói rằng

+Thờng đòi hỏi thành tốphụ là kết cấ c- v (có thể là

từ “là”, “rằng” chen vàogiữa)

7 Nhóm động từ biến

hoá

Là những động từ biểuthị sự biến hoá, chuyển

đổi của sự vật này thành

sự vật khác: thành, trở

nên trở thành, nên, hoá

ra, biến thành

Không dùng độc lập mà ờng kết hợp chặt chẽ vớimột từ khác làm bổ tố chỉkết quả của sự biến hoá

th-8 Nhóm động từ tình

thái

Là những động từ biểuthị khả năng, ý chỉ,

mong muốn: cần, phải,

định, toan, muốn, nỡ, bèn, hòng, chực, nên,

đành

Thờng đòi hỏi thành tố phụphía sau là một động từmang ý nghĩa từ vựng chânthực

điểm nhất định: đi, đến,

tới, sang qua, về, lại

Thờng đòi hỏi thành tố phụ

là những danh từ chỉ phơnghớng (có thể có phụ từ chỉhớng chen vào giữa)

10 Nhóm động từ chỉ

trạng thái tâm lý

Là những động từ biểuthị trạng thái, tình cảm

của con ngời: yêu thơng,

Trang 15

nhớ, lo lắng, hồi hộp còn, vẫn

11 Nhóm động từ nối

kết

Là nhóm động từ nối kếtgiữa hai sự vật do con

ngời gây nên: buộc, pha,

trộn , đấu nối, kết

+ Có khả năng kết hợp với phó

từ chỉ thời gian: đã, sẽ, đang.

+ Đòi hỏi thành tố phụ làhai danh từ (D1 & D2)

động từ bị động và động từ

có chủ ngữ tỉnh lợc

Trên đây là những cách phân chia tiểu loại của động từ Mỗi tác giả đều đa raphân chia khác nhau Tuy nhiên việc phân chia đó chỉ dừng lại ở phơng diện lýthuyết còn đi vào phân chia các tiểu nhóm động từ trong ca dao thì cha có tác giảnào đi sâu Cho nên trong khoá luận này chúng tôi đi theo hớng của tác giả Đỗ ThịKim Liên, đây là hớng đợc xem là hợp lý

1.2 Về ca dao và ca dao trữ tình

1.2.1 Khái niệm ca dao

Ca dao và dân ca là hai thuật ngữ đợc dùng trong giới nghiên cứu văn học và

âm nhạc Song, nội dung của hai thuật ngữ này, nhất là thuật ngữ ca dao thì lại đ ợcxác định không giống nhau Tuỳ cách hiểu, tuỳ quan niệm của mỗi ngời mà nộidung thuật ngữ đợc trình bày, đợc diễn giải bằng nhiều cách khác nhau

a Cách hiểu tơng đối thống nhất về ca dao

Ca dao là những bài hát dân gian do quần chúng nhân dân sáng tác, diễn ớng, lu truyền ở dân ca yếu tố văn học và âm nhạc cùng với thể thức diễn xớng gắn

x-bó với nhau trong một chỉnh thể thống nhất Có loại dân ca lu truyền chủ yếu ở mộtvùng, một miền và có mối quan hệ mật thiết với sinh hoạt văn hoá tinh thần củavùng đất đã sản sinh ra nó Chẳng hạn nh dân ca quan họ Bắc Ninh, hát dặm NghệTĩnh, hò Đồng Tháp Có loại dân ca lu hành phổ biến nhiều nơi, nhiều địa phơngkhác nhau nh: điệu cò lả , hát trống quân ở Nam Bộ, hò chòi ở miền Trung

b Cách hiểu không thống nhất về ca dao

b1 Theo Dơng Quảng Hàm: “Ca dao thì ca là hát, dao là bài hát không cóchơng khúc”

Trang 16

Đó là những bài hát ngắn lu truyền trong dân gian, thờng tả tính tình, phongtục của ngời bình dân Theo cách hiểu này thì ca dao và dân ca đồng nghĩa với nhau,chúng không có ranh giới phân biệt Phải chăng từ thuở mới khai sinh các tác giảdân gian chỉ sáng tác ca dao để hát, nên thuật ngữ ca dao mới đợc xác định Đồngthời tác giả cho rằng, thuật ngữ ca dao đợc sử dụng rộng rãi ở nớc ta từ thế kỷ XX,nhng việc xác định nội hàm của nó ở các nhà nghiên cứu, su tầm, biên soạn sách vănhọc dân gian những thập niên sau này lại có thêm nội dung mới, cách hiểu mới.

Thời xa xa trong sinh hoạt văn nghệ, các nghệ sĩ dân gian làm ra các bài hátngắn để hát Chúng gồm hai phần: Lời ca và làn điệu Dần dần theo thời gian lời bàihát phát triển thành một thể thơ dân gian Các thế hệ tiếp theo dựa vào phong cáchcấu tạo của thể thơ này mà đặt thêm những lời ca mới hoặc để hát theo những làn

điệu mới, sáng tác hoặc để ngâm, để đọc Do vậy khái niệm ca dao đã mang một nộidung mới, không đồng nhất với ca dao nữa

b2 Giáo s Hoàng Tiến Tựu trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam viết: Ca

dao là bộ phận chủ yếu quan trọng nhất của thơ dân gian, là loại thơ dân gian truyềnthống có phong cách riêng, đợc hình thành và phát triến trên cơ sở các thành phầnnghệ thuật ngôn ngữ trong các loại dân ca trữ tình truyền thống (ngắn và tơng đốingắn) của ngời Việt.(tr.139)

b3 Chu Xuân Diên trong cuốn Văn học dân gian Việt Nam (Đinh Gia Khánh

chủ biên) viết: Ca dao vốn là một thuật ngữ Hán Việt Theo cách hiểu thông thờngthì ca dao là lời của các bài hát dân ca đã tớc bỏ đi những tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngợc lại là những câu thơ có thể “bẻ” thành những làn điệu dân ca (tr 436)

b4 Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Từ điển thuật ngữ

văn học thì cho rằng: Thuật ngữ ca dao đợc dùng với nhiều nghĩa rộng hẹp khác

nhau, theo nghĩa gốc thì “ca” là bài hát có khúc điệu, “dao” là bài hát không cókhúc điệu Trong trờng hợp này ca dao đồng nghĩa với dân ca.(tr.26)

1.2.2 Khái niệm về ca dao trữ tình

Ca dao trữ tình là những bài mà nội dung và hình thức diễn xớng của nó khôngnhằm mục đích, nghi lễ và không kèm những động tác có tính chất nghi lễ Nhữngbài ca dao này vẫn đợc hát trong lao động nhng nội dung cơ bản của nó là nhằm bộc

lộ tình yêu thơng tha thiết của nhân đối với quê hơng, đất nớc, tình yêu đôi lứa, tiếng

ca tình nghĩa của nhân dân trong quan hệ gia đình và các mối quan hệ khác Nhữngbài ca dao này có thể đợc hát, đợc hò, ít nhiều có lề lối, có tổ chức hoặc hát đơn lẻ có

đối đáp hoặc không đối đáp Ví dụ, hò chèo ghe, hát điệu lý

Xu hớng khám phá phát triển cơ bản của thể loại này là thế giới nội tâm đadạng của quần chúng lao động Mỗi bài ca mang một vẻ đẹp riêng phản ánh chiềusâu của thế giới bên trong đậm chất trữ tình của con ngời Đây là thể loại có ở mọivùng của đất nớc, một thể loại quen thuộc, gần gũi với mọi lứa tuổi Tiếng hát trữtình có thể vọng đến mọi nhà, vang trên đồng ruộng, bến nớc, và cả trên núi hay

Trang 17

ngoài biển Chiều sâu trong nội dung bài ca dao, vẻ duyên dáng trong hình thứccấu tạo của nó, sức hấp dẫn, thu hút kỳ lạ của những làn điệu đậm đà màu sắc dântộc đã đem đến cho ngời đọc một niềm đam mê, say đắm.

1.2.3 Những đặc trng khái quát của ca dao trữ tình

Trong thể loại ca dao thì ca dao trữ tình là một bộ phận lớn, phát triển mạnhnhất, phong phú và đa dạng nhất Nó chẳng những là phần lời thơ của các loại dân

ca trữ tình (nh hát cò lả, hát trống quân, hát quan họ và các điệu lý ) mà còn baogồm cả những lời trữ tình trong các loại dân ca mà chức năng nguyên thuỷ(chứcnăng gốc) không phải là trữ tình nh các điệu hò lao động, các loại dân ca gắn vớinghi lễ, phong tục

1.2.3.1.Về chức năng

Theo cách hiểu thông thờng thì ca dao là lời của bài hát dân ca đã tớc bỏ đinhững tiếng đệm, tiếng láy hoặc ngợc lại, là nhng câu thơ có thể “bẻ” thành nhữnglàn điệu dân ca Ca dao đợc sáng tác gắn với cuộc sống lao động của nhân dân.Chính vì vậy, ca dao là tấm gơng trung thực về cuộc sống muôn màu muôn vẻ củadân nhân Đó là cuộc sống cần cù, giản dị, chất phác, đậm đà phong vị dân tộc Đó

là cuộc đấu tranh anh hùng trong dựng nớc và giữ nớc Đó là tinh thần lạc quantrong khó khăn, tinh thần tơng ái giữa những ngời lơng thiện Đó là nhận thức sắcbén về bạn, về thù, về chính nghĩa và phi nghĩa Đó là lời than thân trách phận củanhững thân phận đắng cay, tủi nhục Nh vậy, qua ca dao, có thể thấy rõ hiện thực,tức là “cái vốn có” trong cuộc sống của dân nhân, và hơn thế, ca dao còn bộc lộnguyện vọng của nhân dân đối với việc cải tạo hiện thực Nghĩa là ca dao khôngnhững chỉ phản ánh “cái đã có” mà còn đề xuất ra “cái nên có” Ca dao chẳng nhữngmuốn giúp cho việc nhận thức cuộc sống mà còn muốn xây dựng lý tởng về cuộcsống

Trang 18

Tóm lại, về cơ bản, ca dao là một thể loại trữ tình của văn học dân gian.Những tác phẩm thuộc thể loại này dù nói lên mối quan hệ giữa con ngời với sinhhoạt lao động, với sinh hoạt nghi lễ hay với sinh hoạt gia đình và xã hội, thì bao giờcũng chủ yếu nói lên thái độ chủ quan của con ngời đối với hiện tợng khách quan,chứ không phải là chủ yếu miêu tả bản thân những hiện tợng khách quan đó Chonên ca dao Việt Nam khi thì dới dạng những bài lễ ca, khi thì dới dạng những bàihát tụng, khi thì dới dạng những bản tình ca, khi thì dới dạng những bài hát than thở,khi thì dới dạng những câu hát trào phúng , đều tập trung phản ánh một cái tôi trữtình tập thể: tâm hồn nhân dân lao động, tâm hồn dân tộc Việt Nam

1.2.3.2 Về hình thức

Đa số các bài ca trong ca dao đợc sáng tác theo thể lục bát Nói tới ca dao

ng-ời ta thờng nói đến thể loại này Theo thống kê của Nguyễn Xuân Kính thì trong cadao thể lục bát chiếm 95%, các thể còn lại (song thất, song thất lục bát, hỗn hợp,bốn tiếng ) chiếm 5%

Vậy thì vì sao phần lớn bài ca dao đợc sáng tác theo thể lục bát Có thể nóirằng thể thơ này mới nghe qua ngời ta dễ nghĩ rằng: nhịp điệu lặp lại nhàm chántheo kiểu: dòng trên 2 - 2 - 2, dòng dới 2 - 2 - 2 - 2

Trên thực tế, nhịp thơ lục bát uyển chuyển, linh hoạt, Ngoài ra, với sự không

gò bó, không bị hạn chế về độ dài, ngắn của tác phẩm (số lợng cặp thơ tuỳ thuộc vàotác giả), thể lục bát có khả năng diễn đạt cảm xúc rất phong phú, thể hiện nội dung

đa dạng Nh vậy trong thể thơ lục bát, một tác phẩm ca dao ít nhất phải có độ dài haidòng thơ (một cặp lục bát) Thể lục bát bao gồm thể chính thức và thể biến thức

Trang 19

a Thể chính thức

Nói đến lục bát trớc hết phải nói đến khuôn hình cơ bản của nó Khuôn hìnhcơ bản của lục bát bao gồm một dòng 6 và một dòng 8, tức là cứ lần lợt một câu 6tiếng tiếp đến một câu 8 tiếng, hai câu tạo nên một cặp vì thế gọi là lục bát Theo

Nguyễn Xuân Đức trong: Những vấn đề thi pháp văn học dân gian khi bàn về vần

của lục bát thì: Thể lục bát có một vần chủ, tức vần cơ bản (thờng gọi là vần lng)

Để có đợc thể lục bát trớc hết phải có vần chủ và chỉ cần một vần chủ, chúng

ta đã có thể có đợc một đơn vị tác phẩm thơ lục bát Tuy nhiên lục bát còn có mộtvần chờ (ngời ta quen gọi vần chân), tồn tại ở dạng tiềm tàng và nó chỉ đợc sử dụngkhi đơn vị tác phẩm lục bát đợc kéo dài lên quá hai dòng câu Cũng theo tác giảNguyễn Xuân Đức: vần cơ bản là vần tạo ra thể lục bát, trong đó riêng thứ sáu (hoặctrong trờng hợp ít phổ biến hơn là tiếng thứ t) câu bát vần với tiếng thứ sáu câu lục.Nếu tác phẩm lục bát dài hơn hai dòng câu thì tiếng thứ sáu của câu lục tiếp theovần với tiếng thứ tám của câu bát trên nó:

Gặp đây anh hỏi thực nàng, Tre non đủ lá đan sàng đợc cha?

Chàng hỏi thì thiếp xin tha Tre non đủ lá đan cha đợc sàng Ngoài chợ có thiếu gì giang

Mà chàng lại nỡ đan sàng tre non.

Đan sàng có gốc tre già Tre non đủ lá đợc là bao nhiêu.

(CDTTVN- tr 210)

Hỡi ngời đứng ở bên sông, Càng nhìn càng đẹp, càng trông càng giòn!

Má hồng nh thể tô son

Đôi môi cắn chỉ trông mòn con ngơi.

Ra đờng nghiêng nói cời cời

Nh hoa mới nở, nh ngời trong tranh.

(CDTTVN -tr 249)

Trang 20

b1 Dòng lục thay đổi, dòng bát giữ nguyên

Bình thờng trong cặp lục bát, câu thứ nhất sáu tiếng, câu thứ hai támtiếng.Trong biến thể này, dòng thứ nhất (dòng lục) có sự biến thể về số lợng tiếng:

Có thể là tăng lên (trên sáu tiếng)

Cái cổ yếm em nó thỏng thòng thòng Tay em đeo vòng nh bắp chuối non

Em khoe em đẹp, em giòn Anh trông nhan sắc em còn kém xuân.

(CDTTVN -tr 71)

Chàng là con trai thứ mấy trong nhà

Mà chàng ăn nói mặn mà có duyên Cái miệng chàng cời nh thể hoa nhài

Nh chùm hoa nở nh tai hoa hồng

Ngời xấu nh ma Tắm nớc Đồng Trà cũng đẹp nh tiên.

(Kho tàng ca dao ngời Việt -tr 160)

b2 Dòng lục giữ nguyên, dòng bát thay đổi

Trờng hợp này thay đổi về số lợng tiếng không theo đúng quy luật lục bát:

Bóng cam, bóng quýt sau nhà, Bóng trăng rọi lại anh tởng là bóng em.

(CDTTVN - tr 59)

b3 Thay đổi cả dòng lục và dòng bát

Muối ba năm muối hãy còn mặn Gừng chín tháng, gừng hãy còn cay

Trang 21

Đạo cơng thờng chớ đổi, đừng thay Dẫu có làm nên danh vọng hay rủi có ăn mày cũng theo nhau.

Trăng lên đỉnh núi trăng tà Mình yêu ta thực hay là yêu chơi?

Trăng lên đỉnh núi trăng ngời Yêu thời yêu thực, yêu chơi làm gì?

Ca dao là tiếng hát yêu thơng tình nghĩa Bởi vậy trong ca dao nói chung và

ca dao trữ tình nói riêng tình cảm gia đình, tình cảm vợ chồng, tình yêu nam nữ, tìnhcảm cha mẹ con cái đợc thể hiện rất phong phú với những cung bậc màu sắc khácnhau:

Đó là tình cảm đối với cha mẹ:

Công cha nh núi Thái Sơn.

Nghĩa mẹ nh nớc trong nguồn chảy ra.

Tình cảm vợ chồng:

Chồng ta áo rách ta thơng Chồng ngời ái gấm xông hơng mặc ngời.

(CDTNVN - tr 108)

Đói no một vợ một chồng Một niêu cơm tấm, dầu lòng ăn chơi.

(CDTNVN - tr 181)

Trang 22

Những bức tranh thiên nhiên sinh hoạt đợc miêu tả và đứng đầu bài ca chỉ bốicảnh là cái cớ dẫn dắt cảm xúc Sau đó mới là bức tranh tâm trạng tình cảm, là nỗiniềm, là lòng ngời Nội dung chính là ở bức tranh tâm trạng tình cảm con ngời.

c.Phản ánh thiên nhiên đất nớc

Thiên nhiên có mặt trong nhiều thể loại văn học dân gian khác nhau nh thầnthoại, cổ tích, truyện ngụ ngôn, ca dao, tục ngữ, câu đối nhng ở mỗi thể loại thiênnhiên đợc nhìn nhận và phản ánh khác nhau Trong ca dao, thiên nhiên đợc cảmnhận, miêu tả và phản ánh theo phơng thức trữ tình bằng ngôn ngữ trực tiếp giàu sắcthái biểu cảm của nhân dân Những sự vật của thế giới tự nhiên nh: trời, mây, sông,nớc núi, cây đa, bến nớc chỉ đi vào ca dao khi tác giả dân ca đã thực sự có cảm xúc

về chúng cho nên thiên nhiên trong ca dao đã trở thành thiên nhiên thứ hai, thiênnhiên trong sự chiếm lĩnh nghệ thuật, cảm xúc, thẩm mỹ của nhân dân Nhờ đó màthiên nhiên trong ca dao sống động và ca dao thiên nhiên giàu sức gợi cảm:

Lẻ loi nh ngọn núi Sầm Thản nhiên nh mặt nớc ngầm Ô Loan.

Về đề tài thiên nhiên, bên cạnh những câu, những bài, lời lẽ hồn nhiên, mộcmạc thì ta bắt gặp những bài, những câu kết khá chặt chẽ, hoàn chỉnh, ngôn ngữ rất

điêu luyện:

Trong đầm gì đẹp bằng sen Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng Nhị vàng bông trắng lá xanh Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

Trong ca dao thiên nhiên ta cũng bắt gặp nhóm các bài ca về các hiện tợng tựnhiên nh: ma, gió, nắng, trăng, sao

Trang 23

Những bài ca về thiên nhiên trên đây phần nhiều đều nảy sinh trong hoạt

động dân ca đối dáp nam nữ, vì thế thờng có câu mở đầu và câu kết thúc nh sau:

Anh đây tài tử trí cao Lắng nghe anh hoạ bài sao trên trời Bài thơ em đã hoạ xong Mặt đất anh hoạ vài dòng anh nghe

Sự phong phú và đa dạng của thiên nhiên cũng nh tình yêu và sự cảm xúc tinh

tế về thiên nhiên của nhân dân chẳng những đợc thể hiện trong những bài ca dao lấy

đối tợng thiên nhiên làm đối tợng phản ánh mà còn đợc thể hiện qua nhiều hình ảnh

Ca dao lao động, ca dao tình yêu nam nữ, thiên nhiên là nguồn cảm hứng nguồn chấtliệu và phơng tiện nghệ thuật hết sức quan trọng và thờng xuyên của tác giả dângian Vì thế thiên nhiên thờng có mặt và dờng nh đầy ắp trong ca dao, làm cho cadao tơi mát, sống động, hấp dẫn và trờng tồn Nếu bỏ hết những câu, những bài nói

đến thiên nhiên thì ca dao bị thu hẹp và nghèo nàn đến mức không thể tởng tợng vàhình dung nổi Thiên nhiên phong phú đa dạng của đất nớc đã giúp cho nhân dân tạonên biết bao hình ảnh nghệ thuật giàu sức gợi cảm theo lối tỉ dụ, ẩn dụ, hoán dụ tợng

trng nh: hạt ma sa, hạt ma rào, con cò, trúc - mai, mận - đào, rồng - mây

d Phản ánh tình cảm gia đình

Gia đình là một trong những mảng đề tài quan trọng và thờng xuyên của vănhọc dân gian, đặc biệt là trong ca dao và truyện cổ tích Gia đình đợc nói đến trongnhững lời ca dao còn lại đến nay chủ yếu là gia đình nông dân ở nông thôn trongthời kỳ phong kiến tự chủ Ca dao không những chỉ phản ánh những tình cảm tốt

đẹp, tình vợ chồng, tình mẫu tử thiêng liêng, tình anh em mà còn phản ánh sựxung đột mâu thuẫn nhiều khi gay gắt giữa các thành viên trong gia đình

Tình cảm vợ chồng và tình cảm đối với cha mẹ là hai loại tình cảm đợc nóinhiều và diễn đạt tốt nhất trong ca dao về gia đình, đặc biệt là tình mẫu tử Nhiềucâu trong bộ phận này đợc ra đời rất sớm nhng vẫn nh tiếng nói của hôm nay, vẫnphù hợp với tình cảm mọi hoàn cảnh của đất nớc:

Ơn cha nặng lắm ai ơi Nghĩa mẹ bằng trời chín tháng cu mang.

Trang 24

Vẳng nghe chim vịt kêu chiều Bâng khuâng nhớ mẹ chín chiều ruột đau.

(CDTTVN - tr 112)

Râu tôm nấu với ruột bầu Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon.

(CDTTVN - tr 388) Bên cạnh những tình cảm tốt đẹp đó, ca dao còn phản ánh nhiều mâu thuẫn,xung đột trong gia đình, xung đột vợ chồng, cha mẹ với con cái Phổ biến và quyếtliệt nhất là xung đột giữa mẹ chồng - nàng dâu, chị dâu - em chồng, vợ cả - vợ lẽ

Có thể nói rằng nhân vật chính trong ca dao trữ tình về sinh hoạt gia đình làngời phụ nữ Dới chế độ phong kiến ngời phụ nữ lao động là nạn nhân của nhiềutầng áp bức, là hạng ngời đau khổ nhất Đời sống của họ đầy rẫy những sự chịu

đựng, hy sinh, khổ đau Đó là sự khổ đau vì cha mẹ ép gả:

Đờng đi những lách cùng lau Cha mẹ tham giàu ép uổng duyên con Duyên sao cắc cớ hỡi duyên Cầm gơng gơng tối, cầm vàng vàng phai.

(VHDGVN - tr.457)

Những xung đột giữa cha mẹ và con cái, ca dao phản ánh phần nhiều liênquan đến tình yêu và hôn nhân của con cái khi bị cha mẹ ép duyên, cỡng hôn theoquan niệm: “cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy”, nhiều ngời con đã phản ứng một cáchgay gắt, quyết liệt

Mẹ cha bú mớm nâng niu Tội trời xin chịu không yêu bằng chồng

Tôi mang khăn gói sang sông

Mẹ kêu mặc mẹ thơng chồng em theo

Sự cỡng hôn, ép duyên của cha mẹ chẳng những đa đến mâu thuẫn xung độtgiữa cha mẹ và con cái mà còn là nguyên nhân dẫn đến sự bất hạnh, bất hoà tronggia đình của con cái Ca dao nói nhiều về trờng hợp vợ chồng không xứng đôi vừalứa, khiến cho ngời ta cảm thấy là gánh nặng, là cái nợ đời phải trả thôi

Chồng gì anh vợ gì tôi Chẳng qua là cái nợ đời chi đây

Trang 25

Mỗi ngời một nợ cầm tay

Đời xa nợ vợ đời nay nợ chồng.

(TNCDVN - tr 187)

Vô duyên múc phải chồng già

Ra đờng ngời hỏi rằng cha hay chồng Nói ra đau đớn trong lòng

ấy cái nợ truyền kiếp, cớ cái chồng em đâu!

(TNCDVN - tr 177)

Đặc biệt trong xã hội phong kiến ngời phụ nữ còn chịu cảnh mẹ chồng - nàngdâu một cách cay nghiệt:

Đói lòng ăn khế ăn sung Trông thấy mẹ chồng thì nuốt chẳng trôi.

Đến khi chồng xuống gà đã o o gáy dồn Chém cha con gà kia sao mày vội gáy dồn Mày làm cho tao mất vía kinh hồn về lẽ chồng con!

(CDTTVN - tr 410)

Ca dao còn nói lên nỗi khổ của ngời phụ nữ cô đơn goá bụa:

Lênh đênh chiếc bánh giữa dòng Thơng thân goá bụa phòng không lỡ thì

Gió đa cây trúc ngã quỳ

Trang 26

ngời đi phu, ngời lính, ngời chài lới, ngời phụ nữ goá bụa đến nhiều ngời là ngờiphụ nữ.

Ca dao phản ánh về thân phận con đòi đứa ở cũng khá nhiều, đó không chỉ làlời than thân trách phận mà còn bộc lộ sự phản kháng đối với chủ nhà một cáchquyết liệt

Chúa trai là chúa hay lo

Đêm nằm cắt việc ra cho mà làm Chúa gái là chúa ăn tham

Đồng quà tấm bánh đút ngang trong buồng

Ăn rồi chết nứt chết chơng Chẳng nhớ thằng ở chẳng thơng con đòi.

Nhiều bài hát ru con của các bà mẹ thực chất là lời than thở, lời tố cáo xã hộicủa những ngời lao động nghèo khổ dới áp bức bóc lột

Con ơi nhớ lấy câu này Cớp đêm là giặc cớp ngày là quan.

(VHDGVN - tr 458)

Những ngời lính và ngời vợ lính thời phong kiến suy vong nhất là thời Nguyễn phân tranh cũng để lại trong ca dao nhiều lời ca giàu ý nghĩa xã hội:

Trịnh-Nhà vua bắt lính đàn ông Mời sáu tuổi rỡi đứng trong công đờng

tỉ và mở đầu bằng cụm từ “ Em nh ”, hoặc “ Thân em nh ” vừa có sức gợi cảm, vừa

có tính khái quát cao:

Em nh cái giếng đầu làng Ngời khôn rửa mặt ngời phàm rửa chân.

(CDTTVN - tr 196)

Em nh con hạc đầu đình Muốn bay không nhấc nổi mình mà bay.

( CDTTVN - tr 197 )

- Thân em nh miếng cau khô

Ngời thanh tham mỏng ngời thô tham dày

- Thân em nh tấm lụa đào

Trang 27

Đơng đông buổi chợ biết vào tay ai.

(CDTTVN - tr 413)

g Phản ánh tình yêu đôi lứa

Có thể nói rằng trong ca dao trữ tình thì phong phú nhất, sâu sắc nhất là mảng

ca dao về tình yêu nam nữ Tính chất phong phú đó trớc hết thể hiện ở số lợng cáccâu hát, đây là bộ phận lời ca chiếm tần xuất bản và phần lớn những bài ca dao hay

đều thuộc bộ phận này Hầu hết ca dao về tình yêu nam nữ đợc sáng tác ra trongnhững điều kiện của mối quan hệ nam nữ ở nông thôn Việt Nam trớc đây Trai gái ởnông thôn thờng gặp gỡ tìm hiểu nhau thổ lộ tình cảm với nhau trong khi cùng lao

động trong những ngày hội hè Một trong những hình thức thể hiện giao duyên đó lànhững cuộc hát đối đáp nam nữ Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ có nội dungphản ánh mọi biểu hiện của tình yêu, mọi cung bậc tình yêu, trong tất cả nhữngchặng đờng của nó Giai đoạn gặp gỡ ớm hỏi nhau, giai đoạn gắn bó trao đổi nhữnglời thề nguyền, những tặng vật cho nhau, giai đoạn hạnh phúc với những niềm ớcmơ, những nỗi nhớ nhung hoặc sự thất bại khổ đau, với những lời than thở oántrách

Căn cứ vào đề tài chủ đề, có thể chia ca dao tình yêu đôi lứa bằng bốn bộphận chính: ca dao tỏ tình - ca dao tơng t - ca dao thề nguyền và ca dao hận tình

Hai nhân vật trữ tình chủ yếu trong ca dao là: chàng trai và cô gái Hai nhânvật này thờng xng hô với nhau bằng các cặp đại từ và những hình ảnh ẩn dụ tợng tr-

ng quen thuộc nh: anh - em, chàng - thiếp, mình - ta, mận - đào

Đặc điểm chung của ca dao tỏ tình là tính chất lãng mạn và sự tởng tợng hoá

Ca dao trữ tình về tình yêu nam nữ hay nói đến những cuộc gặp gỡ của trai gái trongkhung cảnh lao động tình cảm gắn bó giữa trai gái, do đó thờng đợc biểu hiện trongmối quan hệ khăng khít với đời sống của nhân dân Bởi vậy các chàng trai cô gáitrong ca dao trữ tình có hàng trăm cách tỏ tình khác nhau, nhiều cách nói độc đáo,sáng tạo, gắn với lao động:

Đêm trăng thanh anh mới hỏi nàng:

Tre non đủ lá đan sàng nên chăng?

Đan sàng thiếp cũng xin vâng.

Tre vừa đủ lá nên chăng hỡi chàng?

(CDTTVN - tr 168)

Lại cũng có cách tỏ tình rất táo bạo, lém lỉnh:

Cô kia cắt cỏ bên sông

Có muốn ăn nhãn thì lồng sang đây.

Sang đây anh nắm cổ tay

Trang 28

Anh hỏi câu này có lấy anh không?

(CDTTVN - tr 134)

Cũng có cách tỏ tình tế nhị hơn:

Cô kia đứng ở bên sông Muốn sang anh ngả cành hồng cho sang.

(CDTTVN - tr 134)

Khi yêu nhau ngời ta càng thêm lạc quan yêu đời và nhìn thấy nhiều điều mớilạ, tốt đẹp trong thế giới xung quanh mà bình thờng không nhận ra đợc Cuộc sốngxung quanh họ dờng nh tơi đẹp hơn, tơng lai phía trớc nh ngời sáng hơn Vì thế cadao trữ tình không có ngời nào xấu, cảnh nào buồn, lời nào nhạt Tất cả đều phơiphới, mới mẻ, xinh đẹp và rất có duyên:

Ai làm cái nón quai thao

Để cho anh thấy cô nào cũng xinh.

(VHDGVN - tr 449)

Cổ tay em trắng nh ngà Con mắt em liếc nh là dao cau Miệng cời nh thể hoa ngâu Cái khăn đội đầu nh thể hoa sen

(CDTTVN- tr 136)

Bộ phận ca dao tơng t cũng rất phong phú, nó thể hiện trạng thái tâm lý, tìnhcảm khi yêu đơng, nhất là khi xa cách Những tình cảm đó dợc phản ánh và thể hiệnrất hồn nhiên, chân thực, tinh tế:

Nhớ ai em những khóc thầm Hai hàng nớc mắt đầm đìa nh ma Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

Nhớ ai ai nhớ, bây giờ nhớ ai Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

Nh đứng đống lửa nh ngồi đống than

(CDTTVN - tr 346)

Nếu nh ở ca dao trữ tình, các chàng trai chủ động nói nhiều hơn, hay hơn thì

ở ca dao tơng lại có phần ngợc lại Phần lớn những lời ca dao hay đều là lời của ngờicon gái Ngoài đời thì ngời phụ nữ thờng ít nói, nhng trong ca dao tình yêu thì lạinói rất nhiều, dờng nh dốc hết bầu tâm sự của mình:

Trang 29

Nhớ chàng lắm lắm chàng ơi ! Nhớ lời chàng nói nhớ nơi chàng về Nhớ nơi chỉ núi giao thề Nhớ về trú quán nhớ về quê hơng

Đêm nằm những nhớ cùng thơng Nói sao cho xiết những đờng ái ân.

(CDTTVN- tr.347)Khác với ca dao tỏ tình và tơng t, ở bộ phận ca dao thề nguyền lại toát lên súcmạnh phi thờng của nghị lực và ý chí ở đây các chàng trai, cô gái thể hiện rõ sựtỉnh táo, sáng suốt, dám nhìn thẳng vào thực tế khó khăn, bất chấp mọi thở thách, v-

ợt qua mọi trở lực để thể hiện tình yêu

Đôi ta đã nặng lời thề Con dao lá trúc đã kề tóc mai Dặn rằng ai chớ quên ai Chỉ thêu nên gấm sắt mài nên kim.

Mặc dù quyết tâm lớn, thề thốt rất nhiều nhng tình yêu tự do của nam nữthanh niên trong xã hội phong kiến vẫn gặp nhiều trở lực và phần nhiều không thựchiện đợc theo ý muốn Và đó là nguyên nhân khiến cho bộ phận ca dao hận tình nảysinh và phát triển rất phát triển phong phú ở hầu khắp các địa phơng Đó là nhữnglời ca nặng nề, bi thiết là những lời oán trách rất giàu ý nghĩa hiện thực và ý nghĩaxã hội ở đây, những chàng trai cô gái yêu nhau trở thành nhân vật bi kịch trong tìnhyêu bất hạnh Họ không chỉ than thân, trách phận mà còn trút sự hờn căm vào nhiều

đối tợng khác nhau trong xã hội đơng thời:

Trách cha trách mẹ muôn phần Ngồi bên đống bạc mà cân lấy chì.

(TNCDVN- tr 140)

Tiếc công anh đắp đập be bờ

Để ai quẩy đó mang lờ đến đơm.

(CDTTVN - tr 442)

Tiểu kết chơng1:

Trang 30

1 Ca dao trữ tìmh là mảng đề tài hết sức phong phú, ca dao phản ánh cuộcsống muôn màu, muôn vẻ của nhân dân lao động trên mọi miền đất nớc Là sáng tạocủa tập thể, trải qua nhiều thế hệ, tất cả mọi ngời đều đem tài năng của mình làmcho ngôn ngữ ca dao trở nên trong sáng, đẹp đẽ, phong phú, giàu tính hiện thực Bởivậy, ca dao luôn gắn với cuộc sống, gắn với con ngời và làm nên nét đẹp tinh thầntrong tâm hồn mỗi con ngời Việt Nam Và cũng chính vì vậy ca dao đã phản ánh đ-

ợc nhiều sự việc, nhiều tâm trạng khác nhau của con ngời Từ tình yêu thiên nhiên,

từ cội nguồn lịch sử xã hội đến tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa là cả một chặng

đờng lịch sử lâu dài đã đi vào ca dao nh mạch nguồn xuyên thấm vào trong lòng đấtkhông bao giờ ngừng Nó nh phần tinh tuý nhất, đẹp đẽ nhất, trong sáng nhất thấmsâu vào tâm hồn con ngời làm nên nét đẹp riêng của dân tộc Việt Nam

2 Qua thống kê, có rất nhiều các cách chia tiểu loại động từ thành các tiểunhóm khác nhau của các tác giả Khoá luận nàychúng tôi chọn cách quan niệm và

sự phân loại nhóm động từ theo ý kiến của tác giả Đỗ Thị Kim Liên Theo tác giả thìtiểu loại động từ chia thành 12 nhóm, đó là:

Trang 31

trạng tình cảm, phản ánh thiên nhiên đất nớc, phản ánh tình cảm gia đình,phản ánh

đề tài xã hội, phản ánh tình yêu đôi lứa

Chơng 2

ngữ nghĩa các nhóm Động từ trong ca dao trữ tình Việt Nam

Trang 32

Đây là những từ biểu thị hành động tự thân của nhân vật trữ tình đợc nói đến

trong ca dao, nh: đi, đứng, ngủ, nằm, hát, ngã, khóc, tắm, bay, cháy, thấy, dng,

động đến bất kỳ một đối tựơng nào khác

Chiều chiều ra đứng bờ sông

Muốn về quê mẹ mà không có đò.

(CDTTVN - Tr 100)

Chim bay mỏi cánh chim ngơi

Đố ai bắt đợc chim trời mới ngoan.

(CDTTVN - Tr 103)

Đêm năm canh anh ngủ có ba Còn hai canh nữa anh ra trông trời.

Trông trời mau rạng đông ra

Trang 33

Để cho bớm chộ mặt hoa bớm chào.

(CDTTVN - Tr 161)

Nỗi bồi hồi nhớ thơng của nhân vật trữ tình với ngời yêu cũng đợc ca daomiêu tả rất tài tình bằng những động từ nội động:

Ngày ngày ra đứng mà trông Bạn chả thấy bạn, tình không thấy tình.

Đây là nhóm những động từ chỉ hành động mà kết quả của chúng làm cho

đối tợng khách quan phải thay đổi vị trí, tình cảm, trạng thái Nhóm động từ nàyxuất hiện 3270 lần/ 13811 động từ, chiếm 23,67% Chúng bao gồm các động từ:

cày, cấy, bừa, cắt, hái,nắm, bng…

Trong ca dao trữ tình ta bắt gặp rất nhiều các động từ chỉ hoạt động của nhânvật trữ tình tác động đến đối tợng khác Điều này chứng tỏ rằng ca dao trữ tình thểhiện khá sâu sắc mọi hoạt động của con ngời trong lao động cũng nh trong chuyệntình cảm riêng t, tình yêu đôi lứa Đời sống của con ngời Việt Nam xa nay luôn gắnvới cuộc sống lao động hàng ngày, bởi vậy nó cũng đi vào ca dao một cách rất phongphú Đó là cuộc sống lao động gắn với công việc đồng áng vất vả sớm tra Cuộc sốngcủa ngời nông dân một nắng hai sơng mới làm nên hạt thóc vàng với những công việc

nh: cày, cấy, bừa, cắt hái hay những công việc của những ngời chài lới trên sông ớc: chèo (thuyền), kéo (lới), cập( bến) Có biết bao công việc của ngời dân lao động

n-dãi nắng dầm sơng để góp sức xây đời, tạo dựng một cuộc sống ấm no Cuộc sống lao

động đó luôn gắn với tình yêu đôi lứa, gắn với cuộc sống vợ chồng:

Cày đồng đang buổi ban tra

Mồ hôi thánh thót nh ma ruộng cày

Trang 34

Ca dao trữ tình còn thể hiện những lời trao, ý gửi, lời giao duyên hay chứng

tỏ tình yêu của nhân vật trữ tình

Gặp đây anh nắm cổ tay Anh hỏi câu này: có lấy anh không?

(CDTTVN - tr 211)

Lấy anh anh sắm sửa cho

Sắm ăn, sắm mặc, sắm cho chơi bời.

(CDTTVN - tr 266)

Bên cạnh dó ca dao trữ tình cũng có rất nhiều động từ thuộc nhóm ngoại

động thể hiện sự tác động của con ngời vào thiên nhiên, chinh phục thiên nhiên:

Rủ nhau lên núi đốt than

Anh đi Tam điệp em mang nón trình Củi than nhem nhuốc với tình Ghi lời vàng đá xin mình chớ quên.

(CDTTVN – tr 385)

Nói cách khác nhóm động từ ngoại động đã phần nào vẽ nên đợc bức tranh

đời sống của con ngời với những hoạt động gắn với lao động, lao động gắn với tìnhyêu đôi lứa, tình cảm vợ chồng

2.2.3 Nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lý

Theo số lợng thống kê, nhóm động từ chỉ trạng thái tâm lý xuất hiện 1649lần/ 13811 động từ, chiếm11,93% Nhóm động từ này biểu thị trạng thái, tình cảm

của con ngời: yêu, thơng, mong, nhớ, thơng nhớ, ghét, lo, sợ, lo lắng, hồi hộp, buồn,

bồi hồi, ghen, giận, hờn, oán, sầu

Nội dung của ca dao trữ tình là nói lên suộc sống hàng ngày của con ngời,nhng trong cuộc sống hàng ngày đó thì cuộc sống tình cảm đợc đề cập đến nhiềunhất Bởi vì ca dao trữ tình phần lớn là nói về tình yêu đôi lứa, tình cảm vợ chồngcho nên những trạng thái, tình cảm của con ngời đợc đề cập đến khá nhiều Chúng ta

có thể bắt gặp những trạng thái tâm lý khác nhau của những nhân vật trữ tình khácnhau trong hhững hoàn cảnh khác nhau.Có khi là tâm trạng vui mừng phấn khởi khicuộc sống diễn ra suôn sẻ:

Trang 35

Mừng nay kéo hội vui thay

Đem đàn ra gẩy một bài nhân duyên,

Xem bài nào ấm nào êm Xem bài thề nguyền ta gẩy nghe chung.

(CDTTVN - tr 313)

Có khi là tâm trạng lo âu phấp phỏng của nhân vật trữ tình:

Một mình lo bảy lo ba

Lo cau trổ muộn, lo già hết duyên.

Còn duyên kẻ đón ngời đa Hết duyên đi sớm về tra một mình.

(CDTTVN - tr 299)

Có khi lại là tâm trạng buồn rầu

Chim buồn chim bay về núi Cá buồn cá chúi xuống sông Ngời buồn ra ngõ đứng trông

Ngõ thì thấy ngõ ngời không thấy ngời.

(CDTTVN - tr 104)

Đặc biệt tâm trạng yêu thơng mong muốn của nhân vật trữ tình là tâm trạngchủ đạo nhất trong ca dao tữ tình Đó là tâm trạng nhớ ngời yêu của các chàng trai,cô gái, là tâm trạng yêu thơng mong nhớ của vợ chồng:

Nhớ chàng lắm lắm chàng ơi

Nhớ lời chàng nói, nhớ nơi chàng về

Nhớ khi chỉ núi giao thề

Nhớ từ trú quán nhớ về quê hơng

Đêm nằm những nhớ cùng thơng

Nói sao cho xiết mọi đờng ái ân.

(CDTTVN - tr 347)

Chiều chiều vịt lội bờ bàng

Thơng ngời áo trắng vá quàng nửa vai.

(CDTTVN - tr 101)

Trang 36

Thơng ai bằng nỗi thơng con

Nhớ ai bằng nỗi gái son nhớ chồng.

( CDTTVN - tr 432 )

Thơng em vô giá quá chừng Trèo non quên mệt, ngậm gừng quên cay.

Chim chuyền nhành ớt líu lo

Sầu ai nên nỗi ốm o gầy mòn.

2.2.4 Nhóm động từ chuyển động có hớng

Nhóm động từ chuyển động có hớng là nhóm động từ biểu thị chuyển độngtrong không gian hớng đến một điểm nhất định Nhóm động từ này xuất hiện trong

ca dao trữ tình với tần số 1127lần/ 13811 động từ, chiếm 8,16% Chúng gồm các

động từ: đi, đến, tới, sang qua, về, lại, lên, vào

Đối tợng chủ yếu của ca dao trữ tình là thiên nhiên và con ngời, trong đó conngời là con ngời luôn vận động, chứ không phải là con ngời tĩnh tại Bên cạnh nhữnghoạt động tự thân, hoạt động tác động đến đối tợng khác, thì hoạt động của con ngờicòn là những hoạt động có hớng Đây là những động từ diễn tả hoạt động của nhânvật trữ tình hớng tới một địa điểm nhất định nào đó “Đi” và “về” là hai hoạt độngkhông thể thiếu đợc trong cuộc sống con ngời, do đó trong ca dao trữ tình chúngxuất hiện với tấn số khá nhiều:

Đàn ông đi bể có đôi

Đàn bà sinh đẻ mồ côi một mình.

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:36

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

2.1.1. Bảng phân loại số lợng các tiểu nhóm động từ xuất hiện trong ca  dao trữ tình - Đặc trưng ngữ nghĩa các nhóm động từ trong ca dao trữ tình việt nam
2.1.1. Bảng phân loại số lợng các tiểu nhóm động từ xuất hiện trong ca dao trữ tình (Trang 4)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w