1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao nghệ tĩnh luận văn thạc sỹ ngữ văn

88 1,3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Ngôn Ngữ Thể Hiện Ý Nghĩa Trào Phúng Trong Ca Dao Nghệ Tĩnh
Tác giả Nguyễn Thị Thủy
Người hướng dẫn PGS.TS. Phan Mậu Cảnh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lí Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận văn thạc sĩ ngữ văn
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 555 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạoTrờng đại học vinh

Trang 2

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của luận văn 5

6 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 7

1.1 Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng 7

1.1.1 Khái niệm ca dao 7

1.1.2 Khái niệm trào phúng và ca dao trào phúng 11

1.2 Vài nét về Nghệ Tĩnh và ca dao Nghệ Tĩnh 17

1.2.1 Vài nét về Nghệ Tĩnh 17

1.2.2 Ca dao Nghệ Tĩnh 20

1.3 Tiểu kết chương 1 25

Chương 2: CÁC LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN Ý NGHĨA TRÀO PHÚNG TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH 27

2.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười hài hước, mua vui 27

2.1.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về tình yêu nam nữ 27

2.1.2 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về hôn nhân gia đình 30

2.1.3 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười về thói hư tật xấu của con người 37

2.1.4 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười về những vấn đề xã hội 39

2.2 Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán 41

2.2.1 Lớp từ ngữ biểu thị thái độ châm biếm, phê phán những thói hư tật xấu của con người 41

Trang 3

2.2.2 Lớp từ ngữ châm biếm, đả kích chế độ phong kiến, đế quốc, thực dân

và một số hạng người trong xã hội 49

2.3 Tiểu kết chương 2 56

Chương 3: MỘT SỐ PHƯƠNG THỨC CƠ BẢN BIỂU THỊ Ý NGHĨA TRÀO PHÚNG TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH 57

3.1 Hình thức chơi chữ 57

3.1.1 Dùng từ đồng âm 58

3.1.2 Nói lái 59

3.1.3 Một số thủ pháp chơi chữ khác 62

3.2 Các hình thức so sánh, đối lập 63

3.2.1 Hình thức so sánh 63

3.2.2 Kết cấu tương phản, đối lập 66

3.3 Các hình thức nói ngược, cường điệu, phóng đại 67

3.3.1 Sử dụng lối nói ngược 67

3.3.2 Thủ pháp cường điệu, phóng đại 70

3.4 Thủ pháp ẩn dụ 74

3.5 Sử dụng yếu tố tục 76

3.6 Tiểu kết chương 3 78

KẾT LUẬN 79

TÀI LIỆU THAM KHẢO 81

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Trong kho tàng ca dao Việt Nam, cùng với những bài ca dao vềtình cảm gia đình, về tình yêu quê hương, đất nước, con người thì ca dao tràophúng cũng là một mảng nội dung đặc sắc, thu hút mọi người, mọi thế hệ

Ca dao trào phúng mang tính hiện thực sâu sắc, hơn nữa, nó còn mangtinh thần chiến đấu mạnh mẽ Ca dao trào phúng có thể là tiếng cười hài hướcmua vui hoặc có thể là tiếng cười trào lộng, đả kích, châm biếm… Nhưng nóichung, tất cả đều muốn thể hiện những mơ ước chính đáng của người dân laođộng, mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn, hạnh phúc hơn Trào phúng thực

sự cần thiết cho quần chúng lao động bất kể ở thời điểm nào của lịch sử Bêncạnh những giá trị về nội dung, nghệ thuật tạo dựng trào phúng trong ca daocũng là một đóng góp không nhỏ cho nền văn học dân tộc Nó thực sự là khobáu của người Việt, là vốn nghệ thuật đặc sắc của mọi thời đại

1.2 Nghệ Tĩnh khi là hai châu, hai phủ, hai lộ, hai tỉnh… khi là mộtquận, một châu, một lộ, một thừa tuyên, một trấn, một tỉnh, song người cácđịa phương khác quen gọi vùng đất sông Lam núi Hồng này là xứ Nghệ.Nghệ Tĩnh là một vùng địa lí – hành chính có nhiều điểm khác biệt về địa lí,lịch sử, dân cư, ngôn ngữ, văn hóa Nghệ Tĩnh có một kho tàng thơ ca dângian phong phú, đa dạng gồm nhiều thể loại, có nhiều nét độc đáo trên cả haimặt hình thức và nội dung, trong đó không thể không nhắc đến ca dao tràophúng Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh có nhiều biểu hiện, nhiều sắc thái, mangđậm dấu ấn tính cách người Nghệ

1.3 Thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh nói chung, ca dao trào phúng NghệTĩnh nói riêng đã được một số nhà nghiên cứu quan tâm nghiên cứu trong một

số công trình nhưng hướng nghiên cứu hầu như chỉ tập trung khai thác phầnnội dung mà chưa chú ý đến hình thức thể hiện Bởi vậy, việc nghiên cứu hình

Trang 5

thức ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, các phương thức biểu hiện trong ca daotrào phúng Nghệ Tĩnh, trong đó có ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng đang

là một đòi hỏi bức thiết cần phải được quan tâm nghiên cứu

Từ những lí do trên, chúng tôi chọn Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý

nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh làm đề tài cho luận văn của mình.

2 Lịch sử vấn đề

Ca dao trào phúng Việt Nam đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ởmột số góc độ nhất định

Tác giả Bùi Quang Huy trong Thơ ca trào phúng Việt Nam khẳng định:

Nói đến thơ ca trào phúng Việt Nam, trước hết phải nói tới ca dao, dân ca Không ở đâu tiếng cười lại đa dạng, phong phú, rộn rã như trong sáng tác dân gian… Tiếng cười trong ca dao trào phúng trở nên sâu sắc mạnh mẽ khi vạch trần được những mâu thuẫn mang tính hài của xã hội Khi nhìn nhận ở

góc độ cấu trúc ngôn ngữ, Bùi Quang Huy cho rằng: Ca dao trào phúng đã

thể hiện một trình độ sử dụng ngôn từ hết sức uyển chuyển và hiệu quả.

Trong Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam, tác giả Vũ Ngọc Phan đề cập

đến những bài ca dao có tính chất trào lộng Ông cho rằng, ca dao có nhữngbài cười cợt, chế giễu nhiều việc ở đời, cách cường điệu hóa tạo nên tiếngcười nhẹ nhàng vui vẻ Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan đã dành khá nhiều thờigian bàn về tình cảm, tính cách của người phụ nữ trong xã hội cũ thể hiệntrong ca dao trào phúng Đó là cảnh lẽ mọn, cảnh chồng chung vợ chạ, cảnhlàm lẽ bị áp bức bóc lột hết sức nặng nề

Trong cuốn Tìm hiểu tiến trình văn học dân gian Việt Nam, Cao Huy Đỉnh nhận xét: Cái cười của nhân dân phê phán những cảnh lố lăng, trái

ngược, hư hỏng trong sinh hoạt bình thường của nhân dân, những thói hư tật xấu phải được uốn nắn, tẩy trừ.

Một số nhà nghiên cứu khác trong lịch sử văn học Việt Nam khi phân

tích nghệ thuật trong ca dao đã nhận xét: Ca dao của ta có nhiều hình tượng

Trang 6

tế nhị kín đáo nhưng ca dao của ta cũng có nhiều tiếng cười rộn rã Ở đây, chúng ta gặp lại nghệ thuật ngữ ngôn trong lộng chữ, chơi chữ, trong đối lập hình tượng tự nhiên và không tự nhiên Nhưng các tác giả chưa đặt tiếng cười

trong ca dao trào phúng thành một vấn đề riêng để nghiên cứu

Trong Bình giảng ca dao, tác giả Hoàng Tiến Tựu cho rằng: Trong ca

dao trào phúng có những chuyện hư cấu, bịa đặt để mua vui giải trí nhưng đó

là sự bịa đặt thiên tài với cấu tứ và dựng chuyện không phải ai cũng làm được Trong cuốn Văn học Việt Nam, Hoàng Tiến Tựu đã phân loại ca dao

truyền thống người Việt thành 6 loại, đó là: đồng giao, nghi lễ - phong tục, laođộng, trào phúng bông đùa, ru con và trữ tình Tiếc rằng, tác giả mới chỉ đisâu phân tích bốn loại đồng giao, lao động, ru con và trữ tình, còn ca dao nghi

lễ - phong tục và ca dao trào phúng lại chưa được phân tích Bù lại, trong

Giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (dùng cho hệ Cao đẳng sư phạm), ông

đã có sự khẳng định về ca dao trào phúng với các hình thức nói ngược, trái tựnhiên, hướng vào đối tượng là những thói hư tật xấu trong nội bộ nhân dân,đặc biệt là bộ phận ca dao chống mê tín dị đoan, chống sư sãi và giai cấpthống trị Hoàng Tiến Tựu khẳng định: Ca dao trào phúng là bộ phận ca dao

bộc lộ sự châm biếm, chế giễu của nhân dân đối với những thói hư tật xấu, những hiện tượng đáng cười trong đời sống xã hội Mua vui, giải trí, phê bình, giáo dục, đấu tranh, đả kích là những tác dụng đồng thời cũng là chức năng chung của bộ phận ca dao này

Có thể thấy, ca dao trào phúng đã được các nhà nghiên cứu quan tâmtrong các công trình về văn học dân gian nói chung nhưng hầu như các tác giảđều hướng sự chú ý đến phương diện nội dung, ý nghĩa và chưa chú ý nhiều

đến hình thức thể hiện Luận văn thạc sĩ với đề tài: Đặc điểm ngôn ngữ trong

ca dao trào phúng Việt Nam (2007) của tác giả Nguyễn Thị Thúy Vân có thể

được xem là công trình đầu tiên nghiên cứu về ngôn ngữ biểu hiện trong cadao trào phúng Trong công trình này, tác giả đã tập trung tìm hiểu ngôn ngữ

Trang 7

trong ca dao trào phúng Việt Nam ở hai khía cạnh: các lớp từ ngữ thể hiện ýnghĩa trào phúng và các phương thức biểu thị ý nghĩa trào phúng.

Ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh vừa là một bộ phận của ca dao NghệTĩnh nhưng đồng thời cũng là một bộ phận của ca dao trào phúng Việt Nam.Bởi vậy, nó vừa mang trong mình những đặc điểm của ca dao trào phúng ViệtNam nói chung nhưng đồng thời cũng mang đậm bản sắc của con người xứNghệ thể hiện trên cả phương diện nội dung và hình thức nghệ thuật

Tuy nhiên, cũng như ca dao trào phúng Việt Nam, ca dao trào phúngNghệ Tĩnh mới chỉ được các nhà nghiên cứu quan tâm tập trung khai thácphần nội dung mà chưa chú ý đến hình thức thể hiện Bởi vậy, vấn đề hìnhthức ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh, các phương thức biểu hiện trong ca daotrào phúng Nghệ Tĩnh trong đó có ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng đang

là một vấn đề bỏ ngỏ, chờ đợi sự quan tâm của các nhà nghiên cứu

3 Phạm vi, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Phạm vi nghiên cứu

- Trong luận văn này, chúng tôi tìm hiểu: Đặc điểm ngôn ngữ thể hiện

ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh, khai thác phương diện nội dung

và nghệ thuật tạo dựng cái cười trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh

- Tư liệu ngôn ngữ khảo sát phục vụ cho việc tìm hiểu trên là bộ phận

ca dao trào phúng trong cuốn Kho tàng ca dao xứ Nghệ (tập 1, tập 2) do Ninh

Viết Giao (chủ biên), Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực biên soạn, Nxb Nghệ

Trang 8

khẳng định thêm những biểu hiện phong phú về tâm hồn, tình cảm, tư tưởng,quan niệm của người dân nơi đây.

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Chúng tôi đặt ra cho luận văn phải giải quyết những vấn đề sau đây:

- Thống kê, phân tích và miêu tả các biểu hiện mang ý nghĩa trào phúngqua hệ thống từ ngữ, nội dung phản ánh trong ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh

- Chỉ ra các cách thức biểu thị ý nghĩa trào phúng được sử dụng trong

ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh

4 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng chủ yếu cácphương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau:

- Dùng phương pháp thống kê để tiến hành xác lập và phân loại tư liệunhững bài ca dao Nghệ Tĩnh thể hiện ý nghĩa trào phúng

- Dùng các thủ pháp phân tích, miêu tả để định lượng và định tính cácđặc điểm ngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca dao Nghệ Tĩnh

- Dùng phương pháp so sánh đối chiếu để chỉ ra những nét đặc hữu địaphương Nghệ Tĩnh trong việc tổ chức ngôn từ thể hiện ý nghĩa trào phúng

5 Đóng góp của luận văn

Luận văn đi sâu vào tìm hiểu các đặc điểm ngôn ngữ mang ý nghĩa tràophúng trong ca dao Nghệ Tĩnh một cách tỉ mỉ, có hệ thống theo cách tiếp cậnngôn ngữ - văn hóa học Các lớp từ ngữ cùng các cách thức biểu thị ý nghĩatrào phúng trong ca dao trào phúng của người Nghệ Tĩnh được trình bày trongluận văn là những đóng góp cụ thể về lí thuyết ngôn ngữ trong ca dao ViệtNam nói chung

Những kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn còn có giá trịthực tiễn đối với việc tiếp cận, nghiên cứu, học tập và giảng dạy ca dao tràophúng trong nhà trường phổ thông và đại học

Trang 9

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Tài liệu tham khảo, phần nội dung củaluận văn triển khai trong ba chương:

Chương 1: Những vấn đề lí thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Các lớp từ ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong ca daoNghệ Tĩnh

Chương 3: Một số phương thức cơ bản biểu thị ý nghĩa trào phúngtrong ca dao Nghệ Tĩnh

Trang 10

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ THUYẾT LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Khái niệm ca dao và ca dao trào phúng

1.1.1 Khái niệm ca dao

Trong Lời nói đầu quyển “Sáng tác thơ ca dân gian Nga, Bôgatưriep nhà nghiên cứu văn học Liên Xô, đã nhận định: Ca dao nói riêng và các tác

-phẩm văn học dân gian nói chung thường tồn tại rất lâu, được truyền tụng từ miệng người này sang miệng người khác, thường xuyên được nhiều thế hệ xây dựng, bồi đắp…

Có thể nói, ca dao là những sáng tác văn chương của nhân dân lao động

được phổ biến rộng rãi ở một vùng, nhiều vùng hay trong toàn quốc, được lưutruyền qua nhiều thế hệ, mang những đặc điểm nhất định Nó đã ổn định, bềnvững về phong cách, nghệ thuật cấu trúc ngôn từ và phần lớn là mang nộidung trữ tình Sau đây, chúng tôi xin trình bày một số vấn đề xung quanh thểloại văn học này

- Về thuật ngữ

Bàn về thuật ngữ ca dao, Minh Hiệu cho rằng: Ở nước ta, thuật ngữ

“ca dao” vốn là một từ Hán Việt được dùng rất muộn Có thể muộn đến hàng ngàn năm, so với thời gian đã có những câu ví, câu hát Nhận định của Minh

Hiệu là rất có cơ sở Bởi theo Cao Huy Đỉnh thì: Dân ca và văn truyền miệng

của dân tộc Việt Nam đã ra đời rất sớm, và ở thời đại đồ đồng, chắc nó đã phồn thịnh và phức tạp Trình độ sáng tác và biểu diễn cũng tương đối cao, nghệ sĩ cũng ra đời với ca công và nhạc cụ tinh tế [29,121].

Điều mà Cao Huy Đỉnh và Minh Hiệu nói đều được xác nhận bằngnhững chứng tích cụ thể Lịch sử Việt Nam cho biết: Đời Tần ở Trung Quốc,

trong cuốn Giao Châu kí, Lưu Hán Kỳ đã nói đến chuyện ở nông thôn Giao

Trang 11

Châu thời ấy, trẻ mục đồng cưỡi trâu thổi sáo và hát các bài đồng dao củangười Việt (ở Châu Giao).

Như vậy, có thể thấy, thuật ngữ ca dao không phải bắt nguồn từ truyền

thống văn học dân gian mà do các nhà sưu tầm và soạn sách về thơ ca dângian mượn từ sách Hán Thi và mượn luôn cả cách định nghĩa của họ

- Về thời kỳ xuất hiện của ca dao

So với thần thoại và truyền thuyết, ca dao có một hình thức văn nghệtưởng như mới hơn Nhưng theo các kết quả nghiên cứu thì tục ngữ, ca daocũng xuất hiện cùng thời với thần thoại và truyền thuyết Hành vi ca hát đã có

từ rất sớm, nó xuất hiện trong hoạt động lao động của loài người từ thời cổ sơ

với những câu hò kiểu như dô ta, và được lưu truyền, sửa đổi từ thế hệ này sang thế hệ khác Khi xem xét nội dung của những câu như: Năm cha ba mẹ,

Sinh con rồi mới sinh cha/ Sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông, Con dại cái mang, Con mống sống mang… ta có thể đoán biết được thời điểm xuất hiện

của chúng, đó có thể là vào thời kì tạp giao hay tình trạng chồng chung vợchạ, hoặc tóm tắt quá trình tạp giao từ chế độ mẫu hệ rồi đến phụ hệ

- Về nội dung của ca dao

Nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan khẳng định: Muốn hiểu biết về tình

cảm của con người Việt Nam xem dồi dào, thắm thiết và sâu sắc đến cỡ nào thì không thể nào không nghiên cứu ca dao mà hiểu được Ca dao Việt Nam là những bài tình tứ, là khuôn thước cho lối thơ trữ tình của ta

[67,52] Bởi lẽ, khi tìm hiểu nội dung của ca dao, tác giả đã đi đến kết luận: Nội dung của ca dao chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện cái nội tâm

của tác giả trước ngoại cảnh.

Ca dao là sự thể hiện tình yêu, từ tình yêu đôi lứa đến tình yêu gia đình,quê hương, đất nước, lao động, giai cấp, thiên nhiên…

Trang 12

Anh đi anh nhớ quê nhà Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

Nhớ ai dãi nắng dầm sương Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao

Ca dao còn thể hiện tư tưởng đấu tranh của con người với thiên nhiên,với xã hội… Nhưng có thể nói, nội dung chủ yếu của ca dao chủ yếu là trữtình Tìm hiểu được cái tình trong ca dao, chúng ta sẽ thấy được tính chiếnđấu, tinh thần phản phong, tính nhân đạo chủ nghĩa ẩn chứa trong đó

- Về hình thức nghệ thuật của ca dao

Ca dao thường là những bài ngắn, hai, ba, bốn, sáu hoặc tám câu, âmđiệu lưu loát và phong phú Đặc điểm của ca dao về phần hình thức là vầnvừa sát lại vừa thanh thoát, không gò ép, lại giản dị và tươi tắn, nghe có vẻnhư lời nói thường ngày mà lại nhẹ nhàng, gọn gàng, chải chuốt, miêu tả đượcnhững tình cảm sâu sắc Có thể nói, về mặt tả cảnh, tả tình, không có mộthình thức văn chương nào ăn đứt được hình thức diễn tả của ca dao

Ca dao dùng hình ảnh để nói lên những cái đẹp, những cái tốt nhưngcũng có khi để nói về những cái xấu một cách gián tiếp Nhờ thủ pháp hìnhtượng hóa nên lời ca dao tuy giản dị mà lại rất hàm súc Hai thể thức thườnggặp trong ca dao là thể tỉ và thể hứng

Tỉ là so sánh Trong ca dao, người ta thường mượn một cái khác để ngụ

ý, so sánh hay gửi gắm tâm sự của mình Đây là thủ pháp nghệ thuật chủ yếutrong sự diễn đạt tư tưởng và tình cảm So sánh cũng là một lối cụ thể hóanhững cái trừu tượng, làm cho lời thêm ý nhị, tình tứ và thắm thiết

Hứng là do cảm xúc mà nảy nở tình cảm, có thể là vui cũng có thể là

buồn Ca dao cũng thường dùng thủ pháp này để bộc lộ cảm xúc với ngoạicảnh, mở đầu cho sự biểu lộ tâm tình

- Về quan hệ giữa ca dao và một số thể loại khác

+ Quan hệ giữa ca dao và dân ca

Trang 13

Trong một công trình nghiên cứu nổi tiếng của mình, Vũ Ngọc Phanluôn gắn liền ca dao với dân ca Bởi theo tác giả, ca dao và dân ca tuy hai mà

một: Đứng về mặt văn học mà nhận định, khi chúng ta tước bỏ những tiếng

đệm, những tiếng láy, những câu láy ở một bài dân ca thì chúng ta thấy bài dân ca ấy chẳng khác nào một bài ca dao Có thể nói, ranh giới giữa ca dao

và dân ca không rõ Ca dao của ta có thể ngâm được nguyên câu, còn dùng một bài ca dao để hát thì bài ca dao sẽ biến thành bài dân ca [67,14] Về nội

dung, dân ca cũng như ca dao chủ yếu là trữ tình, tức biểu hiện cái nội tâm

của tác giả trước ngoại cảnh Điểm khác nhau giữa ca dao và dân ca, theo Vũ

Ngọc Phan, có chăng là ở nguồn gốc Xét về nguồn gốc phát sinh thì dân cakhác với ca dao ở chỗ nó được hát lên trong những hoàn cảnh nhất định haynhững địa phương nhất định cho nên dân ca nhiều khi chỉ có dân địa phươngmới biết và mới hát được Dân ca thường mang tính chất địa phương Còn cadao thì ngược lại, dù nội dung của bài ca dao có nói về một địa phương cụ thểnào thì nó vẫn được phổ biến rộng rãi, nhân dân nhiều nơi đều biết và đều cóthể ngâm nga

Nhà nghiên cứu Cao Huy Đỉnh cũng chỉ ra rằng: Những công trình sưu

tập dân ca gần đây như Hát phường vải Nghệ Tĩnh, Dân ca quan họ Bắc Ninh… trước đây đều là ca dao [29,154] Ca dao sinh ra, lan truyền và biến

đổi chủ yếu là thông qua sinh hoạt dân ca Chính vì vậy mà trên phần lớn cadao trữ tình còn in rõ khuôn dấu dân ca

+ Về quan hệ giữa ca dao và văn vần

Các soạn giả Từ điển tiếng Việt phổ thông cho rằng: Ca dao là thơ dân

gian truyền miệng dưới hình thức câu hát và thể loại văn vần thường làm theo thể lục bát, có hình thức giống như ca dao cổ truyền Điều đó chứng tỏ

ca dao có mối quan hệ mật thiết với thơ trữ tình Có sự nhất trí cao giữa các

nhà nghiên cứu khi khẳng định ca dao là lời thơ, là thơ đối đáp, là một thể thơ

dân gian, là thơ dân gian truyền miệng.

Trang 14

1.1.2 Khái niệm trào phúng và ca dao trào phúng

1.1.2.1 Khái niệm trào phúng

Khái niệm trào phúng có liên quan đến khái niệm cái hài trong mĩ

học Cái hài, bên cạnh cái bi, cái đẹp, cái cao cả, là một phạm trù mĩ học

căn bản, xác định giá trị thẩm mĩ thông qua việc phát hiện mâu thuẫn có

ý nghĩa của hiện thực và thông qua thái độ phê phán đối với tính mâuthuẫn ấy, xuất phát từ lí tưởng thẩm mĩ Theo Lại Nguyên Ân, cái hàiđược mĩ học châu Âu tìm hiểu từ rất sớm, từ thời cổ Hi Lạp và thu hút sựchú ý của nhiều học giả Trên tinh thần cơ bản, cái hài được xác định làkết quả của sự tương phản, sự bất đồng, sự mâu thuân; giữa xấu và đẹp(theo Aristote), giữa cái quan trọng giả và cái quan trọng thật (theoHeghel), giữa cái nhỏ nhặt và cái cao cả (Kant), giữa cái nhỏ nhặt, trốngrỗng bên trong và bề ngoài mang tham vọng có nội dung, có ý nghĩa thực(Tchernychevski), giữa cái vô lí và cái hữu lí (Jean Paul)

Theo mĩ học Mac - Lê nin, cái hài thường gắn với tiếng cười Cần phân

biệt cái hài với tiếng cười Cái hài là hiện tượng gây cười chứ không phải làbản thân tiếng cười Trong quan hệ thẩm mĩ, cái hài tồn tại trong tư cách làđối tượng - chủ thể Tiếng cười là kết quả nhận thức về cái hài Vì vậy, cái hài

là một hiện tượng thẩm mĩ tồn tại khách quan, là phương tiện gây cười Cáihài bao gồm cả tiếng cười, nhưng không phải tiếng cười nào cũng là biểu thịcủa cái hài Cái cười chỉ có thể được coi là biểu hiện của cái hài nếu nó bật rakhi người ta khám phá ra những mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, giữanội dung bên trong và hình thức bên ngoài

Cái hài nhìn chung là sự mâu thuẫn giữa các hiện tượng không hoànthiện và kinh nghiệm tích cực của nhân loại, được khắc ghi ở các lí tưởngthẩm mĩ; là sự không tương dung mang ý nghĩa xã hội giữa mục đích vàphương tiện, giữa hình thức và nội dung, giữa hành động và hoàn cảnh, giữabản chất và cách biểu hiện của nó, giữa tham vọng cá nhân và các khả năng

Trang 15

chủ quan của nó Mĩ học Mác - Lê nin quan niệm cái hài là một phạm trù mĩhọc cơ bản vì cái hài là đặc tính vốn có của đời sống thực tại: mọi lúc, mọinơi đều đầy rẫy những yếu tố có thể gây cười Cái hài, vì vậy đã trở thành mộttrong những nguồn cảm hứng góp phần khẳng định trí tuệ con người trong thơ

ca nhạc học

Trào phúng là nghệ thuật phát hiện và thể hiện các yếu tố hài hước,những yếu tố gây cười trong cuộc sống Trào phúng là sản phẩm của phạm trùcái hài Trong đời sống, những biểu hiện cụ thể của phạm trù cái hài là vô tận,

vì vậy, trào phúng sẽ luôn tồn tại, một mặt với tư cách là một biểu hiện, mộtphương pháp của tư duy, một mặt là biện pháp nghệ thuật để phát hiện cácvấn đề của cuộc sống Thao tác chủ yếu để thực hiện hành vi (sáng tác nghệthuật) trào phúng là phát hiện những yếu tố nghịch dị trong cuộc sống đểchâm biếm, đả kích, và nhiều khi chỉ để mua vui

Khái niệm trào phúng được định nghĩa trong từ điển một cách khá ngắn

gọn, đơn giản, và hiện nay trong các từ điển thuật ngữ văn học cũng chưa có

mục từ giải thích khái niệm trào phúng Trong các công trình khoa học, các

chuyên luận nghiên cứu văn học có liên quan đến nghệ thuật trào phúng, một

số tác giả cũng đưa ra nhận định liên quan đến trào phúng nhưng chủ yếu bànđến các hình thức trào phúng chứ chưa đưa ra được một khái niệm rõ ràng vềphạm trù này Có thể tạm hiểu trào phúng là một khái niệm nhằm chỉ hànhđộng phát hiện và thể hiện những yếu tố gây cười, nhằm để mua vui hoặc đểcất tiếng nói phê phán, châm biếm, đấu tranh với những thói hư tật xấu haycác thế lực thù địch của con người

Tóm lại, khái niệm trào phúng là sự khái quát chung cho những tác

phẩm nghệ thuật (không riêng gì văn chương), lấy tiếng cười làm phương tiện

để biểu hiện thái độ gì đó, nhằm vào một đối tượng nhất định Xét về mộtphương diện nào đó, có thể nói trào phúng là cách thể hiện có khả năng đạthiệu quả cao hơn, trực tiếp hơn so với các phương thức khác Năng lực trào

Trang 16

phúng chỉ có thể có ở con người, được thể hiện qua ngôn ngữ và chứng tỏ mộttrình độ phát triển vượt bậc của trí tuệ con người

Ca dao trào phúng là những sáng tác dân gian chứa đựng yếu tố gâycười Cái cười trong ca dao trào phúng mang những cung bậc, những sắc tháitình cảm khác nhau: hoặc hài hước mua vui, phê phán nhẹ nhàng, hoặc châmbiếm đả kích gay gắt, quyết liệt Giữa các cung bậc ấy nhiều khi có sự chuyểnhóa lẫn nhau rất tinh tế, đa dạng

Không giống như những bộ phận văn học khác, ca dao trào phúngthường phơi bày những mâu thuẫn, những mặt trái của đời sống, phơi bàybản chất thực của đối tượng, lột trần những cái xấu xa ngụy trang dưới những

vỏ bọc óng ả Ca dao trào phúng còn là tiếng cười những thói hư tật xấu củangười đời ở đủ mọi tầng lớp, từ một anh làm biếng, một chị chơi nhăng, đến

một Bà già đã tám mươi tư/ Ngồi bên miệng lỗ gửi thư lấy chồng Ca dao trào

phúng được dùng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng những tiêu cực,xấu xa, lỗi thời, độc ác và hướng sự phê phán vào những điều đang tỏ ra lạchậu, cản trở tiến trình phát triển của lịch sử Có thể nói, ca dao trào phúng đãgần như đề cập đến mọi phương diện của đời sống xã hội Có lẽ chưa một lĩnhvực nào, một chủ đề nội dung nào mà tiếng cười trào phúng không len vào

Trang 17

được, cho dù ở đấy là nơi tôn nghiêm nhất, thiêng liêng nhất đối với mỗi

người Bởi vậy, M M Bakhtin đã rất có lí khi khẳng định: Không đếm xỉa

hoặc coi nhẹ tiếng cười dân gian thì sẽ làm méo mó cả bức tranh lịch sử phát triển của nền văn hóa châu Âu về sau này Điều đó đúng cả với văn hóa Việt

Nam nói riêng và văn hóa nhân loại nói chung

Rabơle, một nhà nhân văn chủ nghĩa Pháp có nói: Cười là một đặc tính

của con người Quả thật, nhờ biết cười và đặc biệt là biết gắn cái cười với

nhận thức, trí tuệ mà con người khác biệt hẳn với các loài động vật khác.Không kể đến cái cười do kích thích cơ năng (do bị cù, nhột), con người cókhả năng bật ra tiếng cười do trực tiếp nhìn thấy và nhận thức được nhữnghình ảnh, sự việc đáng cười Con người nhờ có tri năng ngôn ngữ cho nên còn

có thể nhận thức cả cái cười từ những sản phẩm của lời nói và ngôn ngữ đemlại và nhờ những năng lực đặc biệt, con người còn biết tạo ra những sản phẩmngôn ngữ gây cười

Những cái tức cười, những điều đáng cười trong ca dao trào phúng baogồm những yếu tố sau:

- Những sự trái ngược, tương phản, trái logic, oái oăm, trớ trêu của các

sự việc, hiện tượng trong tự nhiên và xã hội có liên quan đến con người

- Những sự méo mó, lệch lạc và những sự nhầm lẫn, chồng chéo vô lítrong các quan hệ, trật tự đã có

- Những biểu hiện của sự khờ khạo, ngây ngô, ngốc nghếch của con người.Các nhà nghiên cứu hiện đại đã phát hiện ra nhiều sắc thái đa dạng vàphong phú của trào phúng trong ca dao ở nhiều phương diện: từ sự truyền đạtnhững chi tiết giống sự thực một cách tự nhiên chủ nghĩa đến cường điệu tộtbực; từ sự mỉa mai nhẹ nhàng đến chế giễu sâu cay, phẫn nộ Tiếng cười đượctạo ra từ sự hóm hỉnh cũng như bằng những giọng điệu độc đáo, bằng sựtương phản giữa những hình tượng, bằng sự nhại lại dáng điệu, hành động Tiếng cười trong ca dao trào phúng khác với tiếng cười trong truyện cười dân

Trang 18

gian hay truyện tiếu lâm ở chỗ nếu như tiếng cười trong truyện cười được tạo

ra chủ yếu từ những sự kiện, những tình tiết hư cấu có tính chất đặc biệt, cábiệt, không có trong đời thực thì ca dao trào phúng nhiều khi không nhất thiếtphải dựa vào hư cấu, phải tạo ra hư cấu Rất nhiều câu, bài chỉ cần nói lên một

sự thật, phản ánh thực tế hiển nhiên, nêu ra nhận xét đơn giản về sự đời là

đã có thể mang ý vị trào phúng Ví dụ:

Chanh chua như mụ hàng khoai

Lẳng lơ như gái xóm Đoài làng bên Thằng mô mà dám đua chen Lấy về làm vợ tao khen có tài.

Đứng về nội dung mà xét thì tiếng cười trong ca dao trào phúng cónhững cấp độ sau đây, xếp theo thứ tự từ thấp đến cao, từ nhẹ đến nặng:

1/ Tiếng cười khôi hài Đây là tiếng cười mua vui giải trí, đem lại sựthư giãn cho con người sau những phút làm việc mệt nhọc Đối tượng củatiếng cười có khi là chung chung, là sự việc hoặc sự vật trong cuộc sống

thường ngày, cũng chẳng phải là ai cả Chẳng hạn: Cưỡi quần bắt kiến cưỡi

chơi/ Trèo cây rau má đánh rơi mất quần Có khi đối tượng là nhân vật đáng

yêu nên cười để trêu đùa: Còn duyên anh cưới ba heo /Hết duyên anh cưới

con mèo cụt đuôi Cũng có khi tự cười mình với mục đích mua vui: Ngồi buồn vuốt bụng thở dài/ Nhớ chồng thì ít, nhớ giai thì nhiều…

2/ Tiếng cười mỉa mai Đối tượng đã có ít nhiều thiếu sót nhưng chưađến mức đáng ghét, hoặc sự việc trớ trêu Đây là tiếng cười có tác dụng thức

tỉnh, giáo dục hoặc yêu cầu cần phải thay đổi Ví dụ: Đầu năm có chiếu vua

ra/ Cấm quần không đáy người ta hãi hùng/ Không đi thì chợ không đông/ Đi thì bóc lột quần chồng sao đang!

3/ Tiếng cười châm biếm Tiếng cười chua cay, hướng vào đối tượng

hoặc sự việc lố bịch, đáng ghét Ví dụ: Chuột chù chê khỉ rằng hôi/ Khỉ mới

trả lời: Cả họ mày thơm!

Trang 19

4/ Tiếng cười chế giễu nhạo báng Tiếng cười này có phần gay gắt,

nhằm phê phán quyết liệt những thói hư tật xấu: Bánh đúc cô nếm nồi ba/

Mía de tráng miệng hết vài trăm cây/ Giã gạo vú chấm đầu chày/ Xay lúa cả ngày được một đấu ba/ Đêm nằm nghĩ ngợi gần xa/ Giở mình một cái gẫy bẩy mươi ba cái thang giường.

5/ Tiếng cười đả kích Đối tượng của tiếng cười này là những thói xấu

xa, thối nát hoặc những kẻ đối lập với nhân dân: Uy chi vua, mạnh chi vua/

Thấy gươm đã khiếp đã thua đã hàng/ Khi vua đến bước cùng đàng/ Vua bỏ ngai vàng vua chạy đàng vua.

Đây là những khái niệm cụ thể, thể hiện mức độ khác nhau củatiếng cười nhưng trong các bài ca dao trào phúng vẫn thường có sự hỗndung, lẫn lộn

Trong văn học trào phúng nói chung và ca dao nói riêng, người tathường sử dụng các hình thức nghệ thuật sau đây:

1/ Nghệ thuật tạo tình huống bất ngờ Tạo tình huống bất ngờ có tácdụng làm cho tiếng cười bùng phát một cách mạnh mẽ, đem lại sự sảng khoái

cho người đọc, người nghe Ví dụ: Đồn rằng quan tướng có danh/ Cưỡi ngựa

một mình chẳng phải vịn ai/ Bạn khen rằng ấy mới tài/ Ban cho chiếc đĩa với hai đồng tiền/ Đánh giặc thì chạy trước tiên/ Chạy vào trận tiền cởi khố giặc ra/ Giặc sợ giặc chạy về nhà/ Chạy về gọi mẹ mổ gà khao quân!

2/ Sử dụng hình thức tương phản Tiếng cười này có tác dụng làm nổibật thực chất giả dối hoặc sự trống rỗng, yếu kém ở bên trong của đối tượng

Ví dụ: Làm trai cho đáng nên trai/ Ăn cơm với vợ lại nài vét niêu.

3/ Hình thức cường điệu Có hai cách cường điệu thường thấy trong ca dao:

a/ Lối nói phóng đại, ví dụ: Cưới em chín chỉnh mật ong/ Mười cót xôi

trắng mười nong xôi vò/ Cưới em tám vạn trâu bò/ Bẩy vạn dê lợn, chín vò rượu tăm/ Lá đa mặt nguyệt đêm rằm/ Răng nanh thằng cuội, râu cằm thiên lôi…, và

Trang 20

b/ Lối nói giảm (khinh từ), ví dụ đối lập với sự khoa trương ở bài ca

dao trên là sự giới thiệu khiêm nhường của một cô gái khác: Cưới em có cánh

con gà/ Có dăm sợi bún có vài hạt xôi/ Cưới em còn nữa anh ơi/ Một đĩa đậu phụ hai môi rau cần.

4/ Nghệ thuật dùng từ Loại từ mà ca dao thường dùng là từ đồng âm

khác nghĩa: Cuốc kêu khắc khoải mùa hè/ Làm thân con gái phải nghe lời

chồng/ Chồng mâm, chồng bát, chồng đĩa, chồng sành/ Chồng ở chẳng lành chồng ra bờ tre Một loại từ khác là từ đa nghĩa, tạo cho người đọc, người

nghe những liên tưởng kì thú: Em đây là gái năm con/ Chồng em rộng lượng

em còn chơi xuân…

Ca dao trào phúng là món ăn tinh thần yêu thích của tất thảy mọi người,bất kể ở giai đoạn nào của lịch sử Có được điều đó là do cái cười trong cadao trào phúng đã làm tròn chức năng nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ của mìnhđối với quần chúng Ca dao trào phúng còn là một thứ vũ khí sắc bén, cho dù

đó là tiếng cười ào ạt hay thâm trầm kín đáo, trực tiếp hay gián tiếp

1.2 Vài nét về Nghệ Tĩnh và ca dao Nghệ Tĩnh

1.2.1 Vài nét về Nghệ Tĩnh

Nghệ Tĩnh là một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộckhu vực phía Nam nhà nước Văn Lang Qua bao nhiêu thăng trầm biến đổi,xét theo chiều dài lịch sử, địa danh Nghệ Tĩnh trải qua nhiều biến cố, nhiềucách gọi tên lúc phân lúc hợp nhưng gắn bó làm một: là Hoan Diễn (xưa) và

là Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ ngày nay)

Trong lời nói đầu cuốn Về văn học dân gian xứ Nghệ (2004), tác giả

Ninh Viết Giao đã nhận định:… Từ xưa đến nay dù duyên cách hành chính

địa lí có thay đổi, địa vực có khi rộng khi hẹp, khi mang tên này, khi mang tên khác, nhưng nó vẫn là một dải đất chạy dài từ khe Nước Lạnh đến Đèo Ngang với gần 300km bờ biển, với vùng đồng bằng trung du rộng lớn, với

Trang 21

miền núi mênh mông giàu sản vật… gắn bó hữu cơ với nhau với tất cả các mặt: địa lí, lịch sử, kinh tế, văn hóa, phong tục, ngôn ngữ… mà sông Lam núi Hồng là biểu trưng cho tinh thần gan góc, hiên ngang, tinh thần hiếu học, trọng đạo lí làm người của những con người yêu nước, yêu quê hương, xây dựng đất nước Chính họ từ bao đời nay đã sáng tạo nên một gia tài văn hóa hữu thể và vô thể, phong phú, đa dạng giàu sức sống, mang rõ sắc thái văn hóa Xứ Nghệ trong bản sắc văn hóa chung của các dân tộc Việt Nam [36, 7].

Nghệ Tĩnh đất cổ nước non nhà gắn liền với sự sinh trưởng, thăng

trầm, phế hưng của tổ quốc ta từ khi nước ta có tên là nước Văn Lang Tạiđây, lịch sử đã đi qua các thời kì đồ đá cũ, đồ đá giữa, đồ đá mới, đồ đồng, đồsắt, rồi Ngô, Đinh, Tiền Lê, Lí, Trần, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn Quang Trung,Nguyễn Gia Long và bây giờ là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Nghệ Tĩnh, vùng đất cuối cùng của lãnh thổ Việt Nam từ thế kỉ XI vềtrước đang bảo lưu nhiều dấu vệt của văn hóa bản địa, lại là nơi ảnh hưởnggiao thoa của hai luồng văn hóa Ấn Độ từ Nam lên, Trung Quốc từ Bắcxuống Đèo Ngang là nơi giáp lưu của các dân tộc thuộc ngữ hệ [Môn –Khơmer tràn lên và của các dân tộc thuộc ngữ hệ Hán – Tạng hay Tạng –Miến chuyển xuống]

Nghệ Tĩnh – một trong những địa bàn cư trú của người Việt cổ thuộckhu vực phía Nam nước Văn Lang – Âu Lạc xưa Xa hơn, vùng đất NghệTĩnh là Việt Thường thời cổ Mười tám đời vua Hùng dựng nước còn để lạidấu tích trên mảnh đất này Tại đây, trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứunước oanh liệt vừa là tiền tuyến, vừa là hậu phương, đã bao phen, xứ Nghệ lànơi quân đi quân về, quân qua quân lại trong các cuộc hành quân bảo vệ bờcõi Nên mảnh đất này, chỗ nào cũng khắc ghi các kì tích chống ngoại xâm,chống các thế lực đen tối khác

Trang 22

Xét theo chiều dài lịch sử, địa danh Nghệ Tĩnh trải qua nhiều biến cố,nhiều cách gọi tên, lúc phân lúc hợp nhưng vẫn gắn kết: là Hoan Diễn (xưa)

và là Nghệ Tĩnh (xứ Nghệ ngày nay) Sự gắn bó thành một chỉnh thể địa lí –hành chính phản ánh một sự thống nhất bên trong về mọi mặt: lịch sử, kinh tế,văn hóa, phong tục, tính cách con người, đặc biệt là văn hóa, ngôn ngữ, tạothành “tính chất Nghệ”, “khí phách Nghệ”, “tâm hồn Nghệ” Theo Phan HuyChú, Nghệ Tĩnh là nơi: “núi cao sông sâu, phong tục trọng hậu, cảnh tượng

tươi sáng, gọi là đất danh tiếng hơn cả Nam Châu” (Lịch triều hiến chương

loại chí, Nxb Sử học, tập 1, 1960) Quả thật, Nghệ Tĩnh không thiếu những

cảnh đẹp đẽ, bao la, hùng tráng và hữu tình với Đường vô xứ Nghệ quanh

quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ Chính cái quanh quanh, non xanh nước biếc ấy là ngọn nguồn của kho tàng thơ ca dân gian xứ Nghệ Còn

nữa, so với các địa phương khác, tiếng nói Nghệ Tĩnh có nhiều nét đặc hữuđịa phương, có giọng điệu riêng – giọng Nghệ Vì phương ngữ Nghệ Tĩnhhình thành với các bộ phận dân cư Nghệ Tĩnh trong tiến trình lịch sử cho nêntiếng nói vùng này có những nét khác biệt rất dễ nhận thấy Tác giả Nguyễn

Xuân Đức trong bài viết Tiếng Nghệ trong ngôn ngữ văn hóa dân tộc nhận xét: Người Nghệ nói như rìu chém đá, như rạ (dao rựa) chém đất Tiếng Nghệ

trọ trẹ dân Bắc nghe không ra, đến mức có cô giáo Nghệ chuyển ra Hà Nội dạy học phải học nói tiếng Bắc như học ngoại ngữ [30,51]

Tiếng Nghệ trong nhiều trường hợp có khả năng biểu đạt cao hơn cảviệc dùng từ toàn dân, chẳng hạn so sánh hai bài ca dao:

Vợ chồng như đôi chim câu

Chồng thì đi trước, vợ gật đầu theo sau (Ca dao người Việt).

Với:

Vợ chồng như đôi cu cu

Chồng thì đi trước, vợ gật gù theo sau (Ca dao Nghệ Tĩnh)

Trang 23

Rõ ràng, với việc dùng từ địa phương cu cu để gieo vần với gật gù, bài

ca dao Nghệ Tĩnh có giá trị biểu đạt cao hơn hẳn Phương ngữ Nghệ Tĩnhcũng góp phần rất đắc lực vào việc tạo ra tiếng cười trong ca dao trào phúng

Ví dụ:

Gió mát trăng lu (mờ)

Có anh hai vợ lưa (còn) khu (đít) với sườn

Hay:

Làm thì van ốm van đau

Thấy o (cô) nào đẹp - "gấy tau (vợ tao) bay (chúng mày) tề (kìa)!"

Phương ngữ Nghệ Tĩnh có ảnh hưởng vô cùng to lớn trong các lĩnh vựcđời sống xã hội trên khu vực địa phương, đặc biệt là văn hóa dân gian địaphương Kho tàng ca dao xứ Nghệ trong đó có ca dao trào phúng Nghệ Tĩnh

về cơ bản được hình thành từ phương ngữ Nghệ Tĩnh Xứ Nghệ là nơi có mộtgia tài văn hóa, văn nghệ dân gian hoàn chỉnh và vô cùng phong phú Nómang một sắc thái Nghệ trong bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam

1.2.2 Ca dao Nghệ Tĩnh

1.2.2.1 Các thể thơ dân gian Nghệ Tĩnh

Xứ Nghệ là vùng đất địa linh nhân kiệt, có một gia tài văn hóa, văn nghệ dân gian vô cùng phong phú và đặc sắc Trong lời nói đầu cuốn Về văn

hóa xứ Nghệ, tác giả Ninh Viết Giao nhận xét: Hình như trên đất nước ta có loại hình văn hóa gì, phạm vi đề tài ra sao, nội dung phản ánh những vấn đề

gì với mức độ ra sao, bề rộng bề sâu của nó, thì văn hóa, văn nghệ dân gian

ở xứ Nghệ cũng có đầy đủ các loại hình, với bấy nhiêu đề tài, nội dung và mức độ phản ánh như vậy Hơn nữa, nó sẽ mang một sắc thái riêng - sắc thái

xứ Nghệ - trong tổng thể bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam [36, 9].

Đó chính là tính hoàn chỉnh của văn nghệ dân gian xứ Nghệ Đối chiếuvới các thể loại trữ tình trong kho tàng văn học dân gian người Việt, Nghệ

Trang 24

Tĩnh cũng có đủ các thể loại thơ ca dân gian như thể hò, thể ví, thể giặm, hát

ru, hát sắc bùa, hát thờ cúng dân gian, hát ca trù, hát xẩm, hát đồng dao và cadao Theo các nhà nghiên cứu dân gian xứ Nghệ, trong các thể loại trên, thể

hò, thể ví, thể giặm là những thể loại gốc, ra đời, phát sinh và phát triển trênđất Nghệ Tĩnh, còn các thể loại khác thuộc họ lai, không chỉ tồn tại ở địa bànNghệ Tĩnh mà còn thịnh hành ở nhiều địa phương khác nhau trong cả nước Ởđây, chúng tôi chỉ giới thiệu ba thể loại thơ ca dân gian tiêu biểu của NghệTĩnh là hát giặm, hát ví và ca dao Thể hát giặm là một loại dân ca lao độngphát triển thành dân ca sinh hoạt trữ tình Hát giặm thịnh hành ở các huyện

Đô Lương, Yên Thành, Diễn Châu ở Nghệ An; Can Lộc, Thạch Hà, CẩmXuyên, Kì Anh ở Hà Tĩnh Khác với hát giặm Hà Nam vốn là những bài catụng thần được biểu diễn trong dịp tế lễ đầu xuân, hát giặm Nghệ Tĩnh chủyếu là những vấn đề hay sự việc phản ánh những nét sinh hoạt vật chất và tinhthần của những người lao động Nghệ Tĩnh cuối thời phong kiến trung cổ vàthời cận đại Hát giặm Nghệ Tĩnh diễn ra quanh năm, không quy định thờigian cụ thể Hát giặm Nghệ Tĩnh có hát dặm vè và hát giặm nam nữ

Hát ví có nhiều kiểu như ví phường cấy, ví phường gặt, ví nhổ mạ, ví

đò đưa, ví phường buôn, ví phường củi, ví phường vải…, trong đó ví phườngvải là đặc sắc hơn cả Hát ví phường vải, theo tác giả Ninh Viết Giao là loạihát ví đặc biệt nhất trong gia tài dân ca của vùng Nghệ Tĩnh Cũng như cácloại dân ca khác, hát ví phường vải là một hình thức văn nghệ tự túc củangười Nghệ Tĩnh Nếu như ở Thanh Hóa có hát trống quân, hò sông mã, ở HàBắc có hát quan họ… thì ở Nghệ Tĩnh có hát giặm, hát ví Hát ví Nghệ Tĩnhtrước khi trở thành những lời hát giao duyên giữa đôi bên nam nữ vốn lànhững lời dân ca lao động gắn liền với nghề nghiệp của các hội, phường nhấtđịnh Nội dung cơ bản của hát ví mang đậm chất trữ tình, song nó khác vớicác loại dân ca khác ở chỗ có sự tham gia của các nhà nho, các thầy đồ Vìthế, quy cách trong khi hát, hình thức hát, quá trình hát có phần phức tạp Có

Trang 25

thể nói, tục hát phường vải phổ biến nhất, có nề nếp và quy cách nhất là ởNam Đàn Sở dĩ, ở Nam Đàn phổ biến hát phường vải là vì ở đây dân đôngnhưng ruộng đồng lại ít Cho nên, họ luôn luôn phải tự lực sáng tạo ra nhữnghình thức văn nghệ riêng để đáp ứng những nhu cầu tình cảm chính đáng củamình Chẳng hạn, đây là một lời phường vải than vãn của bên nam:

Vì ai cho mõ xa đình

Hạc xa hương án cho mình xa ta

Vì ai cho bướm nguôi hoa

Cho tằm nguôi kén, cho ta nguôi mình

Vì một lí do nào đó mà họ không đến được với nhau, họ đau khổ vàoán trách tất cả Cũng có khi những tình cảm ấy dạt dào, nhuần nhị trong từngchữ, từng lời của những câu hát chung nhưng mang những tình ý thực, chấtphác, lành mạnh, say sưa Chẳng hạn:

Một niềm kết tóc xe tơ

Một niềm chỉ đợi chỉ chờ mà thôi

Hát phường vải là loại hát ví rất đặc biệt ở vùng Nghệ Tĩnh Chúng tacần biết được cụ thể diễn biến của những cuộc hát phường vải như thế nàomới thấy rõ tính chất đặc biệt của nó Thông thường, một cuộc hát phường vảiphải trải qua ba chặng Chặng thứ nhất gồm hát dạo, hát chào mừng và háthỏi Chặng này chưa phải là quan trọng nhất Nội dung các câu hát chưa thực

sự phong phú và sâu sắc Chặng thứ hai gồm hát đố, hát đối để trai gái thử tríthông minh của nhau, kiểm tra vốn kiến thức giữa phe nam và phe nữ Đây làchặng hát quan trọng nhất bởi phường vải là nơi gặp gỡ của trai thanh gáilịch Chặng thứ ba gồm hát mời, hát xe kết, hay còn gọi là hát tình nghĩa, vàhát tiễn là những câu hát lúc ra về Nam nữ thổ lộ tình cảm chủ yếu ở chặngnày Những câu hát ở chặng thứ ba có giá trị nội dung và nghệ thuật cao Trênđây, chúng tôi tóm tắt thủ tục hát phường vải

Trang 26

Ca dao là những sáng tác văn chương của nhân dân lao động, được phổbiến rộng rãi trong một vùng, ở nhiều vùng hay trong toàn quốc Ca dao NghệTĩnh là sáng tác dân gian của người Nghệ Tĩnh Trong phạm vi nghiên cứucủa luận văn, chúng tôi chỉ chọn thể loại ca dao làm đối tượng khảo sát Vì cadao là thể loại mang tính ổn định cao, có số lượng lời thơ lớn, ít vay mượnphần lời của thể loại khác; dùng nhiều phương thức ngôn ngữ để biểu thị ýnghĩa trào phúng.

1.2.2.2 Ca dao Nghệ Tĩnh

Ca dao Nghệ Tĩnh là dòng sữa mẹ, là tiếng lòng cha, là chiếc nôi ấm

áp, là chiếc võng đu đưa giãi bày bao nỗi niềm u ẩn, những tâm sự buồn vui,những nỗi niềm được - mất của người Nghệ Tĩnh trong cuộc sống bình dị Cáitinh thần chung của ca dao Nghệ Tĩnh là ham sống, vui vẻ đấu tranh, lạc quantin tưởng vào nghị lực và trí tuệ của mình Điều nhận thấy rõ nhất trong cadao Nghệ Tĩnh là giàu tình, giàu nghĩa, giàu tâm tư, giàu số phận của baomảnh đời cay đắng Qua ca dao, chúng ta nhận ra tinh thần thẳng thắn, quảquyết, nghị lực bền bỉ, lòng tự tin vô hạn, tâm hồn rộng mở của người NghệTĩnh Chẳng hạn:

- Trèo truông những ước truông cao

Đã đi đò dọc lại ước ao sông dài

- Cả gan vác cuốc lên rừng

Đào cho trúc núi xin đừng hại (hãy) ai

- Sông sâu sào ngắn chơi vơi

Cả gan anh chống những nơi thác ghềnh

- Chim hồng muôn vạn dặm bay

Sao tao không cánh như mày chim ơi…

Qua ca dao, tính cách con người Nghệ Tĩnh không hoàn toàn chỉ có thế,đương nhiên, họ còn rất hăng hái trong đấu tranh, rất giản dị trong đời sống,rất tiết kiệm trong tiêu dùng Họ quen nhìn thẳng vào những khó khăn, mọi

Trang 27

hiểm nghèo trong đấu tranh, trong cuộc sống đầy bất trắc, cũng từ đó họ hìnhthành những nét tính cách như rắn rỏi, gân guốc đến mức khô khan Dĩ nhiên,tình cảm của họ như tràn ra rồi đọng lại, có khi gân guốc khô khan nhưngcũng có khi phơi phới lâng lâng đối với cảnh vật quê hương Chẳng hạn:

Non Hồng ai đắp mà cao

Sông Lam ai bới ao đào mà sâu

Cũng có khi lại là những lời than thân trách phận của những người phụ

nữ Trong ca dao Nghệ Tĩnh, ta thấy cuộc đời của bao phụ nữ, phần lớn lànhững rủi ro tan vỡ, những hồi hộp lo âu, là đau khổ và nước mắt, nhữngkhinh bỉ dập vùi Chẳng hạn:

Thân em như thể cây bèo

Khi ra giữa rộc (ruộng sâu) khi trèo cồn cao

Vì ai em phải lao đao

Cho tóc em rụng má đào em phai.

Bao nhiêu là rủi ro bất trắc, xã hội đã không còn chỗ dựa cho thânphận, cho quyền sống, cho hạnh phúc của họ nên họ buộc phải quay về vớigia đình Chính vì thế, khi xa gia đình, họ buồn và cô đơn vô cùng

Đêm nằm lấy áo làm chăn

Sáng ra lấy áo làm khăn đội đầu

Đi tìm chẳng thấy chàng đâu

Như chim mất tổ như dâu mắt giằm

Rõ ràng, tình yêu của trai gái xứ Nghệ thật là mãnh liệt như một núi lửađầy hơi Nó âm ỉ, nung nấu, sôi sục trong lòng, song ngoài mặt vẫn điềm tĩnh,trầm lặng, cái trầm lặng của mặt hồ trong những ngày lặng gió nhưng đáy hồvẫn vô vàn sóng ngầm Phải là những con người nghĩ nhiều, cảm nhiều, hànhđộng nhiều mới có cái trầm lặng như vậy

Thương em rọt (ruột) cắt làm ba

Máu rơi từng giọt, thương đà nên thương

Trang 28

Về mặt hình thức nghệ thuật của ca dao Nghệ Tĩnh, nhiều người chorằng, nếu so với ca dao Bắc Bộ, ca dao Nghệ Tĩnh không được mượt mà baybướm Nhìn chung thì có lẽ thế Điều đó hoàn toàn dễ hiểu Cuộc vật lộnthường xuyên chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, cái đói nghèo luôn luôn

có mặt trong từng gia đình, những thất vọng chua xót luôn luôn rình rập, mộtgiọng nói trọ trẹ trầm nặng… tất cả thấp thoáng trong ca dao Nghệ Tĩnh Chonên, xét giá trị nghệ thuật ở đây không nên căn cứ vào sự mềm mại uyểnchuyển, những trau chuốt đẽo gọt tu từ mà chú ý đến tình ý của người NghệTĩnh khi họ phô bày:

Duyên kia đương trúc trắc

Phận kia đương trục trặc

Bởi vì tại cành mai

Sương sa giọt ngắn giọt dài

Hai đứa ta kháp (gặp) mặt nhau hoài mà nỏ (không) cảm thương

Những bài ca dao ấy, ngôn ngữ giản dị mà tươi rói như đất mới cày, áonâu non mới mặc, chứa đầy nhựa sống, chân chất ý vị tươi xanh của cuộc đờilao động và chiến đấu Cách dùng chữ cùng với những hình ảnh giản dị thânmật, âm điệu quen thuộc tạo cho ca dao Nghệ Tĩnh một phong vị cổ truyềnbền vững, ăn sâu vào đời sống quần chúng và đồng hành với nhiều thế hệ

Trang 29

Nghệ Tĩnh có một kho tàng ca dao hết sức đặc sắc Ca dao Nghệ Tĩnhcũng có một bộ phận ca dao trào phúng hết sức độc đáo Nghệ thuật phát hiện

và thể hiện các yếu tố hài hước, gây cười như một phương pháp tư duy củangười lao động Nghệ Tĩnh Trong ca dao Nghệ Tĩnh, cái hài trở thành nguồncảm hứng, thể hiện sâu sắc tâm hồn, trí tuệ của vùng văn hóa núi Hồng sôngLam Ở các chương tiếp sau, chúng tôi tập trung làm sáng tỏ một số đặc điểmngôn ngữ thể hiện ý nghĩa trào phúng trong kho tàng ca dao Nghệ Tĩnh

Trang 30

Chương 2 CÁC LỚP TỪ NGỮ THỂ HIỆN Ý NGHĨA TRÀO PHÚNG

TRONG CA DAO NGHỆ TĨNH

2.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười hài hước, mua vui

2.1.1 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về tình yêu nam nữ

Người Nghệ Tĩnh có một thứ của để dành đó là phương ngữ Nghệ

Tĩnh Theo nhiều nhà ngôn ngữ học, phương ngữ Nghệ Tĩnh bảo lưu được rấtnhiều yếu tố cổ của tiếng Việt giai đoạn khá xa xưa, cách nay hơn năm trămnăm Cách phát âm, dùng từ của người Nghệ Tĩnh trầm nặng, trọ trẹ nhưngcách nghĩ, cách cảm lại rất tinh tế, hóm hỉnh Trong cuộc sống, người laođộng Nghệ Tĩnh đã nhìn thấy vai trò số một của nghệ thuật hài hước nhằmgiải tỏa nỗi vất vả mệt nhọc sau một ngày lao động hay làm vơi bớt những lotoan bộn bề do cuộc sống triền miên trong thiếu ăn thiếu mặc Họ rất có ýthức sử dụng ngôn ngữ địa phương để tạo dựng cái cười, qua đó thể hiện bảnlĩnh, ý chí quyết tâm vượt qua mọi trở ngại khó khăn, chủ động trước mọi tìnhhuống Khảo sát các bài ca dao Nghệ Tĩnh chúng tôi nhận thấy việc thể hiệntính cách tình cảm của con người xứ Nghệ rõ nét và đầy đủ hơn cả là bộ phận

ca dao nói về tình yêu trai gái Mọi phương diện cũng như mức độ của tìnhyêu lứa đôi đều được thể hiện qua tiếng cười trào phúng Đây là tâm trạng và

ý chí quyết tâm của trai gái Nghệ Tĩnh khi đã chạm đến tình yêu

(1) Cha mẹ dù có chặt chân chặt tay

Khoét mắt khoét mày cũng trốn theo anh

Trong bài ca dao này, người Nghệ Tĩnh sử dụng cách nói thậm xưnghết sức tự nhiên, không hề có biểu hiện trang sức theo kiểu tu từ Ba động từ

toàn dân chặt, khoét, trốn, trong đó, chặt, khoét được lặp lại, mà chặt thì chặt

chân chặt tay, còn khoét thì khoét mắt khoét mày, nghĩa là làm cho cơ thể tàn

tạ không còn hình dạng người, không ra người Nhưng khi đã yêu thì họ vẫn

Trang 31

cần nhau, vẫn muốn sống bên nhau Cái oái oăm là ở chỗ chân tay bị chặtrồi, mắt bị khoét không nhìn thấy nữa, thế mà, người con gái vẫn quyết

tâm trốn để đi theo tiếng gọi tình yêu Qua cách dùng các cụm động từ

chặt chân, chặt tay, khoét mắt, khoét mày, trốn theo anh, một nét tính

cách Nghệ được thể hiện, đó là cực đoan đến liều lĩnh, bảo thủ đến gànbướng Bài ca dao làm người đọc bật lên tiếng cười nhưng là tiếng cườingậm ngùi chia sẻ, cảm thông Dĩ nhiên, không phải trai gái Nghệ Tĩnh,trong tình huống nào cũng có quyết tâm cao như vậy Cũng tùy theo từnghoàn cảnh, gia cảnh cụ thể, trai gái yêu nhau có khi phải chấp nhận tìnhthế cũng vào loại oái oăm Chẳng hạn:

(2) Đôi ta thương chắc

Chú bác trục trặc Cha mẹ không "ì"

Giống như tru không chạc mụi biết "tắc rì" đàng mô

Từ ngữ trong bài ca dao này có nhiều từ địa phương Người Nghệ Tĩnhnghĩ sao nói vậy, có gì dùng nấy, không màu mè, không vay mượn cầu kì

Người Nghệ không nói thương nhau mà nói thương chắc, không nói ừ (đồng ý) mà là ì, không nói trâu mà là tru, không dùng dây thừng mà là chạc mụi, không nói đường nào mà là đàng mô Lại còn các từ trục trặc, tắc rì dùng để diễn đạt theo cách của Nghệ Tĩnh rất hóm hỉnh và sâu sắc Tắc rì là từ dùng

để điều khiển trâu (bò) khi cày bừa đi theo hướng người điều khiển: tắc là sang phía bên phải một tí, còn rì là sang phía bên trái một tí Còn tắc rì trong

bài ca dao là không xác định được phương hướng, mất phương hướng Khitình yêu của trai gái không được bố mẹ, chú bác đồng ý thì sẽ bế tắc, mấtphương hướng Dùng từ địa phương, dùng cách diễn đạt địa phương, bài cadao giãi bày nỗi niềm của chàng trai đang yêu nhưng tình yêu bị cha mẹ, anh

em của cô gái cản trở Ở đây, chàng trai không hề trách móc cha mẹ, chú bác

cô gái mà chỉ bày tỏ khó khăn của mình trong tình yêu Bởi vì, việc hôn nhân

Trang 32

là do cha mẹ định đoạt Cách diễn đạt bằng việc so sánh tru không chạc mụi

biết tắc rì đàng mô (trâu không có dây thừng để dắt thì không điều khiển

đươc) cũng tạo nên tiếng cười nhưng là tiếng cười cảm thông, chia sẻ trước sự

bị động của chàng trai trong tình yêu

Trước đây, trong tình yêu và hôn nhân có nạn tảo hôn, có chế độ đa thênên có nhiều cảnh ngộ cười ra nước mắt, nhiều tình huống khó xử Trong cadao Nghệ Tĩnh có nhiều bài trào phúng về cảnh chị cả chị hai, vợ cả vợ lẽ.Nhiều cô gái không cam phận làm lẽ, nhưng nhiều trường hợp vẫn phải chấpnhận cảnh chồng chung Bài ca dao sau đây là một tình huống gây cười vềtình yêu và hôn nhân trước đây:

(3) - Thương anh em cũng muốn thương

Sợ rằng chị cả đón đường đập em

- Quý hồ em có lòng thương Chị cả rọc rạch anh đập tan xương nấu dầu.

Bài ca dao là một cuộc thoại giữa người con trai và người con gái.Tình huống mà cô gái nêu ra là cảnh đánh ghen của người phụ nữ đã có

chồng: chị cả đón đường đập em Có hai từ địa phương được tác giả dân gian

sử dụng đúng chỗ, phát huy hiệu quả thẩm mĩ: đập (đánh), rọc rạch Rọc rạch

là từ láy phương ngữ Nghệ Tĩnh, không có từ toàn dân tương ứng Về ý

nghĩa, từ rọc rạch gần nghĩa với từ ho he trong ngôn ngữ toàn dân nghĩa là có

ý định chống lại nhưng từ Nghệ Tĩnh có sắc thái nhấn mạnh, mức độ cao hơn.

Ở bài ca dao này, tiếng cười được bật lên ở cách sử dụng từ địa phương và ở

cách nói phóng đại anh đập tan xương nấu dầu của người con trai Để làm

cho người con gái yên lòng, chàng trai thể hiện bản lĩnh làm chủ của mìnhqua cách nói phóng đại Tiếng cười trào phúng ở đây không nhằm để phêphán chỉ trích mà để đùa vui, mua vui về hôn nhân gia đình

Tương tự, cô gái trong bài ca dao sau đây lại không yên lòng vì lo cha

mẹ chàng trai không chấp nhận mình

Trang 33

(4) Thương anh sao chẳng muốn thương

Sợ lòng thầy mẹ như rương khóa rồi

- Khóa rồi thì mặc khóa rồi

Ta rèn khóa khác kết đôi vợ chồng

Từ ngữ trong bài ca dao trên toàn là từ toàn dân nhưng cách diễn đạt lạimang màu sắc Nghệ Tĩnh Người Nghệ thích nói có hình ảnh, cụ thể Cách tổ

chức so sánh lòng thầy mẹ như rương khóa rồi thật độc đáo để chỉ nỗi lo của

cô gái; cô gái lo cha mẹ của chàng trai dứt khoát không chấp nhận tình yêu

của họ Ở đây, tiếng cười vui vẻ bật ra từ cách nói của chàng trai ta rèn khóa

khác để mở rương

2.1.2 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười mua vui về hôn nhân gia đình

Một trong những đề tài để tác giả dân gian Nghệ Tĩnh tạo ra tiếngcười một cách vô tư, thoải mái là khai thác các khuyết tật, những điểmchưa hoàn thiện trên cơ thể người chồng hoặc người vợ Tiếng cười ở đâykhông hoàn toàn ác ý, châm chọc, nhiếc móc khiêu khích nhau mà chủyếu là tạo dựng niềm vui Người ta có thể tìm được sự đồng cảm, tiếngnói chung giữa người cười và kẻ bị cười Có khi, chính bản thân người bịcười cũng hưởng ứng làm cho tiếng cười thêm rôm rả Vì tiếng cười hoàntoàn vô hại, cười để cho cuộc sống thêm vui Sau đây là một số tìnhhuống gây cười trong ca dao Nghệ Tĩnh

a Quan hệ vợ chồng

- Say sưa mê đắm

(5) Cơm chiên ăn với cá mè

Vợ chồng ôm ấp ngáy khè cả đêm

Cá mè ăn với cơm chiên

Vợ chồng ôm ấp cả đêm ngáy khè

Cá mè cơm chiên là món ngon của người lao động Vợ chồng như cá

mè cơm chiên nghĩa là hợp đôi đầm ấm nhưng ngáy khè cả đêm và cả đêm

Trang 34

ngáy khè thì hơi quá, hưởng thụ nhiều quá Cách láy lại cụm từ ngáy khè cả đêm có đảo trật tự từ làm bật lên tiếng cười châm biếm nhưng nhẹ nhàng Ngủ

mà ngáy khè là một thói xấu, lại là vợ chồng trẻ thì thật đáng chê trách.

- Chồng trẻ - vợ già

Chế độ phong kiến lạc hậu khiến nam nữ không được quyền tự do hônnhân, tự do lựa chọn hạnh phúc mà phần lớn đều chịu sự sắp đặt của ngườikhác Bởi vậy, trong xã hội cũ, tình trạng vợ chồng chênh lệch nhận thức,hình thức, tuổi tác… là rất phổ biến Đã có rất nhiều tình huống dở khóc dởcười xẩy ra trong những gia đình có hoàn cảnh như thế Ca dao trào phúngNghệ Tĩnh có rất nhiều bài nói về cảnh chồng trẻ, vợ già hoặc chồng già vợtrẻ, về sự chênh lệch hình thức, nhận thức giữa họ cùng với những tình huống

bi hài, cười ra nước mắt mà họ gặp phải Chẳng hạn:

(6) Anh đi làm rể ba mùa

Trở về lại lấy vợ thừa người ta Khi đem về nhà vợ già hơn mẹ Trông lên mặt mẹ, mẹ trẻ vợ già Sinh chút con ra mặc anh nhai mớm Không nhai thì gớm, không mớm thì thương Việc làng việc đương không thể nhường cho vợ

Ra đường ra chợ bạn hỏi đó là ai?

- Anh ơi: ờ ờ này

Người nớ là bà con tôi đó!

Bài ca dao trên như một vở kịch có lớp lang, có xung đột, có cách giảiquyết bật ra tiếng cười Do tình thế vợ già hơn mẹ nên chàng trai phải chọn

cách nói lấp lửng và nói dối Vợ mình mà giới thiệu với người khác là Người

nớ là bà con tôi đó thì thật bi hài Nổi khổ của chàng trai ở đây là nỗi khổ

chồng lên nỗi khổ: lấy phải vợ thừa người ta, đã thế, vợ lại còn già hơn mẹ

Trang 35

đến nỗi ra đường bạn hỏi, ấp úng mãi cuối cùng đành nói dối là người bà conthì quả thực vừa đáng cười, vừa đáng thương cho anh chàng kia

Phổ biến nhất có lẽ là tình trạng chồng già vợ trẻ Xã hội phong kiếncho phép đàn ông năm thê bảy thiếp Bởi vậy, không hiếm kẻ có tiền, cóquyền dùng tiền, dùng quyền để cưới thêm vợ Người con gái trong xã hội cũchỉ biết cha mẹ đặt đâu thì ngồi đấy cho nên mặc dù không muốn nhưng cũngđành nhắm mắt đưa chân về làm vợ, thậm chí làm lẽ những kẻ đáng tuổi cha,ông mình Sự chênh lệch quá xa về tuổi tác như vậy đã được phản ánh trongmột loạt bài ca dao trào phúng về tình trạng chồng già vợ trẻ:

(7) Bàn tay năm ngón rõ ràng

Thiếp hai mươi tuổi lấy chàng sáu mươi

Đi ra chúng bạn chê cuời Tóc trơn má phấn lấy người ba con Lạy trời, lạy nước, lạy non

Đem thân làm mọn kẻ ba con cực lòng

(8) Con gái mà lấy ông già

Ra đường bạn hỏi "là cha hay chồng?"

Về nhà ôm lấy bì bông Sướng hơn ôm chồng da thịt nhăn nheo

Con gái mà lấy ông già

Kêu "chồng" cũng dở, kêu "cha" chúng bạn cười

(9) Vô duyên lấy phải chồng già

Kêu chồng cũng lỡ, kêu cha bạn cười Một niềm kêu cố mà thôi

Tắt đèn cố bảo: Nhai tôi miếng trầu

Trang 36

Em trao cho cố miếng trầu

Em vừa ngoảnh lại thấy hàm râu cố chìa

Em lui ra cố lại chìa vào Cực lòng em lắm biết sao cho đành

Vậy nên, không ít cô ước ao thoát khỏi cuộc sống bế tắc, vô nghĩa đó

để sống một cuộc sống đúng nghĩa, để được hưởng hạnh phúc đích thực.Những suy nghĩ, mơ ước rất thật thà của cô gái lấy phải ông chồng già trongbài ca dao sau đây khiến người nghe không khỏi bật cười:

(10) Phận hẩm hiu lấy phải chồng già

Khấn trời cho cụ chóng qua cõi đời

Để tang qua quýt mà thôi Giai tơ em lấy một người phải duyên Lời cầu thấu tới hoàng thiên

Giảm thọ cho cụ cụ lên chầu trời Gái kia khóc đứng khóc ngồi Cóc bấm bụng cười răng nghiến két ke

Cảnh chồng chung nhiều lúc cũng gặp phải những tình huống cực kìoái oăm và rất buồn cười:

(11) Canh năm chợp mắt lơ mơ

Chồng vừa vào rờ gà gáy rạng đông Năm canh nỏ bén hơi chồng

Vì con mụ cả khổ không hỡi trời Cái cảnh chồng cực lắm chị em ơi!

Không chỉ người phụ nữ chịu thiệt thòi mà đến ngay những ông chồnglắm vợ cũng rơi vào cảnh ngộ rất buồn cười:

(12) Gió mát trăng lu

Có anh hai vợ lưa khu với sườn

Trang 37

Hai vợ nên lưa khu với sườn, nghĩa là chỉ còn bộ xương Lưa tương đương với còn trong từ toàn dân; khu, sườn là những bộ phận của cơ thể,

những từ này miêu tả rõ nét dáng vẻ tiều tụy của anh hai vợ, cũng làm bật lêntiếng cười ngậm ngùi Có trường hợp tình cảnh của những người con trai lấynhiều vợ là tự làm khó mình, đáng chê trách Chẳng hạn:

(13) Giường lèo mà trải chiếu mây

Những người hai vợ như gây (gai) quào mình

Trong bài ca dao trên, hình ảnh gây quào mình để nói về những người

lấy nhiều vợ là tự làm khó mình, tự mình gây nên đau đớn cho mình Dùng

biện pháp so sánh Những người hai vợ như gây quào mình nhằm tạo nên tiếng cười phê phán cảnh ngộ tham thì thâm.

b Quan hệ trong gia đình

- Mẹ chồng - nàng dâu

Không ít bài ca dao Nghệ Tĩnh than vãn cảnh mẹ chồng nàng dâu.

Trong xã hội cũ, đây là kiểu quan hệ vô cùng phức tạp và nhiều nước mắt.Nhiều mẹ chồng cay nghiệt hành hạ nàng dâu, bắt khoan bắt nhặt Dĩ nhiên,cũng không ít nàng dâu không làm tròn bổn phận nên gánh lấy hậu quả từ mẹchồng Thực tế cho thấy, quan hệ giữa mẹ chồng nàng dâu, trong nhiều tìnhhuống cười ra nước mắt Chẳng hạn:

(14) Con mèo mà trèo cây táo

Mụ gia lếu láo đập đánh nàng dâu

- Bà ơi đừng đánh tôi đau

Để tôi múc nước têm trầu bà xơi

Mụ gia lếu láo nghĩa là mẹ chồng hay gây sự, khó tính đối với con dâu.

Cách xử sự của cô con dâu trong bài ca dao trên rất đúng mực, muốn cảm hóa

mẹ chồng Cách nói ở đây có phần sòng phẳng: xưng hô bà, tôi: Bà ơi đừng

đánh tôi đau/ Để tôi múc nước têm trầu bà xơi nhưng thái độ rất mềm mỏng.

Cách hiệp vần trong bài ca dao cũng khác thường: dùng vần trắc táo/ láo, hiệp

Trang 38

vần lưng ở tiếng thứ tư cũng nhằm thể hiệm một thái độ thẳng thắn, dứt khoátcủa nàng dâu

Có nhiều trường hợp, tiếng cười pha chút ngậm ngùi, chịu đựng Chẳng hạn:

(15) Đói lòng ăn một quả sung

Trông thấy mẹ chồng thì nuốt chẳng trôi

Bởi vậy, nhiều cô gái thận trọng cân nhắc trong tình yêu và trong quyếtđịnh hôn nhân Chẳng hạn:

(16) Lấy chồng phải chọn mụ gia

Mụ hiền thì lấy, mụ ngoa thì đừng

Hoặc tỏ thái độ gay gắt hơn:

(17) Hỏi ai xay lúa ì ầm

Cho tôi thúng trấu tôi hầm mụ gia

Hay:

(18) Thương chồng phải khóc mụ gia

Ngẫm: tôi với mụ có bà con chi

Từ mụ gia trong tiếng Nghệ Tĩnh tương đương với từ mẹ chồng trong tiếng Việt toàn dân Dùng từ mụ gia, tác giả dân gian muốn tạo nên tiếng cười

châm chọc, có ý đả kích những thói xấu của những bà mẹ chồng

c Quan hệ cha mẹ - con cái

Tiếng cười là một biểu hiện của thái độ đối với thực tại, dùng nó để cảitạo cuộc sống, mong muốn làm cho cuộc sống tốt đẹp hơn Người Nghệ Tĩnhdùng tiếng cười để giải quyết nhiều mối quan hệ, trong đó có quan hệ giữacha mẹ và con cái Có những bài ca dao kể chuyện trai gái yêu nhau khôngthành bởi người mẹ của hai bên quá đáng, hay gây sự Chẳng hạn:

(19) Mẹ anh như mẹ người ta

Thì anh đã có cửa nhà từ lâu

- Mẹ em như thể con trâu Gặp đâu báng đó em lâu có chồng

Trang 39

Bài ca dao là lời thoại của hai nhân vật nam và nữ Họ nói với nhau

theo kiểu ăn miếng trả miếng đốp chát Người mẹ mà như con trâu gặp đâu

báng đó thì quả là táo tợn Trong tiếng Nghệ Tĩnh, trâu húc thì nói là trâu báng; dùng cách nói này để gây cười nhưng là tiếng cười phê phán

Cũng có khi, tiếng cười hướng về người mẹ vụng về không biết lo toan

cho con cái, theo kiểu Mẹ già khéo dụ thì con sớm chồng.

(20) Mẹ em vụng liệu vụng lo

Em ba mươi tuổi chưa cho lấy chồng

Có trường hợp, tiếng cười bật lên từ bài toán khó xử của người con khiphải lo cưới dì hai, dì ba cho cha Sự bế tắc của con trước sự ham muốn củacha thật là tội nghiệp Tiếng cười ở đây có sự cảm thông sâu sắc đối với cảnhngộ của những người con Hàng loạt câu hỏi cứ ám ảnh người đọc:

(21) Tiền mô mua lúa mua khoai

Tiền mô đi hỏi dì hai cha mồ Tiền mô mua gạo mua ngô Tiền mô mà dạm dì đồ cho cha?

Những người con riêng của vợ cũng gặp phải những cảnh huống cười

ra nước mắt Nhiều người dượng thèm muốn cả con riêng của vợ, bày đặtmưu mô, dùng lời ngon ngọt để đưa các con riêng của vợ vào bẫy Chẳng hạn:

(22) Đừng đi lang chạ mà hư

Ở đây với dượng cũng như có chồng Chưa chồng dượng kiếm chồng cho Chưa con dượng kiếm con cho mà bồng

Hay:

(23) Cháu ơi đừng lấy chồng đi

Ở đây với dượng cũng như lấy chồng Tối tối dượng thắp đèn lồng

Dượng quây mùng lại dượng bồng cháu lên

Trang 40

Trong gia đình, còn có quan hệ chị dâu với em chồng Những ông chú

mụ o nhọn mồm gây bao cảnh khóc cười trong các gia đình Nghệ Tĩnh Trong

tiếng Nghệ Tĩnh, ông chú là em trai chồng, còn mụ o là em gái chồng, hai

nhân vật này gây bao sóng gió cho những người con dâu

(24) Em chồng ở với chị dâu

Coi chừng chúng nó giết nhau có ngày

(25) Một trăm ông chú không lo

Lo vì một nỗi mụ o nhọn mồm

2.1.3 Lớp từ ngữ biểu thị tiếng cười về thói hư tật xấu của con người

Trong cuộc sống, nhiều khi giữa vẻ bên ngoài với cái bên trong, giữahình thức và nội dung không ăn khớp nhau nhưng người ta cứ tỏ ra bìnhthường Có người cố tình che đậy những thứ mất vệ sinh bằng một cái mẽ bênngoài hào nhoáng Để phê phán lối sống giả dối này, người lao động Nghệ

Tĩnh dùng biện pháp đối giữa các cụm từ: bên ngoài/ bên trong, lụa là/ ghẻ

chốc, tiêm la để tạo ra tiếng cười châm biếm những kẻ chẳng ra gì nhưng cố

che dấu bằng cái mẽ bên ngoài bóng bẩy Chẳng hạn:

(26) Bên ngoài ăn mặc lụa là

Bên trong ghẻ chốc tiêm la tám tầng

Có khi tiếng cười chỉ nhằm vào những hạn chế của người chồng Người

vợ trong bài ca dao sau đây chê chồng vô tích sự, cần phải đem ra phơi nắng

để trở nên nhanh nhẹn hoạt bát Người lao động Nghệ Tĩnh dùng ẩn dụ chồng

em ướt lắm là cười cái anh chồng mà không ra chồng:

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:26

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2001), Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Hội nhà văn, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2001
2. Hà Thị Vân Anh (1999), Bước đầu tìm hiểu về phép ẩn dụ trong ca dao Việt Nam, Khóa luận tốt nghiệp đại học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bước đầu tìm hiểu về phép ẩn dụ trong ca daoViệt Nam
Tác giả: Hà Thị Vân Anh
Năm: 1999
3. Nguyễn Chung Anh (1958), Hát ví Nghệ Tĩnh, Nxb Văn sử địa, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát ví Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Chung Anh
Nhà XB: Nxb Văn sử địa
Năm: 1958
4. Nguyễn Nhã Bản (1993), Bàn thêm về hình thức của Hát giặm Nghệ Tĩnh, Văn hóa dân gian, số 1, 41- 44 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn thêm về hình thức của Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Năm: 1993
5. Nguyễn Nhã Bản, Phan Thị Vẽ (1997), Chơi chữ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, Ngôn ngữ, số 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chơi chữ trong thơ ca dân gianNghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Phan Thị Vẽ
Năm: 1997
6. Nguyễn Nhã Bản (chủ biên) (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hóa thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1999
7. Nguyễn Nhã bản (chủ biên) (2001), Bản sắc văn hóa của người Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hóa của người NghệTĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã bản (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2001
8. Nguyễn Thị Thanh Bình (1998), Ngôn ngữ giao tiếp trong các cuộc nói chuyện giữa ba thế hệ ông bà - cha mẹ - con cháu, Tạp chí Văn học, số 6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ giao tiếp trong các cuộc nóichuyện giữa ba thế hệ ông bà - cha mẹ - con cháu
Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Bình
Năm: 1998
9. Trần Đức Các (1980), Về mối liên hệ giữa các thể loại văn học dân gian, Tạp chí Văn học, số 1, 48 - 51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về mối liên hệ giữa các thể loại văn học dân gian
Tác giả: Trần Đức Các
Năm: 1980
10. Nguyễn Phan Cảnh (2001), Ngôn ngữ thơ, Nxb Văn hóa thông tin, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 2001
11. Ngô Văn Cảnh (2002), Con đường tiếp xúc giữa thơ ca dân gian và văn chương bác học trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, Ngữ học trẻ, 592 - 595 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con đường tiếp xúc giữa thơ ca dân gian và vănchương bác học trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ngô Văn Cảnh
Năm: 2002
12. Nguyễn Phương Châm (1998), Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ở xứ Nghệ và xứ Bắc, Văn hóa dân gian, số 3, 9 - 21 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự khác nhau giữa ca dao người Việt ởxứ Nghệ và xứ Bắc
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 1998
13. Nguyễn Phương Châm (1998), Tính chất bác học trong ca dao xứ Nghệ, Văn hóa dân gian, số 3, 46 - 54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính chất bác học trong ca dao xứ Nghệ
Tác giả: Nguyễn Phương Châm
Năm: 1998
14. Đỗ Hữu Châu (1986), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Đại học và Trung học chuyên nghiệp, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Đại học vàTrung học chuyên nghiệp
Năm: 1986
15. Đỗ Hữu Châu (2000), Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ, Ngôn ngữ, số 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu văn hóa qua ngôn ngữ
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Năm: 2000
16. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập 1, quyển thượng, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1963
17. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập 2, Viện sử học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao
Năm: 1963
18. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập 1, quyển hạ, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1963
19. Nguyễn Văn Chiến (1991), Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộc trong tiếng Việt, Ngôn ngữ, số 2, 53-57 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sắc thái địa phương của các danh từ thân tộctrong tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1991
20. Trương Chính, Phong Châu (1993), Tiếng cười dân gian Việt Nam, Nxb Khoa học xã hội, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng cười dân gian Việt Nam
Tác giả: Trương Chính, Phong Châu
Nhà XB: NxbKhoa học xã hội
Năm: 1993

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w