BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINHHOÀNG THỊ QUỲNH CHÂU NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG VÀ THỬ NGHIỆM TRỊ BỆNH SÁN LÁ SONG CHỦ Prosochis acanthuri KÝ SINH TRONG RUỘT VÀ DẠ DÀY
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
HOÀNG THỊ QUỲNH CHÂU
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG
VÀ THỬ NGHIỆM TRỊ BỆNH SÁN LÁ SONG CHỦ
Prosochis acanthuri KÝ SINH TRONG RUỘT
VÀ DẠ DÀY CÁ GIÒ (Rhachycentron canadum)
ƯƠNG TRONG AO NƯỚC LỢ
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
KỸ SƯ NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
VINH - 2011
Trang 2SGR Tốc độ tăng trưởng riêng
TTQGGHSMB Trung tâm Quốc gia Giống
Hải sản miền Bắc
DANH MỤC BẢNG
Trang 3Bảng 3.7 Tỷ lệ nhiễm SLSC Proschis acanthuri sau khi dùng
Bảng 3.8 Cường độ nhiễm SLSC Proschis acanthuri sau khi dùng thuốc. 35
DANH MỤC HÌNH
Trang 4TT Tên hình Trang
Hình 3.1 Mẫu SLSC Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột và dạ
Hình 3.2 Tỷ lệ nhiễm SLSC Proschis acanthuri trong đợt ương I 27 Hình 3.3 Tỷ lệ nhiễm SLSC Proschis acanthuri trong đợt ương II 27 Hình 3.4 Cường độ nhiễm SLSC Proschis acanthuri trong đợt ương I 28 Hình 3.5 Cường độ nhiễm SLSC Proschis acanthuri trong đợt ương II 28 Hình 3.6 Ảnh hưởng của việc phòng SLSC đến sinh trưởng về chiều dài cá trong thời gian thí nghiệm (đợt I) 30 Hình 3.7 Ảnh hưởng của việc phòng SLSC đến sinh trưởng về khối lượng cá trong thời gian thí nghiệm (đợt I) 30 Hình 3.8 Ảnh hưởng của việc phòng SLSC đến sinh trưởng về chiều dài cá trong thời gian thí nghiệm (đợt II) 31 Hình 3.9 Ảnh hưởng của việc phòng SLSC đến sinh trưởng khối lượng cá trong thời gian thí nghiệm (đợt II) 31
Hình 3.11 Tỷ lệ nhiễm SLSC Proschis acanthuri sau khi trị bằng Praziquantel 36
Trang 5Hình 3.12 Cường độ nhiễm SLSC Proschis acanthuri sau khi trị bằng Praziquantel 36 Hình 3.13 Tỷ lệ sống của cá Giò sau khi trị bằng Praziquantel 37 Hình 3.14 Tỷ lệ nhiễm SLSC Proschis acanthuri sau khi trị Niclosamid 37 Hình 3.15 Cường độ nhiễm SLSC Proschis acanthuri sau khi trị bằng Niclosamid 38 Hình 3.16 Tỷ lệ sống của cá Giò sau khi trị bằng Niclosamid 38
Trang 6MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Đặc điểm sinh học của cá Giò 3
1.1.1 Hệ thống phân loại 3
1.1.2 Phân bố địa lý và nơi cư trú 3
1.1.3 Đặc điểm hình thái 4
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng 5
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng 6
1.1.6 Đặc điểm sinh sản 7
1.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Giò 8
1.2.1 Trên thế giới 8
1.2.2 Ở Việt Nam 8
1.3 Tình hình nghiên cứu về ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng trên cá Giò 10
1.3.1 Trên thế giới 10
1.3.2 Tại Việt Nam 11
1.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, vòng đời SLSC 13
1.3.1 Một số đặc điểm sinh học SLSC 13
1.3.2 Chu kỳ phát triển sán lá song chủ 13
1.3.3 Phòng trị bệnh do sán lá song chủ gây ra 15
Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Đối tượng 16
2.2 Vật liệu nghiên cứu 16
2.2.1 Vật liêu bố trí thí nghiệm 16
Dụng cụ xác định kích thước cá 17
Dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường 17
2.2.2 Vật liệu nghiên cứu ký sinh trùng 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu 17
2.3.1 Sơ đồ khối nghiên cứu 17
Trang 72.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 19
2.3.3 Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng 21
2.3.4 Phương pháp thu thập số liệu 21
2.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 22
2.4 Thời gian, địa điểm nghiên cứu 22
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Kết quả phòng bệnh sán lá song chủ ký sinh trên cá Giò ương trong ao nước lợ 23
3.1.1 Kết quả định loại sán lá song chủ ký sinh trên cá Giò giống 23
3.1.2 Các giải pháp kỹ thuật phòng bệnh sán lá song chủ Prosochis acanthuri 24
3.1.3 Mức độ nhiễm sán lá song chủ Proschis acanthuri trong ruột và dạ dày cá Giò 25
3.2 Kết quả trị sán lá song chủ Proschis acanthuri ký sinh trong ruột, dạ dày cá Giò giống 33
3.2.1 Sự biến động của một số yếu tố môi trường trong quá trình thí nghiệm .33
3.2.2 Kết quả trị sán lá song chủ Proschis acanthuri 34
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT 40
TÀI LIỆU THAM KHẢO 42
Trang 8MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cá Giò (Rachycentron canadum) là loài cá biển có giá trị kinh tế cao, phân
bố rộng ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên toàn thế giới (Vaught, S.R andE.L Nakamura, 1989) Với ưu việt sinh trưởng nhanh; thịt trắng, thơm ngon, cóhàm lượng acid không no EPA và DHA cao hơn nhiều so với các đối tượngnuôi biển khác (Chen and L.C.Liao, 2000); có khả năng sản xuất giống nhântạo đã đưa cá Giò thành đối tượng được nhiều nước lựa chọn; đặc biệt với khảnăng chống chịu tốt với điều kiện sóng gió, chúng là đối tượng tiềm năng cho
phát triển nuôi biển trong lồng xa bờ (Nguyễn Quang Huy, Tình hình sinh sản
và nuôi cá Giò).
Việt Nam là một trong những nước đi đầu khu vực Đông Nam Á, Nam Á
về nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi cá Giò Các nghiên cứu vềcông nghệ sản xuất giống cá Giò đã được Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản Itiến hành trong nhiều năm, đến nay tỷ lệ sống từ giai đoạn cá bột đến cá giốngđạt 8-10%, tuy nhiên kết quả chưa ổn định Ấu trùng cá Giò thường chết nhiều
ở giai đoạn 10 – 35 ngày tuổi [3] Trên thế giới có khoảng 95% cá nuôi lồng bè
và 80% cá nuôi ao bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh [14] Có nhiều nguyên nhânđược xác định và bệnh dịch là nguyên nhân chính ảnh hưởng tới kết quả ươngnuôi, trong đó thường gặp và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là bệnh ký sinhtrùng Ký sinh trùng có thể ký sinh ở tất cả các giai đoạn phát triển của cá, làmcho cá gầy yếu, chậm lớn, kém phẩm chất; chúng còn là tác nhân mở đường,tạo điều kiện cho các tác nhân cơ hội khác như nấm, vi khuẩn ký sinh; có khigây thành dịch bệnh làm cho cá chết hàng loạt, đặc biệt nguy hiểm đối với giaiđoạn cá hương và cá giống Ngoài ra ký sinh trùng còn có thể còn tiếp tục ảnhhưởng tới những cá thể sống sót, ảnh hưởng rất lớn khi chuyển nuôi thươngphẩm [12]
Trang 9Hiện nay, mặc dù chưa có công bố về an toàn vệ sinh thực phẩm khi cáthịt nhiễm sán lá song chủ, nhưng các doanh nghiệp nuôi cá thịt xuất khẩu lớntại Việt Nam như Marinfarm (Nauy), An Hải (Nga) đều không chấp nhận cágiống nhiễm các loại ký sinh trùng, nhất là sán lá song chủ Theo kinh nghiệmcủa họ, khi cá Giò giống bị nhiễm sán lá song chủ, tỷ sống chỉ đạt khoảng 50%;
cá nuôi sẽ chậm lớn, sau 1 năm nuôi cá chỉ đạt 1- 3kg/con [28]; trong khi với cábình thường đạt 6 – 8kg/con Có thể thấy, cá giống bị nhiễm sán lá song chủ làmột thảm hoạ với nghề sản xuất giống cũng như nuôi thương phẩm cá Giò
Cá Giò ngày càng được nuôi phổ biến ở nước ta và được xác định là đốitượng tiềm năng trong tương lai Vì vậy, duy trì và nâng cao chất lượng của đàngiống cá Giò là việc làm có ý nghĩa khoa học cũng như thực tiễn rất cao và cầnthiết Công cụ quan trọng đảm bảo cho quá trình triển khai chọn giống đượcthuận lợi, góp phần ổn định quy trình sản xuất, chính là việc xây dựng các giảipháp phòng trị bệnh hữu hiệu trong giai đoạn ương nuôi cá giống
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu về bệnh cá Giò còn rất hạn chế, đặc biệt làbệnh sán lá song chủ ký nội ký sinh ở giai đoạn cá giống; chưa có một quy trìnhphòng trị bệnh chính thức nào được đưa ra Xuất phát từ yêu cầu thực tế trên,
tôi đã chọn và thực hiện đề tài “Nghiên cứu một số giải pháp phòng và thử
nghiệm trị bệnh sán lá song chủ Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột và
dạ dày cá Giò (Rachycentron canadum) ương trong ao nước lợ”.
2 Mục tiêu của đề tài
Đề tài nhằm đưa ra một số giải pháp phòng và trị sán lá song chủ Prosochis
acanthuri ký sinh trong ruột, dạ dày cá Giò giống; góp phần hoàn thiện quy trình
ương cá Giò giống trong ao nước lợ
3 Nội dung nghiên cứu
- Thử nghiệm một số biện pháp kỹ thuật để phòng bệnh sán lá song chủ
Prosochis acanthuri trên cá Giò giống ương trong ao nước lợ
- Thử nghiệm trị sán lá song chủ Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột, dạ
dày cá Giò giống
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU1.1 Đặc điểm sinh học của cá Giò
Loài: R canadum (Linnaeus, 1766)
Tên Việt Nam: Cá Giò, cá Bớp biển
Tên tiếng Anh: Cobia, Black King fish, Crabeater
Cá Giò ban đầu được Linnaeus (năm 1766) đặt tên là Gasterosteus canadus Sau đó, nó được đặt lại là Rachycentron canadum (Linnaeus, 1766) Ngoài ra cá Giò còn có các tên gọi khác như Apolectus niger Bloch 1793, Centronotus
spinosus Mitchill 1815, Rachycentron typus Kaup 1826, Rachycentron canadus
Jordan and Evermann 1896, và Rachycentron pondicerrianum Jordan 1905 [38].
1.1.2 Phân bố địa lý và nơi cư trú
Trên thế giới cá Giò phân bố rộng rãi, chủ yếu là vùng nước ấm miền nhiệtđới, cận nhiệt đới như Nova Scotia (Canada), nam Argentina, biển Caribe, nam vịnhCheseake (Mỹ), vịnh Mexico, phía nam Florida và các bãi đá ngầm của Florida ; ởphía đông của Ấn Độ Dương, cá Giò phân bố từ Marok đến Nam Phi và Ấn Độ Ởphía tây Thái Bình Dương, cá Giò phân bố từ Đông Phi và Nhật Bản đến Australia.Không thấy chúng xuất hiện ở đông Thái Bình Dương [38]
Trang 11Hình 1.1 Bản đồ phân bố của cá Giò trên thế giới [38].
Cá Giò là loài cá biển nổi, chúng được tìm thấy trên phần mềm lục địa xanhcũng như xung quanh các rạn đá ngoài khơi vùng nhiệt đới và vùng nước ấm, đôikhi chúng còn được tìm thấy ở vùng gần bờ như vịnh, cửa sông và rừng ngập mặnven bờ Chúng là loài di cư, vì thế số lượng của chúng khác nhau theo mùa Nhiệt
độ thích hợp cho cá Giò là từ 20 – 30 oC [40] Cá Giò có thể sống ở nhiều dạng
môi trường đáy khác nhau như cát, bùn, sỏi, hoặc sống quanh các rạn san hô xa
bờ và những nơi có sự chia cắt dòng chảy của nước [38]
Ở Việt Nam, cá phân bố cả vùng nước ven bờ và xa bờ từ Bắc vào Nam
1.1.3 Đặc điểm hình thái
Cá Giò là loài cá có kích thước lớn, cơ thể thon dài có hình quả ngư lôi vớiđầu dẹp và rộng Mắt cá nhỏ, miệng rộng Hàm dưới nhô dài hơn hàm trên, răngdạng lông nhung phân đều ở cả hai hàm, lưỡi và vòm miệng Da mịn với nhữngvảy rất nhỏ Đặc điểm đặc trưng nhất là vây lưng thứ nhất có 6 – 9 tia cứng ngắn
và khoẻ, tách riêng và không có màng liên kết Vây lưng thứ hai dài, với phầntrước nhô lên, có màng liên kết giữa các tia mềm Vây ngực nhọn dài Vây hậumôn tương tự vây lưng thứ hai nhưng ngăn hơn Vây đuôi cá con tròn và cụt,khi trưởng thành lõm vào hình trăng khuyết, thuỳ trên dài hơn thuỳ dưới
Trang 12Cơ thể có màu sắc lưng và hai bên sườn có màu nâu đậm Dọc thân có haidải sáng bạc hẹp chạy dài từ mắt đến cuống đuôi, bao phía trên và dưới hai dảinày là các dải màu xám xanh, ở cá con các các dải xám xanh này rất rõ và trở nên
mờ ở cá trưởng thành Phía dưới bụng có màu trắng sữa hoặc vàng nhạt Hầu hếtcác vây có màu nâu đậm và màu xám tro ở vây hậu môn
Hình 1.2 Cá Giò (Rachycentron canadum)
1.1.4 Đặc điểm dinh dưỡng
Cá Giò là loài cá dữ, phàm ăn, chúng có thể ăn thịt đồng loại Ngoài tự nhiên,thức ăn chính của cá Giò là giáp xác, chân đầu và những loài cá nhỏ như cá Đối,Lươn, Vược, cá Chó, cá Trích và một số loài động vật khác sống ở biển (Darracott,1997), trong đó ưa thích nhất là nhóm cua bơi, vì thế cá Giò còn có tên là “kẻ ănthịt cua” (Crabeater) Khi nghiên cứu thành phần thức ăn trong dạ dày cá Giò thìthấy 42% là Callinectes, 46% là tôm (Ralldall, 1983) Chúng thường dìm con mồicủa chúng xuống sâu khi bắt mồi [1]
Cá Giò hoạt động suốt ngày đêm, chúng thường tập trung thành đàn từ 3 – 100con, bơi lội ở vùng nước có đáy là cát pha lẫn vỏ sò, vùng rạn san hô và quanh cácvật thể trôi nổi ngoài đại dương đế săn mồi Khi nhiệt độ xuống thấp chúng thườngbắt mồi kém [36]
Cá bột mới nở có giọt dầu nằm ở phần sau của noãn hoàng Chất sắc tố phân
bố trên toàn bộ cơ thể Khi không sục khí ấu trùng nằm dưới nước, bụng ngửa lên
Trang 13Ấu trùng bắt mồi thụ động khi được 3 ngày tuổi, thức ăn khi ấy chỉ là Rotifer vàNauplius của Copepoda Năm ngày tuổi, miệng và mắt cá phát triển cho phép chúng
tự bắt mồi Ở ngày thứ 6, ấu trùng ăn Copepoda trưởng thành Ấu trùng cá Giò nhìnchung có sức sống cao và khả năng chống chịu tốt hơn ấu trùng các loài cá biểnkhác Tuy nhiên, tính ăn ở giai đoạn ấu trùng và ấu niên của cá Giò được biết đếnrất ít [6]
1.1.5 Đặc điểm sinh trưởng
Cá Giò có tốc độ sinh trưởng khá nhanh, thông thường trứng mới đẻ có kíchthước 1,33 mm; khoảng 31 giờ sau sẽ nở Ấu trùng cá lớn nhanh, 12 giờ sau khi
nở đạt 4mm Ấu trùng 3 ngày tuổi có thể dài tới 5,1mm Năm ngày tuổi phát triểnmiệng và mắt, có thể tự bắt mồi; cá có một đường sọc vàng kéo dài theo thân Cábắt đầu biến thái ở ngày thứ 10 – 11, màu của ấu trùng thay đổi dần từ đỏ sangnâu tối đến màu đen, với những vân lưng thay đổi đến màu xanh tối; vây cá bắtđầu có màu và sọc thân xuất hiện; thời gian biến thái ngắn, chỉ kéo dài 1 ngày, sau
đó chúng có xu hướng nằm ở dưới đáy bể Sau 30 ngày, cá có hình dạng trônggiống như cá trưởng thành với hai đường sọc chạy từ đầu đến phần cuối của thân[6]
Hình 1.3 A Cá Giò hậu ấu trùng.
B Cá Giò giống
(Nguồn : Courtesy NOAA Technical Report NMFS 82)
Cá Giò lớn rất nhanh và có độ tuổi thọ vừa phải Cỡ giống 30g (sau 70 - 78ngày) có thể đạt 6 -8 kg sau 1 năm nuôi lồng biển Kích cỡ trung bình của cá là23kg Chiều dài của chúng có thể đạt 50 -120cm, kích thước tối đa là 200cm Tuynhiên, tuổi thọ của cá tương đối ngắn, cá đực có thể sống tối đa từ 9 – 13 năm, cácái từ 11 – 14 năm.[38]
Trang 141.1.6 Đặc điểm sinh sản
- Tuổi và kích thước sinh sản: Cá Giò sau 1,5 – 2,0 năm tuổi đạt khối lượng
khoảng 10 kg có thể tham gia sinh sản lần đầu [24] Ở Đài Loan, cá Giò 1 tuổi đãsẵn sàng thành thục và có thể sinh sản tốt ở 1,5 tuổi [6]
- Mùa sinh sản : Tuỳ theo vùng đia lý mà mùa sinh sản của cá Giò có sự khác
nhau Ở phía bắc Đài Loan, mùa sinh sản bắt đầu từ tháng 2 đến tháng 5, sau đó kéodài đến tháng 10 [6] Ở tây bắc Đại Tây Dương, từ tháng 6 đến tháng 8; vịnhMexico kéo dài từ tháng 4 đến tháng 9 Nhiệt độ thích hợp cho cá sinh sản là 24 –
Tập tính sinh sản: Cá Giò thường tụ tập thành đàn lớn khi đẻ trứng Mỗi
lần đẻ kéo dài khoảng 9 – 12 ngày và chúng đẻ khoảng 15 – 20 lần trong mộtmùa Chúng thường đẻ trứng ở ngoài khơi vào ban ngày, trứng và tinh trùng đượcphóng thích ra môi trường nước, khi đẻ thì sắc tố của cơ thể chuyển từ màu nâusang màu sáng hơn [1]
- Trứng và sự phát triển phôi: Trứng cá Giò có hình cầu, đường kính trứng
trung bình là 1,33 mm; 31 giờ sau khi thụ tinh thì ấu trùng nở [31], nhiệt độ thíchhợp cho quá trình này khoảng 250C hoặc có thể cao hơn; độ mặn dao động 34 –35‰ Ấu trùng mới nở có chiều dài 3,5 mm và chưa có sắc tố Năm ngày sau khi
nở thì mắt và miệng phát triển cho phép cá con có thể bắt mồi, dọc cơ thể lúcnày có hai vệt màu vàng nhạt có thể nhìn thấy được Khi đạt 30 ngày tuổi thìhình dáng giống cá trưởng thành với hai dải màu chạy dọc cơ thể từ đầu đếncuống đuôi [6]
Trang 151.2 Tình hình sản xuất giống và nuôi thương phẩm cá Giò
1.2.1 Trên thế giới
Đối với nghề nuôi biển, cá Giò là đối tượng nuôi tương đối mới nhưng đầytiềm năng để phát triển thành đối tượng nuôi biển công nghiệp có giá trị thươngphẩm cao, đã được nhiều nước trên thế giới tiến hành nghiên cứu và đưa vào sảnxuất
Đài Loan là nước dẫn đầu trong lĩnh vực sản xuất và nuôi thương phẩm CáGiò được nuôi ở Đài Loan từ năm 1990, sinh sản nhân tạo đầu tiên vào năm 1992,đến năm 1997 hoàn thành kỹ thuật sản xuất giống đại trà Năm 1999, Đài Loan sảnxuất được 5 triệu cá Giò giống, không những đáp ứng đủ nhu cầu nuôi trong nước
mà còn xuất khẩu sang các nước như Nhật Bản, Trung Quốc và Việt Nam Cá Giònhanh chóng trở thành đối tượng nuôi phổ biến ở Đài Loan, chiếm 80% lồng nuôibiển Trong nuôi cá thịt năm 1998 đã sản xuất được 2.673 tấn, tăng gấp 20 lần sovới năm 1990 (103 tấn), năm 2003 đạt 2500 tấn (Chang, 2003)
Cùng với Đài Loan, Trung Quốc đã tiến hành sản xuất giống cá Giò bằngphương pháp bán thâm canh trong ao đất trên quy mô thương mại Tổng sản lượng
cá Giò năm 1999 là 1800 tấn, đến năm 2001 là 3000 tấn, riêng năm 2002 sản lượng
có giảm đi do sự bùng phát dịch bệnh (I Chiu Liao và ctv, 2004)
Ở khu vực Bắc Mỹ đã cho sinh sản nhân tạo thành công bằng cách tiêmhormone sinh dục cho cá bố mẹ thu ngoài tự nhiên và tiến hành nuôi thương phẩm
cá Giò Tại Mỹ, nuôi cá Giò thương phẩm được tiến hành từ năm 2002 và ngàycàng phát triển [20]
Hiện nay, Châu Á là khu vực tiêu thụ sản phẩm cá Giò cao nhất thế giới.Trung Quốc bắt đầu tiến hành nuôi cá Giò từ năm 1992, từ đó đến nay chúngnhanh chóng chiếm ưu thế và trở thành loài nuôi công nghiệp trong hệ thống nuôi
xa bờ [37]
1.2.2 Ở Việt Nam
Việt Nam được xem là nước “đứng hàng thứ 3” trên thế giới về phát triểnnuôi và sản xuất giống cá Giò (Sevennegig, 2001) Nghề nuôi cá Giò đã phát triển
Trang 16tương đối nhanh và mạnh trong những năm gần đây ở các tỉnh Hải Phòng, QuảngNinh (khu vực phía Bắc), Vũng Tàu, Kiên Giang (khu vực phía Nam), là đối tượng
có nhiều triển vọng đối với nghề nuôi cá lồng trên biển và đang là một trong cácđối tượng nuôi chủ lực của nghề nuôi cá biển Việt Nam
Nhận thức được con giống nuôi nhân tạo là yếu tố quan trọng trong phát triểnnghề nuôi, các đề tài, dự án nghiên cứu về sinh sản nhân tạo cá Giò đã được tiếnhành khá sớm, từng bước hình thành nên quy trình sản xuất giống thâm canh
Năm 1996 – 1997, trong đề tài nuôi cá biển của Viện Hải Sản đã cho sinh sảnđược một số cá bột cá Giò nhưng các vấn đề kỹ thuật chưa được giải quyết, đây làgiai đoạn sơ khai của nghiên cứu sinh sản loài cá này ở Việt Nam [3]
Đến đề tài “Nghiên cứu công nghệ sản xuất giống và nuôi một số loài cá biển
có giá trị kinh tế cao trong điều kiện Việt Nam” cũng do Viện Nghiên cứu nuôitrồng thuỷ sản tiến hành từ năm 1999 – 2000, có sự hợp tác của Viện DIFTA (ĐanMạch) và các chuyên gia của dự án NORAD thuộc Viện nghiên cứu thuỷ sản I, đãđịnh hình được quy trình ương thâm canh cá Giò, tuy nhiên kỹ thuật thức ăn tươisống chưa ổn định, còn phụ thuộc vào tự nhiên [15]
Năm 1999 thu được 6.500 cá hương 4 – 6cm, nhưng năm 2000 chỉ sản xuấtđược 1000 con giống 8 – 10cm trong mô hình ương quảng canh dựa vào thức ănthu từ tự nhiên ở Cát Bà và Quý Kim – Hải Phòng [5]
Từ năm 2001 – 2003, kỹ thuật sản xuất cá Giò được Hợp phần 3- Dự ánNORAD và dự án SUMA (DANIDA) tiếp tục nghiên cứu, đã phát triển quy trìnhương thâm canh đi vào ổn định hơn Tỷ lệ sống đến giai đoạn cá giống (8 -10cm)đạt 2 – 4% Năng suất cá hương (2,5 -3cm) đạt 7.500 – 8.000 con/ m3; cỡ giống 6 –8cm đạt 150 con/ m3 (trong hệ thống nước chảy) và 250 con/ m3 trong hệ thốngtuần hoàn nước [38]
Kỹ thuật sản xuất giống cá Giò đang ngày càng được hoàn thiện, tuy nhiênsản lượng giống sản xuất trong nước chưa đáp ứng được nhu cầu của người nuôi;con giống phải nhập từ Trung Quốc về, vì vậy mà việc kiểm soát chất lượng congiống và dịch bệnh còn gặp nhiều khó khăn [3]
Trang 17Những năm gần đây tỷ lệ sống của ấu trùng cá Giò không ổn định Có nhiềunguyên nhân được đưa ra nhưng một nguyên nhân quan trọng là cá giống nhiễmSLSC Theo thông báo của các doanh nghiệp nuôi cá thịt, khi nhiễm loài sán này,không những cá giống có tỷ lệ sống thấp mà khi nuôi cá thịt, cá chậm lớn và nếunhiễm nặng sẽ chết [7] Liao, I C & CTV., (2004) cũng công bố cá nhiễm SLSCthường chuyển màu đen và tỷ lệ sống thấp (<50%), sau 1 năm nuôi cá chỉ đạt 1-3kg/con, trong khi với cá bình thường đạt 6 – 8kg/con.
1.3 Tình hình nghiên cứu về ký sinh trùng và bệnh ký sinh trùng trên cá Giò.
1.3.1 Trên thế giới
Liên Xô cũ được xem là cái nôi đầu tiên của ngành KST học Vào năm 1929,viện sỹ Dolgiel đã đưa ra “Phương pháp nghiên cứu ký sinh trùng trên cá”, đã mở
ra hướng nghiên cứu mới về các khu hệ KST trên cá và các loại bệnh do KST gây
ra [1] Từ năm 1957 – 1973, nhà KST học người Nga Parukin đã tiến hành nghiêncứu về KST ở cá Song, cá Giò và một số loài cá biển khác ở vùng Đông Nam Á
Tác giả đã xác định thành phần giun, sán ký sinh ở 4 loài cá sống trong tự nhiên: E.
areolatus; E fasciatus; E ascolatus; E orientalis Các loài KST này đã gây các vết
thương, lở loét cho cá Giò [29]
Theo Hargis (1955) [23], cá Giò đã bị nhiễm 2 loài sán lá đơn chủ Dionchus
rachycentris ký sinh trên mang của cá Giò ở Florida, U.S.A và Neobenedenia girellae ký sinh trên bề mặt cơ thể cá Giò nuôi lồng tại Đài Loan [30] Sự nhiễm
KST này là nguyên nhân gây nên cái chết hàng loạt cá Giò nuôi từ tháng 10/2002đến 2/2003 ở Lui – Chiu Hsu Island, Đài Loan [37]
Theo Rasheed (1965) [34], khi kiểm tra dạ dày cá Giò thường thấy sự nhiễm
nặng loài giun tròn Iheringascaris inquies, loài giun này ở giai đoạn trưởng thành ký
sinh nhiều trong ruột cá
Madhavi (1976) khi kiểm tra KST trong ruột cá Giò thì thấy có sự nhiễm nặng
SLSC Stephanostomum pseudoditrematis , với cường độ nhiễm cao 30 (sán/ cá) đã
gây tổn thương thành ruột [32]
Bruce và Cannon (1989) [20] đã tìm thấy loài Iheringascaris inquires trong dạ dày của cá Giò ở Châu Úc; loài Contraceum megacephalum (Oschmarin, 1963)
Trang 18phân lập được từ dạ dày cá Giò ở vùng biển phía nam Trung Quốc; loài Mabiarama
prevesiculata đã được tìm thấy trong dạ dày cá Giò ở Brazil ; Goezi Pelagia được
phân lập từ cá Giò ở vịnh Mexico (Bunkey – Wiliam và Wiliam, 2006)
Theo I Chiu Liao (2004) [26], cá Giò rất nhạy cảm với loài copepod Caligus.
Loài Copepod này thường ký sinh ở mang, da và miệng, khi bị nhiễm nặng loàiCopepod này, cá giống bỏ ăn, chậm lớn, hoạt động mất phương hướng
Tại Trung Quốc, hàng loạt cá Giò giống cỡ 45-80g bị chết năm 2001 được
xác đinh là do KST Sphaerospora gây ra (Chen & CTV., 2001) Các dấu hiệu lâm
sàng thường thấy là sắc tố thay đổi, các u nhọt xuất hiện trên gan và thận Tại Đài
Loan, loài sán lá đơn chủ Neobenedenia girellae được cho là nguyên nhân chủ đạo
gây ra đợt dịch trên cá Giò nuôi cuối năm 2002 và đầu năm 2003 (Kazuo Ogawoa
Cho đến nay chưa có công trình nào trên thế giới công bố phát hiện ra SLSC
Prosochis acanthuri ký sinh trên cá Giò giống và gây thiệt hại ở giai đoạn cá giống,
cá thịt khi nuôi thương phẩm
1.3.2 Tại Việt Nam.
Bệnh trên động vật thuỷ sản những năm gần đây diễn biến khó lường và luôn
là mối lo ngại và thách thức lớn đối với người nuôi (Đỗ Thị Hoà & CTV., 2004).Nghề nuôi cá biển vài năm trở lại đây bắt đầu phát triển tại Vũng Tàu, KhánhHoà, Quảng Ninh, Hải Phòng….với các đối tượng nuôi chính như cá Song, cá Giò,
cá Hồng…Tuy nhiên việc nghiên cứu KST trên cá Giò đặc biệt cá Giò ở giai đoạn
cá con còn quá ít
Trang 19Theo kết quả nghiên cứu của Đỗ Văn Khương (2001) [5], có 4 loài KST ký
sinh trên cá Giò, cá Song là Brooklynella sp, Caligus spp, Trichodina spp và
Pseudohapdosynochus epinepheni.
Khi nghiên cứu về KST trên cá biển nuôi tại vùng biển phía bắc Việt NamA.thur và Bùi Quang Tề (2006) đã xác định được một số loài KST ký sinh trên cá
Giò nuôi như Aponoruus carangis, Bucephalus varicus, Derogenes varicus,
Dinurus selari, Lepidapedon megalaspi, Neometanematobothrioides rachycentri, Paracycryptogonimus morosovi [18].
Phan Thị Vân (2006) khi nghiên cứu tác nhân gây bệnh phổ biến đối với cá
Mú, cá Giò nuôi đã xác định Pseudohabdosynochus epinephili ký sinh trên mang cá
Giò tại Quảng Ninh và Hải Phòng, cường độ nhiễm 5 – 50 sán trên mang
Trichodina sp được phát hiện ký sính trên cá Song và cá Giò ở Cát Bà, Nghệ An.
Quảng Ninh và Hải Phòng, Cryptocarion irritan ký sinh ở cá Giò tại Nghệ An [12].
Theo Phạm Thị Yến (2008) [16], nghiên cứu KST trên cá Giò giống sản xuấttại Trạm Nghiên cứu Thuỷ sản Nước lợ và Trạm Cửa Lò (Nghệ An) đã xác định có
9 giống loài KST ngoại ký sinh trên ấu trùng cá Giò giai đoạn 3-75 ngày tuổi Các
loài KST này thuộc 4 lớp, 7 bộ, 8 họ là: Acineta sp, Cryptocaryon irritans, Epistylis
sp, Vorticella sp, Zoothamnium sinnense, Trichodina jadranica, Centrocestus formosalus, Prosochis acanthuri, Iheringascaris inquies.
Theo kết quả kiểm tra của phòng môi trường bệnh – Trung tâm QGGHS miềnBắc từ năm 2006 đến 2009, cá Giò giống ương trong ao tại Trạm nước lợ nhiễm
KST với tỷ lệ rất cao (>70%) KST ngoại ký sinh thường bắt gặp là Epistylis sp,
Vorticella sp, Zoothamnium sinnense Nội ký sinh bên trong (ruột, dạ dày) bắt gặp
là loài SLSC Prosochis acanthuri với tỷ lệ nhiễm >30% Khi nhiễm SLSC ở cường
độ cao > 3 sán/ cá làm cho cá giống chết hàng loạt đặc biệt giai đoạn cá được 35- 40ngày tuổi (8 – 10cm)
Cho đến nay, duy nhất chỉ có nghiên cứu của Phạm Thị Yến (2008) về KST trên
cá Giò giống là xác định loài SLSC Prosochis acanthuri ký sinh trên cá Giò giống ương
tại Trạm nước lợ - Qúi Kim- Hải Phòng
Trang 201.3 Nghiên cứu về đặc điểm sinh học, vòng đời SLSC.
Sán là những KST nội ký sinh hoặc KST ngoại ký sinh Mang và ống tiêu hoá
là hai cơ quan bị cảm nhiễm sán nhiều nhất (Đỗ Thị Hoà & CTV., 2004) Khi cảmnhiễm ở cường độ thấp những tác hại do sán gây ra là không rõ ràng, ở cường độcao sán thường làm cho vật chủ chậm lớn, sắc tố không bình thường và có thể gâychết hàng loạt đặc bịệt là ở giai đoạn ấu trùng, cá giống (Đỗ Thị Hoà & CTV.,2004; Phạm Thị Yến, 2008)
1.3.1 Một số đặc điểm sinh học SLSC
Cơ thể SLSC hình trứng, hình lá, đối xứng hai bên, ở một số loài cơ thể chialàm hai phần trước và sau Kích thước cơ thể có sự sai khác giữa các giống loài, ởtừng vị trí ký sinh, trung bình 0,5-1mm Màu sắc cơ thể đa dạng Cơ quan bám gồm
2 giác bám là giác bám miệng và giác bám bụng, có sự khác nhau về kích thước của
2 giác bám này, dựa vào đặc điểm, kích thước của giác bám làm căn cứ để phân loạigiống loài (Thomas H Cribb & CTV., 2003; Đỗ Thị Hoà & CTV., 2004)
Chủ yếu các loài SLSC hệ sinh dục là lưỡng tính, đực - cái trên cùng cơ thể,
cơ quan giao cấu nằm trước giác bám bụng Dựa vào hình dáng, kích thước, vị trícủa tinh sào và buồng trứng làm căn cứ để phân loại (Thomas H Cribb & CTV.,2003)
1.3.2 Chu kỳ phát triển sán lá song chủ
Sán lá song chủ có cấu tạo lưỡng tính, đẻ trứng, giao phối trên cùng một cơthể Trứng nhỏ nhưng số lượng nhiều Từ trứng phát triển thành cơ thể trưởng thànhphải trải qua một quá trình phát triển phức tạp, qua nhiều giai đoạn ấu trùng và đòihỏi có 1 hoặc 2 ký chủ trung gian (Thomas H Cribb & CTV., 2003; TekeshiShimazu, 2002; S L RAI & CTV., 1964; Đỗ Thị Hoà & CTV., 2004)
- Giai đoạn ấu trùng Miracidium: Trứng sau khi rơi vào nước nở ra ấu trùng
Miracidium có lông tơ và điểm mắt Miracidium sống tự do trong nước nhờglucogen dự trữ nên chỉ bơi một thời gian rồi nhờ tuyến đầu tiết men phân giải lớpbiểu mô chui vào tổ chức gan của cơ thể ốc Ở trong cơ thể ký chủ trung gian, ấu
Trang 21trùng Miracidium mất lông tơ, mất điểm mắt và ruột biến thành bào nang
Sporocyste.
- Giai đoạn ấu trùng bào nang Sporocyste: Bào nang hình tròn hay hình túi,
bề mặt có khả năng thẩm thấu dinh dưỡng Bào nang Sporocyste có thể xoang lớn,
có tiến hành sinh sản đơn tính (vô tính) cho nhiều ấu trùng Redia.
- Giai đoạn ấu trùng Redia: Redia hình túi có thể di động; cơ thể có hầu và
ruột dạng hình túi ngắn Ấu trùng Redia lớn lên, phá màng của bào nang để ra khỏi
tổ chức gan rồi vào cơ quan tiêu hoá của ốc Phía sau cơ thể có một đám tế bào
mầm tiến hành sinh sản đơn tính cho nhiều ấu trùng Cercaria.
- Giai đoạn ấu trùng Cercaria: Cơ thể chia làm 2 phần thân và đuôi, bề mặt
cơ thể có móc, có một hai giác mút Ở phía trước cơ thể có tuyến tiết ra men pháhoại tổ chức để xâm nhập vào cơ thể ký chủ, đồng thời biểu mô ở dưới lớp nguyênsinh chất có tuyến phân tiết tạo ra vách của bào nang
Cercaria ra khỏi cơ thể Redia, sống tạm thời trong cơ thể ốc, sau đó ra nước biến
thành ấu trùng có vỏ bọc Metacercaria Có giống loài SLSC giai đoạn ấu trùng
Cercaria trực tiếp xâm nhập ký chủ qua da; cũng có một số giống loài khi Cercaria ra
môi trường nước rồi hình thành bào nang (kén), bám trên các cây thực vật thuỷ sinhthượng đẳng hay vỏ ốc, nếu gặp ký chủ ăn vào sẽ phát triển thành trùng trưởng thành
- Giai đoạn ấu trùng Metacercaria: cơ thể nằm trong bào nang nên không
vận động Cấu tạo cơ thể phát triển gần với trùng trưởng thành
Metacercaria cùng với ký chủ trung gian II hoặc vật môi giới bị ký chủ sau
cùng ăn vào trong ống tiêu hoá do tác dụng của dịch tiêu hoá, vỏ bọc và vỡ, ấutrùng thoát ra ngoài di chuyển đến cơ quan thích hợp của ký chủ phát triển thànhtrùng trưởng thành
Quá trình phát triển của SLSC yêu cầu ký chủ trung gian nhất định, ký chủ trunggian thứ nhất là ốc, ký chủ trung gian thứ II hoặc ký chủ cuối cùng thường là động vậtnhuyễn thể, giáp xác, côn trùng, cá, lưỡng thê, bò sát, chim và động vật có vú
Trang 221.3.3 Phòng trị bệnh do sán lá song chủ gây ra
Hiện nay trên thế giới chưa có biện pháp phòng trị bệnh tốt nhất đối với cácbệnh do SLSC gây ra ở cá ( Đỗ Thị Hoà & CTV., 2004) Các giải pháp đưa ra làphòng bệnh gián tiếp, như tiêu diệt ký chủ trung gian (các loại ốc); loại bỏ trứnggiun, sán trước khi dùng trong nuôi trồng thuỷ sản ( Đỗ Thị Hoà & CTV., 2004).Các nghiên cứu trị bệnh do sán gây ra đối với động vật thuỷ sản còn ít Một
số nghiên cứu ứng dụng sử dụng thuốc trị sán trên người và gia súc để trị bệnh sántrên cá như: Eliska Sudova & CTV (2009), đã thử nghiệm trị 2 loài SLSC
(Atractolytocetus huronensis; Khavia siensis) ký sinh trong ruột cá Chép bằng
Praziquantel ở nồng độ 60mg/kg thể trọng, sau 4 ngày trị bệnh liên tục kết quảkiểm tra SLSC cho thấy 100% SLSC bị tiêu diệt Kim Văn Vạn (2009), đã sử
dụng Praziquantel để trị ấu trùng loài SLSC có tên Centrocestus formosanus (ký
sinh trên mang cá Chép giống giai đoạn 25-75 ngày tuổi) ở nồng độ 25mg; 50mg;75mg/kg thể trọng và thời gian trị là 5 ngày Kết thúc thí nghiệm, ở nồng độ25mg, 30% ấu trùng Metacercariae bị vô hiệu, còn ở nồng độ 50mg và 75mg100% ấu trùng bị tiêu diệt
Như vậy, cho tới nay vẫn chưa có công trình nghiên cứu nào công bố về phòng
và trị bệnh do SLSC gây ra trên cá Giò nói riêng và cá biển nói chung
Trang 23Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Đối tượng
- Sán lá song chủ (SLSC) Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột, dạ dày cá Giò
giống
- Cá Giò (Rachycentron canadum) giai đoạn giống cỡ nhỏ
2.2 Vật liệu nghiên cứu
2.2.1 Vật liêu bố trí thí nghiệm
Bảng 2.1 Các vật liệu bố trí thí nghiệm St
ppmppmppm
-
-
Trang 24-2.2.3. Dụng cụ xác định kích thước cá.
Bảng 2.2 Dụng cụ xác định kích thước cá
xác
2 Khối lượng Cân điện tử Model AND
2.2.4. Dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường
Bảng 2.3 Các dụng cụ theo dõi các yếu tố môi trường
2.2.5. Vật liệu nghiên cứu ký sinh trùng
- Bộ đồ giải phẫu: dùi, kéo và panh các loại
- Cân, thước đo (độ chính xác 1cm)
- Đĩa Petri, lam kính, larmen, pipet
- Kính hiển vi có gắn thước đo mm
- Cồn 700 , dung dịch HCl, nước cất, nước muối sinh lý 0,85%
- Các hóa chất cần thiết khác: formol 4%, 10%; carmin; xylen; bạc nitrat
- Một số dụng cụ khác như: khay, cốc, vợt, xô, giấy, bút, máy ảnh
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1. Sơ đồ khối nghiên cứu
2.3.1.1 Nghiên cứu một số giải pháp phòng bệnh SLSC Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột và dạ dày cá Giò (Rachycentron canadum).
vị
Độ Chính xác
Trang 25Hình 2.1 Sơ đồ khối nghiên cứu các giải pháp phòng bệnh
Hình 2.2 Sơ đồ khối nghiên cứu thử nghiệm trị bệnh
Sinh trưởng của cáMức độ nhiễm SLSC (tỷ lệ
nhiễm và cường độ nhiễm)
Nghiên cứu một số giải pháp phòng bệnh SLSC
Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột và dạ dày cá Giò (Rachycentron canadum) ương trong ao nước lợ
Nghiên cứu thử nghiệm trị bệnh SLSC
Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột và dạ dày cá
Giò (Rachycentron canadum)
- Mức độ nhiễm SLSC
Đánh giá hiệu quả trị bệnh
- Theo dõi sự biến động
các yếu tố môi trường
Tỷ lệ sống của cá
CT1
Trang 26Chú thích:
CTN: Công thức thí nghiệm CTĐ: Công thức đối chứng
CT1: Công thức 1 CT2: Công thức 2 CT3: Công thức 3
2.3.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm
2.3.2.1 Thí nghiệm phòng bệnh sán lá song chủ trong ao ương cá Giò
Thí nghiệm được tiến hành trên 2 ao ương có diện tích 500m2; sâu 1,5m; cólắp đặt hệ thống sục khí đáy ao Ao thí nghiệm (CTN) áp dụng các giải pháp phòngsán lá song chủ Ao đối chứng (CTĐ) theo phương pháp thông thường.
Tiến hành 2 đợt thí nghiệm; đợt I bắt đầu từ ngày 12/03/2011 đến 17/04/2011;
đợt II tiến hành từ 02/05/2011 đến 06/06/2011, thời gian mỗi đợt ương là 36 ngày.
Mật độ thả cá bột ban đầu là 1con/l ở đợt ương I; 0,5con/l ở đợt ương II; Thức
ăn sử dụng ương cá Giò là luân trùng, copepod, (gây tự nhiên trong ao và vớt từ các
ao khác bổ sung khi thiếu), Nauplius artemia, thức ăn tổng hợp (TĂTH) NRD –Thái Lan và Outohime - Nhật Bản
Hình 2.3 Sơ đồ thí nghiệm phòng bệnh SLSC trên cá Giò
AO ĐỐI CHỨNG
- Diện tích ao 500m2
- Tẩy dọn ao
- Không diệt động vật thân mềm
- Không xử lý nước trong ao ương
- Tảo, luân trùng được gây nuôi tại
ao ương bằng cá tạp, phân hữu cơ
- Bổ sung Copepod được thu từ các ao nuôi tôm, cá của trạm
- Cho ăn TĂTH: Outohim
- Mật độ ương 1con/l (lần I); 0,5 con/l (lần II)
- Thời gian ương 36 ngày
AO THÍ NGHIỆM
- Diện tích ao 500m2
- Tẩy dọn ao
- Diệt động vật thân mềm
- Xử lý nước trong ao ương
- Đưa tảo, luân trùng nuôi trên bể
xuống ao ương
- Bổ sung Copepod được thu từ ao
nuôi Copepods có kiểm soát
- Cho ăn TĂTH: Outohim
- Mật độ ương 1con/l (lần I); 0,5
con/l (lần II)
- Thời gian ương 36 ngày
Nghiên cứu một số giải pháp phòng bệnh SLSC
Prosochis acanthuri ký sinh trong ruột và dạ dày cá Giò
(Rhachycentron canadum) cỡ 3 -36 ngày tuổi