1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chủ nghĩa phục quốc do thái và sự hình thành nhà nước IRSAEL luận văn tốt nghiệp đại học

61 975 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chủ nghĩa phục quốc Do Thái và sự hình thành nhà nước Israel luận văn tốt nghiệp đại học
Tác giả Phạm Thị Phương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Công Khanh
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Lịch sử
Thể loại Luận văn tốt nghiệp đại học
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 61
Dung lượng 670 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu một số nét cơ bản về các chính sách của thực dân đối với Trung Đông; hay nói cách khác là chính sách của Anh đối với quá trình phục quốc của ngư

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA LỊCH SỬ -

Trang 2

MỤC LỤC

Trang LỜI CẢM ƠN

A MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Bố cục của đề tài .3

B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1 QÚA TRÌNH XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN ANH VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ANH ĐỐI VỚI PHONG TRÀO PHỤC QUỐC DO THÁI 4

1.1 Vị trí của Trung Đông .4

1.2 Vấn đề Palextin 7

1.3 Nước Anh với chính sách bành trướng thế giới nói chung và Trung Đông nói riêng 11

1.3.1 Sự bành trướng của thực dân Anh 11

1.3.2 Nước Anh với vấn đề Palextin 13

1.3.3 Palextin dưới quyền uỷ trị của Anh .22

Tiểu kết chương 1 .36

CHƯƠNG 2 SỰ HÌNH THÀNH NHÀ NƯỚC ISRAEL 37

2.1 Liên hợp quốc và vấn đề Palestin 37

2.2 Thành lập nhà nước Israel của người Do Thái .44

2.3 Chính sách của nhà nước Israel từ 1948 đến nay 45

C KẾT LUẬN 51

D PHỤ LỤC 54

E TÀI LIỆU THAM KHẢO 57

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành được khoá luận này em đã nhận được sự hiúp đỡ, chỉ

bảo tận tình của Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Công Khanh Qua đây, cho

phép em được gửi tới thấy lời biết ơn chân thành nhất

Đồng thời, em cũng đã nhận được sự giúp đỡ rất lớn từ phía các thầy cô giáo trong khoa Lịch sử trường Đại học Vinh, và Trung tâm thông tin thư viện của trường, đã nhiệt tình giúp đỡ em trong công việc Cho phép em gửi tới các thầy cô giáo lời cảm ơn sâu sắc nhất

Một lần nữa em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo, các bạn sinh viên

đã giúp em hoàn thành khoá luận này

Vinh, ngày tháng năm 2011

Sinh viên

Trang 4

A MỞ ĐẦU

4 Lý do chọn đề tài.

Trung Đông là một khu vực có vị trí chiến lược quan trọng Từ xưa đến nay, đây là địa bàn để các cường quốc thể hiện sức mạnh của mình, là vị trí cần chiếm lấy trong âm mưu bá chủ thế giới của bất cứ một cường quốc nào Đối với Trung Đông từ thế kỷ XIX cho đến sau chiến tranh thế giới thứ hai

đã từng là nơi diễn ra những cuộc chiến tranh xâm lược với bao đau thương

và nước mắt Các cường quốc tư bản chủ nghĩa đua nhau xâu xé Trung Đông,

từ Pháp cho đến Anh rồi Hà Lan Trong đó nước có lợi thế nhất là Anh Chính sách thực dân của các nước phương Tây ở Trung Cận Đông về khách quan cũng thúc đẩy sự thống nhất khu vực Cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa thực dân, giành độc lập dân tộc đã gắn bó các nước trong khu vực

Bàn về Trung Đông có khá nhiều vấn đề, trong đó vấn đề về “Chủ nghĩa phục quốc Do Thái” và sự hình thành nhà nước Israel là một vấn đề khoa học rất đáng quan tâm và cần được tiến hành đi sâu nghiên cứu bởi nó

sẽ làm rõ hơn những đặc trưng của chủ nghĩa đế quốc thực dân và tình hình Trung Cận Đông thế kỷ XIX

Đây không chỉ là vấn đề có tính khoa học mà nó còn là vấn đề có tính thực tiễn bởi vì "ôn cố nhi tri tân", hiểu cái cũ để nhìn nhận cái mới Có nghiên cứu về chủ nghĩa phục quốc Do Thái và sự ra đời của nhà nước Isreal, chúng ta mới có cái nhìn toàn diện về lịch sử của Trung Đông mới hiểu hết con người và cuộc sống của nhân dân Trung Đông, để thấy được sự trổi dậy hiện nay của nhân dân Trung Đông trong quá trình xây dựng khu vực Trung Đông thành một khu vực hoà bình, hữu nghị, phát triển

Bởi vì thế, chúng tôi đã chọn vấn đề “ Chủ nghĩa phục quốc Do Thái

và sự hình thành Nhà nước Irsael” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp của mình,

với hy vọng sẽ góp phần dựng lại bức tranh chân thực về lịch sử Trung Đông Tuy nhiên, vì điều kiện và khả năng có hạn nên khoá luận sẽ không tránh

Trang 5

khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và các bạn.

5 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Trung Đông là một khu vực hết sức phức tạp với sự đan xen tồn tại của

ba nền văn hoá, của ba tôn giáo lớn cộng với nguồn tài nguyên vàng đen phong phú đã biến nơi đây thành vị trí chiến lược hết sức quan trọng Trung Đông sớm trở thành đề tài của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Tuy nhiên, các tài liệu chỉ mới đề cập đến lịch sử Trung Đông một cách chung chung mà chưa tập trung nghiên cứu chính sách của một nước đế quốc nào,

kể cả nước Anh Chẳng hạn như cuốn "Bán đảo Arập - Đế quốc của Hồi giáo

và dầu lửa" do Nguyễn Hiến Lê dịch, NXB VH-TT, 1994, hay như cuốn

"Lịch sử Trung Cận Đông" của Nguyễn Thị Thư (chủ biên), NXB GD, 2002,

mới đây là cuốn "Cuộc xung đột Ixraen - Arập" của VNTTX, 2004, ngoài ra còn có các tài liệu tham khảo khác như: "Trung Đông và nguồn gốc các cuộc

xung đột của các nước Arập và Ixraen", VNTTX, 11-1973 Bên cạnh đó

chúng tôi còn cố gắng sử dụng một số tài liệu bằng tiếng Anh được lấy từ trên mạng www.misdeast.web.org

6 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

6.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu ở đây là những vấn đề về chủ nghĩa phục quốc Do Thái và sự ra đời của nhà nước Irsael

6.2 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

Nghiên cứu một số nét cơ bản về các chính sách của thực dân đối với Trung Đông; hay nói cách khác là chính sách của Anh đối với quá trình phục quốc của người Do Thái

Nghiên cứu về sự hình thành của nhà nước Irsael

Trang 6

Đây là những vấn đề hay và khá mới mẽ, song do hạn chế về kiến thức cũng như thời gian và nguồn tài liệu tham khảo cho nên chúng tôi chỉ mới xem xét vấn đề ở mức độ khái quát nhất.

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở những nguồn tài liệu có được dựa trên quan điểm duy vật lịch sử, chúng tôi cố gắng trình bày một cách khái quát nhất quá trình xâm lược của thực dân Anh vào Trung Đông, và những chính sách của Anh đối với Trung Đông đặc biệt là chính sách đối với phong trào phục Quốc của người Do Thái

Đứng trên quan điểm mác xít- lênin nít kết hợp phương pháp luận sử học và phương pháp logíc với phương pháp phân tích tổng hợp, so sánh, khái quát công trình sẽ là một bức tranh chân thực, khách quan về lịch

sử của mối quan hệ giữa Anh và Trung Đông từ thế kỷ XIX đến sau chiến tranh thế giới thứ hai

Dựa vào nguồn tài liệu có được nghiên cứu về sự ra đời của nhà nước Irsael

Trang 7

B.NỘI DUNG CHƯƠNG 1

QUÁ TRÌNH XÂM LƯỢC CỦA THỰC DÂN ANH VÀ CHÍNH SÁCH CỦA ANH ĐỐI VỚI PHONG TRÀO PHỤC QUỐC DO THÁI

1.1 Vị trí của Trung Đông

Nếu chúng ta xem thế giới là một bàn cờ lớn thì Trung Đông chính là khu trung tâm của nó - là nơi có vị trí chiến lược sống còn đối với bất cứ một

âm mưu bá chủ thế giới của bất kỳ một cường quốc lớn nào Vậy Trung Đông là khu vực như thế nào mà nó lại có vị trí quan trọng như vậy?

Trước hết xét về tên gọi: Với quan niệm lấy châu Âu làm trung tâm thế giới mà ở đây cụ thể là Địa Trung Hải, thương nhân các nước ven bờ Đại Tây Dương và Tây Thái Bình Dương : Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan, Pháp và các quốc gia thành thị Italia đã gọi vùng ven bờ phía Đông Địa Trung Hải mà họ có quan hệ buôn bán, là vùng Cận Đông Khái niệm này dần dần được mở rộng cho các vùng lân cận và trở thành một khái niệm địa

lý phổ biến Dần dần các nước lớn khác như : Nga, Aó và Đức cũng chấp nhận và sử dụng khái niệm này : Cận Đông trở thành một khái niệm chung có tính chất quốc tế

Cùng với quan điểm đó sau này các cường quốc châu Âu bắt đầu sử dụng khái niệm Trung Đông dùng để chỉ vùng đất giữa đế quốc Ottoman và vùng Viễn Đông gồm các nước không giáp Địa Trung Hải

Từ đó, trong một thời gian khá dài, Trung Đông và Cận Đông được sử dụng để chỉ hai khu vực địa lý kề nhau và dẫn tới từ ghép Trung Cận Đông ra đời trên cơ sở những tương đồng về địa lý và tôn giáo, lịch sử và văn hoá của khu vực Nên về sau này người ta thường dùng khái niệm Trung Đông bao gồm cả Cận Đông và từ đó khái niệm Trung Đông được sử dụng chính thức trong ngôn ngữ chính trị quốc tế như một thói quen vì nó đơn giản và tiện lợi hơn

Trang 8

Như trên đã nói thì Trung Đông là một khu vực xung yếu, nó bao gồm:

- Các nước Đông Bắc Phi : Ai Cập và Ly Bi

- Các nước bán đảo Arập : Arập Xêút, Côoét, Baranh, Quata, Oman, Yemen, và các tiểu vương quốc Arập thống nhất

- Vùng lưỡi liềm phì nhiêu: Ixraen, Gióocđani, Irắc, Li băng và Xiry

Được xem là “ lục địa trung gian” từ lâu các nhà chiến lược quân sự phương Tây cho rằng đứng vững ở Trung Đông họ có thể kiểm soát mọi con đường chiến lược qua ba châu, phát huy ảnh hưởng của mình và uy hiếp toàn

bộ vùng Bắc Phi, Ban Căng và khu vực Nam Á Bởi vậy trên lãnh thổ của nhiều nước Trung Đông đã và đang tồn tại nhiều căn cứ quân sự thuận lợi cho việc triển khai lực lượng ở vùng Nam châu Âu, bờ biển Đông Phi và

châu Á Nơi đây được xem là “ một trong những ngã tư cổ nhất và có lẽ là

ngã tư cổ nhất của con người và của những dân tộc văn minh tồn tại trên thế giới”[12, 78] Tài nguyên ở vùng này rất phong phú, tất nhiên khu vực này

không có được tấm áo choàng màu xanh của thảm thực vật phủ lên toàn bộ đất đai như ở khu vực Đông Nam Á hay ở châu Phi xích đạo, song ở nhiều nơi xen lẫn giữa những sa mạc cát trắng cũng có nhiều đồng bằng thung lũng

Trang 9

cao nguyên và vùng duyên hải phì nhiêu Khu vực Lưỡng Hà được tạo bởi hai con sông Tigơrơ và Ơphơrát có đất đai vốn màu mỡ là một trong những nơi phát sinh nền văn minh sớm nhất của loài người Ở đây với những điêù kiện thiên nhiên thuận lợi nên nền nông nghiệp phát triển khá sớm Con sông Nin hùng vĩ tạo nên vùng đồng bằng chủ yếu của Ai Cập, là nơi cung cấp cho nước này những nguồn nông sản dồi dào Dải đất Li Băng, Xiry, Thổ Nhĩ Kỳ, các vùng ven biển trên bán đảo Arập không những là vùng trồng lúa mà còn là nơi sản xuất nhiều rau quả và các nguồn hải sản, những vùng đồng cỏ rộng lớn thích hợp với chăn nuôi gia súc

Ngoài lúa gạo,Trung Đông còn là vùng đất dồi dào cây trái : chanh, cam, nho, táo, chuối, chà là, o liu và những đàn gia súc đông đúc như bò,

dê ,cừu, lạc đà Nhưng, sự trù phú trên mặt đất cũng chưa bằng so với tài nguyên dưới lòng đất Là khu vực rất giàu có mỏ sắt, đồng, than, uranium, hơi đốt và đặc biệt là hầu hết các nước trong khu vực đều có trữ lượng lớn về dầu mỏ Ở một số nước có trữ lượng khá lớn như Arập Xêút, Côoét, Quata, Irắc, Iran ,Ba ranhv v người ta ước tính chỉ riêng Arập Xêút trữ lượng dầu

mỏ được phát hiện là gần 18 tỷ tấn, nhiều gấp 4 lần Mỹ, Côoét có trữ lượng trên 10 tỷ tấn, Iran có trữ lượng gần 15 tỷ tấn và Irắc gần 4,5 tỷ tấn Không những vậy, dầu lửa ở đây lại có chất lượng tốt, ví dụ dầu mỏ ở Quata có tỷ lệ lưu huỳnh là 1,2% và ít tạp chất nên việc lọc dầu không mất nhiều công sức

và hiệu quả lại cao Bởi thế mà có người đã ví dầu mỏ ở Trung Đông hình như là cái hình ảnh vàng ở châu Mỹ thế kỉ XVI , còn Xtalin thì nhận xét

“hiện nay vấn đề có ý nghĩa căn bản lớn lao đối với các nước đế quốc là vấn

đề dầu hoả “[5,27] Nền đại công nghiệp càng phát triển thì vấn đề dầu mỏ

càng trở nên hết sức cấp thiết không chỉ đối với nước Anh hay nước Mỹ mà đối với tất cả các cường quốc trên thế giới

Vì những lý do trên mà khu vực Trung Đông luôn là vùng mà các cường quốc nhắm tới trong giấc mơ bá chủ thế giới của mình

Trang 10

Không những vậy, Trung Đông còn là nơi khởi nguồn và là tâm điểm hội tụ của ba tôn giáo lớn trên thế giới đó là Thiên chúa giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo Với nhiều giáo phái khác nhau trong đó Hồi giáo là quốc giáo của các nước Arập với thánh địa Mécca, Medina và Jêruzalem, còn Thiên chúa giáo tuy số tín đồ không lớn nhưng cũng tồn tại vững chắc ở Ai Cập, Li Băng, Hy Lạp còn đạo Do thái là quốc giáo của Ixraen

Sự phức tạp về tôn giáo cùng với vị trí chiến lược của mình đã biến Trung Đông ngay từ buổi đầu đã là nơi các cường quốc “ diễu võ dương oai” thể hiện uy quyền của mình

Với vị trí địa- chính trị chiến lược, một nguồn tài nguyên vô tận và một

sự phức tạp về tôn giáo, Trung Đông đã hội tụ những điều kiện cần và đủ để các cường quốc thực dân tiến hành xâm lược và thống trị và tất nhiên trong những cường quốc ấy không thể không kể đến nước Anh- một trong những quốc gia bùng nổ sớm cuộc cách mạng tư sản Một khi giai cấp tư sản đã lật

đổ được ách áp bức của giai cấp phong kiến thì cũng đồng nghĩa với việc nó lại đem xiềng xích của mình đặt lên đầu các dân tộc khác.Từ thế kỷ XVIII, Anh tăng cường xâm chiếm thuộc địa ở khắp các khu vực trên thế giới trong

đó có Trung Đông

1.2 Vấn đề Palextin

Palextin là đầu mối giao thông giữa ngã ba đường châu Á, châu Âu và châu Phi, là cửa ngõ nhìn ra thế giới của nhiều nước Arập Là vùng đất có lịch sử văn minh lâu đời, Jeruzalem – thủ đô của Palestin là nơi hội tụ của

ba tôn giáo lớn : đạo Do Thái, đạo Kitô và đạo Hồi Khoảng thế kỷ XIX trước công nguyên, tổ tiên của người Do Thái là Ebrai từ ven sông Ơphơrát dời đến Palextin Bộ tộc du mục lấy thị tộc làm đơn vị tiếp nhận văn hoá Canaan và bắt đầu định cư Người Ebrai đánh nhau liên miên với người Canaan và người Phênêxia đã định cư từ trước, trong quá trình ấy họ liên kết với bộ lạc Do Thái Năm 1023 trước công nguyên vương quốc người Ebrai

Trang 11

đầu tiên được xây dựng ở Palextin, đóng đô ở Jeruzalem Từ Jeruzalem có gốc từ tiếng Ebrai có nghĩa là “thành phố của hoà bình”.

Người Do Thái đã xây dựng ở đây thánh địa có qui mô hùng vĩ, Jeruzalem trở thành trung tâm chính trị và tôn giáo của người Do Thái cổVào năm 64 trước công nguyên, đế quốc La Mã xâm lược Palestin và thực hiện chế độ thống trị tàn bạo Người Do thái chống lại chế độ chính trị tàn bạo của người La Mã, đã lần lượt tiến hành bốn cuộc khởi nghĩa với qui

mô lớn La Mã đã đàn áp đẫm máu các cuộc khởi nghĩa giết chết hơn một triệu người Do Thái và đưa nhiều người Do Thái sang châu Âu biến họ thành

nô lệ Nhiều người Do Thái sống sót chạy đi các nơi khác chủ yếu sang Tây

Âu, sau đó có nhiều người chạy sang Đông Âu và các nước Bắc Mỹ Từ đó bắt đầu lịch sử lưu lạc của người Do Thái, thánh địa của người Do Thái bị phá huỷ chỉ còn lại mấy bức tường đổ nát được gọi là “ những bức tường khóc” nổi tiếng, đó là đất thánh của người Do Thái ở khắp nơi trên thế giới Thế kỷ thứ VII sau công nguyên, đạo Hồi ra đời ở bán đảo Arập, phong trào Arập nổi lên và chủ nghĩa Arập ra đời Năm 637, người Arập theo đạo Hồi chinh phục Palextin và biến nó thành một bộ phận của đế quốc Arập Năm 692, vua Halipha xây tại Jeruzalem nhà thờ Hồi giáo Alaqsa, là nhà thờ lớn thứ 3 sau thánh địa Mecca và đền tiên tri Mêdina Những người theo đạo Hồi cho rằng người sáng lập ra đạo Hồi là Môhamét đã “đăng tiên”tại Jeruzalem, đã lên đến chín tầng mây, xin chỉ thị của thánh Ala.Vì vậy, sau Mecca và Medina thì Jeruzalem là đất thánh thứ 3 của người theo đạo Hồi Về sau người Arập từ bán đảo Arập không ngừng kéo đến vùng Palestin, đồng hoá với cư dân bản địa hình thành người Arập Palextin hiện đại Từ đời này đến đời khác, họ sinh sôi nảy nở và sinh sống ở đây,trở thành người chủ của mảnh đất này Là tôn giáo được thiên khải, được xây dựng dần dần bằng những đoạn thơ mà sau này sẽ là kinh Coran, bằng những lời nói

và hành động của nhà tiên tri, Hồi giáo đã tự khẳng định mình bằng một sự giản đơn và mẫu mực và nó đã thống trị bán đảo Arập nói riêng và vùng

Trang 12

Trung Đông nói chung “ trên sức mạnh sống động của những “nền văn hoá

hiếu chiến”, của những dân tộc nguyên thuỷ mà nó đã đồng hoá và “văn minh hoá”một cách nhanh chóng” [12,113] Từ năm 1009 đến 1291, Palextin

từng bị quân Thập tự châu Âu tiến đánh về phía Đông và bị cướp bóc sạch Năm 1518, Palextin lại bị đế quốc Ôttôman Thổ Nhĩ Kỳ xâm chiếm, thống trị trong gần 400 năm Nhưng tất cả đều không làm thay đổi thuộc tính Arập của Palextin

Người Do Thái đã phiêu bạt khắp nơi trên thế giới hơn 1800 năm, một

số người từng bước đồng hoá với cư dân bản địa Nhưng số đông người Do Thái với tư cách là một cộng đồng vẫn giữ vững tín ngưỡng văn hoá, tập tục,

và ý thức dân tộc của mình Chính vì vậy mà họ không đánh mất bản sắc riêng và vẫn khó hoà hợp với dân tộc bản địa Một số người Do Thái giỏi kinh doanh buôn bán, họ lập xí nghiệp khắp nơi trên thế giới, tích luỹ vốn kếch xù dần dần chiếm vị trí ngày càng quan trọng trên lĩnh vực kinh tế thế giới và luôn luôn mâu thuẫn với lợi ích của giai cấp tư sản dân tộc nơi ấy Vì vậy, ở các nước tư bản chủ nghĩa bắt đầu nổ ra các hoạt động bài xích người

Do Thái thậm chí còn sát hại họ Trước làn sóng chống Do Thái luôn luôn xẩy ra, từ đầu thế kỉ XVII, người Do Thái đã nêu chủ trương trở về Palextin lập lại nước Do Thái Nhưng tư tưởng phục quốc lúc ấy còn đang nhen nhóm, ảnh hưởng không lớn và rất ít người ủng hộ Đến giữa thế kỉ XIX, sau khi Nga hoàng tàn sát với qui mô lớn đối với người Do Thái, ở châu Âu lại dấy lên làn sóng chống Do Thái, đã làm tiêu tan hi vọng của người Do Thái dựa vào các nước châu Âu để giành quyền sống cho mình Sau đó chủ trương khôi phục nước Do Thái lại được nêu lên, cuộc vận động phục quốc

Do Thái lại bắt đầu- Chủ nghĩa phục quốc Do Thái được dịch nghĩa trực tiếp

là “ chủ nghĩa xi ôn “ lấy tên ngọn núi Xion của Jeruzalem có nghĩa là kêu gọi người Do Thái trở về đất thánh của đạo Do Thái,lập lại nước Do Thái Người sáng lập ra chủ nghĩa này là Têođo Héc ( là một nhà soạn kịch, nhà văn và nhà báo gốc Do Thái sinh ở Hung gari lúc đó đang là phóng viên tờ

Trang 13

“Neue Frele Presse” tại Pari ), năm 1896 viết cuốn sách “ Nước Do Thái” có tính chất cương lĩnh của chủ nghĩa phục quốc Do Thái Theo Héc thì : người

Do Thái trên thế giới, bất kỳ cư trú ở nước nào đều cấu thành một dân tộc, nhưng dân tộc Do Thái không thể hoà hợp với dân tộc phi Do Thái, để thoát khỏi sự bức hại, người Do Thái cần phải thay đổi địa vị vô quyền và biện pháp giải quyết thích hợp là : xây dựng một gia đình dân tộc Do TháI, khẩu

hiệu mà Héc đưa ra là “ cho một dân tộc không có đất nước , một đất nước

không có dân tộc ” Ngày 29 /8/ 1897, Đại hội chủ nghĩa phục quốc Do Thái

thế giới đầu tiên họp ở Basel, Thuỵ Sĩ Đại hội đã thông qua cương lĩnh Basel

xác định “ mục tiêu của chủ nghĩa phục quốc Do Thái là xây dựng ở Palestin

cho dân tộc Do Thái một gia đình người Do Thái được pháp luật bảo đảm”

Và cũng tại đây đại hội đã đề ra các biện pháp để đạt được những mục đích ở trên đó là: 1 – Khuyến khích một cách có hệ thống việc phi thực dân hoá đất nước Palextin thông qua những nông gia thợ thủ công và thợ thuyền chuyên môn người Do Thái 2- Tổ chức và liên kết tất cả mọi tổ chức đạo Do Thái lại thông qua các hội địa phương và các liên minh chung, ăn khớp với luật lệ của các nước mà các tổ chức này đặt cơ sở 3- Củng cố tình cảm Do Thái và ý thức quốc gia của dân tộc Do Thái 4- Có những cuộc vận động chuẩn bị đối với chính phủ các nước để có sự thoả thuận cần thiết nhằm đạt tới mục đích của chủ nghĩa phục quốc Do Thái

Chính việc ra đời của cương lĩnh Basel đã đánh dấu chủ nghĩa phục quốc Do Thái ra đời Cũng trong năm 1897, M Noócđao – một học giả xiôn

nít đã tuyên bố “ Người Do Thái có khả năng và óc sáng tạo hơn hẵn người

châu Âu chứ chưa kể đến người châu Mỹ, châu Á, châu Phi ” [9,185] Khi

bàn về chủ nghĩa Xiôn, Lênin đã viết “ tư tưởng hoàn toàn không vững về

mặt khoa học tức tư tưởng về dân tộc Do Thái đặc biệt là phản động, xét về mặt ý nghĩa chính trị của nó ” rằng tư tưởng dân tộc ” Do Thái mang tính chất rõ ràng phản động , không những ở những người triệt để tán thành thuyết

Trang 14

đó ( những người theo chủ nghĩa phục quốc Do Thái ) mà cả ở những người tìm cách dung nạp nó” [15,80-81]

Và rồi từ đó vấn đề Palextin trở thành một vấn đề chủ yếu ở Trung Đông và là chỗ dựa cho chính sách chia rẽ của Anh ở Trung Đông

1.3 Nước Anh với chính sách bành trướng thế giới nói chung và Trung Đông nói riêng.

1.3.1 Sự bành trướng của thực dân Anh

Ở các thế kỷ trước, Anh không phải là quốc gia gây nhiều sự chú ý trên thế giới và cũng không phải là một nước mạnh ở châu Âu nhưng đến thời cận đại thì khác hẳn Với cuộc Cách mạng tư sản Anh năm 1640 -1688 đã đưa nước Anh bước sang một thời kỳ mới trong lịch sử của mình, nước Anh bước sang thời cận đại với tư cách là một cường quốc Khi mà tiếng súng của giai cấp tư sản chống phong kiến chưa dứt thì những ống khói của các nhà máy đã báo hiệu một thời kỳ mới trong sự phát triển của nước Anh - sự thống trị của chủ nghĩa tư bản được xác lập vững chắc trên tất cả các lĩnh vực Khi CNTB

đã thoát khỏi ách kìm kẹp của chế độ phong kiến cũng là lúc CNTB đem

xiềng xích nô lệ tròng vào cổ các dân tộc khác bởi vì “ sự ra đời của CNTB

thấm đầy máu và bùn nhơ từ khắp các lỗ chân lông của nó” , “ giai cấp tư sản

đã đem sự bóc lột công nhiên vô tình trực tiếp tàn nhẫn thay cho sự bóc lột được che đậy bằng những ảo tưởng tôn giáo và chính trị ”[14,47] Nước Anh

là nơi khởi đầu cho cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành công xưởng của thế giới Sức mạnh của nước Anh được khẳng định trên mọi phương diện cả kinh tế và chính trị

Như một sự tất yếu, sự phát triển của chủ nghĩa tư bản không thể tách rời quá trình xâm lược thuộc địa Nước Anh ngay từ khi mới chuyển sang nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đã tiến hành các cuộc chiến tranh xâm lược thuộc địa, giai cấp tư sản ở xứ sở sương mù đã đưa quân đội, tàu chiến, đại bác sang gõ cửa khắp năm châu và trong quá trình đó Trung Đông không thể không được tính đến trong suy nghĩ của các nhà tư sản Anh quốc vốn ôm

Trang 15

mộng bá chủ hoàn cầu Ngoài những lý do về vị trí chiến lược thì dầu lửa cũng là lý do đầy thuyết phục lý giải việc xâm lược Trung Đông của nước Anh.

Trong thế kỷ XIX, Ấn Độ là trung tâm của hệ thống thuộc địa của đế quốc Anh Đất nước này từng được ví là hạt ngọc trên vương miện của Nữ hoàng Anh Trung Đông cố nhiên không thể là thị trường rộng lớn như Ấn

Độ hay là khu vực nhiều tài nguyên như ấn Độ nhưng đổi lại Trung Đông lại

có vàng đen Người Anh từng kết luận rằng “ bằng mọi giá thế nào cũng giữ

lấy nguồn cung cấp dầu lửa vô tận này ”[17,5-6] Là một nước tiến hành cách

mạng công nghiệp sớm nhất trên thế giới nhưng lại là nước không có dầu lửa nên Anh cần một nguồn cung cấp dầu lửa đáng tin cậy.Bởi thế Trung Đông là nơi mà Anh nghĩ đến và điều đó lý giải vì sao Anh lại là một trong những nước đi đầu trong cuộc đua xâm lược Trung Đông Trong con mắt của người

Anh thì “ vùng đất từ sông Nin đến biển Caxpiên là khu vực chiến lược cần

thiết”[17,7], thậm chí những người theo quan điểm của Kipơlinh ( R.Kiplinh

1865-1936, là một văn sĩ kiêm thi sĩ Anh , ông đã viết nhiều sách về Ấn độ với nội dung là tán dương chính sách của Anh ở các nước thuộc địa ) thì xem khu vực Trung Đông có một ý nghĩa quan trọng không kém gì Ấn Độ

Sự phức tạp về tôn giáo cũng như những mâu thuẫn sắc tộc ở trên vùng đất này đã là chỗ dựa để thực dân Anh tiến hành chính sách của mình mà vấn

đề nổi bật hơn cả đó là vấn đề Palextin

Ngày 1/9/1939, cuộc chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ , chỉ trong một thời gian ngắn chiến tranh đã lan toả khắp thế giới cuốn hút tất cả các châu lục lao vào cuộc chiến Ở châu Âu trước sức mạnh như vũ bão của quân phát xít, nhiều nước châu Âu đã nằm dưới gót giày của phát xít Đức Chỉ trừ có nước Anh vẫn kiên cường chống lại Tại vùng Trung Đông, khói lửa chiến tranh cũng nhanh chóng lan tới Quân Anh đã chịu sự thất bại thảm hại trước sức mạnh của quân Ý, lần lượt các thuộc địa của Anh đều bị chiếm

Trang 16

Cho dù không phải là nước tham chiến trực tiếp, song vì là thuộc địa của các cường quốc cho nên Trung Đông cũng nhanh chóng bị lôi vào cuộc chiến Ban đầu chính quyền Anh tìm cách hoà giải mối mâu thuẫn giữa Anh

và Trung Đông hòng lôi kéo tránh lặp lại trường hợp như Thổ Nhĩ Kỳ trong chiến tranh thế giới thứ nhất Song cho đến năm 1941, tình hình của Anh ở Arập và Bắc Phi trở nên rất nguy ngập khi mà phía tây thì quân Ý, Đức ồ ạt tiến tới, phía Đông thì nhân dân Irắc nổi dậy còn nhân dân Ai Cập cũng đang chuẩn bị khởi nghĩa Tuy nhiên với sức mạnh của mình, đặc biệt là được sự ủng hộ của Đồng minh, Anh đã thoát khỏi tình thế hiểm nghèo Trận ElAlamen (8/12/1942) đã giúp Anh giành được lợi thế trước quân phát xít Đức- Ý và đến tháng 5/1943, quân phát xít bị gạt ra khỏi Trung Đông Đối với cuộc khởi nghĩa của nhân dân Irắc, được sự giúp đỡ của Mỹ, Anh đã tiến hành đàn áp thành công trong vòng ba mươi ngày

Bên cạnh đó, lợi dụng việc Pháp thất bại ở châu Âu, Anh đã nhanh chân chiếm Xiry và Li Băng (1939) Tuy nhiên, khi mà ảnh hưởng của Pháp đã bị loại bỏ ra khỏi Trung Đông thì Anh lại phải đương đầu với mối nguy lớn từ

nước Mỹ Chính Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Đalet đã tuyên bố :“ Đối với

việc đảm bảo an ninh cho Mỹ trong tương lai gần đây và sau này , không có gì quan trọng bằng vấn đề giành được hay không các mỏ dầu hoả ở Trung Đông”[5,18] Còn đại nguyên soái Xtalin thì vạch rõ :“ chính trên phương diện đó , trên phương diện mà cơ quan đầu não của toàn bộ hoạt động quân

sự và kinh tế của các nước đế quốc gặp nhau , Mỹ luôn luôn gặp phải sự phản kháng của Anh ” [5,17].

Vì thế có thể nói, nước Anh đã thắng trong chiến tranh thế giới thứ hai Song, khi tiếng súng chống phát xít chấm dứt ở Trung Đông thì cũng là lúc Anh dần dần bị Mỹ gạt khỏi vùng đất chiến lược này Đầu tiên là Mỹ gạt Anh

ra khỏi Arập Xêút, rồi Palextin Mỹ đã từng bước thay Anh thống trị Trung Đông

1.3.2 Nước Anh với vấn đề Palextin

Trang 17

Có thể nói rằng nước Anh là một bậc thầy trong việc lợi dụng mâu thuẫn giữa các dân tộc, các tôn giáo để áp đặt quyền thống trị của mình và vấn đề Palextin là một biểu hiện của chính sách ấy Thực tế không phải đến những năm đầu thế kỷ XX, vấn đề Palextin mới được nước Anh quan tâm mà từ trước đó rất lâu vào những năm đầu của thế kỷ XIX, Steuxebiut - đại diện của

Anh tại Mỹ, đã tuyên bố rằng: “Chúa Trời sẽ để cho người Do Thái xây dựng

lại Jêrudalem”, còn Giáo hoàng Rôma – Julian cũng tuyên bố ủng hộ những

người Do Thái trong vấn đề phục quốc của mình Antixemit - nhà thần học

người Anh, thì cho rằng: “Sự thành lập một quê hương của người Do Thái là

một biện pháp tối ưu để giải phóng cho người Do Thái và là một giải pháp cho “câu hỏi Phương Đông”[22]

Năm 1621 ông Henri Phinch- một nhà hoạt động chính trị người Anh,

trong cuốn sách “sự phục hồi lớn của thế giới” đã động viên người Do Thái

trở về với vùng đất Palextin Và việc này không chỉ thu hút sự quan tâm của nước Anh mà thậm chí Napôlêông Bônapác cũng đã từng hứa rằng sẽ khôi phục vị trí của người Do Thái ở vùng đất Palextin (1799)

Còn Henri Sơcxin- một chính khách của Anh, trong năm 1841, đã viết một bức thư cho vị lãnh tụ tinh thần người Do Thái- Montephiore trong đó viết: Tôi cho rằng mọi vấn đề (tức là việc trở về vùng đất Palextin đối với người Do Thái) sẽ rất hoàn hảo nếu có hai điều kiện sau :

- Thứ nhất: Người Do Thái cần phải đoàn kết chặt chẽ lại với nhau

- Thứ hai: Người Do Thái cần có được sự giúp đỡ của các cường quốc châu Âu trong việc trở về này

Năm 1839, nhà thờ ở Xcôtlen đã gửi thư cho A M’cheyne-một lãnh tụ

Do Thái báo cáo nói về những điều kiện cho việc trở về vùng đất Palextin của những người Do Thái và thực sự nó đã gây tiếng vang lớn trong nước Anh đặc biệt là trong chính giới Anh quốc Tháng 8/1840, chính phủ Anh bắt đầu xem xét đến vấn đề sự phục hồi của người Do Thái và chính phủ Anh còn điều tra xem xét tình hình để xác định:

Trang 18

- Quan điểm, thái độ của những người Do Thái đối với quá trình trở về vùng đất Palextin

- Người Do Thái sẽ sống như thế nào ở Palextin

- Thời gian để họ trở về là khi nào

- Vấn đề bảo đảm an toàn cho cuộc sống và tôn giáo cho người Do Thái

ở trên vùng đất Palextin và những quyền lợi của nước Anh sẽ đạt được khi ủng hộ người Do Thái

Năm 1848 ,G Cawlev (một người hùng trong trận Oateclo) đã viết :“tôi

rất vui mừng khi thấy một nhà nước Do Thái được thành lập ở trên vùng đất Palextin”[22], còn G Eliot thì biện hộ rằng sự phục hồi của người Do Thái

là xây dựng đất nước trên cái nền cũ và tỏ ra rất tin tưởng vào sự thành lập một nhà nước Do Thái

Cho đến năm 1880, L.Oliphant (1829 – 1888), một quan chức trong chính phủ Anh - trong cuốn sách “Vùng đất của Gilead” đã thúc giục và kêu gọi nghị viện Anh giúp đỡ sự phục quốc của người Do Thái trở về vùng đất Palextin từ Nga, châu Âu và phương Đông Và cho đến khi Anh thực hiện được quá trình xâm lược Thổ Nhĩ Kỳ thì đã tạo điều kiện cho chính phủ Anh thực hiện chủ trương này Và sự kết hợp giữa chủ nghĩa phục quốc Do Thái

với chính quyền Anh như lời của Chaim Weizmann đã nói: “chúng tôi có thể

nói một cách hợp lý rằng nếu như Palextin rơi vào khu vực ảnh hưởng của Anh và nêú Anh thúc đẩy việc người Do Thái về cư trú ở đó, như trong thuộc địa của Anh, thì sau hai ba chục năm chúng tôi sẽ có thể có ở đó đến một triệu người Do Thái, cũng có thể nhiều hơn nữa Họ sẽ phát triển đất nước, trả lại văn minh cho nó và tạo nên một vị trí bảo vệ rất có hiệu quả cho kênh Xuyê"

[11,233-234] Những tuyên bố tương tự của các lãnh tụ phục quốc Do Thái

đã nhận được sự đồng tình của nhà cầm quyền Anh Lúc này Anh đang kiên quyết tiến hành đường lối chia nhỏ và thống trị Thổ Nhĩ Kỳ, vì vậy sự ra đời của nhà nước Palextin Do Thái rất có lợi cho Anh Đỉnh cao của sự gặp gỡ giữa quyền lợi của nước Anh và ước mơ của người Do Thái đó chính là sự ra

Trang 19

đời của bản tuyên bố Banpho Bản tuyên bố này được soạn thảo bởi Ar Jame Banpho- nguyên là Ngoại trưởng của nước Anh và sau này đã trở thành Thủ tướng thứ 50 của vương quốc Anh Bản tuyên bố Banpho được chuẩn bị từ tháng 3/1916 và được chính thức tuyên bố vào ngày 02/11/1917 và được cả tổng thống Mỹ Uynxơn ủng hộ Trong đó chính phủ Anh bày tỏ thái độ tán

thành và ủng hộ đối với những người theo chủ nghĩa Xion “cho thành lập ở

vùng đất Palextin một “quê hương có tính chất dân tộc” của người Do Thái”

và chính phủ Anh hứa sẽ dùng “mọi cố gắng của mình để tạo điều kiện dễ

dàng cho việc thực hiện mục tiêu này” Bản tuyên bố cũng chỉ rõ :“ không nhất thiết phải thiết lập một điều gì cả đến nỗi mà có thể gây tổn thương cho những quyền công dân và những quyền tôn giáo của những cộng đồng không phải là cộng đồng Do Thái ở vùng đất Palextin ”[10,106] Bản tuyên bố này

đã được chính phủ Anh gửi cho Lord Rothschild – là người vận động cho tổ

chức phục quốc Do Thái Chính Banpho sau này cũng đã tuyên bố :“… dù

đúng hay không, dù tốt hay xấu, chủ nghĩa phục quốc Do Thái bắt rễ sâu vào truyền thống rất lâu đời, vào nhu cầu của ngày hôm nay và những hy vọng của ngày mai”[22] Tuy nhiên, vấn đề nằm ở chỗ trong khi những người theo chủ

nghĩa phục quốc Do Thái đòi thừa nhận vùng đất Palextin là đất nước của người Do Thái và muốn thành lập ở đó một quốc gia của người Do Thái thì

chính phủ Anh lại sử dụng từ “Nation home”, nghĩa là chỉ hứa cho người Do

Thái thành lập một “quê hương có tính chất dân tộc mà thôi” Đây thực sự là một kiểu tuyên bố mập mờ của chính phủ Anh “quê hương có tính chất dân tộc - Nation home” liệu có phải là một tổ quốc cho người Do Thái, một đất

nước của người Do Thái hay không? điều đó thì tuyên bố Banpho “không nói

rõ ý nghĩa của nó” [10,234].Và “ người ta không hề xác định về mặt pháp lý ý

nghĩa của từ đó như thế nào và trong công pháp quốc tế chưa hề có một tiền

lệ để cho phép giải thích Người ta không khỏi nghĩ rằng, văn bản (của bản tuyên bố đó) là mơ hồ một cách có dụng ý” (Báo cáo của Uỷ ban đặc biệt của

Liên Hợp Quốc về Palextin tại Đại hội đồng Liên Hợp Quốc ngày 31/8/1947)

Trang 20

[18, 9-10] Điều này thể hiện tính chất nửa vời của chính phủ Anh và để lý giải cho sự mập mờ này chúng ta có thể hiểu thực chất của vấn đề này là nước Anh ủng hộ người Do Thái nhưng không phải vì lợi ích của người Do Thái mà là vì lợi ích của nước Anh, nước Anh chỉ muốn lợi dụng mâu thuẫn của người Do Thái và người Arập để hòng tạo ra một tình trạng lộn xộn ở vùng đất Palextin để nước Anh dễ bề cai trị Họ muốn sử dụng người Do Thái như một lực lượng đối trọng về chính trị so với với người Arập cho nên Anh mới nói một khái niệm mơ hồ để dễ dàng lật lọng thay đổi quan điểm của mình khi tình hình có sự biến đổi mà không ai có thể bắt bẻ được - Đó chính là tính chất hai mặt của chủ nghĩa đế quốc mà nước Anh là một điển hình và thực tế đã chứng minh điều đó

Chính bản tuyên bố Banpho đã định hướng cho chính sách của Anh ở khu vực này trong một thời gian dài để Anh biến vùng Palextin thành thành trì của mình ở Trung Đông Bản tuyên bố Banpho được thông báo cho các nước đồng minh kể cả Mỹ (Mỹ tham chiến vào tháng 4/1917) Các chính phủ đồng minh tìm thấy lợi ích của mình trong việc cổ vũ chủ nghĩa phục quốc

Do Thái nên đã tích cực ủng hộ Và cùng với mật ước Sykes - Picot , tuyên

bố Banpho đã đặt nền móng cho sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc đối với vùng đất Arập Palextin

Tất cả các vấn đề trên khi bị tiết lộ đã làm dấy lên cơn bão táp phản đối của thế giới Arập Nhưng đã muộn vì đất nước của họ đã bị chiếm đóng hoặc lâm vào tình thế bất lực do thủ đoạn chia rẽ của bọn đế quốc, tình trạng cô lập

và do họ đã bị tước đoạt mất nhiều khu vực ở Irắc, Xiry và Palextin, chế độ quân sự do quân đội nước ngoài dựng lên đã hoành hành khắp nơi và đã tỏ ra

có hiệu lực trong việc đàn áp phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân Người Arập đã gặp phải - không phải là một kẻ đi áp bức đã suy yếu như đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ xưa kia, hay một cường quốc bên ngoài duy nhất như nước Anh mà giờ đây là một liên minh các nước đế quốc hết sức mạnh mẽ và đặc biệt là sắp có trong tay một tổ chức quốc tế thường trực làm công cụ thực

Trang 21

hiện chính sách của nó (tức Hội Quốc Liên) Giấc mộng tự do, công lý và độc lập của họ tan biến và thay vào đó là sự thống trị của chủ nghĩa đế quốc Tuy nhiên trước sự phản ứng của thế giới Arập, các nước đế quốc đã liên tiếp đưa

ra những bản tuyên bố hòng xoa dịu dư luận :

Ngày 4/1/1918 (hai tháng sau khi ra bản Tuyên bố Banpho): Thư của viên chỉ huy Hogarph gửi Hussein trong đó Anh đảm bảo với Hussein rằng nguyện vọng của người Do Thái trở về vùng đất Palextin chỉ được thực hiện trong trường hợp phù hợp với quyền tự do của dân chúng hiện tại, trong lĩnh vực kinh tế cũng như trong lĩnh vực chính trị

Ngày 8/2/1918: Thư của đại diện Anh J.R.Bassett gửi Hussein để làm cho Hussein bớt kinh ngạc vì người Thổ vừa truyền bá rộng rãi trong các nước A Rập, nội dung các hiệp nghị bí mật đã bị Liên Xô tiết lộ mà đó là mật ước Sykes - Picôt

Ngày 16/6/1918: Tuyên bố của Chính phủ Anh gửi cho 7 nhân vật A Rập sau khi 7 nhân vật này đã gửi giác thư cho Chính phủ Anh bày tỏ thái độ của mình đối với chính sách của Anh

Ngày 7/11/1918: Tuyên bố chúng của Pháp – Anh đã nhắc lại những lời hứa về độc lập và trù tính việc thiết lập “các chính quyền và các chính phủ dân tộc, mà quyền lực của nó là bắt nguồn từ sáng kiến và sự tự do lựa chọn của dân chúng địa phương”

Tuy nhiên, đây thực chất chỉ là những tuyên bố nhằm đánh lạc hướng dư luận, còn trên thực tế vấn đề Palextin không bao giờ được giải quyết theo những nguyên tắc của quyền dân tộc tự quyết mà là sự áp đặt của các cường quốc đối với nhân dân Arập mà thôi

Để phù hợp với bản tuyên bố Banpho và tinh thần của hội nghị Sanrêmô (hội nghị của các nước thắng trận để phân chia lại thế giới), ngày 4/10/1921, tại phiên họp đầu tiên của Uỷ ban thường trực về quyền uỷ trị do Hội đồng Hội Quốc Liên thành lập ngày 1/12/1920 (mà hội đồng Hội Quốc Liên lúc đó gồm có 5 nước đồng minh chủ yếu là Mỹ, Anh, Pháp, ý, Nhật cộng với 4

Trang 22

nước do các cường quốc chọn ra), Rappard – chủ tịch tiểu ban về quyền uỷ

trị đã xác định vấn đề như sau: “Các thuộc địa cũ của Đức không đem nộp

cho Hội Quốc Liên mà nộp cho các nước đồng minh chủ yếu Còn về các thuộc địa cũ của đế quốc Ôttôman, hiệp ước Xevơrơ quy định là phải nhượng lại cho các cường quốc đồng minh chủ yếu, nghĩa là cho Hội đồng tối cao vốn

đã nắm các đất đai đó và đã tiến hành việc phân chia lãnh thổ giữa các cường quốc được nắm quyền uỷ trị Điều đó đã được tiến hành ở Vecxai và ở Sanrêmô” [18,12] Ngày 5/4/1924, Van Reess – Chủ tịch khoá họp thứ 5 của

Uỷ ban thường trực về quyền uỷ trị khi trả lời một câu hỏi có nhắc đến lời một luật gia người Bỉ là Henri Rolin định nghĩa tính chất quỳên uỷ trị như

sau: “Việc giao quyền uỷ trị thuộc địa, về tính chất, là có tính chất dứt khoát

và vĩnh viễn Nước nắm quyền uỷ trị, về mặt tinh thần và thậm chí cả về mặt vật chất, quan tâm đến việc bảo vệ thuộc địa của mình như mọi cường quốc thực dân khác, cho dù ở dưới chế độ cửa mở Hiệp nghị trao quyền uỷ trị đối với 5 cường quốc được giao là một hành vi cắt nhượng không thay đổi”

[18,12] Đối với vùng đất Palextin, ngày 24/7/1922, tại Luân Đôn, Hội Quốc

Liên đã thông qua nghị quyết giao cho Anh quyền uỷ trị trên vùng đất

Palextin :“Căn cứ vào sự đồng ý của các cường quốc đồng minh, phù hợp với

chức năng của mình đã được ghi trong điều 22 của Hội Quốc Liên, Hội Quốc Liên giao cho quyền uỷ trị của những người được lựa chọn ở các cường quốc

để quản lý vùng đất Palextin… Các cường quốc có trách nhiệm thiết lập ở vùng đất Palextin một “Nationhome” cho người Do Thái… cơ quan uỷ trị sẽ thay mặt cho Hội Quốc Liên những điều đã cam kết”[22].

Với 28 điều Nghị quyết của Hội quốc dân đã đề cập đến mọi mặt của

đời sống trên vùng đất Palextin Theo đó: “Cơ quan uỷ trị có quyền ban hành

luật pháp và quản lý song chỉ giới hạn trong quyền hành của sự uỷ trị (điều 1)

Đồng thời “cơ quan uỷ trị sẽ chịu trách nhiệm quản lý vùng đất thuộc quyền

mình kiểm soát về hành chính và tình hình phát triển kinh tế” (điều 2) Về vấn

đề nhập cư của người Do Thái thì nghị quyết về quyền uỷ trị đã quy

Trang 23

định:"một tổ chức Do Thái thích hợp sẽ chính thức được thừa nhận và sẽ có

quyền đưa ra ý kiến với chính quyền Palextin và hợp tác với chính quyền trong tất cả các vấn đề kinh tế xã hội và các vấn đề khả dĩ có tác dụng đến việc thành lập một quê hương dân tộc Do Thái” Ngoài ra: “Chính quyền của Palextin bảo đảm cuộc sống cho vùng đất được phân chia của những người dân và tạo điều kiện cho những người Do Thái nhập cư có những điều kiện tốt đẹp” (điều 6) và: “Cơ quan uỷ trị sẽ làm tất cả có thể và cần thiết để đảm bảo

cho sự nhập cư, định cư và các trại tập trung trên vùng đất Palextin”.

Rõ ràng căn cứ vào những điều này chúng ta có thể kết luận rằng trên thực tế, chính quyền uỷ trị mà Hội Quốc Liên giao cho nước Anh đã tỏ ra thiên vị, ủng hộ chủ nghĩa phục quốc cuả người Do Thái Khi mà người Arập đang nắm phần lớn đất đai và chiếm đa số trong tổng số dân số ở vùng đất Palextin thì những chính sách này đã vô hình chung tạo những điều kiện thuận lợi cho những người Do Thái nhập cư và bảo đảm cho họ những lợi thế tương đối trong việc trở về vùng “đất thánh” của mình Tuy có đề cập đến vấn đề bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, đảm bảo cho mọi người có cuộc sống

tốt đẹp, Như việc quy định thiết lập “một hệ thống tư pháp đảm bảo cho

người nước ngoài cũng như cho người bản xứ được sự đảm bảo hoàn toàn về các quyền lợi của họ” đồng thời không cho phép “bất cứ sự đối xử bất bình đẳng nào giữa những người dân Palextin vì sự khác biệt về nòi giống, tôn giáo hoặc ngôn ngữ” (điều 15), nhưng thực chất đây cũng chỉ nhằm đảm bảo sự an

toàn cho những người Do Thái khi trở về vùng đất này

Đối với các nước khác ở trong Hội Quốc Liên thì văn bản về quyền uỷ

trị cũng quy định mối quan hệ giữa các nước như sau: “Cơ quan uỷ trị sẽ

đảm bảo quyền bình đẳng giữa các quốc gia thành viên của Hội Quốc Liên trên mảnh đất Palextin (bao gồm cả các tổ chức kinh tế của các nước ở trên đó) và sự đối thoại của cơ quan uỷ trị của các cường quốc trong việc đánh thuế, buôn bán đường biển, phát triển công nghiệp, đường hàng không… tất

cả đều được đảm bảo và mọi quyền lợi sẽ được căn cứ trên những điều kiện

Trang 24

đặc điểm của từng nước, từng thời kỳ nhất định của vùng đất uỷ trị để đảm bảo cho sự công bằng hợp lý” (Văn bản dịch Nghị quyết Hội Quốc Liên về quyền ủy trị) Như chúng ta đều biết vùng đất Palextin nói riêng và Trung

Đông nói chung là vùng chiến lược rất quan trọng cho nên tất yếu sẽ dẫn đến

sự tranh chấp giữa các cường quốc cho nên văn bản về quyền uỷ trị của Hội

Quốc Liên đã chỉ rõ : “Trong thời gian uỷ trị nếu xẩy ra tranh chấp giữa các

cường quốc mà không thể điều đình được thì sẽ giải quyết theo luật pháp quốc

tế theo điều 14 của hiệp ước được ký kết giữa các nước khi thành lập Hội Quốc Liên” (Văn bản dịch Nghị quyết Hội Quốc Liên về quyền ủy trị).

Chính quyền uỷ trị có quyền đại diện về mặt ngoại giao và hàng năm phải gửi báo cáo về vùng đất mà mình được quyền uỷ trị cho hội đồng Hội Quốc Liên và thời gian ủy trị sẽ do Hội Quốc Liên xem xét trên cơ sở những báo cáo đó để có thể tiếp tục hay không

Tất cả những điều đó đã làm lộ rõ bộ mặt thực dân trá hình của cái gọi là chế độ uỷ trị Quyền uỷ trị của Anh mang hình thức “Quyền uỷ trị A” nghĩa

là về mặt chính thức Anh phải có nhiệm vụ đưa các nước bị chiếm đóng “mà

sự tồn tại với tính cách là những quốc gia độc lập có thể tạm thời được thừa nhận” tới nền độc lập hoàn toàn (?)

Không đợi được chính thức giao quyền uỷ trị (thậm chí trước khi ký các hiệp nghị về quyền uỷ trị), Anh đã vội vã biến vùng đất Palextin trở thành vùng đất của mình Khi đội quân của tướng Allenby đến Jêruzalem vào ngày 9/12/1917 thì Anh đã thiết lập một chính quyền quân quản trên “các đất đai địch bị chiếm đóng”

Đến ngày 1/7/1920, Chính phủ Anh thay thế chính quyền quân sự bằng một chính quyền dân sự đặt dưới quyền một cao uỷ chịu trách nhiệm trước

Bộ trưởng Bộ Thuộc địa Anh (Báo cáo của Uỷ ban đặc biệt Liên hợp quốc về Palextin trước Đại hội đồng Liên hợp quốc ngày 31/8/1947) Vị cao uỷ đầu tiên của nước Anh đó là Herbert Samuel – một trong những người đã thảo ra bản tuyên bố Banpho Cao uỷ nắm quyền hành tuyệt đối về hành pháp, lập

Trang 25

pháp, tư pháp, ngoại giao và quân sự Các nhân viên cộng sự chủ yếu của cao

uỷ là những viên sỹ quan cao cấp trong quân đội mặc thường phục Chính phủ “dân sự” mới trực thuộc mẫu quốc và nước Anh áp dụng các luật lệ, quy tắc hiện hành ở đây như các thuộc địa của Anh

Chỉ sau khi Hội Quốc Liên khẳng định quyền uỷ trị của Anh đối với Palextin, Chính phủ Anh mới công bố một đạo luật cơ bản là “Palestine order

in Council” ngày 10/8/1922 Nhưng thực tế đạo luật cơ bản này chỉ là sự khẳng định quyền lực của viên Cao uỷ và đạo luật này đã ấn định việc tổ chức chính quyền ở Palextin Chính quyền ở Palextin được tổ chức như sau: Cao uỷ được sự giúp sức của một Hội đồng Hành pháp bao gồm các quan chức người Anh do vua Anh cử ra để nắm giữ các chức năng cai trị và thời gian cai trị tuỳ theo ý mình quyết định Ngoài ra có một Hội đồng Lập pháp đặt dưới quyền chủ toạ của Cao uỷ, hội đồng này được dân chúng bầu ra một phần (tất nhiên chỉ một số dân chúng hạn chế được chia ra theo nhiều loại căn

cứ theo tín ngưỡng - đây cũng là một hình thức gây chia rẽ mâu thuẫn trong nội bộ nhân dân theo tôn giáo), tuy nhiên những biện pháp dân chủ này cũng không bao giờ được thực hiện Ngay trong cuộc bầu cử đầu tiên vào năm

1923, Cao ủy Anh viện cớ cho rằng các “ cử tri” đã không hợp tác đủ mức với chính quyền, do đó ông ta đã huỷ bỏ kết quả cuộc bầu cử và tiếp tục cai trị Palextin theo hình thức độc tài trong vòng 24 năm Điều này căn cứ theo

quyền lực của Cao uỷ là “ban hành tất cả mọi mệnh lệnh mà ông ta thấy là

cần thiết cho hoà bình trật tự và sự cai trị trôi chảy đối với vùng đất Palextin”[22]

1.3.3 Palextin dưới quyền uỷ trị của Anh.

Chính sách thực dân phản động của Anh đã làm cho Palextin thường xuyên sống trong máu lửa, mâu thuẫn giữa người Arập và người Do Thái không ngừng bùng phát Trong các kết luận của uỷ ban điều tra Hoàng gia

Anh “Feel” (1937 ) đã nêu lên : “Chúng tôi tin rằng hoà bình trật tự và sự cai

trị trôi chảy chỉ có thể duy trì được ở Palextin bằng một chế độ đàn áp khắc

Trang 26

nghiệt” [18,13] Sự cách biệt giữa nghĩa vụ thiết lập một chế độ tự do dân

chủ đối với nhân dân Palextin (mà đại đa số là người Arập) và lời cam kết của Anh là thiết lập một quê hương dân tộc cho người Do Thái cũng như tạo điều kiện dễ dàng cho người Do Thái nhập cư về vùng đất Palextin tất yếu sẽ tạo ra một không khí bất an và rối loạn Vào tháng 4/1918, trước khi chiến tranh thế giới thứ nhất kết thúc, ủy ban phục quốc Do Thái đã đến Palextin với sự thoả thuận của chính phủ Anh nhằm thực hiện bản tuyên bố Banpho Chính thực dân Anh đã dùng bản tuyên bố này để liên kết một bộ phận người

Do Thái phục quốc xa lạ với đất nước họ nhằm thực hiện chính sách áp bức của Anh đối với nhân dân Palextin và do đó đã duy trì mối mâu thuẫn thường trực giữa người Do Thái và người Arập Thực tế Anh cũng không có thiện chí với người Do Thái bởi vì thực chất Anh chỉ muốn lợi dụng họ để gây mâu thuẫn và tạo ra tình trạng lộn xộn phức tạp ở Trung Đông mà cụ thể là trong thế giới Arập để họ dễ bề cai trị

Chính quyền quân sự của Anh ở Palextin lập tức kết hợp bản tuyên bố

Banpho với chính sách của mình bằng cách cho phép thành lập một “chính

phủ thực sự song hành tiến hành các hoạt động ở tất cả các nơi thuộc Palextin” [18,14], với một nền tư pháp riêng, một lực lượng quân sự Do

Thái, một cơ quan tình báo “rất có hiệu quả” để đàn áp sự phản ứng của nhân dân Arập Palextin Trên vùng đất này bên cạnh tiếng Arập thì chính quyền Anh tuyên bố tiếng Anh và tiếng Hêbơrơ (tiếng của người Do Thái) là ngôn ngữ chính thức Ngay trong thời kỳ này, giữa lúc đang có chiến tranh thế giới, người Arập đã đấu tranh chống các biện pháp đó, đòi được quản lý công việc của họ phản đối việc chiếm đóng, quyền uỷ trị và việc vi phạm quỳên lợi của họ Mùa xuân năm 1920, quân đội Anh đã đàn áp các cuộc biểu tình đầu tiên của người Arập làm cho nhiều người chết và bị thương, trong những năm tiếp đó phong trào dân tộc của các nước Arập đã phát triển mạnh

mẽ và ngày càng lớn mạnh trong suốt thời kỳ giữa hai cuộc chiến tranh thế giới dưới những hình thức khác nhau như: hoạt động chính trị, bãi công, biểu

Trang 27

tình, đấu tranh vũ trang- tuy gặp nhiều thất bại song cũng đã thể hiện tinh thần của người Arập

Chính những chính sách ưu ái mà nước Anh đã dành cho người Do Thái

đã khiến cho làn sóng người Do Thái đổ về vùng đất Palextin ngày càng tăng Khi quân Anh mới đến ở đây chỉ có 56 nghìn người Do Thái (chiếm khoảng 10% dân số), từ năm 1920-1946, dân số tăng lên 608.225 người, chiếm 1/3 dân số toàn Palextin (báo cáo của Liên Hợp Quốc ngày 31/8/1947) Trong khoảng thời gian từ năm 1920-1946, phần lớn người nhập

cư (376 nghìn người) là từ châu Âu đặc biệt là sau khi Hítle nắm chính quyền-với chính sách bài Do Thái triệt để tàn sát không thương tiếc người

Do Thái, đã gây nên làn sóng chạy loạn của người Do Thái và họ đã tìm về vùng đất Palextin Một điều cần nói đến đó là việc nhập cư không phải chỉ ở quy mô rộng lớn của nó mà chính là ở tính chất có tổ chức và có kiểm soát của nó, do chính quyền người Anh thực hiện với sự hợp tác của các tổ chức phục quốc Do Thái, việc nhập cư dần dần phụ thuộc vào chính sách thực dân

hoá của Anh Trong văn bản về quyền uỷ trị có ghi rõ “một tổ chức Do Thái

thích hợp sẽ chính thức được thừa nhận và sẽ có quyền đưa ra ý kiến với chính quyền Palextin và hợp tác với chính quyền trong tất cả các vấn đề kinh

tế, xã hội và các vấn đề khác mà khả dĩ có tác dụng đến việc thành lập một quê hương dân tộc cho người Do Thái…”.(Văn bản dịch Nghị quyết Hội Quốc Liên về quyền ủy trị) Tổ chức hợp tác đó lúc đầu có tên là tổ chức phục quốc

Do Thái và đến 1929 trở thành cơ quan Do Thái (sự thay đổi này cho phép đưa vào Ban chấp hành tổ chức phục quốc Do Thái các nhà tư bản Do Thái) Với sự giúp đỡ của nhiều tổ chức khác phụ thuộc nó (như Quỹ tái thiết, Ngân quỹ quốc gia, Ngân hàng Anh-Palextin, tổ chức công đoàn Histadrouth, Hagana, ) cơ quan Do Thái này có quyền hành tương đương với quyền hành của một chính phủ, tổ chức việc nhập cư, mua đất, cấp vốn cho các công cuộc kinh doanh công nghiệp và nông nghiệp, giám sát các tổ chức tôn giáo, tư pháp, trường học, nền văn hoá Do Thái và chỉ huy các lực lượng vũ

Trang 28

trang Do Thái mà uỷ ban phục quốc đã bắt đầu thành lập và huấn luyện ngay trước khi Anh thực hiện quyền uỷ trị Đối với việc nhập cư thì viên cao ủy Anh nắm mọi quyền hành

Năm 1925, quyền nhập cư được giao cho tổ chức phục quốc Do Thái đảm nhận Những giấy tờ nhập cư (số lượng do cao ủy quyết định) được giao cho cơ quan Do Thái để cơ quan này phân phối cho các chi nhánh của nó ở châu Âu Và đương nhiên những ai chấp nhận nguyên tắc thực dân hoá của chủ nghĩa phục quốc và bằng nghề nghiệp, tư tưởng và tài sản của mình có thể giúp ích cho sự nghiệp của phong trào phục quốc thì mới được nhập cư Những người nhập cư vào Palextin được chia thành các loại: công nhân, nhân viên kỹ thuật, những người làm nghề tự do, những người có tôn giáo Ai có vốn tối thiểu 1 nghìn đồng bảng thì được biệt đãi phần lớn những người nhập

cư trong các năm 1933- 1935 là thuộc loại này

Về vấn đề cướp đoạt đất đai ở Palextin, thì một trong những đạo luật đầu tiên của chính quyền dân sự Anh là công bố đạo luật về chuyển nhượng đất đai (Land tralsfer ordinance) tháng 9/1920 Năm sau, một đạo luật bổ sung cấm mọi việc bán đất quá 30ha trừ đối với các tổ chức kinh doanh thuộc lợi ích công cộng

Như vậy là các tổ chức phục quốc Do Thái chuyên trách được phép mua đất Được sự bảo trợ của cơ quan Do Thái, các tổ chức phục quốc được coi là thuộc lợi ích công cộng như các tổ chức tài chính và ngân hàng điều đó đương nhiên việc làm của các tổ chức này không bị đạo luật trên ngăn cản

Do đó họ nắm độc quyền cung cấp cho người Do Thái những đất đai màu mỡ nhất Hai tổ chức phục quốc chính nắm việc mua đất là cơ quan thực dân hoá của người Do Thái ở Palextin (viết tắt là PICA) và ngân quỹ dân tộc Do Thái (KKL) Hai cơ quan này được lập ra bằng vốn tư nhân nhất là vốn ngân hàng

từ hồi đầu thế kỷ Cho đến những năm 50, PICA đã nắm giữ trong tay 47 nghìn ha, KKL nắm 2500 ha năm 1920, 28000ha năm 1930 và 72800ha năm

1944 (tức là 44% đất đai của người Do Thái Từ 1921 - 1936 nó đã chiếm

Trang 29

51% đất đai) Chính sách này của thực dân Anh đã dẫn đến tình trạng người Arập bị tước đoạt đất đai với nhịp độ ngày càng tăng, hàng ngàn người dân Arập Palextin bị mất đất ngay trên quê hương của mình

Ách thống trị của thực dân Anh với chính sách dung dưỡng của nó cộng với sự lộng hành của các tổ chức phục quốc Do Thái tất yếu sẽ dẫn đến bùng

nổ phong trào đấu tranh của người Arập Chỉ tính riêng trong năm 1935 đã có 173.634 trẻ em người Arập từ 6 - 12 tuổi (73% trẻ em đến tuổi đi học) đã không có trường học và theo những số liệu chính thức tỷ lệ ngân sách dành cho giáo dục trong ngân sách chung của chính quyền đã giảm từ 6,19% (1931) xuống còn 2,9% (1944 – 1945) Trong năm 1931, tỷ lệ người thất học trong nhân dân Arập là 85% đối với đàn ông và 93% đối với phụ nữ Người dân Arập bị kiềm chế trong tình trạng lạc hậu, họ bị cướp đoạt mất đi những cái quý giá nhất đối với họ đó là đất đai và khả năng cày cấy, từ khi Anh nắm quyền uỷ trị trên vùng đất này vấn đề ruộng đất càng trở nên gay gắt về mặt vật chất nó là cơ sở chủ yếu của cuộc nổi dậy của người Arập và là đối tượng cướp đoạt chính của những người Do Thái

Cho đến chiến tranh thế giới lần thứ hai tất cả mọi phong trào đấu tranh của người Arập từ bãi công, tẩy chay phá hoại và đấu tranh vũ trang đều xoay quanh ba yêu sách chính:

- Chấm dứt sự chiếm đóng và quyền cai trị thực dân của nước ngoài

- Đình chỉ việc nhập cư của người Do Thái và việc cướp đoạt ruộng đất của người Arập

- Thành lập chính phủ hợp hiến đại diện cho toàn thể nhân dân Palextin

mà đa số là người Arập

Trong giai đoạn đầu phong trào đấu tranh diễn ra dưới sự chỉ đạo của các đại hội người Arập ở Palextin họp đầu kỳ từ năm 1920 đến năm 1928, lúc đầu phong trào đấu tranh của người Arập Palextin gắn liền với phong trào đấu tranh của nhân dân Xiry

Trang 30

Dưới sự thúc đẩy của các đại hội phong trào kháng chiến của người Arập đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhân dân Arập đã cử các phái đoàn của mình sang Luân Đôn để trình bày với chính phủ và quốc hội Anh những yêu sách của người Palextin, tẩy chay các cuộc bầu cử hội đồng lập pháp (đã được hiến pháp thực dân tháng 8/1922 quy định), không đóng thuế (1923 -1925), từ chối đề nghị của Anh là thành lập một cơ quan Arập song song với

cơ quan Do Thái (1923), phong trào tổng bãi công vào năm 1925 để tỏ tình đoàn kết với cuộc nổi dậy của nhân dân Xiry chống Pháp và các cuộc biểu tình phản đối cuộc viếng thăm của L.Banpho tới Jerudalem để khai trương trường đại học Do Thái

Trong thời kỳ này giai cấp tư sản dân tộc Palextin đang hình thành là giai cấp có tiềm lực và có khả năng tổ chức các cuộc đấu tranh và đương nhiên họ nắm quyền lãnh đạo phong trào dân tộc của nhân dân Arập Palextin

Chính quyền thực dân hiểu rằng sự đoàn kết trong phong trào dân tộc Arập tất yếu sẽ lôi kéo quần chúng vào cuộc đấu tranh, vì thế nó tìm cách gây chia rẽ trong phong trào đặc biệt là chính quyền thực dân Anh đã lợi dụng mâu thuẫn giữa hai gia đình Arập giàu có là Hussein và Nachachibin trong việc tranh giành quyền lãnh đạo phong trào

Ngay từ năm 1917, tướng Allenby đã cử một trong những nhân vật có tiếng hơn cả trong gia đình Hussein là N.K.Al Hussein làm thị trưởng Jerudalem Nhưng khi thấy N.K.Al Hussein nói chuyện với đám đông biểu tình trước toà thị chính đòi độc lập (tháng 4/1920), thì Hussein liền bị cách chức và thay vào đó là Rageb Al Nachachibin - một người hợp tác trung thành với chính quyền thực dân Anh trong suốt quá trình uỷ trị Tuy nhiên, thế lực của gia đình Hussein không phải vì thế mà giảm sút cũng như chính quyền thực dân Anh chưa bao giờ đánh giá thấp việc lợi dụng ảnh hưởng của gia đình Hussein mà biểu hiện của nó là vào năm 1923, vị giáo sĩ Hồi giáo chết chưa có ai lên thay thì Sirllerbert Samuel- Cao uỷ Anh bèn cử Amine Al

Ngày đăng: 18/12/2013, 16:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Lý Thực Cốc, (2003). Mỹ thay đổi lớn chiến lược toàn cầu, NXBGD, Hà Nội Khác
[2]. Lê Kim, (1973), Người bạn chiến đấu của nhân dân Palextin, NXB Sự thật, Hà Nội Khác
[3]. Nguyễn Hiến Lê(1994), Bán đảo Arập, NXB VH-TT Khác
[4]. Nguyễn Hiến Lê(1994), Bán đảo Ixraen, NXBVH-TT Khác
[7].Vũ Dương Ninh,(2002), Lịch sử thế giới cận đại, NXB GD, Hà Nội Khác
[8]. Vũ Dương Ninh,(2001), Lịch sử văn minh thế giới, NXBGD Khác
[9]. Nguyễn Thành, (1973), Phong trào chống chủ nghĩa thực dân trên thế giới. NXB Sự thật, Hà Nội Khác
[10]. Lê Ngọc Thái,(2002), Văn minh nhân loại những bước ngoặt lịch sử, NXB VH-TT Khác
[11]. Nguyễn Thị Thư(cb)(2002), Lịch sử Trung Cận Đông, NXB GD Khác
[12]. F.Braudel(2004), Tìm hiểu các nền văn minh trên thế giới, NXB KHXH Khác
[13]. Mác- Ăngghen, toàn tập, tập 10.NXB Sự thật., 1998 Khác
[14]. Mác- Ăngghen, Tuyên ngôn của Đảng cộng sản, NXB Sự thật, Hà Nội, 1976 Khác
[15]. V.Lênin, toàn tập, tập 8, NXB Tiến bộ, Matxicơva, 1979 Khác
[16]. Cuộc xung đột Ixraen-Arập, VN Thông tấn xã, 2003 Khác
[17].Cuộc phiêu lưu của Anh ở Trung Đông,Tổng cục chính trị, Bộ tổng tư lệnh quân đội nhân dân Việt Nam, 1957 Khác
[18]. Trung Đông và nguồn gốc các cuộc xung đột giữa các nước Arập - Ixraen,VN Thông tấn xã, 11/1973 Khác
[19].Mác, Sự thống trị của Anh ở Ấn Độ. NXB Sự thật Khác
[20]. Vấn đề Palextin, NXB Sự thật Khác
[21]. Vấn đề Trung Đông, NXB Sự thật, 1956 Khác
[22]. Tài liệu trên mạng:www.misdeast.web.org Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w