CH ƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại 1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại NHTM là một t
Trang 1TrƯờNG đại học vinh
Khoa kinh tế
Nguyễn thị hồng trâm
Khóa luận tốt nghiệp đại học
Hạn chế rủi ro tín dụng tại
ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh huyện hng nguyên
– nghệ an
ngành tài chính ngân hàng
Trang 2Vì vậy, hoạt động kinh doanh trở nên phức tạp hơn và áp lực cạnh tranh giữacác ngân hàng lớn hơn và cùng với nó thì mức độ rủi ro cũng ngày càng tănglên Các nhà kinh tế thường gọi Ngân hàng là “ngành kinh doanh rủi ro”.Thực tế đã chứng minh không một ngành nào mà khả năng dẫn đến rủi ro lạilớn như trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ- tín dụng Đặc biệt là rủi ro tíndụng, được coi là rủi ro cơ bản nhất và nguy hiểm nhất đối với bất kỳ một NHnào Thực tế cho thấy rủi ro tín dụng luôn tồn tại và nợ xấu là một thực tếhiển nhiên ở bất cứ NH nào, kể cả NH thế giới Bởi những rủi ro nằm ngoàitầm kiểm soát của con người Rủi ro tín dụng xảy ra có ảnh hưởng trực tiếpđến kinh doanh của ngân hàng, ảnh hưởng đến nguồn thu nhập, lợi nhuậnngân hàng, thậm chí ngân hàng phải lấy vốn tự có của mình để bù đắp cáckhoản thiếu hụt do rủi ro gây ra, lúc đó khả năng thanh toán của ngân hàngkém đi và lòng tin của khách hàng không còn nữa, người gửi tiền muốn rúttiền đề tránh rủi ro cho chính bản thân họ và người vay không muốn vay ở đónữa, họ chuyển sang ngân hàng khác Vì vậy, khi rủi ro ở mức nhỏ, ngân hàng
có thể bù đắp bằng lợi nhuận kinh doanh hoặc bị lỗ, nhưng rủi ro ở mức độnghiêm trọng, nguồn vốn tự có của ngân hàng không đủ để bù đắp thiệt hại,tất yếu sẽ dẫn ngân hàng đến bờ vực của sự phá sản Như vậy rủi ro có thểlàm đảo lộn thành quả hoạt động nhiều năm, thậm chí trở thành vấn đề sốngcòn của ngân hàng Ngân hàng muốn có lợi nhuận thì NH phải chấp nhận rủi
Trang 3ro, phải chấp nhận có nghĩa là phải sống chung cùng với những rủi ro đó vàvấn đề quản trị rủi ro tín dụng trở thành vấn đề sống còn và là một bài toánlàm đau đầu các nhà quản trị của bất kỳ một ngân hàng nào Các nhà quản trịcấp cao cũng như cán bộ tín dụng cần phải thể hiện được tài năng của mìnhthông qua năng lực quản trị rủi ro tín dụng là khả năng quản lý nợ xấu, khống
chế nợ xấu ở một tỷ lệ có thể chấp nhận được
Ngân hàng No&PTNT Huyện Hưng Nguyên là một đơn vị trực thuộcNHNo&PTNT Nghệ An, những năm qua ngân hàng đã đóng góp không nhỏcho sự phát triển của lĩnh vực tài chính- ngân hàng nói riêng và nền kinh tếcủa tỉnh Nghệ An nói chung Tuy nhiên trong cơ chế thị trường, ngân hàngcũng gặp phải không ít khó khăn, đăc biệt là trong vấn đề phòng ngừa và hạnchế rủi ro trong hoạt động cho vay
Với mong muốn góp phần giảm thiểu nguy cơ xảy rủi ro tín dụng tạiNgân hàng No&PTNT Huyện Hưng Nguyên, em xin tiến hành nghiên cứu đề
tài: “Hạn chế rủi ro tín dụng tại Ngân Hàng Nông Nghiệp và phát triển
nông thôn Huyện Hưng Nguyên” làm đề tài tốt nghiệp cho mình.
2 Mục đích nghiên cứu.
- Khái quát những vấn đề chung về rủi ro trong hoạt động cho vay củangân hàng thương mại
- Phân tích đánh giá thực trạng rủi ro cũng như tìm ra nguyên nhân gây
ra rủi ro trong hoạt động cho vay tại NH No&PTNT Huyện Hưng Nguyên
- Đưa ra một số giải pháp nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạtđộng cho vay tại NHNo&PTNT Huyện Hưng Nguyên và đề xuất những kiếnnghị đối với các bộ, nghành liên quan
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 4Hoạt động cho vay và rủi ro trong hoạt động cho vay tại Ngân hàngNo&PTNT Huyện Hưng Nguyên.
Trang 53.2 Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Hoạt động tín dụng và Chính sách hạn chế rủi ro tíndụng tại Ngân hàng No&PTNT Huyện Hưng Nguyên
- Về không gian: Nghiên cứu tại NHNo&PTNT Huyện Hưng Nguyên
- Về thời gian: Do thời gian thực tập và kiến thức còn hạn chế nên tác giảchỉ nghiên cứu các tài liệu của Ngân hàng No&PTNT Huyện Hưng Nguyêntrong phạm vi thời gian từ năm 2008 đến năm 2010
4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa của đề tài
4.1 Phương pháp nghiên cứu
4.1.1 Phương pháp thu thập số liệu
Doanh thu, chi phí, lợi nhuận ,doanh số thu nợ, doanh số cho vay, nợquá hạn…được lấy từ bảng cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn, bảng báo cáokết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo nội tệ năm 2008, 2009, 2010
Ngoài ra, còn tham khảo thêm thông tin trên các tạp chí và sách báo cóliên quan đến Ngân Hàng, kết hợp với những ý kiến góp ý chỉ dẫn của giáoviên hướng dẫn và các cán bộ tín dụng Ngân Hàng
4.1.2 Phương pháp phân tích số liệu
- Phương pháp thống kê tổng hợp số liệu giữa các năm
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tỷ trọng, số tuyệt đối, số tương đối
Các phương pháp này sẽ cho ta thấy tốc độ tăng giảm của từng chỉ tiêu quacác năm là ít hay nhiều từ đó có thể đánh giá được tình hình thực tế là tốt hayxấu từ đó có thể dự báo cho năm tiếp theo
Trang 64.2 Ý nghĩa nghiên cứu
Nghiên cứu đã khái quát được những vấn đề cơ bản về rủi ro trong hoạtđộng cho vay của ngân hàng thương mại, giới thiệu sơ lược về NHNo&PTNTHuyện Hưng Nguyên Đề tài đã phân tích tình hình nợ quá hạn củaNHNo&PTNT Huyện Hưng Nguyên theo nhiều khía cạnh khác nhau từ đó cóđược cái nhìn chân thực bức tranh về NQH cũng như rủi ro tín dụng của NH,đồng thời tìm ra nguyên nhân dẫn đến NQH Kết quả nghiên cứu phản ánhnhững mặt làm được và chưa làm được của NHNo&PTNT Huyện HưngNguyên trong hạn chế rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, đề tài đã đưa ra một sốgiải pháp nhằm hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện HưngNguyên đồng thời mạnh dạn đề xuất với các bộ Ngân hàng nhà nước,NHNo&PTNT Việt Nam, NHNo&PTNT Huyện Hưng Nguyên trong việchạn chế rủi ro và tổn thất trong cho vay
5 Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương
Chương 1: Ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng trong hoạt động của
ngân hàng thương mại
Chương 2: Thực trạng rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện Hưng
Nguyên
Chương 3: Giải pháp hạn chế rủi ro tín dụng tại NHNo&PTNT Huyện
Hưng Nguyên
Trang 7CH ƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
NHTM là một tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu
và thường xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và
sử dụng số tiền gửi đó để cho vay đầu tư, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm các phương tiện thanh toán.
Ngày nay, hoạt động của các tổ chức môi giới trên thị trường tài chínhngày càng phát triển về số lượng, quy mô, hoạt động đa dạng phong phú vàđan xen lẫn nhau Điểm khác biệt giữa NHTM và các tổ chức tài chính khác
là NHTM là Ngân hàng kinh doanh tiền tệ, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn,cung ứng các dịch vụ thanh toán còn các tổ chức tài chính khác không thựchiện chức năng đó
1.1.2 Vai trò của Ngân hàng thương mại
Thứ nhất: NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan
trọng thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường các doanh nghiệp cá nhân, tổ chức kinh tếmuốn sản xuất, kinh doanh thì cần phải có vốn để đầu tư mua sắm tư liệu sảnxuất, phương tiện để sản xuất kinh doanh…mà nhu cầu về vốn của doanhnghiệp, cá nhân luôn luôn lớn hơn vốn tự có do đó cần phải tìm đến nhữngnguồn vốn từ bên ngoài Mặt khác lại có một lượng vốn nhàn rỗi do quá trìnhtiết kiệm, tích luỹ của cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức khác NHTM là chủthể đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi đó và sử dụng nguồnvốn huy động được cấp vốn cho nền kinh tế thông qua hoạt động tín dụng.NHTM trở thành chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế
Trang 8Thứ hai: NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường thông
qua hoạt động tín dụng của Ngân hàng đối với các doanh nghiệp
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệpchịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế như: quy luật giá trị, quyluật cung cầu, quy luật cạnh tranh và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầuthị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường về mọi phương diện không chỉ: giá
cả, khối lượng, chất lượng mà còn đòi hỏi thoả mãn trên phương diện thờigian, địa điểm Để có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của thị trường doanhnghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoànthiện cơ cấu kinh tế, chế độ hạch toán kinh tế mà còn phải không ngừng cảitiến máy móc thiết bị, đưa công nghệ mới vào sản xuất, tìm tòi và sử dụngnguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách thích hợp Nhữnghoạt động này đòi hỏi phải có một lượng vốn đầu tư lớn, nhiều khi vượt quákhả năng của doanh nghiệp Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệpđến ngân hàng để xin vay vốn để thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình.Thôngqua hoạt động cấp tín dụng cho doanh nghiệp ngân hàng là cầu nối doanhnghiệp với thị trường Nguồn vốn tín dụng của ngân hàng cung cấp cho doanhnghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao chất lượng về mọi mặtcủa quá trình sản xuất kinh doanh, đáp ứng nhu cầu của thị trường và từ đótạo cho doanh nghiệp chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh
Thứ ba: NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Thông qua hoạt động của NHTM, NHTW thực hiện chính sách tiền tệ phục
vụ các mục tiêu ngắn hạn hoặc dài hạn của chính phủ bằng các công cụ như:
ấn định hạn mức tín dụng, tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất tái chiết khấu, nghiệp
vụ thị trường mở để tác động tới lượng tiền cung ứng trong lưu thông
Thứ tư: Là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường ,khi các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngàycàng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế - xã hội giữa các quốc gia
Trang 9trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách Việc phất triển kinh tế ởcác quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một
bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó.Vì vậy nền tài chính của mỗi quốc giacũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt độngcủa mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này Vớicác nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khácNHTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển Thông quahoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối quan hệ tín dụng với các NHTMnước ngoài NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phùhợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế
1.1.3 Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng thương mại
1.1.3.1 Hoạt động huy động vốn.
Đây là một trong những nghiệp vụ cơ bản của NHTM và thông quanghiệp vụ này NHTM thực hiện chức năng tạo tiền NHTM đã “ góp nhặt ''toàn bộ nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như : nhận tiềngửi tiết kiệm, tiền gửi thanh toán trong đó tiền gửi bao gồm: Tiền gửi không
kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn Ngoài ra NHTM còn phát hành thêm chứng chỉtiền gửi, các trái khoán Ngân hàng hay đi vay từ các Ngân hàng và các tổchức tín dụng khác
1.1.3.2 Hoạt động sử dụng vốn.
Trong nền kinh tế thị trường, NHTM thực chất cũng là một doanhnghiệp vì vậy khi kinh doanh phải coi lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu và cuốicùng Để tạo ra lợi nhuận và thu nhập cho Ngân hàng thì các NHTM phải biết
sử dụng và khai thác nguồn vốn một cách triệt để và hiệu quả nhất
Hoạt động cho vay là hoạt động cơ bản đem lại phần lớn lợi nhuận chocác NHTM Các NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay từ đóthu lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch phí đầu vào và phí đầu ra Thực hiện
Trang 10nghiệp vụ này các NHTM không những đã thực hiện được chức năng xã hộicủa mình thông qua việc mở rộng vốn đầu tư, gia tăng sản phẩm xã hội, cảithiện đời sống nhân dân mà còn có ý nghĩa rất lớn đến toàn bộ đời sống kỹthuật thông qua các hoạt động tài trợ cho các ngành, các lĩnh vực phát triểncông nghiệp, nông nghiệp trong nền kinh tế Ngoài hoạt động cho vay là chủyếu, các NHTM còn thực hiện các hoạt động đầu tư hùn vốn liên doanh liênkết, kinh doanh chứng khoán trên thị trường tài chính Hoạt động này vừamang lại lợi nhuận cho Ngân hàng vừa góp phần điều hoà lưu thông tiền tệtrong nền kinh tế.
1.1.3.3 Hoạt động cung cấp dịch vụ
Ngân hàng làm trung gian thanh toán thực hiện thanh toán theo yêu cầucủa khách hàng bằng cách cung cấp các công cụ thanh toán thuận lợi như:séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán, thẻ tín dụng Hoạt động nàygóp phần làm tăng lợi nhuận thông qua việc thu phí dịch vụ thanh toán vàđồng thời làm tăng nguồn vốn cho vay của Ngân hàng thể hiện trên số dư cótài khoản tiền gửi của khách hàng Ngoài các hoạt động trên, NHTM còncung cấp cho khách hàng nhiều loại dịch vụ như: Dịch vụ uỷ thác, đại lý tàisản vốn của các tổ chức, cá nhân theo hợp đồng, dịch vụ mua bán ngoại tệ,dịch vụ tư vấn đầu tư chứng khoán cho khách hàng, tham gia bảo lãnh pháthành chứng khoán
1.2 Tín dụng ngân hàng
1.2.1 Khái niệm.
Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay là ngân hàng và các định chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân, doanh nghiệp…Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.
Trang 11Bên cạnh đó quan hệ tín dụng cũng cần được hiểu là quan hệ hai chiều,
và ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay
Nghiệp vụ kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt củaNHTM để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong hoạtđộng kinh doanh, trong đó có chi phí bù đắp rủi ro TD và các chi phí khác
Trong nền sản xuất hàng hoá, tín dụng là một trong những nguồn hìnhthành vốn cho doanh nghiệp, đã góp phần động viên vật tư hàng hoá đi vàosản xuất, thúc đẩy ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật để đẩy nhanh quá trìnhtái sản xuất xã hội
- Thứ hai: tín dụng thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất.
Bản chất đặc trưng hoạt động ngân hàng là huy động vốn tiền tệ tạmthời nhàn rỗi phân tán trong nền kinh tế, trong xã hội để thực hiện cho vay tớicác đơn vị kinh tế co nhu cầu vốn phục vụ cho qua trình sản xuất kinh doanh.Đầu tư tập trung là yêu cầu tất yếu của nền kinh tế sản xuất hàng hoá, hạn chế
sự lãng phí vốn, tiết kiệm mọi nguồn lực như thời gian, chi phí huy động vốncho sản xuất…
Trang 12- Thứ ba: tín dụng thúc đẩy quá trình luân chuyển hàng hoá và luân chuyển tiền tệ
Tín dụng đã tham gia trực tiếp vào quá trình luân chuyển hàng hoá vàluân chuyển tiền tệ tạo điều kiện phát triển nền kinh tế, đặc biệt những ngànhkinh tế trọng điểm trong mỗi giai đoạn phát triển kinh tế Hoạt động tín dụngluôn chịu sự chi phối trực tiếp của chính sách phát triển kinh tế của Chínhphủ, vì vậy đã góp phần vào việc đẩy nhanh qua trình lưu chuyển tiền tệ trongnên kinh tế thị trường, hạn chế thấp nhất sự ứ đọng vốn trong quá trình sảnxuất kinh doanh, đẩy nhanh vòng quay của vốn
- Thứ tư: tín dụng góp phần thúc đẩy chế độ hạch toán kinh tế
Với sự tài trợ tín dụng của ngân hàng, mỗi doanh nghiệp phải thực hiệnmột chế độ hạch toán kinh tế và các định chế tài chính khác một cách minhbạch và hiệu quả hơn Khi sử dụng vốn vay ngân hàng các doanh nghiệp phảitôn trọng các hợp đồng tín dụng, phải thực hiện thanh toán lãi và nợ vay đúnghạn, cũng như việc chấp hành các quy định ràng buộc trách nhiệm nghĩa vụkhác ghi trong hợp đồng như là về vấn đề tài chính…
Vì vậy đòi hỏi các doanh nghiệp khi sử dụng vốn vay của ngân hàngphải quan tâm tới việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, giảm chi phí sản xuấtkinh doanh, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
- Thứ năm: tín dụng tạo điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế.
Hiện nay, xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của đát nước yêu cầu các
doanh nghiệp phải mở rộng mối quan hệ kinh tế không chỉ trong phạm vi mộtquốc gia mà còn phải mở rộng ra phạm vi khu vực và thế giới Tín dụng đãtrở thành cầu nối giữa nền kinh tế trong nước với thế giới và khu vực Đối vớinước ta, một nước đang trong quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá, tíndụng đóng vai trò rất quan trọng nhất là trong công tác xuất nhập khẩu, trongcông cuộc quảng bá thương hiệu NGƯỜI VIỆT trên thế giới
Trang 13Tín dụng ngày nay là một công cụ để giúp đỡ các doanh nghiệp trongnước có đủ năng lực để tham gia vào thị trường thế giới như tài trợ việc muabán chịu hàng hóa, mở rộng sản xuất , nang cao chất lượng sản phẩm cho phùhợp với yêu cầu về quy mô và chất lượng của thị trường thế giới.
- Thứ sáu: tín dụng là công cụ tài trợ vốn cho các ngành kinh tế kém
phát triển và các ngành kinh tế trọng điểm.
Với công cụ tín dụng, Chính phủ sẽ tài trợ cho các ngành kinh tế kémphát triển bằng việc cho vay ưu đãi với lãi suất thấp, thời hạn dài, mức vốnlớn Ngoài ra, Chính phủ còn tập tung vốn tín dụng vào việc phát triển cácngành kinh tế mũi nhọn, để tạo động lực thúc đẩy các ngành kinh tế khác pháttriển theo Điều này được thể hiện rõ trong chính sách, chiến lược phát triểnđất nước từng thời kỳ
- Thứ bảy: tín dụng góp phần điều chính cơ cấu kinh tế, chính sách kinh
tế, hạn chế lạm phát.
Ngân hàng tạo ra các nguồn vốn chủ yếu từ việc huy động các nguồntiền nhàn rỗi trong nền kinh tế thông qua chính sách lãi suất linh hoạt hấp dẫn,sau đó đầu tư vào nền kinh tế, vào các công trình trọng điểm trong chính sáchphát triển đất nước mà Chính phủ đã đề ra Bên cạnh đó vẫn đảm bảo đựơckhông ảnh hưởng tiêu cực đến tình hình giá cả và lưu thông tiền tệ quốc gia.Ngược lại, Nhà nước sử dụng biện pháp khác, ví dụ như phát hành tiền giấy
để tạo nguồn vốn đầu tư vào nền kinh tế, sẽ gây ra sự mất cân đối trong lưuthông, trong quan hệ hàng hoá - tiền tệ, làm tăng lạm phát… Kết quả là ảnhhưởng tiêu cực tới quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước
Trang 141.3 Rủi ro tín dụng và biện pháp quản trị rủi ro tín dụng trong các ngân hàng thương mại
1.3.1 Khái niệm về rủi ro tín dụng
Rủi ro là những biến cố xảy ra ngoài ý muốn không dự tính trước đượcgây ra những thiệt hại cho một công việc cụ thể nào đó Trong kinh doanhNgân hàng, nguồn thu nhập chính của các NHTM là từ lãi suất mà người vay
sẽ thanh toán cho ngân hàng, phần khác là từ hoạt động cung cấp các dịch vụ.Nguồn thu nhập này phụ thuộc chủ yếu vào doanh số và lãi suất cho vay Tuynhiên không có gì đảm bảo chắc chắn rằng tiền vay và tiền lãi sẽ được ngườivay hoàn trả đúng hạn và đầy đủ Sự mất mát vốn vay và thu nhập này donhiều nguyên nhân khác nhau, đó chính là rủi ro tín dụng mà ngân hàngthường gặp khi cho vay
Rủi ro tín dụng là rủi ro do một khách hàng hay một nhóm khách hàng vay vốn không trả được nợ đầy đủ và đúng hạn cho Ngân hàng.
Ngày nay, nhu cầu về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiếntrang thiết bị kỹ thuật, nâng cao công nghệ và các nhu cầu phục vụ sản xuấtkinh doanh luôn tăng lên Để đáp ứng nhu cầu này, các NHTM cũng phảiluôn mở rộng quy mô hoạt động tín dụng, điều đó có nghĩa là rủi ro tín dụngcũng phát sinh nhiều hơn Rủi ro tín dụng là loại rủi ro phức tạp nhất, việcquản lý và phòng ngừa nó rất khó khăn, nó có thể xảy ra ở bất cứ đâu, bất cứlúc nào Rủi ro tín dụng nếu không được phát hiện và xử lý kịp thời sẽ nảysinh các rủi ro khác Vì vậy, mục tiêu chính của các nhà quản trị rủi ro tíndụng là đảm bảo lợi nhuận tối đa ở các mức rủi ro có thể chấp nhận được.Trong điều kiện cạnh tranh việc cung cấp dịch vụ tài chính – ngân hàng giatăng và bị áp lực từ nhiều phía, do đó có thể nói rằng tình trạng rủi ro và đặcbiệt là rủi ro tín dụng của ngân hàng đang được hết sức chú trọng rủi ro tín
Trang 15dụng là loại rủi ro lớn nhất, thường xuyên xảy ra và gây hậu quả nặng nề cókhi dẫn đến phá sản Ngân hàng
1.3.2 Các hình thức của rủi ro tín dụng
Sơ đồ 1.1: Các hình thức rủi ro tín dụng
Rủi ro tín dụng có thể xảy ra ở 4 trường hợp đối với nợ lãi và nợ gốc Đó
là việc không thu được lãi đúng hạn hoặc không thu đủ lãi ,không thu đượcvốn đúng hạn hoặc không thu đủ vốn Tuỳ trường hợp mà ngân hàng hạchtoán vào các khoản mục theo dõi khác nhau như lãi treo hoặc nợ qúa hạn Khikhông thu được lãi đúng hạn ,nguy cơ rủi ro đang ở mức thấp và chỉ đưa vàomục lãi treo phát sinh Nếu ngân hàng không thể thu đủ lãi thì sẽ có khoảnmục lãi treo đóng băng trừ những trường hợp ngân hàng miễn giảm lãi đó chodoanh nghiệp Còn khi không thu được vốn đúng hạn, ngân hàng sẽ có khoản
nợ quá hạn phát sinh Tuy nhiên, khoản này vẫn chưa thể coi là khoản mấtmát hoàn toàn của ngân hàng vì có thể do lý do nào đó doanh nghiệp chậmtrả nợ gốc và sẽ trả sau hạn cam kết trong hợp đồng Nếu như khoản này NH
Lãi treo
phát sinh
Nợ quá hạn phát sinh
1 Lãi treo
đóng băng
2 Miễn giảm lãi
1 Nợ không
có khả năng thu hồi
Không thu
đủ lãi
Không thu
đủ vốn (Mất vốn) Rủi ro tín dụng
Trang 16không thể thu hồi được(do doanh nghiệp bị phá sản chẳng hạn) thì lúc nàyngân hàng coi như gặp rủi ro tín dụng ở mức độ cao vì đã phát sinh khoản nợkhông có khả năng thu hồi ,trừ những trường hợp đặc biệt ,doanh nghiệp vayvốn hội tụ đủ các điều kiện theo quy định về xoá nợ thì NH có thể xem xét để
xoá nợ cho doanh nghiệp.
Rủi ro tín dụng tồn tại dưới nhiều hình thức ,các hình thức đó luônchuyển biến cho nhau,mà mức độ cuối cùng là nợ không có khả năng thu hồi.Khi nghiên cứu về rủi ro tín dụng người ta thường chú trọng vào các nguy cơxảy ra rủi ro như lãi treo và đặc biệt là nợ phát sinh, còn lãi treo đóng băng và
nợ quá hạn không có khả năng thu hồi được coi là các tình huống rủi ro thực
sự nên thường được xem xét để giải quyết hậu quả và rút ra bài học
1.3.3 Các chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh của các NHTM.
Muốn tồn tại và phát triển trong cạnh tranh, các doanh nghiệp nói chung
và NHTM nói riêng cần phải dự đoán được rủi ro để có những giải pháp quản
lý và phòng chống rủi ro và chấp nhận rủi ro mức độ hợp lý Không có côngviệc kinh doanh nào lại không có rủi ro, nhưng rủi ro quá giới hạn cho phépthì kinh doanh sẽ lỗ, thậm chí phá sản Cán bộ ngân hàng cần ý thức đượcrằng: các chiến lược kinh doanh vạch ra cho dù cẩn thận, tỷ mỷ đến đâu vẫn
có thể gặp thất bại Chiến lược kinh doanh càng táo bạo, cạnh tranh càng khốcliệt thì các nhà kinh doanh càng dễ thu lợi nhuận lớn song cũng dễ vướng phảitổn thất nặng nề
Rủi ro trong kinh doanh là một tất yếu, nó có thể xuất hiện ở khâu nàyhay khâu khác dưới nhiều dáng thức khác nhau Chỉ cần một sơ suất nhỏ hoặcmột quyết định thiếu kịp thời: nên đầu tư hay rút vốn ra cũng có thể đưa đếncho ngân hàng những bất trắc khó lường Vì vậy trong kinh doanh ngân hàngcần thiết phải đo lường rủi ro
Trang 17+ Kết cấu dư nợ tín dụng.
Dựa vào kết cấu dư nợ tín dụng mà ta có thể xác định rủi ro tín dụng củangân hàng cao hay thấp Nếu kết cấu dư nợ quá tập trung vào một số doanhnghiệp hoặc thành phần kinh tế chuyên sản xuất kinh doanh trong một hoặcmột số lĩnh vực nhất định sẽ có rủi ro lớn do tập trung vốn cao Chẳng hạn, tạiNgân hàng Công thương chi nhánh 3 Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ nợ quáhạn cao (28,4%) trong tổng dư nợ là do Ngân hàng đã tập trung cho vay chủyếu vào một vài doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng may mặc xuất khẩu sangthị trường các nước Đông Âu Khi thị trường này bị biến động vào đầu nhữngnăm 1990, nhiều doanh nghiệp bị mất thị trường, không tiêu thụ được sảnphẩm, phá sản khiến cho Ngân hàng không thu hồi được nợ
Như vậy, dựa vào kết cấu tín dụng (theo thành phần, đối tượng, ngànhnghề, thời hạn) kết hợp với việc phân tích các yếu tố liên quan tới kháchhàng, thị trường của Ngân hàng và của khách hàng ta có thể đánh giá rủi rotín dụng là cao hay thấp
Trang 18Tuy nhiên, nợ quá hạn không phải là tổn thất của Ngân hàng, đây vẫn làchỉ tiêu gián tiếp Bởi vì không phải tất cả các khoản nợ quá hạn này sẽ dẫnđến rủi ro.
+ Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng tổn thất/ Dư nợ quá hạn
Tỷ lệ nợ quá hạn có khả năng tổn thất/ Dư nợ quá hạn là chỉ tiêu trựctiếp phản ánh rủi ro Nó cho thấy trong một đồng nợ quá hạn thì có bao nhiêuđồng bị tổn thất Nói một cách khác, chỉ tiêu phản ánh mức độ có thể gây rarủi ro trong số nợ của Ngân hàng
Nợ quá hạn có khả năng tổn thất thường bao gồm những khoản nợ quáhạn có thời gian qua hạn lớn (6 tháng trở lên) Đối với Ngân hàng, việc duy trìcác chỉ tiêu này với tỷ lệ cao trong các báo cáo tài chính là điều khó chấpnhận NH luôn tìm cách giảm chỉ tiêu này xuống và biện pháp duy nhất là tíchcực thu các khoản này Những khoản nào thực sự không thu hồi được phảihạch toán vào chi phí hoạt động của NH và lấy quỹ dự phòng rủi ro để bù đắp
1.3.4 Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
1.3.4.1 Nhóm nguyên nhân chung
- Môi trường kinh tế
Nền kinh tế suy thoái và được thể hiện qua các chỉ số kinh tế vĩ mô sau:lạm phát tăng trong nhiều kỳ liên tiếp, sự biến động của đồng nội tệ, lãi suấtthị trường tăng…
Lạm phát tăng cao trong nhiều kỳ liên tiếp Khi đó chỉ số giá cúa cácloại hàng hoá trên thị trường tăng theo Điều này đồng nghĩa rằng chi phí sảnxuất đầu vào tăng và sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động tiêu thụ trên thịtrường của người đi vay Doanh số giảm sẽ kéo theo lợi nhuận giảm theo Kếtquả là ảnh hưởng đến kế hoạch trả nợ của người đi vay đối với ngân hàng
Trang 19Khi có sự biến động của tỷ giá thì cũng có thể dẫn đến rủi ro tín dụng, ví
dụ như trong trường hợp cho vay các doanh nghiệp nhập khẩu, nếu tỷ giá tăng
sẽ dẫn tới trường hợp thua lỗ do chi phí đầu vào tăng, qua đó ảnh hưởng tớikhả năng trả nợ ngân hàng
- Xuất phát từ ảnh hưởng của văn hoá xã hội.
Đó là ảnh hưởng của việc thay đổi tập quán tiêu dùng trong xã hội, nhất
là trong giai đoạn chuyển giao của nền kinh tế nước ta Đó là sự thay đổi cáchsuy nghĩ của cả một xã hội về thói quen tiêu dùng, nếu doanh nghiệp nàokhông có sự nắm bắt kịp thời mức độ thay đổi đó sẽ gặp khó khăn trong hoạtđộng kinh doanh của mình, thậm chí có thể dẫn tới phá sản, điều đó sẽ trựctiếp, hoặc gián tiếp gây khó khăn cho ngân hàng trong hoạt động cho vay
Đây thực sự là vấn đề đòi hỏi mỗi ngân hàng phải có hoạt độngmarketing một cách có hiệu quả trong giai đoạn canh tranh khắc nghiệt củanền kinh tế
- Ảnh hưởng của nhân tố công nghệ.
Yếu tố công nghệ hiện nay đang là yếu tố rất quan trọng quyết địnhđến sức cạnh tranh trên thị trường của mỗi ngân hàng Trên thực tế, sự thayđổi của công nghệ thông tin đã tác động mạnh mẽ tới hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng và tới cả quá trình cấp tín dụng Qua đó nhằm khai thác triệt để
“vốn thời gian”, kéo dài cánh tay hoạt động của ngân hàng và luôn giữ vị trícủa mình trong nền kinh tế quốc dân Góp phần hạn chế rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh ngân hàng nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng
- Ảnh hưởng của môi trường chính trị pháp luật
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành kinh doanh chịu sựgiám sát chặt chẽ của luật pháp Môi trường pháp lý sẽ mang đến cho ngânhàng một loạt các cơ hội mới cũng như thách thức mới Điều này được thểhiện rõ trong hoạt động tín dụng, như việc gỡ bỏ các hạn chế trong cho vay
Trang 20các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, còn sự nới lỏng trong quản lý của luậtpháp cũng có thể đặt ngân hàng trước những nguy cơ cạnh tranh mới, nhưviệc cho phép thành lập các ngân hàng nước ngoài sẽ đặt các ngân hàng nước
đó vào tình thế cạnh tranh gay gắt hơn và chính sách đầu tư, tiết kiệm củaChính phủ trong từng thời kỳ
Sự thiếu chính xác trong dự đoán môi trường luật pháp trong hoạt độngtín dụng cũng đẩy ngân hàng vào tình trạng rủi ro như dự đoán sai khu vựckinh tế được ưu tiêu đầu tư, hay bị hạn chế… dẫn đến tình trạng sai lầm trongchính sách huy động vốn và trong chính sách cho vay
Môi trường chính trị pháp luật này không chỉ bó gọn trong phạm vi Luậtcác tổ chức tín dụng, mà còn liên quan tới Luật dân sự, Luật Doanh nghiệp…
và cũng không chỉ bó gọn trong phạm vi một quốc gia mà còn mở rộng raphạm vi quốc tế nhất là trong điều kiện kinh tế hội nhập như hiện nay Đồngnghĩa với đó là rủi ro sẽ không còn ở mỗi ngành ngân hàng mà lan tới tầmquốc gia, khu vực
- Môi trường địa lí
Các vùng địa lí khác nhau cũng có những đặc điểm khác nhau như tàinguyên, giao thông, địa hình, tập quán, cách thức giao tiếp, nhu cầu về hànghoá dịch vụ nói chung và sản phẩm dịch vụ tài chính ngân hàng nói riêng.Chính những điều kiện đó hình thành các tụ điểm dân cư, trung tâm thươngmại, du lịch hoặc trung tâm sản xuất…
Rủi ro trong hoạt động tín dụng do môi trường địa lí mang đến rất khó
có thể nắm bắt, dự đoán và nếu có thể dự đoán được thì cũng sẽ bị tổn thất rấtcao như sự khắc nghiệt của thiên nhiên, sự khan hiếm nguồn tài nguyên…Những doanh nghiệp hoạt động trong những khu vực này luôn chịu sự cạnhtranh gay gắt, những nguy cơ rủi ro rất cao
Trang 211.3.4.2 Nguyên nhân từ phía khách hàng.
Trong trường hợp này, rủi ro tín dụng xảy ra do các doanh nghiệp làm
ăn thua lỗ không có khả năng trả được nợ cho ngân hàng Đây là nguyên nhânchủ yếu dẫn đến rủi ro tín dụng của NHTM Ta có thể chia nguyên nhân dẫnđến rủi ro tín dụng từ phía khách hàng làm hai trường hợp Đó là trường hợpkhách hàng gian lận và trường hợp khách hàng không gian lận
- Khách hàng gian lận:
Trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng không thể tránh khỏi trường hợpkhách hàng cố tình lừa gạt ngân hàng Điều này được thể hiện qua một sốhình thức sau:
Nhiều doanh nghiệp do thiếu năng lực về khả năng quản lý tài chính lạikhông có tài sản thế chấp hợp lệ do đó không đủ điều kiện để đảm bảo an toàncho việc vay vốn ngân hàng Họ đã lập các số liệu, giấy tờ giả mạo hòng quamắt ngân hàng và được ngân hàng cho vay vốn Nếu ngân hàng không pháthiện ra thì khả năng rủi ro của khoản tín dụng này là rất lớn
Có trường hợp người vay lợi dụng ngân hàng không thể kiểm soát hếtđược hoạt động kinh doanh của mình nên các doanh nghiệp đã sử dụng vốnvay của ngân hàng vào mục đích khách với hợp đồng đã cam kết Như vậy,coi như toàn bộ giá trị thẩm định trước khi tiến hành cho vay của ngân hàng
đã trở thành vô nghĩa và rủi ro tín dụng được đặt ở mức độ báo động
Ngoài ra, nhiều doanh nghiệp do kinh doanh kém hiệu quả hoặc do đạođức kém đã cố tình chây ỳ, không trả nợ cho ngân hàng, thậm chí còn bỏ trốn
để quỵt nợ Trong trường hợp này ngân hàng hoàn toàn bị thua thiệt và chỉcòn trông chờ vào việc xử lý tài sản thế chấp
- Khách hàng không gian lận.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự cạnh tranhgay gắt để tồn tại thì các doanh nghiệp phải nỗ lực hết mình trong những quan
Trang 22hệ phức tạp của xã hội Tuy nhiên, rủi ro vẫn là điều không thể tránh khỏi.Chính vì vậy, hoạt động của doanh nghiệp có ảnh hưởng rất lớn đến hoạtđộng của ngân hàng và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽảnh hưởng trực tiếp đến rủi ro tín dụng của ngân hàng Rủi ro của doanhnghiệp xuất phát từ một số trường hợp sau:
+ Doanh nghiệp gặp phải các rủi ro trong hoạt động kinh doanh củamình, đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn tới rủi ro cho ngân hàng
Rủi ro trong hoạt động kinh doanh xảy ra do tính khả thi của dự án cònthấp, không khoa học, không tiếp cận được thị trường Do chưa đánh giá đượcchính xác nhu cầu thị trường, hay đánh giá sai lầm về khả năng tiêu thụ củathị trường Dẫn đến tình trạng sản phẩm tồn kho quá nhiều so với nhu cầu.Cần quan tâm đến công tác nghiên cứu thị trường nhất là công tác Marketingdoanh nghiệp
• Doanh nghiệp bị thiệt hại trên thị trường đầu vào Đây là thị trườngcung cấp các nguồn lực cho quá trình sản xuất như nguyên vật liệu, dịch vụ,thiết bị công nghệ…Do không có kế hoạch trước những biến động của thịtrường như tình trạng tăng giá nguyên vật liệu không thể kiểm soát, trực tiếp
sẽ làm tăng giá thành sản phẩm Nếu doanh nghiệp tăng giá sản phẩm lên thì
sẽ làm cho việc tiêu thụ sản phẩm chậm lại, tình hình luân chuyển vốn chậm,ảnh hưởng tơi khả năng thanh toán nợ ngân hàng của doanh nghiệp Ngượclại, nếu doanh nghiệp giữ nguyên giá hoặc không tăng giá thì sẽ làm giảm lợinhuận và khả năng tái sản xuất của doanh nghiệp trong tương lai, thậm chí cóthể bị thua lỗ
Ngoài ra, còn do chất lượng của nguyên vật liệu không đảm bảo ảnhhưởng tới chất lượng sản phẩm, có thể làm giảm uy tín thương hiệu sản phẩmtrên thị trường, làm giảm khả năng cạnh tranh Do đó bản thân mỗi doanhnghiệp cần phải có chính sách dự trữ nguyên vật liệu để đề phòng trường hợp
Trang 23tăng giá gây thiệt hại cho quá trình sản xuất, nhất là đối với các doanh nghiệpsản xuất mang tính thời vụ cao
• Do doanh nghiệp gặp khó khăn trong quá trình sản xuất như tìnhhình năng suất lao động giảm sút, công nghệ sản xuất lạc hậu, trình độ taynghề của công nhân còn thấp kém Do cơ cấu chi phí cố định chiếm tỷ trọnglớn, gây ra hiện tượng lãng phí ứ đọng vốn Cũng có thể là do trình độ quản lýdoanh nghiệp của ban giám đốc còn yếu, không hiệu quả, không động viênđược đội ngũ nhân viên hoạt động hăng say, không có chế độ lương bổngkhuyến khích, chính sách quản lý thiếu chiều sâu
• Rủi ro tín dụng cũng có thể xảy ra khi doanh nghiệp gặp khó khăntrong tình hình tài chính Do doanh nghiệp có hệ số nợ cao đó là kết quả củaquá trình tăng trưởng quá nóng hoặc quá chậm, do doanh nghiệp bị chiếmdụng vốn trong thời gian dài, không có biện pháp thu hồi nợ, làm hạn chế khảnăng quay vòng của các khoản phải thu Với khả năng tài chính vững mạnh,trong sạch sẽ như là cái móng vững chắc cho toàn bộ quá trình sản xuất kinhdoanh và tạo dựng lòng tin đối với Ngân hàng
• Bên cạnh đó doanh nghiệp cũng có thể gặp rủi ro trên thị trường đầu
ra Do khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường còn thấp, chất lượngkém, mẫu mã không bắt mắt Và áp lực của cạnh tranh bắt buộc doanh nghiệpphải hạ thấp giá thành một cách đồng loạt, điều nảy ảnh hưởng đến thu nhâpcủa doanh nghiệp Hơn nữa, chính sự thiếu quan tâm, đầu tư vào công tácphân tích, phán đoán, dự báo thị trường làm giảm khả năng tham gia thịtrường, hoặc sản xuất quá lớn so với nhu cầu, dẫn tới tình trạng ứ đọng hànghoá, hạn chế khả năng quay vòng của hàng tồn kho Hệ thống mạng lưới đại
lý, cửa hàng tiêu thụ không được đặt đúng vùng thị trường, sản phẩm khôngtới được tay người tiêu dùng
Trang 24+ Doanh nghiệp bị rủi ro khách quan như: Thiên tai, hoả hoạn, độngđất, mất trộm…Đây là trường hợp ít khi xảy ra và khó có thể dự đoán trước.+ Bản thân doanh nghiệp bị lừa đảo hoặc bạn hàng của doanh nghiệpgặp rủi ro Trong nền kinh tế doanh nghiệp có rất nhiều mối quan hệ với các
tổ chức kinh tế khác và cũng giống như ngân hàng doanh nghiệp cũng có thể
bị rủi ro từ phía các đối tác của mình làm cho doanh nghiệp bị thua lỗ, không
có khả năng trả nợ cho ngân hàng
1.3.4.3 Nguyên nhân từ phía ngân hàng
Ngoài những nguyên nhân xuất phát từ phía người vay, từ môi trườngkhách quan có thể gây ra tình trạng rủi ro tín dụng, còn có những nguyênnhân chủ quan từ phía các ngân hàng:
- Do chính sách tín dụng của ngân hàng không phù hợp với đặc điểm,thực trạng của nền kinh tế và chính sách phát triển kinh tế của Chính phủ.Chính sách tín dụng được hiểu đầy đủ bao gồm định hướng chung trong chovay, chế độ tín dụng ngắn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiềnvay, về loại khách hàng và ngành nghề được ưu tiên, quy trình xét duyệt chovay…quá chú trọng vào mục tiêu lợi nhuận, tăng trưởng, bỏ qua sư an toàntrong hoạt động kinh doanh Một chính sách không đầy đủ đúng đắn và thốngnhất sẽ tạo ra định hướng lệch lạc cho hoạt động tín dụng, dẫn đến việc cấptín dụng không đúng đối tượng, tạo kẽ hở cho người sử dụng vốn để gian lậnchiếm đoạt vốn bất hợp pháp… cuối cùng là không đem lại hiệu quả kinh tế,nguy cơ rủi ro cao
- Khâu phân tích thẩm định còn yếu đây là một trong những nguyênnhân trực tiếp gây ra rủi ro tín dụng Do cán bộ tín dụng năng lực thấp, chưađược đào tạo đầy đủ, ít kinh nghiệm trong ngành nghề mà mình tài trợ, ngoài
ra cũng có thể do vấn đề đạo đức không tốt của cán bộ thẩm định như không
Trang 25trung thực, thiếu trách nhiệm, cấu kết với người đi vay để chiếm đoạt vốn củangân hàng
- Nguyên nhân thứ ba là do ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiênkhông đầy đủ khâu bảo đảm tín dụng Như cán bộ thẩm định đánh giá sai giátrị tài sản đảm bảo bao gồm cả giá trị hiện tại và trong tương lai, hoặc lại quátin tưởng vào tài sản đảm bảo coi đó là “bùa hộ mệnh” cho công tác thu hồivốn sau này, mà coi nhẹ công tác kiểm tra, đôn đốc, giám sát thực hiện dự án,phòng ngừa rủi ro, không có những biện pháp kịp thời nhằm hạn chế khoảnvay có thể dẫn tới nợ quá hạn
- Các ngân hàng thường đứng trước một mâu thuẫn đòi hỏi sự linh hoạttrong quá trình giải quyết, đó là mở rộng tín dụng để tăng lợi nhuận, đồng thờihạn chế rủi ro tín dụng Nhiều ngân hàng ra sức tăng mức dư nợ tín dụng mà
bỏ qua hoặc hạ thấp những tiêu chuẩn cho vay Hay nói một cách khác làngân hàng chỉ chạy theo số lượng tín dụng mà không coi trọng chất lượng tíndụng, do đó rất nguy hiểm đối với công tác tín dụng của ngân hàng Để tănglợi nhuận, ngân hàng cần phải có những biện pháp hạn chế những chi phíkhông hợp lý nhưng các ngân hàng đã không xác định rõ những chi phí nàođối với mình là không hợp lý và đã loại bỏ những chi phí hợp lý khác làmgiảm thấp chất lượng nghiệp vụ, gây ra rủi ro cho hoạt động kinh doanh
- Một yếu tố luôn ảnh hưởng tới khâu thẩm định của cán bộ tín dụng đó
là chất lượng và số lượng thông tin Bởi vì bản thân hoạt động ngân hàng luôntrong tình trạng thông tin không cân xứng cho nên đòi hỏi công tác thẩm địnhphải sàng lọc thông tin một cách kỹ càng, chính xác, tránh bỏ sót những dự ánhiệu quả cao và tránh nhận những dự án không có hiệu quả hay hiệu quả thấp.Các ngân hàng chưa được cung cấp đầy đủ và chính xác mặc dù Trung tâmthông tin tín dụng CIC đã được thành lập và đi vào hoạt động nhưng hiệu quảhoạt động chưa cao, chưa cập nhật Trong nhiều trường hợp ngân hàng không
Trang 26nắm được đầy đủ thông tin về quan hệ tín dụng của khách hàng với các tổchức tín dụng khác nên có thể phán quyết sai lầm khi cho vay
- Do ngân hàng không thực hiên tốt công tác giám sát tín dụng Bởi vì,trình độ nghiệp vụ của cán bộ tín dụng hạn chế, thiếu thực tế, chỉ dựa trêngiấy tờ, số liệu báo cáo của khách hàng Thiếu tinh thần trách nhiệm trongcông tác nghiệp vụ, kiểm tra, kiểm soát lấy lệ, hời hợt, chỉ mang tính hìnhthức, không phản ánh đúng sự thật do chịu áp lực từ cấp trên, từ chính quyềnđịa phương Một hệ thống kiểm soát lỏng lẻo dễ dẫn đến tình trạng thất thoátvốn, giảm thấp hiệu quả hoạt động kinh doanh
- Ngoài các nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng trên, Ngân hàng cũng cóthể gặp rủi ro tín dụng do cho vay quá tập trung vào một đối tượng, một khuvực, một ngành cho nên đã hạn chế sự linh hoạt của ngân hàng trước nhữngbiến động của thị trường cạnh tranh, gây ra tổn thất cho ngân hàng Có thể docông tác thiết kế sản phẩm tín dụng không phù hợp với nhu cầu và đặc điểmcủa người vay, hoặc do vẫn còn nặng tính chất quan liêu, quan cách tronghoạt động giao dịch với khách hàng, hoặc có thể do cán bộ ngân hàng viphạm đạo đức nghề nghiệp, thông đồng với khách hàng, nhận hối lộ, cố tìnhlàm sai nguyên tắc
1.3.4.4 Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ phía Tài sản đảm bảo tín dụng
- Sự sụt giảm giá trị của TSBĐ, có thể là do biến động của tình hình giá
cả thị trường Đây là tác động mang tầm vĩ mô, mà bản thân các cán bộ thẩmđịnh cần phải đánh giá chính xác giá trị của TSĐB qua các thời kỳ biến độngkhác nhau, nếu không sẽ dẫn tới tình trạng cấp tín dụng vượt mức so với quyđịnh an toàn trong việc cấp tín dụng
Sự sụt giảm giá trị của TSĐB là do sự hao mòn trong quá trình ngườivay sử dụng TSĐB Các tài sản nói chung luôn chịu tác động của thời gian,của môi trường sản xuất, đòi hỏi công tác kiểm tra giám sát chặt chẽ để hạn
Trang 27chế người vay sử dụng tài sản sai mục đích hoặc sử dụng vượt quá hạn mứccho phép Đó cũng là một hình thức mà các ngân hàng chiếm đoạt “vốn”, vốn
ở đây là giá trị của máy và thời gian kinh tế của máy sau này
- Ngân hàng gặp rủi ro trong quá trình nắm giữ và xử lý TSĐB Dongười vay cầm cố tài sản cho người khác, hoặc có thể do người vay cố tìnhgây khó khăn trong công tác phát mại TSĐB, khiến cho ngân hàng không thểthu hồi vốn vay, ảnh hưởng đến tình hình hoạt động chung của toàn bộ ngânhàng Khi đó rủi ro không còn trong phạm vi một khoản vay mà lan rộng raphạm vi của cả bộ máy hoạt động kinh doanh
- Đối với các trường hợp đối nhân (bảo lãnh): Ngân hàng có thể gặp rủi
ro khi người đựơc bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ thanh toán do gặp khókhăn về vấn đề tài chính Gây ra sự ứ đọng vốn trong hoạt động kinh doanhcủa ngân hàng rộng hơn đó là nguy cơ rủi ro cao
- Ngoài ra còn có nguyên nhân là do sự không đồng bộ về các văn bảnpháp lý có liên quan đến TSĐB, gây khó khăn cho ngân hàng trong trườnghợp phát mại TSĐB và xử lý sự cố, qua đó hạn chế vị thế pháp lý của ngân
hàng rong xử lý tài sản
1.3.5 Tác động của rủi ro tín dụng.
1.3.5.1 Rủi ro tín dụng làm giảm lợi nhuận Ngân hàng
Những khoản tín dụng gặp rủi ro gây cho NH những thiệt hại về mặt tàichính khi không thu được vốn và lãi trực tiếp làm giảm lợi nhuận Ngân hàng.Trong trường hợp Ngân hàng thu được lãi treo hay nợ quá hạn thì cũnglàm Ngân hàng mất cơ hội đầu tư vào những dự án khả thi, có khả năngmang lại lợi nhuận
1.3.5.2 Rủi ro tín dụng làm giảm khả năng thanh toán của Ngân hàng
Rủi ro tín dụng đã khiến cho việc hoàn trả tiền gửi của Ngân hàng gặpnhiều khó khăn Các khoản đầu tư, cho vay bị thoất thoát hoặc chậm thu hồi
Trang 28trong khi Ngân hàng vẫn phải đều đặn trả lãi vốn huy động theo đúng kỳ hạn.Chính điều này đã làm hạn chế khả năng thanh toán của Ngân hàng.
1.3.5.3 Rủi ro tín dụng làm giảm uy tín của Ngân hàng.
Rủi ro tín dụng đã làm giảm uy tín của Ngân hàng và ảnh hưởng đếnhoạt động kinh doanh của của Ngân hàng NHTM gặp nhiều rủi ro là Ngânhàng hoạt động kém hiệu quả Điều này đã làm cho uy tín của ngân hàng bịgiảm sút Đây là một vấn đề rất tệ hại, khách hàng mất lòng tin ở Ngân hàng,
họ sẽ không gửi tiền vào Ngân hàng, thậm chí họ có thể còn rút lại nhữngkhoản tiền đã gửi Điều đó gây khó khăn cho việc huy động vốn của Ngânhàng làm giảm quy mô hoạt động của Ngân hàng NHTM gặp rủi ro cũng sẽlàm mất lòng tin đối với các Ngân hàng bạn, Ngân hàng nước ngoài nên rấtkhó có thể nhận được những khoản tín dụng từ phía họ khi cần thiết Ngoài
ra, Ngân hàng khó có thể có các quan hệ đại lý làm cầu nối trong thanh toánquốc tế, phát triển các dịch vụ của Ngân hàng
1.3.5.4 Rủi ro tín dụng là nguy cơ dẫn đến phá sản Ngân hàng.
Ngân hàng gặp rủi ro tín dụng đã làm giảm sút lòng tin đặc biệt là đốivới dân chúng Họ lo sợ bị mất những khoản tiền đã gửi và sẽ đến rút tiền đểtìm cơ hội đầu tư có lợi hơn ở một Ngân hàng khác Trường hợp nghiêmtrọng xảy ra khi có quá nhiều người đến rút tiền về dẫn đến sự phá sản thực sựcủa Ngân hàng Hậu quả của sự phá sản Ngân hàng không chỉ bản thân Ngânhàng phải gánh chịu mà nó còn liên quan đến các Ngân hàng bạn có quan hệvới ngân hàng Điều này sẽ tạo ra một phản ứng dây chuyền gây ra sự phá sảnhàng loạt của các ngân hàng khác ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ nền kinh tế.Cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ khu vực vừa qua bắt nguồn từ sự đổ vỡcủa hệ thống các NHTM đã làm cho nền kinh tế của các nước trong khu vực
bị điêu đứng Chính điều này đã gây ta những rối loạn về an ninh, chính trị, xãhội kéo theo hàng loạt những hậu quả khác như: Thất nghiệp, lạm phát, tệ
Trang 29nạn xã hội nảy sinh Đây là những bài học thấm thía có nguồn gốc từ nhữngrủi ro tín dụng của NHTM.
1.3.6 Các dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng
Trong quá trình hoạt động kinh doanh luôn tiềm ẩn rủi ro, và thường cómột vài dấu hiệu để nhận biết rủi ro tín dụng Có dấu hiệu thì biểu hiện mờnhạt, có dấu hiệu biểu hiện rất rõ ràng Ngân hàng cần có biện pháp để nhận
ra những dấu hiệu ban đầu của khoản vay có vấn đề và có hành động cần thiết
để ngăn ngừa, hạn chế và xử lý chúng Nhưng cũng cần phải chú ý vì các dấuhiệu này đôi khi chỉ được nhận ra trong cả một quá trình chứ không hẳn làmột thời điểm Do vậy cán bộ tín dụng cần phải nhận biết chúng một cách có
hệ thống Vậy dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng có thể bao gồm các nhómsau:
1.3.6.1 Nhóm các dấu hiệu liên đến mối quan hệ khách hàng và NH
- Trong quá trình hạch toán của khách hàng, xu hướng của các tài khoảnkhách hàng qua một quá trình sẽ cung cấp cho ngân hàng một số dấu hiệuquan trọng gồm:
+ Khó khăn trong thanh toán lương, sự biến động của số dư các tàikhoản, đặc biệt là giảm sút số dư tài khoản tiền gửi
+ Tăng mức sử dụng bình quân trong các tài khoản
+ Thường xuyên yêu cầu hỗ trợ nguồn vốn lưu đông từ nhiều nguồnkhác nhau
- Các hoạt động cho vay
+ Mức độ vay thường xuyên gia tăng, thường xuyên yêu cầu ngân hàngcho đáo hạn
+ Thanh toán chậm các khoản nợ gốc và lãi
+ Yêu cầu các khoản vay vượt quá nhu cầu dự kiến
- Phương thức tài chính
Trang 30+ Sử dụng nhiều nguồn tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động phát triểndài hạn.
+ Chấp nhận sử dụng các nguồn tài trợ đắt nhất
+ Giảm các khoản phải trả, tăng các khoản phải thu
+ Có biểu hiện giảm vốn điều lệ
1.3.6.2 Nhóm các dấu hiệu liên quan tới phương pháp quản lý của khách hàng
- Thay đổi thường xuyên cơ cấu của hệ thống quản trị và ban điềuhành Hệ thống quản trị và ban điều hành luôn bất đồng về mục đích, về côngtác quản trị, điều hành độc đoán hoặc quá phân tán
- Được hoạch định bởi ban giám đốc điều hành ít kinh nghiệm, hay banquản trị tham gia quá sâu vào vấn đề thường nhật, thiếu quan tâm tới lợi íchcủa các cổ đông, các chủ nợ
- Thuyên chuyển nhân viên diễn ra thường xuyên, việc lập kế hoạchnhững người kế cận không đầy đủ
- Lập kế hoạch, xác định mục tiêu kém, xuất hiện các hành động nhấtthời, không có khả năng giải quyết đối với những thay đổi
1.3.6.3: Nhóm các dấu hiệu liên quan tới chính sách ưu tiên trong kinh doanh.
- Dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn, khách hàng bị ấn tượng bởi mộtkhách hàng có tên tuổi mà có thể sau này trở nên lệ thuộc, ban giám đốc cắtgiảm lợi nhuận nhằm đạt hợp đồng lớn
- Sự cấp bách không thích hợp như do áp lực nội bộ dẫn tới việc tungsản phẩm dịch vụ ra quá sớm, các hạn mức thời gian kinh doanh đưa ra khôngthực tế, tạo mong đợi trên thị trường không đúng lúc
Trang 311.3.6.4 Nhóm các dấu hiệu thuộc vấn đề kỹ thuật và thương mại
- Khó khăn trong phát triển sản phẩm, cường độ đổi mới sản phẩmgiảm dần Có biểu hiện cắt giảm các chi phí sửa chữa, thay thế
- Thay đổi trên thị trường: tỷ giá, lãi suất, thị hiếu của người tiêu dùng,cập nhật kỹ thuật mới, mất nhà cung ứng hoặc khách hàng lớn, thêm đối thủcạnh tranh
- Những thay đổi từ chính sách của Nhà nước, đặc biệt là chính sáchthuế, điều kiện thành lập và hoạt động
- Sản phẩm của khách hàng mang tính thời vụ cao
1.3.6.5 Nhóm các dấu hiệu về xử lý thông tin tài chính, kế toán
- Chuẩn bị không đầy đủ số liệu tài chính, hoặc chậm trễ, trì hoãn + Sự gia tăng không cân đối về tỷ lệ nợ thường xuyên, số kháchhàng nợ tăng nhanh và thời hạn thanh toán của các con nợ kéo dài
+ Khả năng tiền mặt giảm
+ Các tài khoản hạch toán vốn điều lệ không khớp
+ Thường xuyên không đạt mức kế hoạch về sản xuất và bán hàngTrên đây là những dấu hiệu nhận biết rằng khả năng xảy ra rủi ro tíndụng, do đó cần phải đặc biệt chú ý trong việc quản lý hoạt động tín dụng
1.3.7 Các biện pháp quản trị nhằm hạn chế rủi ro tín dụng
1.3.7.1 Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro
Đây là điều kiện tiên quyết trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng.Trong điều kiện nền kinh tế thị trường biến động phức tạp, đòi hỏi mỗi ngânhàng cần phải có chiến lược rõ ràng trong việc quản trị rủi ro tín dụng, bởi vì
đó là “kim chỉ nam” cho hoạt động tín dụng Một chiến lược rõ ràng, chính
xác trong dự báo đảm bảo cho bản thân các ngân hàng có thể linh hoạt trongphòng ngừa và xử lý những rủi ro tín dụng có thể xảy ra Nó góp phần địnhhướng cho các hoạt động tín dụng trong tương lai nhằm đảm bảo mục tiêu an
Trang 32toàn và lợi nhuận cao Nhất là trong điệu kiện hội nhập của nền kinh tế vớikhu vực và thế giới Chiến lược này có thời hạn trong thời gian dài, nó quyếtđịnh đến sự tồn tại của cả ngân hàng, bởi vì hoạt động tín dụng chiếm tỷ lệlớn trong hoạt động ngân hàng
1.3.7.2 Xây dựng chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của ngân hàng phải thực hiện ba mục tiêu cơ bản:Lợi nhuận, an toàn và lành mạnh Một chính sách tín dụng hợp lý phải đượcxây dựng dựa trên những căn cứ sau:
- Nguồn vốn của ngân hàng bao gồm cả vốn huy động và vốn chủ sởhữu Dựa vào quy mô nguồn vốn ngân hàng có thể lựa chọn kỳ hạn đầu tư,loại hình cho vay phù hợp
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, điều này ảnh hưởng đếnnhu cầu tín dụng của thị trường Do đó ngân hàng cần phải có sự phù hợpthống nhất đối với các điều chỉnh vĩ mô của Chính phủ
- Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất và trình độ củađội ngũ cán bộ công nhân viên là nhân tố tác động đến khả năng hoạt độngcủa ngân hàng trên những khu vực thị trường nhất định Chính những nhân tốnày sẽ phát huy lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
- Căn cứ vào những phân tích, dự báo rủi ro trong hoạt động kinh doanhnói chung và hoạt động TD nói riêng Đây là những phân tích mang tính chất
kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội trong, ngoài nước Điển hình là những phântích dự báo về tình hình tài chính tiền tệ như lãi suất, lạm phát, ngoại tệ…
1.3.7.3 Thực hiện tốt công tác phân tích tín dụng và xác định mức độ rủi
ro tín dụng.
Thực hiện phân tích tín dụng một cách đầy đủ và toàn diện nhằm đánhgiá khách hàng và tính hiệu quả của dự án trước khi cho khách hàng vay
Trang 33Việc phân tích, thẩm định tín dụng được thực hiện trước khi cho vay Đó
là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi khoản vay nhằm đảm bảo tính chính xác, tínhkinh tế của đồng vốn tín dụng đến được đúng đối tượng sử dụng vốn hiệuquả Quá trình này chỉ chấm dứt khi khoản vay được hoàn trả đúng thời hạn
và đầy đủ Công tác này có vai trò quyết định trong việc khoản vay có sinh lờihay không qua đó đảm bảo chu kỳ đồng vốn của ngân hàng từ huy động đếncho vay đến thu nợ có đảm bảo được mục đích kinh doanh của ngân hàng haykhông Không chỉ có tác dụng trong công tác cấp vốn của ngân hàng mà còngóp phần vào công tác quảng bá thương hiệu của bản thân ngân hàng đượcthể hiện qua thủ tục cho vay không rườm rà, thái độ phục vụ tận tình, tráchnhiệm cho dù có vay được vốn hay không
1.3.7.4 Thực hiện đầy đủ khâu đảm bảo tín dụng
Các yêu cầu TSĐB của ngân hàng với mục đich nhằm hạn chế rủi rotrong trường hợp khách hàng không thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợpđồng vay vốn về việc thanh toán gốc và lãi khi đến hạn Tuy nhiên việc thựchiện hình thức bảo đảm tiền vay nào là phụ thuộc vào tình hình của kháchhàng và của bản thân ngân hàng cho vay
Để hạn chế rủi ro tín dụng thì khâu đảm bảo tín dụng cần phải lưu ýnhững vấn đề sau:
- Đối với cho vay có bảo đảm tiền vay bằng tài sản
+ Cần đánh giá chính xác tính sở hữu tài sản, có trong tình trạng tranhchấp hay không?
+ Đánh giá tính thị trường của tài sản hiện tại và tương lai, xác định rõmức độ hao mòn của tài sản trong thời hạn đảm bảo
+ Trình tự thủ tục tiến hành phải phù hợp với quy định của pháp luật vàcủa ngành
Trang 34- Đối với cho vay có bảo lãnh
+ Đánh giá năng lực pháp lý, năng lực tài chính và ý thức sẵn sàng thanhtoán của ngưòi bảo lãnh
+ Đảm bảo quy đinh về thủ tục bảo lãnh
1.3.7.5 Thực hiện tốt quy trình giám sát tín dụng
Cán bộ tín dụng phải theo sát quá trình sử dụng vốn của khách hàng cóđúng mục đích hay không và để kiểm tra việc bảo quản vật tư hàng hóa hìnhthành từ vốn vay, tình hình TSĐB, tiến độ thực hiện dự án… có thực hiệnđúng theo hợp đồng hay không
Hơn nữa, mục đích của việc giám sát tín dụng là để phát hiện ra nhữngrủi ro tiềm ẩn, giúp cho ngân hàng phát hiện và xử lý kịp thời những khoản nợ
có vấn đề, qua đó có thể hạn chế được những rủi ro không cần thiết
1.3.7.6 Xử lý hiệu quả nợ quá hạn
Để có thể xử lý được nợ quá hạn nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro
có thể xảy ra đối với ngân hàng, bản thân các ngân hàng cần chú ý rằngnhững khoản nợ quá hạn là những khoản nợ vay có vấn đề cho nên phải cóquyết định kịp thời, hoặc là tiếp tục gia hạn nợ nếu đánh giá người vay vẫncòn khả năng trả nợ Nhưng như thế này khả năng rủi ro tín dụng vẫn còn rấtcao, hoặc là thanh lý, thu hồi khoản nợ trước hạn Đây là những quyết định rấtquan trọng, nó cho thấy ngân hàng có thể bị rủi ro hay không
Việc tiến hành xử lý hay không thì phải tiến hành qua những khâu sau:+ Phải có hành động ngăn ngừa các khoản vay có khả năng quá hạn nhưlập kế hoạch, gặp gỡ khách hàng, lập phương án ngăn ngừa rủi ro và kiểm tracác phương án khắc phục
+ Nếu ngăn ngừa không thành công ngân hàng thực hiện các biện phápthông qua bộ phận truy hồi tài sản với phương án cụ thể hoặc là khai thác,hoặc là thanh lý
Trang 351.3.7.7 Phân tán rủi ro tín dụng.
Đây là động tác mà mỗi ngân hàng bắt buộc phải duy trì trong suốt cảquá trình quản lý tín dụng Yêu cầu các ngân hàng phải tôn trọng các giới hạntrong cho vay (≤ 15% VTC), dựa trên những đánh giá về TSĐB (≤ 70% giá trịTSĐB), thực hiện đồng bộ với chỉ tiêu an toàn vốn tối thiểu trong hoạt độngkinh doanh và yêu cầu khách hàng phải mua bảo hiểm cho các tài sản hìnhthành từ vốn vay và TSĐB Không nên tập trung cho vay quá nhiều vào mộtloại đối tượng, một ngành, một địa bàn, cần phải đa dạng hoá danh mục chovay nhằm mục đích đa dạng hoá rủi ro, tăng cường khả năng xử lý linh hoạtcác tình huống có thể xảy ra Đồng thời cũng cần phải sử dụng nghiệp vụ chovay hợp vốn nhằm mục đích san sẻ rủi ro cho các đơn vị khác
1.3.7.8 Sử dụng các công cụ ngoại bảng
Đây là biện pháp hạn chế rủi ro rất hữu hiệu của ngân hàng, nó khôngnhững có thể hạn chế được rủi ro mà còn có thể mang lại được lợi nhuận chongân hàng Đòi hỏi sử dụng công cụ thị trường phái sinh phải có hệ thống,bao gồm các công cụ quyền chọn, kỳ hạn, tương lai, hoán đổi
Trên cơ sở các hoạt động tín dụng và hoạt động kinh doanh, mỗi ngânhàng cần phải đưa ra các chính sách sử dụng các công cụ phái sinh dựa trênnhững phân tích đánh giá về tình hình biến động của thị trường tiền tệ Đây làbiện pháp quản lý cấp cao trong hoạt động ngân hàng Hiện nay xu hướng giảiquyết rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng bằng cácăn công cụ pháisinh đang ngày càng phổ biến, và rất hiệu quả Nhưng nó cũng có tính haimặt, nếu dự đoán phân tích sai về thị trường sẽ dẫn tới rủi ro cao hơn vừa cảrủi ro về tín dụng mà còn rủi ro trong khả năng thanh toán các khoản lỗ dokinh doanh các công cụ này gây ra
Trang 36CHƯƠNG 2:
THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN
HUYỆN HƯNG NGUYÊN 2.1 Tổng quan về Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Huyện Hưng Nguyên
2.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Ngân hàng No&PTNT Huyện Hưng Nguyên
2.1.1.1 Lịch sử hình thành: Là một trong nhiều chi nhánh của NHNo và
PTNT tỉnh Nghệ An, NHNo&PTNT Huyện Hưng Nguyên trước đây nguồngốc là chi điểm của NHNN Nghệ An, hoạt động bao cấp Theo nghị định 53ngày 23/03/88 của HĐBT (nay là Chính phủ) chuyển đổi Ngân hàng từ cơchế bao cấp sang hạch toán kinh tế và cái tên NHNo huyện Hưng Nguyên rađời từ đó và sau này đổi tên là NHNo&PTNT huyện Hưng Nguyên Chinhánh NHNo& PTNT huyện Hưng Nguyên là chi nhánh cấp 2 chịu sự giámsát quản lý của NHNo&PTNT Tỉnh Nghệ An Ngân hàng gồm có các cơ sở:
- Một trung tâm Hội Sở gồm 7 xã và 1 thị trấn trụ sở đặt tại khối 7 - Thịtrấn Hưng Nguyên
- Phòng giao dịch Đông Hưng (NHC3) gồm 7 xã, trụ sở đóng tại xãHưng Thông, huyện Hưng Nguyên
- Phòng giao dịch Nam Hưng (NHC3) gồm 9 xã, trụ sở tại xã HưngPhúc, huyện Hưng Nguyên
2.1.1.2 Quá trình phát triển
Hưng Nguyên là một huyện nông thôn có vị trí địa lí gần thành phốVinh, nền kinh tế chủ yếu vẫn là sản xuất nông nghiệp Mặc dù vậy năm 2009kinh tế huyện nhà vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng đạt 8.45% trên tăng trưởngbình quân của Tỉnh Kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tích cực, sản xuất công
Trang 37nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ đều tăng Do đặc điểm về kinh tế ởhuyện nhà, hoạt động của ngân hàng nói chung và công tác huy động nguồnvốn cũng như việc cung ứng các SPDV của ngân hàng cũng có những đặc thùnhất định.Với vai trò là ngân hàng thương mại duy nhất tại Hưng Nguyên,ngân hàng hoạt động với mục đích đáp ứng nhu cầu về vốn của hoạt động sảnxuất tại huyện nhà bằng nguồn vốn huy động từ các tầng lớp dân cư trong vàngoài huyện.Ngân hàng chủ yếu tập trung đầu tư trực tiếp trên địa bàn 23 xã
và 1 thị trấn.Trong những năm gần đây dưới sự phát triển kinh tế mạnh mẽcủa huyện nhà và trước đòi hỏi của nền kinh tế thị trường hoạt động cungứng SPDV ngân hàng như: tiền gửi tiết kiệm, chuyển tiền, kinh doanh ngoạihối, phát hành thẻ ATM….không ngừng nâng cao và phát triển
Cùng với sự khởi sắc của nền kinh tế đất nước nói chung và huyện nhànói riêng, NHNo&PTNT Hưng Nguyên đã đạt được những thành quả đángkhích lệ trong hoạt động kinh doanh và ngày càng khẳng định được vị trí củamình Đặc biệt trong bối cảnh thị trường tài chính quốc tế phải hứng chịucuộc khủng hoảng sâu rộng nhất kể từ cuộc đại suy thoái(1929-1930), hệthống và thị trường tài chính Việt Nam dù chưa hội nhập thật sâu vào thịtrường quốc tế nhưng cũng không thể tránh khỏi những biến động nhất định.Hoạt động ngân hàng phải đối mặt với những thách thức khôn lường khôngtheo qui luật Một thời, các ngân hàng phải hạn mức đầu tư, kiềm chế tíndụng, rồi lại chuyển sang kích thích tiêu dùng theo chủ trương kích cầu củaChính Phủ với lãi suất thấp dưới cả lãi suất huy động trước đó.Ngân hàng nhànước chỉ đạo thực hiện chương trình chống lạm phát của Chính Phủ, sử dụngđồng bộ các công cụ chính sách tiền tệ như : tăng, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc,lãi suất chiết khấu, lãi suất tái chiết khấu, phát hành tín phiếu NHNN, thay đổilãi suất cơ bản nhiều lần
Trang 38Nhận thức được những khó khăn, thuận lợi nên ngay từ đầu năm bangiám đốc đã bám sát mục tiêu, định hướng, chỉ đạo của ngân hàng cấp trên;quán triệt đầy đủ từng phòng ban, cán bộ công nhân viên; kịp thời xử lí cácbiến động thất thường, đảm bảo hiệu quả kinh doanh Bên cạnh đó là sự hỗtrợ có hiệu quả của các cấp chính quyền địa phương, đặc biệt là sự chỉ đạocủa NHNo&PTNT tỉnh Nghệ An.Nhờ đó NHNo&PTNT Hưng Nguyên đã đạtđược những kết quả kinh doanh quan trọng
Trải qua chặng đường hơn 20 năm hình thành và phát triển, từ một ngânhàng có rất nhiều khó khăn: thiếu vốn, chi phí kinh doanh cao, công nghệ lạchậu,… Nhưng nhờ sự kiên trì khắc phục, quyết tâm đổi mới cùng với sự giúp
đỡ của các cấp ủy Đảng, Chính quyền địa phương, sự quan tâm củaNHNo&PTNT tỉnh Nghệ An, chi nhánh Hưng Nguyên không những đãkhẳng định mình mà còn vươn lên trong cơ chế thị trường, hoạt động kinhdoanh ngày càng có hiệu quả góp phần nâng cao mức sống người lao độngđưa kinh tế huyện nhà ngày càng một đi lên góp phần vào công cuộc xâydựng và đổi mới đất nước
Trang 392.1.2 Cơ cấu tổ chức và bộ máy quản lý
2.1.2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Sơ đồ 2.1: Hệ thống tổ chức của NHNo & PTNT huyện Hưng Nguyên
( Nguồn: Phòng hành chính - nhân sự)
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của từng bộ phận
- Phòng hành chính – nhân sự và kiểm tra nội bộ
+ Các nhiệm vụ chính của hành chính nhân sự
• Xây dựng chương trình công tác hàng tháng, hàng quý và đôn đốccác phòng ban thực hiện theo chương trình đã được Giám đốc phê duyệt
• Lưu trữ các văn bản pháp luật có liên quan đến ngân hàng và văn bảnđịnh chế của NHNo, trực tiếp quản lý con dấu của chi nhánh
+ Các nghiệp vụ về tổ chức đào tạo cán bộ:
• Xây dựng lề lối văn hoá trong chi nhánh
Trang 40• Thực hiện công tác quy hoạch cán bộ, quản lý hồ sơ cán bộ và cácphong trào thi đua khen thưởng.
• Đề xuất bổ nhiệm, miễn nhiệm khen thưởng, kỷ luật các cán bộ trongphạm vi quyền hạn của mình
• Tổ chức liên hệ các khoá đào tạo cán bộ, đề cử cán bộ đi học
+ Tổ kiểm tra kiểm toán nội bộ:
• Kiểm tra công tác điều hành của chi nhánh và các NHKV trực thuộc
• Kiểm tra giám sát việc chấp hành quy trình nghiệp vụ kinh doanhtheo pháp luật và quy định của trung tâm điều hành
• Kiểm tra độ chính xác các báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán
• Giải quyết các đơn thư khiếu nại tố cáo liên quan đến hoạt động NH
• Thực hiện báo cáo chuyên đề và các nhiệm vụ khác cho Giám đốc
+ Thẩm định dự án và quyết định cho vay đến với khách hàng
+ XD mô hình tín dụng thí điểm địa bàn và đánh giá hiệu quả của mô hình+ Phân loại dư nợ, phân tích nợ quá hạn tìm nguyên nhân và đề ra phươnghướng khắc phục