1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình

84 1,2K 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 34,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2 Trước nguy cơ gia tăng mức độ xâm lấn và gây hại của cây Trinh nữ móc, chúng tôi dự kiến thực hiện đề tài: “

Trang 1

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN

-* -

NGUYỄN THỊ THẮNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG TRỪ CÂY TRINH

NỮ MÓC (Mimosa diplotricha C.Wright) THEO HƯỚNG TỔNG

HỢP TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, NINH BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

HÀ NỘI, 2015

Trang 2

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VN VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VN

-* -

NGUYỄN THỊ THẮNG

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÒNG TRỪ CÂY TRINH

NỮ MÓC (Mimosa diplotricha C.Wright) THEO HƯỚNG TỔNG

HỢP TẠI VƯỜN QUỐC GIA CÚC PHƯƠNG, NINH BÌNH

Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật

Mã số: 60 62 01 12

LUẬN VĂN THẠC SĨ NÔNG NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC GS.TS NGUYỄN HỒNG SƠN

HÀ NỘI, 2015

Trang 3

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page i

Lời cảm ơn

Để hoàn thành bản luận văn này, trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến GS.TS Nguyễn Hồng Sơn – Phó giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn Lãnh đạo Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam

và Ban đào tạo sau đại học đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Tôi xin chân thành cảm ơn Chủ trì và các cán bộ tham gia thực hiện Dự án:

“Ngăn ngừa và quản lý sinh vật rừng ngoại lai xâm hại ở rừng sản xuất và rừng được bảo vệ khu vực Đông Nam Á”, đã cho phép và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài

Bên cạnh đó tôi cũng cảm ơn sự quan tâm, tạo điều kiện giúp đỡ về mọi mặt của các cán bộ và nghiên cứu viên thuộc Bộ môn An toàn và Đa dạng sinh học – Viện Môi trường Nông nghiệp

Cuối cùng, tôi xin cảm ơn gia đình và bạn bè luôn động viên tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài luận văn tốt nghiệp

Tôi xin trân trọng cảm ơn sự quan tâm và giúp đỡ quý báu của các tập thể và

cá nhân trên đã giúp tôi hoàn thành bản luận văn này./

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thắng

Trang 4

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page ii

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện năm 2014 tại Vườn Quốc gia Cúc Phương; xã Cúc Phương, Nho Quan, Ninh Bình dưới sự hướng dẫn của GS.TS Nguyễn Hồng Sơn – Phó Giám đốc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam Các số liệu và kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và không trùng lặp với các luận văn khác trong và ngoài nước Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều đã được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày 20 tháng 11 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Thắng

Trang 5

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iii

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

1.2 Tình hình nghiên cứu cây Trinh nữ móc trên thế giới 4

1.2.1 Đặc điểm phân bố, sinh thái, khả năng lây lan và tác hại của cây

Trinh nữ móc

4

Trang 6

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page iv

1.2.3 Khả năng kiểm soát và diệt trừ loài trinh nữ móc trên thế giới 11 1.3 Tình hình nghiên cứu cây Trinh nữ móc ở Việt Nam 15

1.3.1 Mức độ phát tán và xâm lấn tại Việt Nam 15

1.3.2 Thực trạng công tác quản lý, kiểm soát và việc áp dụng các biện

pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc tại Việt Nam

16

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17

2.1.1 Dụng cụ điều tra và quan sát 17

2.3.1 Phương pháp xác định mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của

cây Trinh nữ móc

18

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp phòng trừ 18

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 21

3.1 Mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ móc tại

một số khu vực điều tra

22

3.2 Kết quả nghiên cứu các biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc 37

3.2.1 Hiệu quả diệt trừ cây Trinh nữ móc của các biện pháp phòng trừ 38

3.2.2 Chi phí của các biện pháp phòng trừ 43

3.2.3 Ảnh hưởng của các biện pháp phòng trừ đến đa dạng động vật 44

3.2.4 Ảnh hưởng của các biện pháp phòng trừ đến đa dạng sinh học các

loài thực vật

46

3.2.5 Khả năng sinh trưởng và phát triển của cây rừng bản địa 52

Trang 7

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page v

Trang 8

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vi

3.1 Mật độ cây Trinh nữ móc trước và sau khi áp dụng các biện

pháp phòng trừ (Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2014)

38

3.2 Hiệu qủa phòng trừ cây Trinh nữ móc tính theo mật độ cây

(Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2014)

38

3.3 Diện tích che phủ của cây Trinh nữ móc trước và sau khi áp dụng

các biện pháp phòng trừ (Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2014)

41

3.4 Hiệu quả phòng trừ cây Trinh nữ móc tính theo diện tích che

phủ (Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2014)

41

3.5 Chi phí phòng trừ cây Trinh nữ móc trong mô hình (Vườn

Quốc gia Cúc Phương, 2014)

43

3.6 Thành phần các loài côn trùng và nhện trong mô hình (Vườn

Quốc gia Cúc Phương, 2014)

44

3.7 Tần suất xuất hiện của các loài côn trùng và nhện qua các kỳ

điều tra (Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2014)

45

3.8 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các

công thức thí nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương,

2013&2014)

46

3.8 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các

công thức thí nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương,

2013&2014) (tiếp theo)

47

Trang 9

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page vii

3.8 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các

công thức thí nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương,

2013&2014) (tiếp theo)

48

3.8 Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các

công thức thí nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương,

2013&2014) (tiếp theo)

49

Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các

công thức thí nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương,

2013&2014) (tiếp theo)

50

3.9 Tổng số loài và tỷ lệ % các loài thực vật ở các công thức thí

nghiệm (Vườn Quốc gia Cúc Phương, 2013&2014)

51

3.10 Chiều cao cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss 52 3.11 Đường kính tán cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss 52 3.12 Đường kính cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss 53 3.13 Chiều cao cây Sấu Dracontomelon duperreanum Pierre 53 3.14 Đường kính cây Sấu Dracontomelon duperreanum Pierre 53 3.15 Đường kính tán cây Sấu Dracontomelon duperreanum Pierre 54 3.16 Chiều cao cây Trám trắng Canarium album (Lour.) 54 3.17 Đường kính cây Trám trắng Canarium album (Lour.) 54 3.18 Đường kính tán cây Trám trắng Canarium album (Lour.) 55

Trang 10

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page viii

Trang 11

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cây Trinh nữ móc - Mimosa diplotricha C Wright còn được gọi là cây Trinh

nữ thân vuông, đang có nguy cơ xâm lấn các vùng đất nông nghiệp và hệ sinh thái rừng Do có khả năng sinh trưởng, phát triển và phát tán quần thể rất lớn, nó được xếp vào trong danh sách những loài sinh vật ngoại lai gây hại nguy hiểm đối với hầu hết các Quốc gia đặc biệt là các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới Nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước Châu Phi, Châu Úc và khu vực Đông Nam Á đã gặp nhiều khó khăn và tốn kém trong việc đối phó với Trinh nữ móc khi chúng xâm lấn trên một diện tích rộng lớn, gây cản trở các hoạt động canh tác, giao thông cũng như biến các vùng đất canh tác thành các vùng hoang hóa

Ở nước ta, cây Trinh nữ móc có thể mọc và phát tán ở tất cả các vùng sinh thái từ các tỉnh miền núi đến đồng bằng, tuy nhiên mức độ xâm nhiễm chưa cao nên trước đây việc nghiên cứu và phòng trừ cây Trinh nữ móc còn ít được quan tâm Hiện nay, cây Trinh nữ móc đã phát triển khá nhanh và đang là một trong những loài sinh vật ngoại lai xâm hại nghiêm trọng nhất ở Việt Nam Chúng mọc dày, um tùm, đan xen vào nhau tạo thành những bụi lớn và trở thành đối tượng cỏ dại nguy hiểm khó phòng trừ, gây cản trở cho sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng tới môi trường và đa dạng sinh học

Mặc dù tác hại của cây Trinh nữ móc đã được nhiều phương tiện thông tin đại chúng đăng tải nhưng cho đến nay vẫn chưa có được giải pháp hữu hiệu để ngăn chặn sự lây lan của chúng Để dối phó với khó khăn do cây Trinh nữ móc gây ra, người nông dân vẫn chủ yếu sử dụng biện pháp cắt, chặt cây, tuy nhiên chỉ sau một thời gian ngắn cây lại tái sinh mạnh hơn Mặt khác, việc áp dụng các biện pháp cơ giới chỉ có thể tiến hành khi cây mới xâm lấn trên một diện tích hẹp và mật độ quần thể thấp, khi cây đã mọc lan tràn với mật độ và diện tích che phủ cao thì việc áp dụng các biện pháp này là thiếu tính khả thi

Trang 12

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 2

Trước nguy cơ gia tăng mức độ xâm lấn và gây hại của cây Trinh nữ móc,

chúng tôi dự kiến thực hiện đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây

Trinh nữ móc (Mimosa diplotricha C.Wright) theo hướng tổng hợp tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, Ninh Bình”

2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài

2.1 Mục tiêu

Đề xuất được các biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc theo hướng tổng

hợp nhằm ngăn chặn sự lây lan và kiểm soát sự phát triển của cây Trinh nữ móc (M

diplotricha) ở Việt Nam, góp phần bảo vệ đất canh tác và đa dạng sinh học ở các Vườn Quốc gia

2.2 Yêu cầu

1 Xác định mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ móc tại Vườn Quốc gia Cúc Phương

2 Xây dựng được mô hình trình diễn một số biện pháp phòng trừ cây Trinh

nữ móc theo hướng tổng hợp tại Vườn Quốc gia Cúc Phương

3 Đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và tác động về mặt môi trường của từng biện pháp phòng trừ

3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp những dẫn liệu khoa học về hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và môi trường của biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc, góp phần đề xuất quy trình phòng trừ cây Trinh nữ móc có tính khả thi cao trong điều kiện của các Vườn Quốc gia

3.2 Ý nghĩa thực tiễn

Thông qua các kết quả nghiên cứu của đề tài các nhà quản lý và người dân biết được mức độ xâm lấn và nguy hại của cây Trinh nữ móc Từ đó, nâng cao vai trò và năng lực của các nhà quản lý trong việc kiểm soát sự xâm lấn và lây lan của cây Trinh nữ móc ở các Vườn Quốc gia

Trang 13

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3

Các kết quả nghiên cứu giúp nông dân và các nhà quản lý lựa chọn được giải pháp phòng trừ hiệu quả nhất, hạn chế tác hại đến môi trường và đa dạng sinh học

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu chính của Đề tài là cây Trinh nữ móc (M diplotricha)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Xác định phạm vi, mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ

móc ở Vườn Quốc gia Cúc Phương và vùng đệm Đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh

tế và tác động về mặt môi trường của một số biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc

Trang 14

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1 Cơ sở khoa học của đề tài

Theo các nhà nghiên cứu, cây Trinh nữ móc có nhiều đặc điểm thích nghi và

có lợi giúp chúng có thể nhanh chóng sinh trưởng, phát triển, lây lan và xâm nhiễm trên một vùng rộng lớn Khi xâm nhiễm thì chúng biến các vùng đất canh tác thành các vùng đất hoang hóa, gây thiệt hại lớn đến đời sống kinh tế và xã hội của người dân địa phương Tại vùng bị xâm lấn, cây Trinh nữ móc hầu như làm giảm nghiêm trọng quần xã thực vật bản địa, làm suy giảm quần xã động vật do thay đổi nguồn thức ăn, từ đó làm thay đổi cơ bản hệ sinh thái bản địa, làm giảm đa dạng sinh học Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc, song không có một biện pháp riêng lẻ nào có thể mang lại hiệu quả cao và triệt để trong việc phòng trừ chúng Từ đó, nhiều biện pháp khác nhau đã được khuyến cáo ứng dụng như biện pháp thủ công cơ giới như nhổ, cắt…; biện pháp sử dụng thuốc trừ cỏ và biện pháp sinh học

Từ kinh nghiệm phòng trừ cây Trinh nữ móc trên thế giới và kinh nghiệm

phòng trừ cây Trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) ở Việt Nam cho thấy: sử dụng

các biện pháp cắt, nhổ, đốt chỉ làm giảm mật độ, giảm độ che phủ, giảm sinh khối ngay sau mỗi lần xử lý, không có tác dụng diệt trừ triệt để, sau mỗi lần xử lý cây lại mọc tái sinh mạnh hơn Đối với biện pháp hóa học, kết quả nghiên cứu cho thấy sử dụng thuốc trừ cỏ Glyphosate 480SC và thuốc trừ cỏ Ally 20DF có tác dụng diệt trừ cây Trinh nữ móc

Vì vậy, việc nghiên cứu giải pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc theo hướng tổng hợp đang được các nước trên thế giới quan tâm và ứng dụng cho phù hợp với từng vùng cụ thể

Trang 15

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5

1.2 Tình hình nghiên cứu cây Trinh nữ móc trên thế giới

1.2.1 Đặc điểm phân bố, sinh thái, khả năng lây lan và tác hại của cây Trinh nữ móc

Cây Trinh nữ móc là loài thực vật có nguồn gốc từ vùng nhiệt đới, phần lớn

ở Nam và Trung Mỹ, cũng như vùng biển Caribbean (Barneby, 1991; Holm et al., 1977; Kostermans et al., 1987; Parsons and Cuthbertson, 1992; Willson and Garcia,

1992) [11, 16, 17, 21, 24], tuy nhiên vẫn chưa xác định rõ liệu nó có nguồn gốc ở Bắc Mỹ và một phần ở vùng biển Caribbean không (Barneby, 1991) [11] Ngày nay

nó đã trở nên phổ biến khắp vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới Cây Trinh nữ móc lần đầu tiên được du nhập vào các khu vực khác như một dạng cây cảnh, làm hàng rào, dần dần chúng phát tán theo dòng nước, con người, động vật…, xâm nhập vào hầu hết các nước trên thế giới và trở thành đối tượng cỏ dại nguy hiểm ở các nước nhiệt đới

Trinh nữ móc là một trong số 76 loài cỏ dại nghiêm trọng nhất trên thế giới

(Holm et al., 1977) [16] và được xem như là một loài cỏ dại hại 13 loại cây trồng ở

18 quốc gia Theo Holm et al (1977) [16] cây Trinh nữ móc được xem là loài cỏ

dại nghiêm trọng và chủ yếu ở Borneo, Fiji, Malaysia, Melanesia, New Guinea, Tây Polynesia, Philippines, Đài Loan, Úc và Indonesia

Waterhouse and Norris (1987) [23] coi nó là một loài cỏ dại nghiêm trọng ở các đảo Thái Bình Dương, Đông Nam Á, Mauritius và Nigeria Nó là một loài rất

dễ xâm lấn bất cứ nơi nào mà nó xâm nhập vào Phần lớn cây này thường xâm lấn các khu vực đất màu mỡ, có độ ẩm, không khí, ánh sáng đều cao, đất hoang hóa, các đồng cỏ, lề đường, rừng trồng cây tái sinh, ở rìa các khu rừng, đất ven sông, các

kênh rạch, dòng sông bị khô cạn trong vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới (Holm et al., 1977; Kostermans et al., 1987; Parsons and Cuthbertson, 1992; Willson and Garcia,

1992) [16, 17, 21, 24] Cây Trinh nữ móc sẽ chết và không mọc được khi bị che bóng, vì vậy nó không gây hại ở những khu rừng kín

Tại Úc, cây Trinh nữ móc được tìm thấy trong các khu vực ven biển phía Bắc Queensland giữa Ingham và Cooktown, xung quanh Mackay và tại Brisbane (Anon, 2001b; Parsons and Cuthbertson, 1992) [28, 21], và nó có nguy cơ lây lan

Trang 16

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6

sang lãnh thổ phía Bắc và Tây Úc (Groves et al., 2003) [31] Thật vậy, ở Tây Úc

cây Trinh nữ móc đã được tìm thấy và tiêu diệt vào năm 2004 (Wilson, 2004) [24]

Ở Tây Samoa, người ta ước tính khoảng 85% số làng trên đảo Upolu bị cây Trinh nữ móc xâm nhiễm (Wilson and Garcia, 1992) [24] Cây Trinh nữ móc thường hình thành các khối có đường kính lên đến 20m ở thung lũng Markham và

Ramu ở Papua New Guinea (Kuniata et al., 1993) [18] Trên bán đảo Malaysia, cây

Trinh nữ móc có ở các bang Perlis, Kedah, Seberang Prai, bắc Perak, Selangor, Malacca, Negri Sembilan và Johore (Baki and Prakash, 1994) [12]

Ở Negeria, cây Trinh nữ móc xuất hiện năm 1990, khi đó cây Trinh nữ móc chỉ xuất hiện ở ven đường, các bờ mương và vùng đất hoang hóa ở phía Nam của đất nước nhưng sau đó nó đã trở thành cỏ dại chính xâm nhiễm gây hại các vùng đất canh tác nông nghiệp, gây hại đến các trang trại trồng sắn, ngô, chuối, dừa, cọ dầu

và đang mở rộng ra những nơi khác (Frank Ekhator et al., 2013) [30]

Ở đồng bằng sông Cửu Long (Việt Nam) loại cây này chỉ được xem như là một loài cỏ dại nhỏ

Ở nhiều quốc gia khác, cây Trinh nữ móc là một loại cỏ dại nghiêm trọng đối với cây trồng, vùng đất canh tác và cũng dễ dàng thấy cây Trinh nữ móc ở hai bên

lề đường, bờ sông, các vùng đất hoang hóa khác Ví dụ ở Kuniata có 80% diện tích của một trang trại mía lớn ở Papua New Guinea bị cây Trinh nữ móc xâm nhiễm gây hại

Tại những vùng bị cây Trinh nữ móc xâm lấn, loài thực vật ngoại lai này không chỉ gây tác hại nghiêm trọng đến kinh tế, xã hội mà còn gây nên tác động rất lớn về mặt sinh thái và môi trường

Ở những vùng đất canh tác bị cây Trinh nữ móc xâm nhiễm sẽ gây giảm năng suất và rất khó khăn trong việc thu hoạch bằng tay vì cây có nhiều gai, gây nguy hiểm đến con người (Waterhouse and Norris, 1987) [23] Thu hoạch bằng máy móc cũng có thể bị kẹt (Parsons and Cuthbertson, 1992) [21] Trong các cánh đồng sắn ở Nigeria, quần thể cây Trinh nữ móc ngày càng tăng đã làm giảm sản lượng sắn một cách nhanh chóng Khi mật độ cây Trinh nữ móc đạt 630.000 cây/ha, năng

Trang 17

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 7

suất sắn trong 12 tháng sau trồng đã giảm 80% (Alabi et al., 2001) [9] Cũng ở

Nigeria, cây Trinh nữ móc được xem là loài cỏ dại có hại nhất trong thành phố Benin, nó đã xâm lấn các trang trại, cánh đồng hoang và các mảnh đất xây dựng chưa phát triển (Ogbe and Bamidele, 2006) [20] Ở Papua New Guinea, cây Trinh

nữ móc tác động tiêu cực trực tiếp đến sự sinh trưởng phát triển, năng suất của cây mía nhưng chưa có đánh giá thực tế nào về thiệt hại kinh tế Tuy nhiên, trong các trang trại chăn nuôi gia súc ở thung lũng Markham, mức chi phí hàng năm để kiểm soát bằng hóa chất lên tới 130.000 đô la (Kuniata, 1994) [18]

Một số nghiên cứu cho rằng cây Trinh nữ móc độc hại đối với gia súc (Waterhouse và Norris, 1987; Gibson and Waring, 1994) [23, 14], mặc dù báo cáo của Parsons and Cuthbertson (1992) [21] cho lại rằng một con cừu được cho ăn 60 -

90 g Trinh nữ móc/ngày trộn với cỏ linh lăng không bị bất kỳ triệu chứng có hại nào Ở Thái Lan, 22 con trâu đầm lầy chết sau khi ăn cây Trinh nữ móc 18 - 36 giờ, với các triệu chứng tiết nước bọt, tê cứng, giảm nhai lại, run cơ, khó thở và nằm ngả xuống

Cây Trinh nữ móc có khả năng leo cao vượt lên trên các loại cây trồng khác (Schultz, 2000) [22], nó cản trở ánh sáng ngăn cản sự tái sinh tự nhiên của các loại cây trồng khác, có thể tạo thành mối nguy hiểm gây cháy tại những vùng đất hoang khi cây khô (PIER, 2004) [32] Ở Úc, người ta cho rằng cây Trinh nữ móc là đối thủ cạnh tranh liên tục và tạo thành thảm dày đặc ảnh hưởng xấu đến sự phát triển của của một số loài bản địa (Werren, 2001) [33], điều đó ảnh hưởng nghiêm trọng đến

hệ sinh thái thực vật bản địa và quần xã động vật

Như vậy, cây Trinh nữ móc đã biến nhiều vùng đất canh tác thành đất hoang hóa, những vùng bị loài ngoại lai này xâm lấn thường tạo nên những khu vực thuần loại, gây thiệt hại rất lớn đến đời sống kinh tế và xã hội của người dân Cây Trinh

nữ móc xâm nhiễm đã cản trở việc con người và động vật tiếp cận với các vùng đất trống và nguồn nước; làm giảm các nguồn thực phẩm tự nhiên của người dân; hàng loạt gai cong và sắc của mỗi góc thân cây Trinh nữ móc gây thương tích nghiêm trọng cho con người và động vật Bên cạnh đó, cây Trinh nữ móc còn gây ra nhiều

Trang 18

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 8

ảnh hưởng cho người dân như ngăn cản quá trình giao thông và hoạt động canh tác Các loại cây trồng bị cây Trinh nữ móc xâm nhiễm sẽ khó khăn trong việc chăm sóc

và thu hoạch do cây Trinh nữ móc có nhiều gai Vì vậy, sự xâm nhiễm của cây Trinh nữ móc dẫn đến sản lượng cây trồng giảm, giá thành sản phẩm tăng, gây ra mất mùa và thoái hóa đất Tại những vùng bị xâm nhiễm, cây Trinh nữ móc hầu như làm giảm nghiêm trọng các quần xã thực vật bản địa và quần xã động vật do thay đổi thảm thức ăn hay do sự cản trở của bộ gai trên thân cây Trinh nữ móc Từ

đó làm thay đổi cơ bản hệ sinh thái bản địa, làm giảm đa dạng sinh học

Bên cạnh những tác động tiêu cực, nếu cây Trinh nữ móc được sử dụng một cách hợp lý thì cũng có những tác dụng nhất định như làm cây phân xanh, cây che phủ đất chống xói mòn, làm củi, làm hàng rào,…Nhưng cho đến nay các nghiên cứu

và kết quả ứng dụng cây Trinh nữ móc vào mục đích kinh tế còn rất hạn chế (Henty

and Pritchard, 1975; Holm et al., 1977) [15, 16]

1.2.2 Đặc điểm sinh học

Cây Trinh nữ móc (M diplotricha) thuộc họ Mimosaceae, là một loại cây

thân bò, ưa sáng, phát triển nhanh Mặc dù chu kỳ sống của Trinh nữ móc là cây hàng năm nhưng cũng có thể được xem như là loài cây leo họ đậu, dạng bụi sống

lâu năm, thời gian tồn tại ngắn (Alabi et al., 2004; Holm et al., 1977; Waterhouse

and Norris, 1987; Willson and Garcia, 1992) [10, 16, 23, 24] Cây thường mọc đan chen vào nhau tạo ra bụi lộn xộn, không thể đâm xuyên qua được

Cây Trinh nữ móc là một loài cây phân nhánh mạnh, mọc lộn xộn đan chen vào nhau, có thể cao từ 1- 2m, gốc cây hóa gỗ theo độ tuổi, thân trải dài đến 6m, hình thành khối thấp mọc đan chen nhau hoặc leo lên các loài cây khác Thân cây

có hình dạng góc cạnh, có gai (Apfisn, 2007; Chauhan and Johnson, 2008; Holm et

al., 1977; Kuniata et al., 1993) [26, 29, 16, 19], gai dài từ 3 - 5mm, uốn cong ra

phía sau

Lá Trinh nữ móc mượt như lông tơ, có màu xanh sáng (xanh nhạt), mọc so

le Lá kép lông chim hai lần Mỗi lá gồm 4 - 9 cặp lá kép nhỏ hình lông chim, dài 3

- 6cm Mỗi lá kép có 12 - 30 cặp lá chét hình mũi mác, không cuống, mọc đối xứng,

Trang 19

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 9

dài 6 - 12mm và rộng 1,5mm (Apfisn, 2007; Chauhan and Johnson, 2008; Holm et

al , 1977; Kuniata et al., 1993) [26, 29, 16, 19] Các cặp lá chét cụp lại khi trời tối

và khi bị chạm vào, nhưng chúng chỉ được coi là nhạy cảm vừa phải Cuống lá dày

ở phần gốc cuống, có những là kèm nhọn, mảnh và có lông mịn, có gai dọc theo mặt sau của cuống lá

Hoa nhỏ, hình cầu, có màu tím hồng, đường kính khoảng 12mm, mọc thành cụm trên cùng một cuống ở nách lá, mỗi cụm có từ 1 - 3 hoa Cuống hoa dài và có nhiều lông Hoa có thể ra quanh năm, nhưng tập trung chủ yếu vào cuối mùa mưa

(Holm et al., 1977; Parsons and Cuthbertson, 1992, Waterhouse and Norris, 1987)

lên đến 20.000 hạt/m2 (Chauhan and Johnson, 2008; Holm et al., 1997; Kuniata et

al., 1993) [29, 16, 19] Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt độ và ẩm độ hạt Trinh

nữ móc có thể nảy mầm sau khi rụng, một số khác nằm sâu trong đất có thể rơi vào

trạng thái ngủ nghỉ tới 50 năm (Kuniata et al., 1993; Parsons and Cuthbertson,

1992) [19, 21] Những hạt nằm ngủ nghỉ sâu dưới đất có thể bị phá ngủ và nảy

mầm nhờ vào quá trình làm đất và tiếp xúc với hơi nóng từ việc đốt cháy cỏ

(Kuniata et al., 1993) [19] Một nghiên cứu gần đây khẳng định rằng sự ngủ nghỉ

của hạt không chịu ảnh hưởng của ảnh sáng nhưng bị phá vỡ bởi nhiệt độ cao (Chauhan and Johnson, 2008) [29], tỷ lệ nảy mầm tăng khi nhiệt độ tăng từ 25oC đến 120oC

Cây Trinh nữ móc sinh sản bằng hạt nhưng cũng có thể mọc tái sinh từ gốc thân sau khi chặt Sau khi mọc tái sinh, cây sinh trưởng rất nhanh và mọc nhiều

Trang 20

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 10

nhánh hơn Hạt cây Trinh nữ móc có thể nảy mầm vào bất kỳ thời gian nào trong năm khi gặp điều kiện nhiệt độ, ẩm độ thuận lợi Đặc biệt là vào mùa mưa hạt nảy mầm nhiều nhất Sau khi nảy mầm, cây sinh trưởng rất nhanh và có thể ra hoa sau 4

tháng Hoa có thể nở quanh năm (Holm et al., 1977; Kostermans et al., 1987;

Waterhouse and Norris, 1987) [16, 17, 23], nhưng tập trung vào cuối mùa mưa (Parsons and Cuthbertson, 1992) [21] Ở Úc, cây Trinh nữ móc thường ra hoa và đậu quả từ tháng 4 đến cuối tháng 6, nhưng trong những năm thời tiết lạnh ít thì cây

ra hoa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 12 Một số cây có thể ra hoa khi cây cao 10cm (Anon., 2001a) [27]

Theo các nhà nghiên cứu, cây Trinh nữ móc có nhiều đặc điểm thích nghi và

có lợi giúp chúng có thể sinh trưởng, phát triển, lây lan và xâm nhiễm nhanh chóng trên một vùng rộng lớn ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới:

Thứ nhất, cây Trinh nữ móc là cây ưa sáng, điều kiện khí hậu có độ ẩm và nhiệt độ cao ở các nước nhiệt đới và cận nhiệt đới đã tạo điều kiện cho hạt cây Trinh nữ móc nảy mầm, sinh trưởng và phát triển

Cây con nhanh chóng đạt được thời kỳ sinh trưởng sinh thực và kết hạt ngay năm đầu tiên Quả khi khô rất nhẹ, trên vỏ quả có lớp lông dày đặc nên có thể giúp quả bám vào cơ thể động vật, quần áo, hay trôi dạt theo dòng nước phát tán đi tới các vùng khác

Cây Trinh nữ móc ra nhiều quả và có nhiều hạt Số lượng hạt tồn tại trong đất rất nhiều, hạt có thể tồn tại trong đất đến 50 năm Vì thế mà cây Trinh nữ móc

có thể tồn tại từ vụ này sang vụ khác, từ năm này sang năm khác, từ vùng sinh thái này sang vùng sinh thái khác

Trong điều kiện thuận lợi, cây Trinh nữ móc có thể sinh trưởng rất nhanh và tốc độ xâm nhiễm có thể gấp đôi diện tích sau một năm Cây cũng có thể chịu được điều kiện khô hạn

Nhu cầu dinh dưỡng của cây Trinh nữ móc thấp, nó có thể mọc ở nhiều vùng đất, do đó có phổ sinh thái rộng

Trang 21

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 11

Sau khi cây bị chặt, cây có thể nhanh chóng mọc tái sinh từ phần gốc sát mặt đất Khi bị đốt, toàn bộ lá cây có thể bị cháy, chết nhưng các hạt dưới đất lại được kích thích phá ngủ và mọc nhiều hơn

Sự giống nhau về khí hậu và đất đai ở nước bản địa và các nước khác là yếu

tố cơ bản giúp cho cây Trinh nữ móc phát tán, lây lan và xâm nhiễm nhanh hơn

1.2.3 Kinh nghiệm kiểm soát và diệt trừ loài Trinh nữ móc trên thế giới

Cho đến nay, trên thế giới đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về các biện pháp kiểm soát và diệt trừ cây Trinh nữ móc và đã có một số thành công nhất định Nhưng có thể khẳng định rằng, nếu chỉ áp dụng biện pháp đơn lẻ thì không mang lại hiệu quả cao và triệt để trong việc phòng trừ cây Trinh nữ móc Từ đó, nhiều biện pháp khác nhau đã được khuyến cáo ứng dụng như biện pháp thủ công, cơ giới như nhổ, cắt…biện pháp đốt hay sử dụng thuôc trừ cỏ và biện pháp sinh học

Đầu tiên là kiểm dịch thực vật: đây được coi là một trong những biện pháp

quan trọng để ngăn chặn và kiểm soát sự lây lan của cây Trinh nữ móc Việc tiến hành biện pháp kiểm dịch có thể áp dụng đối với các quốc gia khác nhau nhưng cũng có thể áp dụng để ngăn chặn sự lây lan từ vùng dịch tới các vùng chưa bị cây Trinh nữ móc xâm nhiễm Đặc biệt cần kiểm soát chặt chẽ sự giao lưu của con người tại vùng bị nhiễm cây Trinh nữ móc ở các vườn Quốc gia để có biện pháp ngăn chặn kịp thời khi chúng có nguy cơ bùng phát số lượng Hạn chế chăn nuôi trong vùng có cây Trinh nữ móc xâm nhiễm

Biện pháp thủ công, cơ giới: Cây Trinh nữ móc có thể phòng trừ bằng biện

pháp thủ công, cơ giới như cắt, thu gom và đốt Tuy nhiên biện pháp này thường gặp cản trở lớn do gai nhọn và hạt có thể chịu được nhiệt độ cao và khi đốt thường kích thích cho hạt ở dưới tầng đất mặt nảy mầm nhiều hơn ngay sau đó

Biện pháp nhổ và đốt, xới và cắt là những biện pháp thực tế nhất (Apfisn, 2007) [26] Biện pháp nhổ cả rễ là biện pháp hiệu quả nhất để phòng trừ Trinh nữ móc khi cây còn bé, mật độ thấp Tuy nhiên, biện pháp nhổ cả rễ cần phải tiến hành

2 lần trong một năm mới đạt yêu cầu phòng trừ (Alabi et al., 2004) [10] Lần nhổ

Trang 22

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 12

đầu tiên phải thực hiện trước khi cây Trinh nữ móc ra hoa và lần thứ hai thực hiện

ngay sau khi có cây con mọc (Apfisn, 2007) [26]

Biện pháp cắt không được khuyến cáo vì cây Trinh nữ móc dễ mọc tái sinh

từ các thân bị cắt Việc sử dụng cây Trinh nữ móc làm thức ăn của các động vật cũng được thử nghiệm để ngăn chặn sự xâm lấn của chúng ở Queensland, Autralia (Apfisn, 2007) [26]

Nhược điểm cơ bản của biện pháp thủ công, cơ giới là rất tốn kém vì cần nhiều nhân công lao động Do đó, khi cây Trinh nữ móc xâm nhiễm trên một diện tích rộng lớn thì việc bố trí nhân công nhổ bỏ, cắt là khó thực hiện

Biện pháp sử dụng thuốc hóa học: cho đến nay biện pháp hóa học được coi

là biện pháp có hiệu quả phòng trừ cao và triệt để nhất Do đó nó được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới để phòng trừ cây Trinh nữ móc Cùng với sự phát triển của nền công nghiệp hóa chất, người ta đã tìm ra nhiều loại thuốc có hiệu quả cao và có thể ứng dụng bằng nhiều hình thức khác nhau Một số thuốc trừ cỏ có hoạt chất như Atrazine, Diuron, Paraquat, Glyphosate…được áp dụng đơn lẻ hoặc hỗn hợp đã có hiệu quả phòng trừ cây Trinh nữ móc cao

Ở Nigeria, báo cáo của Alabi et al (2001) cho rằng phun hỗn hợp thuốc

Atrazine + Acetochlor, Bentazon + Atrazine có hiệu quả diệt trừ cây Trinh nữ móc cao [9] Liều lượng hóa chất cần thiết có thể giảm khi áp dụng vào giai đoạn cây mới mọc tái sịnh sau cắt và đốt Sử dụng biện pháp hóa học trước khi cây ra hoa, đậu quả sẽ mang lại hiệu quả phòng trừ tốt nhất Tuy nhiên, biện pháp này phải được áp dụng phun định kỳ do hiệu lực của thuốc hóa học thường không kéo dài, trong khi đó cây Trinh nữ móc móc thì mọc tái sinh liên tục

Phòng trừ cây Trinh nữ móc bằng biện pháp hóa học cho hiệu quả cao trong

hệ thống canh tác quy mô lớn vì nó tốn ít công lao động Tuy nhiên, các hóa chất này chỉ tồn tại trong một vài tháng và đôi khi lại quá đắt đối với hệ canh tác có quy

mô nhỏ, ảnh hưởng đến môi trường, các loài sinh vật không chủ đích Đặc biệt, khi

áp dụng cho khu vực gần nguồn nước có thể ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước, các sinh vật sống trong nước…ảnh hướng đến con người

Trang 23

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 13

Biện pháp sinh học: sử dụng thiên địch tự nhiên của cây Trinh nữ móc từ nơi

bản địa của chúng là một giải pháp được Tổ chức Bảo tồn thiên nhiên Quốc tế (IUCN) đang khuyến khích và coi là giải pháp phòng trừ tiềm năng

Phòng trừ cây Trinh nữ móc bằng biện pháp sinh học có thể được áp dụng dưới hình thức phòng trừ sinh học cổ điển đó là nhập nội, thuần hóa và nhân thả các loài thiên địch sẵn có từ nơi bản xứ để trừ những loài ngoại lai xâm hại Theo Waterhouse and Norris (1977) [23] báo cáo có ít nhất 70 loài côn trùng và 2 loài

nấm ở Brazil được chứng minh là có khả năng hạn chế cây Trinh nữ móc

Biện pháp sinh học đã được tiến hành tại Úc, Tây Samoa và một số đảo Thái Bình Dương Tại Úc, năm 1980 người ta đã tiến hành nghiên cứu và nhân thả thành công một số tác nhân sinh học có khả năng diệt trừ tốt cây Trinh nữ móc như sâu

đục thân Heteropsylla spinulosa và Scamurius sp hút nhựa cây, làm biến dạng đỉnh

sinh trưởng và giảm khả năng tạo hạt của cây Trinh nữ móc

Heteropsylla spinulosa được nhập vào Úc năm 1987, đến năm 1989 làm giảm đáng kể diện tích Trinh nữ móc và đã được nhân thả trong vùng rộng lớn ở

nước Úc (Cullen and Delfosse, 1990) [13] Trong năm 1988 - 1989 Heteropsylla

spinulosa đã được chuyển giao từ Autralia đến Tây Samoa (Willson and Garcia, 1992) [24] và Papua New Guinea vào năm 1991 (Kuniata, 1994) [18] Tuy nhiên,

biện pháp sử dụng côn trùng hút dịch Heteropsylla spinulosa từ Brazil này không

có hiệu quả trong điều kiện ngập lụt và hạn hán kéo dài

Scamurius sp được nhân thả ở Úc năm 1984 và chuyển giao sang Tully ở phía bắc Queensland vào tháng 11 năm 1987 (Anon,2001a) [27], nhưng loài này chỉ

có hiệu quả kiểm soát cây Trinh nữ móc trong một thời gian ngắn

Một loài bướm Psigidia walkeri thuộc họ ngài đêm ăn lá, nụ hoa, quả non,

thân và nhánh non của cây Trinh nữ móc (Waterhouse and Norris, 1987) [23], nhưng loài bướm đêm này cũng ăn một số lượng lớn các loài thực vật bản địa khác

ở Úc, vì vậy mà nó không được nhân thả trên diện rộng

Loài nấm Corynespora casiicola được ghi nhận là có khả năng giết chết cây

Trinh nữ móc ở Queensland, Úc (Waterhouse and Norris, 1987) [23] Loài nấm này

Trang 24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 14

gây ra bệnh đốm thân, dị dạng, gây chết mầm cây trong điều kiện ẩm nóng, làm giảm khả năng ra hoa, kết hạt của cây Trinh nữ móc (Apfisn, 2007; Anon, 2001b) [26, 28]

Biện pháp phòng trừ sinh học đang được coi là một hướng đi quan trọng vì

nó khắc phục được nhược điểm của các biện pháp thủ công và hóa học, đảm bảo được tính bền vững và cân bằng sinh thái cao Tuy nhiên, việc ứng dụng biện pháp này một cách rộng rãi thì còn nhiều khó khăn sau:

- Phần lớn các tác nhân sinh học thường có hiệu quả không cao và chỉ có tác dụng hạn chế phần non của cây và các cây con, không có khả năng tiêu diệt triệt để Đối với các loài sâu ăn ngọn đôi khi còn kích thích cho cây mọc nhánh mới và phát triển mạnh hơn Phạm vi phát tán cũng không rộng, trong khi đó các vùng lân cận thường xuyên có nguồn hạt từ các vùng khác đến

- Các tác nhân sinh học có thể bị suy giảm quần thể hoặc bị tiêu diệt trong những điều kiện bất thuận như hạn hán kéo dài Vì vậy, việc bảo vệ và nhân thả quần thể của chúng cũng có nhiều khó khăn

- Chi phí cho biện pháp sinh học rất cao, công việc nhập nội và nhân nuôi thiên địch phải mất nhiều thời gian, công sức và chi phí Để hình thành và duy trì được khu vực phòng trừ với diện tích trên 100ha thì phải cần một phòng thí nghiệm đầy đủ các điều kiện duy trì các hoạt động thường xuyên để kiểm tra, nhân nuôi bổ sung Như vậy, các kết quả nghiên cứu ở nước ngoài đều cho thấy không một biện pháp phòng trừ nào có thể mang lại hiệu quả cao và triệt để đối với cây Trinh nữ móc khi cây đã xâm nhiễm ở mức độ cao Vì vậy, hướng nghiên cứu và ứng dụng các biện pháp ngăn chặn sự xâm nhiễm ban đầu và phòng trừ sớm cây Trinh nữ móc đang được các quốc gia đặc biệt quan tâm và coi đây là một biện pháp rẻ tiền và hiệu quả nhất

Các biện pháp phòng trừ cần phải thiết kế trong sự cân nhắc đến hệ sinh thái

Ví dụ, sử dụng biện pháp thủ công hoặc biện pháp cơ giới rõ ràng là an toàn hơn biện pháp hóa học để giảm thiểu ảnh hưởng đến môi trường trong hệ sinh thái rừng

tự nhiên (Apfisn, 2007) [26] Trong các hệ sinh thái khác, để đạt hiệu quả lâu dài,

Trang 25

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 15

bền vững trong phòng trừ Trinh nữ móc đòi hỏi phải sử dụng tổng hợp các biện pháp: cơ giới, hóa học và sinh học Ở những đồng cỏ và những nơi trồng cây liên tục, sử dụng biện pháp cắt cây thường xuyên cũng có hiệu quả ngăn ngừa cây Trinh

nữ móc non bởi vì biện pháp canh tác vẫn có hiệu quả nhưng đòi hỏi nhiều công lao động (Apfisn, 2007) [26] Tuy nhiên, bất cứ chương trình quản lý tổng hợp nào cũng cần phải bổ sung yếu tố giáo dục và khuyến nông thường xuyên để đảm bảo lựa chọn các biện pháp phù hợp với các hệ sinh thái khác nhau

Để tránh sự phát tán tiếp theo của cây Trinh nữ móc tới những vùng không bị nhiễm cỏ dại này cần kiểm soát nghiêm ngặt khi di chuyển máy móc từ bị nhiễm đến những vùng không bị nhiễm cây Trinh nữ móc Cũng như vậy, cần thi hành chặt chẽ các biện pháp kiểm dịch khi nhập khẩu hạt giống sẽ giúp kiểm soát sự lây lan của cây Trinh nữ móc sang các nước khác hoặc các vùng khác (Apfisn, 2007) [26] Một số biện pháp đang được khuyến cáo để ngăn chặn sự lây lan của cây Trinh nữ móc:

a) Bất cứ khi nào phát hiện ra cây Trinh nữ móc phải nhổ cả rễ và đốt trước khi cây ra hoa và đậu quả;

b) Kiểm tra kỹ quần áo, giày dép, hành lý để tìm hạt cây Trinh nữ móc để tránh mang những hạt này sang các chỗ mới

1.3 Tình hình nghiên cứu cây Trinh nữ móc ở Việt Nam

1.3.1 Mức độ phát tán xâm lấn tại Việt Nam

Cây Trinh nữ móc du nhập vào Việt Nam năm 1920 (Phạm Hoàng Hộ, 1999) [6] Cây Trinh nữ móc lúc đầu được nhập vào Việt Nam một cách ồ ạt như một loại cây để trang trí và làm hàng rào Hiện nay nó đã trở nên thích nghi với nhiều vùng đất bao gồm vườn Quốc gia Cúc Phương và các vùng đất trồng trọt chăn nuôi lân cận Là loài thực vật ngoại lai xâm lấn điển hình, loài cây này sinh trưởng phát triển tốt ở cạnh đường đi, các khoảng đất trống, xâm lấn chủ yếu các vùng đất nông nghiệp hoang hóa, rừng tái sinh và rừng trồng mới, rừng sau thu hoạch khi tán cây rừng chưa khép kín và ở những nơi ẩm ướt Những nơi bị loài cây này xâm lấn thường tạo nên khu vực thuần loại Cây Trinh nữ móc bò nhanh lên các loài thực vật

Trang 26

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 16

thân bụi, quấn thành từng lớp dày tới 2m, làm chết các loài thực vật có ích và thực vật khác, do đó làm giảm đa dạng sinh học Cây trồng bị nhiễm cây Trinh nữ móc rất khó thu hoạch nên tốn công sức và tiền của…Vì vậy, có thể khẳng định, tác động của cây Trinh nữ móc với đa dạng sinh học rừng và phát triển kinh tế là rất lớn

Cây Trinh nữ móc sinh sản rất nhanh và phát tán bằng nhiều hình thức: phát tán qua nguồn nước, phương tiện giao thông, máy móc, con người

Cây Trinh nữ móc đã xâm lấn thành công và trở thành loài được dự báo nguy cấp tại Vườn quốc gia Bạch Mã (Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự, 2004)[4] Hiện nay ở Việt Nam chưa có con số thống kê nào về mức độ phát tán xâm lấn của cây Trinh nữ móc Tuy nhiên, có thể thấy loài cây này là một loài sinh vật ngoại lai thích nghi và xâm lấn thành công ở nhiều khu vực bao gồm Vườn Quốc gia Cúc Phương và các vùng đất chăn nuôi, trồng trọt xung quanh, đặc biệt là các khu rừng tái sinh, rừng trồng mới, các khu đất trống và tiếp tục tăng theo thời gian

1.3.2 Thực trạng công tác quản lý, kiểm soát và việc áp dụng các biện pháp diệt trừ cây Trinh nữ móc tại Việt Nam

Cây Trinh nữ móc xâm nhập vào Việt Nam từ rất lâu nhưng do mức độ xâm nhiễm và gây hại đối với sản xuất nông, lâm nghiệp chưa lớn nên các công trình nghiên cứu về cây Trinh nữ móc ở Việt Nam còn rất ít Hầu như chưa có công trình nào nghiên cứu sinh học, sinh thái cũng như đánh giá tác hại của loài thực vật ngoại lai này đối với đa dạng sinh học và các biện pháp phòng trừ, kiểm soát chúng ở Việt Nam

Hiện nay loài thực vật này có mặt ở khắp nơi từ Bắc đến Nam, chúng phát sinh và gây hại nghiêm trọng đối với các vùng đất trống, ẩm ướt, các vùng đất canh tác và đặc biệt nghiêm trọng đối với các khu rừng tái sinh khi cây rừng chưa khép tán Hiện tại chỉ có biện pháp thủ công đang được áp dụng, tuy nhiên do thân của nó

có gai nên việc phòng trừ bằng biện pháp thủ công gặp nhiều khó khăn Vì vậy, nếu không có biện pháp ngăn chặn kịp thời cây Trinh nữ móc sẽ xâm lấn ngày một nhiều hơn và khó phòng trừ hơn

Trang 27

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 17

CHƯƠNG 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Vật liệu nghiên cứu

2.1.1 Dụng cụ điều tra và quan sát

- Khung điều tra kích thước 1m x 1m, kính lúp, thước panme, thước dây, máy định vị toàn cầu – Global Positioning System (GPS) Receiver và các thiết bị bảo hộ lao động cần thiết

- Glyphosatte IPA: Là một hoạt chất trừ cỏ không chọn lọc, nội hấp, tác

động vào giai đoạn sau khi cỏ đã mọc và đã lớn Thuốc thuộc nhóm độc III, LD50 qua miệng và da > 5000 mg/kg Thuốc có thể trừ được nhiều loại cỏ hòa thảo, cỏ năn lác và cỏ lá rộng, cỏ hàng năm và lâu năm Sau khi phun lên mặt lá cây, thuốc nhanh chóng xâm nhập qua lá và các bộ phận xanh khác, sau đó vận chuyển xuống bên dưới kể cả các bộ phận nằm dưới đất như rễ, do đó thuốc có thể diệt trừ tận gốc nhiều loài cỏ có rễ ăn sâu như cỏ ống, cỏ tranh,

Glyphosate có thể được sử dụng ở lượng 2 - 3 kg hoạt chất (ai)/ha Hiện nay, hoạt chất này được gia công thành rất nhiều sản phẩm thương mại khác nhau Sản phẩm được sử dụng trong thí nghiệm là Roundup 480SC

- Metsulfuron methyl: Là một thuốc chọn lọc, nội hấp, tác động hậu nảy

mầm, trừ được nhiều loài cỏ lá rộng và năn lác, không trừ được cỏ hào thảo Là một hoạt chất trừ cỏ ít độc, thuộc nhóm độc III LD50 qua miệng > 5000 mg/kg, LD

50 qua da > 2000 mg/kg, ít độc với cá, không độc với ong

Trang 28

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 18

Ở dạng thương phẩm, Metsulfuron methyl, được gia công với tên thương mại

là Ally 20DF Lượng dùng là 20 - 30g thương phẩm/ha

2.2 Nội dung nghiên cứu

1 Xác định phạm vi, mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ móc ở Vườn Quốc gia Cúc Phương và vùng đệm

2 Đánh giá hiệu quả kỹ thuật, kinh tế và tác động về mặt môi trường của một số biện pháp phòng trừ cây Trinh nữ móc gồm: biện pháp thủ công kết hợp trồng rừng; biện pháp phun thuốc Round up 480SC kết hợp trồng rừng; biện pháp thủ công cơ giới kết hợp phun thuốc Ally 20DF và trồng rừng

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp xác định mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ móc

- Khảo sát sự xâm lấn của cây Trinh nữ móc ở tất cả các vùng đệm và vùng lõi của rừng, đánh dấu vị trí xâm nhiễm bằng GPS và thể hiện trên bản đồ của vườn

- Đánh giá mức độ xâm lấn theo diện tích che phủ và thể hiện trên bản đồ của vườn

Điều tra, khảo sát sự phân bố của cây Trinh nữ móc ở 3 tỉnh giáp với Vườn Quốc gia Cúc Phương là: Thanh Hóa, Hòa Bình và Ninh Bình

Phương pháp điều tra dựa trên khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn nông dân Mỗi tỉnh điều tra một huyện, mỗi huyện điều tra 1 xã, mỗi xã điều tra phỏng vấn 50 nông dân ở khu vực giáp với Vườn Quốc gia Cúc Phương Các điểm điều tra

cụ thể gồm xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa; xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

2.3.2 Phương pháp nghiên cứu các biện pháp phòng trừ

Tiến hành thông qua các thí nghiệm phòng trừ diện hẹp trên đồng ruộng với

4 công thức:

CT1: Đối chứng (không phòng trừ)

Trang 29

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 19

CT2: Áp dụng biện pháp thủ công kết hợp trồng rừng: cày xới đất và dọn sạch cỏ trước khi trồng cây Trồng rừng phục hồi bằng 3 loài cây bản địa có giá trị kinh tế (sấu, lát hoa, trám trắng) theo phương pháp trồng hỗn giao ngẫu nhiên

CT3: Áp dụng biện pháp hóa học (sử dụng thuốc hóa học không chọn lọc) + trồng rừng: phun thuốc trừ cỏ không chọn lọc Round up 480SC (hoạt chất là Glyphosate) ở liều lượng 4,5 lít/ha, lượng nước phun là 800 lít/ha để trừ sạch cỏ trước khi trồng rừng, sau 1 tuần tiến hành trồng rừng như công thức 2

CT4: Áp dụng biện pháp thủ công + hóa học (sử dụng thuốc hóa học chọn lọc) + trồng rừng: dùng máy cắt cỏ cắt sạch cây Trinh nữ móc và các loài cỏ khác, sau đó 20 ngày tiến hành phun thuốc Ally 20DF (hoạt chất Metsulfuron methyl) liều lượng 120 gam/ha, lượng nước phun là 400 lít/ha để trừ cỏ non mới mọc Sau phun

7 ngày, tiến hành trồng rừng như công thức 2 và 3

Các công thức được nhắc lại 3 lần, bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCB, diện tích ô thí nghiệm là 500 m2

- Địa điểm thực hiện: các thí nghiệm được tiến hành tại Vườn Quốc gia Cúc Phương; xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình

- Thời gian: từ tháng 8 năm 2013 đến tháng 12 năm 2014

Bảng 2.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm tại Vườn Quốc gia Cúc Phương

Trang 30

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 20

Bảng 2.2 Tọa độ các ô thí nghiệm trong mô hình kiểm soát, diệt trừ cây Trinh

nữ móc tại Vườn Quốc gia Cúc Phương

o15’571’’ E-105o42’223’’ CT1 LN3 N-20

o15’577’’ E-105 o42’275’’

Công thức 2 Biện pháp thủ công + Trồng

rừng

CT2 LN1 N-20

o15’585’’ E-105o42’260’’ CT2 LN2 N-20

o15’556’’ E-105o42’239’’ CT2 LN3 N-20

015’539’’ E-105o42’276’’

Công thức 3 Biện pháp hóa học dùng

thuốc trừ cỏ không chọn lọc hoạt chất

Glyphosate + Trồng rừng

CT3 LN1 N-20

015’579’’ E-105o42’231’’ CT3 LN 2 N-20

o15’556’’ E-105o42’239’’ CT3 LN3 N-20

o15’550’’ E-105o42’285’’

Công thức 4 Biện pháp hóa học dùng

thuốc trừ cỏ chọn lọc hoạt chất Metsulfuron

methyl + Thủ công + Trồng rừng

CT4 LN1 N-20

o15’554’’ E-105o42’251’’ CT4 LN 2 N-20

015’570’’ E-1050 42’251’’ CT4 LN3 N-20

015’562’’ E-1050 42’234’’

Trang 31

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 21

Chỉ tiêu và phương pháp đánh giá

1 Mật độ và diện tích che phủ của cây Trinh nữ móc ở các công thức thí nghiệm trước phòng trừ và sau phòng trừ 7, 15, 30, 60, 90, 120 ngày;

Phương pháp điều tra: mỗi ô công thức điều tra 5 điểm trên hai đường chéo góc, mỗi điểm điều tra cây Trinh nữ móc trên diện tích 1m2

2 Hiệu lực phòng trừ của các công thức thí nghiệm: được hiệu đính theo công thức Henderson – Tilton:

Ta: là mật độ cây Trinh nữ móc sống ở công thức thí nghiệm sau phòng trừ Tb: là mật độ cây Trinh nữ móc sống ở công thức thí nghiệm trước phòng trừ Ca: là mật độ cây Trinh nữ móc sống ở công thức đối chứng sau phòng trừ Cb: là mật độ cây Trinh nữ móc sống ở công thức đối chứng trước phòng trừ

3 Tính chi phí của các công thức phòng trừ

4 Điều tra ghi nhận sự có mặt của các loài côn trùng trong các ô thí nghiệm:

sử dụng vợt điều tra côn trùng để ghi nhận sự xuất hiện các loài côn trùng có mặt trong ô thí nghiệm Vợt mỗi ô 20 lần theo 5 điểm trên hai đường chéo góc Tính tần suất xuất hiện của các loài côn trùng trong mỗi ô thí nghiệm

Thời điểm điều tra: trước phòng trừ và sau phòng trừ (điều tra định kỳ 10 ngày/lần)

5 Đánh giá hiệu quả của các biện pháp kết hợp trồng rừng phục hồi thông qua sự sinh trưởng và phát triển của cây rừng trồng phục hồi

Theo dõi khả năng sinh trưởng của cây lát hoa, cây sấu, cây trám trắng trước

và sau phòng trừ 30, 60, 90, 120 ngày, bao gồm các chỉ tiêu: chiều cao cây vút ngọn Hcm; đường kính gốc cây Dmm; đường kính tán cây Dcm

2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý theo chương trình Microsoff Excel và IRRISTART 5.0 trên máy vi tính

Trang 32

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 22

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Mức độ phân bố và hiện trạng xâm lấn của cây Trinh nữ móc tại một số khu vực điều tra

Tuy vấn nạn về cây Trinh nữ móc đã được nhiều địa phương và nhiều phương tiện thông tin đại chúng cảnh báo nhưng hiện nay phản ứng của các địa phương trong việc điều tra, phát hiện cũng như đưa ra những giải pháp phòng trừ bước đầu còn hết sức chậm trễ và phần lớn vẫn còn trông chờ ở Trung ương Trừ các Vườn quốc gia, hầu hết các địa phương đều không có được một con số thống kê nào về diện tích xâm nhiễm của cây Trinh nữ móc Nguyên nhân có thể do cây Trinh nữ móc thường mọc rải rác và phát tán chủ yếu ở các khu vực đất công như dọc theo các đường quốc lộ, các con sông hay mọc ở các vùng đất hoang vì vậy ít được quan tâm điều tra, phát hiện và thống kê đầy đủ

Để đánh giá mức độ xâm lấn của cây Trinh nữ móc chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát sự phân bố của cây Trinh nữ móc ở khu vực Vườn quốc gia Cúc Phương và khu vực lân cận giáp với Vườn Quốc gia Cúc Phương là 3 tỉnh: Hòa Bình, Thanh Hóa và Ninh Bình

Phương pháp điều tra dựa trên khảo sát thực địa kết hợp với phỏng vấn nông dân Mỗi tỉnh điều tra một huyện, mỗi huyện điều tra 1 xã, mỗi xã điều tra phỏng vấn 50 nông dân ở khu vực giáp với Vườn Quốc gia Cúc Phương Các điểm điều tra

cụ thể gồm: xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình; xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, Thanh Hóa; xã Cúc Phương, huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình Vườn Quốc gia Cúc Phương có diện tích 22.200 ha, nằm ở toạ độ 20o14’ – 20o24’ vĩ độ Bắc và 105o29’ – 105o44’ kinh độ Đông, trên địa phận của 3 tỉnh, 4 huyện và 14 xã (tỉnh Ninh Bình có huyện Nho Quan, (xã Cúc Phương, Xuân Phương và xã Yên Quang); tỉnh Thanh Hóa có huyện Thạch Thành (xã Thạch Lâm, Thành Mỹ, Thành Yên), tỉnh Hòa Bình ở huyện Yên Thủy (xã Lạc Thịnh, Yên Lạc, Yên Trị, Ngọc Lương, Phú Lai) huyện Lạc Sơn (xã Yên Nghiệp, xã Ân Nghĩa và xã Tân Mỹ)

Trang 33

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 23

Trong tổng diện tích 22.200 ha, có 11.350 ha thuộc địa giới tỉnh Ninh Bình, 5.850

ha thuộc địa giới tỉnh Thanh Hóa và 5.000 ha thuộc địa giới tỉnh Hòa Bình

Kết quả điều tra cho thấy:

* Tại Xã Ân Nghĩa, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình

Hòa Bình là một tỉnh miền núi thuộc vùng tây bắc Việt Nam, có vị trí ở phía nam Bắc Bộ, giới hạn ở tọa độ 200°19' - 210°08' vĩ độ Bắc, 104°48' - 105°40' kinh

độ Đông

Huyện Lạc Sơn nằm ở phía Nam tỉnh Hòa Bình, cách thành phố Hòa Bình 56km Nằm trong tọa độ địa lý 20o21' - 20o37' vĩ bắc và 105o21' - 105o kinh đông Lạc Sơn có 1 thị trấn và 28 xã, trong đó có xã Ân Nghĩa, Yên Nghiệp nằm trong

danh giới Vườn Quốc Gia Cúc Phương

Xã Ân Nghĩa có tổng diện tích đất tự nhiên là 2760,92 ha, 1811 hộ với dân

số 8.400 người được chia thành 21 cụm dân cư Cụ thể: xóm Nghĩa Thành, Láo Thành, Xóm Khi, xóm Re, xóm Trán, xóm Ngái 1, Ngái 2, Phố Re, Đội 5, xóm Vổ, xóm Búm 1, Búm 2, Búm 3, Tưa 1, Tưa 2, Tưa 3, Tuôn 1, Tuôn 2, xóm Khanh, xóm Trẹ, xóm Bái (trong đó có Xóm Khanh, Xóm Trẹ, xóm Tưa và xóm Bái nằm

trong danh giới Vườn Quốc Gia Cúc Phương

Chúng tôi đã phỏng vấn 50 người ở 3 thôn : thôn Khanh, thôn Tưa, thôn Trẹ Kết quả phỏng vấn cho thấy có 42 người trả lời là có cây Trinh nữ móc phân bố trên địa bàn Trên địa bàn không có cây Trinh nữ móc mọc thành đám lớn Cây Trinh nữ móc mọc dày đặc ở ven đường Hồ Chí Minh, nay chỉ còn lại các vệt nhỏ chạy theo chiều dài của đường

Trước đây khi mới thi công đường Hồ Chí Minh - đoạn đi qua địa bàn xã, do phải làm nền đường, mở rộng diện tích thi công , san lấp mặt bằng nên cây Trinh nữ móc mọc nhiều (mọc dày đặc ở các vị trí san ủi mặt bằng) Khi kết thúc xây dựng đường các diện tích này nhanh chóng bị bóng cây rừng che phủ nên cây Trinh nữ móc bị mất dần đến nay chỉ còn lại các dải nhỏ (cây mọc dày đặc dọc theo đường

Hồ Chí Minh)

Trang 34

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 24

Trên địa bàn thỉnh thoảng có một số diện tích rừng bị cháy, tại những nơi bị cháy rừng có cây Trinh nữ móc mọc lên và xâm chiếm Nhưng diện tích rừng bị cháy không lớn do vậy cây Trinh nữ móc xâm chiếm với diện tích không đáng kể Ngoài các vị trí trên, cây Trinh nữ móc còn mọc nhiều ở các đường đi và bờ mương Trên địa bàn một số diện tích rừng được người dân khai thác sau đó trồng sắn, sau 1 - 2 năm trồng sắn lại trồng keo Những năm trồng sắn có cây Trinh nữ móc mọc nhưng do cây sắn mọc nhanh, che hết bóng do vậy cây Trinh nữ móc không phát triển được Những diện tích đất đã trồng rừng thì cây Trinh nữ móc cũng không phát triển được do trên địa bàn chủ yếu trồng cây keo Như vậy, cây Trinh nữ móc không ảnh hưởng đến diện tích trồng rừng sản xuất trên địa bàn xã

Rừng tái sinh trên địa bàn xã chủ yếu là rừng bị khai thác nghèo kiệt, hiện đang được khoanh nuôi, phục hồi lại rừng Ở những diện tích rừng này không có cây Trinh nữ móc mọc

Trên địa bàn có một số diện tích đất nương rẫy do người dân phát nương làm rẫy trái pháp luật trước đây Vài năm trở lại đây được chính quyền địa phương, cán

bộ kiểm lâm của Vườn quốc gia Cúc Phương vận động không tiếp tục canh tác nữa, người dân đã bỏ hóa các diện tích này Thời gian bỏ hóa cách đây khoảng 7 - 10 năm Đến nay các diện tích này rừng đã phục hồi, độ che phủ khoảng 0,7 do vậy không có cây Trinh nữ móc

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy cây Trinh nữ móc không ảnh hưởng đến rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh trên địa bàn xã Ân Nghĩa

Chúng tôi đã đi hiện trường, kết quả quan sát tại hiện trường cho thấy các thông tin người dân cung cấp khi được phỏng vấn là đúng với thực tế tại địa phương

Khu vực xóm Khanh hiện nay có nhiều đám Trinh nữ móc phân bố, các đám Trinh nữ móc này có diện tích < 500 m2, cây Trinh nữ móc mọc dầy đặc, cây cao trung bình 1,5 m Cây Trinh nữ móc không ảnh hưởng nhiều đến rừng nhưng ảnh hưởng nhiều đến hoạt động tham quan du lịch của Vườn Quốc gia Cúc Phương do phần diện tích đất rừng có cây Trinh nữ móc phân bố mọc theo trục đường đi tham

Trang 35

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 25

quan du lịch từ trung tâm Vườn quốc gia Cúc Phương sang xóm Khanh Do cây

mọc ven đường, ảnh hưởng đến việc đi lại của du khách nên định kỳ 3 tháng 1 lần,

Vườn Quốc gia Cúc Phương lại tổ chức phát dọn ven đường đi Theo những người

được phỏng vấn ở xóm Khanh, họ thường được Vườn Quốc gia Cúc Phương thuê đi

phát dọn cây Trinh nữ móc ở ven đường thì cây Trinh nữ móc sau khi phát khoảng

3 tháng thì phải phát dọn lại, vì cây Trinh nữ móc mọc tá sinh lại và tiếp tục xâm

lấn đường đi làm ảnh hưởng đến du khách

Hình 3.1 Cây Trinh nữ móc mọc trên đất canh tác nông nghiệp ở xóm Trẹ

Khu vực xóm Trẹ, nơi có dòng sông bưởi chạy qua vì vậy thường có lũ về

vào mùa mưa, các cây cỏ khác bị chết, cây Trinh nữ móc mọc lên nhiều, nhưng

không có những đám lớn do không có diện tích Một số cây mọc vào ruộng nương,

nhưng khi canh tác người dân đã làm cỏ nhiều lần nên cây không phát triển được Những người tham, gia phỏng vấn đều khẳng định cây Trinh nữ móc đã làm

ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của địa phương (chủ yếu là cây Trinh nữ móc xâm

lấn vào diện tích canh tác nông nghiệp) ở ven sông Bưởi, đường đi, người dân phải

tốn nhiều công sức để phát dọn

Trang 36

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 26

Do diện tích đất canh tác cây màu trên địa bàn xã không nhiều, người dân phải tận dụng các diện tích đất nhỏ để canh tác, những diện tích đất này hàng năm thường xuyên bị cây Trinh nữ móc xâm lấn, đây là một khó khăn cho người dân, từ

đó làm giảm hiệu quả của sản xuất nông nghiệp do phải mất nhiều công phá bỏ Những diện tích đất canh tác màu nếu bị bỏ hóa do canh tác lâu năm đất trở nên cằn cỗi, sau vài năm canh tác lại sẽ mất nhiều công để phá dọn cây Trinh nữ móc

Theo kinh nghiệm của một số người dân tham gia phỏng vấn ở xóm Tưa, thì sau khi phát xong, cây Trinh nữ móc mới mọc lên có thể cho trâu, bò, dê ăn cây Trinh nữ móc non Tuy vậy thời gian chăn thả không nhiều do cây Trinh nữ móc phát triển nhanh, chỉ sau 1 tuần cây sẽ có nhiều gai mọc ở thân thì trâu, bò và dê không ăn được nữa

Kết quả phỏng vấn cho thấy 50/50 người được phỏng vấn cho biết họ chỉ sử dụng việc phát dọn, đốt để diệt cây Trinh nữ móc Không có người được phỏng vấn nào dùng các biện pháp như phun thuốc diệt cỏ để diệt cây Trinh nữ móc

Như vậy, trên địa bàn khảo sát có nhiều cây Trinh nữ móc nhưng phân bố dải rác không tập trung thành các đám lớn Cây Trinh nữ móc xâm lấn không ảnh hưởng lớn đến rừng bảo tồn và rừng sản xuất trên địa bàn xã

* Tại Xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa

Thanh Hoá nằm ở cực Bắc Miền Trung, có vị trí ở tọa độ 19°18' đến 20°40'

vĩ độ Bắc, 104°22' đến 106°05' kinh độ Đông Thanh Hóa gồm 1 thành phố, 2 thị xã

và 24 huyện Trong đó có huyện Thạch Thành nằm trong danh giới Vườn Quốc Gia Cúc Phương

Huyện Thạch Thành nằm ở phía Tây Bắc tỉnh Thanh Hoá Huyện Thạch Thành có 2 thị trấn và 26 xã, trong đó có 3 xã nằm trong danh giới Vườn Quốc gia Cúc Phương (xã Thạch Lâm, Thành Yên, Thành Mỹ)

Thạch Lâm là xã vùng cao của huyện Thạch Thành Xã có 7 thôn: Thống nhất, Nội Thành, Đăng, Thượng, Nghéo, Biện và xóm Đồi Cả 7 thôn đều nằm trong danh giới Vườn Quốc gia Cúc Phương

Trang 37

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 27

Chúng tôi đã đưa cho người dân xem mẫu vật của cây Trinh nữ móc Kết quả

là cả 50/50 người đều trả lời là có cây Trinh nữ móc phân bố trên địa bàn Những người ở thôn Đồi và thôn Biện (2 thôn phân bố dọc theo sông Bưởi) cho biết những năm có lũ lớn, nước lũ tràn cả vào khu vực nương, vườn của gia đình thì sau lũ có cây Trinh nữ móc mọc nhiều Lý do, đất ở những khu vực này là đất canh tác nên khi cây Trinh nữ móc mới mọc, đang còn non đã bị người dân phát dọn nương dẫy sau đó trồng cây nông nghiệp vì vậy cây Trinh nữ móc không xâm lấn được

Ngoài những khu vực trên, còn có cây Trinh nữ móc phân bố thành các dải hẹp, chạy đài theo đường Hồ Chí Minh, gần các đường đi, bờ mương

Trên địa bàn xã chủ yếu là rừng nguyên sinh của Vườn Quốc gia Cúc Phương, diện tích rừng này từ trước đến nay đang được bảo tồn nguyên vẹn Trong diện tích rừng nguyên sinh này không có cây Trinh nữ móc phân bố Trước đây người dân trong xã vẫn còn hiện tượng chặt phá rừng làm nương rẫy Nhưng từ năm

2003 trở lại đây do công tác quản lý bảo vệ rừng được thực hiện tốt hơn, người dân được tuyên truyền thâm canh trên diện tích nương rẫy đã có, không phá rừng canh tác quảng canh Những diện tích đã bị chặt phá rừng làm nương rẫy được chính quyền địa phương, cán bộ kiểm lâm Vườn quốc gia Cúc Phương vận động bỏ hóa

để rừng phục hồi Đến nay, trên địa bàn những diện tích rừng này đã tái sinh phục hồi lại rừng, rừng phục hồi đang ở các Trạng thái IIB; IIIA; những diện tích rừng này dù đang phục hồi nhưng có độ tán che đạt từ 0,5 – 0,7 Do cây rừng phục hồi đã che bóng vì vậy không có cây Trinh nữ móc xâm lấn ở những diện tích rừng này

Trên địa bàn có một số hộ trồng cây Keo ở nương hoặc vườn hộ, do người dân trồng trên diện tích nhỏ, chăm sóc kịp thời nên không có hiện tượng cây Trinh

nữ móc xâm lấn rừng trồng

Từ kết quả khảo sát trên cho thấy cây Trinh nữ móc không ảnh hưởng đến rừng trồng, rừng khoanh nuôi tái sinh trên địa bàn xã Thạch Lâm

Trang 38

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 28

Hình 3.2 Cây Trinh nữ móc mọc dọc theo đường đi ở thôn Nghéo

Nhóm chúng tôi cùng với người dân được phỏng vấn đã đi thực tế ở hiện trường Kết quả quan sát tại hiện trường cho thấy các thông tin người dân cung cấp khi phỏng vấn là đúng với thực tế tại địa phương

Ở khu vực thôn Biện có nhiều cây Trinh nữ móc phân bố, nhưng chỉ là những đám nhỏ xen giữa các nương, vườn đang canh tác nông nghiệp của người dân Khu vực gần đường đi, suối, có khoảng trống, cỏ dại không có là nơi thuận tiện cho cây Trinh nữ móc phân bố

Trang 39

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 29

Hình 3.3 Cây Trinh nữ móc mọc trên đất canh tác ở thôn Biện

Ở thôn Đồi, những hộ nằm cạnh sông Bưởi Sau mùa lũ, ở vườn hộ gia đình cây Trinh nữ móc mọc dày đặc, do không canh tác kịp nên cây Trinh nữ móc phát triển rất nhanh, năm sau khi cần canh tác lại người dân mất số công gấp 2 lần để phát dọn so với phát dọn các cây cỏ khác

Cây trinh nữ móc mọc sau 1 năm ở thôn Đồi có chiều cao trung bình từ 1 – 1,5m Vì diện tích đất canh tác ở thôn Đồi không nhiều, đất bỏ hoang hóa ít nên diện tích có cây Trinh nữ móc mọc cũng ít, các diện tích có cây Trinh nữ móc mọc khoảng từ 100 – 1000m2

Trang 40

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 30

Hình 3.4 Cây Trinh nữ móc mọc trong vườn nhà sau 1 năm không canh tác ở thôn Đồi

Có 27/50 người tham gia phỏng vấn đã khẳng định cây Trinh nữ móc có ảnh hưởng đến đời sống, kinh tế của địa phương, chủ yếu là cây Trinh nữ móc xâm lấn vào diện tích canh tác nông nghiệp Người dân phải tốn số công gấp 2 lần để phát dọn những diện tích có cây Trinh nữ móc xâm lấn so với phát dọn các loài cây cỏ thông thường

Cây Trinh nữ móc mọc mới vào mùa xuân, ở những diện tích đất canh tác bị nước lũ sông Bưởi ngập vào tháng 8 – 10 năm trước Nếu canh tác luôn vào vụ xuân năm sau, lúc này cây Trinh nữ mới mọc có chiều cao khoảng 15 – 20cm thì việc xử

lý thực bị rất dễ, chỉ dây cỏ lên phơi nắng là cây Trinh nữ móc con bị chết Nếu để đến vụ xuân năm sau nữa mới canh tác cây Trinh nữ móc đã mọc cao 1- 1,5m lúc

này phải phát, sau đó để khô rồi đốt thì mới canh tác được

Các biện pháp diệt cây Trinh nữ móc người dân đã áp dụng là dẫy cỏ, dẫy vào những ngày nắng, khi cây Trinh nữ móc có chiều cao từ 15 – 20cm Khi cây có

chiều cao > 1 m thì biện pháp tốt nhất là phát để khô rồi đốt

Ngày đăng: 29/05/2016, 13:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Tài nguyên môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường (2003), Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về quản lý và phòng ngừa các loài sinh vật lạ xâm lấn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo Quốc gia về quản lý và phòng ngừa các loài sinh vật lạ xâm lấn
Tác giả: Bộ Tài nguyên môi trường, Cục Bảo vệ Môi trường
Năm: 2003
2. Cục Bảo vệ môi trường, Hội bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam (2008), Kỷ yếu Hội thảo bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỷ yếu Hội thảo bảo tồn đa dạng sinh học dãy Trường Sơn
Tác giả: Cục Bảo vệ môi trường, Hội bảo vệ thiên nhiên và Môi trường Việt Nam
Năm: 2008
3. Nguyễn Nghĩa Thìn, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Bá Thụ (1996), Tính đa dạng thực vật Cúc Phương, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tính đa dạng thực vật Cúc Phương
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn, Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Bá Thụ
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 1996
4. Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004), Đa dạng sinh học: hệ nấm và thực vật VQG Bạch Mã, NXB Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học: hệ nấm và thực vật VQG Bạch Mã
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2004
5. Nguyễn Hồng Sơn (2007), Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) ở Việt Nam, Đề tài độc lập 2005/02 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu các biện pháp tổng hợp phòng trừ cây trinh nữ thân gỗ (Mimosa pigra L.) ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Hồng Sơn
Năm: 2007
6. Phạm Hoàng Hộ (1999), Cây cỏ Việt Nam, NXB Trẻ, TP. Hồ Chí Minh, 1999.3288, Tập I, tr.819 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cây cỏ Việt Nam
Tác giả: Phạm Hoàng Hộ
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1999
7. Phạm Văn Lầm, Nguyễn Hồng Sơn, Nguyễn Văn Đúng, Phạm Hữu Khánh và CTV (2002); Điều tra, đánh giá mức độ tác hại của cây TNTG Mimosa pigra tại các vườn Quốc gia Tràm Chim và Nam Cát Tiên và đề xuất các giải pháp nghiên cứu phòng trừ, Báo cáo khoa học Viện Bảo vệ thực vật 2001 - 2002, 21p Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra, đánh giá mức độ tác hại của cây TNTG Mimosa pigra tại các vườn Quốc gia Tràm Chim và Nam Cát Tiên và đề xuất các giải pháp nghiên cứu phòng trừ
8. Trần Triết (2008), Điều tra và đánh giá tác hại của các loài thực vật ngoại lai tại một số vườn Quốc gia của Việt Nam, 2003 – 2006.II. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra và đánh giá tác hại của các loài thực vật ngoại lai tại một số vườn Quốc gia của Việt Nam, 2003 – 2006
Tác giả: Trần Triết
Năm: 2008
9. Alabi B.S., Ayeni A.O., Agboola A.A., Majek B.A. (2001), “Giant sensitive plant interference in cassava”, Weed Science, 49(2):171-176 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giant sensitive plant interference in cassava”, "Weed Science
Tác giả: Alabi B.S., Ayeni A.O., Agboola A.A., Majek B.A
Năm: 2001
10. Alabi B.S., Ayeni A.O., Agboola A.A. and Majek B.A. (2004), “Manual Control of Thorny Mimosa (Momosa invisa) in Cassava (Manihot esulenta)”, Weed Technology, 18, No. 1, pp: 77-82, doi: 10.164/0890-037X (2004)018[007;MCOTMM] 2.0.CO; 2 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Manual Control of Thorny Mimosa (Momosa invisa) in Cassava (Manihot esulenta)”, "Weed Technology
Tác giả: Alabi B.S., Ayeni A.O., Agboola A.A. and Majek B.A
Năm: 2004
11. Barneby RC. (1991), Sensitivae censitae: a description of the genus Mimosa Linnaeus (Mimosaceae) in the New World, Memoirs of the New York Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sensitivae censitae: a description of the genus Mimosa Linnaeus (Mimosaceae) in the New World
Tác giả: Barneby RC
Năm: 1991
12. Baki B.B., Prakash N. (1994), Studies on the reproductive biology of weeds in Malaysia anther sterility in Mimosa invisa, Wallaceana, No.73:13-16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Studies on the reproductive biology of weeds in Malaysia anther sterility in Mimosa invisa
Tác giả: Baki B.B., Prakash N
Năm: 1994
13. Cullen J.M., Delfosse E.S. (1990), Progress and prospects in biological control of weed, Proceedings of the 9 th Australian Weeds Conference, 452- 476 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Progress and prospects in biological control of weed
Tác giả: Cullen J.M., Delfosse E.S
Năm: 1990
14. Gibson T.A., Waring S.A. (1994), The soil fertility effects of leguminous ley pastures in north-east Thailand I.Effects on the growth of roselle (Hibiscus sabdariffa cv. Altissima) and cassava (Manihot esculenta), Field Crops Research, 39:119-127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The soil fertility effects of leguminous ley pastures in north-east Thailand I.Effects on the growth of roselle (Hibiscus sabdariffa cv. Altissima) and cassava (Manihot esculenta)
Tác giả: Gibson T.A., Waring S.A
Năm: 1994
15. Henty E.E., Pritchard G.H. (1975), Weeds of New Guinea and their Control. Lp, Papua New Guinea: Department of Forests, Division of Botany, Botany Bullentin, No.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Weeds of New Guinea and their Control. "Lp, Papua New Guinea: Department of Forests, Division of Botany
Tác giả: Henty E.E., Pritchard G.H
Năm: 1975
16. Holm L.G., Pancho J.V., Herberger J.P (1977), The World’s Worst Weeds. Distribution and Bilogy. Honolulu, Hawaii, USA: University Press of Hawaii Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World’s Worst Weeds. "Distribution and Bilogy. Honolulu, Hawaii
Tác giả: Holm L.G., Pancho J.V., Herberger J.P
Năm: 1977
17. Kostermans A.J.G.H., Wirjahardja S., Dekker R.J. (1987), The weeds: description, ecology and control. Weeds of rice in Indonesia [edited bay Soerjani, M.; Kostermns, A.J.G.H.; Tjitrosoepomo, G.] Jakarta, Indonesia;Balai Pustaka, 24-565 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The weeds: "description, ecology and control. Weeds of rice in Indonesia [edited bay Soerjani, M.; Kostermns, A.J.G.H.; Tjitrosoepomo, G.] Jakarta
Tác giả: Kostermans A.J.G.H., Wirjahardja S., Dekker R.J
Năm: 1987
18. Kuniata L.S. (1994), Importation and establishment of Heteropsylla spinulosa (Homoptera: Psyllidae) for the biological control of Mimosa invisa in Papua New Guinea, International Journal of Pest Management, 40(1): 64-65 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Importation and establishment of Heteropsylla spinulosa (Homoptera: Psyllidae) for the biological control of Mimosa invisa in Papua New Guinea
Tác giả: Kuniata L.S
Năm: 1994
19. Kuniata L.S., Dori L., Dori F. (1993), Apotential biologycal control agent for Mimosa invisa weed in Papua New Guinea, Harvest (Port Moresy), 15(1): 54-55 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Apotential biologycal control agent for Mimosa invisa weed in Papua New Guinea
Tác giả: Kuniata L.S., Dori L., Dori F
Năm: 1993
32. PIER (2004), Pacific Island Ecosystems at Risk (PIER). (http://www.hear.org/pier/species/.) Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm tại Vườn Quốc gia Cúc Phương - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 2.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm tại Vườn Quốc gia Cúc Phương (Trang 29)
Bảng 2.2. Tọa độ các ô thí nghiệm trong mô hình kiểm soát, diệt trừ cây Trinh - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 2.2. Tọa độ các ô thí nghiệm trong mô hình kiểm soát, diệt trừ cây Trinh (Trang 30)
Hình 3.1.  Cây Trinh nữ móc mọc trên đất canh tác nông nghiệp ở xóm Trẹ - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Hình 3.1. Cây Trinh nữ móc mọc trên đất canh tác nông nghiệp ở xóm Trẹ (Trang 35)
Hình 3.2. Cây Trinh nữ móc mọc dọc theo đường đi ở thôn Nghéo - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Hình 3.2. Cây Trinh nữ móc mọc dọc theo đường đi ở thôn Nghéo (Trang 38)
Hình 3.3. Cây Trinh nữ móc mọc trên đất canh tác ở thôn Biện - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Hình 3.3. Cây Trinh nữ móc mọc trên đất canh tác ở thôn Biện (Trang 39)
Hình 3.4. Cây Trinh nữ móc mọc trong vườn nhà sau 1 năm không canh tác ở thôn Đồi - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Hình 3.4. Cây Trinh nữ móc mọc trong vườn nhà sau 1 năm không canh tác ở thôn Đồi (Trang 40)
Hình 3.5. Cây Trinh nữ móc mọc xen lẫn với các cây cỏ khác - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Hình 3.5. Cây Trinh nữ móc mọc xen lẫn với các cây cỏ khác (Trang 44)
Hình 3.6. Cây Trinh nữ móc leo bán vào cây rừng tái sinh ở Thung Bông - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Hình 3.6. Cây Trinh nữ móc leo bán vào cây rừng tái sinh ở Thung Bông (Trang 45)
Hình 3.7. Khu vực chăn nuôi cũ trong Vườn Quốc gia Cúc Phương - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Hình 3.7. Khu vực chăn nuôi cũ trong Vườn Quốc gia Cúc Phương (Trang 46)
Bảng 3.2. Hiệu quả phòng trừ cây Trinh nữ móc tính theo mật độ cây - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 3.2. Hiệu quả phòng trừ cây Trinh nữ móc tính theo mật độ cây (Trang 48)
Bảng 3.5. Chi phí phòng trừ cây Trinh nữ móc trong mô hình - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 3.5. Chi phí phòng trừ cây Trinh nữ móc trong mô hình (Trang 52)
Bảng 3.6. Thành phần các loài côn trùng và nhện trong mô hình trong mô - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 3.6. Thành phần các loài côn trùng và nhện trong mô hình trong mô (Trang 53)
Bảng 3.8. Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các công thức thí nghiệm - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 3.8. Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các công thức thí nghiệm (Trang 56)
Bảng 3.8. Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các công thức thí nghiệm - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 3.8. Thành phần và mức độ phổ biến của các loài thực vật ở các công thức thí nghiệm (Trang 59)
Bảng 3.11. Đường kính cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss - nghiên cứu một số giải pháp phòng trừ cây trinh nữ móc (mimosa diplotricha c wright) theo hướng tổng hợp tại vườn quốc gia cúc phương, ninh bình
Bảng 3.11. Đường kính cây Lát hoa Chucrasia tabularis A.Fuss (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w