Đi sâu vào nghiên cứu đề tài, chúng ta không chỉ hiểu sâu hơn về đặc điểm từ địa phương Nông Cống mà là khám phá phương ngữ Thanh Hóa nói riêng và phương ngữ Bắc Trung Bộ nói chung cũng
Trang 1Trờng Đại học Vinh
Khoa ngữ văn
====*****====
lê thị dung
đặc điểm từ địa phơng thổ ngữ nông cống
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: ngôn ngữ
Vinh 2010 –
Trang 2Trờng Đại học Vinh
Khoa ngữ văn
====*****====
đặc điểm từ địa phơng thổ ngữ nông cống
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành: ngôn ngữ
Giáo viên hớng dẫn: pgs.ts hoàng trọng canh
Sinh viên thực hiện: lê thị dung
Lớp: 47B1 - Văn
Vinh 2010 –
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Thổ ngữ Nông Cống là thổ ngữ đặc trưng của phương ngữ Thanh Hóa, nó
só sự khác biệt nhất định với phương ngữ Thanh Hóa Do vậy, chúng tôi đã chọn
đề tài: Đặc điểm từ địa phương thổ ngữ Nông Cống Đây là một đề tài mới mẻ
và lý thú Đi sâu vào nghiên cứu đề tài, chúng ta không chỉ hiểu sâu hơn về đặc điểm từ địa phương Nông Cống mà là khám phá phương ngữ Thanh Hóa nói riêng và phương ngữ Bắc Trung Bộ nói chung cũng như quá trình vận động, phát triển của tiếng Việt trong lịch sử.
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy, Cô giáo khoa Ngữ Văn, Đại học Vinh
và nhất là các thầy Cô trong tổ ngôn ngữ đã tận tình giúp đỡ em trong những năm qua.
Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn đến Thầy giáo PGS -TS Hoàng Trọng Canh đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn để em hoàn thành khóa luận của mình Xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè thời gian qua đã luôn bên em, giúp
đỡ động viên Nhân dịp này, em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến tất cả.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn !
Tác giả
Lê Thị Dung
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 3
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 4
4. Đối tượng nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 6
6 Cấu trúc khóa luận .7
8
CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 8
1.1 Phương ngữ một mặt biểu hiện của tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc 8
1.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc 8
1.1.2 Phương ngữ - quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc 9
1.2 Vài nét về phương ngữ nói chung 11
1.2.1 Các phương ngữ trong tiếng Việt và lịch sử nghiên cứu chúng 11
1.2.2.Phương ngữ, thổ ngữ Thanh Hóa 16
1.3 Vài nét về Nông Cống và thổ ngữ Nông Cống 21
1.3.1 Vài nét về địa lý tự nhiên, lịch sử, con người Nông Cống 21
1.3.2 Thổ ngữ Nông Cống 23
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TỪ ĐỊA PHƯƠNG NÔNG CỐNG 26
2.1 Diện mạo của từ địa phương Nông Cống qua các loại từ xét về cấu tạo và từ loại 26
2.2 Đặc điểm ngữ âm của từ địa phương Nông Cống 28
2.2.1 Tương ứng phụ âm đầu 28
2.2.2 Những tương ứng phần vần 32
2.2.3 Những tương ứng thanh điệu 37
Trang 63.2 Những từ có sự tương ứng ngữ âm và có sự biến đổi ít nhiều về nghĩa 44
3.3 Những từ cùng âm xê dịch ít nhiều về nghĩa 48
3.4 Những từ giống âm nhưng khác nghĩa 55
3.5 Những từ khác âm nhưng tương đồng về nghĩa 60
3.6 Những từ khác âm, khác nghĩa 64
3.7 Tiểu kết 68
KẾT LUẬN 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO 73 PHỤ LỤC BẢNG TỪ ĐỊA PHƯƠNG NÔNG CỐNG
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Tiếng Việt là ngôn ngữ thống nhất trong sự đa dạng, tính đa dạng của ngônngữ dân tộc được thể hiện ở sự khác nhau của các vùng phương ngữ, các tầnglớp xã hội Ngoài ra, tính đa dạng của ngôn ngữ còn thể hiện ở phong cách khácnhau, do đó tìm hiểu phương ngữ là góp phần tìm hiểu sự phong phú, đa dạngcủa bức tranh tiếng Việt
Theo cách phân chia của một số nhà nghiên cứu, phương ngữ Thanh Hóa
là tiểu vùng của vùng Phương Ngữ Bắc Trung Bộ (gồm phương ngữ Nghệ Tĩnh
và phương ngữ Bình Trị Thiên) song Phương ngữ Thanh Hóa lại mang các đặcđiểm chuyển tiếp của Phương ngữ Bắc Bộ Và phương ngữ Bắc Trung Bộ
“Thanh Hóa là một tỉnh mang tính trung gian giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ;
Phía bắc giáp 3 tỉnh: Sơn la, Hòa Bình, Ninh Bình; Phía nam và tây nam nằm kề Nghệ An; Phía Tây nối liền sông núi của Tỉnh Hủa Phăn của nước Cộng Hòa Nhân dân Lào; Phía đông mở ra phần giữa của vùng Vịnh Bắc Bộ thuộc biển đông với đường bờ biển dài 102 km và một thềm lục địa khá rộng" [31] Nông
Cống là vùng thuộc phía Nam của tỉnh Thanh Hóa gần giáp với Nghệ An Do vịtrí đặc biệt như vậy, nên thổ ngữ Nông Cống, có thể mang đặc trưng của phươngngữ Thanh Hóa, có thể vừa mang đặc trưng của phương ngữ Nghệ Tĩnh
Đó là vùng thổ ngữ chuyển tiếp từ phương ngữ Bắc Bộ xuống vùngphương ngữ Bắc Trung Bộ
Khóa luận này khảo sát các đơn vị từ vựng tiếng Việt, được thể hiện với
sự khác biệt nhất định về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân ởkhu vực dân cư Nông Cống Như vậy nghiên cứu thổ ngữ Nông Cống là việclàm cần thiết bởi sự khác biệt về ngữ âm và ngữ nghĩa giữa từ địa phương thổngữ Nông Cống với ngôn ngữ toàn dân là khá sõ Mặt khác, theo các nhà nghiêncứu, Phương ngữ Thanh Hóa nói chung và thổ ngữ Nông Cống nói riêng là mộttrong những vùng còn lưu giữ nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Nó được hìnhthành sớm cùng với phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình Trị Thiênmang nhiều yếu tố cổ và cho thấy khá rõ nét về quá trình phát triển và biến đổi
Trang 8của lịch sử tiếng Việt Nên việc khảo sát vốn từ địa phương thuộc địa bàn dân cưnày có thể góp phần thêm cứ liệu cho việc nghiên cứu tiếng Việt.
Nghiên cứu lớp từ địa phương thổ ngữ Nông Cống có thể giúp làm sõnhiều vấn đề Trước hết, qua việc thu thập, miêu tả so sánh, bộ mặt thổ ngữNông Cống sẽ được hiện lên với những đặc điểm ngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩachủ yếu Một mặt khác, nghiên cứu thổ ngữ Nông Cống cho thấy sõ quá trìnhvận động biến đổi của vùng phương ngữ Bắc Bộ xuống vùng Phương ngữ BắcTrung Bộ
Như ta đã biết trong một chừng mực nhất định, việc nghiên cứu ngữ âm,ngữ nghĩa, ngữ pháp dưới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử tiếngViệt nói chung hay các vùng phương ngữ, thổ ngữ nói riêng đều phải dựa trên
cơ sở vốn từ Cho nên, yêu cầu thu thập, khảo sát vốn từ là một yêu cầu tất yếu,nhất là trong xu thể tất yếu của việc hiện đại hóa hiện nay, việc giao lưu tiếp xúcgiữa các vùng, các tầng lớp xã hội ngày càng mở rộng, thường xuyên, phạm vi
sử dụng từ ngữ địa phương ngày càng thu hẹp một cách nhanh chóng, xét về địa
lý dân cư cũng như tầng lớp dân cư sử dụng nó Mặt khác, chúng ta biết, từ địaphương là nơi lưu giữ những yếu tố về văn hóa địa phương, biểu hiện ở ngườinói, ở giao tiếp nếu chúng ta muốn góp phần vào việc làm sõ bản sắc địa phươngthì thực tiễn đang diễn ra như trên đòi hỏi việc thu thập vốn từ địa phương là cấpbách và nó có ý nghĩa hơn bao giờ hết Đề tài nghiên cứu này cũng chính khôngngoài ý nghĩa đó
Xuất phát từ những yêu cầu lý luận như trên, chúng tôi mạnh dạn chọn đềtài này, tiến hành thu thập được vốn từ làm cơ sở để chúng tôi khám phá, tìmhiểu tiếp những vấn đề có liên quan đến các thổ ngữ khác của phương ngữThanh Hóa
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Lâu nay, giới nghiên cứu đều cho rằng vùng phương ngữ Bắc Trung Bộgồm ba tiểu vùng: Phương ngữ Thanh Hóa; phương ngữ Nghệ Tĩnh; phươngngữ Bình Trị Thiên Vị trí của vùng phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữBình Trị Thiên trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ đã được xác định khá rõ
Trang 9trong nhiều công trình của các nhà ngữ học cuối thể kỷ 20, còn phương ngữThanh Hóa được ít nhà nghiên cứu quan tâm Hiện tại, có vài ba công trìnhnghiên cứu về phương ngữ Thanh Hóa nhưng chưa thống nhất Thanh hóa làmột tỉnh mang tính trung gian giữa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Do vị trí đặc biệtnhư vậy, nên phương ngữ Thanh Hóa vừa mang đặc điểm của vùng phương ngữBắc Bộ, lại ít nhiều mang đặc điểm chuyển tiếp từ vùng phương ngữ Bắc Bộxuống vùng Phương ngữ Bắc Trung Bộ.
Có thể thấy, nếu dựa vào tiêu chí ngữ âm ta có thể xếp phương ngữ ThanhHóa vào vùng phương ngữ Bắc Bộ nhưng nếu dựa vào tiêu chí từ vựng – ngữnghĩa thì ta lại có thể xếp phương ngữ Thanh Hóa vào vùng phương ngữ BắcTrung Bộ Theo chúng tôi, nếu xếp Phương ngữ Thanh Hóa vào vùng phươngngữ Bắc Trung Bộ sẽ có những hữu ích sau đây: - Phán ánh được tính chất phứctạp của bản thân phương ngữ Thanh Hóa, - Phản ánh được mối quan hệ giữaphương ngữ Thanh Hóa với phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữ Bình TrịThiên, - Phản ánh được vai trò chuyển tiếp của phương ngữ Thanh Hóa từ vùngphương ngữ Bắc Bộ sang vùng phuơng ngữ Bắc Trung Bộ Trên đường chuyểntiếp ấy, hiện nay phương ngữ Thanh Hóa nghiêng về phương ngữ Bắc Trung Bộhơn Do đó, mặc dù còn nhiều ý kiến nhưng chúng tôi cho rằng Phương ngữThanh Hóa là một tiểu vùng trong vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ
Người quan tâm nhiều nhất đến phương ngữ Thanh Hóa đó là tác giảPhạm Văn Hảo Quan điểm về vị trí của tiếng Thanh Hóa được tác giả thể hiện
trong bài “Về một số đặc trưng tiếng Thanh Hóa, thổ ngữ chuyển tiếp giữa
phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ bắc Trung Bộ” [15, T 55 - 56] Đây là công
trình gợi ý cho chúng tôi nhiều vấn đề về đặc điểm từ địa phương Thanh Hóanói chung và thổ ngữ Nông Cống nói riêng Ở công trình này, Ông cùng chungquan điểm với các tác giả Hoàng Thị Châu, Trương Văn Sinh, Nguyễn ThànhThân về việc xem phương ngữ Thanh Hóa là phương ngữ chuyển tiếp giữaphương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Bắc Trung Bộ
Nông Cống là địa phương có đặc điểm phát âm cũng như dùng từ địaphương khá đặc biệt trong phương ngữ Thanh Hóa cũng như trong khu vực Bắc
Trang 10Trung Bộ Sự đặc biệt của từ địa phương Nông Cống phần nào cũng được thểhiện trong các công trình Nghiên cứu về phương ngữ Thanh Hóa của Phạm VănHảo, Hoàng Thị Châu (1989), nhưng thực sự chưa đầy đủ Thiết nghĩ, có thể bắtđầu bằng một việc làm cụ thể hơn, đầy đủ toàn diện hơn, đó là trên cơ sở nghiêncứu chung về từ địa phương thổ ngữ Nông Cống để tìm thấy một trong các đặcđiểm riêng góp phần và làm rõ hơn đặc điểm từ vựng phương ngữ Thanh Hóa.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1.Mục đích
Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phương Nông Cống là nhằm góp phầncùng với các tác giả đi trước xác định một bức tranh toàn cảnh về vốn từ địaphương Thanh Hóa nói chung và thổ ngữ Nông Cống nói riêng, làm cho diệnmạo bức tranh chung về từ ngữ của phương ngữ Bắc Trung Bộ hiện lên sõ néthơn
Trên cơ sở vốn từ ngữ đã thu thập được, qua so sánh đối chiếu trên nhữngtiểu loại cụ thể, xét trên mặt âm thanh và ý nghĩa khóa luận sẽ cố gắng rút ranhững đặc trưng, những dị biệt chủ yếu về mặt ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa củalớp từ địa phương thổ ngữ Nông Cống so với từ toàn dân và các phương ngữkhác Qua đó, cho thấy mối quan hệ giữa ngôn ngữ, văn hóa, xã hội, lịch sử
Khóa luận hướng đến mục đích cụ thể là:
- Về mặt ngôn ngữ, khóa luận sẽ cung cấp được ít nhiều từ ngữ địa phươngThanh Hóa, trước hết là những đơn vị về từ vựng cho những ai nghiên cứu cácvấn đề có liên quan trong tiếng Việt nói chung và phương ngữ, thổ ngữ nóiriêng
- Qua so sánh đối chiếu những kiểu loại cụ thể, xét về âm thanh và ý nghĩakhóa luận sẽ cố gắng rút ra những đặc trưng những nét dị biệt chủ yếu về mặtngữ âm, từ vựng – ngữ nghĩa của lớp từ địa phương thổ ngữ Nông Cống so vớilớp từ trong ngôn ngữ toàn dân hoặc với từ địa phương khác
Khóa luận cũng đi vào khảo sát một số lớp từ cụ thể xét về phương diệnphạm vi phản ánh thực tại qua tên gọi và cách gọi tên, qua sự tri nhận và cáchthể hiện thế giới không chỉ làm rõ những khác biệt về ngữ nghĩa của từ địa
Trang 11phương thổ ngữ Nông Cống so với ngôn ngữ toàn dân mà đằng sau nó chúng tôi
cố gắng rút ra những đặc trưng văn hóa truyền thống của con người vùng NôngCống
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu.
Xuất phát từ mục đích của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra là khảosát, thu thập vốn từ địa phương thổ ngữ Nông Cống qua so sánh đối chiếu với từđịa phương Thanh Hóa, từ địa phương Nghệ Tĩnh, và vốn từ toàn dân rút ranhững đặc điểm của từ địa phương Nông Cống về cấu tạo và ngữ nghĩa
4 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu thổ ngữ Nông Cống cũng như các công trình nghiên cứuphương ngữ học khác của tiếng Việt có thể miêu tả nó trên tất cả bình diện Dựavào vốn từ đã thu thập được chúng tôi cố gắng chỉ ra các đặc điểm về ngữ âm và
từ vựng - ngữ nghĩa của từ địa phương Từ đó khái quát lên đặc điểm của từ địaphương thổ ngữ Nông Cống so với phương ngữ Thanh Hóa, phương ngữ NghệTĩnh, và với từ toàn dân Vì vậy, đối tượng khảo sát của khóa luận là toàn bộ từđịa phương thổ ngữ Nông Cống, bao gồm các đơn vị từ được dùng quen thuộckhắp địa bàn dân cư vùng Nống Cống, có sự khác biệt hoàn toàn hay ở một mặtnào đó về ngữ âm, ngữ nghĩa, hay ngữ pháp so với từ toàn dân
Như vậy, lớp từ địa phương được thu thập và miêu tả ở đây xét về bìnhdiện khu vực dân cư thể hiện của tiếng Việt Đó là sự thể hiện các đơn vị từvựng tiếng Việt ở địa bàn Nông Cống với các dạng biến đổi khác nhau của nó.Trong số này có những từ lưu hành ở các vùng khác của phương ngữ Thanh Hóa
và ở phương ngữ Nghệ Tĩnh, vùng phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ BắcTrung Bộ Điều đó không có gì lạ và bất ngờ vì nó chứng tỏ thổ ngữ Nông Cốngmang đặc trưng của cùng phương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ mà ảnh hưởngtrực tiếp là phương ngữ Thanh Hóa và phương ngữ Nghệ Tĩnh Thực tế đó giảithích bằng nhiều nguyên nhân, ngôn ngữ và lịch sử xã hội Có thể do sự biến đổikhông đều của các đơn vị ngôn ngữ và mức độ lan rộng, hẹp khác nhau của cáclàn sóng ngôn ngữ, do điều kiện di cư và tiếp xúc ngôn ngữ thay đổi nên mộtbiến thể nào đó của ngôn ngữ có thể chỉ có mặt trong một vùng, một số biến thể
Trang 12khác có thể có mặt trong nhiều vùng phương ngữ, thổ ngữ khác nhau Một mặtcũng có thể cắt nghĩa được địa bàn dân cư Nống Cống là một vùng của ThanhHoá thuộc vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ nên sẽ có những biến đổi của tiếngViệt để tạo nên diện mạo chung của vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ nhưngđồng thời cũng chứng minh sự chuyển tiếp ngôn ngữ từ vùng phương ngữ Bắc
Bộ xuống vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ
Như vậy, đối chiếu so sánh với từ toàn dân, ta có thể hình dung, đối tượngkhảo sát của khóa luận sẽ có những vấn đề sau:
- Những từ ngữ riêng biệt trong thổ ngữ Nông Cống không có quan hệtương ứng ngữ âm, ngữ nghĩa với từ ngữ trong ngôn ngữ toàn dân
- Lớp các từ có sự tương ứng ngữ âm hoặc ngữ nghĩa với từ toàn dân,phương ngữ Thanh Hóa, phương ngữ Nghệ Tĩnh nhưng có sự khác biệt ít nhiều
về một trong hai mặt đó
5 Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ đối tượng và mục đích nghiên cứu của khóa luận, từ ngữ địaphương Nông Cống sẽ được khảo sát như một hệ thống, hướng đến việc tìm rađặc điểm của hệ thống, hướng đến hoạt động của lớp từ vựng – ngữ nghĩa của từđịa phương Nông Cống Từ địa phương Nông Cống được xét trong mối quan hệ,trong hệ thống từ vựng ngữ nghĩa, trong thực tế nói năng của người địa phương,trong quan hệ phản ánh thực tại và tư duy Vì thế, chúng tôi chú ý đến nhiềuphương pháp khác nhau
5.1 Phương pháp điều tra, điền dã, thống kê
Để có được vốn từ trước hết phải sử dụng phương pháp điều tra dã, thống
kê Đây là phương pháp tiên quyết Từ chỗ lập ra các bảng từ, qua điền dã đốichiều để thu thập các từ địa phương Nông Cống thỏa mãn các điều kiện như đãxác định ở khái niệm từ địa phương Trên cở sở đó, tập hợp toàn bộ từ địaphương Nông Cống đã thu thập sẽ được sắp xếp theo một trật tự nhất định
Mặt khác, để so sánh đối chiếu từ địa phương chúng tôi còn dựa trên cácquyển từ điển: Nguyễn Nhã Bản, (chủ biên), Hoàng Trọng Canh, Phan MậuCảnh, Nguyễn Hoài Nguyên, 1999, từ điển từ địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn
Trang 13Hóa Thông Tin, Hà Nội, 459 trang Hoàng Phê (chủ biên) 1999, từ điển tiếngViệt, Nxb Đà Nẵng - Trung tâm từ điển học, Hà Nội - Đà Nẵng
5.2 Phương pháp so sánh đối chiếu
Mục đích của khóa luận là thu thập vốn từ, trên cơ sở đó miêu tả đặctrưng ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa của từ địa phương Nông Cống, so sánh vớiphương ngữ Thanh Hóa, Phương ngữ Nghệ Tĩnh, Với ngôn ngữ toàn dân Nênphương pháp so sánh đối chiếu được xem là cốt lõi quán xuyến, là phương phápchủ yếu để thực hiện khóa luận này Ngoài yêu cầu phải thường xuyên so sánhđối chiếu với ngôn ngữ toàn dân như một yêu cầu tất yếu của việc nghiên cứuphương ngữ học, chúng tôi so sánh với phương ngữ Thanh Hóa Qua [25] và sosánh với phương ngữ Nghệ Tĩnh Qua: [3] Như chúng ta đã biết, Nghiên cứuvốn từ không phải chỉ là nghiên cứu rời rạc bao giờ cũng đặt chúng trong mốiquan hệ nhất định Do đó, toàn bộ vốn từ địa phương Nông Cống sau khi thu thập
sẽ được phân loại, nghiên cứu theo những hệ thống, những giá trị nhất định, đó sẽ
là những lớp từ vựng được sắp xếp theo những quan hệ nhiều chiều với các từtrong cùng hệ thống thổ ngữ, với các từ trong ngôn ngữ toàn dân, với các từ trongcùng vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ
5.3 Phương pháp phân tích từ vựng – ngữ nghĩa
Khi so sánh các từ địa phương Nông Cống với các từ toàn dân, với phương ngữ Nghệ Tĩnh, phương ngữ Thanh Hóa, chúng tôi dùng phuơng pháp phân tích từ vựng – ngữ nghĩa Trong đó, phương pháp phân tích thành tố nghĩa là thường xuyên được sử dụng nhất, đặc biệt là khi khảo sát từng nhóm từng nhóm từ cụ thể
6 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung khóa luận được triển khaitrong các chương sau
Chương 1 Một số vấn đề chung có liên quan đến đề tài
Chuơng 2 Đặc điểm ngữ âm từ địa phương thổ ngữ Nông Cống
Chương 3 Đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phương thổ ngữ Nông CốngCuối cùng là tài liệu tham khảo, bảng từ địa phương Nông Cống
Trang 14Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
30 -35], quá trình hình thành ngôn ngữ một dân tộc đưa đến hình thành một dântộc thống nhất Mỗi ngôn ngữ dân tộc đều có sự thống nhất nội bộ Tuy nhiên sựthống nhất của ngôn ngữ dân tộc không có nghĩa là sự đồng nhất của tất cả cácbiểu hiện ngôn ngữ trong thực tế Tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc đượcthừa nhận như một thuộc tính bản chất, đồng thời tình trạng tồn tại trong lòng nó
"ngôn ngữ dân tộc" những phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội là sự thựchiển nhiên mà chúng ta hoàn toàn có thể quan sát được trong tiếng Việt cũngnhư các ngôn ngữ khác
Nhìn một cách khái quát, nói tới quan hệ ngôn ngữ và phương ngữ là nóitới sự "Thống nhất trong cái đa dạng và đa dạng trên một căn bản thống nhất”
1.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc
Nội dung khái niệm: "Ngôn ngữ dân tộc" thường biểu hiện là "Ngôn ngữchung của tất cả một dân tộc, đó là một phạm trù lịch sử- xã hội biểu thị ngônngữ là phương tiện giao tiếp của một dân tộc và được thể hiện dưới 2 hình thức:Nói và viết, ngôn ngữ dân tộc hình thành cùng với sự hình thành dân tộc, đồngthời cũng là tiền đề và điều kiện hình thành, tồn tại của một dân tộc Mặt khác,ngôn ngữ dân tộc là kết quả và sản phẩm của quá trình hình thành, tồn tại củadân tộc" [30, Trang 156] Tuy có sự phân biệt về mặt khái niệm nhưng nội dung
của thuật ngữ ngôn ngữ toàn dân gần gũi với nội dung thuật ngữ ngôn ngữ dân
tộc bởi “Ngôn ngữ dân tộc là hình thức thống nhất của ngôn ngữ toàn dân” [29trang 367] và ngôn ngữ toàn dân: "Là ngôn ngữ được sử dụng rộng rãi trong
Trang 15giao tiếp hàng ngày, không bị hạn chế ở phong cách và phạm vi sử dụng; Ngônngữ được mọi người trong một quốc gia biết và chấp nhận sử dụng" [30, Trang171] Vì vậy, ở những phương diện nhất định, sự đối lập giữa phương ngữ vớingôn ngữ dân tộc cũng hàm nghĩa như là đối lập ngôn ngữ toàn dân với phươngngữ.
Như vậy, con đường hình thành của một ngôn ngữ dân tộc gắn chặt với sựphát triển của lịch sử xã hội Ngôn ngữ dân tộc là sản phẩm của một thời đại lịch
sử nhất định – thời đại hình thành thống nhất dân tộc Quá trình hình thànhthống nhất dân tộc cũng là quá trình hình thành, thống nhất ngôn ngữ dân tộc.Song không phải khi ngôn ngữ dân tộc đã được hình thành thì không cònphương ngữ Trái lại, trong lòng ngôn ngữ dân tộc, ở mặt biểu hiện trên cácvùng địa lý dân cư khác nhau, trong các tầng lớp xã hội khác nhau phương ngữvẫn còn tồn tại
1.1.2 Phương ngữ - con đường hình thành và biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ
Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc diễn ra như trên là sự phản ánhquy luật phân tán và thống nhất của ngôn ngữ Quy luật chung đó của ngôn ngữgắn liền với lịch sử và phát triển của xã hội mà phương ngữ là một biểu tượngkhông thể tách rời của quá trình hình thành và thống nhất của ngôn ngữ dân tộcnên phương ngữ ra đời cũng gắn liền với điều kiện lịch sử, xã hội của từng quốcgia trong thời kỳ cụ thể
Phương ngữ được hình thành trên nhiều nguyên nhân khác nhau, đó có thể
do nguyên nhân kinh tế, địa lý, lịch sử xã hội hay là từ cấu tạo, tác động bêntrong của ngôn ngữ Sự biến đổi thể hiện ở phương ngữ ở trên các phương diệnngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Ngoài ra, phương ngữ còn được hình thành từ sự tácđộng của quan hệ xã hội Căn cứ vào nguyên nhân hình thành phương ngữ,người ta chia ra làm hai loại phương ngữ đó là phương ngữ địa lý, phương ngữ
xã hội Chính hai dạng biến thể này đã làm nên sự phong phú đa dạng của ngônngữ dân tộc
Từ những điều đã trình bày ở trên, ta có thể rút ra một vài đặc điểm khái
Trang 16quát về phương ngữ như sau:
Nếu như ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ chung củatoàn dân tộc, là phương tiện phổ biến được dùng rộng rãi, hàng ngày trong toànquốc, không bị hạn chế trong phạm vi sử dụng thì:
- Phuơng ngữ là một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình pháttriển, biến đổi của quy luật ngôn ngữ
- Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn diễn ra trên hai mặt, cấu trúc vàchức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ, sự pháttriển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từ vựng - ngữnghĩa, ngữ pháp Phương ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi đó Chính
vì vậy, phương ngữ khác ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào đó, ở mức
độ nào đó, nhưng trên căn bản, cái mã chung - hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từvựng, âm ngữ giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân là giống nhau
- Phương ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân bị hạn chế
về phạm vi sử dụng Nói cách khác, giới hạn sử dụng của phương ngữ là trongnhững vùng địa lý dân cư và tầng lớp xã hội nhất định
- Phương ngữ là một hiện tượng lịch sử, nó ra đời như một sự tất yếu do sựphát triển, biến đổi của ngôn ngữ cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, do đóvới xu thế thống nhất ngày càng cao, phạm vi sử dụng của ngôn ngữ ngày càng
bị thu hẹp về mặt lý thuyết, nó sẽ mất đi trong tương lai của một ngôn ngữ dântộc thống nhất và được chuẩn hóa cao
Tóm lại, nói tới phương ngữ là nói tới một hiện tượng phức tạp của ngônngữ không chỉ về hệ thống cấu trúc, cấu tạo cũng như phương diện thể hiện màbản thân nó còn là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ trong và ngoài ngôn ngữ.Cho nên, có thể hiểu phương ngữ là biểu hiện sinh động của ngôn ngữ dân tộc.Theo Hoàng Thị Châu khi nhấn mạnh đến những nét khác biệt trong biểu hiệncủa ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể “Phương ngữ là một thuật ngữngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụthể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay một phuơngngữ khác” [ 8, trang 24] Hoặc đồng thời chú ý thêm đến tính hệ thống và các
Trang 17phương diện thể hiện của nó như quan niệm của nhóm tác giả Đái Xuân Ninh,Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang, Vương Toàn: “Phương ngữ là một hình thứcngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt được sử dụng ởmột phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu
và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ(cho toàn dân tộc) các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phươngngôn) khác nhau trước hết ở cách phát âm, sau đó là ở vốn từ vựng
1.2 Vài nét về phương ngữ tiếng Việt nói chung và phương ngữ Thanh Hóa nói riêng
1.2.1 Các phương ngữ trong tiếng Việt và lịch sử nghiên cứu của chúng
Nhìn một cách sơ lược và chung nhất thực tế nghiên cứu phuơng ngữ tiếngViệt ta thấy, những phuơng hướng chủ yếu, những bình diện chính, các nội dung
cơ bản, mức độ và phạm vi nghiên cứu các phương ngữ cụ thể đã được đẩymạnh và thu được nhiều thành tựu Song cũng còn nhiều công việc chưa tiếnhành hoặc đi sâu Ta thấy thực tế đó qua những nét khái quát sau:
Trước tiên ta có thể kể đến các công trình có đề cập đến phương ngữ tiếngViệt của các tác giả nước ngoài như công trình: “Nghiên cứu lịch sử ngữ âmtiếng Việt” (1912) Maspero; “ngữ âm tiếng Việt”(phương ngữ miền thượngtrung kỳ); “ ngữ âm tiếng Việt” (phương ngữ miền hạ trung kỳ) của L.Cadiere;
“Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt” (1984) của M.V Gordina và I.S.Bưxtrov…Nhìnchung, các công trình trên các tác giả đều nghiên cứu tiếng Việt ở mặt biểu hiệncủa nó, chủ yếu về phương diện ngữ âm nên ít nhiều đều mang tính chất phươngngữ Tuy nhiên, phần lớn các công trình đó đều đi vào miêu tả ngữ âm của mộtvùng nhất định nhưng lại không đặt nó trong sự đối lập với ngôn ngữ toàn dânhoặc với các phương ngữ khác, vì thế nó mang tính chất của một công trìnhngôn ngữ nhiều hơn là một nghiên cứu phuơng ngữ học, do đó các đặc trưng củaphuơng ngữ không được thể hiện rõ nét Một xu hướng nghiên cứu khác củaphần lớn các nhà Việt ngữ học là dù đi vào những vấn đề cụ thể hay nghiên cứunhững đặc trưng khái quát, hệ thống của phương ngữ tiếng Việt, Họ đều chú ýmiêu tả các đặc trưng phương ngữ trong so sánh đối lập, nên các công trình của
Trang 18họ mang tính chất một công trình nghiên cứu phương ngữ thực sự Có thể kể đếncông trình của các tác giả như: Hoàng Thị Châu với hai công trình: [7], [8];Hồng Dân với công trình [10]; Nguyễn Đức Dương, Trần Thị Ngọc Lang vớicông trình: [13], Phạm Văn Hảo [15], Cao Xuân Hạo [16], Nguyễn Quang Hồngvới [17]; Trương Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân [24], Nguyễn Nhã Bản,Nguyễn Hoài Nguyên [4], Võ Xuân Trang [ 28].
Ngày nay, phương ngữ trong tiếng Việt đã thực sự là đối tượng của nghànhphương ngữ học Ở các nước Đại học trong Nước, phương ngữ học đều đượcđưa vào chuơng trình giảng dạy cho sinh viên khoa Ngữ Văn Nhiều giáo trình
về phương ngữ học được biên soạn công phu như: “Tiếng Việt trên các miền đất
nước” [8]; Giáo trình về từ vựng ngữ nghĩa học của Đỗ Hữu Châu: “Từ Vựng – ngữ nghĩa tiếng Việt” [6] Đều có những phân nghiên cứu về phương ngữ tiếng
Việt
Điểm qua các công trình nghiên cứu đã nêu trên, ở một phương diện kháccũng cho ta thấy ta thấy phuơng ngữ học tiếng Việt đã được nghiên cứu cả vềmặt cấu trúc và chức năng và càng về sâu các chức năng của phương ngữ càngđược chú ý nhiều hơn Hai bình diện chính được đẩy mạnh nghiên cứu trongphương ngữ tiếng Việt là ngữ âm và từ vựng – ngữ nghĩa Các công trình nghiêncứu về ngữ âm và từ vựng – ngữ nghĩa của phương ngữ, trước sau phần nhiềuđều hướng đến nghiên cứu mục đích nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, quan hệ giữaphương ngữ và ngôn ngữ và nghiên cứu phương ngữ phục vụ cho công việcchuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Bình diện được tập trungnhiều nhất và có nhiều kết quả nhất là nghiên cứu ngữ âm của các phương ngữ.Điều này cũng phản ánh một thực tế là sự khác biệt diễn ra chủ yếu và dễ thấynhất giữa phương ngữ với ngôn ngữ toàn dân cũng như với các phuơng ngữkhác là về mặt ngữ âm Bình diện từ vựng ngữ nghĩa chưa được nghiên cứunhiều Ngoài công trình nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Lang [19] cho đến naycác công trình chỉ đi vào một vài khác biệt về ngữ nghĩa trên một vài nhóm từ cụthể Vả lại, phần nhiều các nghiên cứu về từ vựng – ngữ nghĩa lâu nay mối chỉtập trung hướng tới một mục đích là chuẩn hóa ngôn ngữ Hướng nghiên cứu
Trang 19ngữ nghĩa phương ngữ gắn với văn hóa địa phương, tuy rất lý thú và thiết thựcnhưng cũng mới được chú ý gần đây, thực tế này đã phản ánh ngữ nghĩa của từvựng, nhất là đối với lớp từ địa phương thường là phức tạp và khó thấy, đòi hỏiphải có thời gian tìm hiểu công phu, nhất là đối với những người sống ngoài địaphương đó, nếu không trực tiếp sử dụng, không hiểu phong tục tập quán, thóiquen ngôn ngữ giao tiếp của người địa phương thì rất khó, nếu không muốn nói
là không thể thực hiện được
Một phương diện khác về nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt, tuy đượcnhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm từ rất sớm, nhưng cho đếnnay vẫn chưa thực sự thống nhất cao về việc xác định các phương ngữ TiếngViệt có bao nhiêu phuơng ngữ? ranh giới của các phương ngữ đến đâu? Về mặt
lý luận và thực tế Xác định ranh giới các phuơng ngữ, thổ ngữ trong ng«n ngữ
là vấn đề phức tạp, không riêng đối với tiếng Việt Việt Nam là một quốc gia đadân tộc, đa ngôn ngữ, về vấn đề phương ngữ các d©n tộc thiểu số anh em vềnhiều liên quan mật thiết với tiếng Việt về cội nguồn và tiếp xúc Cho nên,nghiên cứu các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng liên quan và soi sáng nhiều vấn
đề không riêng đối với tiếng Việt nói chung mà cón đối với các phương ngữtrong tiếng Việt nói riêng, trong đó có vấn đề hình thành các phương ngữ
Tuy quy luật của sự hình thành ngôn ngữ và các phuơng ngữ nói chung, khinhìn vào một ngôn ngữ nào đó về biểu hiện, người ta đều có thể nói rằng ngônngữ đó có bao nhiêu phương ngữ và trong từng phương ngữ có các thổ ngữ khácnhau Song đi vào các ngôn ngữ cụ thể, bức tranh ngôn ngữ và phương ngữtrong lịch sử luôn thay đổi và ở mỗi dân tộc có sự phức tạp riêng Sự thay đổicủa bức tranh ngôn ngữ vừa mang dấu ấn không gian vừa mang dấu ấn thời giancủa lịch sử, địa lý, dân cư và phát triển, biến đổi của bản thân ngôn ngữ Mộtngôn ngữ cũng như một phương ngữ nào đó hiện nay, có thể trước đây chúng đãbiến đổi nhiều không gian rộng, hẹp khác nhau, cho nên bức tranh ngôn ngữhiện nay không phải là kết quả của một sự phát triển tuần tự và trùng khiết bứctranh ngôn ngữ quá khứ trong từng vùng cũng như trong toàn quốc.Vì vậy, khitiếp cận các ngôn ngữ và phương ngữ cần phải “Chấp nhận một thực tế là không
Trang 20gian ngôn ngữ hiện nay chỉ là không gian bề mặt, trong đó chứa nhiều tầngkhông gian khác nhau, phán một một lịch sử phát triển đa chiều của chúng” Và
“không loại trừ khả năng pha trộn ngôn ngữ” Đi vào ngôn ngữ nhất là việc xácđịnh ranh giới giữa chúng trong tiếng Việt, chúng ta có thể thấy tình khôngthuần nhất trong không gian thuần Việt" [ 11].Thực tế đó đã làm cho các nhàngôn ngữ học nói chung, phương ngữ học nói riêng, khi xác định ranh giới giữacác phương ngữ trong tiếng Việt đã không có tiếng nói chung
Vấn đề ranh giới hay còn gọi là phân vùng phương ngữ trong tiếng Việt làmột trong những nội dung được nhiều nhà nghiên cứu về tiếng Việt và phươngngữ tiếng Việt quan tâm Nhưng đây cũng là chỗ thể hiện sõ nhất sự khôngthống nhất về đường ranh giới của các phương ngữ Sở dĩ không có được tiếngnói chung về vấn đề này là do nhiều nguyên nhân Trước hết bản thân đối tượng– ranh giới của các phương ngữ không phải là ranh giới tự nhiên Ranh giới củacác phương ngữ là phản ánh phạm vi biến đổi của biến thể ngôn ngữ Nhưng sựbiến đổi của ngôn ngữ lại không chỉ sảy ra đối với một hiện tượng Vì vậy, mỗibiến dổi của ngôn ngữ có thể tạo nên một đường biên Tùy theo mức độ lan tỏacủa mỗi biến thể ngôn ngữ mà tạo nên các đường biên giới có phạm vi rộng hẹpkhác nhau Hơn nữa, ngôn ngữ lại tiếp tục phát triển, biến đổi vì thế các đườngranh giới có thể chồng xếp, đan chéo lên nhau Do đó sẽ không bao giờ có đượcđường ranh giới phương ngữ lý tưởng – mà nơi đó có điểm hợp lưu giữa cácdòng chảy, là nơi gặp nhau của các con sóng ngôn ngữ, tạo nên sự trùng khiếtcác đường ranh giới Bản thân đối tượng phức tạp như vậy nên ranh giới phươngngữ mà các nhà nghiên cứu đưa ra bao giờ cũng là ước định, tương đối tùy theocách nhìn của mỗi tác giả, nhấn mạnh đặc điểm này thì đường ranh giới sẽ nhưthế này, nhấn mạnh đặc điểm kia thì đường ranh giới sẽ như thế kia Vì thếkhông ai ngạc nhiên khi thấy có nhà nghiên cứu chia tiếng Việt thành 5 phươngngữ, nhiều người khác cho rằng tiếng Việt có 4 phương ngữ, phần đông các tácgiả chia tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ, nhưng có nhà nghiên cứu lại chorằng tiếng Việt có 2 vùng phương ngữ, thậm chí, có người cho rằng, do trạngthái chuyển tiếp của ngôn ngữ tiếng Việt từ Bắc vào Nam là liên tục nên không
Trang 21thể chia tiếng Việt thành các vùng phương ngữ Các xu hướng, quan niệm và kếtquả khác nhau về phân chia phương ngữ tiếng Việt như trên đã được Hoàng Thị
Châu, Tiếng Việt trên các miền đất nước” [8] và một số tác giả khác tổng kết, vì
thể ở đây chúng tôi xin không nhắc lại Từ kết quả phân loại của các nhà nghiêncứu, chúng tôi có hai điểm liên quan đến khóa luận này là:
Xu hướng thống nhất hiện nay cũng như ý kiến của phần đông các tác giảđều cho rằng tiếng Việt có 3 vùng phương ngữ lớn Đó là phương ngữ Bắc,Phương ngữ Trung và phương ngữ Nam Cả 3 vùng phương ngữ này, cho đếnnay vẫn chưa có vùng nào được khảo sát triệt để
Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu tiếng Việt lâu nay, ta thấy vấn
đề phương ngữ tiếng Việt ngày càng được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quantâm và thu được nhiều kết quả đáng kể trên một vài phương diện quan trọng,đóng góp được nhiều vấn đề về lý luận và tư liệu cho lịch sử tiếng Việt cũngnhư về mặt văn hóa, xã hội, chuẩn hóa ngôn ngữ Song những kết quả thu được,chưa kể nói đã đáp ứng được đòi hỏi của nghành phương ngữ học nói riêng, Việtngữ học nói chung, do đó cần phải đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện hơn nữa.Như đã nói, phần lớn các nghiên cứu về phương ngữ tiếng Việt chỉ mới tậptrung vào phương diện ngữ âm, bình diện từ vựng – ngữ nghĩa chưa được quantâm đúng mức Hướng nghiên cứu của phần nhiều các công trình phương ngữhiện nay là để phân vùng ngôn ngữ và phục vụ cho việc chuẩn hóa ngôn ngữ.Tuy đã có một vài công trình đi vào nghiên cứu từng vùng cụ thể, rất hữu íchnhưng cho tới nay cũng chưa có một vùng phương ngữ nào được nghiên cứutoàn diện trên các bình diện khác nhau (trừ phương ngữ Nghệ Tĩnh) Như vậy,muốn dựng nên diện mạo, đặc điểm của vùng phương ngữ một cách đầy đủ, cụthể, cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu theo thuộc tính mở, nghiên cứusâu hơn ngữ nghĩa trên cơ sở một vốn từ đã siêu tầm, miêu tả so sánh giữa nóvới ngôn ngữ toàn dân và các phương ngữ khác trong quan hệ với văn hóa, xãhội…
Trang 221.2.2 Phương ngữ, thổ ngữ Thanh Hoá
1.2.2.1 Phương ngữ Thanh Hóa
Khi chúng tôi nêu ý kiến của phần đông các nhà nghiên cứu cho rằng, tiếngViệt có 3 vùng phương ngữ lớn như trên thì cũng có nghĩa là việc định vịphương ngữ Thanh Hóa là không tách rời vị trí của phương ngữ Trung (BắcTrung Bộ) Hay nói cách khác, phương ngữ Thanh Hóa nằm trong vùng phươngngữ Trung (Từ Thanh Hóa đến Bình Trị Thiên) Như vậy, khóa luận này xétvùng phương ngữ Thanh Hóa như vậy để làm cơ sở cho việc nghiên cứu thổ ngữNông Cống Bởi thổ ngữ Nông Cống là thuộc phương ngữ Thanh Hóa Do vậy,tìm hiểu về phương ngữ Thanh Hóa về việc làm cần thiết để nghiên cứu thổ ngữNông Cống Như vậy, cách gọi này nhằm thể hiện tính chất phân loại, phânvùng phương ngữ nằm trong vùng phương ngữ tiếng Việt
Mặt khác, quan niệm về phương ngữ như trên cũng phù hợp với cách nhìnkhoa học của một số nhà nghiên cứu phương ngữ lâu nay Để nghiên cứu đượcđối tượng được một cách cụ thể, triệt để, sâu sắc các nhà nghiên cứu thường chiatách đối tượng thành các phạm vi, phương diện khảo sát hẹp hơn, cụ thể hơn.Nhờ những nghiên cứu cụ thể như vậy, trên cơ sở đó người ta mới đưa ra nhữngnhận xét vừa toàn diện, vừa cụ thể về đối tượng trên phạm vi rộng hơn Dĩnhiên, để chia tách được đối tượng nghiên cứu như thế phải dựa trên các tiêu chínhất định Hoàng Thị Châu trong công trình [8] sau khi nêu lên ý kiến của mình
về chia tiếng Việt thành 3 vùng phương ngữ lớn, tác giả đã nêu lên nhận xét kháiquát về từng vùng phương ngữ; bước tiếp Bà đã chia các vùng phương ngữ nàythành những phương ngữ nhỏ hơn, căn cứ trên những đặc điểm ngữ âm riêngcủa từng vùng Cụ thể, đối với phương ngữ Trung tác giả viết: "Phương ngữTrung gồm 3 phương ngữ nhỏ hơn, khác nhau về thanh điệu"
- Phương ngữ Thanh Hóa lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã…
- Phương ngữ Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã và thanh nặng
Cả 5 thanh tạo nên một hệ thống thanh điệu khác với phương ngữ Bắc, có
độ trầm lớn hơn
- Phương ngữ Bình Trị Thiên không phân biệt thanh hỏi và thanh ngã
Trang 23Nhưng về điệu tính, các thanh giống nhau với thanh điệu Nghệ Tĩnh.
Võ Xuân Trang cũng băn khoăn khi đứng trước một phương ngữ có địa bànrộng như vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ, những biến thể có phạm vi trong mộtvài tỉnh trong phương ngữ đó thì gọi là gì khi mà những biến thể trên địa bànhẹp hơn thường được các nhà nghiên cứu quen gọi là thổ ngữ? Ông đề xuấtdùng khái niệm vùng phương ngữ, để chỉ phương ngữ Bắc, phương ngữ Trung,phương ngữ Nam, mỗi vùng phương ngữ như vậy, bao gồm nhiều phương ngữkhác nhau Với quan niệm đó theo Ông "Về mặt địa lý" phương ngữ là biến thểđịa phương có địa bàn phân bố trên một phạm vi rộng gồm một hoặc nhiều tỉnh.Các phương ngữ có đặc điểm giống nhau và được phân bố gần nhau để tạo nên
một vùng phương ngữ Giống như Hoàng Thị Châu, Ông cho rằng, "Vùng
phương ngữ Trung có 3 phương ngữ là phương ngữ Thanh Hóa, phương ngữ Nghệ Tĩnh, phương ngữ Bình Trị thiên” [28, trang 21] Chúng tôi cũng cho rằng
cách dùng phân biệt vùng phương ngữ và phương ngữ tiếng Việt như Võ XuânTrang là phù hợp với thực tế phương ngữ tiếng Việt và có lợi cho công tác điềutra, nghiên cứu sâu phương ngữ
Như chúng ta đã biết, lâu nay vị trí của phương ngữ Thanh Hoá trongbảng phân loại của các nhà nghiên cứu thường rất khác nhau Phương ngữThanh Hóa, về ngữ âm và từ vựng có những đặc điểm mang đặc trưng của vùngphương ngữ Trung nhưng cũng có những đặc điểm giống vùng phương ngữ Bắc.Nếu xét trên những đặc trưng cơ bản, phương ngữ Thanh Hóa không có đặcđiểm nào giống hoàn toàn với phương ngữ Trung, hoặc với vùng phương ngữBắc Chẳng hạn, có thể lấy hai đặc trưng cơ bản về ngữ âm để phân biệt phươngngữ Trung và phương ngữ Bắc là có hay không có 3 âm quặt lưỡi: s, ţ , r và hệthống thanh điệu 5 thanh hay 6 thanh làm căn cứ thì lấy cả hai đặc điểm đó đềuthể hiện không triệt để trong phương ngữ Thanh Hóa Có thể thấy sõ và đầy đủhơn về tính chất trung gian của phương ngữ này trong các nghiên cứu của PhạmVăn Hảo, Trương Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân và Hoàng Thị Châu Hơn nữa,điều này cũng dễ hiểu về như chúng ta đã biết, vị trí địa lý của tỉnh Thanh Hóanằm giữa miền Bắc và miền Trung, Thanh Hóa có một quá trình hình thành và
Trang 24phát triển khá phức tạp nhất là về dân cư Trải qua bao thăng trầm, ngày nayThanh Hóa và một vùng đang trên đà phát triển mạnh, dân cư đông đúc Nhữngđặc điểm đó góp phần làm cho từ địa phương Thanh Hóa phong phú và đa dạng.Thanh Hóa như một điểm đóng lại của vùng đồng bằng Bắc Bộ và là nơibắt đầu của dãi đất miền Trung Thanh Hóa và nơi cuối cùng và cũng chính lànơi bắt đầu chịu sự tác động của hai vùng văn hóa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ;Thanh Hóa là nơi bắt đầu của vùng ngôn ngữ Việt Mường ở Bắc Trung Bộ, chịu
sự ảnh hưởng của ngôn ngữ Việt từ Bắc Bộ, khi tiếng Việt ở Bắc Bộ đã táchkhỏi tiếng Mường thành ngôn ngữ riêng
Qua nhiều tài liệu nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, Thanh Hóa là mộtphương ngữ tồn tại hiện thực cùng với phương ngữ Nghệ Tĩnh và phương ngữBình Trị Thiên Phương ngữ Thanh Hóa vừa có vị trí quan trọng đối với vùngphương ngữ Trung vừa mang sắc thái riêng, là đối tượng cần được quan tâmnghiên cứu sâu hơn
Nằm trong vùng phương ngữ Trung – Một vùng phương ngữ có vị trí quantrọng đối với việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Cho nên, trực tiếp hay gián tiếp,phương diện này hay phương diện khác, cho đến nay cũng đã được một số côngtrình quan tâm tới phương ngữ Thanh Hóa Như vậy, có thể nói, đến nay nằmtrong tình hình chung của nghiên cứu phương ngữ tiếng Việt, phương ngữThanh Hóa chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ, có hệ thống Phương diệnngữ âm được chú ý nhiều hơn, nhưng cũng chỉ mới là những nét lớn hết sức sơlược, mặt từ vựng ngữ nghĩa còn mờ nhạt và thấp thoáng, nếu có được đề cậpđến, thường chú ý đến tư liệu hệ thống, còn ít đi vào sử dụng Thực tế ấy đã đặt
ra yêu cầu cần đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện và sâu hơn nữa phương ngữThanh Hóa trước hết là phương diện từ địa phương ở các thổ ngữ
Như ta thấy, từ xa xưa trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống, từ làđơn vị cơ bản, trung tâm của ngôn ngữ, như là công cụ của hoạt động lời nói, làphần cấu trúc, cấu tạo lời nói Đi vào ngôn ngữ học hiện đại, hình vị cũng đượcxem như là một công cụ cơ bản bởi chức năng cấu tạo của nó, nhưng nhìn rộng
ra, xét đơn vị ngôn ngữ trên nhiều mặt cấu trúc, cấu tạo, về chức năng, trong
Trang 25hoạt động ngôn ngữ, hoạt động giao tiếp, tư duy của con người, trong hoạt độngvới phản ánh thực tại … Thì từ vẫn là đơn vị cơ bản nhất.
Là đơn vị tồn tại một cách hiển nhiên với những đặc trưng cơ bản, chiếm vịtrí trung tâm của ngôn ngữ như vậy, cho nên có thể nói, khi nghiên cứu ngônngữ dù ở cấp độ nào, mặt âm thanh cũng như ý nghĩa, theo hướng cấu trúc haychức năng thì ít nhiều đến quan tâm đến từ Tư liệu về từ càng đặc biệt quantrọng trong so sánh lịch sử Để xác định nguồn gốc, quan hệ họ hàng giữa cácngôn ngữ, người ta thường tiến hành so sánh từ vựng trên tư liệu của bảng từ đãthu thập, từ đó tìm ra quy luật biến đổi ngữ âm của ngôn ngữ ấy Việc so sánhthổ ngữ trong một ngôn ngữ cũng có thể nói không đi ra ngoài nguyên tắc cótính phương pháp đó Cho nên, việc thu thập được một số vốn từ làm cơ sở choviệc nghiên cứu thổ ngữ là rất cấn thiết và là bước đầu tiên Nghiên cứu từ địaphương lâu nay ở bình diện ngữ âm của từ đã được chú ý như thế là cần thiếtnhưng chúng ta cần chú ý cả phần ngữ nghĩa của từ và phải đẩy mạnh nghiêncứu hơn nữa Phải thấy rằng, từ địa phương không chỉ là biến thể ngữ âm mà cóthể là biến đổi từ vựng – ngữ nghĩa, mà biểu hiện tập trung của nó là quan hệ đanghĩa của từ, đó như là sự thể hiện giữa mặt biến đổi và mặt không biến đổi,giữa thổ ngữ và ngôn ngữ toàn dân
Từ những mục đích và nhiệm vụ của đề tài nên chúng tôi sẽ khái quát cácđặc điểm cơ bản của phương ngữ Thanh Hóa để giúp cho chúng ta có một cáinhìn toàn cảnh về phương ngữ Thanh Hóa góp phần vào việc định hướng chonghiên cứu thổ ngữ Nông Cống
Có thể khái quát một số đặc điểm ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa của phươngngữ Thanh Hóa như sau:
+ Ngữ âm: Hệ thống thanh điệu của phương ngữ Thanh Hóa chỉ sử dụnghầu như có 5 thanh, khác với hệ thống thanh điệu của tiếng Việt toàn dân cả về
số lượng lẫn chất lượng Vì trong cách phát âm của người Thanh Hóa thì thanhhỏi và thanh ngã lại nhập lại một Các thanh còn lại giống thanh điệu tiếng Việtvăn hóa Đặc điểm nổi bật của thanh điệu Thanh Hóa là thanh điệu bỗng Hệthống âm đầu phương ngữ Thanh Hóa có 22 đơn vị, so với phương ngữ Nghệ
Trang 26Tĩnh, phương ngữ Thanh Hóa không có âm đầu p đa số các vùng Thanh Hóa códãy quặt lưỡi ţ, Ş, ź và giữ lại không nhiều những âm tắc vốn chưa hoàn thànhchương trình xát hóa triệt để như k/g ( cấy < gái ); b./v ( bản < vải ); đ./d (đao <dao )…Về vần cái, phương ngữ Thanh Hóa có một số vần không thấy ở một sốphương ngữ khác như " i " (chậy chị)
+ Các đặc điểm từ vựng:
Phương ngữ Thanh Hóa có sự phong phú đa dạng, phức tạp so với từ toàndân, có nhiều điểm tương đồng với phương ngữ Nghệ Tĩnh, tuy nhiên nó khôngcòn phong phú đa dạng như phương ngữ Nghệ Tĩnh Về việc lưu giữ các yếu tố
cổ của phương ngữ Thanh Hóa không lớn bằng phương ngữ Nghệ Tĩnh
Giữa phương ngữ Thanh Hóa và phương ngữ Nghệ Tĩnh có sự đồnghướng đó là sự thống nhất trong cùng phương ngữ chung
Phương ngữ Thanh Hóa có hiện tượng chuyển đổi về nghĩa ở một bộ phận
từ vựng
1.2.2.2 Khái niệm thổ ngữ và các thổ ngữ của phương ngữ Thanh Hóa
Sự đa dạng của tiếng Việt được thể hiện ở hai dạng biến thể phương ngữ vàthổ ngữ Song sự phân biệt cách hiểu về hai khái niệm này là chưa thống nhấttrong quan niệm của các nhà ngôn ngữ học Họ cho rằng không thể có một ranhgiới đất đai giữa tỉnh, huyện làm ranh giới cho sự phân định này Tác giả VươngToàn xem phương ngữ lãnh thổ là biến thể địa lý khu vực của nó, bên trongphương ngữ có nhiều thổ ngữ, thổ ngữ là biến thể địa lý hẹp hơn như tỉnh,huyện, làng Tuy nhiên, theo ý kiến của Phạm Văn Hảo thì những biến thể củamột vùng địa lý tương đương một tỉnh ông gọi là thổ ngữ " thổ ngữ Thanh Hóa"
Ý kiến của Hoàng Thị Châu khi bàn về vấn đề này, Bà cho rằng đây là một kháiniệm khó xác định, theo tác giả thuật ngữ phương ngữ dùng để chỉ tiếng địaphương của một vùng lớn như tỉnh, thành phố, bao gồm nhiều thổ ngữ ở cácthôn xã Như vậy, phương ngữ là biến thể địa lý của một vùng lãnh thổ như tỉnh,còn thổ ngữ là dùng để chỉ phạm vi hẹp hơn như huyện, xã Tức là một phươngngữ có thể bao gồm nhiều thổ ngữ khác nhau Trong khóa luận này, chúng tôi sẽ
sử dụng khái niệm thổ ngữ để chỉ biến thể địa lý của một vùng lãnh thổ ở phạm
Trang 27vi huyện, xã có những biến đổi ngữ âm, từ vựng ngữ nghĩa so với ngôn ngữ toàndân Đây sẽ là cơ sở để nghiên cứu đề tài này.
Phương ngữ Thanh Hóa không phải là đối tượng thuần nhất mà bao gồmnhiều thổ ngữ khác nhau Tiếng nói mỗi thổ ngữ nó được thể hiện riêng biệt trênnền chung của tiếng Việt văn hóa Các thổ ngữ Thanh Hóa có những nét riêng
về thanh điệu, âm đầu, phần vần tạo nên bức tranh có nhiều màu sắc khác nhau
Vì Thanh Hóa có một quá trình lịch sử hình thành và phát triển khá phức tạp.Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ngày nay Thanh Hóa là vùng khá phát triển,dân cư đông đúc, cho nên đã tạo ra vốn từ địa phương hết sức đa dạng và phongphú Có nhiều thổ ngữ rất đặc biệt như: Tĩnh Gia, Quảng Xương, Nông Cống,Thọ Xuân, Hoằng Hóa … Là những vùng có đặc trưng từ địa phương tuơng đốikhác so với ngôn ngữ toàn dân
1.3 Vài nét về Nông Cống và Thổ ngữ Nông Cống
1.3.1 Vài nét về địa lý tự nhiên, lịch sử và con người Nông Cống
Nông Cống là một huyện nằm ở phía nam Thanh Hoá, từ trung tâm Huyện
đi theo quốc lộ 45 là 28 km Vị trí trên bản đồ: Điểm cực bắc: 105,7 độ kinhđông, 21,48 vĩ độ bắc, Điểm cực nam: 105,68 khinh độ đông, 21,54 vĩ độ bắcĐiểm cực tây: 106,63 kinh độ đông, 21,70 vĩ độ bắc Điểm cực đông: 105,68kinh độ đông, 21,70 vĩ độ bắc
Huyện Nông Cống có chiều dài bắc nam là 28,5 km,có chiều rộng đông tâynơi hẹp nhất là 7,2km (ở xã Công Bình), nơi rộng nhất là 17,1 km (từ xã TrườngGiang sang phía tây xã Vạn Thắng)
Trước tháng 12 năm 1964, Huyện Nông Cống có 44 xã, bắc giáp HuyệnThọ Xuân, tây nam giáp huyện Như Thanh, Nam và đông nam giáp Huyện TĩnhGia, đông giáp Huyện Tĩnh Gia và Huyện Quảng Xương, tây bắc giáp HuyệnĐông Sơn Như vậy, Nông Cống nằm trong phạm vi vòng ôm của các HuyệnThọ Xuân, Thường Xuân, Như Xuân, Tĩnh Gia, Quảng Xương và Đông Sơn
Ngày 16 tháng 12 năm 1964 Nông Cống (Cũ) Cắt 22 xã phía bắc (Cùngvới một số xã của Thọ Xuân để lập Huyện Triệu Sơn) nhập thêm 7 xã của TĩnhGia tách ra nhập với 22 xã còn lại lập ra Huyện Nông Cống mới
Trang 28Địa giới hiện nay của Huyện Nông Cống Là: Phía bắc giáp Huyện ĐôngSơn, Huyện Triệu Sơn Phía tây giáp Huyện Như Thanh Phía nam giáp HuyệnNhư Thanh và Huyện Tĩnh Gia Phía đông giáp Huyện Tĩnh Gia và HuyệnQuảng Xương.
Ranh giới tự nhiên của Huyện Nông Cống với các Huyện xung quanh lànúi là sông Có dãy núi Nưa, sông Vị Hoàng, sông Thị Long, dãy núi TháiThượng
Diện Tích: Diện tích tự nhiên của toàn Huyện là 28,710 ha, trong đó: Đấtnông nghiệp: 14,340 ha Đất lâm nghiệp: 777 ha Đất chuyên dùng: 3,657 ha.Đất ở: 1,004 ha Đất chưa sử dụng: 8,932 ha
Địa hình: Nông Cống là một vùng đồng bằng – bán sơn địa ở rìa của đồngbằng châu thổ Thanh Hóa về phía nam Khái niệm chung của dân xứ Thanh vềvùng Nông Cống là "Ngàn Nưa" Vùng đồng bằng châu thổ là một vùng khárộng có diện tích 21,210 ha chiếm 74 % diện tích của cả Huyện
Khí hậu: Nông Cống là vùng nhiệt đới gió mùa, lại nằm trong khu vực
"Nam Thanh bắc Nghệ", nên thời tiết thay đổi thất thường, khắc nghiệt
Sông ngòi: Sông ngòi Nông Cống thuộc hệ thông sông Yên - một trong bốn
hệ thống sông ngòi lớn của Thanh Hóa, gồm bốn nhánh: Sông Hoàng, Sông ThịLong, Sông Nhơn, Sông Chuối
Nông Cống là vùng rất giàu về tài nguyên khoàng sản, lâm sản, một vùngđất tiềm năng về tài nguyên Nông nghiệp, danh lam thắng cảnh, từ thời Phápthuộc năm 1923 đã bắt đầu khai thác mỏ crômmít sa khoáng, có các mỏ quặng
sa khoáng crôm mít, mỏ quặng ba zan, mỏ quặng manhêxít, nhiều loại đá quý…
Về đặc điểm dân cư của Nông Cống, đây là vùng có dân số đông 182,289người năm 1999 gồm các dân tộc: Kinh 162,324 người, Mường 88 người, Thái
90 người, Thổ 24 người, Hoa 21 người, Nùng 26 người, Hơ Mông 2 người,Chăm 1 người, Êđê 1 người Trong đó có 4,5 % là giáo dân cùng chung sống.Dân cư Nông Cống có một lịch sử phát triển lâu đời, theo phát hiện củanghành khảo cổ học, dân tộc học, nhân chứng học Trong những năm gần đây,
đã phát hiện trên mảnh đất Nông Cống có nhiều di chỉ và hiện vật của người xưa
Trang 29như một số công cụ đồ đá dưới chân núi Hoàng Sơn và dọc bờ Sông Hoàng đãtìm được di chỉ và hiện vật.
Cộng đồng dân cư Nông Cống buổi đầu đến Ngàn Nưa đã bám vào cácsườn núi đất Triệu Sơn –Nông Cống ngày nay để sản xuất nông nghiệp Họ sinhsống nhờ vào vùng đất núi Nưa, theo thời gian dân cư Nông Cống tăng dần vàsinh sống ổn định
Trong suốt chiều dài lịch sử đất nước, từ thời đầu Công Nguyên, xã hộiphong kiến đến thời Pháp thuộc và cho đến nay Đây là vùng có điều kiện sinhsống ổn định do vậy dân cư ngày một tăng một cách tự nhiên với nhiều dòng họlớn Cho đến nay Nông Cống vẫn dồi dào về đất nông nghiệp vẫn có thể thunhận các cư dân mới về định cư theo sự lãnh đạo của Đảng và Nhà Nước
Nông Cống là vùng có bề dày về truyền thống lịch sử, có nhiều vị anh hùng
đã ghi vào sử sách Tiêu biểu trong thời kỳ đấu tranh giữ vững nền độc lập dântộc có Anh hùng Lê Mã Lương Có thể nói rằng, quá trình đấu tranh dựng nước
và giữ nước nhân dân Nông Cống đã hun đúc nên những giá trị truyền thống caoquý có giá trị xuyên suốt mọi thời đại
Hiện nay, nhân dân Nông Cống đang ngày càng phát triển kinh tế, văn hóa,
xã hội, giáo dục để xứng đáng là một vùng có vị trí quan trọng trong tỉnhThanh Hóa cũng như cả Nước
1.3.2 Thổ ngữ Nông Cống
Nông Cống là một huyện thuộc Thanh Hóa và đây là thổ ngữ đặc trưngnhất của tiếng Thanh Hóa Theo phạm văn Hảo: "Tiếng Thanh Hóa là thổ ngữchuyển tiếp giữa phương ngữ Bắc Bộ và phương ngữ Bắc Bộ" Như vậy, theoPhạm Văn Hảo thì phương ngữ Thanh Hóa là phương ngữ trung gian giữaphương ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
Nông Cống là vùng đất đồng bằng chiêm trũng nằm ở phía Nam của TỉnhThanh Hóa, thổ ngữ Nông Cống là thổ ngữ mang đặc trưng của phương ngữThanh Hóa nhưng cũng có những nét gần hơn với phương ngữ Nghệ Tĩnh Dovậy, có thể nói cụ thể hơn, chi tiết hơn về việc chuyển tiếp từ phương ngữ Bắc
Bộ xuống Phương ngữ Bắc Trung Bộ
Trang 30Như vậy, thổ ngữ Nông Cống là một trong những thổ ngữ tiêu biểu của
phương ngữ Thanh Hóa Đây chính là đề tài mà chúng tôi tìm hiểu "Đặc điểm
từ địa phương Thổ ngữ Nống Cống" Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sẽ đi
vào khảo, nhận xét bước đầu về vốn từ địa phương thổ ngữ Nông Cống
Trước khi đi vào nghiên cứu cụ thể, chúng tôi tiến hành thu thập từ địaphương bằng nhiều hình thức, nhiều cách khác nhau Để thu thập được từ ngữđịa phương, chúng tôi đưa vào những tiêu chí nhất định Những tiêu chí được rút
ra từ các định nghĩa từ địa phương của một số nhà nghiên cứu
Trước hết, có thể thấy, các nhà ngôn ngữ học khi định nghĩa từ địa phương
đều thống nhất ở hai điểm Thứ nhất: Từ địa phương là những từ bị hạn chế về
phạm vi địa lý sử dụng Thứ hai: Từ địa phương có khác biệt nhất định về ngữ
âm, từ vựng hay ngữ pháp với ngôn ngữ toàn dân Tuy vậy, mỗi tác giả có thể
nhấn mạnh một đặc điểm nào đó trong định nghĩa của mình, có thể là ngữ âm,ngữ nghĩa hoặc phạm vi sử dụng Tuy nhiên, trong khóa luận này, chúng tôi sẽdựa trên quan điểm của PGS - TS Nguyễn Nhã Bản Trên những nét chính yếutrong quan niệm của các nhà nghiên cứu, PGS – TS Nguyễn Nhã Bản đã rút ramột cách hiểu chung nhất và phổ biến nhất về từ địa phương để làm cở sở khảo
sát và nghiên cứu từ địa phương như sau: "Từ địa phương là vốn từ cư trú ở một
địa phương cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc địa phương khác
về ngữ âm và ngữ nghĩa".
Với cách hiểu như vậy, khảo sát ngôn ngữ toàn dân ở bình diện khu vựcdân cư thể hiện, chúng tôi thu thập những đơn vị từ xuất hiện ở địa bàn dân cưNông Cống thỏa mãn điều kiện: 1- Có sự khác biệt ít nhiều (hoặc hoàn toàn) vớingôn ngữ toàn dân, (về ngữ âm và ý nghĩa); 2- Những từ ngữ có sự khác biệt đóđược người Nông Cống quen dùng một cách tự nhiên Dựa trên những căn cứnhư vậy, chúng tôi tập hợp các từ lại và gọi một cách ước định là vốn từ địaphương thổ ngữ Nông Cống
Từ chỗ xác định các đơn vị cơ bản của từ địa phương thổ ngữ Nông Cốngchúng tôi khẳng định: Vốn từ địa phương Nông Cống là một hệ thống bao gồmnhiều từ và ngữ địa phương Nông Cống có quan hệ với nhau
Trang 31Ở trên chúng tôi trình bày những nét cơ bản nhất về quy luật biến đổi và lantruyền ngôn ngữ, những nhân tố hình thành phương ngữ, thổ ngữ Để có cái nhìn
cụ thể về không gian và thời gian lịch sử của tiếng Việt nói chung vùng ThanhHóa nói riêng và cụ thể hơn là vùng thổ ngữ Nông Cống, cho phép khẳng địnhtính tồn tại hiện thực của thổ ngữ Nông Cống trong phương ngữ Thanh Hóa vàvùng phương ngữ Bắc Trung Bộ Đó là cơ sở cho việc xác định đối tượng vàphương pháp nghiên cứu khoa học phù hợp, có thể đi vào vấn đề cụ thể ởchương 2 và chương 3
Trang 32Chương 2 ĐẶC ĐIỂM NGỮ ÂM TỪ ĐỊA PHƯƠNG THỔ NGỮ NÔNG CỐNG
Như mục đích đã xác định, chuơng này sẽ nêu lên những khác biệt về ngữ
âm giữa từ địa phương thổ ngữ Nông Cống so với phương ngữ Thanh Hóa,phương ngữ Nghệ Tĩnh và ngôn ngữ toàn dân nhằm tái hiện nên bức tranh vềngữ âm của từ địa phương thổ ngữ Nông Cống
Phương ngữ Thanh Hóa như chúng tôi đã trình bày ở chương 1 là phươngngữ chuyển tiếp giữa vùng phương ngữ Bắc Bộ và vùng phương ngữ Bắc Trung
Bộ Thổ ngữ Nông Cống là vùng đặc trưng của phương ngữ Thanh Hóa, mangbản chất, đặc trưng của Phương ngữ này Các từ địa phương thổ ngữ Nông Cốngvừa có gắn bó trong nội bộ với vốn từ địa phương Thanh Hóa cũng như có nhiềunét gần với phương ngữ Nghệ Tĩnh và từ toàn dân Tuy nhiên, từ địa phươngNông Cống vẫn có những đặc trưng riêng biệt, độc lập Ở đây khóa luận đi vàonhận xét đặc điểm vốn từ địa phương thổ ngữ Nông Cống về mặt ngữ âm thôngqua so sánh đối chiếu với từ địa phương Thanh Hóa, từ địa phương Nghệ Tĩnh
và từ toàn dân
Như chúng ta đã biết, khi nghiên cứu từ vựng chúng ta cần chú ý đến diệnmạo của từ và nghĩa của từ Nhưng vì là vốn từ địa phương không phải là một hệthống tách biệt khỏi hệ thống vốn từ toàn dân, cũng như vốn từ trong vùng thổngữ Khi nghiên cứu vốn từ địa phương không thể nghiên cứu một cách riêng lẻ
và biệt lập
Qua so sánh đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân, từ địa phương Thanh Hóa, từđịa phương nghệ Tĩnh Vấn đề đặc điểm ngữ âm vốn từ địa phương thổ ngữNông Cống sẽ được khảo sát miêu tả như một đối tượng trung tâm Trước hết tahãy nhìn diện mạo bên ngoài có tính chất định lượng về vốn từ thổ ngữ NôngCống so với vốn từ địa phương Thanh Hóa và vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh
2.1 Diện mạo vốn từ địa phương thổ ngữ Nông Cống qua các loại từ xét về cấu tạo và từ loại
Từ các nguồn khảo cứu tư liệu, bước đầu chúng tôi đã thu thập được vốn từđịa phương Nông Cống là 4200 đơn vị, gồm các loại từ khác nhau Nếu phân
Trang 33chia vốn từ này làm hai loại cấu tạo thì ta thấy số lượng từ đa tiết nhiều hơn từđơn tiết Cụ thể: Từ đa tiết có số lượng là 3093 chiếm 73,65 %; Từ đơn tiết có
1107 từ chiếm 26,35% Nếu phân chia theo vốn từ này theo cấu tạo thì thấy sốlượng từ đa tiết nhiều hơn từ đơn tiết là 2,79 lần Trong từ đa tiết thì số lượng từghép 5.1 lần từ láy Trong khi đó, theo [25] từ địa phương Thanh Hóa có tổng số
là 4800 đơn vị từ, trong đó, từ đa tiết là 3829 từ chiếm 80 % từ đơn tiết là 971 từchiếm 20 % Nếu chúng ta so sánh với từ địa phương Nghệ Tĩnh theo HoàngTrọng Canh [5] thì từ đa tiết cũng nhiều hơn từ đơn tiết, cụ thể là: Tổng số vốn
từ địa phương Nghệ Tĩnh là 6188 từ, trong đó từ đa tiết là 3412 từ chiếm 55,1
%, từ đơn tiết là 2776 từ chiếm 44,9 % Số lượng và tỉ lệ từ địa phương NôngCống được thể hiện qua bảng 2.1
Bảng 2.1 Các loại từ địa phương thổ ngữ Nông Cống (phân theo cấu tạo)
Các loại từ Từ đơn tiết Từ ghépTừ đa tiếtTừ láy Tổng số
Bảng 2.2 Các loại từ địa phương Thanh Hóa (phân theo cấu tạo)
Như vậy, sự chênh lệnh của từ địa phương Nghệ Tĩnh giữa từ đơn tiết và
từ đa tiết là không lớn như từ địa phương Thanh Hóa Còn từ địa phương thổngữ Nông Cống có sự chênh lệch giữa từ đơn tiết và từ đa tiết không lớn bằng từ
Trang 34địa phương Thanh Hóa, (từ đơn tiết tỉ lệ cao hơn (26,36% / 20%) từ đa tiết).Điều này có thể nói từ địa phương thổ ngữ Nông Cống có hướng tương đồnggần hơn với từ địa phương Nghệ Tĩnh, thể hiện cụ thể hơn sự chuyển tiếp củavùng phương ngữ Bắc Bộ xuống vùng phương ngữ Bắc Trung Bộ.
Về từ loại, trong thổ ngữ Nông Cống có sự đa dạng về từ loại, có hầu hếttất cả các từ loại của tiếng Việt Giữa các từ loại có sự chênh lệch về số lượng.Chiếm số lượng nhiều nhất là danh từ 1670 chiếm 39,75 %, tiếp sau đó là động
từ 32,9 %, sau đó là tính từ 1007 từ 24,00 %, trong thổ ngữ Nông Cống có đầy
đủ các từ loại của tiếng Việt Số lượng và tỉ lệ các loại từ được thể hiện đượchiện qua bảng 2.4 :
Bảng 2.4 Các loại từ địa phương thổ ngữ Nông Cống (phân theo từ loại)
Từ đó, có thể thấy sự tương đồng với tiếng Việt toàn dân, danh từ vẫn là từloại chiếm số lượng nhiều hơn cả, sau đó đến động từ Đây là hai từ loại phổbiến và phức tạp của tiếng Việt
2.2 Đặc điểm ngữ âm của từ địa phương thổ ngữ Nông Cống
Phần này chúng tôi không miêu tả ngữ âm, xem nó như là đối tượng khảosát độc lập, không trình bày đặc trưng ngữ âm nêu lên sự có mặt hoặc không cómặt của các đặc trưng được miêu tả Cũng không miêu tả ngữ âm thổ ngữ NôngCống thành một hệ thống âm vị như những công trình ngữ âm thường thấy màchỉ xem ngữ âm ở đây như một mặt hình thức của từ địa phương trong quan hệ
so sánh với từ toàn dân tương ứng Ở mục này chúng tôi nêu lên các dạng biếnthể ngữ âm của từ địa phương thổ ngữ Nông Cống trong sự tương ứng với từtoàn dân
2.2.1 Những tương ứng phụ âm đầu
Đối chiếu với từ toàn dân, chúng tôi thấy trong vốn từ địa phương thổ ngữNông Cống có một số lượng khá lớn tương ứng phụ âm đầu Có 54 kiểu tươngứng phụ âm đầu, lần lượt như sau
Trang 35- Tương ứng: | c | - | z |: chi – gì; chạng (cẳng) – dạng (chân); chạng
Trang 36Thổ (em) – giỗ (em), (mưa) thâm – mưa (dầm), thụt (chí) – nhụt (chí), (nói) thàm – (nói) nhàm, thất thưởng – vất vưởng, thất tha thất thưởng – vất va vất vưởng, thí thẹo – tí tẹo, thí thi- tí ti, thóp (má) – hóp (má), thoa – xoa (dầu), thâu – xâu, tho (đũa) – so (đũa ),
Trang 37Gàn – can , gây – xây…
Thổ ngữ Nống Cống có 54 cặp tương ứng âm đầu với ngôn ngữ toàn dân.Theo Nguyễn Thị Thắm trong [25], phương ngữ Thanh Hóa có 43 cặp tươngứng âm đầu Như đã nói mục đích của khóa luận này không cho phép đi sâu vàomiêu tả đặc trưng của từng âm vị trong từ địa phương Nông Cống có mặt đầy đủcác âm đầu tiếng Việt Qua liệt kê chúng tôi thấy có sự tương ứng phức tạp giữaphụ âm đầu của từ địa phương Nông Cống với từ toàn dân Sự tương ứng nàykhông chỉ sãy ra trong sự tương quan 1/1 mà còn có sự tương quan 1 hơn 1.Vìcác mặt đó tồn tại phổ biến trong toàn vùng địa phương Nông Cống Nhìn vàobảng liệt kê sự tương ứng phụ âm đầu ta thấy phần lớn là sự tương ứng 1 trên 1.Trong đó có sự tương ứng 1/5, 1/6, 1/8, 1/9 Điều này cho thấy sự phát triển củatiếng Việt thể hiện trong các thổ ngữ, phương ngữ
Đối chiều miêu tả của Nguyễn Thị Thắm trong [25] về sự tương ứng phụ
âm đầu với ngôn ngữ toàn dân Chúng tôi thấy sự tương ứng phụ âm đầu vớingôn ngữ toàn dân của thổ ngữ Nông Cống và phương ngữ Thanh Hóa là giốngnhau Tuy nhiên sự tương ứng của từ địa phương thổ ngữ Nông Cống là phongphú hơn, số lượng đơn vị từ lớn hơn Có những cặp tương ứng chỉ xuất hiện ởthổ ngữ Nông Cống mà ít xuất hiện ở phương ngữ Thanh Hóa Ví như:
| z | - | Ş | dọi – soi; | m | - | Ş | mẻ - sứt; | ţ | - | t | truốt – tuốt
Bên cạnh đó, phương ngữ Thanh Hóa có những cặp tương ứng âm đầu màkhông tồn tại trong thổ ngữ Nông Cống ví như:
- Tương ứng | ? | - | r |: (đau) âm – (đau) râm
- Tương ứng | s | - | Ş |: xương – sương: xạch xẽ - sạch sẽ
Khi so sánh với phương ngữ Nghệ Tĩnh, đối chiếu với miêu tả của HoàngTrọng Canh trong [5] về sự tương ứng phụ âm đầu giữa từ địa phương Nghệ
Trang 38Tĩnh là từ toàn dân Chúng tôi thấy sự tương ứng phụ âm đầu của thổ ngữ NôngCống phần lớn là giống với sự tương ứng phụ âm đầu trong Phương Ngữ NghệTĩnh Theo miêu tả của Hoàng Trọng Canh thì từ địa phương Nghệ Tĩnh có 45cặp tương ứng Trong đó có những cặp tương ứng phụ âm đầu mà không cótrong thổ ngữ Nông Cống
- Tương ứng | v | - | b |: Ve - be , vấu - bấu
- Tương ứng | s | - | c |: Xấp xới - chấp chới
- Tương ứng | r | - | n |: Ran - nan
Thổ ngữ Nông Cống có một số cặp tương ứng mà không thấy xuất hiệntrong phương ngữ Nghệ Tĩnh
|ƒ| - | b | phịa (chuyện) – bịa (chuyện); | ƒ | - | ť | phòi – thòi
Như vậy, qua miêu tả và so sánh với phương ngữ Thanh Hóa, phương ngữNghệ Tĩnh, chúng tôi thấy thổ ngữ Nông Cống có sự phong phú đa dạng vừa cónhững cặp tương ứng giống với phương ngữ Thanh Hóa vừa có nhiều điểmtương đồng với phương ngữ Nghệ Tĩnh, tuy nhiên có những cặp tương ứng phụ
âm đầu với từ toàn dân mang đặc trưng dấu ấn riêng của thổ ngữ Nông Cống
2.2.2 Sự tương ứng khuôn vần.
Dựa vào cách kết thúc vần ta thấy có 4 loại vần đều có mặt trong ngôn ngữtoàn dân và thổ ngữ, chúng phối hợp với nhau có các kiểu phổ biến như sau.+ Loại vần khép
Loại vần khép của từ địa phương Nông Cống tương ứng với loại vần khépcủa từ toàn dân gồm các vần và có các từ sau đây
| ôt – at |: ngột – ngạt, hột – hạt; | ach – ech |: lạch – lệch; | ac – ươc |: nác –
nước; | ut – out |: vút – vuốt; bút – buốt; | ưp – âp |: cựp rựp – cập rập; | it – iet |: kít – kiết; tít – tiết; bít – biết; | âc – ưc |: cậc – cực; | ap – ăp |: cập – cặp.
Ở loại vần khép từ địa phương tương ứng từ toàn dân so với từ địa phươngThanh Hóa là giống nhau
Ở loại vần khép từ địa phương thổ ngữ Nông Cống so với từ địa phươngNghệ Tĩnh dẫn theo nghiên cứu của TS Hoàng Trọng Canh trong [5] Ta thấyphần lớn đều giống nhau chỉ có một số vần thổ ngữ Nông Cống tương ứng với
Trang 39từ toàn dân là phương ngữ Nghệ Tĩnh không có và ngược lại Cụ thể có các vần:
| it – iet |; | âp – ăp | Phương ngữ có hai vần tương ứng với từ toàn dân mà thổ
ngữ Nông Cống không có đó là | ut – at | đút – đôt |; | it – ut | bít – bứt.
Như vậy, có thể kết luận ở loại vần khép tương ứng vần khép với từ toàndân thì thổ ngữ Nông Cống, phương ngữ Thanh Hoá và phương ngữ Nghệ Tĩnhphần lớn các vần giống nhau
+ Loại vần nửa khép của từ địa phương thổ ngữ Nông Cống tương ứng vớivần nửa khép của từ toàn dân gồm các vần sau:
|ong – ông |: đòng – đàng; cọng – cộng; | ang – ơng – ương |: đàng – đờng –
đường |; | ơn – an |: đờn – đàn ; |anh – ênh |: gành (thác) – ghềnh (thác); | un – ôn
| hun – hôn; khun – khôn; |ông – oong – ong |: nống – noong – nong ; | âng – ưng
|: mầng – mừng; bầng – bừng; | ưn – ân |: chưn – chân ; |inh – in |: chính (cân) –
chín (cân); | iên – in – uyên | kiền – kìn – quyền (thế); |um – âm |: tưm – tâm; |
ing – iêng |: tíng – tiếng; míng – miếng | an – ai |: vản – vải, cản – cải; chản –
chải; | ơn – ơi |: nhởn – chơi; | iên – e |: viền – về; | un – ôi |: thún – thối; | ăn – ay
|: băn – bay; | ân – ây |: cân – cây.
Cũng so sánh tương tự ở loại vần nửa khép chúng ta thấy, các từ có vầnnửa khép của từ địa phương thổ ngữ Nông Cống tương ứng vần nửa khép với từtoàn dân so với vần nửa khép của từ địa phương Thanh Hóa phần lớn là giốngnhau Duy chỉ có một vần từ địa phương Thanh Hóa có mà từ địa phương thổ
ngữ Nông Cống không có | ơng – ương | giờng – giường.
So sánh từ địa phương Nghệ Tĩnh thì sự tương ứng với vần nửa khép với từtoàn dân giống nhau là không nhiều Có những cặp vần từ địa phương thổ ngữNông Cống có mà từ địa phương Nghệ Tĩnh không có
| ing – iêng |; | ông – oong – ong |; | ăn – ay |; | inh – in |; | iên – e |; | un –ôi|; | iên – in – uyên |; | ơn – ơi | ; | an – ai |; | ưm – âm |; | ân – ây |
Ngược lại, phương ngữ Nghệ Tĩnh có vần nửa khép tương ứng với từ toàndân mà thổ ngữ Nông Cống không có đó là :
|uông – ông |; | ăng – an |; | anh – iêng |; | ươn – âm |; | ương – anh |; | ông –uông |; | oen – en |; | oan – uyên |; | ươm – yêm |; | oan – uôn |; | in – ân |; | eng –
Trang 40iêng | Các vần còn lại là những vần giống nhau.
Nhìn vào sự liệt kê trên ta thấy sự tương ứng giữa vần khép và vần nửakhép của từ địa phương thổ ngữ Nông Cống với từ toàn dân là khá phong phú và
có quy luật chặt chẽ Xét về cuối vần, chúng cùng có phương thức giống nhau.Đồng thời phụ âm kết thúc hai vần đều cùng phương thức cấu âm, thậm chí phầnlớn các trường hợp đều có cùng một phụ âm kết thúc giống nhau Những hiệntượng như mũi của vần nửa khép cũng là hai vần tương ứng – phía cuối vần,cách kết thúc chỉ được phép dịch chuyển (chặt hay lỏng) mà thôi
Xét ở đỉnh vần: Các nguyên âm làm đỉnh vần, phải cùng vị trí cấu âm nghĩa
là cùng dòng trước sau, tròn môi Sự thay đổi tạo nên sự tương ứng ở đỉnh vầnkhép là nó được tự do dịch chuyển độ nâng của lưỡi (cao vừa hay thấp) trongcùng vị trí cấu âm Tất cả những nhận xét này về thổ ngữ Nông Cống đều giốngvới phương ngữ Thanh Hóa và phương ngữ Nghệ Tĩnh về hai vần khép và nửakhép
Loại từ địa phương có vần nửa mở tương ứng vần nửa mở trong ngôn ngữ
toàn dân gồm có | iêu – ao |: biểu – bảo; | ươi – ơi | bươi – bới; | ươi – ui |:
chưởi– chửi; | ôi – ơi |: cổi – cởi; | âu – ao |: cấu – gạo; | au – ao |: tau – tao; | ây
– ay |: nầy – này; |ui – ôi |: chủi – chổi
So sánh với phương ngữ Thanh Hóa về sự tuơng ứng vần với từ toàn dânchúng tôi thấy, vần | ui – ôi | là các vùng khác của phương ngữ Thanh Hóakhông xuất hiện còn các vần còn lại là giống nhau
So sánh với phương ngữ Nghệ Tĩnh về sự tương ứng vần với từ toàn dân,chúng tôi thấy phần lớn là giống nhau Nhưng từ địa phương Nghệ Tĩnh
Có những vần nửa mở tương ứng với ngôn ngữ toàn dân mà thổ ngữ Nông
Cống không có Cụ thể là: | eo – ao | beo – báo; | oi – uôi | ròi – ruồi; | ây – ai |
gấy – gái; | ai – ơi | giái – giới; | ây – oang | xây (ngài) – xoay (người)
Như vậy, sự biến âm phần vần của phương ngữ Nghệ Tĩnh phức tạp vàphong phú hơn nhiều so với thổ ngữ Nông Cống và phương ngữ Thanh Hóa
Sự đối xứng vần nửa mở như trên, tình hình sảy ra và các quy luật tươngứng giống vần khép và vần nửa khép