1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngẵn nguyễn công hoan (chọn lọc)

86 787 9

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc Điểm Cách Xưng Hô Của Các Vai Giao Tiếp Trong Truyện Ngắn Nguyễn Công Hoan (Chọn Lọc)
Tác giả Lê Ngọc Hòa
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Lý Luận Ngôn Ngữ
Thể loại Luận Văn Thạc Sĩ Ngữ Văn
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 418,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

-o0o -lê ngọc hòa đặc điểm cách xng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngắn nguyễn công hoan (chọn lọc) Chuyên ngành: lý luận ngôn ngữ Mã số : 602201 luận văn thạc sĩ ngữ văn Vinh, 2006 Mục lục Trang Phần mở đầu

1 Lý do chọn đề tài……… ……… 3

2 Đối tợng phạm vi nghiên cứu …… …4

3 Mục đích và nhiệm vụ ……… … .4

4 Lịch sử vấn đề ……… 5

Trang 2

5 Phờng pháp nhiệm vụ ……… 6

6 Cái mới của luặn văn ……… 6

7 Cấu trúc luận văn ……… 7

Chơng 1 Cơ sở lý luận ……… ……… …… 8

1 Từ xng hô và cách xng hô ………8

1.1 Từ xng hô ……… … …8

1.2 Cách xng hô ……… ………… .12

1.3 Chiến lợc giao tiếp xng hô ……… ………… 19

1.4 Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của ông … ……… ……… 23

*Tiểu kết chơng 1 ……… … … 25

Chơng 2: Cách xng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan 27

2 Nhận xét chung……… ……… ……… 27

2.1 Xng hô bằng đại từ nhân xng ……… ……… 27

2.2 Xng hô bằng các danh từ thân tộc ………40

2.3 Xng hô bằng họ tên……… …… .57

2.4 Xng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức danh……… …… .72

2.5 Xng hô bằng từ xng hô thông dụng “đồng chí”……… …… 78

*Tiểu kết chơng 2 ……… ……… … .79

Chơng 3: Một số chiến lợc giao tiếp xng hô đợc thể Hiện trong truyện ngắn nguyễn công hoan 80

3 Dẫn nhập ……… 80

3.1 Một số chiến lợc giao tiếp xng hô cụ thể ……… 80

3.2 Chiến lợc giao tiếp xng hô xét về mặt xã hội ……… … 83

3.3 Vấn đề giới tính trongcách xng hô ……… 91

*Tiểu kết chơng 3 … ……… ……… … 98

Kết luận ……….100

Tài liệu tham khảo ………….102

Trang 3

Phần mở đầu

1 Lí do chọn đề tài

Ngôn ngữ dù bất luận đợc nhìn nhận từ góc độ nào đi chăng nữa, suy chocùng là để thực hiện chức năng giao tiếp Giao tiếp bằng ngôn ngữ là thuộctính bản chất của xã hội loài ngời và không thể có xã hội loài ngời nếu không

có giao tiếp bằng ngôn ngữ

Trong quá trình đó, xng hô là bộ phận hợp thành quan trọng có ý nghĩaxác định vai giao tiếp và quyết định hiệu quả giao tiếp, xng hô thể hiện mộtcách sinh động mối quan hệ giữa ngời với ngời trong từng bối cảnh giao tiếp

cụ thể Vì thế, việc nghiên cứu từ xng hô và cách xng hô luôn là mối quan tâmcủa các nhà ngôn ngữ học và văn hoá học

Đối với tiếng Việt xng hô là một tập hợp nhiều từ lọai khác nhau vớinhiều sắc thái biểu cảm khác nhau rất đa dạng và linh hoạt trong cách sửdụng Vì vậy, nó đóng vai trò quan trọng trong giao tiếp cộng đồng, nó cònbộc lộ rõ nội dung giao tiếp cũng nh vị thế của các vai tham gia giao tiếp và cảlối ứng xử văn hoá mang tính đặc trng của dân tộc mình

Trong tác phẩm văn học lấy lợi thế xng hô tiếng Việt, coi đó là nơi đểnhà văn bộc lộ rõ nhất các vai trong tác phẩm Trên cơ sở đó, đề tài của chúngtôi tập trung nghiên cứu khảo sát: Đặc điểm cách xng hô của các vai giao tiếptrong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, để thấy đợc vai trò, cũng nh vị thếcủa nó trong việc hành chức giao tiếp tiếng Việt

Nguyễn Công Hoan là nhà văn hàng đầu của văn học hiện đại trong thế

kỷ XX Ông đã báo hiệu một triển vọng mới của văn học mới và là cây bútxuất sắc của dòng văn học hiện thực 30-45 Văn của ông dựng lên một bứctranh sinh động của một xã hội thực dân phong kiến trớc cách mạng tháng tám

đầy rẫy những sự bất công, giả dối, sa đoạ vừa phanh phui đợc những chândung của bọn quan lại hào lí những chính sách mị dân của bọn thực dânphong kiến triều Nguyễn thối nát, xuất phát từ ý thức tôn trọng dân tộc, đồngthời còn là lòng khát khao, công bằng, chống áp bức và tinh thần yêu thơngnhững ngời lao động chân chính khổ nghèo Điều đặc biệt chú ý là cách xnghô của các nhân vật rất phong phú và đa dạng, linh hoạt trong từng hoàn cảnh,từng giai cấp địa vị khác nhau cũng nh giới tính khác nhau

Trong khuôn khổ của một luận văn ngữ văn chúng tôi tập trung xem xétcách sử dụng từ ngữ xng hô cũng nh cấu tạo và quy luật sử dụng của lớp từnày trong giao tiếp Đồng thời, mong rằng có thể giúp ngời Việt Nam sử dụng

Trang 4

đúng và chuyển dịch đúng từ xng hô phù hợp với từng bối cảnh giao tiếp cụthể

2 Đối tợng, phạm vi nghiên cứu

Xuất phát từ lí do chọn đề tài, đối tợng mà luận văn tập trung nghiên cứulà: Đặc điểm cách xng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngắn của NguyễnCông Hoan

Phạm vi nghiên cứu của luận văn tập trung khảo sát những đoạn hội thoạigiao tiếp giữa các nhân vật Cũng nh hành động xng hô của các vai giao tiếp

đợc nhà văn thể hiện trong truyện ngắn của mình

3 Mục đích và nhiệm vụ

Tiến hành nghiên cứu đặc điểm cách xng hô của các vai giao tiếp trongtruyện ngắn Nguyễn Công Hoan luận văn nhằm :

Góp phần nghiên cứu về từ xng hô trong giao tiếp tiếng Việt Đồng thờithông qua nghiên cứu đa ra một bức tranh chung về cách xng hô của các vaigiao tiếp trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

Từ mục đích trên luận văn đề ra những nhiệm vụ sau :

- Hệ thống hoá những vấn đề lí thuyết trực tiếp liên quan đến đề tài nh từxng hô và vấn đề sử dụng từ xng hô trong giao tiếp

- Mô tả và chỉ ra đợc những kiểu lọai xng hô thờng dùng trong giao tiếpngời Việt

- Vận dụng các kiểu loại đó vào nghiên cứu cụ thể Trong truyên ngắncủa Nguyễn Công Hoan, để thấy đợc sự vận dụng của nhà văn trong việc diễntả cách xng hô của các vai giao tiếp trong truyện

4 Lịch sử vấn đề.

Việc nghiên cứu ngôn ngữ xng hô tiếng Việt trong Việt ngữ học đã có từlâu Từ những năm 70 của thể kỷ XX trở lại đây, nhất là từ sau khi đất nớcthống nhất, chẳng hạn nh Đỗ Hữu Châu trong các công trình nghiên cứu vềngữ dụng học đã đề cập đến những vấn đề nh chiếu vật và chỉ xuất hành vingôn ngữ, lí thuyết lập luận, lí thuyết hội thoại đã khẳng định yếu tố lời nói,hành động nhân tố giao tiếp đều liên quan đến xng hô (dẫn theo Phạm NgọcHàm – tr.13)

Các công trình chuyên nghiên cứu về xng hô của Nguyễn Văn Chiếncũng rất dày công Tác giả đã khảo sát một cách có hệ thống, hoàn chỉnh cả vềcấu trúc tĩnh và sự hoạt động của từ xng hô tiếng Việt trong thực tiễn giao tiếp

Trang 5

ngôn ngữ Từ đó nêu bật mối quan hệ hữu cơ giữa ngôn ngữ và đặc trng vănhoá xã hội “Cấu trúc xã hội phân hoá bộc lộ rõ cấu trúc ngôn ngữ, thông quanhững cách nói năng xng hô nhất định” [6,130] (dẫn theo Phạm Ngọc Hàm– tr.13)

Bên cạnh đó, kể đến hàng loạt công trình nghiên cứu xng hô tiếng Việt

nh Hoàng Thị Châu với “vai đề nghị về chuẩn hoá cách xng hô trong xã giao”.Trơng Thị Diễm với “từ xng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong tiếngViệt”, Nguyễn Văn Khang với vai giao tiếp và vấn đề xng hô trong “Ngôn ngữhọc xã hội – những vấn đề cơ bản”, Nguyễn Thị Ly Kha với “nét nghĩa chỉquan hệ của danh từ thân tộc trong tiếng Việt”, Nguyễn Minh Thuyết với “vàinhận xét về đại từ và đại từ xng hô”, Hoàng Anh Thi ‘so sánh nghi thức giaotiếp tiếng Nhật và tiếng Việt qua từ ngữ xng hô”, (tr 14 – dẫn theo PhạmNgọc Hà) Ngoài ra cũng phải kể đến một số công trình nghiên cứu của ĐỗThị Kim Liên [1999][96], Phạm Văn Tình [1999] [158], Nguyễn Thị ThanhBình [2000][13], Lê Thành Kim (1998) [81]

Do từ xng hô trong các ngôn ngữ mang đậm đặc tính văn hoá, tộc ngờinên chúng cũng đợc nhiều nhà nghiên cứu khai thác để làm nền tơng phản khitiến hành nghiên cứu đối chiếu với từ xng hô trong các ngôn ngữ dân tộc trênlãnh thổ Việt Nam nh với từ xng hô trong tiếng Mờng của Nguyễn Văn Tài(1977) [134] trong tiếng Chàm của Bùi Khánh Thế [1990] [147] Trong tiếngNùng của Phạm Ngọc Thởng [1990][157], trong tiếng Kơ ho của Tạ VănThông (2000)[153] hay với từ xng hô trong các ngôn ngữ khu vực Đông Nam

á của Nguyễn Văn Chiến (1992)[31] hoặc với các ngôn ngữ trên thế giới nhtrong xng hô tiếng Anh của Thái Duy Bảo (1988)[8], trong tiếng Anh –Mĩcủa Nguyễn Văn Quang (1999) [126], trong tiếng Hán của Phạm Ngọc Hàm(2000)[ 60] (dẫn theo Bùi Thị Minh Yến-Từ xng hô tiếng Việt tr.10)

Các công trình nghiên cứu xng hô trong tiếng Việt đã chú ý vận dụng líthuyết ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp Cụ thể là các vấn đề ngữ dụng

nh sắc thái biểu cảm, vai giao tiếp, cấu trúc, xng hô đã đợc làm sáng tỏ, vấn đềxng hô đợc coi nh một chiến lợc trong giao tiếp ngôn ngữ Những thành tựunghiên cứu đó, là cứ liệu đáng tin cậy để chúng tôi tiến hành nghiên cứu, đặc

điểm cách xng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoanmột cách thuận lợi

5 Phơng pháp nghiên cứu

Để nghiên cứu đặc điểm cách xng hô của các vai giao tiếp trong truyệnngắn của Nguyễn Công Hoan, luận văn sử dụng những phơng pháp sau :

Trang 6

- Phơng pháp thống kê: Dựng lên đợc một bức tranh đa dạng về nhữngcách xng hô trong các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan

- Phơng pháp phân tích: Tiến hành phân loại các kiểu xng hô sau khithống kê đợc

- Phơng pháp quy nạp: Để rút ra những nhận xét khái quát về đặc điểm,cấu trúc, và hoạt động của những kiểu xng hô trong truyện ngắn của NguyễnCông Hoan

6 Cái mới của luận văn.

Bên cạnh những công trình đã đi sâu nghiên về từ xng hô trong tiếngViệt, đề tài của chúng tôi đã khái quát đợc một bức tranh đa dạng của nhữngkiểu xng hô trong tiếng Việt đợc sử dụng trong một thể loại văn học cụ thể,với một tác giả cụ thể Đồng thời góp phần vào lí luận giao tiếp xng hô một sốkiến thức về lí thuyết xng hô

Bên cạnh đó, đề tài còn cho thấy vai trò của cách xng hô trong nhữngcuộc thoại đặc biệt trong những mẫu thoại trong tác phẩm văn học tạo nêntính sinh động phong phú trong tác phẩm

7 Cấu trúc của luận văn.

Luận văn ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo,gồm 3 chơng:

Trang 7

Chơng 1: cơ sở lí luận

1 Từ xng hô và cách xng hô

1.1 Từ xng hô

1.1.1 Hiện tợng xng hô trong ngôn ngữ

Trong giao tiếp xã hội xng hô trớc hết là một hoạt động thể hiện lối ứng

xử văn hoá của con ngời trong cộng đồng nói năng nhất định Hoạt động giaotiếp ấy đợc hiện thực hóa qua các dạng thức ngôn ngữ xng hô Trong giao tiếp

“xng” có nghĩa là tự gọi mình khi nói với ngời khác, hiển thị tính chất và bảnchất của mối quan hệ xã hội (ngời “xng”- ngời làm ra hành động nói năng) vớingời ấy Đó là hành động tự quy chiếu vào bản thân của ngời nói “Hô” làhành vi giao tiếp bằng ngôn ngữ hớng đến ngời khác – cùng tham gia vàoquá trình giao tiếp thể hiện tính chất, bản chất của mối quan hệ xã hội giữangời ấy với mình Điều đặc biệt chú ý: đối tợng đợc nhắc đến trong giao tiếp

có thể là đối tợng trực tiếp mà hành vi xng hô hớng tới trong cuộc thoại- Nóichính xác “ngời xng” tiến hành hành vi “hô”, “gọi" với ngời trực tiếp tham giacuộc thoại Ta tạm gọi là “ngời tham thoại trực tiếp” Trờng hợp này là kết quảcủa sự quy chiếu do ngời nói tiến hành trong giao tiếp một hay nhiều ngời

đang đối thoại với mình Nó đợc gọi là các nhân vật ở ngôi thứ hai (ngôi nhânxng thứ hai)- Theo cách nhìn của ngữ pháp truyền thống và ngữ pháp cấu trúc.(dẫn theo Phạm Thành Kim – tr.26)

Bên cạnh đó, trong hoạt động giao tiếp có lọai nhân vật hội thoại màhành vi xng hô không trực tiếp hớng tới Nhng vẫn thấy rõ đợc nó thì đợc gọi

là các nhân vật ở ngôi thứ 3 Tuy nhiên, phải đợc những ngời tham gia thamthoại thừa nhận và đồng ý

Mặt khác “Các nhân vật này không thể thực hiện hành vi xng hô” [134]

Họ đứng ngoài cuộc giao tiếp nhng liên quan tới cuộc thoại Nếu xét theo mộtnghĩa rộng của phạm trù “xng hô”, thì chúng ta có thể gọi nó là đối tợng xnghô gián tiếp có thoả thuận giữa ngời xng (ngôi thứ nhất) với ngời trực tiếptham gia giao tiếp (ngôi thứ hai) Nh vậy, nếu trên cơ sở của lí thuyết giao tiếphội thoại thì hành vi xng hô chỉ quan tâm nhiều nhất đến hai ngôi nhân xng(ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai) Tuy nhiên, để làm rõ bản chất của hiện tợng x-

ng hô, theo nghĩa chúng tôi vẫn nhắc đến ngôi nhân xng thứ ba

Trong hành vi xng hô, cần phân biệt hai khái niệm : “hô” và “gọi” “Hô”

là hành vi giao tiếp nhắc đến ai là gì đó khi nói với hoặc nói về ng ời ấy Hành

vi “hô” có tính giao tiếp hớng tới nhân vật giao tiếp và quy chiếu cái hành vi

Trang 8

ấy vào nhân vật đó – xác định nhân vật đó.Trong khi đó hành vi “gọi” vẫn có

đặc tính của “hô” nhng lại có ý định nhắc nhở gợi mở hay yêu cầu ở nhân vậtgiao tiếp một điều gì đó xét trên toàn cục ta có ba khái niệm không cùng “lớphạng” trong khi phân tích hiện tợng “xng hô” nói chung:

1.1.2 Khái niệm từ xng hô

Thực ra khái niệm “từ xng hô” có thể hiểu theo hai nghĩa:

* Nghĩa hẹp: Nó là một kiểu đơn vị cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ đợc

đem ra dùng làm “vật liệu”, “chất liệu”, “phơng tiện vất chất” để thực hiệnmôt hành vi xng hô.Theo nghĩa này “từ xng hô” phải đợc hiểu là một dạngthức ngôn ngữ thuộc vào một khái niệm lớn hơn, đó là dạng thức “xng hô”.Trong dạng thức “xng hô” này đơn vị từ đóng vai trò cơ bản, chiếm tỉ lệ caokhi sử dụng trong hệ thống các đơn vị của dạng thức xng hô Nh vậy, bên cạnh

từ xng hô ta còn có các ngữ xng hô, các cấu trúc xng hô, các biểu thức xng hô.Với cách hiểu nh vậy, thì xng hô và “từ xng hô” rõ ràng không phải làcâu chuyện của ngôn ngữ hoc cấu trúc nữa, chính ở điểm này, rất nhiều cáctác giả đã nhầm lẫm giữa khái niệm đại từ nhân xng với từ xng hô hay mập

mờ trong khi định nghĩa các khái niệm đai từ nhân xng, đại từ xng hô, đaidanh từ nhân xng, từ xng gọi, từ xng hô

Thực ra thì trớc hết các dạng thức xng hô là một phạm trù của ngữ phápdụng học, ngữ pháp giao tiếp, nó thuộc phạm vi của ngôn ngữ học ứng dụng

và không phải là sản phẩm của ngôn ngữ học cấu trúc

“Các dạng thức xng hô bao gồm từ hay các từ, các ngữ, các biểu thức xnghô đợc sử dụng làm giao tiếp xng hô với ai đó dới dạng nói và viết” Đó làcách giao tiếp mà trong đó ngời ta giao tiếp với ngời khác Hành vi xng hôkiểu này luôn phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính tầng lớp xã hội, quan hệ xã hội

Trang 9

tâm lí hay quan hệ vị thân giữa những ngời tham thoại”[139] (dẫn theoNguyễn Thành Kim - tr 28)

Theo tác giả Lê Biên, Nguyễn Minh Thuyết, đại từ nhân xng (xng hô)

đ-ợc chia làm hai nhóm:

a) Đại từ nhân xng (xng hô) đích thực: tôi, tao, tớ, hắn, họ,…

b) Đại từ xng hô lâm thời: nguyên là những danh từ chỉ ngời trong quan

hệ thân thuộc đợc lâm thời dùng làm đại từ nhân xng (xng hô): ông, bà, cô, dì,chú, bác cậu, anh, dợng, mợ

Từ đó tác giả đa ra quan niệm cho rằng “ Đại từ nhân xng (xng hô) lànhững từ dùng để trỏ hay thay thế một chủ thể giao tiếp với mục đích x ng hô”[tr 113]

Với khái niệm “từ xng hô” tác giả Nguyễn Văn Chiến đã quan niệm vềlớp từ nay nh sau: “Đó là những từ đợc rút ra trong hệ thống ngôn ngữ dùng đểxng hô (biểu thị các phạm trù xng hô nhất định) giao tiếp xã hội [23,tr61] và

từ quan niệm này tác giả đã tiến hành nghiên cứu từ xng hô theo tinh thần củangữ pháp dụng học, nhấn mạnh vào các chức năng hành chức của chúng tronggiao tiếp

* Nghĩa rộng: Một khi hiểu từ xng hô theo quan điểm của ngữ pháp dụnghọc-giao tiếp thì đó là phơng tiện giao tiếp bằng ngôn ngữ để xng hô Tự nóbao gồm các từ để xng hô, ngữ xng hô, biểu thức xng hô, các cấu trúc xng hôgọi chúng là từ xng hô

Do đó, khái niệm từ xng hô có ngoại diên rộng hơn đại từ nhân xng rấtnhiều “ khái niệm từ xng hô không phải là sản phẩm của cách tiếp cận cấutrúc luận đơn thuần Đây là những từ thuộc nhiều lớp từ loại của hệ thốngngôn ngữ đợc đem ra sử dụng để xng hô (biểu thị các phạm trù xng hô) giaotiếp xã hội” [23 tr 60] Chẳng hạn ở tiếng Việt những từ dùng để xng hô rấtphong phú và đa dạng bao gồm hai nhóm :

Trang 10

a) Đại từ nhân xng chuyên dùng: tôi, tao, tớ, mày, bay, mi, ngài, mình,

+ Các danh từ chỉ quan hệ xã hội: đồng chí, bạn vv

+ Các từ chỉ nơi chốn: đằng ấy, đây vv

+ Họ tên riêng của ngời: Lâm Hùng, Hơng vv…

+ Thậm chí là các động từ, tính từ chuyển hoá nh: cng, nhỏ, út, bồi

Dựa trên những vấn đề nêu trên có thể đa ra định nghĩa có tính tác nghiệp

về từ xng hô nh sau: Từ xng hô bao gồm dùng để xng (tự xng) hoặc để hô(gọi) một ngời nào đó khi ngời đó ở một ngôi giao tiếp nhất định

Nh vậy, dù gọi từ xng hô bằng thuật ngữ này hay thuật ngữ khác, vànhững từ đợc dùng làm từ xng hô trong từng ngôn ngữ có khác nhau nhngchúng đều có sự thông nhất với nhau về chức năng trong giao tiếp ngôn ngữ:Thiết lập quan hệ tiếp xúc giữa những ngời tham gia giao tiếp và duy trì diễnbiến giao tiếp, cũng với từ đó từ xng hô còn có chức năng biểu lộ thái độ, tìnhcảm cũng nh vị thế của các nhân vật tham gia giao tiếp trong từng bối cảnhgiao tiếp cụ thể Do đó, để hợp lí hơn cả là không nên xem đờng danh giớigiữa các từ loại là cái gì đó rạch ròi, nhất thành bất biến, mà nên dùng thuậtngữ “từ xng hô” để chỉ toàn bộ các từ này Đây chính là giải pháp mà các nhàngôn ngữ học Việt Nam đa ra những năm gần đây (dẫn theo Nguyễn ThànhKim – tr31)

Bên cạnh đó, khi đề cập đến vấn đề xng hô trong giao tiếp không thểkhông đề cập đến vấn đề ngôi và số trong cách xng hô của ngời Việt

1.2 Cách xng hô.

Khi định nghĩa khái niệm “ Từ xng hô” phải đồng thời nói rõ thế nào là

“cách xng hô” Nh đã nói, xng hô là một tập hợp các dạng thức xng hô thànhmột hệ thống nguyên vẹn Nh vậy, nói đến cách xng hô có nghĩa là phải tiếnhành xem xét các hệ thống xng hô trong một cộng đồng nói năng nhất định

Đồng thời phải lựa chọn các hình thái xng hô để biểu thị thái độ qua đó thểhiện những quy tắc xng hô nh “xng khiêm hô tôn”, quy tắc “nâng bậc, phânvai”

Vì vậy, với vai trò tự quy chiếu vào ngời khác xng hô khẳnh định vai giaotiếp, quan hệ giao tiếp và hớng ngời nói và ngời nghe vào cuộc thoại theo quan

Trang 11

hệ giao tiếp đợc lựa chọn qua cách xng hô Do vậy, cách xng hô trở nên râtsinh động, phong phú; phụ thuộc thói quen văn hoá cộng đồng Trong tiếngViệt thờng có những cách xng hô sau.

có vị trí vô cùng quan trọng trong ngôn ngữ nói chung và trong xng hô nóiriêng

Với vai trò là công cụ xng hô để biểu thị quan hệ liên cá nhân từ ngữ xnghô có thể chia làm hai loại:

+ Một là những từ xng hô thuần tuý nh đại từ nhân xng và họ tên

+ Hai là những từ ngữ mang tính vị thế xã hội nh: Danh từ chỉ quan hệthân tộc, danh từ chỉ nghề nghiệp, chức vụ, chức danh … tất cả đều tuân thủnguyên tắc “xng khiêm hô tôn” nguyên tắc đó thể hiện rất rõ trong tiếng Việtcủa chúng ta

Trong giao tiếp ngôn ngữ, đại từ xng hô đợc dùng với cả nghĩa rộng vànghĩa hẹp, với nghĩa hẹp nó là những đại từ xng hô phổ biến, còn gọi là những

từ nhân xng thực thụ dùng để xng hô nh: tôi, tao, mày , hắn, chúng nó, chúngmày…

Với nghĩa rộng đại từ xng hô bao gồm tất cả những từ nào đợc sử dụngvào vị trí của đại từ chỉ ngôi đích thực, biểu thị ý nghĩa ngôi đợc sử dụng làmmột trong những phơng tiện biểu thị xng hô

Trong tiếng Việt, một số nhà ngôn ngữ học sử dụng thuật ngữ đại từ xnghô với nghĩa hẹp nh Nguyễn Kim Thản (1963), Cù Đình Tú, Hoàng Tuệ(1962), Trịnh Mạnh, Nguyễn Huy Đàn (1976) trong khi đó cũng có nhà ngônngữ học sử dụng với nghĩa rộng nh Đái Xuân Ninh (1978) Theo quan điểmnày thì tất cả những danh từ chỉ quan hệ thân tộc nh, bố, mẹ, anh chị, em cậu,

mợ, thím dợng, bác, chú,cô, dì … Là đại từ xng hô Trong tiếng Việt nhữngdanh từ này đợc sử dụng vào vị trí đại từ xng hô đích thực rất phổ biến, chúng

có tần số sử dụng cao hơn nhiều so với đại từ chỉ ngôi đích thực, sử dụng đúnglúc đúng chỗ nhng từ ngữ xng hô này còn là sự phản ánh đặc trng văn hoá dântộc

Trang 12

Về số lợng đại từ xng hô trong tiếng Việt khó mà thống kê đợc bằngnhững con số cụ thể và có sự thống nhất cao giữa các nhà ngôn ngữ học Bởivì tính chất đa dạng và sự hoạt động hết sức linh hoạt của chúng Do vậy đểxác định đúng đại từ nhân xng trong tiếng Việt thì trớc hết phải hiểu đại từnhân xng là gì?

Đại từ nhân xng là những đại từ biểu thị sự khu biệt trong xng hô con

ng-ời nh: tôi, anh, chúng nó… [tr134, 136] (dẫn theo Phạm Ngọc Hàm – tr 57)Theo chúng tôi, đại từ nhân xng là những đại từ chỉ ngời, dùng để xnggọi các thành viên tham gia giao tiếp trực tiếp hoặc giao tiếp, bao gồm đai từnhân xng ngôi thứ nhất, đại từ nhân xng ngôi thứ hai và đại từ nhân xng ngôithứ ba

Nhìn chung, đại từ nhân xng trong tiếng Việt thờng xuyên đợc thay thếbằng các danh từ nh; anh, chị ,ông, bà, cha, mẹ, ngài, nàng, chàng, cậu, mợ Tạo thành những sự chuyển đổi phong phú nhằm diễn đạt các ý nghĩa biểu

cảm và tu từ rất tinh tế

Trong tiếng Việt, ngoài cặp từ xng hô tôi – anh biểu thị sắc thái trungtính, phải nói đến cặp nhân xng tao – mày, mang sắc thái tình cảm đặc biệthoặc suồng sã thân mật, hoặc khiếm nhã phải tuỳ thuộc vào ngữ cảnh cụ thểmới có thể xác định đợc, chẳng hạn mẹ xng với con bằng cặp mày – tao, tr-ờng hợp này có khả năng xảy ra hoặc suồng sã thân mật, hoặc thể hiện thái độbất hoà

Nhìn chung, cùng với diễn biến phức tạp của quá trình phát trển các quan

hệ xã hội và vai giao tiếp xã hội, ngôn ngữ trên cơ sở thống nhất là cơ bản,không ngừng củng cố và phát triển nhất là khi vận dụng vào trong giao tiếp xãhội Nó không cứng nhắc theo một khuôn mẫu bất biến mà luôn linh hoạt.Chính vì vậy, đại từ nhân xng qua các thời kì lịch sử cũng có những thay đổ đểthỏa mãn nhu cầu định vị tính chất của vai giao tiếp

1.2.2 Xng hô bằng từ chỉ quan hệ thân tộc

Thân tộc là danh từ chỉ những ngời có quan hệ huyết thống hoặc quan hệhôn nhân với bản thân mình Từ xng hô thân tộc là những từ dùng để xng hôgiữa những ngời có quan hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống với nhautrong giao tiếp ngôn ngữ Văn hoá truyền thống của dân tộc Việt Nam đợchình thành trên cơ sở văn hoá nông nghiệp là chính, tính chất quan hệ làngxóm từ ngàn xa có ảnh hởng sâu sắc đến đời sống vật chất và tinh thần của ng-

ời Việt Nam “mang đậm quan niệm đạo lí dân tộc” Vì vậy, trong tiếng Việt

sử dụng từ xng hô thân tộc coi nh một trong những cách thức xng hô

Trang 13

Về mặt bản chất, danh từ chỉ quan hệ thân tộc đã phản ánh rõ nét quan

hệ giữa các thành viên trong gia đình của ngời Việt từ ngữ xng hô thân tộc cóthể chia làm hai loại

+ Từ ngữ xng hô hạt nhân sản sinh ra trong nội bộ giao tiếp gia đình hạtnhân

gồm hai thế hệ cha mẹ, con cái, anh chị em, thuộc quan hệ huyết thống

bố me, con trai, con gái, anh, chị, em, vợ chồng thuộc quan hệ hôn nhân + Từ ngữ xng hô thân tộc sản sinh trong quan hệ giao tiếp giữa gia đìnhvới gia đình trong chuẩn mực gia đình đó phải có quan hệ huyết thống hônnhân hay pháp luật, gồm nhiều thế hệ nhiều thanh viên nh ông ,bà cô ,dì, chú,bác

Nh vậy từ xng hô thân tộc là tiểu lớp từ phản ánh quan hệ thân tộc,chuyên dùng để chỉ các mối quan hệ tơng hỗ giữa các thành viên trong gia

đình khi tiến hành giao tiếp ngôn ngữ với nhau Tiểu lớp từ này có khả năngphân loại và miêu tả các quan hệ thân tộc.( dẫn theo Phạm Ngọc Hàm – tr69)

Với nghĩa rộng, từ ngữ xng hô thân tộc chỉ chung cho hệ thống ngôn ngữvăn hoá đợc hình thành từ các kiểu xng hô thân tộc trong xã hội loại ngời Vớinghĩa hẹp nó chỉ hệ thống ngôn ngữ văn hoá đợc hình thành từ cách xng gọitrong xã hội hiện đại Cái mà xng gọi thân tộc quy định là vị thế xã hội củacon ngời Hệ thống xng hô thân tộc là vấn đề quan trọng, thu hút sự chú ý củacác nhà nghiên cứu ngôn ngữ văn hoá, nội hàm của nó vô cùng phức tạp Nhìnchung, nó có quan hệ mật thiết với các vấn đè hôn nhân, gia đình, vị thế,quyền lợi, nghĩa vụ … Nhất là vấn đề tuổi tác của con ngời Hệ thống xng hôthân tộc gồm các từ ngữ xng hô thân tộc trong gia đình hạt nhân, từ ngữ xnghô thân tộc xuất phát từ gia đình hạt nhân, nó biểu thị quan hệ hôn nhân vàbiểu thị quan hệ pháp luật.(dẫn theo Phạm Ngọc Hàm – tr70)

Nhìn chung, số lợng từ xng hô thân tộc bao gồm cả trực tiếp và gián tiếptrong tiếng Việt là rất lớn hiện nay cha có một số liệu thống kê rõ ràng vềnhững con số này Do vậy, trong giao tiếp ngôn ngữ tiểu lớp từ này lại đợc sửdụng một cách linh hoạt với các sắc thái biểu cảm đa dạng dới mọi hình thứcxng hô

Hầu hết các danh từ thân tộc đợc dùng để xng hô nhng trong trờng hợp

x-ng hô trực tiếp hoặc gián tiếp sử dụx-ng có khác nhau chỉ có một số ít tr ờx-ng hợpdùng chung cho xng hô gián tiếp hoặc trực tiếp

Trang 14

Trong tiếng Việt ngoài những từ nh ông, bà, bố, mẹ, cũng có những từ

nh tổ phụ thân phụ, thân mẫu, phụ mẫu … Dùng trong xng hô trực diện với sắc thái trang trọng

Khác với những từ này những từ nh bố mẹ, anh trai, em trai … thờngdùng trong khẩu ngữ mang sắc thái thân mật và có dùng để xng hô trực tiếp,cũng có thể xng hô gián tiếp

Trong hệ thống từ biểu thị quan hệ thân tộc trong tiếng Việt không códạng lặp mà chỉ có dạng ghép Từ chỉ quan hệ thân tộc chủ yếu tồn tại chủ yếudới dạng từ đơn nh: ông, cụ, ba ,bố, mẹ …

Trong tiếng Việt, các từ chỉ quan hệ phi huyết thống nh anh rể, em rể, chịdâu đều không dùng để xng hô trực tiếp Theo xu thế huyết thống hoá để

đạt đợc sự hoà đồng, thân thuộc, trong quan hệ gia đình, các từ này khi dùng

để xng hô trực tiếp đều bỏ qua từ “dâu” “rể”

1.2.3 Từ xng hô phỏng theo xng hô thân tộc

Xng hô phỏng theo xng hô thân tộc là cách xng hô với những ngời phihuyết thống bằng các danh từ thân tộc Trong tiếng Việt, phần lớn các danh từbiểu thị quan hệ thân tộc đều có thể chuyển hoá thành từ xng hô ngoài xã hội

Điều đó phản ánh rõ nét tính chất gia đình hoá xã hội trong quan hệ giao tiếpcủa ngời Việt

Tiếng Việt có 17 từ biểu thị quan hệ thân tộc (cụ, ông, bà, bố, mẹ, bác,chú, cô, dì, cậu, mợ, anh, chị, em, con, cháu, đợc sử dụng trong xng hô ngoàixã hội

Do nhu cầu cuộc sống xã hội, phạm vi giao tiếp của mỗi thành viênkhông ngừng mở rộng, tính chất và mục đích của cuộc giao tiếp cũng nh mức

độ thân sơ của đôi bên giao tiếp không giống nhau Dựa trên mức độ quan hệgiữa đôi bên tham gia giao tiếp, xng hô phỏng theo xng hô thân tộc có thểdiễn ra ở hai trờng hợp

(1) Xng hô giữa những ngời đã quen

Xng hô giữa những ngời đã quen biết thờng theo cách xng hô đã đợc lựachọn trớc đó Có tác dụng thúc đẩy, cũng cố mối quan hệ đã sẵn có, làm cho

đôi bên gần gũi hơn, thân thiết hơn

(2) Xng hô giữa những ngời cha quen biết

Xng hô giữa những ngời cha quen biết thờng dựa vào những yếu tố nhtuổi tác giới tính, địa vị, một khi mối quan hệ này đã đợc xác lập thì cách xnghô này có tác dụng rút ngắn khoảng cách giao tiếp, tạo không khí thân mật,

Trang 15

gần gũi để hai bên tiếp tục duy trì mở rộng cuộc thoại.(dẫn theo Phạm NgọcHàm-tr 95)

Tuy nhiên, trong cách xng hô này cũng tuân thủ nguyên tắc “xngkhiêm hô tôn” để đạt đợc sự hợp tác và thoả mãn tính lịch sự trong giao tiếp.Xng hô phỏng theo xng hô thân tộc về thực chất là phỏng theo quan hệhuyết thống Thông qua cách xng hô này ngời nghe có thể hiện đợc mức độthân thiết nh con một nhà mà ngời nói dành cho họ

Tuy nhiên, xng hô phỏng theo xng hô thân tộc có nét khác biệt cơ bảnvới xng hô thân tộc Đối với quan hệ huyết thống, bề dới xng hô với bề trênbao gồm cả trực tiếp và gián tiếp đều chỉ biểu thị quan hệ thuần tuý danh từthân tộc mà không kết hợp với họ/tên Đối với quan hệ phi huyết thống ngời tacăn cứ vào hai yếu tố: tuổi tác và giới tính để lựa chọn biểu thị quan hệ thântộc phù hợp – Xng hô trực tiếp thờng cũng chỉ dùng danh từ biểu thị quan hệthân tộc, mặt khác khi cần thiết có thể kèm họ tên Việc lựa chọn cách xng hôhoàn toàn phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của ngời nói, ngời ta có thể đặtmình vào vị thế của con, cháu để xng hô với ngời ít tuổi hơn nh một cách xngthay, cũng có khi thêm đại từ nhân xng ngôi thứ ba vào trớc tạo tổ hợp xng hôphỏng theo xng hô thân tộc Đối với quan hệ phi huyết thống, ngời ta căn cứvào hai yếu tố: tuổi tác, và giới tính để lựa chọn danh từ biểu thị quan hệ thântộc cho phù hợp Xng hô trực tiếp thờng cũng dùng danh từ biểu thị quan hệthân tộc.Tuy nhiên, khi cần thiết có thể kèm họ tên Việc lựa chọn cách xnghô hoàn toàn phụ thuộc ý thức chủ quan của ngời nói Ngời ta có thể đặt mìnhvào vị thế của con, cháu mình để xng hô với ngời ít tuổi hơn nh một cách xngthay Cũng có khi thêm đại từ nhân xng ngôi thứ ba vào trớc tạo tổ hợp xnghô phỏng theo xng hô thân tộc

1.2.4 Xng hô bằng họ tên.

Cũng nh xng hô bằng đại từ nhân xng, xng hô bằng họ tên thờng khôngnói lên tiêu chí vị thế và đặc trng xã hội của ngời tham gia giao tiếp.Tuynhiên, trong tiếng Việt, khi nào dùng họ tên, khi nào dùng tên, khi nào dùngcả họ và tên đều có tác dụng thể hiện sắc thái trang trọng hay suồng sã củacuộc thoại

Họ tên đợc dùng trong giao tiếp với sắc thái ý nghĩa trung tính, thể hiện

sự bình đẳng giữa các thành viên trong xã hội Tuy nhiên, trong các môi trờnggiao tiếp khác nhau nhằm thể hiện sắc thái tình cảm hoặc trân trọng, thân mật,suồng sã mà bản thân cách xng hô bằng họ hoặc tên, cả họ và tên không thểhiện hết đợc Ngời ta thờng kết hợp họ/tên, hoặc họ tên với các thành tố biểu

Trang 16

thị xng hô khác để tạo thành cụm từ thân tộc, danh từ chỉ nghề nghiệp hoặc từxng hô thông dụng.

1.2.5 Xng hô bằng từ chỉ nghề nghiệp, chức danh.

Từ chỉ nghề nghiệp là từ chỉ những công việc đợc coi là nguồn sốngchính mà cá nhân theo đuổi, chẳng hạn nh công nhân, nông dân, giáo viên,bác sĩ…

Từ chỉ chức danh là từ chỉ những danh hiệu dùng để phân biệt đẳng cấpcủa các cán bộ công chức nh giao s, giảng viên, thạc sĩ

1.2.6 Xng hô bằng những từ xng hô thông dụng đồng chí “ ”

Từ “ đồng chí”vốn là từ ghép hợp nghĩa biểu thị những ngời có cùng chíhớng, cùng mục đích, cùng lí tởng Từ đồng chí xuất hiện cùng với sự ra đờicủa Đảng công sản Việt Nam,thể hiện tinh thần đoàn kết của những con ngờicùng chung lí tởng, cùng khát vọng Lúc đầu nó chỉ giới hạn trong tổ chứcnhỏ Sau này, khi cách mạng Việt Nam thành công (1945) và sau năm 1945-

1975 nó trở thành tên gọi chung, đến khi đất nớc độc lập, từ “đồng chí” vẫn

đ-ợc dùng trong các cuộc họp của các cơ quan đoàn thể…

Tuy nhiên, trong xã hội mới từ “đồng chí” đã dần dần bị thay thế khôngcòn mang tính phổ biến Từ đồng chí mang màu sắc chính trị rõ rệt khôngphân biệt độ tuổi và giới tính cũng nh không phân biệt vị thế xã hội cao thấp,mọi ngời đều có thể xng hô là “đồng chí” với những độ tuổi khác nhau có tiểu

đồng chí, có lão đồng chí Với những ngời lạ mặt mặc dù cha rõ thân thế củangời ta vẫn có thể xng bằng từ đồng chí vừa thân mật vừa trang trọng, đợc ng-

ời nghe chấp nhận một cách thoải mái

1.3 Chiến lợc giao tiếp - xng hô.

Một cuộc giao tiếp đợc coi là thành công phải đảm bảo hai điều kiện :(1) Hoàn thành chuyển tải thông tin

(2) Ngời nói đã tuân thủ chuẩn văn hoá -xã hội nhất định Nếu chỉchuyển tải đợc thông tin mà phạm vào chuẩn văn hoá xã hội thì giao tiếp kémhiệu quả

Nói đến giao tiếp ngôn ngữ không thể không nói đến nguyên tắc giaotiếp Nguyên tắc giao tiếp là một loạt những quy định mà ngời nói nếu khôngtuân thủ thì sẽ làm cho giao tiếp thất bại

Chiến lợc giao tiếp là một loạt những biện pháp làm thuận lợi cho giaotiếp, làm cho hành vi ngời nói phù hợp với chuẩn xã hội

Sự khác nhau giữa chiến lợc giao tiếp và nguyên tắc giao tiếp là nguyêntắc giao tiếp làm sao để cuộc giao tiếp không thất bại Còn chiến lợc giao tiếpquan tâm giao tiếp làm sao tiếp cận đến mục đích càng hiệu quả càng tốt

Trang 17

Tuy vậy, con ngời khi tiến hành giao tiếp đều tự giác hay không tự giác sửdụng những chiến lợc nhất định hoặc đối sách thoả đáng, nhằm thực hiện mục

đích chung về giao tiếp Vì thế, giao tiếp ngôn ngữ trên thực tế là vận dụngcác chiến lợc giao tiếp

“Trong giao tiếp xng hô, để thực hiện một hành vi nào đấy với ngời đốithoại ngời tham gia giao tiếp thông thờng chú ý đến mục đích xng hô củamình, Để làm điều đó thành công, ngời giao tiếp phải tuân thủ nguyên tắc giaotiếp xng hô và phải một chiến lợc- chiến lợc giao tiếp xng hô” [23 tr 64] (dẫntheo Nguyễn Thành Kim –tr 45)

Có thể nói ở đâu có giao tiếp thì ở đó có xng hô Giao tiếp với t cách làcái thứ nhất, xng hô là cái thứ hai Giao tiếp bao giờ cũng diễn ra trong từnghoàn cảnh và tình huống cụ thể Do vậy, xng hô cũng phải đợc xem xét trongtừng hoàn cảnh và tình huống giao tiếp cụ thể

Việc lựa chọn thích hợp từ xng hô cho phép mở ra một quan hệ tơng ứnghoặc ngợc lại, nếu cặp xng hô không thích hợp sẽ không thiết lập đợc quan hệnào hay chỉ là quan hệ bất lợi cho giao tiếp

Nh vậy, việc sử dụng đúng, thích hợp từ xng hô trên cơ sở các quan hệ cánhân giữa chủ thể với đối tợng giao tiếp, trong từng hoàn cảnh và tình huốnggiao tiếp cụ thể là một trong những biểu hiện của chiến lợc giao tiếp xng hô.Bên cạnh đó, việc thay đổi các từ xng hô cũng là một biểu hiện của chiến lợcgiao tiếp Mặc dù vậy, có thể khẳng định rằng, trong một diễn biến giao tiếp,việc thay đổi cặp từ xng hô này bằng một cặp từ xng hô khác hàm chứa thái

độ và chiến lợc giao tiếp của ngời sử dụng trong một hoàn cảnh giao tiếp cụthể (dẫn theo Nguyễn Thành Kim –tr47)

Trong một ngôn ngữ bên cạnh những cặp xng hô đối xứng nh: Tao –mày, tớ – cậu, anh – em, ông/ bà - cháu, bố/ me - con… Chúng ta còn bắtgặp không ít trờng hợp phi đối xứng, hay nói chính xác là xng hô tơng ứngkhông chính xác Chẳng hạn, thủ trởng – em, giám đốc - cháu, ông/ bà - con/

em, bố/ mẹ- em, ông/ bà/bố/ mẹ – tôi/ tui… “Việc xng hô tơng ứng khôngchính xác là một chiến lợc giao tiếp của ngời sử dụng Có thể nhằm mục đíchkéo gần khoảng cách các quan hệ cá nhân; bộc lộ sự thân thiết, mong muốngần gũi hơn trong quan hệ giao tiếp, quan hệ tình cảm, hoặc thể hiện sự xung

đột, thái độ không tôn trọng lẫn nhau giữa các bên tham gia giao tiếp”{23tr63} (dẫn theo Nguyễn thành Kim –tr49)

Trong giao tiếp, đặc biệt là trong xng hô thờng xuất hiện những khuônmẫu xng hô Theo tác giả Nguyễn Văn Chiến [23,tr63] trong giao tiếp, nhiều

Trang 18

hành vi ngôn ngữ đã đợc hiện thực hoá thành những khuôn mẫu Khuôn mẫugiao tiếp, thờng mang những đặc trng thành khuôn riêng về ngữ âm, từ vựng -ngữ nghĩa và cấu trúc cú pháp Xng hô là một hành vi ngôn ngữ đợc hiện thựchoá thành những khuôn mẫu-những khuôn mẫu xng hô thờng gặp.

Tính khuôn mẫu xng hô trong giao tiếp trớc hết đi theo hai kiểu: (1) kiểu

x-ng hô x-nghi thức bắt buộc; (2) kiểu xx-ng hô khôx-ng x-nghi thức tự do tuỳ tiện

Xng hô nghi thức là kiểu xng hô lịch sự, bắt buộc trong các nghi lễ ngoạigiao, trong nhiệm sở, trong lễ nghi tôn giáo, trong nhà trờng riêng Đây làcách xng hô quy phạm, có chuẩn mực riêng

Xng hô không nghi thức là những hành vi xng hô ngoài xã hội, khôngtheo quy phạm thông thờng bắt buộc Các khuôn mẫu xng hô đợc hiện thựchoá dới hai dạng:(1) dạng hiển ngôn (với các yếu tố xng hô bằng lời) (2)dạnghàm ngôn (với các yếu tố xng hô phi lời ) Dạng thứ nhất có hai biến thể: xnghô hiển ngôn theo khuôn mẫu thông dụng và xng hô hiển ngôn theo khuônmẫu đặc biệt Dạng thứ hai cũng có hai biến thể: xng hô hàm ngôn chủ quan,khách quan

Trong giáo trình “ Ngỗn ngữ học xã hội – những vấn đề cơ bản –tr25”GSTS Nguyễn Văn Khang đã chỉ ra những khuôn mẫu xng hô thờng gặp tronghoạt động giao tiếp

9 Gọi bằng một trong các chức danh

10 Xng hô bằng tên của ngời thân thuộc nh tên của chồng, vợ, con (cáchgọi thay vai)

11 Gọi bằng tên của ngời thân thuộc (chồng ,vợ, con)

E/ Xng hô bằng sự kết hợp (1),(2),(3),(4)

Trang 19

12 Gọi bằng các kết hợp khác nhau ( thí dụ: chức danh+tên +chức danh+ họ tên +từ xng hô + họ tên/tên)

F/ Xng hô bằng sự khuyết vắng từ xng hô.

13 Không xuất hiện từ xng hô trong giao tiếp (khuyết vắng từ xng hô)

Đối chiếu cách xng hô trong tiếng Việt có thể thấy, tất cả các khuônmẫu xng hô trên đều đợc sử dụng nhng mức độ khác nhau hoặc rất khác nhau:Cách xng hô phổ biến trong giao tiếp tiếng Việt là các khuôn mẫu (1),(3), (6), (7), (8), (11)

Cách xng hô (9),(12), thờng dùng trong giao tiếp hành chính; (10) Đặcbiệt mang tính trọng thể

Cách xng hô (13) thờng dùng trong giao tiếp thân mật hoạc đợc dùng nhmột chiến lợc giao tiếp

Cách xng hô (4),(5) thờng dùng trong một số trờng hợp giao tiếp nh, toà

án, điểm danh…

Bên cạnh đó, trong giao tiếp xng hô tính lịch sự và tính lễ phép cũng rất

đợc chú trọng Đây là hai nhân tố tác động rất lớn đến sự thành công tronggiao tiếp Ngoài ra trong xng hô còn chịu sự tác động của các nhân tô xng hônh: nhân tố tuổi tác, nhân tố vị thế của ngời tham gia giao tiếp và động cơ giaotiếp với cách lựa chọn từ xng hô

Mặt khác, với việc thể hiện “ xng khiêm hô tôn” và “nâng vai”, “hạ bậc”,

đây là một trong nét văn hoá truyền thống của ngời Việt, cũng là một biểuhiện của chiến lợc giao tiếp xng hô

1.4 Nguyễn Công Hoan và truyện ngắn của ông.

Nguyễn Công Hoan sinh ngày 16 tháng 3 năm 1903 tại làng Xuân Cầu,xã Nghĩa Trụ, huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc tỉnh Hng Yên),trong một gia đình nho học Ông thân sinh là Nguyễn Đạo Khang làm huấn

đạo Vì nhà nghèo lại đông anh em nên năm lên bốn tuổi, Nguyễn Công Hoan

đợc ngời bác là Nguyễn Đạo Quán nuôi cho ăn học Ông là ngời luôn chămsóc việc học hành cho con cháu, thích su tầm phơng ngôn soạn sách dạy chữnho với đề tài Việt Nam Bà nội ông hay dạy truyền khẩu nhiều thơ phú,truyện cổ dân gian cho các cháu nên niêm luật của thơ ca, thanh điệu củangôn ngữ và sự say mê văn học đã thấm dần vào ông ngay từ hồi thơ ấu

Năm lên 6 tuổi, Nguyễn Công Hoan học chữ nho, rồi chuyển sang họcchữ Pháp Khi 9 tuổi, ông bắt đầu lên Hà Nội học trờng Bởi Năm 1922 Ôngthi đỗ vào trờng s phạm và đến năm 1926 thì đi dạy, ông bắt đầu viết văn từnăm 1920 lúc đang học ở trờng Bởi

Trang 20

Sự nghiệp Nguyễn Công Hoan không chỉ có truyện ngắn Trớc cáchmạng tháng tám, ông là tác giả của nhiều truyện dài Tuy nhiên, nói đến tàinăng của Nguyễn Công Hoan và phong cách độc đáo của ông, ngời ta đềunhớ đến một nhà truyện ngắn – truyện ngắn trào phúng Điều này chẳngnhững các nhà nghiên cứu văn học nhận thấy mà chính nhà văn cũng nhậnthấy nh vậy.: “Vốn tôi a viết truyện ngắn mà lại truyện ngắn trào phúng, chuachát …” Trong cuốn đời viết văn của tôi Nguyễn Công Hoan nhấn mạnh “Tôi

đặt nhiều công phu vào việc viết truyện ngắn, chứ không phải vào việc viếttruyện dài Tôi chỉ viết truyện dài khi nào tôi lời tìm đề tài để viết truyệnngắn”

Nguyễn Công Hoan sáng tác truyện ngắn từ những năm 20 của thế kỷ

XX với tập truyện đầu tay “Kiếp Hồng Nhan” Tuy không mấy tiếng vang vàsau này không đợc chú ý, nhng đó là một dấu ấn quan trọng, bộc lộ tinh thần,

t tởng cơ bản của Nguyễn Công Hoan, nh ghét bọn quan tân học, luyến tiếcnhà nho cũ, có ý thức dân tộc, có khuynh hớng bại ngoại, chống sự bất côngvô lí trong lối thi cũ, và có khuynh hớng trào phúng Nhng tài năng của ôngchỉ thực sự nở rộ từ những năm 1930 Tập truyện ngắn “ Kép T Bền”, ra đờinăm 1935 đã là đầu đề của cuộc tranh lụân nổi tiếng về quan điểm nghệ thuậtgiữa một bên là Hải Triều và một bên là Hoài Thanh Hải triều nhà phê bìnhmác xít “Đang không biết tìm đâu ra cái chứng cớ đích xác về cái trào lu nghệthuật “vị nhân sinh”, thì nay đã vui mừng nhận thấy “Kép T Bền”, đúng là mộtminh chứng cụ thể, sinh động cho những minh chứng của mình” Hải Triềuviết bài khen Nguyễn Công Hoan miêu tả đợc những cảnh ngang trái, bất côngtrong xã hội và đã quan tâm đến những ngời nghèo khổ Hải Triều nêu lên tínhchất hiện thực, giá trị xã hội , đồng thời là giá trị nghệ thuật của “Kép T Bền”.Bản thân nhà văn trong “Đời viết văn của Tôi” Ông viết “Việc cuốn Kép

T Bền đợc hoan nghênh làm cho tôi tin rằng Tôi viết nốt tiểu thuyết và tôi cóthể theo đuổi đợc nghề viết văn” (Đời viết văn của Tôi, tr- 188)

Bớc sang thời kì mặt trận dân chủ (1936), Nguyễn Công Hoan viết càngmạnh mẽ, sắc sảo, đề tài khai thác thêm đa dạng, đa diện hơn trớc Ông đã đỡ

đợc phần nào tình trạng “muốn nói mà không nói lên lời” Trong một thờigian không lâu, ông viết tới 30 truyện ngắn, vạch mặt, kể tội bọn quan lại, đivào nhiều mặt, nhiều vẻ và nhấn vào bản chất của chúng hơn (Đồng hào có

ma, Thằng ăn cớp, Thịt ngời sống…) Ông khai thác cả một số đề tài mà trớc

đây cha có điều kiện đề cập đến nh về công nhân (Sáng, chị phu mỏ), hoặc kín

đáo đã kích bọn thực dân Pháp và tên vua bù nhìn Bảo Đại

Trang 21

Từ khoảng năm 1940 đến năm 1945, tâm trạng Nguyễn Công Hoan nóichung là lúng túng Khủng hoãng về t tởng dao động về quan điểm nghệ thuật.Sáng tác truyện ngắn của ông cũng vì thế mà sút kém, thậm chí bế tắc Chínhnhà văn cũng tự nhận nh thế “Đời viết văn của tôi cho đến năm 1943 có thểgọi là tàn tạ, sắp chết ”.

Nếu kể từ truyện viết đầu tiên năm 1920 đến năm 1943 (Tức là thời kì

tr-ớc cách mạng), thì Nguyễn Công Hoan đã sáng tác đợc một khối lợng cảtruyện ngắn (hơn 200 truyện) và truyện dài (khoảng hơn 20 truyện) Đâychính là thời kì chủ yếu tạo nên sự nghiệp lẫy lừng của nhà văn Nhng phảithấy mặt sở trờng và kết tinh tài năng của Nguyễn Công Hoan là ở truyệnngắn và hầu hết truyện trào phúng

Với một khối lợng tác phẩm đồ sộ và một lối viết văn độc đáo của mình,trong cách xây dựng nhân vật - đặc biệt là quan hệ ứng xử xng hô trong giaotiếp của các nhân vật rất đa dạng và linh hoạt trong từng hoàn cảnh, đã là cơ

sở cho chúng tôi tiến hành nghiên cứu, khảo sát đặc điểm cách xng hô của cácvai giao tiếp trong truyện ngắn của ông

Tiểu kết chơng 1

Từ những điều trình bày ở trên có thể rút ra một số điểm nh sau:

(1) Xng hô là lối ứng xử văn hoá của con ngời trong quan hệ giao tiếp xãhội đợc thể hiện bằng cách lựa chọn, sử dụng các từ để xng hô “Xng” cónghĩa là tự mình gọi mình, là khi nói với ngời khác Biểu thị tính chất của mốiquan hệ giữa mình với ngời ấy, đó là hành động tự quy chiếu của ngời nói

“Hô” là nhắc đến ai, là gì đó khi nói tới hoặc nói về ngời ấy, biểu thị tính chấtcủa quan hệ giữa ngời ấy với mình

(2) Từ xng hô là những từ dùng để “xng” (tự xng) hoặc để “hô” (gọi),một ngời nào đó khi ngời đó ở một ngôi giao tiếp nhất định Chức năng chủyếu của từ xng hô là thiết lập quan hệ tiếp xúc giữa những ngời tham gia giaotiếp và duy trì diễn biến giao tiếp Cùng với đó từ xng hô còn có chức năngbiểu lộ thái độ, tình cảm, cũng nh vị thế của các nhân vật tham gia giao tiếp.Trong một ngôn ngữ các từ xng hô đợc tập hợp từ nhiều lớp từ loại khác nhau

đợc đem ra sử dụng để xng hô Có thể quy chiếu chúng vào hai nhóm lớn: các

đại từ nhân xng chuyên dùng và từ xng hô lâm thời, bao gồm: các danh từ chỉquan hệ thân tộc, các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp; các từ chỉ quan hệ bạn

bè, đồng nghiệp; các từ chỉ nơi chốn; họ, tên riêng của ngời

(3) Trong giao tiếp, nhiều hành vi ngôn ngữ đợc hiện thực hoá thànhnhững khuôn mẫu – những khuôn mẫu giao tiếp xng hô Mặt khác để thực

Trang 22

hiện hành vi ngôn ngữ nào đấy với ngời đối thoại, ngời tham gia giao tiếpthông thờng chú ý đến mục đích và hiệu quả giao tiếp, Muốn vậy, bên cạnh đóphải tuân thủ nguyên tắc giao tiếp, chiến lợc giao tiếp , và sử dụng đúng từ x-

ng hô một cách thích hợp để đạt hiệu quả giao tiếp

(4) Từ xng hô và cách xng hô trong giao tiếp ngôn ngữ thể hiện sinh

động trong một bối cảnh văn hoá nhất định, chịu sự chi phối của nhiều yếu tố,nhân tố, nh: nhân tố tuổi tác, nhân tố vị thế của ngời tham gia giao tiếp và cả

động cơ giao tiếp với cách lựa chọn từ xng hô

(5) Bên cạnh đó, trong giao tiếp các vai tham gia giao tiếp cũng phải chú

ý đến tính lịch sự trong xng hô, với truyền thống “xng khiêm hô tôn”, ngời

x-ng thờx-ng chú ý hạ bậc để nâx-ng bậc x-ngời x-nghe thể hiện sự tôn trọx-ng trox-ng giaotiếp cũng nh lối ứng xử mang đậm tính văn hoá

(6) Trên cở sở khảo sát các truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan Chúngtôi thấy, cần phải đi sâu để tìm hiểu về cách xng hô của các nhân vật trongtừng hoàn cảnh giao tiếp Đó cũng là nội dung của chơng II mà chúng tôimuốn trình bày

Trang 23

Chơng 2: cách xng hô CủA CáC VAI GIAO TIếP trong

truyện ngắn của nguyễn công hoan

2 Nhận xét chung.

Trong giao tiếp, để đạt đợc hiệu quả giao tiếp, thì chủ thể giao tiếp phảilựa chọn cách xng hô sao cho phù hợp với hoàn cảnh cũng nh đối tợng giaotiếp Xng hô trong tiếng Việt, là một tập hợp nhiều từ loại khác nhau với nhiềusắc thái khác nhau Vì vậy, cũng dẫn đến những cách xng hô khác nhau nh: x-

2.1 Xng hô bằng đại từ nhân xng.

Đại từ nhân xng, là những đại từ biểu thị sự khác biệt trong xng hô conngời nh: tôi, anh, nó, mày, ngài nàng, chàng, chúng bay, chúng mày Bọn tao,bọn mày…

Theo chúng tôi, đại từ nhân xng là những đại từ chỉ ngời dùng để xng gọicác thành viên tham gia giao tiếp trực tiếp hoặc gián tiếp đợc chia làm ba ngôivới số lợng không nhiều bao gồm

- Đại từ nhân xng ngôi thứ nhất (số ít, số nhiều)

- Đại từ nhân xng ngôi thứ hai (số ít, số nhiều)

- Đại từ nhân xng ngôi thứ ba ( số ít, số nhiều)

Trong tiếng Việt có khoảng 38 từ xng hô bằng đại từ nhân xng, nhng tần

số xuất hiện của lớp từ này lại là khá lớn và chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong quan hệ giao tiếp, dới đây là bảng thống kê đại từ nhân xng trong tiếng Việt

Trang 24

ít

Nhiều

Lão, mụ, thị, nó, hắn, gã, yChúng, ngời ta, bọn chúng, bọn hắn, chúng nó, họ

Bảng thông kê đại từ nhân xng xuất hiện trong cách xng hô của các nhânvật trong truyện ngắn

I

ít

Tôi Mình Ngời ta Ta Tao

338 23 142 37 59

Nhiều

Chúng ta chúng mình Chúng tao Chúng tôi Bọn tao

14 5 1 64 2

II

ít

Mày Ngài Ngời Nàng

60 52 36 1

Nhiều

Chàng Các ngời Bay Chúng mày Bọn bay Các ngài Bọn

5 7 1 8 17 2

Nó Lão

19 149 2

Trang 25

Họ Chúng Chúng nó Bọn họ Chúng con Chúng bay

80 14 11 4 15 8

Tuy nhiên, có một diều đáng lu ý là, trong những truyện ngắn chúng tôitiến hành kháo sát, có những đại từ nhân xng hầu nh không hề xuất hiện trongbất kì truyện nào chẳng hạn nh: tớ, thiếp, mụ, gã, y, thị

Nhng, ngợc lại, nhìn vào bảng thống kê ta thấy lại có những từ xuất hiệnvới số lợng lớn nh đại từ nhân xng “tôi” là 338 lần, “ngời ta”142 lần, “nó”149lần, “họ” 80 lần, “mày”60 lần Nhng cũng có những từ xuất hiện với số lợngrất ít nh từ “bay”1 lần, “chúng tao”1 lần, “nàng” 1lần Và cũng có những từxuất hiện ở mức trung bình nh: “chúng”14 lần, “chúng ta”16 lần, “chúngmày”8 lần Điều này cho thấy, vốn từ nhân xng trong tiếng Việt đợc NguyễnCông Hoan sử dụng trong truyện ngắn của ông là không cân xứng theo ý đồgiao tiếp của các nhân vật

ng hô của các nhân vật

(1) Xng hô bằng đại từ nhân xng tôi trong quan hệ giao tiếp giữa“ ”

ngời xng và ngời hô có vai quan hệ ngang bằng trong xã hội

Cách xng hô này, chủ yếu diễn ra trong quan hệ giao tiếp giữa tầng lớpquan lại địa chủ với nhau Bên cạnh đó, vẫn có một số cách xng hô kiểu nàytrong tầng lớp ngời lao động, nông dân nghèo khổ

Chẳng hạn qua cách xng hô dới đây ta thấy đợc mối quan hệ giao tiếpcủa tầng lớp quan lại địa chủ với nhau

- “Này về phận tôi năm nay, tôi cũng xin nh năm ngoái

Ông Chánh hội gật đầu

- Tôi cũng chỉ có thế thôi vậy

-Tôi cũng theo các ông Nhất là cách tôi không cần”[tr.305- T2]

Trong đoạn hội thoại trên, ta thấy những ngời giao tiếp ở đây thuộc vaicùng nhau đều là tầng lớp quan lại địa phơng, cho nên khi giao tiếp với nhau

Trang 26

họ dùng đại từ nhân xng “tôi” mang sắc thái trung tính không phân biệt kẻtrên ngời dới mà là quan hệ ngang bằng trong xã hội khi những ông quan làngnày bàn với nhau về chuyện đi tết quan trên.

Ngoài việc đại từ nhân xng “tôi”, kết hợp với các đại từ nhân xng cùngngôi hay khác ngôi để thể hiện cách xng hô ngang vai trong quan hệ giao tiếp,thì đại từ nhân xng “tôi” còn kết hợp với các từ xng hô lâm thời làm cho cáchxng hô trở nên sinh động và phong phú Chẳng hạn nh “tôi” “cô” cũng chỉquan hệ giao tiếp ngang bằng

(1) “Ôi thôi! Tôi lạy cô, nhỡ cô đổ bệnh cho tôi, thì tôi bỏ mẹ tôi”[tr.114- T1]

(2) “Thôi.Tôi chắp tay tôi van cô, cô thơng thì mời cô xuống xe cho tôivề” [tr.114- T1]

Thoạt đầu khi đọc hai câu văn trên ngời đọc tởng rằng đây không phải làcách xng hô có quan hệ giao tiếp ngang vai với nhau giữa “tôi”-“cô” Nhngthực ra đây là cách xng hô ngang vai với nhau giữa hai nhân vật xa lạ khôngquen nhau Nhng vì hoàn cảnh đã xô đẩy họ gặp nhau, một bên là cần tiền cònmột bên là không có tiền cũng đang đi kiếm tiền, để nuôi thân

Trong tất cả sự kết hợp của đại từ nhân xng “tôi”, với các từ xng hô khác

để thể hiện quan hệ ngang bằng Thì sự kết hợp giữa “tôi”- “anh” là cặp xnghô mang sắc thái trung tính nhất, thể hiện rõ quan hệ ngang vai với nhau tronggiao tiếp

“Ê Rũng Tôi chia buồn cùng anh” [tr.136- T1]

Chỉ cần qua cách xng hô này, ta thấy ngời xng và ngời hô có một quan hệrất thân thiết trong quan hệ bạn bè Và đồng thời qua cách xng hô, ta thấy, không

có sự phân bậc trong lời thọai mà chỉ sự quan tâm của bạn bè với nhau

(2) Cách xng hô dùng đại từ nhân xng tôi thể hiện quan hệ trên d“ ” ới.

Cách xng hô này diễn ra chủ yếu trong quan hệ giao tiếp giữa tầng lớpquan lại, địa chủ, cờng hào, ông chủ với những ngời nông dân, ngời lao độngnghèo khổ Điều đó cũng dễ hiểu bởi vì truyện ngắn của Nguyễn Công Hoanchủ yếu tập trung xoáy sâu vào hai mối quan hệ giao tiếp này

(+) Với quan lại địa chủ cờng hào, điển hình là những ông lí, ông hội,

ông chánh tổng, cụ th kí thì trong quan hệ xã hội khi giao tiếp với ngời dân họvẫn thể hiện mình là bề trên, là cha mẹ “phụ mẫu” còn những con dân vẫn là

kẻ dới

- “Ông quản cố xua tay cho mạnh, cố lắc đầu cho nhanh, cố nhăn mặtcho ra vẻ tức giận, nói

Trang 27

Chẳng có thì tôi đa chị lên quan” [tr.425- T1]

Cặp xng hô “tôi”- “chị” chỉ hai vai quan hệ giao tiếp khác nhau, địa vịkhác nhau “Tôi” ở đây là cụ quản đờng thuộc vai trên, còn chị Cu Sứt ở vai d-

ới Khi quan lộ tỏ thái độ quyền uy của mình không cho chị Cu Sứt chôn mẹchồng vì chị cha nộp tiền mải lộ Thật là trớ trêu ngời chết nằm xuống thìkhông biết gì , còn ngời sống thì phải dỡ khóc, dỡ cời khi báo tin nhà có ngờimất cũng phải nộp tiền, đến khi đi chôn lại phải nộp tiền mải lộ Thật là phi lí

và nực cời, nhng nó lại phản ánh đúng cảnh sống dỡ, chết dỡ của ngời nôngdân am trong gia đoạn 30- 45

(+) Bên cạnh đó, cách xng hô bằng đại từ nhân xng “tôi” không chỉ đợcthể hiện trong quan hệ giao tiếp giữa quan lại với những ngời nông dân Mà nócòn thể hiện trong mối quan hệ giao tiếp gia đình giữa cha và con

-“Tôi báo cho anh biết, tôi cũng nghèo thật nhng tôi lấy cái của anh đểtôi phải tội lòi mắt”[tr.287-T1]

- “Tôi đi về ông bà xử sự với tôi nh thế,thì tôi còn mặt mũi nào nữa!”[tr.288-T1]

Cặp xng hô tôi-anh thờng mang sắc thái trung tính, nhng tôi – anh ở đâykhông phải trong quan hệ ngang bằng giữa ngời xng và ngời hô Mà tôi – anh

ở đây là quan hệ là cha con, cha xng “tôi” còn gọi con bằng “ anh” Dờng nh,

đờng sau cách xng hô rất tôn trọng này, là một sự sỉ nhục mà ngời con gắncho cha và là một sự băng hoại về đạo lí con ngời Chỉ vì sợ tốn kém mà ôngquan tham không còn chú ý đến mối quan hệ cha con Nhẫn tâm nghi ngờ

ông bố ăn cắp chiếc ví của mình, mà trên thực tế ông ta đâu có mất nó

(+) Ngoài ra, còn phải kể đến trong cách xng hô dùng đại từ nhân xng

“tôi” còn thể hiện trong quan hệ giao tiếp giữa ông chủ và ngời làm thuê (1) -“Tôi rất tin ông về tiền nong, nhng tôi không tin đợc cái lẽ, ông nóirằng ông yếu” [tr.381-T2]

(2) -“Tôi, tôi ở Hải Dơng đây

- à tha cụ cụ gọi việc gì thế ạ “[tr.381-T2]

Cũng là cặp xng hô tôi- ông nhng ngời xng vẫn ở hàng trên với ngời đợcxng Ngời xng là ông chủ xng bằng tôi, còn ngời hô đợc gọi một cách trangtrọng bằng ông nhng vẫn là ngời làm thuê Quan hệ ở đây vẫn là quan hệ giữa

ông chủ và ngời làm thuê

(3) Xng hô giữa ngời dới với ngời trên.

Cách xng hô này vẫn chủ yếu diễn ra trong quan hệ giao tiếp giữa quanlại, địa chủ và ngời nông dân, giữa ngời lao động làm thuê với ông chủ

Trang 28

Trong truyện “Ngời thứ ba”, cũng là cách xng hô bằng đại từ nhân xng

“tôi” trong quan hệ giao tiếp của chị cu Sứt với t cách là ngời thuộc vai dới

x-ng hô vơi bọn quan lại bằx-ng đại từ nhân xx-ng “tôi”

-“Thôi, tôi lạy ông, tủi vong linh mẹ tôi lắm ông ơi!” [tr.424 – T2] Điều này cho thấy, mối quan hệ giữa ngời nông dân với tầng lớp thốngtrị dã có sự xoá dần về khoảng cách xng hô không còn là cách xng hô bằng từ

“con” nh cách xng hô thông thờng mà ngời nông dân hay dùng trong khi xnghô với tầng lớp trên

Cách xng hô bằng đại từ nhân xng này, thờng chỉ chỉ diễn ra trong mốiquan hệ giữa ngời nông dân và tầng lớp quan lại, nhng cũng có lúc nó lại xảy

ra ngay trong cách

xng hô của các quan lại với nhau

- “Thì cái tết tháng mời vừa rồi, tôi ỳ ra đã làm gì nổi tôi, tôi biết rằngLão ấy căm tôi lắm”[tr.304 – t2]

Trong cách xng hô này ngời xng “tôi” là một lí trởng trong làng, còn

ng-ời đợc gọi là “lão ấy” là một vị quan trên Quan hệ giao tiếp giữa ngng-ời xng vàngời đợc nhắc tới là quan hệ kẻ dới xng với ngời trên nhng không hề có sự tônkính mà trái lại là sự coi thờng của kẻ dới với ngời trên

Ngợc lại không phải lúc nào trong cách xng hô của kẻ dới cũng thể hiệnthái độ bất hoà đối với ngời trên, trong quan hệ giữa ông chủ và ngời làm thuê -“Tôi hết lòng giúp cụ, mà cụ thì thực yêu thơng tôi”[tr.352- T2]

Cách xng hô này, lại hoàn toàn trái ngợc với cách xng hô trên Trongcách xng hô, ta thấy ngời xng thể hiện một thái độ rất ân cần và lễ phép trongkhi nói về ngời trên, mặc dù bề trên không trực tiếp xuất hiện trong cuộcthoại

(4) Cách xng hô bằng đại từ nhân xng tôi trong quan hệ vợ chồng“ ” Trong cách xng hô này, chúng tôi chỉ tiến hành khảo sát trong phạm vixng hô giữa các cặp vợ chồng trong gia đình quan lại và một số cách xng hôtrong quan hệ giao tiếp giữa vợ chồng của ngời nông dân

Trong xã hội thực dân phong kiến, các quan lại địa phơng không chỉdùng tiền để mua quan bán tớc Mà đôi khi bọn chúng còn bất chấp cả luân th-ờng đạo lý gia đình Điều đó lại xảy ra ở những vị quan đợc xem là phụ mẫu,chỉ vì muốn thăng quan nhanh đã tìm đủ mọi cách trong đó có cách bắt vợ đingủ với quan trên để đợc thăng quan

(1) – “Kìa tôi tởng mợ sắm sửa xong rồi [tr 502 T1]

(2) – Tôi nhức đầu quá, mà cơm cúng ở nhà cũng cha sắp sửa đợc gì cả

Trang 29

Tôi chịu thôi” [tr.502 - T1]

(3) - “ à tôi là vợ cậu, là vợ mà chồng bảo không nghe

Tôi cắn rơm, cắn cỏ tôi lạy cậu, cậu tha cho tôi” [tr.504 T1]

Qua ba mẫu đối thoại trên, ta thấy cách xng hô bằng đại từ nhân xng tôi

đợc thay vai liên tục Nếu nh ở (1) là cách xng hô của chồng thì ở (2), (3) lại

là cách xng hô của ngời vợ khi bị chồng bắt ép đi ngủ với quan trên, cho dù làkhông muốn và đã có sự phản kháng nhng sự phản kháng mang tính yếu ớt.Nhng ngợc lại quan chồng vẫn thể hiện một thái độ dứt khoát buộc vợ phải đilàm chuyện lỗi đạo mà bà không muốn

(+) Ngoài cách xng hô dùng đại từ nhân xng “tôi” trong quan hệ vợchồng nói trên thì trong quan hệ vợ chồng của những ngơì nông dân cũng đợcthể hiện

(1) “Này u nó quan đã cắt tôi rồi” [tr.458 T1]

(2) “Thôi Tôi van thầy nó đừng dại dột” [tr.459 T1]

Cặp xng hô u nó – tôi, thầy nó – tôi thể hiện mối quan hệ vợ chồngbình dị của những ngời nông dân Trong cách xng hô (1) ngời chồng xng tôigọi vợ là u nó trong cách xng hô (2) đã có sự chuyển đổi khi ngời vợ xng lạibằng đại từ nhân xng tôi

(5) Dùng đại từ nhân xng tôi với t“ ” cách là tự xng

Trong quan hệ giao tiếp ngoài việc từ xng hô dùng để “hô” còn dùng đểxng (tự quy chiếu mình) trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan cách xnghô tự xng là không nhiều Điều đó có thể dễ dàng lý giải, bởi vì chuyện ngắncủa ông tập trung đi sâu phản ánh mâu thuẫn giữa quan lại địa chủ và ngờinông dân Đồng thời là sự tái hiện lại những chân dung xấu xa dơ bẩn củatầng lớp quan lại và sự cảm thông trớc những nỗi khổ cực của ngời nông dân

Có thể nói truyện ngăn của Nguyễn Công Hoan chủ yếu thể hiện trên bìnhdiện bề mặt xã hội Truyện của ông không đi sâu vào khai thác nội tâm củanhân vật Nhng không vì thế mà mất đi cách xng hô tự xng của nhân vật.Chẳng hạn trong truyện “Mánh khoé” nhà văn đã để cho nhân vật tự xngmình

- “Thế cho nên tôi mới lấy tên là mạng lãng tử” [tr.476 T1]

Đây là cách tự xng của chính nhân vật khi sử dụng cách xng hô bằng đại

từ nhân xng tôi Mục đích thông báo cho ngời đọc biết tên tôi là “lảng mạntử”

Qua những vấn đề trình bày ở trên, ta thấy đại từ nhân xng tôi là một đại

từ thông dụng có mặt hầu hết trong quan hệ giao tiếp giữa các vai giao tiếp

Trang 30

Cách xng hô rất linh động và phong phú Đặc biệt là khả năng kết hợp giữa

đại từ này và các đại từ khác là rất đa dạng

2.1.2 Cặp xng hô tao- mày “ ”

Cặp đại từ nhân xng tao – mày, mày – tao, xuất hiện trong giao tiếptiếng Việt, cũng nh trong cách xng hô trong truyện ngắn của Nguyễn CôngHoan thờng mang những sắc thái tình cảm suồng xã hoặc thân mật hoặckhiếm nhã Tuy nhiên, cách xng hô này, phải tuỳ thuộc vào ngữ cảnh giao tiếp

cụ thể mới có thể xác định đợc Chẳng hạn nh cha (mẹ) xng hô với con bằngmày – tao, tao- mày trờng hợp này có hai khả năng xảy ra hoặc suồng sã thânmật hoặc thể hiện thái độ bất hoà Dựa trên cơ sở lý thuyết đó, chúng tôi tiếnhành khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan để tìm hiểu về cách xng hômày – tao, tao- mày qua một số truyện, chúng tôi thấy hai trờng hợp nói trên

đều xuất hiện trong cách xng hô của các nhân vật tham gia giao tiếp

2.1.2.1 Cặp xng hô mày “ – tao , tao- mày thể hiện thái độ suồng” “ ”

sã thân mật trong quan hệ giao tiếp giữa cha (mẹ) với con, trong những gia

đình nông dân.

Trong truyện “Hai mẹ con”, Nguyễn Công Hoan đã sử dụng rất thànhcông cặp xng hô tao – mày, mày – tao trong mối quan hệ giao tiếp giữa mẹcon Cách xng hô này, không thể hiện thái độ bất hoà hoặc thiếu sự kính trọng

mà ngợc lại nó thể hiện một cách xng hô thân mật, gần gũi, tự nhiên rất đúngvới bản chất chân thật của ngời nông dân

“Biết sợ gì! Có hoạ tao là trẻ con mày mới phải dạy

………

- Mày đi mấy rồi còn gì lần này thì phần tao [tr.436 - T2]

- “Mày mới lấy củi về thì ở nhà, chốc nữa thổi cơm cho tao” [tr.436 - T2] Qua cách xng hô trên, ta tởng đó là cách xng hô giữa những ngời bằngvai phải lứa trong quan hệ giao tiếp Nhng ngợc lại đó là cách xng hô thể hiệntình cảm giữa hai mẹ con, khi ngời mẹ muốn san sẻ nỗi cực nhọc cùng với ng-

ời con Tuy cách xng hô bề ngoài không thể hiện đợc thứ bậc của ngời xng

nh-ng qua cách xnh-ng hô ta vẫn thấy đợc thứ bậc của nhữnh-ng nh-ngời tham gia giao tiếp

Điều đặc biệt ẩn sau cách xng hô này, là một thái độ tình cảm mẹ con thắmthiết, nồng nàn Do vậy, để hiểu đợc ý nghĩa của việc xng hô này phải dựa vàohoàn cảnh giao tiếp

2.1.2.2 Cặp xng hô mày- tao , tao “ ” “ – mày trong quan hệ ông chủ

- ngời làm thuê và những ngời bạn.

Trong truyện ngắn của Nguyên Công Hoan, ngoài việc thể hiện thànhcông mối quan hệ bất hoà giữa ngời nông dân và bọn quan lại, địa chủ nhà văn

Trang 31

còn đề cập đến mối quan hệ giữa những ông chủ, bà chủ và những ngời làmthuê, qua cặp xng hô mày – tao, tao – mày Tuy mối quan hệ này không đợcthể hiện nhiều nhng nó cũng đã bộc lộ rõ qua cách xng hô của từng nhân vật Trong truyện “Quyền chủ” cặp xng hô mày – tao, tao – mày, khôngcòn tính chất thân mật, gần gũi mà là cách xng hô thể hiện thái độ bất hoà,bực dọc, mang tính quyền thế của bà chủ với ngời làm thuê

“Bà quát muốn tốt dỗ anh nín đi Tao bảo mày không nghe phải không”[tr.90-T2]

Ngoài việc thể hiện mối quan hệ trong gia đình, bà chủ và ngời làm thuêcặp xng hô mày – tao trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan còn thểhiện trong mối quan hệ bạn bè mang tính suồng sã

- “Nhng mày mợn cái bồ, nhét tao vào giả vờ làm bồ hàng chứ, chả lẽmày đi xe tao đi bộ” [tr.403- T2]

- “Tao chúa ghét những loại thi sỹ nh mày” [tr.404- T2]

Chỉ cần nhìn vào cách xng hô, ta thấy mối quan hệ giao tiếp ở đây thuộcnhững ngời có vai ngang nhau Họ đều là những nhà văn nghèo không có tiền

mà sắp phải đối diện với khoản tiền lo ăn tết Nhng trong cách xng hô vẫnnhận thấy một tình bạn rất thân mật, không kém phần suồng sã

Bên cạnh đó, cặp xng hô tao – mày còn có khả năng tách ra để kết hợpvới các từ nhân xng khác tạo thành những cách xng hô khác nhau trong giaotiếp Chẳng hạn nh đại từ nhân xng mày kết hợp với các đại từ nhân xng cùngngôi hoặc khác ngôi, cũng nh kết hợp với các từ xng hô lâm thời để tạo ranhững cách xng hô đa dạng

2.1.3 Đại từ nhân xng Ta , ng“ ” “ ời ta , mình , ngài , nó hắn ” “ ” “ ” “ ” “ ”

Đây đều là lớp đại nhân xng số ít ở ba ngôi( thứ nhất, ngôi thứ hai, ngôithứ ba)và có số lần xuất hiện tơng đối lớn trong hơn 100 truyện ngắn(số liệubảng thống kê đã nêu trang 46-47) Dới đây là một số cách xng hô của cácnhân vật sử dụngcác đại từ nhân xng này

Trong cách xng hô trên, “ta” không chỉ một ngời nào cụ thể mà “ta” ở

đây là bao gồm những ngời có vai quan hệ giao tiếp ngang nhau bao gồm ông

lí, cụ hội,

ông chánh trong làng xng hô với nhau khi bàn việc đi tết quan trên

Trang 32

(2) Xng hô bằng đại từ nhân xng nó “ ”

Trong truyện “Công dụng của cái miệng”, cách xng hô bằng đại từ nhânxng “nó” là đối tợng đợc nhắc tới trong cuộc thoại giữa Lí trởng và ngời hầu,khi nhắc đế ngời khác

- “ ớ hay, nó đã về cha mày?” [tr.418-T2]

Đại từ nhân xng “nó” xuất hiện trong cách xng hô cuả cụ lí Với t cách

là ngời hầu thuộc vai dới khi hỏi những ngời hầu khác về một ngời hầu vắngmặt mà cụ sai đi hỏi xem mẹ chồng chị Cu Sứt đã chết cha

(3) Xng hô bằng đại từ nhân xng ngài “ ” Trong truyện “Thủ tiêu tùchính trị”, cách xng hô bằng từ “ngài” đợc thể hiện trong lời thoại giữa ngờilính cách mang hoạt động trong lòng địch với các tớng nguỵ

- Tha đại tá, tôi không làm nổi hay sao ?

- Làm nổi thì ai cũng làm nổi, nhng phải là ngời đợc tin cậy trăm phầntrăm

- Vậy các ngài không tin tôi [tr.495-T2]

Trong cách xng hô này ngời xng đã biểu lộ thái độ lịch sự với đối tợnggiao tiếp nhằm đạt đợc mục đích của mình Đó là hành động xng của ngời línhcách mạng khi đột nhập vào hàng ngũ địch nhằm giải phóng tù nhân Do vậy,tính lịch sự trong cách xng hô phải đơc đặt lên hàng đầu

“Ngời ta” trong câu văn trên là cách xng hô của bà Huyện xng hô với

ông Huyện thay cho cách xng hô bằng “mình” hoặc “em”

(5) Xng hô bằng đại từ nhân xng mình “ ”

Trong quan hệ vợ chồng đại nhân xng “mình” biểu lộ sắc thái tình cảmqua cách gọi nhẹ nhàng thân mật.Trong truyện “Samandj” qua cách xng hôcủa ngời vợ ngời tây ta sẽ thấy rõ đợc điều này

- “Mình su vơ nia cho em nhé” [tr.418 -T1]

- Mình ơi! mình ở lại kẻo phụ công em

- Thôi đi mình, bớt giận làm lành…

- “Em mời mình khánh thành mà” [tr.420 - T1]

Điều đặc biệt trong cách xng hô, ngời đợc gọi là mình lại không phải làchồng cô ta mà là bạn của chồng cô Cách xng hô, bộc lộ tình cảm gần gũithân mật của cô ta nhng không đợc chấp nhận

Trang 33

(6) Xng hô bằng đại từ nhân xng hắn “ ”

Trong truyện “Trong chuyến xe lam”, đại từ nhân xng “hắn” xuất hiệnrất nhiều lần “Hắn” ở trong quan hệ giao tiếp, là ngời đợc nhắc tới là một viên

đại tá nguỵ tên là Đôn, đang lẫn trốn quân cách mạng trên một chuyến xe lam

- “Đôn sống bí mật và hôm này hắn hẹn với các bạn gặp nhau ở một nơigần gò gấp Gọi lóng là N cho kín đáo, Hắn ăn mạc bình thờng nh mọi ng-

ời….Đố ai bảo hắn là ngời hét ra lửa” [tr.468-T2]

Qua đoạn văn trên ta thấy nhân, vật Đôn không trực tiếp tham gia giaotiếp mà hắn chỉ xuất hiện trong hoàn cảnh diễn ra giao tiếp, hắn chỉ là đối t-ợng đợc nhắc tới qua lời kể của những ngời trên xe

2.1.4 Xng hô bằng đại từ nhân xng chúng tôi , chúng nó , họ“ ” “ ” “ ”

(1) Xng hô bằng đại từ nhân xng chúng tôi “ ”

Đều là đại từ nhân xng ở ba ngôi (thứ nhất,thứ hai, thứ ba) số nhiều,các đại

từ nhân xng này cũng có số lần xuất hiện tơng đối lớn trong các truyện ngắn.Trong truyện “Cấm chợ”, qua cách xng hô của các quan làng với quantrên ta sẻ thấy rõ điều này

- “Bẩm chúng tôi muốn xin quan lớn cho phép họp chợ nh cũ kẻo đóito” [tr 188-T2]

Trong cách xng hô, ta thấy quan hệ giao tiếp giữa ngời xng và ngời hô làkhông cùng vai, ngời xng là các cụ lí trởng, chánh hội trong làng đại diện chocả làng lên xin quan lớn cho mở lại chợ làng, với thái độ rất thành kính với

[tr.379 “Họ” ở đây là nhng con bạc cùng phờng cùng hội với ông Nghị Đào

Đợc nhắc tới trong bàn bạc, nhng cha trực tiếp tham gia bàn bạc

Trang 34

Nh vậy, ngoài những cách xng hô bằng đại từ nhân xng nêu trên Tronghơn 100 truyện ngắn chúng tôi tiến hành khảo sát, thì hầu nh những cách xnghô trong tiếng Việt đều đợc Nguyễn Công Hoan vận dụng một cách linh hoạttrong việc thể hiện cách xng hô của các nhân vật.

2.2 Xng hô bằng các danh từ thân tộc

2.2.1 Xng hô bằng những từ xng hô thân tộc

Từ xng hô thân tộc là những từ dùng để xng hô giữa những ngời có quan

hệ hôn nhân hoặc quan hệ huyết thống với nhau trong giao tiếp ngôn ngữ Vớichức năng nhằm diễn đạt mối quan hệ thân tộc Lớp từ này xuất hiện rất nhiềulần trong từng truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, tạo ra những cách xng hô

đa dạng trong quan hệ giao tiếp gia đình mà ông đề cập

Bảng thống kê từ xng hô thân tộc trong truyện ngắn Nguyễn Công HoanStt Từ xng hô thân tộc Số lần Stt Từ xng hô thân tộc Số lần

161718192021222324252627

ChaMẹChồngVợ

Bu (mẹ)Bác

ông nộicháu gáichị gáibốthầy (cha)

u (mẹ)

155449623111113208

Nhìn vào bảng thống kê thân tộc ta thấy, hầu nh những từ xng hô thântộc đợc sử dụng trong giao tiếp gia đình ngời Việt đều đợc Nguyễn CôngHoan sử dụng làm cách xng hô thân tộc trong quan hệ giao tiếp của các nhânvật trong gia đình Điều này cũng dễ hiểu, bởi vì đề tài mà Nguyễn CôngHoan tập trung chủ yếu là ở nông thôn với những mối quan hệ trong gia đình

Trang 35

đợc duy trì thêm một trật tự trên dới rất nghiêm ngặt, khuôn phép mang tính lễgiáo cao.

Trong thực tế một gia tộc ngời Việt hiện có tối đa bốn thế hệ “tứ đại

đồng đờng” đó là: ông bà - cha mẹ- bản thân- con cái- cháu, vì thể giao tiếptrong gia đình thờng chỉ xảy ra giữa các thành viên thuộc bốn thế hệ nói trên.Tìm hiểu cách xng hô thân tộc của các nhân vật trong truyện ngắn NguyễnCông Hoan cũng chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giao tiếp giữa bốn thếhệ.Tuy nhiên, khi tiến hành khảo sát cách xng hô thân tộc trong hơn 100truyện ngắn thì chúng tôi thấy có những cách xng hô sử dụng danh từ thân tộcrất nhiều những chỉ trong quan hệ chồng- vợ, cha mẹ – con, nhng ngợc lạinhững cách xng hô nh anh/chị – em, bác, chú, cô, dì, cậu, mợ – cháu là rất

ít, còn quan hệ ông/bà- cháu, tuy xuất hiện với số lợng rất lớn nhng phản ánhmối quan hệ thân tộc là không có Chủ yếu là sử dụng những từ thân tộc đểphản ánh mối quan hệ xã hội Điều này cũng không phải là khó hiểu, bởi vì,truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan chủ yếu tập trung phản ánh mối quan hệxã hội, xung đột giai cấp (nông dân- quan lại) Do vậy, vấn đề gia đình ít đ ợc

ông quan tâm và đề cập

Toàn bộ hành vi xng hô trong gia tộc ngời Việt đợc hiện thực hoá trongcác quan hệ vai xã hội sau đây:

- Trong cùng thế hệ: (1) chồng- vợ; (2) anh – chị- em (trai/gái)

- Giữa các thế hệ: (3) cha mẹ – con; bác, chú, cô, dì cậu- cháu; (4) ông

bà - cháu; (5) cụ – chắt

2.2.1.1 Cách xng hô trong cùng thế hệ, chồng vợ.

Trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan, chúng tôi thấy ông tập trung

đi sâu vào cách xng hô giao tiếp của hai loại gia đình: Gia đình quan lại, ôngchủ, bà chủ, và gia đình nông dân nghèo

(1) Trong gia đình quan lại.

Xng hô vợ chồng thờng dùng các danh từ thân tộc nh là: cậu – mợ, ông– bà hoặc xng là chồng hoặc vợ, cũng có trờng hợp dùng danh từ thân tộckết hợp với đại từ nhân xng để biểu lộ cách xng hô vợ chồng

Trong truyện ngắn “Mất cái ví”, “Báo hiếu trả nghĩa mẹ”, Cách xng hôtrong quan hệ giao tiếp giữa các cặp vợ chồng này không phải là ông này, bà

nọ mà cặp xng hô cậu- mợ biểu lộ sắc thái tình cảm, thể hiện mối quan hệ vợchồng hoà thuận Nhng ẩn đàng sau cái vỏ bọc gia đình quyền quý và sangtrọng đó lại là những bộ mặt giả nhân giả nghĩa, của những đứa con bất hiếu,tán tận lơng tâm, với ông quan trong truyện “Mất cái ví” chỉ vì sợ tốn kém mà

Trang 36

đã cố ý bày ra trò mất cắp để nói bóng nói gió nghi cho bố đẻ mình lấytrộm

- “Bà Tham gia dáng ân hận gắt với chồng:

- Chỉ tại cậu lơ đễnh, đánh mất ví tiền nên mới sinh ra lắm rắc rối

- Mợ không hiểu Tôi chỉ cốt làm thế để bận sau ông ấy đừng ra chơinữa” [tr.289 –T1]

Trong cách xng hô, ta thấy quan hệ giao tiếp giữa hai vợ chồng ông bàquan tham, đợc sử dụng bằng cặp xng hô “cậu”- “mợ” cách xng hô này thờngdiễn ra trong gia đình quyền quý trong xã hội thực dân phong kiến, mang tínhlịch sự, gần gũi, thích hợp với mọi lứa tuổi

Cũng là cách xng hô “cậu – mợ” trong quan hệ vợ chồng gia đình quanlại nhng khác với hai cách xng hô trên, cách xng hô dới đây lại cho ta thấytâm địa đen tối của ông quan chỉ vì muốn thăng quan tiến chức mà ông “nỡlòng” đem vợ mình đi làm quà biếu cho quan trên

- “Buông phứt vợ ra, ngài ngẫu nhiên nhìn thật nghiêm chỉnh

- Thế mợ muốn ngời ta cho tôi là đồ gì?

- Bà chắp hai tay, lạy vái để

- Tôi lạy cậu, tôi van cậu, cậu đừng ép tôi, tôi là vợ cậu

- à tôi là vợ cậu! Là vợ mà chồng bảo không nghe, luân lí để đâu? giáodục để đâu? [tr.504- T1]

Đúng là “luân lí để đâu?”, “giáo dục để đâu?”, câu nói tởng nh đầy giáodục đó lại đợc phát ra từ miệng một ông quan đang nhẫn tâm đẩy vợ mình cho

kẻ khác mà còn nói chuyện đạo lý vợ chồng Rõ ràng trong cách xng hô trên,

đã có sự van xin của ngời vợ nhng đáp lại là sự nhẫn tâm của ngời chồng Tuynhiên, mối quan hệ vợ chồng vẫn đợc thể hiện rõ qua cách xng hô vợ chồng

ông bà quan Nh vậy, qua các cách xng hô của gia đình quan lại ta thấy cáchxng hô vợ chồng bằng cặp danh từ thân tộc cậu - mợ vẫn là phổ biến Cách x-

ng hô này, phù hợp với rất nhiều lứa tuổi và mang tính thông dụng cao Còncặp xng hô ông – bà cũng xuất hiện nhiều trong mối quan hệ xng hô vợchồng nhng tính thông dụng so với cặp xng hô cậu mợ là không bằng Cách x-

ng hô này, chủ yếu thích hợp với những cặp vợ chồng ở lứa tuổi cao

(2) Xng hô trong gia đình nông dân.

Ngợc lại với cách xng hô trong gia đình quan lại cách xng hô trong gia

đình những nời nông dân quanh năm vất vả lam lũ lại rất mộc mạc giản dị nh:thầy nó, u nó, bố cu, mẹ hĩm

Trang 37

Trong truyện “Ngậm cời”, qua cách xng hô của vợ chồng anh cu Bản tathấy đợc nỗi vui sớng của ngời chồng khi đợc quan cất đi làm lính và đồngthời thấy đợc nỗi lo lắng của ngời vợ qua cách xng gọi của hai vợ chồng.

- “Này u nó, quan đã cắt tôi rồi

- Quan bắt thầy nó vào chỗ chết cũng nghe à

- Thầy nó nỡ bỏ mẹ con tôi chết đi hay sao? Khổ quá tôi biết trông cậyvào ai đợc Thầy nó đừng đi

- U nó yên lòng” [tr.458 – T1]

Cách xng hô “thầy nó”, “u nó” là cách gọi quen thuộc của những gia

đình nông dân Cách xng này, thờng gắn với con cái trong gia đình nó thể hiện

sự bình dị trong cách xng hô của những ngời nông dân

Trong truyện “Gói đồ nữ trang”, thì cách xng hô của ngời chồng đối vớingời vợ không còn sự thân mật giống nh cách xng hô trên nhng nó vẫn thểhiện đúng bản chất của ngời nông dân

- “Cất cái này đi cho tao, bu mày ơi! [tr.199 – T1]

Cặp xng hô tao – bu là cách xng hô cũng thờng thấy trong lối giao tiếpxng hô vợ chồng ở những ngời nông dân, thể hiện suồng sã mộc mạc nhng vẫn

2.2.1.2 Giữa cha mẹ và con cái

Đây là cách xng hô của những ngời có cùng huyết thống với nhau tronggia tộc giữa hai thế hệ Thế hệ trớc (ngời sinh) cha mẹ Thế hệ sau (con cái),cách xng hô này cũng không xuất hiện nhiều trong quan hệ giao tiếp xng hôcủa các nhân vật

Trang 38

Trong truyện “Sáng, chị phu mỏ”, cách xng của ngời mẹ khi bị bệnh nằmtrên giờng lo lắng khi thấy con mình nhọc nhằn.

“Tao bảo mày cứ không nghe Vừa tra hôm nay tao thấy mày bàn nhauvới chị Nhân là vay ông cai Nhả kia mà Nợ ai chứ nợ lão ấy thì khổ đấy con

ạ” [tr327 – T2]

Còn đây là cách xng lại của ngời con đối với ngời mẹ

“Bu ở nhà con đi đàng này một tý

………

Thôi con ạ không thuốc thang gì nữa đâu Đừng đi vay mợn, rồi mắc nợ

Bu đã qua cầu ấy, bu sợ lắm” [tr.326 – T2]

Đoạn hội thoại trên, cho thấy cách xng hô bằng khẩu ngữ giữa hai mẹcon nhà chị Sáng cho thấy tình cảm của họ và mối quan tâm của mẹ đối vớicon cũng nh của con dành cho mẹ là rất sâu đậm

Khác với truyện “Sáng chị phu mỏ”, trong truyện “Nỗi lòng ai tỏ lại”,là

sự thể hiện mối quan tâm của ngời mẹ ân cần đối với con đợc thể hiện rất rõtrong cách xng hô

- “Con ơi! Tuyết ơi, con làm sao thế

- Con ơi! Con làm sao thế

là một sự yên lặng của ngời con giành cho mẹ

2.2.4 Xng hô giữa anh chị em (trai gái)

Tuy số lợng những từ thân tộc nh anh/chị/em xuất hiện rất lớn trong hơn

100 truyện ngắn mà chúng tôi tiến hành khảo sát song những từ này tham giavào biểu thị quan hệ dân tộc là rất khiêm tốn Điều này cũng dễ hiểu, bởi vìtruyện ngắn của Nguyễn Công Hoan không chú trọng đi sâu vào phản ánh mốiquan hệ gia đình Đặc biệt, là quan hệ anh/ chị em lại càng ít đợc nhắc tới Dovậy, số lợng tham gia biểu thị mối quan hệ này ít hơn cũng là điều dễ hiểu

Trang 39

Trong truyện “Con ve”, Nguyễn Công Hoan đã tập trung đi sâu vào khaithác tình nghĩa anh em của thằng cu Mến khi nó kiên quyết giữ lại con ve mà

nó bắt đợc để dành tặng cho em, mặc dù bà chủ giàu có đã dùng tiền để mua

nó nhng nó vẫn từ chối

“Lúc đó thằng cu Mến cũng bế em ra bãi cỏ cạnh đình để chơi Bố nó đi

đồng, mẹ nó đi chợ … hai anh em nó chỉ có thằng anh mặc quân đùi treogiò” [tr.429 –T2]

- Mày biếu anh con ve nhé

- Thằng bé lắc đầu, ngây thơ cời và đáp

- Không của em tôi chơi đấy” [tr.430 – T2]

2.2.1.3 Xng hô trong quan hệ: Bác, chú, cô, dì, cậu cháu.

Cũng giống nh danh từ thân tộc biểu thị quan hệ anh /chị – em thìnhững danh từ biểu thị quan hệ giữa các thế hệ nh: bác, chú, cô, dì , cậu –cháu Cũng xuất hiện rất nhiều trong hơn 100 truyện ngắn, mà chúng tôi tiếnhành khảo sát nhng số lợng tham gia biểu thị quan hệ thân tộc là rất ít (nguyênnhân giốngnh (2.2.4)

“xng”và là ngời thuộc vai với bố của thằng Dần

(3) Quan hệ: Dì /cậu cháu.

Trong truyện “Ngời vợ lẽ bạn tôi”, quan hệ này đợc bộc lộ qua cách xnghô của cô cháu gái

- “Hơng! vú em đâu?

- Tha dì vú ấy sang nhà bác Đốc ạ”.[tr.396 -T2]

Cũng là cách xng hô của cô cháu gái với ngời bạn của cậu mình

Trang 40

“Tha cậu, cậu con ăn ở khắc lắm” [tr.396-T2]

Đó là lời nhận xét của cô cháu gái về cậu mình khi nói chuyện với ngời ngoài

2.2.1.4 Quan hệ giữa ông/bà - cháu.

Truyện “Cây mít”, mối quan hệ thân tộc này, không đợc bộc lộ trực tiếp

mà là bộc lộ gián tiếp qua cách xng hô của ông Lung

- “Còn đời ông nội ông Lung, thì ông cụ vẫn trồng trọt hoa màu ở vờnnày” [tr396-T2]

2.2.1.5 Xng hô bằng từ thân tộc con trai , con gái “ ” “ ”

Truyện “Ngời vợ lẽ bạn tôi”, qua cách xng hô của hai ngời bạn ta thấy:

- “Ô, đã hơn hai tháng nay

- Con trai hay con gái?

- Con trai Tôi mới cho mẹ con nó về hôm qua” [tr.392-T2]

Cách trả lời vừa khẳng định giới tính đồng thời cũng khẳng định huyếtthống của hai cha con

Nh vậy, với số lợng lớn có mặt trong hơn 100 truyện ngắn, nhng số lầnbiểu thị mối quan hệ thân tộc của lớp từ này là cha đáng kể Điều này chứng

tỏ, lớp từ này đang ngày một chuyển hoá ra ngoài xã hội và trở thành một lớp

từ xng hô mới trong xã hội, đó là từ xng hô mô phỏng theo từ xng hô thân tộc

2.2.2 Xng hô bằng cách ghép hai từ xng hô thân tộc

Bên cạnh việc sử dụng những danh từ thân tộc mang tính thuần tuý.Trong cách xng hô ở hơn 100 truyện ngắn có những từ xng hô thân tộc đợc kếthợp với nhau, hoặc thêm vào đó theo dạng cấu tạo cụm từ để làm phơng tiệnxng hô Nguyễn Công Hoan đã vận dụng vào trong truyện ngắn của mình Vớimục đích tạo nên tính đa dạng và linh hoạt trong cách xng hô trong gia tộccũng nh xng hô phỏng theo danh từ thân tộc của các vai giao tiếp trong gia

Mẹ con

Bà cháuThầy uCha mẹ

1755724212

1112131415161718

Mợ conCon cháu

Vợ chồngChú cháuCô cháuCậu mợ

Vợ conCác ông

26181111410

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:06

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Diệp Quang Ban (2000), Ngữ pháp tiếng Việt (sách CĐSP). Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 2000
2. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng Từ Ghép - Đoản – Ngữ. Nxb đại học, THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng Từ Ghép - Đoản "–"Ngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb đại học
Năm: 1975
3. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại. Nxb ĐH và THCN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: Nxb ĐH và THCN Hà Nội
Năm: 1975
4. Lê Cận, Cù Đình Tú, Hoàng Tuệ (1962), Giáo trình về Việt ngữ, tập I, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình về Việt ngữ, tập I
Tác giả: Lê Cận, Cù Đình Tú, Hoàng Tuệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1962
5. Đỗ Hữu Châu (1962), Giáo trình Việt ngữ, tập II, từ hội học, Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Việt ngữ, tập II, từ hội học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1962
6. Đỗ Hữu Châu (2000), Đại cơng ngữ dụng học, tập II Nxb Giáo dục Hà Nội 7. Nguyễn Văn Chiến (1992), Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngônngữ Đông Nam á - Trờng ĐHSPNN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng ngữ dụng học, tập II" Nxb Giáo dục Hà Nội7. Nguyễn Văn Chiến (1992), "Ngôn ngữ học đối chiếu và đối chiếu các ngôn "ngữ Đông Nam á
Tác giả: Đỗ Hữu Châu (2000), Đại cơng ngữ dụng học, tập II Nxb Giáo dục Hà Nội 7. Nguyễn Văn Chiến
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội7. Nguyễn Văn Chiến (1992)
Năm: 1992
8. Nguyễn Văn Chiến (1993), Từ xng hô trong tiếng Việt (Nghiên cứu ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp), tạp chí những vấn đề ngôn ngữ học Việt Nam Trờng ĐHSPNN Hà Nội. Tr 60.62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xng hô trong tiếng Việt (Nghiên cứu ngữ "dụng học và dân tộc học giao tiếp)
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1993
9. Hoàng Thị Châu (1995), Bài đề nghị về cách xng hô trong xã giao ngôn ngữ và đời sống. Tr 12-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài đề nghị về cách xng hô trong xã giao ngôn ngữ "và đời sống
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Năm: 1995
10. Nguyễn Đức Dân (1998), Ngữ dụng học, Nxb giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Nhà XB: Nxb giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
11. Trơng Thị Diễm (2002), Từ xng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt. Luận án tiến sĩ ngữ văn (Đại học Vinh) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xng hô có nguồn gốc danh từ thân tộc trong giao tiếp tiếng Việt
Tác giả: Trơng Thị Diễm
Năm: 2002
12. Trần Thị Phơng Dung (2003), Các phơng tiện ngôn ngữ biểu hiện tính lễ phép trong giao tiếp tiếng việt. Luận án tiến sĩ ngữ văn trờng ĐHXH và nhân văn quốc gia – viện ngôn ngữ học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các phơng tiện ngôn ngữ biểu hiện tính lễ phép trong giao tiếp tiếng việt
Tác giả: Trần Thị Phơng Dung
Năm: 2003
13. Nguyễn Đức Dần (1998), Ngữ dụng học Nxb Giáo dục Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ dụng học
Tác giả: Nguyễn Đức Dần
Nhà XB: Nxb Giáo dục Hà Nội
Năm: 1998
14. Đinh Văn Đức (1980), Ngữ pháp tiếng Việt loại từ, Nxb Đại học – THCN Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt loại từ
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: Nxb Đại học – THCN Hà Nội
Năm: 1980
15. Phạm Ngọc Hàm (2000), Đối chiếu từ xng hô gia đình trong tiếng hán và tiếng việt. Luận văn thạc sĩ ngữ văn, (ĐHKHXH&Nhân văn) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đối chiếu từ xng hô gia đình trong tiếng hán và tiếng việt
Tác giả: Phạm Ngọc Hàm
Năm: 2000
16. Phạm Ngọc Hàm (2004), Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ xng hô tiếng Hán(trong sự so sánh với tiếng việt), luận án Tiên sĩ ngữ văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm và cách sử dụng của lớp từ xng hô "tiếng Hán"(trong sự so sánh với tiếng việt)
Tác giả: Phạm Ngọc Hàm
Năm: 2004
17. Nguyễn Công Hoan, Về tác giả và tác phẩm. Nxb Giáo dục (10-2003) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tác giả và tác phẩm
Nhà XB: Nxb Giáo dục (10-2003)
18. Nguyễn Công Hoan, Truyện ngắn chọn lọc T1+T2 Nxb hội nhà văn (2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn chọn lọc
Nhà XB: Nxb hội nhà văn (2002)
19. Bùi Mạnh Hùng (1998) “ Bàn về hô ngữ trên cứ liệu tiềng Việt và tiếng ” Bungari tr 56-62 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về hô ngữ trên cứ liệu tiềng Việt và tiếng "”"Bungari
20. Cao Xuân Hạo (1991), Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng. Nxb KHXH HN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng
Tác giả: Cao Xuân Hạo
Nhà XB: Nxb KHXH HN
Năm: 1991
21. Nguyễn Thị Ly Kha (1998), “ Thử tìm hiểu thêm về danh từ thân tộc của tiếng Việt ” Tr 41-54 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử tìm hiểu thêm về danh từ thân tộc của tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Ly Kha
Năm: 1998

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thông kê đại từ nhân xng xuất hiện trong cách xng hô của các  nhân vật trong truyện ngắn - Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngẵn nguyễn công hoan (chọn lọc)
Bảng th ông kê đại từ nhân xng xuất hiện trong cách xng hô của các nhân vật trong truyện ngắn (Trang 29)
Bảng thống kê từ xng hô thân tộc theo dạng ghép, hoăc theo dạng cấu tạo cụm từ. - Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngẵn nguyễn công hoan (chọn lọc)
Bảng th ống kê từ xng hô thân tộc theo dạng ghép, hoăc theo dạng cấu tạo cụm từ (Trang 49)
Bảng thống kê từ chỉ tên. - Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngẵn nguyễn công hoan (chọn lọc)
Bảng th ống kê từ chỉ tên (Trang 58)
Bảng thống kê từ chỉ giới “cô”+ tên - Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngẵn nguyễn công hoan (chọn lọc)
Bảng th ống kê từ chỉ giới “cô”+ tên (Trang 60)
Bảng thống kê từ chỉ giới  “ông” + tên. - Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngẵn nguyễn công hoan (chọn lọc)
Bảng th ống kê từ chỉ giới “ông” + tên (Trang 63)
Bảng thống kê từ chỉ giới thằng +tên - Đặc điểm cách xưng hô của các vai giao tiếp trong truyện ngẵn nguyễn công hoan (chọn lọc)
Bảng th ống kê từ chỉ giới thằng +tên (Trang 69)

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w