1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt

125 2,7K 15
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Tác giả Nguyễn Thị An Thanh
Người hướng dẫn TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 496,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 2

khoa Đào tạo sau đại học - trờng Đại học Vinh cùng

sự động viên, giúp đỡ tạo điều kiện của ngời thân, bè bạn, chúng tôi đã cố gắng vợt lên khó khăn để hoàn thành luận văn này.

Qua đây, em xin đợc bày tỏ tấm lòng biết ơn tới thầy giáo hớng dẫn Hoàng Trọng Canh và các quý thầy cô, những ngời thân, bạn bè và mong nhận đợc

Trang 3

1.1 Phơng ngữ với ngôn ngữ dân tộc 7

1.2 Các vùng phơng ngữ tiếng Việt 13 1.2.1 Các quan niệm phân chia các vùng phơng ngữ 13 1.2.2 Đặc điểm chung các vùng phơng ngữ Việt 15

2.1.3 Các loại từ trong tiếng Việt và trong phơng ngữ

25 26

2.2 Đặc điểm cấu tạo từ địa phơng 28 2.2.1 Đặc điểm các yếu tố cấu tạo từ trong các phơng ngữ 29 2.2.2 Các mô hình chủ yếu cấu tạo từ trong phơng ngữ 42 2.2.3 Các loại từ địa phơng xét theo cấu tạo 53

Ch ơng 3

Đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phơng

trong các phơng ngữ

64

Trang 4

1.1 Ngôn ngữ là tín hiệu đặc biệt, là công cụ giao tiếp quan trọng nhất

của con ngời Tiếng Việt từ lâu đã trở thành ngôn ngữ quốc gia thống nhấtcủa đất nớc Việt Nam, là ngôn ngữ chung cho cả năm t dân tộc anh em sốngtrên dải đất hình chữ S này Cùng với sự phát triển của xã hội, tiếng Việtcũng phát triển, biến đổi không ngừng

Do quy luật vận động nội tại của hệ thống cấu trúc ngôn ngữ, do điềukiện địa lí, do sự phát triển kinh tế xã hội không đồng đều và môi tr ờng giaotiếp, tiếp xúc xã hội không giống nhau giữa các vùng dân c nên đã tạo nên sựphát triển biến đổi ngôn ngữ không đồng đều giữa các vùng Ngôn ngữ dântộc càng phát triển, càng đi đến sự thống nhất cao, nhng đồng thời ngôn ngữ

đó cũng sẽ không mất đi sự đa dạng phong phú Một trong các biểu hiện củatính đa dạng đó là phơng ngữ Cũng theo quy luật phát triển chung ấy, tiếng

Trang 5

Việt ngày càng đợc thống nhất cao, nhng về mặt biểu hiện chúng lại rất đadạng, với nhiều dạng vẻ khác nhau trên các vùng địa lí dân c, vùng, cũng nhgiữa các tầng lớp ngời sử dụng, đó chính là phơng ngữ.

Cho nên nghiên cứu phơng ngữ là để thấy đợc tính đa dạng của ngônngữ dân tộc

1.2 Phơng ngữ là một trong các mặt biểu hiện của tính đa dạng ngôn

ngữ Cho nên nghiên cứu ngôn ngữ dân tộc không thể tách rời nghiên cứuphơng ngữ Nghiên cứu phơng ngữ cũng là để hiểu ngôn ngữ dân tộc nhất là

về mặt lịch sử phát triển

1.3 Hệ thống từ vựng của tiếng Việt toàn dân lâu nay đã đợc nghiên cứu

một cách toàn diện và sâu trên nhiều phơng diện Từ vựng phơng ngữ là hệthống biến thể của ngôn ngữ toàn dân, cho tới nay cha có một công trình nàonghiên cứu bình diện này một cách đầy đủ, hệ thống về cấu tạo và ngữ nghĩa

Đây là hai vấn đề quan trọng nếu đợc nghiên cứu một cách cụ thể thì kết quảcủa nó cùng đặc điểm ngữ âm của phơng ngữ đã đợc nghiên cứu khá toàndiện sẽ giúp chúng ta có cái nhìn sâu, đầy đủ hơn về từ vựng phơng ngữ Việtnói riêng, phơng ngữ nói chung

Mỗi vùng phơng ngữ có những đặc điểm, sắc thái riêng về ngữ âm từvựng, ngữ pháp mà chúng ta có thể cảm nhận nó một cách tự nhiên, trớc hếtqua giọng nói

Vậy điểm chung và riêng giữa các vùng phơng ngữ về từ vựng là gì?

Đây chính là câu hỏi, là lí do để chúng tôi tiến hành nghiên cứu "Đặc điểmcấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phơng trong các phơng ngữ"

1.4 Nghiên cứu đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ trong các phơng

ngữ tiếng Việt, có thể giúp làm sáng rõ đặc điểm từ vựng phơng ngữ nóichung và đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa từ địa phơng giữa các vùng

1.5 Ngoài ra, so sánh đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa phơng ngữ các vùng

cũng góp phần soi sáng một số vấn đề về biến đổi của từ vựng tiếng Việt trêncác miền đất nớc; thành phần, tính chất của các yếu tố tạo từ; dấu ấn văn hoáriêng của mỗi vùng

Trang 6

II Lịch sử vấn đề

Nghiên cứu phơng ngữ là đối tợng đã và đang đợc các nhà ngôn ngữhọc, dân tộc học, lịch sử và văn hoá quan tâm Từ rất sớm trong lịch sử, thờikì Trung cổ, Alghieri Dante đã có một công trình về các phơng ngữ trongtiếng ý Rồi tới W.Leibniz W.Humboldt – thời kì Phục Hng, đã khẳng

định sự cần thiết của việc nghiên cứu các phơng ngữ ở các ngôn ngữ thờngdùng trong cuộc sống của các dân tộc (Dẫn theo [30, tr.3])

Phơng ngữ học thật sự phát triển ở đầu thế kỷ XIX với hàng trăm côngtrình lớn nhỏ đợc nghiên cứu và nhìn nhận ở những góc độ khác nhau trênnhiều bình diện Phơng ngữ tiếng Việt cũng nằm trong trào lu chung đó vớinhiều vấn đề cấp thiết đợc đặt ra Tiếng Việt với vấn đề phơng ngữ, phânvùng các phơng ngữ tiếng Việt, phơng ngữ và văn hoá, phơng ngữ với vấn đềchuẩn hoá tiếng Việt…

Cũng nh nhiều ngôn ngữ khác, tiếng Việt là ngôn ngữ bao gồm nhiềuphơng ngữ Phơng ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân dới hình thức biếnthể trên một vùng địa lí dân c nhất định Do tầm quan trọng của việc nghiêncứu phơng ngữ đối với nhiều ngành, nhất là đối với lịch sử tiếng Việt, từ lâucác nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc đã có sự quan tâm đáng kể đến phơngngữ đặc biệt những năm gần đây, các nhà Việt ngữ học đã nghiên cứu một

số phơng ngữ Việt một cách có hệ thống hơn, với cách nhìn nhận toàn diệnhơn

Vấn đề đầu tiên đợc các nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm là việc phânvùng phơng ngữ tiếng Việt H.Maspérô (1912) là một trong những ngời đầutiên chú ý đến vấn đề phân chia phơng ngữ tiếng Việt Trong tác phẩm

Nghiên cứu về ngữ âm lịch sử tiếng Việt ông đã nêu lên ý kiến phân chia

tiếng Việt ra thành hai vùng: phơng ngữ Bắc và phơng ngữ Trung (dẫn theo

Hoàng Thị Châu, Tiếng Việt trên các miền đất nớc [11]) Sau đó hàng loạt

tác giả cũng đề cập đến vấn đề này nh: M Vgordina và L.Sbustrov (1970),Hoàng Phê (1963), Nguyễn Kim Thản (1982), Nguyễn Trọng Bán (1982),Nguyễn Văn Tu (1982), Hoàng Thị Châu (1989), Nguyễn Nhã Bản (1994),

Võ Xuân Trang (1996)…

Trang 7

Nếu phân chia phơng ngữ chỉ thuần căn cứ trên tiêu chuẩn địa lí thìkhông thể lí giải đợc quan hệ giữa các phơng ngữ với nhau Bởi thế các tácgiả trớc hết đã đa tiêu chuẩn ngôn ngữ học (phát âm, từ vựng, ngữ pháp…)làm tiêu chuẩn chủ yếu Tuy nhiên, ở việc phân vùng phơng ngữ các nhànghiên cứu cha có một cách nhìn thống nhất nên các phơng ngữ từ ThanhHoá đến Bình Thuận đợc phân chia khác nhau Song xu hớng hiện nay vàcũng nh ý kiến của đại đa số các nhà nghiên cứu cho rằng tiếng Việt có bavùng phơng ngữ: phơng ngữ Bắc Bộ, phơng ngữ Bắc Trung Bộ và phơng ngữNam Trung Bộ- Nam Bộ Gắn liền với vấn đề này, tuyệt đại đa số các nhànghiên cứu đều đề xuất lấy phơng ngữ miền Bắc làm cơ sở, cách phát âm HàNội là cách phát âm chuẩn đại diện cho quan niệm chung đó là Hoàng ThịChâu (1989), Nguyễn Văn Tu (1982), Hồng Giao (1973)…

Một phơng diện thu hút đợc nhiều ngời quan tâm nhất đó là khảo sát,miêu tả các đặc điểm ngữ âm của các phơng ngữ tiếng Việt đợc khảo sát ởnhững phạm vi mức độ khác nhau Một số tác giả đi vào một vài ph ơng ngữ

cụ thể nh: Nguyễn Kim Thản trong Thử bàn một vài đặc điểm trong phơng

ngôn Nam Bộ (1964), Nguyễn Bạt Tuỵ: Miêu tả phơng ngôn Quảng Trị

(1961), Phạm Văn Hảo chú ý tới Phơng ngữ Thanh Hoá (1985), Trần Thị Ngọc Lang, Nghiên cứu phơng ngữ Nam Bộ (1995), Võ Xuân Trang: Khảo

sát ngôn ngữ Bình Trị Thiên (1997) Rồi nhóm tác giả Nguyễn Nhã Bản,

Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng Canh, Nguyễn Hoài Nguyên đã đi vào nghiên

cứu cụ thể trên một vài bình diện của phơng ngữ Nghệ Tĩnh, nh: Từ điển

tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh (1999) Nguyễn Văn Nguyên: Miêu tả đặc trng ngữ âm phơng ngữ Nghệ Tĩnh (2003).

Các công trình đề cập đến vấn đề cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phơng, các

tác giả nh: Trần Thị Ngọc Lang, Sự khác biệt về từ vựng ngữ nghĩa giữa phơng ngữ Nam Bộ và phơng ngữ Bắc Bộ (1993) Hoàng Trọng Canh, Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh (2001) Trơng Thị Thu H-

ơng, Cấu tạo của một số từ ngữ địa phơng thờng dùng ở vùng nông thôn

Thừa Thiên Huế (1998)

Tóm lại, qua hàng loạt công trình, đặc biệt là các công trình của GSHoàng Thị Châu, tác giả đã khảo sát một cách rộng rãi, khái quát đợc những

Trang 8

đặc điểm chung nhất về phơng ngữ của các vùng trong tiếng Việt Song vềmặt từ vựng phơng ngữ hầu nh tác giả còn bỏ trống Về cấu tạo và ngữ nghĩacủa từ địa phơng tuy đã có một số công trình đi vào nghiên cứu đặc điểm nàytrong một phơng ngữ cụ thể nhng nghiên cứu khái quát chung từ vựng cácphơng ngữ cụ thể cho tới nay cha có một công trình nào viết chuyên sâu vềvấn đề này Cho nên, việc tìm ra đặc điểm chung và đặc điểm riêng của từngvùng phơng ngữ còn là một đề tài bỏ ngỏ Do vậy, xuất phát từ nhiều mục

đích nh đã nói, tiếp thu những ý kiến gợi mở của các tác giả đi trớc, chúngtôi mạnh dạn đi vào đề tài này

III đối tợng và mục đích nghiên cứu

1 Đối tợng nghiên cứu

Dựa trên t liệu là từ và ngữ cố định đợc thu thập trong Từ điển đối chiếu

từ địa phơng Nguyễn Nh ý chủ biên (2001), có đối chiếu với các cuốn từ

điển địa phơng khác, chúng tôi tiến hành nghiên cứu cấu tạo và ngữ nghĩa từ

địa phơng trong các phơng ngữ

2 Mục đích nghiên cứu

Ngoài những mục đích chung và ý nghĩa nh đã định trong phần lí dochọn đề tài, luận văn hớng tới các mục đích cụ thể là:

2.1 Luận văn cố gắng chỉ ra các đặc điểm về cấu tạo và ngữ nghĩa của

từ trong ba vùng phơng ngữ

2.2 Qua phân tích đặc điểm, tính chất quan hệ của các yếu tố cấu tạo

trong từng loại từ của từng vùng phơng ngữ và đặc điểm các loại từ về mặtngữ nghĩa, luận văn chỉ ra những đặc điểm chung và những đặc điểm riêngcủa từ địa phơng giữa ba vùng phơng ngữ

2.3 Luận văn sẽ cung cấp đợc ít nhiều t liệu về các loại từ, về cấu tạo và

đặc điểm ngữ nghĩa của phơng ngữ nói chung và phơng ngữ từng vùng Bắc,Trung, Nam nói riêng

IV phơng pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đã sử dụng các phơng pháp nghiêncứu sau:

1 Phơng pháp thống kê phân loại

Trang 9

Chúng tôi đã tiến hành khảo sát thống kê, phân loại từ địa phơng ba

vùng trong cuốn Từ điển đối chiếu từ địa phơng (Nguyễn Nh ý chủ biên

-2001) về đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ngữ nghĩa

V Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu, so sánh đặc điểm từ địaphơng về cấu tạo và ngữ nghĩa trong cả ba vùng một cách toàn diện và cụthể Vì vậy, những đặc điểm chung, những đặc điểm riêng về cấu tạo và ngữnghĩa giữa từ trong các vùng phơng ngữ đợc rút ra sẽ là những đóng gópmới của đề tài

Qua đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của từ địa phơng giữa các vùng

ph-ơng ngữ có thể thấy đợc phần nào những nét sắc thái văn hoá của ngời địaphơng của từng vùng trong việc phân cắt phản ánh hiện thực

VI Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của luận văn đợc triểnkhai qua ba chơng

Chơng I Một số giới thuyết xung quanh đề tài

Chơng II Đặc điểm cấu tạo của từ địa phơng trong các phơng ngữ Chơng III Đặc điểm ngữ nghĩa của từ địa phơng trong các phơng ngữ

Trang 10

địa phơng mộc mạc đậm đà màu sắc quê hơng trên các miền đất nớc Mỗiphơng ngữ là một biểu hiện cụ thể, sinh động, một hơng sắc riêng của tiếngViệt Các phơng ngữ trong tiếng Việt là những giọng điệu khác nhau của mộtcây đàn muôn điệu Cây đàn ấy là tiếng Việt thống nhất Nói cách khác quan

hệ giữa phơng ngữ và ngôn ngữ cũng chính là quan hệ giữa cái trừu tợng vớicái cụ thể, giữa cái chung và cái riêng

Ngôn ngữ là một hệ thống phát triển, biến đổi Mặt biến đổi của nó đợcthể hiện trên từng phơng ngữ, về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp Cho nên nghiêncứu phơng ngữ trên bình diện nào cũng không phải nghiên cứu nó với t cách

là một chỉnh thể độc lập mà là đi tìm sự khác biệt của phơng ngữ đó nh mộtbiểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình phát triển lịch sử Cũng bởi

"Chính lịch sử phát triển của ngôn ngữ ánh xạ lên sự phân bố địa lí" (Hoàng

Thị Châu, Vài nhận xét về quá trình tiêu chuẩn hoá tiếng Việt thể hiện qua

cách dùng từ địa phơng trong sách vở) [10, tr 17-26].

1.1.1 Ngôn ngữ dân tộc

Trang 11

Nội dung khái niệm ngôn ngữ dân tộc (National Language) thờng đợc

hiểu là "Ngôn ngữ chung của cả một dân tộc Đó là một phạm trù lịch sử xã hội biểu thị ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp của một dân tộc và đợc thểhiện dới hai hình thức: nói và viết Ngôn ngữ dân tộc hình thành cùng với sựhình thành dân tộc đồng thời cũng là tiền đề và điều kiện hình thành và tồntại của dân tộc, mặt khác ngôn ngữ dân tộc là kết quả và sản phẩm của quátrình hình thành, tồn tại của dân tộc" [41, tr 156] Tuy có sự phân biệt về mặt

-khái niệm nhng nội dung của thuật ngữ ngôn ngữ toàn dân gần gũi với nội dung của thuật ngữ ngôn ngữ dân tộc bởi "ngôn ngữ dân tộc là hình thức

thống nhất của ngôn ngữ toàn dân" [29, tr 367] và ngôn ngữ toàn dân: "làngôn ngữ đợc sử dụng rộng rãi trong giao tiếp hàng ngày, không bị hạn chế ởphong cách và phạm vi sử dụng; ngôn ngữ đợc mọi ngời trong quốc gia biết,chấp nhận và sử dụng" [41, tr.171] Vì vậy, ở những phơng diện nhất định, sự

đối lập phơng ngữ với ngôn ngữ dân tộc cũng hàm nghĩa nh là đối lập ngônngữ toàn dân với phơng ngữ

Nh vậy, con đờng hình thành của ngôn ngữ dân tộc gắn chặt với sự pháttriển xã hội Ngôn ngữ là sản phẩm của một thời đại lịch sử nhất định - thời

đại hình thành thống nhất dân tộc Quá trình hình thành thống nhất dân tộccũng là quá trình thống nhất ngôn ngữ dân tộc Song không phải khi ngônngữ dân tộc đã đợc hình thành thì không còn phơng ngữ Trái lại, trong lòngngôn ngữ dân tộc, ở các mặt biểu hiện, trên các vùng địa lí dân c khác nhau,trong các tầng lớp xã hội khác nhau, phơng ngữ vẫn tồn tại

1.1.2 Phơng ngữ

Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc diễn ra nh trên là sự phản ánhquy luật và phân tán và thống nhất của ngôn ngữ Quy luật đó của ngôn ngữgắn liền với sự phát triển của xã hội mà phơng ngữ là một hiện tợng khôngtách rời của quá trình hình thành và thống nhất của ngôn ngữ dân tộc nên ph-

ơng ngữ ra đời cũng gắn liền với điều kiện lịch sử của xã hội của từng quốcgia trong từng thời kỳ cụ thể

Nếu nh ngôn ngữ xã hội ở thời kỳ tổ chức thị tộc là thống nhất bởi do sựtiếp xúc của các thành viên trong thị tộc là thờng xuyên nên những biến đổingôn ngữ không tạo nên đợc sự khác biệt trong thị tộc, không tạo nên phơng

Trang 12

ngữ thì sang giai đoạn của bộ lạc phát triển, sự xa cách nhau về địa lý giữacác bộ lạc làm cho sự thay đổi nào đó của ngôn ngữ chỉ phổ biến trong vùng

địa lý của bộ lạc đó mà không lan truyền đợc sang bộ lạc khác Giữa các bộlạc bắt đầu có sự khác nhau ít nhiều về ngôn ngữ Sự khác nhau đó ngày cànggóp phần củng cố sự khác biệt giữa các bộ lạc Vậy là phơng ngữ trong từngvùng xuất hiện sớm hay muộn, mức độ khác nhau nhiều hay ít là tuỳ vàomức độ biến đổi ngôn ngữ và thực tế giao tiếp, tiếp xúc của các cộng đồng

bộ lạc Nh vậy, bộ lạc làm xuất hiện phơng ngữ và ngợc lại, sự ra đời của

ph-ơng ngữ càng củng cố sự tồn tại của bộ lạc

Khi nhà nớc ra đời, nh một tất yếu phải có công cụ giao tiếp chung, đó

là ngôn ngữ toàn dân - và ngôn ngữ toàn dân đã ra đời trên cơ sở của cácngôn ngữ bộ lạc nh thế nên xu hớng thống nhất ngôn ngữ cũng là tất yếu nhmột quy luật khách quan của sự phát triển Song, có điều nh nhiều nhà ngônngữ đã nhận xét, do phơng ngữ có tính vững bền nhất định của nó nên quátrình thống nhất ngôn ngữ quốc gia không phải diễn ra một cách nhanh gọn

Nh đã nói trên, về mặt lý luận cũng nh thực tiễn của ngôn ngữ dân tộc hayngôn ngữ toàn dân là mang tính thống nhất nh một quy luật phát triển, nhmột đòi hỏi của xã hội ; tuy vậy trong biểu hiện lại phải chấp nhận tình trạng

có sự tồn tại của các phơng ngữ nh là một thực tế hiển nhiên của tính đa dạngngôn ngữ

Trong từng thời kỳ lịch sử, tuỳ theo chế độ xã hội của từng quốc gia,trong lòng ngôn ngữ dân tộc thống nhất vẫn xảy ra hiện tợng các phơng ngữ

đợc hình thành và củng cố dần do tình trạng cát cứ, tình trạng phân tán cáchbiệt của các biệt khu vực địa lý dân c ở các quốc gia phong kiến

Con đờng hình thành phơng ngữ khi đã có ngôn ngữ quốc gia trongnhững điều kiện địa lý giao tiếp cách biệt nh vậy, nhìn bề ngoài dờng nh đingợc lại, trái với quy luật phát triển thống nhất ngôn ngữ dân tộc, nhng hiệntợng này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian với điều kiện lịch sử xã hội cụthể của từng nớc Các phơng ngữ đó cũng mất dần tính cách biệt và đi đếnthống nhất khi hàng rào địa lý và giao tiếp xã hội của các nớc công quốc (ởChâu Âu), các vùng địa lý dân c cách biệt về giao thông (các nớc phong kiếnphơng Đông ) bị xoá bỏ

Trang 13

Dù phơng ngữ có đợc hình thành theo một trong hai con đờng nào nhtrên thì đó cũng chỉ là nguyên nhân kinh tế, địa lý, lịch sử xã hội - nguyênnhân bên ngoài ngôn ngữ Phơng ngữ ra đời còn là kết quả của một sự tác

động bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn luôn phát triển và biến

đổi Mặt biến đổi của nó đợc thể hiện trên từng phơng diện về ngữ âm, từvựng, ngữ pháp

Ngôn ngữ ở thời kỳ bộ lạc cũng nh ở giai đoạn đã hình thành dân tộc,

đều không ngừng biến đổi Sự biến đổi của ngôn ngữ là không đồng đều trêntừng bình diện ngôn ngữ cũng nh trên khắp các vùng dân c, vì thế tạo nên

đặc điểm riêng của từng phơng ngữ làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ cũng

nh trên khắp các vùng dân c, vì thế mà tạo nên đặc điểm riêng của từng

ph-ơng ngữ làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ trong thể hiện Trong điều kiệncác dân c cùng nói một ngôn ngữ nh sống trải trên một địa bàn lớn mà cácvùng dân c lại cách biệt nhau về địa lý, điều kiện giao thông và thông tin khókhăn, sự giao tiếp, tiếp xúc giữa các vùng không thờng xuyên, bị khép kín,thì thông thờng một sự thay đổi nào đó về ngôn ngữ cũng chỉ lan truyềntrong nội bộ dân c vùng địa lý đó mà thôi Ban đầu sự thay đổi tạo nên sựkhác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng địa lý dân c có thể chỉ là những yếu

tố rời rạc về mặt từ vựng nh sự xuất hiện của các từ mới, sự mất đi của các từ

cũ, về sau nhng thay đổi lớn hơn bắt đầu chạm đến cấu trúc của hệ thốngngôn ngữ nh sự biến đổi của một vài âm vị, sự thay đổi của các từ công cụngữ pháp trong từng vùng địa lí (nh ba phụ âm quặt lỡi (tr,r,s) mất đi trong

các phát âm của c dân vùng Bắc Bộ, việc quen dùng các từ chỉ trỏ: mô, tê,

răng, rứa mà không dùng đâu, kia, sao, thế ở địa bàn dân c Trung Bộ), đó là

những dấu hiệu của sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng dân c Nóicách khác, các phơng ngữ địa lý đã ra đời Đứng về phơng diện hoạt độnggiao tiếp mà nói ngôn ngữ thay đổi trong từng vùng dân c thay đổi và tạo rathói quen nói khác nhau các vùng dân c khác Tập hợp các thói quen nóinăng khác nhau đó của một vùng dân c so với vùng dân c khác là tập hợp tạonên phơng ngữ của từng vùng Nh vậy, Nhìn vào biểu hiện của ngôn ngữ trêntừng khu vực địa lí, ta thấy có sự khác nhau Sự khác nhau của các phơngngữ địa lí rõ ràng không không phải do nguyên nhân địa lí Nguyên nhân sâu

Trang 14

xa, bên trong là do sự phát triển biến đổi của ngôn ngữ Điều kiện địa lí chỉ

là nhân tố khách quan bên ngoài ngôn ngữ làm cho các cách biệt của ngônngữ đợc giữ lại và thể hiện ra Nếu không có sự phân bố tách biệt nhau về địa

lý thì không có những phơng ngữ nhng đó chỉ là điều kiện để các thay đổingôn ngữ đợc biểu hiện phổ biến trong vùng Trả lời câu hỏi tự đặt ra, cái gìtạo nên sự khác nhau giữa các phơng ngữ, F.de.saussre nói:"nếu ta tởng rằngchỉ có một không gian tạo nên thì ta mắc lừa một ảo giác ( ) Ngời ta quênnhân tố thời gian vì nó không cụ thể bằng nhân tố không gian; nhng thật ra,chính do nó mà có sự phân hoá ngôn ngữ"[32, tr.334] Và sự phân hoá ấy thểhiện bằng sự khác nhau của các vùng dân c về ngôn ngữ Cho nên sự khácnhau về địa lí các phơng ngữ thực chất "chính là lịch sử phát triển của ngônngữ ánh xạ lên phân bố địa lí"[10, tr.25] Thực ra, nếu xét một cách toàn diệnhơn, phơng ngữ là một hiện tợng phức tạp, ngoài những nguyên nhân chủyếu phổ biến tạo ra phơng ngữ nêu trên cần phải xét một cách cụ thể thêmnhững nhân tố khác, nh điều kiện tự nhiên, bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ,nguồn gốc c dân của từng nét khác biệt trong hệ thống một phơng ngữ.Chẳng hạn nh trong phơng ngữ Nam Trung Bộ - Nam Bộ, hiện tợng mất cặpphụ âm cuối [-n-t] ở một phần lớn vần trong phơng ngữ này, nguyên nhân cóthể là do ảnh hởng của cách phát âm tiếng Hán Triều Châu của bộ phận cdân ngời Hoa di c sang miền Nam (Theo lý giải của Hoàng Thị Châu[11,tr.199]); Và nếu nh c dân Nam Bộ không sống trên một vùng đất có đặc

điểm địa hình đặc biệt, kênh rạch sông ngòi chằng chịt, khác với c dân Bắc

Bộ và Bắc Trung Bộ thì chắc cũng không có một lớp từ vựng liên quan đếnsông nớc phong phú nh miên tả của Trần Thị Ngọc Lang cho biết về phơngngữ này (xin xem [24, tr.89-98]) Một thực tế khác nữa mà ta có thể thấy làtrong các phơng ngữ từ Bình Trị Thiên trở vào Nam Bộ có mặt một bộ phận

từ vựng quen dùng trong phơng ngữ Bắc Trung Bộ, phải chăng đó là sự phản

ánh đặc điểm lan truyền ngôn ngữ mà nguyên nhân của nó là do di chuyểndân c từ Thanh - Nghệ Tĩnh vào vào phía Nam trong lịch sử ? thật là lý thúnhng vô cùng phức tạp nếu ta đi tìm nguyên nhân tạo nên sự khác biệt củaphơng ngữ Song cũng chẳng nên quên, sự khác nhau giữa các phơng ngữ dùlớn đến đâu cũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn

Trang 15

dân, bởi các phơng ngữ nh vậy, trên căn bản giống nhau về hệ thống cấutrúc Chúng vẫn dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất Xu hớng thốngnhất ngôn ngữ, xoá bỏ dần sự khác biệt của các phơng ngữ trong ngôn ngữtoàn dân ở mỗi quốc gia là một tất yếu của sự phát triển của ngôn ngữ xã hội.

Từ những điều đã trình bày nh trên, ta có thể rút ra một vài đặc điểmcủa phơng ngữ sau:

Nếu nh ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ chung củatoàn dân tộc, là phơng tiện ngôn ngữ đợc dùng phổ biến rộng rãi hằng ngàytrong toàn quốc, không bị hạn chế về phạm vi sử dụng, thì:

- Phơng ngữ là một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trìnhphát triển biến đổi của quy luật ngôn ngữ

- Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn luôn diễn ra trên hai mặt cấutrúc và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ,

sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từvựng- ngữ nghĩa, ngữ pháp Phơng ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến

đổi ấy Chính vì vậy phơng ngữ khác ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnhnào đó, ở một mức độ nào đó, nhng trên căn bản, cái mã (code) chung- hệthống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, âm vị giữa phơng ngữ và ngôn ngữ toàndân là giống nhau

- Phơng ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân bị hạn chế

về phạm vi sử dụng Nói cách khác giới hạn sử sụng của phơng ngữ là trongnhững vùng địa lí dân c hoặc tầng lớp xã hội nhất định

- Phơng ngữ là một hiện tợng lịch sử, nó ra đời nh một tất yếu do sựphát triển, biến đổi của ngôn ngữ cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, do

đó với xu thế thống nhất ngôn ngữ ngày càng cao, phạm vi sử dụng của

ph-ơng ngữ ngày càng bị thu hẹp và về mặt lý thuyết, nó sẽ mất đi trong tph-ơnglai của một ngôn ngữ dân tộc thống nhất và đợc tiêu chuẩn hoá cao

Tóm lại, nói tới phơng ngữ (tếng Anh: dialect, tiếng Pháp: dialecte) lànói tới một hiện tợng phức tạp của ngôn ngữ không chỉ về mặt hệ thống cấutrúc cấu tạo cũng nh phơng diện thể hiện mà bản thân nó còn là sự phản ánhcủa nhiều mối quan hệ trong và ngoài ngôn ngữ Cho nên, để trả lời đ ợc câuhỏi: "phơng ngữ là gì?" làm cơ sở cho mọi sự khảo sát về phơng ngữ, ngời ta

Trang 16

đành phải trừu tợng hoá để khái quát về phơng diện cơ bản của đối tợng nhcác định nghĩa sau đây mà luận văn này xem là một trong những cơ sở vềmặt lý luận.

Theo Từ điển tiếng Việt của Việt của viện ngôn ngữ học thì: "phơng ngữ

là biến thể của ngôn ngữ học toàn dân theo địa phơng hoặc theo tầng lớp xãhội của một ngôn ngữ" [29, tr.766] Cũng có thể nhấn mạnh đến những nétkhác biệt trong biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể, nh

định nghĩa của Hoàng Thị Châu: "Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học

để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với nhữngnét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phơng ngữ khác"[ 11, tr.24] Hoặc đồng thời chú ý thêm tính hệ thống và các phơng diện thểhiện của nó nh quan niệm của nhóm tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn ĐứcDân, Nguyễn Quang, Vơng Toàn: "Phơng ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệthống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt đợc sử dụng ở một phạm vilãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu và quytắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác đợc gọi là ngôn ngữ (chotoàn dân tộc) các phơng ngữ (có ngời gọi là tiếng địa phơng, phơng ngôn)khác nhau trớc hết là ở cách phát âm, sau đó là vốn từ vựng" [27, tr.275]

ở đây chúng tôi thấy khái niệm của giáo s Hoàng Thị Châu phản ánh rõ

đặc điểm của phơng ngữ, có thể lấy đó làm cơ sở để nghiên cứu những vấn

đề cụ thể của phơng ngữ ba vùng Bắc, Trung, Nam

1.2 Các vùng phơng ngữ tiếng Việt

1.2.1 Các quan niệm phân chia các vùng phơng ngữ.

Vấn đề phân vùng phơng ngữ trong tiếng Việt là một trong những nộidung đợc nhiều nhà nghiên cứu về Tiếng Việt và phơng ngữ tiếng Việt quantâm nhiều nhất Nhng ở đây cũng là chỗ thể hiện rõ nhất sự không thống nhất

về đờng ranh giới của các phơng ngữ Sở dĩ không có đợc một tiếng nóichung về vấn đề này là do nhiều nguyên nhân Trớc hết là do bản thân đối t-ợng - ranh giới các phơng ngữ không phải là đờng ranh giới tự nhiên Ranhgiới của phơng ngữ là phản ánh phạm vi biến đổi của biến thể ngôn ngữ.Nhng sự biến đổi của ngôn ngữ lại không xảy ra đối với một hiện tợng Vìvậy mỗi biến đổi của ngôn ngữ lại không xảy ra đối với một hiện tợng Vì

Trang 17

vậy mỗi biến đổi của ngôn ngữ có thể tạo ra một đờng biên Tuỳ theo mức độlan toả của mỗi biến thể ngôn ngữ mà các đờng ranh giới (các đờng đồngngữ) có phạm vi rộng hẹp khác nhau Hơn nữa, ngôn ngữ lại liên tục pháttriển biến đổi vì thế các đờng đồng ngữ có thể chồng xếp, đan chéo lênnhau Do đó sẽ không bao giờ có đợc một đờng ranh giới phơng ngữ lí tởng

- mà nơi ấy là hợp lu của dòng chảy, là nơi gặp nhau của các con sóng ngônngữ, tạo nên sự trùng khít của các đờng đồng ngữ

Vậy nên, khi đi vào phân vùng phơng ngữ tiếng Việt chúng ta thấy ýkiến của các tác giả rất khác nhau

Đầu tiên là ý kiến phân vùng phơng ngữ tiếng Việt của H Maspéro(1912) của tiếng Việt ra làm hai vùng: phơng ngữ Bắc và phơng ngữ Trung.Học giả cho rằng ngời Việt ở miền Nam là gốc ở miền Bắc mới vào sinhsống không lâu do tiếng miền Nam về cơ bản là giống phơng ngữ Bắc (dẫntheo [11, tr, 85])

Cùng hớng phân chia này còn có các tác giả khác nh M VGordina vàL.SBustrov (1970) nhng hai tác giả này lại lấy biên giới chạy qua phía Namtỉnh Quảng Trị để phân chia tiếng Việt thành hai phơng ngữ: Phơng ngữ Bắc

và phơng Ngữ Nam (dẫn theo [11, tr.86]

Chia tiếng Việt ra làm 4 vùng phải kể đến ý kiến của Nguyễn KimThản Ông chia tiếng Việt thành: Phơng ngữ Bắc, phơng ngữ Trung Bắc Ph-

ơng ngữ Trung Nam, phơng ngữ Nam (dẫn theo [11, tr.87]

Có giải pháp chia tiếng Việt ra 5 vùng đó là ý kiến của Nguyễn Bạt Tuỵ:Phơng ngữ miền Bắc (gồm cả Thanh Hoá), phơng ngữ Trung trên, phơng ngữTrung giữa, phơng ngữ Trung Dới và phơng ngữ Nam (dẫn theo [11, tr.88]Phần lớn các nhà nghiên cứu đều chia tiếng Việt ra ba vùng phơng ngữ,phơng ngữ Bắc Bộ, phơng ngữ Bắc Trung Bộ, phơng ngữ Nam Trung Bộ -Nam Bộ Đó là những tác giả nh: Nguyễn Hng, Phan Kế Bính, Vơng Hữu Lễ,Hoàng Thị Châu, Nguyễn Nhã Bản, Võ Xuân Trang

Tiếng Việt hiện đại trong thế kỉ chúng ta gồm ba vùng phơng ngữ:

Ph-ơng ngữ Bắc Bộ (viết tắt là PNB), phPh-ơng ngữ Bắc Trung Bộ(viết tắt là PNT),phơng ngữ Nam Trung Bộ - Nam Bộ (viết tắt là PNN)

Trang 18

Nếu dựa vào ngôn ngữ của nhân dân ta, mà hiện nay đại đa số vẫn lànông dân và sống ở nông thôn, thì việc phân ra ba vùng phơng ngữ là phùhợp với tình hình phân bố phơng ngữ, thổ ngữ tiếng Việt trong một thời giandài trớc đây, và vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay Nhng cũng cần phải nóirằng, tình hình này vẫn không ổn định mà đang biến động mạnh mẽ theonhững biến động to lớn của cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa trong toànquốc Việc chuẩn hoá ngôn ngữ tiếng Việt ngày càng đạt hiệu quả cao Vìvậy, ba vùng phơng ngữ mà ta tạm phân chia cho tiện khảo sát chỉ phản ánhtình hình phân bố phơng ngữ trong một giai đoạn lịch sử nhất định.

1.2.2 Đặc điểm chung các vùng phơng ngữ Việt

1.2.2.1 Đặc điểm PNB.

PNB theo sự phân vùng hiện nay là tiếng nói của c dân các tỉnh thuộc

đồng bằng châu thổ sông Hồng và các tỉnh lân cận, một vùng lớn bao gồmcác tỉnh từ phía Bắc Thanh Hoá trở ra

Hệ thống thanh điệu của PNB gồm có 6 thanh (nh trong chính tả), độphát âm bổng hơn các vùng phơng ngữ khác Vùng phơng ngữ này có 20 âm

vị phụ âm đầu, so với vùng phơng ngữ Trung, phơng ngữ Bắc bộ không có

những phụ âm ghi trong chính tả là s, r, gi, tr, tức không phân biệt s/ x;

r/d/gi; tr/ch Hệ thống âm cuối: có đủ các âm cuối ghi trong chính tả Vùng

phơng ngữ này có thể chia thành ba vùng nhỏ:

- Phơng ngữ vòng cung biên giới phía Bắc nớc ta

- Phơng ngữ vùng Hà Nội và các tỉnh đồng bằng, trung du bao quanh HàNội

- Phơng ngữ miền hạ lu sông Hồng và ven biển (Thái Bình, Nam Định,Ninh Bình, Quảng Ninh)

Phơng ngữ này là cơ sở hình thành nên ngôn ngữ dân tộc, văn học; đợcxem là ngôn ngữ chuẩn của ngời Việt Vì thế số lợng từ địa phơng khôngnhiều

Vùng Châu thổ Bắc Bộ (viết tắt là BB) là vùng đất lịch sử lâu đời củangời Việt, nơi khai sinh của các vơng triều đại Việt, đồng thời cũng là quê h-

ơng của các nền văn hoá Đông Sơn, Thăng Long - Hà Nội Đây là cái nôi vănhoá, văn minh Việt từ buổi ban đầu và hiện tại cũng là nền văn hoá bảo lu đ-

Trang 19

ợc nhiều giá trị truyền thống hơn cả Trên đờng đi tới xây dựng một nền vănhoá hiện đại, đậm đà bản sắc dân tộc, vùng văn hoá này vẫn có những tiềmnăng nhất định Theo đó ngôn ngữ cũng đợc khẳng định vị trí của mình Bởihơn đâu hết ngôn ngữ lâu bền nhất đặc điểm văn hoá của mỗi dân tộc, mỗivùng.

1.2.2.2 Đặc điểm PNT.

Theo giáo s Nguyễn Tài Cẩn phơng ngữ khu IV - Bắc Trung Bộ (viết tắt

là TB) đợc hình thành cách đây chừng năm trăm năm do sự tác động củatiếng Việt BB, sau vài thế kỉ, ở BB, dới sự tác động của tiếng Hán, tiếng Việt

BB đã tách khỏi tiếng Mờng thành hai ngôn ngữ [7, tr.111]

Nh vậy sau khi tiếng Việt BB đã tách khỏi tiếng Mờng do ảnh hởng củatiếng Hán thì vài thế kỉ sau, vùng IV vẫn là tiếng nói Việt Mờng Nếu nhtiếng Việt BB tách khỏi tiếng Mờng là do ảnh hởng trực tiếp của tiếng Hánthì tiếng Việt khu IV tách khỏi tiếng Mờng là do ảnh hởng trực tiếp củatiếngViệt BB Do đó trong tiếng nói của c dân khu IV mang dấu ấn tiếng M-ờng rõ ràng là đậm hơn tiếng nói vùng BB, cũng có nghĩa là tiếng nói PNTmang tính chất cổ hơn PNB có hệ thống thanh điệu 5 thanh (khác với hệthống thanh điệu PNB cả về số lợng lẫn chất lợng)

Hệ thống phụ âm đầu có 23 phụ âm, hơn PNB 3 phụ âm uốn lỡi [ț , Ş , Ȥ]. (Chữ quốc ngữ ghi bằng s, r, tr).

Theo nhiều nhà nghiên cứu (Hoàng Thị Châu, (1989); Võ Xuân Trang,(1992)) vùng PNT có thể chia thành ba phơng ngữ là phơng ngữ Thanh hoá,phơng ngữ Nghệ Tĩnh, phơng ngữ Bình Thị Thiên Hoàng Trọng Canh (luận

án tiến sĩ 2001) chỉ ra rằng do phơng ngữ Thanh Hoá và Phơng ngữ Bình TrịThiên mang đặc điểm chuyển tiếp nên có thể xem phơng ngữ Nghệ Tĩnh làphơng ngữ đại diện tiêu biểu cho vùng PNT

Đợc hình thành từ lâu đời; do nhiều đặc điểm về địa lý, dân c, môi ờng, điều kiện tiếp xúc ngôn ngữ nên đây là vùng phơng ngữ cổ còn bảo lu

tr-đợc nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt Về mặt văn hoá, đây cũng là vùng còngiữ đợc nhiều nét văn hoá cổ, truyền thống của ngời Việt Điều này đợc phản

ánh một phần qua vốn từ địa phơng Trong đó có lớp từ đợc tạo nên từ sự

Trang 20

biến đổi ngữ âm của tiếng Việt trong lịch sử, có lớp từ là kết quả của sự biến

đổi ngữ nghĩa của từ trong từ vựng, có lớp từ là những từ cổ của tiếng Việt

1.2.2.3 Đặc điểm phơng ngữ PNN.

Văn hoá Nam Bộ (viết tắt là NB) là văn hoá của vùng đất mới, nó pháttriển cách xa vùng đất cội nguồn cả không gian và thời gian Hay nói cáchkhác đi là những loài cây quen thuộc vùng đất cũ, đợc đem cấy trồng nơi đấtmới Cho nên, nền văn hoá này, vừa có nét giống lại vừa có nét khác với nềnvăn hoá ở vùng đất cội nguồn, của cùng một tộc ngời Vì vậy kéo theo đó làtiếng nói cũng có điểm chung và riêng so với tiếng nói các vùng

Vùng đất này mới có độ tuổi đời hơn 300 năm Nguồn gốc xuất phátcủa c dân NB là điều đáng lu ý, nếu nh dân vùng TB chủ yếu là c dân ThanhHoá, Nghệ Tĩnh vào định c còn vùng NB lại chủ yếu là dân Nam Trung Bộvào từ thời Trịnh - Nguyễn Ta biết, ngôn ngữ là một tập quán mà ngời tamang theo mình và không thay đổi dễ dàng đợc Những dân mới đến sẽ nóithổ ngữ của mình, rồi do thời gian xa cách lâu mà cái thổ ngữ ấy có thể thay

đổi, những những nét cơ bản của thổ ngữ cũ vẫn còn Do đó, tuy là vùng mới

đến cả những sẽ nói khác nhau tuỳ theo nguồn gốc

PNN có năm thanh điệu, thanh ngã và thanh hỏi trùng làm một Về mặt

điệu tính, thanh điệu Nam cũng khác thanh điệu Bắc và Trung Hệ thống phụ

âm đầu cũng có 23 đơn vị và có các phụ âm uốn lỡi nh PNT [ț , Ş , Ȥ] Sovới các phơng ngữ khác thì PNN thiếu [V] (V phát âm thành j) và có âm[W], không có âm [Z] và đợc thay thế bằng âm [j] Âm đệm [-W] đang biếnmất trong PNN và còn mất rất nhiều vần so với PNB và PNT, thiếu đôi âmcuối [-nh, - ch]; âm cuối [- n] phát âm thành [ng], [- t] phát âm thành [k].Thế nhng trong một khoảng thời gian rất ngắn ấy, văn hoá NB đã định hình

rõ những đặc trng vùng của mình Nhiều nhân tố tạo ra điều này, nhngkhông thể không thừa nhận quá trình tiếp biến văn hoá Rõ nhất của quátrình tiếp biến này là hiện tợng sử dụng có nhiều ngôn ngữ trong vùng (tiếpxúc tiếng Pháp, Mĩ, c dân nói tiếng Khơme, Chăm, Hoa ) Thậm chí cónhững câu nói, câu hát bình dân có sự pha tạp giữa các ngôn ngữ khác nhau

Sự giao lu sớm tiếp nhận văn hoá phơng Tây, văn hoá Mỹ nên văn hoá NB sẽ

có những đặc điểm mà vùng khác không có

Trang 21

Mặt khác, NB là vùng văn hoá có nhiều tôn giáo tín ngỡng cùng đan xentồn tại Nói đúng hơn là diện mạo tôn giáo tín ngỡng NB khá đa dạng vàphức tạp do đó tiếng nói vùng này cũng khá đa dạng.

Trong ứng xử với thiên nhiên, các tộc ngời NB cũng có những nét khácbiệt so với các vùng văn hoá khác khi con ngời tới vùng này sinh sống, họ

đều đứng trớc một thiên nhiên vừa có phần lạ lẫm vừa huyền bí Khác với

đồng bằng sông Hồng, NB dù có tới 4900 km kênh đào, dù có hai dòng sônglớn, vẫn không hề có một km đê nào Dựa theo chế độ thuỷ triều, hệ thốngthuỷ lợi ở NB đa nớc ngọt từ sông lớn vào sông nhỏ, vào kênh rạch rồi lên v-

ờn, lên nơng Nghĩa là một thái độ ứng xử hoàn toàn khác với ở BB

Nh vậy, sự phong phú, đa dạng về văn hoá và đặc điểm c dân khôngphải là ngời bản địa đã tạo nên sự phong phú đa dạng trong ngôn ngữ nơi

đây PNN có nhiều nét giống với PNT là đều có cơ sở về mặt lịch sử xã hội

và ngôn ngữ

Tóm lại: Phơng ngữ có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ toàn dân Phơng

ngữ là biểu hiện của ngôn ngữ dân tộc trên con đờng Phát triển biến đổi.Tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc thể hiện trên các phơng ngữ khác nhau.Phơng ngữ là một phần hình ảnh lịch sử của một ngôn ngữ chung thống nhất

Do tính đặc thù về điều kiện địa lý, c dân, phong tục tập quán của từngvùng; do sự phát triển biến đổi, lan toả không đồng đều của các hiện tợngngôn ngữ quốc gia thống nhất nhng trong lòng nó lại có các phơng ngữ khácnhau

Ngoài cái mã ngôn ngữ chung, giữa các phơng ngữ vì thế mà có nhữngkhác biệt về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp Tiếng Việt có ba vùngphơng ngữ lớn: PNB, PNT và PNN Những biểu hiện của tiếng Việt ba vùng

là minh chứng cho tính thống nhất và đa dạng của phơng ngữ So sánh từ của

ba vùng về mặt cấu tạo và ngữ nghĩa có thể thấy đợc phần nào đặc điểmchung và riêng đó

1.3 Từ địa phơng

1.3.1 Các quan niệm về từ địa phơng

Gắn liền với việc xác định khái niệm phơng ngữ là việc xác lập khái

niệm Từ địa phơng Có nhiều nhà nghiên cứu xét từ địa phơng nhấn mạnh

Trang 22

tính riêng biệt của nó và sự tồn tại chỉ ở một địa phơng Giáo s Nguyễn Văn

Tu cho rằng: "Từ một phơng ngữ thuộc một ngôn ngữ dân tộc nào đó và chỉphổ biến trong phạm vi lãnh thổ vùng địa phơng đó" [34.tr 129]

Và "Từ địa phơng không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc tiếng nóicủa một vùng nhất định Chúng mang sắc thái địa phơng ngời địa phơng nàykhông hiểu từ của địa phơng kia" [34 tr 129]

Giáo s Đỗ Hữu Châu lại đề cập đến tính khác biệt hai mặt ngữ âm vàngữ nghĩa của từ địa phơng: "Những đơn vị từ vựng địa phơng là những đơn

vị từ vựng có nghĩa khác nhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau về ngữ âmnhiều hay ít những không nằm trong sự dị ngữ âm đều đặn" [8,tr.241]

Giáo s Nguyễn Thiện Giáp nhấn mạnh phạm vi sử dụng của từ địa

ph-ơng: "Nói chung, từ địa phơng là những từ vựng ngôn ngữ nói hàng ngàytrong một bộ phận nào đó của dân tộc chứ không phải là từ vựng của ngônngữ học" [dẫn theo 41, tr.340]

Giáo s Nguyễn Quang Hồng lại nhấn mạnh đến đặc điểm biến thể vàphạm vi sử dụng quen thuộc của từ địa phơng: "Từ địa phơng là những đơn vị

và dạng thức từ ngữ của một ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng

tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phơng nhất định"(dẫn theo Hoàng Trọng Canh [4])

Theo các định nghĩa trên, ta thấy rằng mỗi khái niệm phản ánh một góc

nhìn cụ thể, mức độ khái quát có sự khác nhau Trong cuốn Từ điển tiếng địa

phơng Nghệ Tĩnh của Nguyễn Nhã Bản, Phan Mậu Cảnh, Hoàng Trọng

Canh, Nguyễn Hoài Nguyên, các tác giả đã đa ra định nghĩa: "Từ địa phơngvốn là từ c trú ở một địa phơng cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóahoặc địa phơng khác về ngữ âm và ngữ nghĩa" [2, tr.16]

Nh vậy từ các định nghĩa trên, ta có thể khẳng định rằng: Phơng ngữ nóichung, từ địa phơng nói riêng có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ toàn dân,chúng vừa có sự khác biệt, vừa có sự đồng nhất với ngôn ngữ toàn dân và từtoàn dân Phơng ngữ là một trong những biểu hiện của tính đồng nhất trong

sự đa dạng của ngôn ngữ dân tộc

1.3.2 Định nghĩa về từ địa phơng

Trang 23

Dựa theo những nét chính yếu trong quan niệm của các nhà nghiên cứu

đi trớc, đặc biệt là ý kiến của Nguyễn Quang Hồng, chúng tôi rút ra chomình một cách hiểu chung về từ địa phơng để làm cơ sở khảo sát và nghiêncứu:

Từ địa phơng là những đơn vị và dạng thức từ ngữ của ngôn ngữ dân tộc

đợc sử dụng quen thuộc ở một hoặc vài địa phơng nhất định có những nét khác biết với ngôn ngữ toàn dân.

Tóm lại: Khi nói đến phơng ngữ hay từ địa phơng là nói đến hai điểm:

- Phơng ngữ và từ địa phơng hay biến thể - hay là những khác biệt so vớingôn ngữ toàn dân ở một địa bàn dân c nào đó

- Các biến thể đó đợc ngời địa phơng quen dùng

1.3.3 Đặc điểm chung của từ địa phơng về phơng diện cấu tạo và ngữ nghĩa

Nh ta đã biết, từ trong phơng ngữ là những đơn vị biến thể của tiếngViệt nên nó có quan hệ chằng chéo, vừa có quan hệ với các yếu tố trongngôn ngữ toàn dân, vừa có quan hệ với các yếu tố trong vốn từ địa phơng,không rõ ràng hẳn về một mặt nào đó Hệ thống vốn từ phơng ngữ tuy nằmngoài hệ thống vốn từ toàn dân nhng chịu chi phối, tác động của hệ thốngvốn từ đó Cho nên các thành tố cấu tạo từ và vấn đề ngữ nghĩa của từ trongphơng ngữ hết sức phức tạp, không chỉ về thành phần mà còn ở khả năng sảnsinh

Về cấu tạo, từ địa phơng gồm ba loại nh trong tiếng Việt toàn dân: từ

đơn, từ ghép, từ láy Và nh vốn từ chung, một trong những cách làm giàu vốn

từ phơng ngữ là bằng con đờng cấu tạo và phát triển ngữ nghĩa của từ Songvốn từ phơng ngữ là một hệ thống biến thể của tiếng Việt trong quá trìnhphát triển của ngôn ngữ dân tộc; tuy nằm ngoài hệ thống vốn từ toàn dân nh-

ng lại có quan hệ không tách rời nhất là về mặt lịch sử với nó Do vậy, trongthành phần của các yếu tố tạo từ cũng nh những quan hệ cụ thể về mặt cấutạo xét trên những kiểu loại từ nhất định về tính chất, so với ngôn ngữ toàndân cấu tạo từ trong phơng ngữ tuy mang những đặc điểm chung về quy tắccấu tạo từ của tiếng Việt nhng từ địa phơng cũng có những nét riêng nhất

định

Trang 24

Có những yếu tố mà bản thân nó hiện nay vừa đợc dùng trong hệ thốngngôn ngữ toàn dân vừa đợc dùng cả trong hệ thống phơng ngữ Và có nhiềutrờng hợp đợc dùng trong cả ba vùng phơng ngữ Nhng khi hoạt động trong

hệ thống phơng ngữ thì lại đợc sử dụng với nghĩa khác với nghĩa trong ngônngữ toàn dân hoặc khác với từ trong phơng ngữ khác Sở dĩ có hiện tợng nhvậy là do khi hoạt động trong hệ thống vốn từ phơng ngữ thì chịu sự chi phốicủa những quan hệ trong nội bộ phơng ngữ, từ đợc tạo thêm những nghĩariêng theo đúng quy luật chuyển nghĩa của từ đa nghĩa Với nghĩa mới khácnày, khi hoạt động trong hệ thống phơng ngữ thì từ đợc xem là từ địa phơng

nh: đau, nóng, ốm… Chẳng hạn đau ngoài nghĩa đợc dùng trong ngôn ngữ

toàn dân chỉ cảm giác khó chịu do cơ thể bị thơng tích [29, tr.291] Khi đợcdùng trong PNT và PNN có thêm nghĩa: "cảm giác khó chịu khi cơ thể bịbệnh" (nghĩa nh ốm)

Qua đó chúng ta có thể hình dung rằng việc chỉ ra các thành tố cấu tạo

và đặc điểm ngữ nghĩa của nó trong phơng ngữ ba vùng là hết sức phức tạp

Về mặt ngữ nghĩa của từ địa phơng nếu dựa vào âm và nghĩa trong tơngquan so sánh với toàn dân chúng tôi chia từ địa phơng thành 6 loại: 1-những

từ và có sự tơng ứng ngữ âm vừa có sự tơng đồng về nghĩa 2- những từ có

sự tơng ứng về ngữ âm và có sự biến đổi ít nhiều về nghĩa 3- Những từ cùng

âm nhng xê dịch ít nhiều về nghĩa 4- Những từ cùng âm những khác nghĩa.5- Những từ khác âm nhng có sự tơng đồng về nghĩa 6- Những từ khác âmkhác nghĩa

Từ những cơ sở và tiền đề lý thuyết nh trên cho phép luận văn đi vàokhảo sát các phơng diện: cấu tạo và ngữ nghĩa của từ trong các vùng phơngngữ

Trang 25

2.1.1 Yếu tố tạo từ trong tiếng Việt

Khi nói tới tiếng Việt, cùng với đặc điểm ngữ pháp thì đặc điểm cấu tạocũng là một thành phần hình thức góp phần xác định từ Thông thờng việcnhận thức t cách từ và đặc điểm cấu tạo của một tổ hợp âm thanh nào đó, tathờng đặt ra những câu hỏi để nhận thức xem tổ hợp âm thanh đó đã đủ tcách là từ hay cha hay chỉ là một yếu tố cấu tạo từ, hay chỉ là một tổ hợp củahai hay ba từ Nếu đã là từ thì nó do những yếu tố nào tạo nên và đợc tạo ratheo cách thức nào

Trả lời cho câu hỏi đại loại nh vậy chính là ta đang nói đến những vấn

đề liên quan đến cấu tạo từ

Truyền thống ngôn ngữ học đã từng ủy thác cho hình thái học nhiệm vụnghiên cứu hệ thống biến hình của từ, cấu trúc của từ, các phơng thức cấu tạo

từ và hệ thống từ loại Một khi từ của tiếng Việt, cũng nh các ngôn ngữ đơnlập khác không biến hình, thì mặc nhiên hình thái học tiếng Việt tập trungnghiên cứu hệ thống từ loại, cấu trúc của từ và các phơng thức cấu tạo từ.Lâu nay giới việt ngữ học đã để tâm nhiều đến việc nghiên cứu và miêutả hệ thống từ loại và các phơng thức cấu tạo từ Việc nghiên cứu cấu trúccủa từ còn ít đợc chú ý, mặc dù trong hình thái học, sự nghiên cứu cấu trúccủa từ giữ vị trí trung tâm Tuy nhiên nghiên cứu cấu trúc của từ trong tiếngViệt cha có nhiều kết quả, song những cách thức, những thao tác phân tíchcấu trúc của từ thì cũng đã đợc áp dụng phổ biến, nhất quán

Phân tích cấu trúc của từ, theo quan niệm phổ biến là phân xuất cácthành tố tạo nên từ và xác định chức năng của chúng Trong tiếng Việt dù gọi

nó là "hình vị" hay "tiếng" thì ngời ta đều nhận thấy rằng nó là thành tố tạonên từ Xét theo khả năng sản sinh ra các từ cho từ vựng tiếng Việt, yếu tốcấu tạo từ thờng đợc quan niệm đó là yếu tố mà tiếng Việt sử dụng để cấu

Trang 26

tạo ra các từ cho từ vựng Những yếu tố đó có đặc điểm gì chung, có những

điều kiện nào mới có khả năng tạo từ

Có thể cho rằng trong tiếng Việt các yếu tố cấu tạo từ là những hìnhthức ngữ âm có nghĩa nhỏ nhất (có thể là nghĩa thực, có thể nghĩa kết cấu) đ-

ợc dùng để cấu tạo ra các từ theo các phơng thức cấu tạo từ của tiếng Việt.Phân tích cấu trúc của từ, trớc hết ngời ta phải chú ý đến những thành tốtạo nên từ, nhng nh thế là cha đủ Bởi vì các thành tố của từ mới chỉ là chấtliệu Chúng ta chỉ có từ khi những chất liệu đó liên kết lại với nhau, hay đợc

tổ chức lại nhờ những phơng tiện, quan hệ nhất định và theo những phơngthức khác - cách thức nào đấy Và "kỹ thuật" liên kết các thành tố ấy lại đợcthể hiện ở các kiểu quan hệ bên trong của từ Vì thế phân tích cấu trúc của từkhông chỉ là phân xuất các thành tố tạo nên từ và xác định chức năng củachúng mà còn phải nghiên cứu các phơng thức - cách thức và phơng tiện liênkết (hay tổ chức) các thành tố ấy

Nh vậy, vấn đề đặt ra trong luận văn này là: trong cấu trúc của từ địa

ph-ơng ba vùng có bao nhiêu loại thành tố và các thành tố ấy đợc tổ chức lạibằng cách nào và nhờ phơng tiện gì? so sánh về cấu tạo, phơng ngữ ba vùng

có gì giống, có gì khác?

Trả lời câu hỏi trên với tiếng Việt đã khó, với từ địa phơng lại càng khóhơn, nhất là khi so sánh từ địa phơng của 3 vùng về các phơng diện trên Đểrút ra đợc những đặc điểm chung, những đặc điểm riêng (xét về cấu tạo vàngữ nghĩa) giữa ba vùng phơng ngữ cũng là một thử thách thực sự không nhỏ

đối với luận văn này

2.1.1.2 Yếu tố tạo từ trong phơng ngữ

Đối chiếu các từ địa phơng giữa ba vùng phơng ngữ, nét chung nổi bật

là các phơng ngữ đều sử dụng các yếu tố là một trong các hình thức biến đổingữ âm của tiếng Việt về phụ âm đầu, vần hay thanh điệu làm yếu tố sử dụngcấu tạo từ trong phơng ngữ

Ví dụ: Các yếu tố biến âm trong PNB đã đợc dùng độc lập với t cách từ

đơn, hoặc có thể là yếu tố - bộ phận của từ phức: Bánh gio (Tro); bầu giời (bầu trời); Bậu (đậu); bầu bậu (bàu bạu), béo (véo); bíu cổ (bớu cổ); bò nái (bò cái); bọ dóm (sâu róm), bồ côi (mồ côi); bồ kếp (bồ kết); bốc (cốc đựng

Trang 27

bia khoảng 1/4 lít); chặc (tắc lỡi); chấm phảy (chấm phẩy), dáp (ráp); dát (nhát); dận (rận); dầy (dày); bủn (mủn)

Các yếu tố biến âm đợc dùng trong PNT: ló (lúa); gấy (gái); lả (lửa);

nác (nớc); ga (gà); cỏ gú (cỏ gấu); bấp (vấp); trẹo (sẹo); khót (gọt); khở (gỡ); vèng (vòng); nác méng (nớc miếng); của trìm (của chìm); di (giây); củi lả

(củi lửa); di da (dây da); nhố nhăng (lố lăng)…

Các yếu tố biến âm trong PNN: Bơ ngơ (bơ vơ); bơ thờ (bơ phờ); kẹo

nẹo (kèo nèo); lác chác (lách chách); rụt lùi (thụt lùi); sủng (trủng); sum sia

(sum sê); sủn (sủi); sùng (khùng); sơ sịa (sơ sài); phui pha (phôi pha); phún (phun); phảy (phẩy); phành (phanh, banh); nọn (lọn rau); mĩu (bĩu)…

Ngoài việc sử dụng các yếu tố ngữ âm làm thành tố cấu tạo từ địa phơng

nh đã nói, các phơng ngữ còn sử dụng các yếu tố có tính chất phơng ngữ đểcấu tạo từ Đây là những yếu tố riêng thờng chỉ những sự vật, phong tục tậpquán riêng của từng vùng do đó chúng không tơng ứng ngữ âm và ngữ nghĩa

so với từ toàn dân Ví dụ: PNB dùng bủ tạo từ bà bủ có nghĩa lão, cụ (bà bủ);

bơn (cồn, doi cát ở giữa sông)… PNT dùng: nhút, chẻo, vẹm… PNN dùng

các yếu tố riêng nh: miệt (miệt vờn); cù lao; nóp, cà om … trong số các yếu

tố thuộc loại từ này có những từ đã dần quen thuộc với ngời mọi vùng đợc

dùng nh từ toàn dân, nh: sầu riêng, măng cụt, chôm chôm…

Ngoài hai loại yếu tố trên, các phơng ngữ còn dùng các yếu tố vay mợn,yếu tố cổ, số lợng không giống nhau làm từ tự do trong phơng ngữ mình Ví

dụ: yếu tố vay mợn: lổ (trổ); lịp (nón); mạo (mũ), yếu tố cổ: mun (tro); báng (húc); biêu (đuổi)… trong PNT Các yếu tố vay mợn: bạch lạp (Hán Việt);

banh (bóng); bóp (ví); bắc (phà), yếu tố cổ: lẹ (mau lẹ); bận (bộn bề); ngộ

(ngộ nghĩnh), ngừa (ngăn ngừa); nôn (nôn nóng)… trong PNN

Nh vậy, cả ba vùng phơng ngữ tiếng Việt đều sử dụng các loại yếu tốbiến âm, yếu tố cổ, yếu tố vay mợn và yếu tố riêng làm từ trong phơng ngữmình, nhng mức độ, số lợng không giống nhau (về tỉ lệ và số lợng các yếu tốtrong các phơng ngữ xin xem mục 2.2.1)

2.1.2 Phơng thức tạo từ trong tiếng Việt và trong phơng ngữ

Hiện nay cấu tạo từ của tiếng Việt đang đợc tiến hành nghiên cứu mộtcách sâu rộng Các nhà nghiên cứu đã cố gắng đa ra những mô hình cấu trúc

Trang 28

của từ với số lợng và tên gọi ít nhiều có khác nhau Nh Nguyễn Tài Cẩn(1975), Nguyễn Thiện Giáp (1996), Hoàng Văn Hành, Hà Quang Năng,Nguyễn Văn Khang (1998), Hồ Lê (1976), Đỗ Thị Kim Liên (1999)… kếthừa những thành tựu đã đạt đợc của Việt ngữ học, trong phạm vi này, ĐỗHữu Châu đã đa ra một sơ đồ có tính chất tổng kết về kiểu cấu trúc và cácphơng thức cấu tạo của tiếng Việt nh sau:

Từ đơn - phơng thức từ hóa hình vị

Từ ghép - phơng thức ghép

Từ phức

Từ láy - phơng thức láyTác giả gọi hình vị gốc là a, b… và mô hình hóa cấu trúc của tiếng Việtbằng mô thức:

đánh giá, xin xem Hoàng Văn Hành) [21]

Chúng tôi dựa vào mô hình cấu tạo chung của tiếng Việt nh trên đểkhảo sát cấu tạo từ trong ba vùng phơng ngữ Đặc điểm chung của ba vùngphơng ngữ là đều xuất phát từ cấu tạo chung của tiếng Việt Bởi, dù là từ ph-

ơng ngữ nào thì chúng cũng là một dạng biểu hiện của tiếng Việt mà thôi Sựkhác nhau về cấu tạo từ trong phơng ngữ so với ngôn ngữ toàn dân chỉ là trật

tự quan hệ và tính chất của các yếu tố Luận văn này chúng tôi không bànnhiều về loại từ đơn, bởi con đờng hình thành từ đơn trong phơng ngữ là từnhững nguồn khác nhau Riêng đối với loại từ phức, đi tìm từ ghép và từ láy

đợc tạo ra theo những mô hình cụ thể nào từ đó chúng tôi sẽ khái quát lên

đặc điểm chung của ba vùng phơng ngữ

Ngoài biện pháp sử dụng các yếu tố biến đổi ngữ âm, biến đổi ngữnghĩa và các yếu tố có nguồn gốc khác nhau để tạo từ đơn, phơng ngữ còn sửdụng các yếu tố toàn dân và địa phơng theo những kiểu kết hợp khác nhau để

Trang 29

tạo từ đa tiết Dựa vào tính chất ngữ nghĩa của các yếu tố và kiểu quan hệgiữa các yếu tố đó chúng tôi khái quát thành 6 loại mô hình phổ biến Vàthấy rằng phơng ngữ ba vùng Bắc, Trung, Nam có chung 6 loại này (cụ thể

về số lợng và tỉ lệ xin xem mục 2.2.2.)

2.2 Đặc điểm cấu tạo từ địa phơng

Nh đã nói cấu tạo từ địa phơng cũng gồm ba loại nh trong tiếng Việttoàn dân là từ đơn, từ ghép và từ láy Và nh vốn từ chung, một trong các cáchlàm giàu vốn từ phơng ngữ là bằng con đờng cấu tạo và phát triển ngữ nghĩacủa từ Song hệ thống vốn từ phơng ngữ là hệ thống biến thể của tiếng Việttrong quá trình phát triển của ngôn ngữ dân tộc, tuy nằm ngoài hệ thống vốn

từ toàn dân nhng lại có quan hệ không tách rời, nhất là về mặt lịch sử vớingôn ngữ toàn dân Do vậy trong thành phần của các yếu tố tạo từ, xét trênnhững kiểu loại từ nhất định, về tính chất so với ngôn ngữ toàn dân, cấu tạo

từ địa phơng cũng có nét riêng biệt

2.2.1 Đặc điểm các yếu tố cấu tạo từ trong các phơng ngữ

2.2.1.1 Đặc điểm yếu tố biến âm trong các phơng ngữ

Trong các phơng ngữ yếu tố đợc dùng phổ biến nhất trong các loại từ làdạng thức biến thể ngữ âm của tiếng Việt, chúng tôi gọi là yếu tố biến âm.Theo thống kê phân loại của chúng tôi, lớp từ có nguồn gốc là biến thể ngữ

âm của tiếng Việt trên cả ba vùng phơng ngữ gồm 3106 đơn vị, trong đó cóloại biến thể ngữ âm ở phần phụ âm đầu với 1136 đơn vị, chiếm 36,8% trongtổng số từ biến âm của cả ba vùng phơng ngữ, loại biến thể ngữ âm ở phầnvần có 1564 đơn vị, chiếm 50,2% trong tổng số từ biến âm của ba vùng, loạibiến thể ở thanh điệu gồm 406 đơn vị, chiếm 13% trong tổng số từ biến âmcủa ba vùng phơng ngữ Qua những số liệu trên, ta thấy so với biến thể phụ

âm đầu và phần vần thì biến thể thanh điệu chiếm tỷ lệ thấp nhất Nhìnchung, các dạng từ ngữ trong phơng ngữ đợc tạo ra theo quy luật biến đổingữ âm nh vậy, về nghĩa qua sử dụng trong phơng ngữ cũng có những khácbiệt nhất định so với các dạng thức tơng ứng ngữ âm trong ngôn ngữ toàndân, cho nên ít nhất là ở góc độ phơng ngữ có thể khẳng định, hiện tợng biến

âm nh thế là có giá trị tạo từ

Ví dụ:

Trang 30

Trong PNB: tuông và tung là biến thể ngữ âm của nhau, trong tiếng Việt, vừa đồng nhất lại vừa dị biệt về nghĩa Theo Từ điển tiếng Việt, tung có

5 nghĩa: 1- làm cho di chuyển mạnh và đột ngột lên cao Gió tuông bụi mịt

mù 2- Làm cho đột ngột mở rộng mạnh ra gần nh mọi hớng Tung chăn vùng vùng dậy 3- Đa ra cùng một lúc nhằm mọi hớng Tung truyền đơn 4-

(thờng dùng phụ sau động từ) Làm cho rời ra thành nhiều mảnh và bật theo

mọi hớng Mìn nổ tung 5- (thờng dùng phụ sau động từ) Làm cho các bộ phận bị tách rời ra một cách lộn xộn Lục tung đống sách [29, tr.1064] theo

Từ điển đối chiếu từ địa phơng (Nguyễn Nh ý chủ biên) thì tuông có nghĩa

chung nghĩa 1 và nghĩa 2 với tung, ví dụ nh cách nói: Tuông quả bóng.

Tuông chăn vùng dậy Còn khi sử dụng với các nghĩa 3,4,5 thì PNB vẫn dùng tung Ngoài ra, tuông còn có nghĩa "Xông bừa tới trớc, vợt bừa qua, bất chấp

trở ngại" [40, tr.550] Nh vậy ngoài nghĩa chung giữa tuông và tung thì cả hai

từ trong hai hệ thống còn có nghĩa riêng.

Trong PNT: gấy và gái là biến thể ngữ âm của nhau tơng ứng khuôn vần [ây -ai] Nhng trong PNT, ngoài nghĩa giống gái: 1- chỉ ngời thuộc nữ tính (sinh gấy đầu lòng = sinh gái đầu lòng), 2- chỉ ngời phụ nữ (hàm ý coi kinh) (ham gấy = mê gái, gấy ăn sơng = gái ăn sơng), gấy còn có nghĩa khác gái, ở nghĩa tơng đồng với vợ,

Trong PNN: Quện - nện là hai biến thể ngữ âm của nhau tơng ứng phụ

âm đầu [q - n] theo Từ điển tiếng Việt thì nện có 2 nghĩa 1 - Dùng vật có sức nặng giáng mạnh xuống vật khác nhằm mục đích nhất định Nện búa lên

đe Tiếng chày nện thình thịch Nền nhà đợc nện chặt 2 - Đánh thật mạnh,

thật đau Nện cho trận nhừ tử [29, tr.665] theo Từ điển đối chiếu từ địa

ph-ơng (Nguyễn Nh ý chủ biên) thì quện có 2 nghĩa 1 - Đánh mạnh và đau Quện cho một trận ra trò 2 - Cùng với nhau làm thành một khối không còn

có thể tách rời, tựa nh xoắn chặt vào nhau, hoà lẫn vào nhau Cát bụi quện

lẫn mồ hôi; Hai vấn đề quện vào nhau So sánh giữa quện và nện nghĩa 2

của quện giống với nghĩa 2 của nện Còn các nghĩa khác không giống nhau.

Rùn - lùn là hai biến thể ngữ âm của nhau Theo Từ điển tiếng Việt, lùn

có 2 nghĩa: 1- Có chiều cao dới hẳn mức bình thờng, không cân đối với bề

ngang Dáng ngời thấp lùn; Cao chê ngỏng, thấp chê lùn 2- (thực vật) thuộc

Trang 31

giống có chiều cao của thân dới hẳn mức bình thờng: giống chuối lùn [29, tr.592 - 593] Còn theo Từ điển đối chiếu từ địa phơng (Nguyễn Nh ý chủ biên) Rùn có 3 nghĩa: 1- Rụt Rùn cổ 2 - Đập thanh kim loại nung đỏ cho ngắn chiều dài và rộng chiều ngang 3 - lùn Ngời thấp rùn (ngời thấp lùn).

So sánh nghĩa của rùn và lùn ta thấy nghĩa 1 của lùn giống với nghĩa 3 của

rùn còn các nghĩa khác thì khác nhau.

Mấp - mút là biến thể ngữ âm của nhau nhng vừa đồng nhất lại vừa dị

biệt về nghĩa Theo Từ điển tiếng Việt, mút có 2 nghĩa: 1 -Ngậm vào miệng rồi chúm môi lại mút Em bé mút vú mẹ chùn chụt Mút tay 2 -Ngậm, kẹp

giữ lại vật đang trong quá trình chuyển động, làm cho chuyển động khó

khăn Bùn đặc quánh, mút chặt lấy chân [29, tr.652] Theo Từ điển đối

chiếu từ địa phơng (Nguyễn Nh ý chủ biên) thì mấp chỉ giống với nghĩa 1

của mút, ngoài ra mấp còn có nghĩa: "Bổ hoặc chém mạnh cho ngập sâu vào

Trang 32

+ Nh - l: Nhời - lời; nhỡ - lỡ (nhỡ lời - lỡ lời), nhớn - lớn, nhẽ - lẽ …

+ Th - s: Thỏi - sỏi, thợi - sợi, thớm - sớm, thò - sò (thò huyết - sò

huyết), thóc - sóc (nhanh), thống (mũi) - sống (mũi)…

+ Gi - tr: Giai - trai (con giai - con trai), giăng - trăng, giầu - trầu, giải

- trải, giời - trời, giả (lời) - trả (lời), giả (miếng) - trả (miếng), giả (nợ) - trả (nợ), gio - tro

+ Ây - ay: Đầy - đày, tầy đình - tày đình, tầy trời - tày trời, dầy - dày …

Tỷ lệ yếu tố biến âm trong PNB rất thấp, nhất là yếu tố biến âm thanh

điệu chỉ có 10 đơn vị, chiếm 3,4% điều đó cũng khách quan nói lên tiếng BB

là tiếng nói có dạng ngữ âm tơng đối chuẩn theo chuẩn ngôn ngữ mà các nhànghiên cứu lấy tiếng Hà Nội làm trung tâm

Nhìn vào bảng 1 (295 đơn vị) thống kê các yếu tố biến âm PNB chúng

ta thấy một con số khá thấp so với bảng 2 (1619 đơn vị) và bảng 3 (1192 đơnvị) Điều đó một lần nữa khẳng định BB - vùng phơng ngữ ít có sự khác biệtnhất so với các vùng phơng ngữ khác Đó là vùng phơng ngữ cơ sở cho việcxây dựng chuẩn ngôn ngữ

Yếu tố biến âm chủ yếu đợc sử dụng tạo từ đơn tiết , sự có mặt của loại

từ này trong từ đa tiết không nhiều điều đó phản ánh thực tế biến đổi ngữ âm

trong vốn từ tiếng Việt Ví dụ: Yếu tố biến âm làm thành từ đơn tiết: Bái

-vái; bán - ván; bậu- đậu; bốc - cốc; dát - nhát; thợi - sợi; thớm - sớm; tròng

- lòng; rún - nhún; bất - bứt; cậy - cạy; dẫy - dãy; rịa - rạn; thục - thọc; trảu

trẩu; bấn bận; bé lẽ; bệt bết trong PNB Bấp vấp; bịm vịm; bới xới; chách - nhách; buốt - vuốt; day - nhay; dấp - nhấp; dẹo - vẹo; dờng - gi- ờng; dun - chun; gút - nút; lanh - nhanh; lặt - nhặt; lủng - thủng; thăn - săn; bấng - bứng; bềnh - bình; bối - bíu; chỉn - chỉ; chợc - chực; chủi - chổi; cổi -

Trang 33

cởi; độ đậu; đụng động; gởi gửi; gion giòn; khót gọt; hợp hớp; mụi mũi; mớ - mơ; phun - phùn; rốp - rộp; sèm - thèm; mạn - mợn trong PNT Bập - dập; bịn -vịn; chót - vót; chạt - tạt; bơ - trơ; đảo - khảo; đẹn - nghẹn; dợt - nhợt; hỡm - lỡm; lú - nhú; mẹp - bẹp; phứt - bứt; trững - chững; bẫu - bĩu; biểu - bảo; bịnh - bệnh; bờng - bằng; gặc - gật; hớn - hán; khum - khom; lãnh - lĩnh; mét - mách; nghinh - nghênh; nhơn nhân; tởi - tải; gập

gấp; kẹ ké trong PNN Yếu tố biến âm trong từ ghép: bọ mát bọ mạt; biêu diếu - bêu rếu trong PNB Di dun - giây chun; nót trửng - nuốt chửng; dờng mùng - giờng màn; đừm ứm - đầm ấm; dung bạo giông bão trong

PNT Từng bực - tầng bậc; khi dể - khinh rẻ; vô phớc - vô phúc trong PNN Yếu tố biến âm trong từ láy: dún dẩy - nhún nhảy; dăn dúm - nhăn nhúm;

gây gấy - ngây ngấy; giáo giở - tráo trở; hễnh hãng - nghễng ngãng; nhón nhén - rón rén; sò sè - khò khè; bầu bậu - bàu bạu; lểu đểu - lảo đảo trong

PNB Dáo dác - nháo nhác; dì dằng - nhì nhằng; háu hỉnh - kháu khỉnh; lạt

lẹo nhạt nhẽo; nhỏng nhảnh đỏng đảnh; trắt trắt choắt choắt; xa xẩn tha thẩn; châng vâng - chênh vênh; duồn dựp - dồn dập; thuôn thuôn - thon thon; sệt sệt - sền sệt trong PNT Bệu bạo - trệu trạo; chèm bèm - lèm nhèm; chỏng chảnh - đỏng đảnh; chình ình - chềnh ềnh; lởng thởng - lửng thửng; lình bình - lềnh bềnh; lòn sòn - sòn sòn; lẩu nhẩu - làu nhàu; lung lăng - hung hăng; chấp choáng - lấp loáng trong PNN.

-Sau đây là bảng thống kê các yếu tố biến âm trong từ giữa các vùng

Trang 34

yếu tố biến âm vần (1560 đơn vị), kiểu nh: bắn - bẩy, bấn - bận… ở PNB.

Gá - gả, gạy - gãy, gắt - gặt… ở PNT Lóm - lõm, lờm - lợm, mại - mài… ở

PNN Bộ phận biến âm thờng rơi vào phần vần và phụ âm đầu, kiểu nh: giầy

- giày, hu - hơu, dúm - rúm, giỏ - nhỏ, nhăm - lăm… ở PNB Dủi - đẩy, đợng

- đựng, gầng - gừng… ở PNT Miểng - mảnh, mét - mách, lũn - nhũn… ởPNN Điều đó chứng tỏ phụ âm đầu và vần là hai thành phần dễ biến đổi nhấttrong cấu trúc âm tiết; đó là thành phần biến đổi chủ yếu trong quy luật biến

âm tạo từ

2.2.1.2 Yếu tố biến thể ngữ nghĩa trong từ địa phơng

Đây là những yếu tố vừa dùng trong ngôn ngữ toàn dân vừa dùng trongcác phơng ngữ với cùng một hình thức âm thanh, nhng nghĩa của yếu tố dùngtrong phơng ngữ có sự khác biệt ít nhiều so với yếu tố dùng trong ngôn ngữtoàn dân

Nói cách khác, về ngữ âm, yếu tố dùng trong những phơng ngữ và yếu

tố dùng trong ngôn ngữ toàn dân đồng nhất với nhau về âm, có chung mộtnghĩa nào đó nhng lại khác nhau ở một nghĩa khác (thuộc hiện tợng đa nghĩa

Trang 35

của từ), hoặc chúng chỉ cùng một sự vật nào đó nhng phạm vi mức độ biểuvật lại không trùng khít lên nhau.

Nh vậy lớp từ đợc tạo ra từ yếu tố biến thể ngữ nghĩa nh vậy là khá đặcbiệt bởi vì sự khác nhau giữa từ địa phơng so với từ trong ngôn ngữ toàn dânchỉ là khác nhau về nghĩa và sự khác biệt đó cũng không phải là toàn bộdung lợng ngữ nghĩa của nó Nếu dừng lại ở nghĩa nào đó thì yếu tố nàythuộc vốn từ chung nhng nếu xét toàn bộ cơ cấu nghĩa của yếu tố ta lại thấyyếu tố đợc dùng trong các phơng ngữ có những bộ phận nghĩa là biến thể ngữnghĩa của yếu tố dùng trong ngôn ngữ toàn dân

Theo thống kê khảo sát của chúng tôi, số lợng yếu tố biến thể ngữ nghĩatrong các phơng ngữ là 352 đơn vị, trong đó PNB gồm 50 đơn vị, chiếm tỷ lệ14,2% tổng số yếu tố biến thể nghĩa trong các vùng phơng ngữ, PNT 110

đơn vị, chiếm tỷ lệ 31,3% tổng số yếu tố biến thể nghĩa trong các vùng

ph-ơng ngữ, PNN có 192/352 đơn vị, chiếm tỷ lệ 54,5% tổng số yếu tố biến thểnghĩa trong các vùng phơng ngữ

Chúng ta có thể hình dung về kiểu loại yếu tố biến thể ngữ nghĩa để tạo

từ này qua một số ví dụ đợc phân tích nh sau:

Yếu tố biến thể ngữ nghĩa ở PNB: Lú, trong ngôn ngữ toàn dân là "ở

trạng thái trí tuệ kém, hầu nh không có hoặc không còn trí nhớ, trí khôn Nó

lú nhng chú nó khôn Quên lú đi (Quên mất đi)" [29, tr.589], trong PNB, so

với yếu tố dùng trong ngôn ngữ toàn dân, lú có nghĩa chung và riêng nh sau:

1 - dại, 2 - lẫn Lú hết cả Nghĩa 2 này của lú đồng nghĩa với lú lẫn của ngôn

ngữ toàn dân

Yếu tổ biến thể ngữ nghĩa ở PNT: Nhọc nghĩa chung dùng trong ngôn

ngữ toàn dân và trong PNT là: Cảm thấy mệt mỏi khó chịu trong ngời vì phải

bỏ nhiều sức lực (Suốt ngày nấu nớng, giặt giũ rất nhọc) [29, tr 699] Dựa

theo hai nét nghĩa và kiểu tổ chức các nét nghĩa đó (mệt … …vì ) mà trong

PNT đã hình thành nên nghĩa riêng của từ nhọc là: "Mệt mỏi khó chịu do bị cảm sốt nhẹ" Nghĩa riêng này đợc thể hiện trong các lối nói: Ông nhọc đã

hai bựa (Ông ốm đã hai ngày) Bựa qua bị ớt ma, nhọc nỏ đi mần đợc (Hôm

qua bị ớt ma, cảm không đi làm đợc)

Trang 36

Yếu tố biến thể ngữ nghĩa PNN: Lút trong ngôn ngữ toàn dân có nghĩa

là: 1 - phụ ngập cả, phủ kín cả Nớc sâu lút đầu ngời Tóc để lút tai Công

việc lút tận cổ 2 - ở sâu hẳn vào trong không nhìn thấy đâu nữa Cây kim lút sâu vào trong bọc Em bé ngồi lút trong cái ghế bánh [29, tr 595] Từ những

nghĩa trên của lút trong ngôn ngữ toàn dân, PNN tạo cho lút các nghĩa mới: 1

- Xuyên thủng vào, ngập sâu vào Đâm lút 2 - Hút, mất hút, tít xa Đi lút vô

rừng (đi sâu vào rừng) 3 - Rất nhiều, nhiều quá mức Chơi lút quên ăn cơm.

2.1.3.3 Yếu tố vay mợn trong từ địa phơng

Phơng ngữ có thể làm phong phú vốn từ của mình bằng cách sử dụngcác yếu tố có nguồn gốc vay mợn trong tiếng Việt với phơng thức hoạt độngkhác với ngôn ngữ toàn dân Chúng ta sẽ có cái nhìn đầy đủ qua bảng thống

Nhìn vào bảng thống kê ta thấy: PNB sử dụng yếu tố vay mợn là 55 đơn

vị bao gồm cả yếu tố gốc Hán và gốc Thái Ví dụ: Bác (bác gái); Môn

(cửa); bằng (vì, do); kín (gánh); kiệt (đờng nhánh nhỏ hẹp vào trong ngõ cụt); giác (hào bạc); đồ (bôi, đắp thuốc); thím (vợ của chú); tuyền (toàn); xuyến (ấm chuyên)

Trong PNT, một loạt yếu tố gốc Hán, trong vốn từ toàn dân nó chỉ hoạt

động hạn chế với với t cách là yếu tố của từ hoặc ngôn ngữ toàn dân dùng vớidạng Hán Việt - Việt hóa nhng ở PNT lại dùng Hán Việt độc lập Thuộc h-ớng tạo từ này có thể kể đến các từ "ác" (quạ) "ác" trong phơng ngữ khôngnhững đợc dùng tự do mà còn đợc sử dụng để tạo nên các đơn vị định danh

phái sinh trong phơng ngữ, nh: ác đen (quạ đen); ác khoang (quạ khoang);

cận (gần); lổ (trổ); thục (thuộc); đạc (đo); ức (mỏ ác); nộ (nỏ - cái nỏ); lạp

Trang 37

(sáp); bức (vội); thụng (thũng - sng, nặng mặt); trầm (chìm); kháp (khớp); báng (húc); nhợng (nhờng); thực (thật); trà (chè); đào (trốn); cội (gốc); sơ (xa); cáo (lui)

PNN vừa tiếp thu các yếu tố tiếng Hán Triều Châu, vừa vay mợn các từ

có nguồn gốc Khơme

Nếu xét về tỷ lệ các yếu tố vay mợn giữa các vùng thì PNN có số lợngcao nhất gồm 104 đơn vị, chiếm 54,5% trong tổng vốn từ vay mợn của cả bavùng phơng ngữ

Ví dụ: Các yếu tố sau đây trong các từ vay mợn có nguồn gốc Khơme:

Ên (một mình); cà tăng (cái phên đan bằng tre để làm bồ đựng lúa); nóp (vật dụng để nằm ngủ); cà ràn (khuôn bếp làm bằng đất); cà om (cái

nồi); lóp (dụng cụ đơm cá); bò hóc (nằm cá); dù kê (hát cải lơng); tha la

(ngôi nhà nhiều gian)…

Các yếu tố trong từ sau mợn tiếng Hán Triều Châu:

- Các yếu tố dùng trong thực phẩm ăn uống: xí muội (trái mơ ngâm muối rồi phơi khô), bánh bẻn (thứ bánh in làm bằng gạo rang), bò bía: (một loại bì cuốn), há cảo (bánh xếp nhân tôm và củ năng), chí mà phủ (chè mè

đen), xơng xáo (thức ăn giải khát), tàu vị ỉu (nớc tơng), tàu hủ ki (váng đậu nành đợc nấu chín vớt ra phơi nấu với đồ chay), thịt phá lấu (thịt heo, ớp muối, gia vị, nấu nhừ), thịt khìa (thịt ớp rồi đem áp chảo cho vàng), xí quách

(xơng heo hay xơng bò hầm nhừ)…

- Các yếu tố dùng trong quan hệ thơng mại: Phổ ki: (ngời giúp việc trong tiệm cơm hoặc hiệu buôn), xí thẩu: (chủ tiệm), tài công: (ngời lái tàu, ghe) tào kê: (ngời chủ nhà), hụi thảo: (ngời tổ chức hội tiết kiệm) tằng

khạo: (chủ thầu).

- Các yếu tố dùng trong các trò chơi cờ bạc: xí ngầu lắc: (cục xí ngầu,

để đổ hay lắc), dì dách: (bài hai lá), xập xám: (bài chia làm 13 lá), thín cẩu:

(loại bằng gỗ sơn đen, nút tròn màu đỏ hay trắng)…

Số lợng từ có yếu tố nguồn gốc vay mợn (Khơme và tiếng Hoa - TriềuChâu) chiếm tỷ lệ đáng kể trong vốn từ PNN (nh chúng tôi đã dẫn ra ở phầntrên) Bộ phận đó đã nói lên quá trình tiếp xúc vay mợn một cách tự nhiêntheo quy luật tất yếu Nh đã biết, c dân NB phần lớn là c dân BB di c vào

Trang 38

cách đây chỉ trên dới ba thế kỷ cùng với sự mở mang bờ cõi của nớc Đại Việtqua từng thời kỳ trong lịch sử Khi tiếp xúc với c dân Khơme (bản địa) và

đông đảo c dân Triều Châu Trung Quốc chạy sang Việt Nam định c lánhnạn, việc vay mợn từ đã diễn ra suốt thời gian mấy thế kỷ đến nay Đặc điểmnày rất khác với PNB và PNT

2.2.3.4 Yếu tố cổ, cũ của tiếng Việt

Yếu tố thứ t đợc dùng trong các phơng ngữ là các yếu tố hiện khônghoặc ít đợc dùng hay chỉ dùng với t cách là một bộ phận của từ trong ngônngữ toàn dân Có thể nói một cách khác phơng ngữ đã sử dụng các yếu tố cổ,

mờ, mất nghĩa của ngôn ngữ toàn dân - những yếu tố đã mất hoặc kém sứcsản sinh trong ngôn ngữ toàn dân theo hớng "phơng ngữ hóa", chúng làm cho

các yếu tố đó có sức sản sinh trong phơng ngữ Đối chiếu với Từ điển Đại

Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của [14] và Từ điển Việt - Bồ - La của

A.de.Rhodes [31] chúng tôi thu nhập đợc yếu tố cổ trong các phơng ngữ,trong đó ở PNT cao nhất, tiếp theo là PNB và phơng ngữ có số lợng yếu tố

cổ, cũ thấp nhất là PNN Nh đã nói trên Nam Bộ là đất mới, phát triển cách

xa vùng đất cội nguồn cả không gian và thời gian, vậy nên yếu tố cổ, cũkhông xuất hiện với số lợng lớn nh PNT Nhng nh thế không có nghĩa làchúng ta bỏ qua Sau đây là bảng thống kê, để chúng ta hình dung rõ hơn vềyếu tố cổ trong các vùng phơng ngữ

Bảng 2.8: Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố cổ, cũ của tiếng Việt trong các vùng phơng ngữ

Trang 39

kham khổ; ngơi nghỉ; thốt nói; ráo khô; xo tê; rứa vậy; tê kia; óc hạt; góc - gai; biêu - đuổi; báng - húc; náu - lặng; van - la; đập - đánh; nhớp - bẩn; mửa - nôn; meo - mốc; nhác - lời; nhủ - khuyên; nhọc - mệt; dòm - ngó; hại - sợ; cộ - xe; …

-Ngoài ra, trong PNT có hàng loạt yếu tố đợc dùng với t cách là từ tự donhng trong ngôn ngữ toàn dân nó chỉ là yếu tố từ đa tiết Có thể xem đây là

xu hớng đơn âm hóa trong phơng ngữ Ví dụ: rờ (trong rờ rẫm, rờ mó); rớt

(rơi rớt); rú (rừng rú); xợc (xấc xợc); trơ (trơ trọi, trơ trụi); nôn (nôn nóng); rạo (rạo rực, rộn rạo); rộn (chộn rộn); nạnh (nạnh tị); ngơ (ngơ ngác); ngây (ngây dại); pheo (tre pheo); cộ (xe cộ); kham (kham khổ); thốt (tha thốt); bấn (túng bấn); trêu (trêu chọc); nạt (nạt nộ); nhác (lời nhác)

Sau PNT là PNB, với số lợng là 50 đơn vị chiếm 16,3% trong tổng vốn

từ đợc cấu tạo theo loại này

Ví dụ: hẻo (dối trá); dong (ngõ vào xóm); bơn (cồn cát); căn (gian nhà); dàm (dây xỏ mũi trâu); dịa (vỡ , nứt); quải (cúng); thổng (vại); trằm (hoa tai); xáng (đánh đập); trám (chặn bịt lại các ngả đờng); trạt (nhiều, đầy rẫy); bủ (lão, cụ); vạy (ách cày); bo (chống , tì tay lên cằm); bỉm (ỉm); bậu (đậu, bám vào, ruồi bậu); bu (mẹ); bùi (trám); bửng (tấm chắn ngang giữ

theo kiểu loại này Qua sự so sánh, đối chiếu với các từ điển nh: Từ điển Đại

Trang 40

Nam quốc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của [14] và Từ điển Việt - Bồ - La của

A.de.Rhodes [31] Từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên) [29] chúng tôi

không tìm đợc từ ngữ tơng ứng về nghĩa với các từ địa phơng loại này Vậy

đây là các yếu tố riêng, các yếu tố không có quan hệ ngữ âm với yếu tố toàndân nên không gợi ra đợc cho ngời nghe sinh sống ngoài địa phơng bản sắc

âm thanh tiếng địa phơng đó; chúng lại không có quan hệ ngữ nghĩa với vốn

từ toàn dân nên những sự vật, hành động, tính chất mà từ đó đa ra có phần xalạ khó hiểu đối với ngời địa phơng khác, họ khó tri nhận đợc ngữ nghĩa của

từ địa phơng loại này Có thể nói đây là lớp từ rất riêng của các địa phơng

đ-ợc mang đặc điểm chỉ có ở địa phơng

Các yếu tố tạo từ theo kiểu này ở PNN có tỉ lệ cao nhất, phải kể đến lànhững từ liên quan đến sông nớc, có thể tập hợp thành một trờng từ vựng Ví

dụ: các từ định danh về địa hình sông nớc: Kinh, rạch, xẻo, khém, rỏng, tắt,

búng, tùng binh, giáp nớc Vàm, láng, cù lao, biền… Hay nhóm từ chỉ sự

vận động của dòng nớc: nớc lên, nớc xuống, nớc đứng rong (nớc lên cao quá

mức bình thờng), nớc ròng (nớc xuống), nớc giựt (nớc mới rút), nớc xuống thấp thì gọi ròng rút, ròng cạn hay ròng kiệt…

Lớp từ có các yếu tố chỉ sông nớc nhiều nh vậy là phản ánh đời sốngvăn hóa c dân sông nớc của NB - một vùng sông nớc mênh mông kênh rạchchằng chịt

ở PNT yếu tố có tính chất riêng này theo thống kê khảo sát của chúngtôi, gồm 76 yếu tố, chiếm tỉ lệ 31,8% Trong đó có thể chia ra làm ba tiểunhóm

Lớp từ có các yếu tố phản ánh phong tục tập quán và lịch sử của nhândân TB

Gắn với tập quán tang lễ PNT, có các từ: Nón chàm, áo chế, nhà mại,

chấp hiệu, đô tùy…

Gắn với hội hè đình đám chỉ những sinh hoạt tập quán lâu đời của làng

quê, có các từ có các yếu tố nh: sở, đáo, bài phu, cầu kiều, nác cốt, bài

phổng, vật cù

Những từ có yếu tố phản ánh món ăn đợc chế biến không cầu kỳ theo

cách của ngời địa phơng trong những ngày lễ tết, chả cua, chả lệch

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Văn ái (chủ biên), Lê Văn Đức, Nguyễn Công Khai (1987), Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ, NXB Cửu Long Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ
Tác giả: Nguyễn Văn ái (chủ biên), Lê Văn Đức, Nguyễn Công Khai
Nhà XB: NXB Cửu Long
Năm: 1987
2. Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên (1999), Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Hoàng Trọng Canh, Phan Mậu Cảnh, Nguyễn Hoài Nguyên
Nhà XB: NXB Văn hoá thông tin
Năm: 1999
3. Hoàng Trọng Canh (1995), "Một vài nhận xét bớc đầu về âm và nghĩa từ địa phơng Nghệ Tĩnh", Ngôn ngữ, (1), tr. 31 - 46 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một vài nhận xét bớc đầu về âm và nghĩatừ địa phơng Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 1995
4. Hoàng Trọng Canh (2001), Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh, Luận án tiến sĩ, Đại học KHXH & NV Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơngNghệ Tĩnh, Luận án tiến sĩ
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2001
5. Nguyễn Tài Cẩn (1975), Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - đoản ngữ, NXB ĐH & THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt, Tiếng - Từ ghép - đoảnngữ
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB ĐH & THCN
Năm: 1975
6. Nguyễn Tài Cẩn (1975), "Danh từ chỉ quan hệ thân thuộc", Từ loại danh từ trong tiếng Việt hiện đại, NXB KHXH, Hà Nội, tr. 141-154 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Danh từ chỉ quan hệ thân thuộc
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1975
7. Nguyễn Tài Cẩn (1995), Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt (Sơthảo), NXB GD, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình lịch sử ngữ âm tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1995
8. Đỗ Hữu Châu (1981), Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB GD, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1981
9. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB GD , Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1998
10. Hoàng Thị Châu (1970), "Vài nhận xét về quá trình tiêu chuẩn hoátiếng Việt thể hiện qua cách dùng từ địa phơng trong sách vở báo chí trớc và sau cách mạng tháng tám", Ngôn ngữ, (4), tr. 17-26 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vài nhận xét về quá trình tiêu chuẩn hoátiếng Việt thể hiện qua cách dùng từ địa phơng trong sách vở báo chí trớc vàsau cách mạng tháng tám
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Năm: 1970
11. Hoàng Thị Châu (1989), Tiếng Việt trên các miền đất nớc (phơng ngữ học), NXB KHXH, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt trên các miền đất nớc
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1989
12. Nguyễn Đổng Chi, Ninh Viết Giao (1962-1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh, tập I (thợng và hạ), tập II, NXB Sử học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm NghệTĩnh
Nhà XB: NXB Sử học
13. Nguyễn Văn Chiến (1993), "Từ xng hô trong tiếng Việt (nghiên cứu về ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp)", Tạp chí khoa học, (3), ĐHTH, Hà Néi, tr. 8-13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ xng hô trong tiếng Việt (nghiên cứuvề ngữ dụng học và dân tộc học giao tiếp)
Tác giả: Nguyễn Văn Chiến
Năm: 1993
14. Huỳnh Tịnh Paulus Của (1895), Đại Nam quốc âm tự vị, tập I, Sài Gòn. (1896), Đại Nam quốc âm tự vị, tập II, Sài Gòn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại Nam quốc âm tự vị, "tập I, SàiGòn. (1896), "Đại Nam quốc âm tự vị
15. Nguyễn Đức Dơng, Trần Thị Ngọc Lang (1983), "Mấy nhận xét bớcđầu về những khác biệt từ vựng - ngữ nghĩa giữa phơng ngữ miền Nam và tiếng Việt toàn dân" Ngôn ngữ, (1), tr. 47-51 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nhận xét bớcđầu về những khác biệt từ vựng - ngữ nghĩa giữa phơng ngữ miền Nam vàtiếng Việt toàn dân
Tác giả: Nguyễn Đức Dơng, Trần Thị Ngọc Lang
Năm: 1983
16. Đinh Văn Đức (1986), Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại, NXB ĐH &THCN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt - Từ loại
Tác giả: Đinh Văn Đức
Nhà XB: NXB ĐH &THCN
Năm: 1986
17. Ninh Viết Giao (1984), Ca dao Nghệ Tĩnh (trớc Cách mạng tháng Tám), Sở văn hoá thông tin Nghệ Tĩnh, Nghệ Tĩnh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ca dao Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ninh Viết Giao
Năm: 1984
18. Ninh Viết Giao (1691), Hát phờng vải (dân ca Nghệ Tĩnh), NXB Văn hoá, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát phờng vải
Nhà XB: NXBVăn hoá
19. Nguyễn Thiện Giáp (1996), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB GD
Năm: 1996
20. Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng Việt, NXB KHXH, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ láy trong tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: NXB KHXH
Năm: 1985

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1 :  Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ các yếu tố biến âm trong PNB. - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.1 Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ các yếu tố biến âm trong PNB (Trang 31)
Bảng 2.4: Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố biến âm là phụ âm đầu của ba vùng phơng ngữ - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.4 Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố biến âm là phụ âm đầu của ba vùng phơng ngữ (Trang 33)
Bảng 2.5: Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố biến âm phần vần của ba vùng phơng ngữ - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.5 Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố biến âm phần vần của ba vùng phơng ngữ (Trang 34)
Bảng 2.6: Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố biến âm thanh điệu của ba vùng phơng ngữ - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.6 Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố biến âm thanh điệu của ba vùng phơng ngữ (Trang 34)
Bảng 2.7: Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ những yếu tố vay mợn trong từ - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.7 Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ những yếu tố vay mợn trong từ (Trang 36)
Bảng 2.8: Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố cổ, cũ của tiếng Việt trong các vùng phơng ngữ - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.8 Bảng thống kê số lợng và tỷ lệ yếu tố cổ, cũ của tiếng Việt trong các vùng phơng ngữ (Trang 38)
Bảng 2.9:   Bảng tổng hợp từ ngữ địa phơng đợc dùng trong các phơng ng÷ - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.9 Bảng tổng hợp từ ngữ địa phơng đợc dùng trong các phơng ng÷ (Trang 57)
Bảng 2.10: Số lợng và tỉ lệ các loại từ trong PNB. - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 2.10 Số lợng và tỉ lệ các loại từ trong PNB (Trang 58)
Bảng 3.2: Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ những từ  có sự tơng ứng ngữ - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 3.2 Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ những từ có sự tơng ứng ngữ (Trang 71)
Bảng 3.3: Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ những từ cùng âm nhng xê dịch ít nhiều về nghĩa - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 3.3 Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ những từ cùng âm nhng xê dịch ít nhiều về nghĩa (Trang 77)
Bảng 3.4: Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ kiểu loại từ giống âm khác nghĩa trong các phơng ngữ: - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 3.4 Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ kiểu loại từ giống âm khác nghĩa trong các phơng ngữ: (Trang 86)
Bảng 3.6: Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ các từ khác âm khác nghĩa trong các phơng ngữ: - Đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa từ địa phương trong các phương ngữ tiếng việt
Bảng 3.6 Bảng thống kê số lợng và tỉ lệ các từ khác âm khác nghĩa trong các phơng ngữ: (Trang 108)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w