1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh

134 3K 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Tác giả Trần Thị Tố Uyên
Người hướng dẫn PGS. TS Hoàng Trọng Canh
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngôn ngữ học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2009
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,11 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Hoàng Trọng Canh

Vinh- Năm 2009

Trang 2

Lêi nãi ®Çu

Năm 2007, trong khoá luận tốt nghiệp đại học, chúng tôi đã nghiên cứu thànhngữ Nghệ Tĩnh dưới góc độ đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và có những kết quả bướcđầu Nhận thấy đây là đề tài có khả năng mở rộng, lại phù hợp với bản thân, nênchúng tôi tiếp tục nghiên cứu trong luận văn thạc sĩ chuyên ngành ngôn ngữ

Ở luận văn này, chúng tôi kế thừa một số kết quả nghiên cứu của đề tài Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa thành ngữ Nghệ Tĩnh để tiếp tục tìm hiểu sâu hơn thành

ngữ Nghệ Tĩnh dưới nhiều phương diện: về đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và vấn đề

sử dụng nó trong thơ ca dân gian xứ Nghệ

Thực hiện luận văn, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn khoa học của thầygiáo- PGS.TS Hoàng Trọng Canh và sự giúp đỡ của các thầy cô giáo thuộc chuyênngành ngôn ngữ - Khoa sau đại học - Trường Đại học Vinh

Qua đây, chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy giáo PGS.TSHoàng Trọng Canh, cùng các thầy cô, gia đình và bạn bè đã tạo điều kiện giúpchúng tôi hoàn thành luận văn

Do những điều kiện khách quan và chủ quan có thể luận văn còn nhiều điểmcần phải bàn Chúng tôi rất mong nhận được sự góp ý của thầy cô và bạn đọc Xin chân thành cảm ơn!

Vinh, tháng 12 năm 2009 Người thực hiện: Trần Thị Tố Uyên

Trang 3

QUI ƯỚC VIẾT TẮT

(Trong luận văn)

Hát giặm Nghệ Tĩnh: HGNTHát phường vải: HPV

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

1.1 Thành ngữ tiếng Việt nói chung và thành ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng là

một hiện tượng độc đáo trong ngôn ngữ cũng như trong lời ăn tiếng nói hàng ngày.Thành ngữ phong phú về số lượng, đa dạng về hình thức cấu tạo và ngữ nghĩa.Nghiên cứu thành ngữ chính là nghiên cứu tiếng Việt, là tìm hiểu những nét đẹpcủa tiếng Việt, đồng thời góp phần giữ gìn, phát huy sự trong sáng của tiếng Việt.Mặt khác, về mặt biểu hiện, cũng như từ, tính đa dạng của thành ngữ được thể hiệnrất rõ trong kho tàng thành ngữ của các vùng miền khác nhau Vì vậy, tìm hiểuthành ngữ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh là rất cần thiết bởi nó giúp ta thấy được sựphong phú của thành ngữ tiếng Việt nói chung

1.2 Thành ngữ là đơn vị đặc biệt trong vốn từ của một dân tộc Là cụm từ

nhưng thành ngữ mang những đặc trưng riêng về cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng.Tìm hiểu thành ngữ tiếng Việt cũng như thành ngữ Nghệ Tĩnh sẽ thấy được đặctrưng của loại đơn vị này: Thành ngữ là cụm từ cố định có kết cấu vững chắc, được

sử dụng tương đương như từ; nó là đơn vị định danh bậc hai, tiêu biểu cho lối nóibóng bẩy, hàm súc, giàu vần điệu của người Việt Tuy nhiên, khi đi vào sử dụng,cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ được biến đổi một cách linh hoạt, uyểnchuyển phù hợp với từng cách diễn đạt khác nhau, vì thế nó trở thành phương tiệnngôn ngữ quan trọng góp phần tạo nên giá trị cho lời nói trong giao tiếp và giá trịcho các tác phẩm văn chương Do đó, đi sâu tìm hiểu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa

và thành ngữ trong sử dụng của một dân tộc, một địa phương nào đó có thể xem làcông việc hết sức quan trọng

1.3 Ngôn ngữ là tấm gương phản ánh văn hoá Ngôn ngữ được xem là gia

tài quý giá nhất, đích thực nhất để nhận diện một dân tộc, một địa phương Người

ta rất dễ nhận biết bản sắc dân tộc, màu sắc địa phương trong cách nói, cách viếtcủa một người nào đó, bởi cách lựa chọn hình ảnh, hiện tượng độc đáo mang dấu

ấn văn hoá được phản ánh trong các đơn vị của phát ngôn Thành ngữ cũng nhưtục ngữ, ca dao- chúng vừa là đơn vị ngôn ngữ, vừa là thành tố văn hoá Do đó,

Trang 5

muốn hiểu rõ về cuộc sống và con người Nghệ Tĩnh, chúng ta có thể tiếp cận từgóc độ ngôn ngữ- từ một đơn vị ngôn ngữ cụ thể như thành ngữ.

1.4 Thành ngữ địa phương Nghệ Tĩnh rất phong phú và đa dạng, điều đó

được thể hiện qua việc sưu tầm thành cuốn Từ điển Thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh

[4] và sự xuất hiện của nó trong thơ ca dân gian Tuy vậy, việc nghiên cứu thànhngữ nơi đây mới chỉ dừng lại ở bước đầu- các tác giả chưa đi vào phân tích đặcđiểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ Nghệ Tĩnh Vì vậy, chúng tôi đisâu nghiên cứu thành ngữ Nghệ Tĩnh để góp phần làm rõ những đặc điểm của đơn

vị đặc biệt này ở địa phương Nghệ Tĩnh, đồng thời, giúp người đọc khẳng định vaitrò hành chức của thành ngữ Nghệ Tĩnh nói riêng và thành ngữ tiếng Việt nóichung

Với những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài của luận văn là: Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương Nghệ Tĩnh

2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ

Thành ngữ là một hiện tượng ngôn ngữ đặc biệt ngày càng được nhiều nhànghiên cứu quan tâm Điều này được chứng minh qua các công trình nghiên cứucủa nhiều tác giả

- Về thành ngữ tiếng Việt, các tác giả đã tìm hiểu đơn vị này ở nhiều phương

diện khác nhau, trong đó, chủ yếu nghiên cứu vấn đề nhận diện thành ngữ, tìm hiểucác mặt cấu tạo, ngữ nghĩa và vấn đề sử dụng thành ngữ

+ Trước hết, thành ngữ được nhận diện từ góc độ ngôn ngữ và văn học, có

các công trình: Việt Nam văn học sử yếu (1951) của Dương Quảng Hàm, tiếp đến

là công trình của Vũ Ngọc Phan: Tục ngữ, ca dao, dân ca Việt Nam (1971)… Đây

là những công trình có giá trị lớn trong việc chỉ ra những nét cơ bản nhất của thànhngữ, giúp người đọc có thể nhận diện được đơn vị này Vì vậy, có thể xem đây lànền móng đầu tiên mở đường cho các nhà nghiên cứu tiếp tục tìm hiểu và hoànthiện các đặc trưng của thành ngữ

Từ góc độ ngôn ngữ, các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra những kiến giải gópphần xây dựng khái niệm thành ngữ một cách hoàn thiện, như bài viết của tác giả

Cù Đình Tú: Góp ý kiến về phân biệt thành ngữ với tục ngữ (1973); Nguyễn Thiện Giáp: Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt (1975); Nguyễn Văn Mệnh: Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ (1972) và Vài suy nghĩ góp phần xác định khái niệm

Trang 6

thành ngữ tiếng Việt (1987)… Nhìn chung, các bài viết này đã đưa ra cách hiểu về

thành ngữ và phân biệt hai đơn vị gần gũi là thành ngữ và tục ngữ để giúp ngườiđọc tránh nhầm lẫn khi xác định thành ngữ

+ Hướng nghiên cứu thành ngữ trên tất cả các mặt: cấu tạo, ngữ nghĩa hay

sử dụng, trước hết phải kể đến những cuốn giáo trình từ vựng tiếng Việt của các

tác giả: Hồ Lê- Vấn đề cấu tạo từ của tiếng Việt hiện đại (1976); Nguyễn Văn

Tu-Từ và vốn từ tiếng Việt (1976); Nguyễn Thiện Giáp- Tu-Từ và nhận diện từ tiếng Việt (1995); Đỗ Hữu Châu- Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng (1987), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt (1999)… Những cuốn giáo trình này đều dành một phần để bàn về cụm

từ cố định nói chung và thành ngữ nói riêng Các tác giả tiếp cận thành ngữ theonhững cách khác nhau, vì thế quan điểm không hoàn toàn giống nhau, song họ đềuthống nhất cho rằng thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ tương đương với từ, nhưng

nó cũng có những đặc điểm riêng về cấu tạo và ngữ nghĩa cũng như khả năng vậndụng tạo câu

Đặc biệt, trong số các công trình nghiên cứu về thành ngữ, chuyên khảo

Thành ngữ học tiếng Việt (2004) của GS Hoàng Văn Hành là một trong những

công trình có ý nghĩa nhất Đây là kết quả của quá trình tìm tòi và khảo nghiệmcủa tác giả Ở cuốn sách này, tác giả đã khái quát các phương diện cơ bản củathành ngữ về đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, phân biệtthành ngữ với tục ngữ, quan hệ giữa thành ngữ với văn hoá và thành ngữ trong sử

dụng… Với Thành ngữ học tiếng Việt, GS Hoàng Văn Hành đã tạo một cơ sở, một

nền tảng lý thuyết vững chắc cho những người đi sau tiếp tục khám phá kho tàngthành ngữ của dân tộc và của từng địa phương

Trong những năm gần đây, có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu từng vấn

đề chuyên biệt của thành ngữ như: Về mặt cấu tạo có công trình của GS Hoàng

Văn Hành: Các kiểu thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng (2001), Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng trong tiếng Việt (2003); hay Khảo sát cấu trúc thành ngữ tiếng Việt

(2006) của Lê Thị Hải Vân… Về mặt ngữ nghĩa của thành ngữ, các nhà nghiêncứu đều tập trung tìm hiểu phân tích nghĩa biểu trưng của thành ngữ, có công trình

của Bùi Khắc Việt- Về tính biểu trưng của thành ngữ trong tiếng Việt (1978); Phan Xuân Thành: Tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt (1999); Trần Anh Tư - Thành ngữ đồng nghĩa và thành ngữ trái nghĩa trong tiếng Việt (2004); Bùi Thị

Trang 7

Thi Thơ- Hình ảnh biểu trưng trong thành ngữ so sánh tiếng việt (2006);… Về vấn

đề sử dụng thành ngữ có các công trình: Suy nghĩ về cách dùng thành ngữ qua văn thơ của Hồ chủ tịch (1973) (Hoàng Văn Hành); Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt (2003) (Nguyễn Nhã Bản); Đặc trưng cấu trúc

và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao (2004) (Nguyễn Việt Hùng); Thành ngữ trong Truyện Kiều (2005) (Trần Thị Loan), …

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đều tập trung phân tích kháiniệm, đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa thành ngữ nói chung hay tìm hiểu sự vận dụngcủa thành ngữ tiếng Việt trong các tác phẩm văn học

- Bên cạnh việc nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt, trong những năm gần đây,

một số nhà nghiên cứu đã chú ý tới kho tàng thành ngữ của các vùng địa phương.Chẳng hạn như bài viết của PGS.TS Nguyễn Nhã Bản - PGS.TS Phan Mậu Cảnh:

Hai thành ngữ “Ả em du như tru một bịn" và "Đó rách ngáng trộ" ở địa phương Nghệ Tĩnh (Ngữ học trẻ - 1999), hay bài viết của Vũ Tân Lâm- Nguyễn Thị Kim Thoa: Một vài đặc trưng văn hoá thể hiện qua thành ngữ Tày- Thái (Ngữ học trẻ -

2003); … Các bài viết đã phần nào giúp người đọc hiểu thêm về vốn từ cũng nhưđặc trưng văn hoá của các vùng địa phương Bên cạnh đó, một số tác giả còn sưu

tầm các thành ngữ để cho ra đời những cuốn từ điển có giá trị, như: Thành ngữ Tày Nùng (giải thích bằng tiếng Việt) (1991) của Lục Văn Pảo; Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh (2005) của GS Nguyễn Nhã Bản, đây là nguồn tư liệu quý giá

giúp người nghiên cứu tìm hiểu về đơn vị ngôn ngữ đặc biệt của từng địa phương.Tuy nhiên, việc nghiên cứu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và vấn đề sử dụng thànhngữ địa phương đang còn là vấn đề mới mẻ, ít được các nhà nghiên cứu đề cập

đến Vì vậy, chúng tôi tìm hiểu thành ngữ địa phương Nghệ Tĩnh để làm rõ đặc

điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của thành ngữ Nghệ Tĩnh nói chung và thấy được sựphong phú về ngữ nghĩa, sự biến đổi linh hoạt về cấu trúc và vai trò của nó khixuất hiện trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh

3 ĐỐI TƯỢNG, MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Để tìm hiểu, phân tích đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa của thành ngữ Nghệ

Tĩnh, chúng tôi chọn cuốn sách Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh [4] của

GS.TS Nguyễn Nhã Bản làm cứ liệu khảo sát thành ngữ theo chí phương thức cấu

Trang 8

tạo Đồng thời, chúng tôi lấy nguồn dẫn liệu từ các cuốn sách: Kho tàng ca dao xứ Nghệ [13], Vè Nghệ Tĩnh [10], Hát giặm Nghệ Tĩnh [16-17], Hát phường vải [14]

để phân tích các đặc điểm của thành ngữ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh

3.2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nêu lên các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa của thànhngữ Nghệ Tĩnh và qua phân tích rút ra sự khác biệt giữa thành ngữ Nghệ Tĩnh sovới thành ngữ tiếng Việt Đồng thời, phần nào làm rõ đặc điểm của thành ngữtrong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh để thấy được vai trò của nó trong sáng tác vănchương Cụ thể luận văn đã thực hiện các nhiệm vụ sau:

3.2.1 Khảo sát, thống kê, phân loại các thành ngữ Nghệ Tĩnh dựa vào tiêu

chí phương thức cấu tạo Lập các bảng số liệu, phân tích các ví dụ, luận văn nêu racác đặc điểm cấu tạo của thành ngữ so sánh, thành ngữ ẩn dụ hoá Nghệ Tĩnh

3.2.2 Phân tích, giải thích ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ Nghệ Tĩnh thể

hiện qua hình ảnh tiêu biểu, đồng thời đối chiếu với những hình ảnh được lựa chọntrong thành ngữ tiếng Việt Từ đó làm nổi bật nét riêng, nét độc đáo về ngữ nghĩacủa thành ngữ Nghệ Tĩnh

3.2.3 Ở một mức độ nhất định, qua phân tích đặc điểm cấu tạo và ngữ nghĩa

của thành ngữ Nghệ Tĩnh, luận văn nêu lên những nét văn hoá địa phương phảnánh đời sống vật chất và tinh thần của con người xứ Nghệ

3.2.4 Tìm hiểu đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa thành ngữ trong thơ ca dân

gian Nghệ Tĩnh, luận văn cũng chỉ ra tính ưu việt của thành ngữ trong việc diễn đạtnội dung, nghệ thuật của các tác phẩm thơ ca dân gian, đồng thời thấy được sựbiến đổi linh hoạt của thành ngữ khi đi vào sử dụng

4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thực hiện luận văn, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủyếu:

4.1 Phương pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại các thành ngữ Nghệ Tĩnh

trong cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh [4] và xác định các thành ngữ

được sử dụng trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh Sau đó, tiếp tục phân chúng thànhcác nhóm theo từng tiêu chí cụ thể

Trang 9

4.2 Phương pháp phân tích, tổng hợp

Chúng tôi đưa ra các ví dụ, dẫn chứng cụ thể để phân tích, giải thích ý nghĩabiểu trưng của thành ngữ Nghệ Tĩnh thể hiện qua các hình ảnh tiêu biểu Từ đó nêulên những nhận xét, đánh giá xác thực nhằm rút ra các đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩacủa thành ngữ Nghệ Tĩnh

4.3 Phương pháp so sánh, đối chiếu

Để thấy rõ nét đặc trưng của thành ngữ Nghệ Tĩnh và nhận biết bản sắc vănhoá, cuộc sống con người nơi đây, chúng tôi tiến hành so sánh thành ngữ NghệTĩnh với thành ngữ tiếng Việt trên từng phương diện cụ thể

5 ĐÓNG GÓP CỦA LUẬN VĂN

Đây là đề tài đầu tiên đi vào nghiên cứu thành ngữ Nghệ Tĩnh một cách khátoàn diện về các mặt cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng

Trên cơ sở chỉ ra các đặc điểm cấu tạo- ngữ nghĩa của thành ngữ Nghệ Tĩnh,

so sánh thành ngữ Nghệ Tĩnh với thành ngữ tiếng Việt ở những phương diện cụthể, luận văn nêu lên một số nét đặc trưng cơ bản của thành ngữ Nghệ Tĩnh, đồngthời làm rõ thêm sắc thái văn hoá địa phương của con người xứ Nghệ

Luận văn đã lập ra các bảng biểu thống kê và phân tích các ví dụ cụ thể củathành ngữ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh, từ đó làm nổi bật các đặc điểm cấutrúc, ngữ nghĩa và vai trò của thành ngữ trong sử dụng, đặc biệt là trong các sángtác thơ ca dân gian

Ngoài ra, luận văn đã có đóng góp lớn trong việc tìm ra những thành ngữNghệ Tĩnh mà các tác giả đi trước thu thập chưa đầy đủ Do vậy, luận văn hoànthành sẽ cung cấp tư liệu cần thiết cho những ai quan tâm tới vấn đề thành ngữ nóiriêng; ngôn ngữ và văn hoá địa phương nói chung

6 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung củaluận văn gồm ba chương:

Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài

Chương 2: Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh

Chương 3: Đặc điểm ngữ nghĩa của thành ngữ Nghệ Tĩnh

Trang 10

Tiếng Việt có một khối lượng thành ngữ phong phú và đa dạng Song, cũngnhư nhiều đơn vị ngôn ngữ khác, thành ngữ là một đơn vị đặc biệt và hết sức phứctạp Vì vậy, việc tìm ra những tiêu chí cụ thể, xác đáng để xác định khái niệm vềthành ngữ, đó không phải là việc làm đơn giản Khi xác định khái niệm của đơn vịngôn ngữ này, từ trước đến nay, các nhà ngôn ngữ học vẫn chưa đưa ra ý kiếnthống nhất.

Ông Dương Quảng Hàm - tác giả đầu tiên đề cập đến thành ngữ tiếng Việt,

trong Việt Nam văn học sử yếu (1951), quan niệm: "Thành ngữ là những lời nói có

sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gì hoặc một trạng thái gì cho có màu mè"[Dẫn theo 49]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp (1975) đưa ra nhận định : "Thành ngữ là những

cụm từ cố định vừa có tính hoàn chỉnh về nghĩa, vừa có tính gợi cảm… bên cạnhnội dung trí tuệ, các thành ngữ bao giờ cũng làm theo sắc thái bình giá, cảm xúcnhận định" [18; tr 181]

Nguyễn Văn Tu (1976) đưa ra ý kiến: "Thành ngữ là cụm từ cố định mà các

từ trong đó đã mất đi tính độc lập đến một trình độ cao về nghĩa, kết hợp làm lạimột khối vững chắc, hoàn chỉnh Nghĩa của chúng không phải do nghĩa của từngthành tố tạo ra Có thể có tính hình tượng cũng có thể không có Nghĩa của chúngcũng khác nghĩa của những từ nhưng cũng có thể cắt nghĩa bằng từ nguyên học"[50; tr 189]

GS Hồ Lê (1976) nêu lên: "Thành ngữ là những tổ hợp từ (gồm nhiều từhợp lại) có tính vững chắc về cấu tạo và tính bóng bẩy về ý nghĩa để miêu tả mộthình ảnh, một hình tượng, một tính cách hay một trạng thái nào đó" [32; tr 97]

Trang 11

Tác giả Nguyễn Văn Mệnh (1987), trong khi so sánh thành ngữ với tục ngữcũng nói: "Mỗi thành ngữ chỉ là một cụm từ, chưa phải là một câu hoàn chỉnh" [35;

tr 12]

Còn GS Đỗ Hữu Châu (1999) trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt đã

nêu chung khái niệm thành ngữ (trong loại lớn là ngữ cố định) như sau: "Nói ngữ

cố định là các cụm từ cố định hoá là nói chung… Bởi vậy cái quyết định để xácđịnh các ngữ cố định là tính tương đương với từ của chúng về chức năng tạo câu.Chúng ta nói ngữ cố định tương đương với từ không phải chỉ vì chúng có thể thaythế cho một từ, ở vị trí các từ, hoặc có thể kết hợp với từ để tạo câu" [9; tr 73]

Các tác giả trong cuốn Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (2003)

đưa ra khái niệm "Thành ngữ là cụm từ hay ngữ cố định có tính nguyên khối vềngữ nghĩa, tạo thành một chỉnh thể định danh có ý nghĩa chung khác với tổng số ýnghĩa của các thành tố cấu thành nó, tức là không có nghĩa đen và hoạt động nhưmột từ riêng biệt ở trong câu" [60; tr 271]

Trong cuốn Từ điển thuật ngữ văn học do GS Lê Bá Hán chủ biên (2004),

các tác giả định nghĩa: Thành ngữ tiếng Việt là "Đoạn câu cụm từ có sẵn tương đối

cố định bền vững không nhằm diễn trọn một ý… mà nhằm thể hiện một quan niệmdưới một hình thức sinh động, hấp dẫn… Dù ngắn hay dài, xét về nội dung ý nghĩacũng như về chức năng ngữ pháp thành ngữ cũng chỉ tương đương như từ, nhưng

là từ đã được tô điểm và nhấn mạnh nghĩa bằng sự diễn đạt sinh động, có nghệthuật" [23; tr 249]

GS TS Hoàng Văn Hành (2004), người được xem là GS đầu ngành về thànhngữ tiếng Việt, ông phát biểu: "Thành ngữ là một loại tổ hợp từ cố định, bền vững

về hình thái cấu trúc, hoàn chỉnh, bóng bẩy về ý nghĩa, được sử dụng rộng rãi tronggiao tiếp hàng ngày, đặc biệt là trong khẩu ngữ" [21; tr 27]

Như vậy, có rất nhiều cách hiểu về khái niệm thành ngữ Dựa vào các địnhnghĩa của những nhà nghiên cứu đi trước và căn cứ trong quá trình khảo nghiệm,

tìm hiểu Theo chúng tôi, thành ngữ là: cụm từ cố định, có kết cấu vững chắc, có chức năng định danh và mang ý nghĩa biểu trưng, được sử dụng tương đương như từ.

1.1.2 Về mặt cấu tạo của thành ngữ

Như đã nói ở trên, thành ngữ là một đơn vị ngôn ngữ phức tạp Do đó, việcchỉ rõ các đặc tính cũng như việc phân loại thành ngữ theo cấu tạo quả là không dễ

Trang 12

dàng Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi nhận thấy, các tác giả đã dựa vàonhiều tiêu chí khác nhau để phân loại.

- Cách phân loại thứ nhất: dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ

Các tác giả Lương Văn Đang – Nguyễn Lực trong cuốn Từ điển thành ngữ tiếng Việt [34] dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ, chia ra làm 3 loại:

+ Thành ngữ kết cấu ba tiếng: Ác như hùm, bạn nối khố, bở hơi tai, bé hạt tiêu, bụng bảo dạ ….

Trong kiểu này có một số trường hợp tuy hình thức là tổ hợp ba tiếng một,

nhưng về mặt kết cấu, đó chỉ là sự kết hợp của một từ đơn và một từ ghép, như: Bé hạt tiêu, có máu mặt, chết nhăn răng…, kiểu có ba từ đơn, kết cấu giống như cụm

từ c - v: Bạn nối khố, cá cắn câu…

+ Thành ngữ kết cấu bốn từ đơn hay hai từ ghép liên hợp theo kiểu nối tiếp

hay xen kẽ là kiểu phổ biến nhất của thành ngữ tiếng Việt: Bán vợ đợ con, bảng vàng bia đá, phong ba bão táp, ăn to nói lớn, ác giả ác báo, …

Trong đó các tác giả chia ra các kiểu:

* Kiểu thành ngữ có láy ghép: Ăn bớt ăn xén, chết mê chết mệt, chúi đầu chúi mũi…

* Kiểu thành ngữ tổ hợp của hai từ ghép: Nhắm mắt xuôi tay, nhà tranh vách đất, ăn bờ ở bụi, bàn mưu tính kế…

+ Thành ngữ kết cấu năm hay sáu tiếng cũng tương đương như kiểu kết cấu

trên: Trẻ không tha già không thương, treo đầu dê bán thịt chó…

Một số thành ngữ có kiểu kết cấu từ bảy, tám, mười tiếng Nó có thể hai hay

ba ngữ đoạn, hai hay ba mệnh đề liên hợp tạo thành một tổ hợp kiểu ngữ cú dài cố

định, như: Vênh váo như bố vợ phải đâm, vén tay áo xô đốt nhà táng giày v.v…

Như vậy, dựa vào số lượng thành tố trong thành ngữ để phân loại thành ngữ

là chỉ dựa vào hình thức, không phản ánh được tính chất quan hệ và đặc điểm bêntrong của chúng

- Cách phân loại thứ hai: dựa vào kết cấu ngữ pháp

Tác giả Nguyễn Văn Tu dựa vào kết cấu ngữ pháp chia thành ngữ các loại:

Trang 13

+ Thành ngữ có cấu tạo là câu đơn giản: Nước đổ lá khoai, chuột sa chĩnh gạo, gà sống nuôi con; bốn bể là nhà, tấc đất tấc vàng,… Ở loại câu này, tác giả

phân ra làm hai loại:

* Câu đơn giản đủ hai thành phần chủ yếu, có thể thêm thành phần thứ yếu

theo mô hình: Chủ ngữ + vị ngữ + trạng ngữ hoặc tân ngữ, ví dụ: Nước đổ lá khoai, chuột sa chĩnh gạo, gà sống nuôi con…

* Câu đơn giản chỉ có hai thành phần chính theo mô hình: Chủ ngữ + vị ngữ,

* Về mệnh đề đẳng lập: C - V, C- V: Tai bay vạ gió, vườn không nhà trống,

mẹ tròn con vuông, điều nặng tiếng nhẹ…

Ngoài ra, thành ngữ còn có kiểu cấu tạo là câu phức hợp thiếu thành phầnchủ yếu như:

* Kiểu VT - VT như: Bán vợ đợ con, biệt tăm biệt tích,

* Kiểu Vtr - Vtr: Ăn tối lo mai, mang nặng đẻ đau, …

* Kiểu trV - trV: Bạ ăn bạ nói, giòn cười giòn khóc,…

* Kiểu: Số + danh + số + danh: Ba đầu sáu tay, ba chân bốn cẳng,…

Nhìn chung, cách phân loại dựa vào cấu tạo ngữ pháp đã chia thành ngữthành các kiểu cụ thể Tuy nhiên cách phân loại này sẽ khó có thể khảo sát thànhngữ tiếng Việt triệt để và chính xác về nội dung

- Cách phân loại thứ ba: dựa vào số lượng cụm từ

Dựa vào tiêu chí này, người ta chia thành ngữ tiếng Việt gồm hai loại lớn:thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ đơn và thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ liênhợp Hai loại này, tiếp tục phân ra các tiểu loại nhỏ:

+ Thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ đơn

* Thành ngữ có cấu tạo C - V là cụm từ đơn

Trang 14

Đó là loại thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo chỉ gồm một cụm C - V Theo LêThị Hải Vân [57], khảo sát 626 thành ngữ tiếng Việt có kết cấu là cụm từ C - V thì

có 329 thành ngữ là cụm từ đơn, chiếm 52,6% Ví dụ: Gậy ông đập lưng ông, Trứng khôn hơn vịt, ngựa non háu đá…

* Thành ngữ có cấu tạo C - P là cụm từ đơn

Cụm từ C - P thường được gọi tên theo từ loại của thành tố chính trong cụm

từ, đó là cụm danh từ, cụm động từ, cụm tính từ, cụm số từ, cụm đại từ Thành ngữ

có cấu tạo là cụm từ C- P cũng có đầy đủ các loại cụm từ đã nêu trên; nhưng sốlượng nhiều nhất là cụm danh từ, cụm động từ cụm tính từ Trong các loại này đều

có cấu tạo là cụm từ đơn

a Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ đơn:

Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có quan hệ chính phụ giữa các yếu tố cấuthành, trong đó yếu tố đóng vai trò trung tâm là danh từ, cấu tạo chỉ gồm một cụm

C - P Theo Lê Thị Hải Vân, khảo sát 636 thành ngữ tiếng Việt có kết cấu cụm

danh từ, thì có 85 thành ngữ có cấu tạo cụm từ đơn: Mắt cú vọ, sư tử Hà Đông…

b Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ đơn

Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có một thành phần trung tâm là động từ,cũng theo tác giả trên khảo sát 1366 thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo là cụm động

từ, thì có 364 thành ngữ có cấu tạo là cụm từ đơn: Ăn ở hai lòng, chỉ tay năm ngón…

c Thành những có cấu tạo là cụm tính từ đơn:

Là thành ngữ có cấu tạo cụm từ đơn không xuất hiện thành phần phụ trước,chỉ bao gồm một trung tâm và một thành phần phụ sau, có 326 thành ngữ có cấutạo là cụm từ đơn trong tổng 547 thành ngữ tiếng Việt có cấu tạo là cụm tính từ, ví

dụ: Tối như bưng, nhanh như cắt, chậm như rùa…

+ Thành ngữ có cấu tạo kiểu cụm từ liên hợp

Đó là loại cấu tạo gồm 2 cụm từ trở lên kết hợp với nhau, gồm các kiểu:

* Thành ngữ có cấu tạo C - V là cụm từ liên hợp (C - V + C - V)

Thành ngữ cấu tạo theo kiểu cụm từ liên hợp là thành ngữ có hai kết cấutrung tâm, mà kết cấu trung tâm là kết cấu C - V Trong 626 thành ngữ tiếng Việt

có kết cấu là cụm C - V, thì có 297 thành ngữ là cụm từ liên hợp, ví dụ: Máu chảy đầu rơi, miệng nói tay làm, chó ăn đá gà ăn sỏi…

* Thành ngữ có cấu tạo C - P là cụm từ liên hợp (C - P + C - P)

Trang 15

Ở đây, người ta chia ra các tiểu loại theo cụm danh từ, cụm động từ, cụmtính từ, cụ thể:

a Thành ngữ có cấu tạo là cụm danh từ liên hợp

Loại thành ngữ này có hai cụm từ chính phụ liên kết lại, hai cụm từ chính

phụ đó đều là cụm danh từ Ví dụ: Lều tranh vách đất, công ăn việc làm, chân đồng vai sắt, … có 551 cụm danh từ liên hợp trong tổng 636 thành ngữ có cấu tạo

cụm từ danh từ

b Thành ngữ có cấu tạo là cụm động từ liên hợp

Đây là loại thành ngữ tiếng Việt có hai thành phần trung tâm do động từđảm nhiệm, có 1002 thành ngữ có cấu tạo là cụm từ liên hợp trong 1366 thành ngữ

tiếng Việt có cấu tạo là cụm động từ: Lấp biển vá trời, đem con bỏ chợ, sống vô gia cư chết vô địa táng,…

c Thành ngữ có cấu tạo là cụm tính từ liên hợp

Thành ngữ loại này bao gồm hai thành phần trung tâm do tính từ đảmnhiệm, có 219 thành ngữ có cấu tạo là cụm từ liên hợp trên tổng 547 thành ngữ

tiếng Việt có cấu tạo cụm tính từ: Bầm gan tím ruột, mát lòng mát dạ, mềm nắn rắn buông, …

Đây là một cách phân loại khá hợp lý, vì thành ngữ vốn là cụm từ cố định,

do đó dựa vào số lượng cụm từ ta có thể chia các kiểu kết cấu của thành ngữ

- Cách phân loại thứ tư: dựa vào phương thức cấu tạo

Trong Thành ngữ học tiếng Việt, GS- TS Hoàng Văn Hành đưa ra tiêu chí

phân loại thành ngữ dựa vào phương thức cấu tạo Trên cơ sở đó, ông đã phânthành ngữ làm ba loại:

+ Thành ngữ so sánh

Loại thành ngữ này khá phổ biến trong thành ngữ Tiếng Việt, thành ngữ sosánh là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so sánh mang nét nghĩa biểutrưng

Nếu như cấu trúc của phép so sánh thông thường gồm bốn dạng:

1) At như B: "Đối với bộ đội, chính trị viên phải dịu hiền như một ngườichị" (Hồ Chí Minh)

Trang 16

2) A như B: "Thế địch như lửa, thế ta như nước Nước nhất định thắng lửa"(Hồ Chí Minh).

3) t như B "Ấp úng như thùng đứt vành Trả lời không được phải đámhngậm câm" (c d)

4) Như B: "Như cá nằm trong chậu, quân địch chết bị thương và bị bắn chết"(Hồ Chí Minh)

Thì cấu trúc của thành ngữ so sánh chỉ tương ứng với dạng thứ ba và dạngthứ tư của phép so sánh, cụ thể là:

1 t như B: Nợ như chúa chổm, đẹp như tiên, chậm như rùa,…

2 Như B: Như cá với nước, như mèo thấy mỡ, như ong vỡ tổ,

Trong thành ngữ so sánh, vế B - vế so sánh đóng vai trò quan trọng bởi qua

nó ta nhận thấy được cách nhìn, cách nghĩ, thấy được dấu ấn của đời sống và conngười của mỗi dân tộc, mỗi địa phương

Vế B có thể được cấu tạo là một từ:

Đẹp như tiên Hiền như bụt

Vế [t]- vế cái được so sánh, là vế có tính chất bắt buộc, nhưng không nhất

thiết phải ổn định ở mặt hiển ngôn Chẳng hạn, các thành ngữ: Run như cầy sấy, cười như nắc nẻ,… thì [t] xuất hiện ở dạng hiểu ngôn và có tính chất ổn định

Nhưng có trường hợp [t] hầu như vắng mặt:

Cũng có hiện tượng trung gian, trong đó [t] ẩn hay hiện tuỳ theo ngữ cảnh:

(Chậm) như rùa

(Cay) như ớt…

+ Thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng

Trang 17

Đây là loại thành ngữ phổ biến nhất trong tiếng Việt Theo Giáo sư HoàngVăn Hành, thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng làm nên diện mạo của thành ngữ tiếng

Việt, chiếm 2/3 tổng số thành ngữ Các thành ngữ có cấu trúc đối xứng như: Chim

sa cá lặn, thay lòng đổi dạ, đầu tắt mặt tối …

Các thành ngữ này có tính chất đối xứng giữa các bộ phận và các yếu tố tạonên thành ngữ Quan hệ đối xứng đó được thiết lập dựa trên hai bình diện: đối ý vàđối lời Đối ý là đối ở cấp độ vế, còn đối lời là đối ở cấp độ yếu tố

Ví dụ: Thành ngữ Đầu voi đuôi chuột ta thấy: "đầu voi" đối xứng với "đuôi chuột", đây là đối xứng ở cấp độ vế, nó giúp ta nhận ra nghĩa của thành ngữ này là:

“việc làm không cân đối, đề ra to tát, qui mô, thực hiện thu nhỏ dần, kết quả rất ít”[34, tr 127] Nhưng để có quan hệ đối ý này là nhờ vào quan hệ đối xứng giữa cácyếu tố trong hai vế của thành ngữ - đó là quan hệ đối lời

Trong thành ngữ trên nhờ có quan hệ đối xứng giữa yếu tố "đầu" và "đuôi",

"chuột" - "voi" mà ta suy ra được ý nghĩa của thành ngữ Cần nhận thấy, để có

được sự đối lời đó thì nội dung ngữ nghĩa các yếu tố đối xứng nhau trong hai vế ởphần lớn các thành ngữ phản ánh những đặc trưng thuộc cùng một phạm trù ngữnghĩa và chúng phải cùng một phạm trù từ loại Hay nói cách khác, giữa các yếu tốtrong hai vế có sự tương đồng về ngữ pháp - ngữ nghĩa

Xét ví dụ: Cà chua mắm mặn ta thấy có hai cặp yếu tố cùng phạm trù ngữ nghĩa: “cà - mắm”; “chua - mặn” Chúng cùng chỉ một hiện tượng, một sự vật, tính chất … "Cà, mắm" chỉ những món ăn đơn giản, gần gũi với người dân lao động.

"Chua, mặn" chỉ tính chất của sự vật vừa nêu Mặt khác, các yếu tố ở hai vế của

thành ngữ đó đều thuộc một phạm trù từ loại, cụ thể là "cà", "mắm" đối xứng với

nhau và đều là danh từ, còn "chua", "mặn" đối xứng với nhau và đều là tính từ.

Tương tự, có các thành ngữ ẩn dụ đối xứng: mẹ tròn con vuông, bán thịt buôn người, rừng vàng biển bạc v.v…

+ Thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng

Bên cạnh những thành ngữ có cấu trúc đối xứng và thành ngữ so sánh, còn

có một bộ phận không thuộc vào hai kiểu cấu tạo trên, GS Hoàng Văn Hành gọi đó

là thành ngữ thường "hay tốt hơn là những thành ngữ ẩn dụ hoá phi đối xứng" [21;

tr 47]

Trang 18

Thành ngữ có cấu trúc thường chiếm tỉ lệ không nhiều Về mặt cấu tạo,chúng không có tính chất đối xứng, bởi chúng được tạo ra như những cấu trúc ngữpháp bình thường Cụ thể là được cấu tạo theo hai kiểu kết cấu ngữ pháp: kiểu kếtcấu có một trung tâm và kiểu kết cấu có hai trung tâm Ta có thể hiểu một cáchđơn giản như sau:

* Kết cấu ngữ pháp có một trung tâm gồm 3 kiểu:

Kết cấu danh ngữ: Anh hùng rơm, hai bàn tay trắng, bạn nối khố, công tử bột, công dã tràng, mắt cú vọ, nước mắt cá sấu, cá mè một lứa, …

Kết cấu động ngữ: Ăn vụng khéo chùi mép, chạy long tóc gáy, bán trời không văn tự, bắt cá hai tay, ăn thịt người không tanh, bật đèn xanh, …

Kết cấu tính ngữ: Bở hơi tai, cứng đầu cứng họng, trơ mắt ếch, bé chẳng vin

cả gãy cành, xấu chàng hổ ai …

* Kết cấu ngữ pháp có hai trung tâm là kết cấu chủ - vị (C - V): Cá nằm trên thớt, gà trống nuôi con, gái đĩ già mồm, Cao Biền dậy non, cha chung không ai khóc, chó cắn áo rách, cò bay thẳng cánh, cóc mọc lông nách …

Theo chúng tôi, trong bốn cách phân chia cấu trúc thành ngữ tiếng Việt trên,cách chia của GS Hoàng Văn Hành - dựa vào phương thức cấu tạo - có thể xem làhợp lý nhất, mang tính khoa học nhất Chúng tôi lấy đó làm nền tảng, làm cơ sở đểkhảo sát, thống kê, phân tích đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh

1.1.3 Về mặt ngữ nghĩa của thành ngữ

Ngoài đặc điểm cấu tạo, khi nghiên cứu thành ngữ tiếng Việt hay bất cứthành ngữ của một dân tộc nào cũng cần phải xem xét về mặt biểu hiện nghĩa củachúng, bởi thành ngữ là một đơn vị từ vựng - ngữ nghĩa

Khi bàn về ngữ nghĩa của thành ngữ tiếng Việt, các nhà nghiên cứu đã đưa

ra các ý kiến không hoàn toàn giống nhau, song đều có chung quan điểm: nghĩacủa thành ngữ có tính chất biểu trưng, có tính hoàn chỉnh, bóng bẩy

Theo Lương Văn Đang, Nguyễn Lực: "… Một bộ phận thành ngữ tiếng Việt cũng có tính đa nghĩa, nhưng trong đó nghĩa bóng có tầm quan trọng hơn cả … Nghĩa này có tính khái quát, tượng trưng cho toàn bộ tổ hợp" [34, tr 8] Điều này

nói lên ý nghĩa của thành ngữ là sự hoà hợp, chung đúc nghĩa của từng yếu tố,nhưng đó không phải là sự hoà hợp với phép cộng giản đơn nghĩa của các yếu tố

Trang 19

trong thành ngữ, mà qua những hình ảnh, những sự vật, hiện tượng bên ngoài cuộcsống để biểu trưng cho những đặc điểm, tính chất, hoạt động … phổ quát.

Chúng ta nhận thấy rằng, nghĩa của thành ngữ được xác nhận như là mộtchỉnh thể định danh, tương đương với từ Song, khác các đơn vị từ vựng bìnhthường, thành ngữ là loại định danh bậc hai, nghĩa là nội dung của thành ngữkhông nhằm biểu thị theo nghĩa đen của các từ ngữ tạo nên nó mà ngụ ý điều gìđược suy ra từ chúng

Ví dụ: Thành ngữ Múa rìu qua mắt thợ không chỉ nói đến việc một người

nào đó cầm rìu múa qua mắt một người thợ, mà nó mang ý nghĩa: trổ tài, khoe tài,

tỏ ra hiểu biết trước người tài giỏi, tinh thông hơn mình

Hay thành ngữ Mèo mù vớ cá rán không phải đơn thuần là một con mèo bị

mù lấy được con cá rán nào, mà nó chỉ sự gặp may đặc biệt, bất ngờ

Do vậy, các thành ngữ "các ngữ cố định đều có cấu trúc ngữ nghĩa của cụm

từ tự do" [9, tr 78], tức là cấu trúc ngữ nghĩa của thành ngữ thường được diễn đạt

thành một cụm từ tự do, trong đó có một từ trung tâm (hay một cụm từ trung tâm)

và những thành phần phụ bổ sung ý nghĩa cho thành phần trung tâm với những sắcthái phụ Thành phần trung tâm là ý nghĩa nòng cốt, ý nghĩa cơ bản của thành ngữ

Chẳng hạn như thành ngữ: Thần hồn nát thần tính có thể diễn đạt bằng cụm

từ: hốt hoảng, kinh hoàng do chính những ảo tưởng, những ý nghĩ ma quái nảysinh tự trong đầu óc mình gây ra nhân khi tâm hồn không ổn định Ở đây, thànhphần trung tâm là "hốt hoảng, kinh hoàng" còn lại là thành phần phụ

Ngữ nghĩa của thành ngữ cũng thường được nhắc đến với các đặc điểm như:tính biểu trưng, tính hình tượng, tính cụ thể, tính biểu thái, tính dân tộc Tất cảnhững đặc điểm này đã tạo nên giá trị ngữ nghĩa hết sức độc đáo của thành ngữtiếng Việt Trong số các đặc điểm đó, các nhà nghiên cứu quan tâm nhiều đến tínhbiểu trưng Nghĩa biểu trưng được xem là đặc tính bản chất nhất của thành ngữ

Điều này, GS Đỗ Hữu Châu, trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, khẳng định:

"Biểu trưng là cơ chế tất yếu mà ngữ cố định, và từ vựng phải ghi nhận, diễn đạt những nội dung phức tạp hơn một khái niệm đơn" [9, tr 82].

Ở bài viết Tính biểu trưng của thành ngữ tiếng Việt [45] của Phan Xuân

Thành, tác giả đã nêu lên hai loại yếu tố có tính biểu trưng, đó là:

Trang 20

1) Các yếu tố có tính biểu trưng đơn giản thường gặp trong các thành ngữ so

sánh, ước lệ, như: Trắng như ngà, chậm như rùa … Ở loại thành ngữ này, đặc tính

so sánh được biểu trưng qua vật so sánh … Đối với các thành ngữ so sánh ý nghĩacủa chúng thường được thể hiện ở nghĩa đen và gánh nặng ngữ nghĩa thường dồn

về ở vế đầu tiên Vậy là ở loại yếu tố có tính biểu trưng đơn giản này thì tính chấtbiểu trưng được biểu hiện ở yếu tố của vế đầu, còn vế thứ hai chỉ có tác dụng tăngthêm sắc thái

Chẳng hạn, thành ngữ chậm như rùa thì ý nghĩa được hiểu trọn vẹn ở từ

"chậm", còn vế thứ hai "như rùa" chỉ có tác dụng tăng sắc thái nghĩa.

Tương tự, ta có các thành ngữ thuộc loại yếu tố có tính biểu trưng đơn giản như:

đẹp như tiên, trắng như bông, dữ như cọp, v.v…

2) Loại yếu tố biểu trưng thứ hai có phức tạp hơn, bởi trong các yếu tố nghĩa

đó bao giờ cũng ẩn chứa những tri thức dân gian Có những thành ngữ biểu trưng

tuy phức tạp nhưng vẫn dễ nhận diện - đó là sự biểu trưng trực tiếp, ví như: Đục nước béo cò; ngưu tầm ngưu, mã tầm mã … Song cũng có dạng biểu trưng gián tiếp, chúng tạo ra tính nhiều bậc nên phức tạp và khó nhận diện hơn, ví dụ: Nhạt phấn phai hương, bứt nhị hái hoa, ong qua bướm lại, v.v…

Tác giả Bùi Khắc Việt đã bàn về tính biểu trưng trong bài Về tính biểu trưng

của thành ngữ trong tiếng Việt [58], ông đưa ra hai trường hợp về mối quan hệ

giữa sự vật hoặc hình ảnh với ý nghĩa biểu trưng trong thành ngữ:

1) Thành ngữ biểu trưng hoá toàn bộ: Ban đầu, đây là tổ hợp tự do, biểu thịmột hiện tượng, một hành vi, một tính chất cụ thể, về sau được sử dụng trongphạm vị rộng, nghĩa được khái quát hoá trở thành thành ngữ

Ví dụ: Hai bàn tay trắng, bật đèn xanh, dậm chân tại chỗ,

2) Thành ngữ biểu trưng hoá bộ phận: ở trong các thành ngữ này tồn tại mộthay một số thành tố có nghĩa biểu trưng rõ rệt và một số thành tố không có nghĩa

biểu trưng Ví dụ: Nợ như chúa chổm; giận cá chém thớt,… trong đó "Chúa chổm";

"cá", "thớt" là những thành tố có nghĩa biểu trưng.

Như vậy, tính biểu trưng của thành ngữ khá đa dạng, phong phú Nó vừa códạng đơn giản, vừa có dạng phức tạp, vừa có sự biểu trưng trực tiếp, lại có sự biểutrưng gián tiếp và ngoài ra còn có biểu trưng toàn bộ, biểu trưng bộ phận Chính vìthế mà "vấn đề biểu trưng hoá làm sáng tỏ quá trình hình thành nghĩa của thành

Trang 21

ngữ" Điều đó đã được GS Hoàng Văn Hành nhấn mạnh trong Thành ngữ học tiếng Việt: "Nghĩa của thành ngữ tiếng Việt thường là kết quả của hai hình thái biểu trưng hoá, hình thái tỉ dụ (so sánh) và hình thái ẩn dụ (so sánh ngầm)" [21, tr.

Hay có những thành ngữ nghĩa của nó được tạo nên bởi phương thức biểu

trưng hoá ngữ nghĩa dựa trên cơ sở các điển tích, điển cố, như: Nợ như chúa chổm, Ngưu Lang Chức Nữ, Cao Biền dậy non … Ở các thành ngữ này, giá trị ngữ nghĩa

biểu trưng của thành ngữ được toát lên từ chính nội dung ngữ nghĩa mà các điểntích, điển cố đã xây dựng

Ngoài các công trình đề cập đến vấn đề ngữ nghĩa thành ngữ trên, nhiều nhànghiên cứu đã đi sâu khảo sát phân tích hiện tượng đồng nghĩa, trái nghĩa trong

thành ngữ tiếng Việt, tiêu biểu là luận văn Thành ngữ đồng nghĩa và trái nghĩa trong tiếng Việt [52] của Trần Anh Tư Trong luận văn này, tác giả đi sâu khảo sát,

phân loại thành ngữ đồng nghĩa, thành ngữ trái nghĩa một cách rạch ròi, giúp ta dễdàng nhận diện

Các kết quả của các nhà nghiên cứu được trình bày như trên là cơ sở lýthuyết về ngữ nghĩa thành ngữ tiếng Việt- đó chính là các căn cứ cần thiết, bổ íchgiúp chúng tôi phân tích đặc điểm ngữ nghĩa trong thành ngữ Nghệ Tĩnh

1.1.4 Đặc điểm, vai trò của thành ngữ trong sử dụng

Thành ngữ là đơn vị từ vựng quan trọng của tiếng Việt, nó không chỉ tồn tạiđộc lập trong các cuốn từ điển mà còn được vận dụng linh hoạt trong giao tiếphằng ngày cũng như trong các sáng tác văn chương

Chẳng hạn, thành ngữ được dùng trong ca dao:

- Thân em như lá đài bi

Ngày thì dãi nắng đêm thì dầm sương

[2, tr.139]

Trang 22

Hay thành ngữ được dùng trong các tác phẩm thơ văn:

- Rằng: tôi trót quá chân ra

Để cho đến nỗi trôi hoa dạt bèo

[Truyện Kiều- Nguyễn Du]

- “Trong cán bộ có những đồng chí tốt, miệng nói tay làm, nhưng cũng có một số đồng chí chỉ tay năm ngón không chịu làm.” (ND, 14-3-1967) [Dẫn theo

21, tr 119]

Khác với những thành ngữ xuất hiện trong hệ thống (trong các cuốn từđiển), khi đi vào sử dụng, thành ngữ có thể thay đổi về chức năng ngữ nghĩa vàhình thái cấu trúc theo những mức độ khác nhau và bằng những cách thức biến đổikhông giống nhau tùy theo mục đích của người dùng Với sự biến hóa linh hoạt ấy,thành ngữ đã góp phần làm nên giá trị thành công của các tác phẩm văn chương

Thấy được vai trò và những đặc trưng của thành ngữ trong giao tiếp cũngnhư trong sáng tác thơ văn, các nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu vấn đề này

Nguyễn Việt Hùng trong công trình Đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa thành ngữ

trong ca dao người Việt, tác giả khẳng định tầm quan trọng của thành ngữ đối với

ca dao: “Thành ngữ do có quan hệ rất gần gũi với ca dao, hơn nữa lại có nhiều khảnăng ưu việt nên khi đi vào ca dao nó trở thành một đơn vị quan trọng trong cấutrúc nghệ thuật của ca dao, nhiều khi nó trở thành linh hồn của cả bài ca dao” [25,

tr 19] Thành ngữ không chỉ xuất hiện trong ca dao mà nó còn có mặt trong cácsáng tác thơ văn của nhiều tác giả nổi tiếng GS Hoàng văn Hành trong chuyên

luận Thành ngữ học tiếng Việt đã dành một chương bàn về “Giá trị và nghệ thuật

sử dụng thành ngữ qua văn thơ của chủ tịch Hồ Chí Minh” [21, tr 116-133]

Nguyễn Thị Thuý Hoà cũng nghiên cứu Cách sử dụng thành ngữ trong các bài nói, bài viết của Chủ tịch Hồ Chí Minh (2005); còn Nguyễn Thị Loan đã tìm hiểu Thành ngữ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du [33] Nhìn chung, các tác giả đều

khẳng định: khi đi vào sử dụng, thành ngữ có cấu trúc đa dạng, ngữ nghĩa phongphú và nó có một vai trò hết sức quan trọng trong việc tạo nên giá trị nội dung vànghệ thuật của tác phẩm Chính điều này đã giúp chúng tôi có hướng nghiên cứumới là tìm hiểu cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong thơ ca dân gian NghệTĩnh

Trang 23

1.1.5 Phân biệt thành ngữ và tục ngữ

Thành ngữ được xem là một đơn vị ngôn ngữ đặc biệt- đơn vị có tính chấttrung gian giữa bậc từ vựng và bậc cú pháp Nghĩa là, một mặt, thành ngữ đượccấu tạo theo những mô hình cú pháp, mặt khác, nó lại hoạt động như một đơn vị từvựng Do đó, cần phân biệt nó với các đơn vị có quan hệ gần gũi Ở luận văn này,

để thuận lợi trong việc khảo sát, phân loại thành ngữ, chúng tôi tập trung phân biệthai đơn vị ngôn ngữ có quan hệ gần gũi với nhau là thành ngữ và tục ngữ

Từ trước đến nay, có không ít công trình nghiên cứu tiến hành phân biệtthành ngữ và tục ngữ, có thể điểm qua các công trình tiêu biểu sau:

Tác giả Dương Quảng Hàm trong cuốn Việt Nam văn học sử yếu đã chỉ ra:

"Một câu tục ngữ tự nó phải có một ý nghĩa đầy đủ, hoặc khuyên răn hoặc chỉ bảođiều gì; còn thành ngữ chỉ là lời nói có sẵn để ta tiện dùng mà diễn đạt một ý gìhoặc tả một trạng thái gì cho có màu mè"

Theo Vũ Ngọc Phan: "Tục ngữ là một câu tự nó diễn đạt trọn vẹn một ý,một nhận xét, một kinh nghiệm, một luân lí, một công lí, có khi là một sự phêphán Còn thành ngữ là một phần câu có sẵn, nó là một bộ phận của câu mà nhiềungười quen dùng nhưng tự riêng nó không diễn đạt một ý trọn vẹn" [40, tr 31-32]

Ngoài ra, trong các cuốn sách Tục ngữ Việt Nam (1975) của Chu Xuân Diên, Lương Văn Đang - Phương Tri; hay Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại (1978) của Nguyễn Văn Tu, Vấn đề cấu tạo từ tiếng Việt hiện đại (1976) của Hồ Lê phần nào

cũng phân biệt hai đơn vị thành ngữ và tục ngữ

Trên các tạp chí ngôn ngữ cũng xuất hiện nhiều bài viết bàn về vấn đề đó

một cách cụ thể, như: Nguyễn Văn Mệnh với bài Ranh giới giữa thành ngữ và tục ngữ (TC Ngôn ngữ, số 3, 1972), đã nêu: "Nội dung của thành ngữ mang tính chất

hiện tượng, còn nội dung của tục ngữ nói chung mang tính quy luật"

Tác giả Cù Đình Tú trong bài Góp ý về sự phân biệt thành ngữ và tục ngữ

(TC Ngôn ngữ, số 1, 1973) cho rằng: “Sự khác nhau cơ bản giữa thành ngữ và tụcngữ là sự khác nhau về chức năng Thành ngữ là những đơn vị có sẵn mang chứcnăng định danh, nói khác đi, dùng để gọi tên sự vật, tính chất, hành động … Vềmặt này mà nói, thành ngữ là những đơn vị tương đương với từ Tục ngữ đứng vềmặt ngôn ngữ học có chức năng khác hẳn so với thành ngữ Tục ngữ cũng như cácsáng tạo khác của dân gian như ca dao, truyện cổ tích, đều là các thông báo … Nó

Trang 24

thông báo một nhận định nào đó của thế giới khách quan Do vậy, mỗi tục ngữ đọclên là một câu hoàn chỉnh, diễn đạt trọn vẹn một ý tưởng" Ở đây, tác giả nêu ranhững tiêu chí về mặt ngôn ngữ để phân biệt, cụ thể là: sự khác nhau về cấu tạongữ pháp và về vị trí trong lời nói của thành ngữ và tục ngữ.

Theo GS Hoàng Văn Hành, thành ngữ và tục ngữ tuy có một số nét tươngđồng có thể chuyển hoá lẫn nhau nhưng về bản chất là không giống nhau, xét vềmọi phương diện: về hình thức cấu trúc cũng như về mặt ngữ nghĩa, nội dung biểuđạt và chức năng của chúng trong giao tiếp xã hội Ông đã phân biệt hai đơn vịngôn ngữ đó theo 4 tiêu chí sau:

Về hình thái cấu trúc: Thành ngữ là tổ hợp từ cố định (hoặc kết cấu chủ vị) quan hệ hình thái; còn tục ngữ là câu (phát ngôn) cố định (cả đơn và phức),quan hệ cú pháp

Về chức năng biểu hiện nghĩa định danh: Thành ngữ có chức năng địnhdanh sự vật, hiện tượng, quá trình…; tục ngữ có chức năng định danh sự tình, sựkiện, trạng huống

- Về chức năng biểu hiện hình thái nhận thức: Thành ngữ biểu thị khái niệmbằng hình ảnh biểu trưng, tục ngữ biểu thị phán đoán bằng hình tượng biểu trưng

- Về đặc trưng ngữ nghĩa: cả thành ngữ và tục ngữ đều mang hai tầng nghĩađược tạo bằng phương thức so sánh và ẩn dụ hoá

Như vậy, để phân biệt thành ngữ và tục ngữ, các nhà nghiên cứu đã đưa ranhiều cách khác nhau Kế thừa ý kiến của những người đi trước, chúng tôi xin nêucác tiêu chí cụ thể để thấy rõ sự giống nhau và khác biệt giữa thành ngữ và tụcngữ

Trước hết, thành ngữ và tục ngữ là hai đơn vị ngôn ngữ được sử dụng nhiềutrong lời nói, chúng có tính cố định và cũng mang tính có sẵn … Chính nhữngđiểm chung này đã gây không ít khó khăn trong việc nhận diện thành ngữ và tụcngữ Điều này cũng giải thích vì sao chúng thường được nhắc tới đồng thời nhưmột thuật ngữ kép trong hệ thống cấu trúc của tiếng Việt, chẳng hạn khi xây dựngcác công trình từ điển, các tác giả đã lấy thành ngữ và tục ngữ tạo thành một cặp

đôi làm đối tượng, ví như: Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam của Nguyễn Lân;

Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam của Vũ Duy, Vũ Quang Hào… Hay cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh của GS TS Nguyễn Nhã Bản Tuy nhiên, giữa

Trang 25

hai đơn vị này có những đặc điểm riêng xét về phương diện hình thức cấu tạo,chức năng ngôn ngữ và về phương diện hoạt động hành chức.

- Về phương diện hình thức cấu tạo, giữa thành ngữ và tục ngữ có sự khácnhau về cấp độ, cụ thể: Thành ngữ tồn tại dưới dạng cụm từ, có thể là cụm danh từ

(Hai bàn tay trắng, công dã tràng, anh hùng rơm, mắt cú vọ, cá mè một lứa …), có thể là cụm động từ (Ăn phải bùa phải bả, bán trời không văn tự, bắt cá hai tay, chạy long tóc gáy …) hoặc có thể là cụm tính từ (Trơ mắt ếch, nghèo rớt mùng tơi, mênh mông bể sở, gan cóc tía …) Còn tục ngữ lại được biểu đạt bằng câu và là

loại câu đặc biệt bởi nó là "thông điệp nghệ thuật" Do sự khác nhau này mà têngọi của từng đơn vị là không giống nhau, ta thường nói "câu tục ngữ" mà khôngbao giờ nói “câu thành ngữ” Điều đó cũng dẫn đến hệ quả, khi đi vào hoạt động,thành ngữ thường được dùng như là một thành phần của câu

Ví dụ: "Y cho rằng ở đời chỉ có sức mạnh là hơn Cuộc đời này cá lớn nuốt

cá bé là sự dĩ nhiên" (Cá bống mù- Đoàn Giỏi) Còn tục ngữ có thể đứng độc lập thành một câu hoàn chỉnh, ví dụ: "Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Trong cuộc tưng bừng

vui vẻ hôm nay, chúng ta nhớ đến các anh hùng liệt sĩ của Đảng ta, của nhân dânta" (Hồ Chí Minh) hoặc có thể là một mệnh đề đẳng lập trong câu phức, ví dụ:

"Thiên nhiên khắc nghiệt là như vậy, không phải là người cúi mặt buông tay chịu

đựng một cách nhẫn nhục những thử thách đó của thiên nhiên Vỏ quýt dày có móng tay nhọn, thiên nhiên đã gặp ở đây một đối thủ khá xứng đáng …" (Những

ngày nổi giận - Chế Lan Viên)

Nhưng vấn đề đặt ra là trong thành ngữ chúng ta thấy một số thành ngữ cóhình thức cấu tạo là một câu (một kết cấu C - V) thậm chí là một câu ghép (hai kết

cấu C - V) Ví dụ: Áo gấm/ đi đêm, Cao Biền/ dậy non, chân đăm/ đá chân chiêu,

ăn mày/ đòi xôi gấc; mưa/ dập, gió/ vùi; ông/ nói gà, bà/ nói vịt… Do sự nhập

nhằng này mà ngoài việc dựa vào chức năng ngữ pháp của thành ngữ trong câu;trong sử dụng, thành ngữ dù có kết cấu C - V nhưng thành ngữ chỉ là bộ phận của

câu (vì nó có kết cấu 1 trung tâm), ví dụ: Cá nằm trên thớt trong câu: “Gia đình ông bây giờ như cá nằm trên thớt” chỉ là một thành phần câu nên chúng ta cần phải

dựa vào chức năng ngữ nghĩa của thành ngữ và tục ngữ thì mới phân biệt đượcchúng một cách rõ ràng hơn

Trang 26

- Về phương diện chức năng ngữ nghĩa: Tục ngữ diễn đạt trọn vẹn một ý,một nhận xét, một sự phê phán, một kinh nghiệm, một tâm lý, một lẽ sống Tụcngữ chính là những bài học và cách sống ở đời, và là những kinh nghiệm về tựnhiên, về lao động sản xuất, về đời sống xã hội Vì thế, tục ngữ là một phán đoán,

có chức năng thông báo Nó là một câu nói ngắn gọn, có ý nghĩa hàm súc, có cấutạo tương đối bền vững và thường có vần, có hình ảnh, dùng để hiển thị nhữngnhận xét, phán đoán những kinh nghiệm của nhân dân về tự nhiên lịch sử, xã hội

và con người

Còn thành ngữ là một đơn vị từ vựng tương đương với từ nên nó có chứcnăng định danh- hiển thị khái niệm thông qua các hình ảnh biểu trưng Khác vớitục ngữ là nó không nêu lên các bài học, các kinh nghiệm giáo dục mà chỉ là để gọitên một sự vật, hiện tượng trong tự nhiên- xã hội Do đó, thành ngữ là những tổhợp có sẵn dùng để biểu đạt một cái gì đó cụ thể, còn tục ngữ là những tổ hợp cósẵn dùng để nói một điều gì đó khái quát

Vậy là, bên cạnh những nét tương đồng thì thành ngữ và tục ngữ có sự khác

nhau về bản chất Sự khác biệt đó được GS Hoàng Văn Hành khái quát "Thành ngữ là những tổ hợp từ "đặc biệt" biểu thị những khái niệm một cách bóng bẩy, còn tục ngữ là những câu - ngôn bản đặc biệt, biểu thị những phán đoán một cách nghệ thuật" [21; tr 31].

- Tuy nhiên, trên thực tế, chúng ta thấy giữa thành ngữ và tục ngữ có sựchuyển hoá cho nhau Có khi chúng được dùng như một thành ngữ, cũng có khiđược dùng như một câu tục ngữ Để phân biệt điều này, chúng ta cần dựa vào ngữcảnh cụ thể, tức là căn cứ vào sự hành chức của chúng để xác định

Ví dụ: Tổ hợp "Ruộng sâu trâu nái" là một câu tục ngữ thể hiện kinh

nghiệm trong lao động sản xuất nông nghiệp Nhưng xét trong ngữ cảnh: "Cũng có

lúc ông phát cáu, chửi rủa và đe doạ cái đám thế tục ruộng sâu trâu nái, đụn lúa tiền kho, chỉ biết giá trị con người theo sự hơn kém về tiền bạc" (Nguyễn Bách

Khoa "Tâm lý và tư tưởng Nguyễn Công Trứ) thì tổ hợp trên là thành ngữ bởi nóbiểu đạt khái niệm: cảnh giàu có sung túc ở nông thôn

Hay tổ hợp "Ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau"- thực chất là tục ngữ bởi nó

biểu thị một quan niệm của nhân dân, nhưng nhiều lúc lại được dùng như là nhữngthành ngữ Chẳng hạn xét trong ngữ cảnh cụ thể: "Mỗi người phải ra sức góp công

Trang 27

của để xây dựng nước nhà Chớ nên ăn cỗ đi trước, lội nước theo sau” (Dẫn theo

21,Văn Hồ Chủ tịch - NXB Giáo dục, H 1991; tr 221)

Hoặc thành ngữ "Đàn gẩy tai trâu" trong ngữ cảnh ca dao sau:

"Đàn đâu mà gẩy tai trâu

Đạn đâu bắn sẻ gươm đâu chém ruồi" [2; tr 161]

Thành ngữ đó không còn là tổ hợp định danh mà ý nghĩa của nó đã pháttriển thành một phán đoán có tính chất khuyên răn kiểu tục ngữ Điều đó được tác

giả Nguyễn Việt Hùng trong công trình Đặc trưng cấu trúc và ngữ nghĩa của thành ngữ trong ca dao gọi là "dạng ý nghĩa tục ngữ hoá của thành ngữ trong ca

dao"

Tóm lại, việc phân biệt thành ngữ và tục ngữ một cách rạch ròi, không phảiđơn giản, nhưng muốn xác định được các đơn vị này thì cần phải xét chúng trêncác phương diện: hình thức cấu tạo, chức năng ngữ nghĩa và sự hành chức

1.2 THÀNH NGỮ TRONG PHƯƠNG NGỮ NGHỆ TĨNH

1.2.1 Phương ngữ Nghệ Tĩnh

Phương ngữ là thuật ngữ đã có từ lâu trong ngôn ngữ học Ở Việt Nam,nhiều nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa về thuật ngữ này

Theo Hoàng Thị Châu trong Tiếng Việt trên các miền đất nước (Nxb

KHXH, H, 1989 - tr 24) cho rằng: "Biến dạng của một ngôn ngữ được sử dụng với

tư cách là phương diện giao tiếp của những người gắn bó chặt chẽ với nhau trongmột cộng đồng thống nhất về lãnh thổ, về hoàn cảnh xã hội hay về nghề nghiệp,còn gọi là tiếng địa phương "…" Phương ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học đểchỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phương cụ thể với những nétkhác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phương ngữ khác" [Dẫntheo 60, tr 231- 232]

Còn theo nhóm tác giả: Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Quang

và Vương Toàn trong công trình Ngôn ngữ học: khuynh hướng- lĩnh vực- khái niệm (tập hai), Nxb KHXH, H., 1986, tr 275) định nghĩa: "Phương ngữ là hình

thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng ngữ pháp với ngữ âm riêng biệt được sử dụng

ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu

và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác được coi là ngôn ngữ(cho toàn dân tộc) Các phương ngữ (có người gọi là tiếng địa phương, phương

Trang 28

ngữ) khác nhau trước hết là ở cách phát âm, sau đó là ở vốn từ vựng" [Dẫn theo

60, tr 232]

Qua một số định nghĩa về phương ngữ, chúng ta có thể hiểu một cách đơn

giản: Phương ngữ là những nét biến dạng địa phương về hệ thống ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ văn hoá và được sử dụng trên một phạm vi lãnh thổ nhất định hẹp hơn ngôn ngữ văn hoá.

Bên cạnh ngôn ngữ toàn dân thì mỗi vùng miền, mỗi địa phương đều có mộtlớp ngôn ngữ mang những đặc điểm ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp có sự khác biệtvới ngôn ngữ toàn dân Ở Nghệ Tĩnh cũng vậy, đây là vùng thuộc dải đất miềnTrung - khu vực được mệnh danh là "địa linh nhân kiệt" Nơi đây là vùng phươngngữ mang những đặc trưng riêng- đậm chất Nghệ Tĩnh:

- Về ngữ âm: Nếu như tiếng Việt văn hoá có đầy đủ sáu thanh điệu thìphương ngữ Nghệ Tĩnh có sự biến đổi nhất định về thanh điệu như sau: ngườiNghệ Tĩnh không tiếp nhận được thanh ngã (~), thanh ngã (~) phát âm thành thanhnặng (.) và có trường hợp thanh ngã (~) chuyển sang thanh hỏi (?) hoặc thanhhuyền (\)

Phương ngữ Nghệ Tĩnh có đầy đủ phụ âm đầu của tiếng Việt, trong đó có baphụ âm quặt lưỡi mà một số phương ngữ khác như phương ngữ Bắc không tiếpnhận được

- Về phần vần, phương ngữ Nghệ Tĩnh so với ngôn ngữ toàn dân có một loạtvần biến đổi tương ứng với ngôn ngữ toàn dân như: o/ ua: ló- lúa; a/ ưa: lả- lửa; u/âu: tru- trâu; v.v…

- Về từ vựng, phương ngữ Nghệ Tĩnh có một vốn từ địa phương phong phú

Theo Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh [5] vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh có

6188 đơn vị Lớp từ vựng này đã trở thành "đặc sản" của người dân nơi đây

Những đặc trưng của phương ngữ Nghệ Tĩnh được thể hiện trong nhữngtruyện dân gian, những làn điệu hát dặm, hát phường vải, phường nón, … và cảtrong kho tàng ca dao, tục ngữ, thành ngữ Vì vậy, muốn hiểu đặc điểm của thànhngữ Nghệ Tĩnh, trước hết phải hiểu một số đặc trưng phương ngữ của vùng đấtnày

Trang 29

1.2.2 Thành ngữ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh

Thành ngữ được sử dụng rộng rãi trong lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhândân ta Hiểu được giá trị của thành ngữ và như một thói quen nói năng, người dân

xứ Nghệ trong quá trình giao tiếp và trong sáng tạo tác phẩm thơ ca dân gian, họ

đã tạo ra thành ngữ mang sắc thái địa phương Chính nhờ vậy, thành ngữ trongphương ngữ Nghệ Tĩnh ngày càng phong phú, đa dạng Cũng do số lượng thànhngữ ngày càng nhiều- đây là nguyên nhân thôi thúc các nhà nghiên cứu sưu tầm,

tập hợp thành những cuốn sách có giá trị như cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh (do GS Nguyễn Nhã Bản chủ biên) Đây là công trình đầu tiên có ý

nghĩa lớn trong việc tạo nền tảng để những tác giả đi sau tiếp tục mở rộng hướngnghiên cứu, và đó cũng là nguồn tư liệu vô cùng quý giá giúp chúng tôi tiến hànhkhảo sát, thống kê, phân tích đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa thành ngữ Nghệ Tĩnh

Trên cơ sở quan niệm của các tác giả trong cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ

Nghệ tĩnh, chúng tôi xác định thành ngữ địa phương Nghệ Tĩnh là những cụm từ

cố định được người Nghệ Tĩnh sử dụng quen thuộc, có sự khác biệt nhất định so với thành ngữ trong ngôn ngữ toàn dân

Thành ngữ là sản phẩm của ngôn ngữ mang tính truyền miệng, được lưutruyền từ đời này sang đời khác, nên chúng thường có sự biến đổi và dần dần được

gọt dũa thành những tổ hợp từ cố định, bóng bẩy, hàm súc Chúng ta biết, Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh [4] là cuốn sách đầu tiên sưu tầm về thành ngữ xứ

Nghệ nên khó có thể khảo sát một cách đầy đủ về thành ngữ nơi đây, mặt khác,trong công trình này, tác giả còn đưa vào những thành ngữ chưa phải là tổ hợp cố

định vững chắc, mà nó gần với khẩu ngữ: Chưa nuôi tằm đạ kể tiền dâu với tằm, Chi cụng hay lưa tỉ ớt cay cụng nghiện … Ngoài ra, khi tiếp cận với cuốn sách,

bạn đọc sẽ băn khoăn với một số đơn vị: là của riêng Nghệ Tĩnh hay là của ngônngữ văn hoá hoặc là của khu vực khác … Tất cả những điều này được tác giả giải

thích: "Thiết nghĩ, đó là điều tất yếu với công trình đang còn ở dạng dở dang và đầy "dang dở" này" [4; tr 10] Tuy nhiên, chúng tôi tôn trọng nguồn dẫn liệu mà tác giả đưa ra và xem chúng là đối tượng để khảo sát Và cũng vì sự “dang dở” của

cuốn sách mà chúng tôi đã tiếp tục nghiên cứu, tìm thêm nhiều thành ngữ NghệTĩnh bổ sung vào cuốn từ điển thành ngữ Nghệ Tĩnh để tạo sự phong phú cho cuốnsách này và đồng thời tạo nguồn tư liệu quý giá cho người nghiên cứu

Trang 30

Để hiểu rõ về đặc điểm, vai trò của thành ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi đi vàotìm hiểu đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và vấn đề sử dụng nó trong thơ ca dân gianNghệ Tĩnh Ngoài ra, qua sự khảo sát, phân tích các đặc điểm thành ngữ Nghệ

Tĩnh phần nào còn giúp chúng ta thấy rõ hơn bản sắc văn hoá, cuộc sống con

người của vùng đất này

1.3 THƠ CA DÂN GIAN VÀ THÀNH NGỮ TRONG TCDGNT

1.3.1 Thơ ca dân gian và thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh

Văn học dân gian còn gọi là văn chương bình dân, văn chương truyềnmiệng Với hệ thống quan niệm và phương pháp nghiên cứu khác nhau, các tác giả

đã đưa ra nhiều cách hiểu về thuật ngữ này Nhưng nhìn chung, họ đều cho rằng:

Văn học dân gian “là tất cả các hình thức và thể loại sáng tác dân gian có thành phần nghệ thuật ngôn từ kết hợp với các thành phần nghệ thuật khác” [23, tr 404].

Dựa vào những tiêu chí như: phương thức biểu diễn, phương thức phản ánh,chức năng chủ yếu, đề tài, …các nhà nghiên cứu đã phân văn học dân gian thànhcác loại hình chính: Loại hình luân lí (nói), loại hình tự sự (kể), loại hình trữ tình(hát- thơ ca), loại hình kịch (diễn) Trong các loại hình đó, thơ ca được coi là loạihình được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm tìm hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau

Thơ ca dân gian là những tác phẩm trữ tình do nhân dân sáng tạo nên đểphản ánh cuộc sống thường ngày, được lưu truyền từ đời này qua đời khác Thơ cadân gian được phân bố khắp các vùng trên đất Việt, trong đó có thể nói Nghệ Tĩnh

là vùng có kho tàng thơ ca dân gian phong phú, đa dạng và độc đáo nhất Nhữngsáng tác thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh được lưu truyền gồm các thể loại: ca dao, hátgiặm, vè, hát phường vải,… Đây được xem là những sáng tác tiêu biểu, phản ánhmột cách sâu sắc những đặc trưng về đời sống văn hoá của người dân xứ Nghệ Vìvậy, chúng tôi chọn những sáng tác này làm cứ liệu để khảo sát và phân tích đặcđiểm thành ngữ Nghệ Tĩnh khi đi vào sử dụng

Qua tìm hiểu, chúng tôi thấy các tác phẩm được khảo sát đều là thơ, vănvần Nếu bỏ phần nhạc và chỉ xét phần lời thì hình thức Vè Nghệ Tĩnh giống Hátgiặm Nghệ Tĩnh, còn Hát phường vải giống Ca dao Nghệ Tĩnh; nếu đưa phần nhạcvào thì Ca dao Nghệ Tĩnh và Vè Nghệ Tĩnh thuộc thể thơ, còn Hát giặm NghệTĩnh và Hát phường vải thuộc thể nhạc

Trang 31

Trong Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, ông đã giải thích ngắn gọn

các khái niệm trên Theo Hoàng Phê, ca dao là “thơ ca dân gian truyền miệng dướihình thức những câu hát, không theo một điệu nhất định” [41, tr 96]

Ví dụ: Anh thương em không nói khi đầu

Bây giờ cưởi đã bá ngành dâu đi rồi

Em ơi! phải nghĩ trước sauĐừng tham tiền của nhà giàu làm chi

Trang 32

Người ta coi chẳng ra gìLàm thì vất vả nói thì điếc tai

Đi ngủ hết trống canh haiThức khuya dậy sớm chẳng ai làm kèm …

[VXN, t2, tr 88-89]

Còn hát phường vải là những câu hát trực tiếp trong các cuộc đối đáp giữabên nam và bên nữ nhằm thổ lộ tình cảm sâu kín hoặc để giao duyên

Ví dụ: Mừng chàng quần áo mọi màu

Quần hồ lơ trứng sáo, áo trắng phau cánh cò

1.3.2 Thành ngữ trong thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh

Thành ngữ là một đơn vị từ vựng đặc biệt, vì vậy nó được sử dụng ở nhiềuloại văn bản khác nhau, trong đó có thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh Trong những tácphẩm thuộc loại hình này, các tác giả dân gian xứ Nghệ đã vận dụng thành ngữmột cách linh hoạt

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy thành ngữ có mặt trong tất cả các thể loạithuộc loại hình thơ ca dân gian Sự xuất hiện của thành ngữ trong các tác phẩm đó

đã tạo nhịp điệu cho từng câu thơ, bài thơ Và chính thành ngữ cũng đã góp phầnlàm cho nội dung của văn bản trở nên sâu sắc và giàu ý nghĩa hơn Chẳng hạn, bài

Không bắt mà bén, không tho mà bằng

[KTCDXN, t1, tr.287]

Bài vè: Mất mùa

Nom lên trên đội đồng bông

Đã không có trấy (trái) lại không có đài

No thì : “chị chị”, “anh anh”

Đói thì da bủng mặt xanh như chàm

Trang 33

[VNT, t1, tr 72-73]

Hát giặm: “Trách trời ăn ở không cân”

Trách trời ăn ở không cân

Kẻ ăn không hết người lần không ra”

Hát phường vải: Một mình liệu bảy lo ba

Lo trung, lo hiếu, lo già thiệt thân

Ở chương 1, chúng tôi đã giới thuyết các khái niệm có liên quan đến đề tài

để tạo cơ sở triển khai nội dung của những chương sau, cụ thể:

Trước hết, đây là đề tài nghiên cứu về thành ngữ nên chúng tôi đã tìm hiểuchung về khái niệm, cấu tạo, ngữ nghĩa, và vấn đề sử dụng thành ngữ tiếng Việt.Đồng thời, để tiện cho việc khảo sát và tránh nhầm lẫn trong thống kê, chúng tôi đãphân biệt hai đơn vị gần gũi nhau là thành ngữ và tục ngữ

Ở luận văn này, chúng tôi tìm hiểu về cấu tạo, ngữ nghĩa của thành ngữNghệ Tĩnh, vì vậy chúng tôi đã giới thuyết khái quát một số đặc điểm tiêu biểuphương ngữ Nghệ Tĩnh và thành ngữ trong phương ngữ Nghệ Tĩnh, để giúp ngườiđọc hiểu được ngôn ngữ của vùng đất này

Mặt khác, luận văn còn mở rộng nghiên cứu thành ngữ trong thơ ca dân gianNghệ Tĩnh (tìm hiểu thành ngữ trong sử dụng), nên chúng tôi đã giới thiệu chung

về thơ ca dân gian, thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh và thành ngữ trong thơ ca dân gianNghệ Tĩnh

Trang 34

Ch¬ng 2

§Æc ®iÓm cÊu t¹o cña thµnh ng÷ NghÖ TÜnh

Như mục đích đã xác định, chương này chúng tôi sẽ đi vào khảo sát, phân

tích đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh trong cuốn Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh [4] do GS Nguyễn Nhã Bản chủ biên để thấy được mô hình cấu

tạo chung của thành ngữ Nghệ Tĩnh Tiếp đó, chúng tôi xác định, phân loại vàphân tích các thành ngữ xuất hiện trong thơ ca dân gian xứ Nghệ theo những dạngcấu trúc nhất định để giúp người đọc hiểu rõ đặc điểm cấu tạo của thành ngữ NghệTĩnh trong sử dụng và thấy được sự biến đổi linh hoạt của thành ngữ khi đi vàohành chức Sau khi xác định và phân loại thành ngữ, chúng tôi so sánh nhữngthành ngữ tồn tại trong các tác phẩm thơ ca dân gian Nghệ Tĩnh với những thành

ngữ có mặt trong Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh để tìm ra những thành ngữ

mới nhằm bổ sung cho số lượng thành ngữ Nghệ Tĩnh ngày càng phong phú và đadạng hơn

2.1 ĐẶC ĐIỂM CẤU TẠO CỦA THÀNH NGỮ ĐỊA PHƯƠNG NGHỆ TĨNH

Cũng như thành ngữ tiếng Việt, cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh khá phongphú, đa dạng Nó vừa mang những đặc điểm của thành ngữ dân tộc, vừa có nhữngnét đậm tính chất địa phương

Như đã nói ở chương 1, luận văn này chúng tôi dựa vào phương thức cấu tạo

để tiến hành khảo sát, phân tích đặc điểm cấu tạo chung của thành ngữ địa phươngNghệ Tĩnh

Căn cứ vào tiêu chí phân loại thành ngữ theo phương thức cấu tạo của GS.Hoàng Văn Hành và dựa trên thực tế khảo sát, chúng tôi chia thành ngữ Nghệ Tĩnhthành hai dạng cấu tạo chính: Cấu tạo thành ngữ so sánh và cấu tạo thành ngữ ẩn

dụ, gồm: cấu tạo thành ngữ ẩn dụ đối xứng và cấu tạo thành ngữ ẩn dụ phi đốixứng Trong mỗi dạng cấu tạo trên lại có những mô hình cụ thể- chính những môhình này đã tạo nên đặc điểm cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh

Kết quả thống kê số liệu cụ thể của từng dạng cấu tạo được thể hiện quabảng 2.1:

Bảng 2.1: Các dạng cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh

Trang 35

Dạng cấu tạo Số lượng Tỷ lệ (%) Ví dụ

Thành ngữ so sánh 361 35,2 Tóm như dam, tốt như rú, kín

2.1.1.1 Mô hình cấu tạo thành ngữ so sánh

a) Một số mô hình cấu tạo thành ngữ so sánh tiếng Việt

Theo các tác giả Vũ Tân Lâm, Nguyễn Thị Kim Thoa, thành ngữ so sánh:

"là một tổ hợp từ bền vững, bắt nguồn từ phép so sánh có nội dung mang nghĩabiểu trưng Trong đó phép so sánh là phương thức đối chiếu vật này với vật kiatrên cơ sở những hình ảnh thường là đơn giản nhưng rất biểu cảm và quen thuộcvới người sử dụng" [30, tr 455]

Về cấu tạo của thành ngữ so sánh mô hình cấu tạo chung, phổ biến là A như

B Tuy nhiên, xét cụ thể các tiểu loại của nó còn có nhiều quan điểm khác nhau

Tác giả Trương Đông San (Theo ý kiến của GS Hoàng Văn Hành) kế thừaV.Barbier đã đưa ra mô hình tổng quát A như B và chia cụ thể gồm 4 dạng:

1) A như B: Nhẹ như lông hồng

2) (A) như B: To như bồ sứt cạp

3) Như B: Như cá v ới nước

4) AB: Dẻo kẹo

Ở 4 dạng trên, chúng tôi nhận thấy mẫu tổng quát A như B là đúng, song nó chưa phản ánh được bản chất của phép so sánh Mặt khác, ở dạng (4): AB thực

chất đã chuyển hoá thành tổ hợp ẩn dụ

Theo GS Hoàng Văn Hành, cấu tạo thành ngữ tiếng Việt có cấu trúc tổng

quát là [t] như B trong đó [t] tồn tại ba khả năng:

Trang 36

- Có [t]: Dối như cuội

Nhanh như gió

- Không có [t]: Như vịt nghe sấm

Như mặt trăng mặt trời

- Có [t] hoặc không có [t]: Chắc như đinh đóng cột

Như đinh đóng cột

Tác giả đã gạt cấu trúc kiểu AB và kiểu At như B ra khỏi thành ngữ so

sánh, nên cấu trúc của thành ngữ so sánh chỉ tương đương với dạng thứ 3 và thứ 4

của phép so sánh, nghĩa là t như B và như B [xem chương 1] Vì vậy, tác giả xây

dựng mô hình cấu trúc so sánh trên

Luận văn của chúng tôi dựa vào các công trình đã nghiên cứu để tìm hiểu

mô hình cấu tạo thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh

b) Mô hình cấu tạo thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh

Thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh là một bộ phận của thành ngữ so sánh tiếngViệt vì vậy nó có cấu tạo giống với thành ngữ so sánh tiếng Việt

Trong quá trình khảo sát, dựa trên mô hình cấu tạo chung của tiếng Việt,chúng tôi đưa ra các mô hình cấu tạo của thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh sau:

- A như B : Ả em du như tru một bịn

- At như B: Bụng tròn như vại nhút

Da đen như côộc muồng cháy

- t như B: Trẩn như chạch

Tròn như nôống

- Như B: Như ma hớp hồn

Như mấn đập chắc

Ngoài ra, chúng tôi thấy trong thành ngữ Nghệ Tĩnh xuất hiện các thành ngữ

có từ so sánh hơn, kém hoặc bằng, chúng tôi khái quát loại này thành mô hình: A

hơn (bằng; không bằng) B.

Ví dụ: Kín tranh hơn lành gộ

Ngọc Sơn đẹo rạ bằng thiên hạ đẹo rìu Lóc xóc không bằng góc ruộng….

Trang 37

Kết quả thống kê về số lượng theo các mô hình cấu tạo của thành ngữ sosánh Nghệ Tĩnh được thể hiện qua bảng 2.2.

Bảng 2.2: Các mô hình cấu tạo thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh

Mô hình cấu tạo Số lượng Tỉ lệ (%) Ví dụ

Chị em du như tru một bịn

At như B 13 3,6 Mồm trém như vẹm cạo soòng

Mặt vênh như mỏ trày đạp

Hôi như ruốc rạm

Như mấn đập chắc

A hơn (bằng,

không bằng) B

Tru gầy bằng bầy bò

Dựa vào bảng số liệu mà chúng tôi thống kê ta thấy số lượng thành ngữ so

sánh có cấu tạo theo mô hình [t] như B gồm 235 thành ngữ (chiếm 65,1%) và như

B gồm 56 thành ngữ (chiếm 15,5%) có tỉ lệ lớn Vì vậy, khi phân tích đặc điểm cấu

tạo thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh chúng tôi chủ yếu nêu những nét cơ bản về haidạng mô hình cấu tạo đó

2.1.1.2 Đặc điểm cấu tạo của thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh

a) Trong thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh, cái so sánh và từ ngữ biểu thị quan

hệ so sánh là không thể thiếu, nó là bộ phận ổn định trên cấu trúc bề mặt cũng nhưcấu trúc sâu

 Xét từ ngữ biểu thị quan hệ so sánh trong thành ngữ Nghệ Tĩnh chúng tôithấy các từ ngữ được dùng khá đa dạng, cụ thể là:

Từ "Như": Ngủ như tru sứt trẹo

Khun như ma trên đất

Hay từ "Tựa": Rọt tựa ống pheo

"

Hơn”: Áo rách khéo vá hơn lành vống may

"Không bằng": Ma nhát không bằng ngài nhát

" Bằng": Tru gầy bằng bầy bò

Trang 38

"Quá": Trục cúi quá tai

Trong những từ ngữ trên, từ "như" là từ biểu thị quan hệ so sánh được sử

dụng nhiều nhất (gồm 334 lần)

 Xét từ ngữ biểu thị cái so sánh (Vế B), các từ ngữ đó thường diễn tả nhữnghình ảnh, sự vật hiện tượng mang đậm bản sắc từng địa phương, từng dân tộc.Điều này lên quan đến ý nghĩa biểu trưng của thành ngữ so sánh

Thành ngữ là tấm gương sinh động phản ánh hiện thực ngoài ngôn ngữ Tuynhiên, do sống trong điều kiện, môi trường khác nhau, nên cách đánh giá, nhìnnhận của con người đối với sự vật, hiện tượng ở mỗi dân tộc, mỗi vùng miền là

không giống nhau Tác giả Bùi Thị Thi Thơ trong công trình Hình ảnh biểu trưng

trong thành ngữ so sánh tiếng Việt [46] đã có sự đối chiếu về hình ảnh trong thành

ngữ so sánh tiếng Việt với thành ngữ của một số ngôn ngữ khác Tác giả đưa ra:

"có những thành ngữ so sánh tiếng Việt và thành ngữ trong ngôn ngữ khác cùngnội dung nhưng hình ảnh biểu đạt khác nhau:

Tày: Rẻ như cứt voi Bungari: Đẹp như giọt sương

Tác giả còn nói rõ có một số thành ngữ so sánh tiếng Việt và thành ngữ cácdân tộc khác nhau cùng hình ảnh biểu trưng nhưng ý nghĩa khác nhau Chẳng hạn:thành ngữ tiếng Việt và tiếng Nhật có hai hình ảnh rất gần gũi nhau trong thành

ngữ so sánh là: Như nghìn cân treo sợi tóc - như hòn đá treo sợi tơ cuống sen.

Khía cạnh mà người Việt khai thác là sự việc đã xảy ra, đang hiện hữu Thành ngữ

đó chỉ tình thế cấp bách, nguy ngập, hiểm nghèo, khó bề vượt qua hoặc khó cứuvãn nổi Với người Nhật, họ xem đó là việc chưa xảy ra, và đó sẽ là việc làm khóđem lại kết quả" [46; tr 93]

Giữa thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh và thành ngữ so sánh tiếng Việt, chúngtôi nhận thấy: có những thành ngữ cùng nội dung nhưng hình ảnh, sự vật, hiện

tượng được dùng trong vế B (cái so sánh) lại khác nhau:

Trang 39

- Tròn như hạt mít

- Béo như bồ sứt cạp Béo như con cun cút

Những hình ảnh như: dam, vại nhút, trấn mấn,… là những sự vật, con vật

quen thuộc được gọi tên theo cách gọi của người xứ Nghệ Vì vậy, khi tạo dựng vế

B (cái so sánh) trong thành ngữ so sánh người dân Nghệ Tĩnh thường lấy các từ

ngữ diễn đạt những sự vật, hiện tượng gần gũi với địa phương mình, từ đó tạo nênnét riêng, nét độc đáo trong thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh Chính điều ấy khiến ta

dễ nhận biết và tránh được sự nhầm lẫn thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh với thànhngữ của các dân tộc hay của các địa phương khác

Các thành ngữ dùng biểu thị cái so sánh (vế B) có cấu tạo với dạng cụ thể:

- Vế B được tạo bởi một từ: Lủi như chuột

Bạo như tru

- Vế B được tạo bởi một tổ hợp từ C - P: Buồn như kèn đám ma

Hôi như quẹt ruốc

- Vế B được tạo bởi một kết cấu C - V: Cười như gụ/ say mật

Loay xoay như tru/ dậm chạc mụi

Qua thống kê chúng tôi thu được kết quả theo bảng sau:

Bảng 2.3: Cấu tạo vế B (Cái so sánh) trong thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh

Cấu tạo vế B Số lượng Tỉ lệ (%) Ví dụ

Trang 40

C – V Mờng như cha chết sống lại

b) Vế [t]- là những từ ngữ biểu thị thuộc tính, đặc điểm của sự vật, hiện tượng được nói ở vế B trong thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh, chúng tôi nhận ra rằng:

Nó cũng là vế bắt buộc trong cấu trúc sâu, nhưng lại linh hoạt trên cấu trúc bề mặt

Trong Thành ngữ học tiếng Việt, GS Hoàng Văn Hành đã khảo sát và nêu ra

rõ số liệu cụ thể: "có khoảng 2/3 thành ngữ so sánh [t] là từ ngữ biểu thị thuộc tính

không được đánh giá theo thang độ, kiểu như: run như cầy sấy, cười như nắc nẻ,

… và một số ít thành ngữ so sánh trong đó không xác định được [t], ví dụ: như voi

uống thuốc gió, như nước vỡ bờ, … " [21; tr 102] Khi tìm hiểu cụ thể thành ngữ

so sánh Nghệ Tĩnh, chúng tôi thấy vế [t] có đặc điểm trên.

Ở mô hình cấu tạo t như B , chúng tôi chia làm hai loại:

- Loại 1: gồm 130 thành ngữ có [t] là những từ ngữ hiển thị thuộc tính được

đánh giá theo thang độ: Mờng như cha chết, Đỏ như mồng gà ri, …

- Loại 2: gồm 105 thành ngữ có [t] là những từ ngữ biểu thị thuộc tính

không được đánh giá theo thang độ: Phá như giặc, Trốn như chó trốn con, …

Ở dạng mô hình cấu tạo như B thì [t] không xác định rõ ràng:

Ví dụ: Như rương lạc chìa

Như mụ tra đấy ấm bể ….

Như vậy, mô hình cấu tạo và đặc điểm cấu tạo thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnhrất đa dạng Những đặc điểm cấu tạo của thành ngữ so sánh địa phương này giúpchúng ta tìm hiểu đặc điểm ngữ nghĩa của chúng

2.1.2 Cấu tạo thành ngữ ẩn dụ hoá Nghệ Tĩnh

2.1.2.1 Cấu tạo thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng Nghệ Tĩnh

a) Mô hình cấu tạo thành ngữ ẩn dụ hoá đối xứng Nghệ Tĩnh

Thành ngữ Nghệ Tĩnh có cấu tạo đối xứng bao gồm 301 thành ngữ (chiếm29,3% tổng số thành ngữ Nghệ Tĩnh) Hầu hết các thành ngữ đối xứng Nghệ Tĩnhđược tạo ra theo hai mô hình cơ bản sau:

- Mô hình cấu tạo theo kiểu Ax - Ay: Béo cảy béo cương

- Mô hình cấu tạo theo kiểu Ax + By: No trày say nác

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Nhã Bản (2005), Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh (trên dẫn liệu ngôn ngữ), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản sắc văn hoá của người Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
2. Nguyễn Nhã Bản (2003), Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cuộc sống của thành ngữ, tục ngữ trong kho tàng ca dao người Việt
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2003
3. Nguyễn Nhã Bản (2005), Đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao, Nxb Văn hoá thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc trưng cấu trúc, ngữ nghĩa của thành ngữ, tục ngữ trong ca dao
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 2005
4. Nguyễn Nhã Bản (2005), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2005
5. Nguyễn Nhã Bản (Cb) (1999), Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh, Nxb Văn hoá thông tin, NA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản (Cb)
Nhà XB: Nxb Văn hoá thông tin
Năm: 1999
6. Nguyễn Nhã Bản, Phan Mậu Cảnh (2000), “Hai thành ngữ "Ả em du như tru một bịn" và "Đó rách ngáng trộ" ở địa phương Nghệ Tĩnh”, Ngữ học trẻ 1999, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hai thành ngữ "Ả em du như tru một bịn" và "Đó rách ngáng trộ" ở địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Nhã Bản, Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 2000
7. Hoàng Trọng Canh (2001), Nghiên cứu đặc điểm vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh, Luận án tiến sĩ, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đặc điểm vốn từ địa phương Nghệ Tĩnh
Tác giả: Hoàng Trọng Canh
Năm: 2001
8. Đỗ Hữu Châu (1987), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, Nxb ĐH & THCN, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb ĐH & THCN
Năm: 1987
9. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1999
10. Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực, Nguyễn Tất Thứ (1964), Vè Nghệ Tĩnh (2 tập), Nxb Văn học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vè Nghệ Tĩnh
Tác giả: Nguyễn Đổng Chi, Võ Văn Trực, Nguyễn Tất Thứ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1964
11. Nguyễn Đức Dân (1996), Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng, Tc Ngôn ngữ, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ nghĩa thành ngữ và tục ngữ, sự vận dụng
Tác giả: Nguyễn Đức Dân
Năm: 1996
12. Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào (1993), Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam, Nxb Giáo dục, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thành ngữ, tục ngữ Việt Nam
Tác giả: Vũ Dung, Vũ Thuý Anh, Vũ Quang Hào
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
13. Ninh Viết Giao (1996), Kho tàng ca dao xứ Nghệ Tĩnh (2 tập), Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kho tàng ca dao xứ Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Nghệ An
Năm: 1996
14. Ninh Viết Giao (2002), Hát phường vải, Nxb VHTT & TTVH ngôn ngữ Đông Tây, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát phường vải
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb VHTT & TTVH ngôn ngữ Đông Tây
Năm: 2002
15. Ninh Viết Giao (2004), Về văn học dân gian xứ Nghệ, Nxb Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về văn học dân gian xứ Nghệ
Tác giả: Ninh Viết Giao
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
16. Ninh Viêt Giao, Nguyễn Đổng Chi (1962), Hát giặm Nghệ Tĩnh (Tập 1), Nxb KH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ninh Viêt Giao, Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb KH
Năm: 1962
17. Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi (1963), Hát giặm Nghệ Tĩnh (Tập 2), Nxb Sử học, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hát giặm Nghệ Tĩnh
Tác giả: Ninh Viết Giao, Nguyễn Đổng Chi
Nhà XB: Nxb Sử học
Năm: 1963
18. Nguyễn Thiện Giáp (1975), Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt, Tc Ngôn ngữ, số 3, tr. 45-52 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về khái niệm thành ngữ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Năm: 1975
19. Nguyễn Thiện Giáp (1995), Từ và nhận diện từ tiếng Việt, Nxb KHXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ và nhận diện từ tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 1995
20. Hoàng Văn Hành (2002), Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ, Nxb KHXH, H Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kể chuyện thành ngữ, tục ngữ
Tác giả: Hoàng Văn Hành
Nhà XB: Nxb KHXH
Năm: 2002

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.1:  Các dạng cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Bảng 2.1 Các dạng cấu tạo của thành ngữ Nghệ Tĩnh (Trang 35)
Bảng 2.2:  Các mô hình cấu tạo thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Bảng 2.2 Các mô hình cấu tạo thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh (Trang 37)
Bảng 2.4:  Mô hình cấu tạo thành ngữ đối xứng Nghệ Tĩnh - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Bảng 2.4 Mô hình cấu tạo thành ngữ đối xứng Nghệ Tĩnh (Trang 41)
Bảng 2.5:  Mô hình cấu tạo thành ngữ phi đối xứng Nghệ Tĩnh - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Bảng 2.5 Mô hình cấu tạo thành ngữ phi đối xứng Nghệ Tĩnh (Trang 47)
Bảng 2.7:  Các dạng cấu trúc của thành ngữ trong TCDGNT - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Bảng 2.7 Các dạng cấu trúc của thành ngữ trong TCDGNT (Trang 62)
Bảng 3.1: Cơ cấu nghĩa của vế như B trong thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Bảng 3.1 Cơ cấu nghĩa của vế như B trong thành ngữ so sánh Nghệ Tĩnh (Trang 68)
Bảng 3.2:  Các loại hình ảnh trong vế so sánh - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
Bảng 3.2 Các loại hình ảnh trong vế so sánh (Trang 71)
Hình ảnh liên quan đến tâm linh-  tín ngưỡng - Đặc điểm cấu tạo, ngữ nghĩa và sử dụng của thành ngữ địa phương nghệ tĩnh
nh ảnh liên quan đến tâm linh- tín ngưỡng (Trang 72)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w