1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đặc điểm từ láy trong thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu

8 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 469,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguyễn Đình Chiểu là tác giả tiêu biểu nhất của văn học Nam Bộ. Sức tác động của văn chương Nguyễn Đình Chiểu đối với người đọc không chỉ ở truyện thơ Lục Vân Tiên mà còn ở mảng thơ điếu.

Trang 1

Đặc điểm từ láy trong thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu

Art of manipulation of reduplicatives in “điếu” styled poems

by Nguyen Dinh Chieu

ThS.NCS Nguyễn Ngọc Phú Trường Đại học Đồng Tháp

Nguyen Ngoc Phu, M.A Ph.D.student

Dong Thap University

Tóm tắt

Nguyễn Đình Chiểu là tác gia tiêu biểu nhất của văn học Nam Bộ Sức tác động của văn chương Nguyễn Đình Chiểu đối với người đọc không chỉ ở truyện thơ Lục Vân Tiên mà còn ở mảng thơ điếu Một trong những nét nghệ thuật đặc sắc ở thơ điếu của ông là vận dụng từ láy một cách độc đáo, sáng tạo góp phần thể hiện tâm trạng nhà thơ trước thời cuộc và nhất là tái hiện hoàn cảnh lịch sử, địa danh của Lục tỉnh Nam kỳ giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX Qua khả năng biểu đạt của các từ láy, ông tự hào ngợi ca những vị lãnh binh anh dũng, giãi bày nỗi đau đối với những người trung nghĩa đã hy sinh vì đất nước và nhân dân

Từ khóa: từ láy, thơ điếu, Nguyễn Đình Chiểu

Abstract

Nguyen Dinh Chieu is the most typical author of Vietnamese Southwestern literature Nguyen Dinh Chieu’s literary influences on readers are not only “Luc Van Tien” but also Dieu styled poems One of the best artistic characteristics of his “điếu” styled poems is the manipulation of reduplicatives in a unique and creative manner, which contributes to expressing his feelings towards the then social reality, especially, describing the historical context, prescribing administrative names located in the Six provinces of the South during wartime Through his abilities of using reduplication, he proudly praised the heroic army leaders, expressed the pain of loss for those who have been wholeheartedly loyal to the country and people

Keywords: reduplicative, “điếu” styled poem, Nguyen Dinh Chieu

1 Nguyễn Đình Chiểu là là một tác gia

lớn của văn học Việt Nam trung đại, là

trường hợp tiêu biểu nhất cho khuynh hướng

văn học yêu nước chống Pháp nửa sau thế

kỷ XIX Cũng chính Nguyễn Đình Chiểu là

người có công lớn nhất, sớm nhất đưa văn

học Nam Bộ đi vào quỹ đạo của văn học cả

nước Với ba truyện thơ Nôm dài: Lục Vân

Tiên (viết trước khi Thực dân Pháp xâm

lược nước ta/ 1858), Dương Từ - Hà Mậu,

và Ngư Tiều y thuật vấn đáp (viết sau 1858),

Nguyễn Đình Chiểu lại đưa truyện Nôm phát triển theo một hướng khác với truyện Nôm truyền thống, đưa truyện Nôm gắn liền với những vấn đề thời sự nóng bỏng của dân tộc và thời đại - vấn đề chống chủ nghĩa

Trang 2

thực dân phương Tây, chống sự nô thuộc

văn hóa ngoại lai Ngoài truyện Nôm, mảng

văn tế và thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu

với nhiều tác phẩm xuất sắc (Văn tế nghĩa sỹ

Cần Giuộc, Văn tế Trường Định, 10 bài thơ

điếu Trương Định, 12 bài điếu Phan Tòng, 2

bài khóc Phan Thanh Giản) cũng thực sự là

hiện tượng văn học độc đáo vào loại “có một

không hai” Ngôn từ của các bài văn tế và

thơ điếu vừa nêu không chỉ giàu tính biểu

cảm, biểu niệm, mà còn rất giàu tính biểu

vật, biểu tượng; không chỉ là tiếng lòng thiết

tha nhất của một con người (cá nhân nhà

thơ) mà còn là tiếng lòng thiết tha nhất của

nhân dân Nam Bộ đối với những anh hùng

vì nước mà hy sinh Một trong những loại từ

tạo nên những lớp sóng ngôn từ xúc động ấy

là từ láy

Từ láy là những từ được cấu tạo theo

phương thức láy - “phương thức lặp lại

toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết (…)

của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” (Đỗ

Hữu Châu), “là từ được cấu tạo bằng cách

nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất

định, sao cho quan hệ giữa các tiếng trong

từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hòa với nhau

về âm và về nghĩa, có giá trị biểu trưng

hóa” (Hoàng Văn Hành)… Trong văn học, đặc biệt là trong thơ ca, từ láy có chức năng và vai trò quan trọng khó có thể thay thế (khả năng biểu cảm, biểu niệm, biểu vật, biểu tượng) Từ láy trong mảng sáng tác thuộc hai thể văn tế và thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu (ở bài viết này chỉ khảo sát ở mảng thơ điếu) không chỉ có ý nghĩa biểu cảm, biểu niệm, biểu vật, mà còn thể hiện rất chân thực, sinh động đặc trưng ngôn ngữ vùng Nam Bộ

2 Khả năng biểu cảm, biểu niệm của

từ láy trong mảng thơ điếu (khóc thương những anh hùng vì nước mà hy sinh) của Nguyễn Đình Chiểu tuy mộc mạc, giản dị nhưng có sức gợi thật sâu xa Qua khảo sát

12 bài Thơ điếu Trương Định, 10 bài Thơ

điếu Phan Tòng, 2 bài Thơ điếu Phan Thanh Giản, chúng tôi thấy có 22 từ láy,

trong đó từ láy bộ phận: 20 từ, chiếm

90,9%; từ láy hoàn toàn: 02 từ (đâu đâu,

dàu dàu), chiếm 9,1% (cụ thể hơn: ở 12 bài Thơ điếu Trương Định có 16 từ láy, chiếm

72,8%; ở 10 bài Thơ điếu Phan Tòng có 03

từ, chiếm 13,6%; ở 2 bài Thơ điếu Phan

Thanh Giản có 3 từ, chiếm 13,6%) Xin

xem bảng thống kê dưới đây:

Bảng thống kê các từ láy trong thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu

TT Phạm vị khảo sát Số lượng

từ láy

Phân loại

Tỷ lệ %

Từ láy

bộ phận

Từ láy hoàn toàn

1

12 bài thơ điếu

Trương Định

16 từ láy lâm dâm, sảng sốt, bâng khuâng, lỡ

dở, chống chỏi, chàng ràng, thở than, xững vững, om sòm, lác đác, kêu rêu, náu nương, thình lình, xăng văng, ngơ ngẩn

2 10 bài thơ điếu

Phan Tòng

3 từ láy nhảy nhót, xếu mếu, bâng khuâng 13,6%

3 2 bài thơ điếu Phan

Thanh Giản

3 từ láy tan tành, thung dung dàu dàu 13,6%

Trang 3

Bảng khảo sát cho thấy, về đặc điểm

cấu tạo, theo số lượng âm tiết, Nguyễn

Đình Chiểu chỉ có sử dụng từ láy đôi

(không có từ láy ba, láy tư) Theo quy tắc

điệp và đối, tác giả sử dụng từ láy hoàn

toàn tương đối ít (chỉ có 2 từ), còn đa số

là từ láy bộ phận Các từ láy ở đây được

gắn với nội dung và giá trị biểu đạt riêng,

có hiệu quả cao trong biểu cảm, biểu

niệm, thể hiện rõ tâm trạng nhà thơ trước

thời cuộc Không những thế, những từ láy

này còn góp phần khắc họa hình tượng

con người trung nghĩa yêu nước - hình

tượng thẩm mỹ trung tâm của thời đại với

những nét đẹp riêng trong tính cách,

phẩm giá (giản dị, bộc trực, khảng khái,

hành động cụ thể, rõ ràng, giám hy sinh

vì nghĩa lớn) Nguyễn Đình Chiểu bày tỏ

nỗi xót thương đối với người anh hùng

cùng các nghĩa quân qua những câu thơ

đầy cảm động:

Mấy dặm non sông đều xững vững

Nạn dân ách nước để ai toan?

(Thơ điếu Trương Định - Bài 7)

Từ láy xững vững góp phần quan

trọng trong thể hiện không chỉ niềm tiếc

thương vô hạn mà còn cả sự choáng váng

của “mấy dặm non sông” trước sự ra đi

của lãnh binh Trương Định

Ở bài 8 trong Thơ điếu Trương Định,

Nguyễn Đình Chiểu bày tỏ:

Giặc cỏ om sòm mưa lại nhóm

Binh sương lác đác nắng liền thâu

(Thơ điếu Trương Định - Bài 8)

Om sòm là từ láy vần, có phần vần,

âm chính trùng lặp nhưng khác thanh

điệu và phụ âm đầu Lác đác có phần

vần, âm chính trùng lặp, khác phụ âm đầu

nhưng lại giống thanh điệu Từ láy om

sòm tỏ thái độ châm biếm, nhạo báng, lên

án những kẻ phản quốc dẫn đường cho

giặc, khiến cho phong trào kháng Pháp

phải chịu nhiều tổn thất, mất mát Binh

sương lác đác chỉ sự thưa thớt, chóng tàn

như thời cuộc, khắc họa cảnh quê hương

bị giặc Pháp xâm chiếm như cảnh “nắng liền thâu”

Nguyễn Đình Chiểu tự hào, ngợi ca công lao Trương Định - vị lãnh binh nghĩa hiệp, chiến đấu đến cùng và dũng cảm hy sinh vì sự sống còn của mảnh đất Nam

Bộ, của độc lập dân tộc Với tính cương trực, khẳng khái của người Nam Bộ, vị anh hùng hướng mũi tấn công vào quân xâm lược dẫu biết rằng lực lượng đôi bên không ngang sức:

Hay dở phải chăng trời cũng biết

Một tay chống chỏi mấy năm dài

(Thơ điếu Trương Định - Bài 4)

Chống chỏi - từ láy âm có phụ âm

đầu trùng nhau giữa các tiếng, phần âm chính, vần cuối khác biệt ở các tiếng độc lập, thể hiện ý chí kiên cường, không chịu khuất phục trước mọi khó khăn, gian khổ suốt mấy năm dài

Nguyễn Đình Chiểu cũng dành cho Phan Tòng một tình cảm sâu nặng, càng trân trọng, ngưỡng mộ tinh thần vì nghĩa của Phan Tòng:

Sao ra nhảy nhót giữa vòng danh

Son đóng chưa khô ấn đốc binh

(Thơ điếu Phan Tòng - Bài 4)

Từ láy nhảy nhót có sự trùng lặp phụ

âm đầu nhưng khác biệt phần âm chính, vần cuối, giúp nhà thơ diễn tả quyết tâm của Phan Tòng khi đến với cuộc chiến đấu: hăm hở, hăng hái đứng lên quyết chiến với kẻ thù, dù son đóng chưa khô trên ấn đốc binh của ông

Trước cảnh kẻ thù xâm chiếm quê hương, nhân dân điêu đứng lầm than, triều đình đứng ngoài vòng thế sự, Nguyễn Đình Chiểu giãi bày niềm trăn

trở qua Thơ điếu Phan Tòng:

Trang 4

Ai khiến cuộc hòa ra cuộc chiến

Người qua An Lái luống bâng khuâng

(Thơ điếu Phan Tòng - Bài 7)

Hay:

Bâng khuâng ngày xế cả than trời

Ai đổ cho người gánh nạn đời

(Thơ điếu Phan Tòng - Bài 8)

Từ láy bâng khuâng diễn tả trạng

thái luyến tiếc, lo lắng cho nhân dân phải

gánh chịu nạn xâm lược của Thực dân

Pháp Câu thơ gợi cảm giác buồn cho

thân phận con người và gợi câu hỏi: ai đã

làm “cuộc hòa ra cuộc chiến” khiến nhân

dân phải lầm than, khiến ai đi qua địa

danh An Lái cũng phải chạnh lòng luyến

tiếc, xót xa ? Từ láy sử dụng trong câu

thơ thể hiện thái độ đau xót Nguyễn Đình

Chiểu khi viết về thân phận quần chúng

nhân dân nói chung và Trương Định,

Phan Tòng nói riêng Nhân dân tự mình

đứng lên kháng Pháp Còn các quan lớn,

hỏi một câu, nghe mà đau lòng:

E nỗi dạ đài quan lớn hỏi

Cớ sao xếu mếu cảnh Ba Tri?

(Thơ điếu Phan Tòng - Bài 5)

Từ láy xếu mếu gợi tả tình cảnh điêu

đứng của nhân dân không biết phải làm

như thế nào trước kẻ thù hung bạo

Trước cái chết của Phan Thanh Giản,

Nguyễn Đình Chiểu bày tỏ niềm xót

thương và ngợi ca tấm lòng trung quân -

ái quốc của vị đại thần phải thừa hành

đường lối sai lầm của vua Tự Đức qua 2

bài thơ (1 bài thơ chữ Nôm, 1 bài thơ chữ

Hán) Bằng những lời thơ trầm buồn,

“nhà thơ kể lại sơ lược công trạng của

Phan Thanh Giản và tấm lòng trung trinh

của vị lão thần đã trải thờ ba triều vua,

gặp cảnh thế yếu đành liều chết theo

thành để giữ tròn chữ tiết tháo”(1)

Phan Thanh Giản thấy mình có tội với nhân

dân nên đành chết đi để giữ tròn chữ

“tiết” Vì thế nỗi lòng, phẩm chất của ông càng được nêu cao Thực sự, cho đến nay, độ lùi về thời gian đã cho thấy Phan Thanh Giản là một con người chính trực, nhân nghĩa, yêu nước và có tư tưởng canh tân Ông Võ Văn Kiệt rất có cơ sở khi nhận định: “Phan Thanh Giản vẫn còn là con người đáng kính trọng, đáng tôn vinh, một danh nhân của dân tộc ta, phải coi Phan Thanh Giản là người yêu nước thương dân, không phản quốc hại dân”(2)

; “Tôi khẳng định Phan Thanh Giản là người yêu nước, thương dân, một phẩm cách đáng kính trọng”(3) Nguyễn Đình Chiểu xót thương cho tình thế khó

xử của vị lão thần, thông cảm, thấu hiểu tấn bi kịch và cũng muốn bênh vực cho hành động của Phan Thanh Giản, thấy được Phan Thanh Giản giữ tiết nhọc nhằn, giám hy sinh và cũng chịu nhiều oan khuất, cố gắng giữ cho tròn chữ tiết

đối với triều đình và nhân dân

Tất cả những từ láy như: lâm dâm,

sảng sốt, bâng khuâng, lỡ dở, chống chỏi, đâu đâu, chàng ràng, thở than, xững vững, om sòm, lác đác, kêu rêu, náu nương, thình lình, xăng văng, ngơ ngẩn

(trong Thơ điếu Trương Định); nhảy

nhót, xếu mếu, bâng khuâng (trong Thơ điếu Phan Tòng); và tan tành, dàu dàu, thung dung trong Thơ điếu Phan Thanh Giản được Nguyễn Đình Chiểu sử dụng

rất độc đáo và giàu sức gợi tả Các thành

tố của từ láy có sự tương quan với nhau

về thanh điệu hoặc các bộ phận ngữ âm tạo nên nội dung ngữ nghĩa nhất định Quan hệ này thể hiện sự hòa phối, lặp lại

về âm giữa các thành tố trong từ Chính

sự hòa phối và lặp lại này đem lại tính biểu trưng về nghĩa cũng như sắc thái biểu cảm của từ láy Các từ láy trên góp phần thể hiện giá trị biểu đạt về tư tưởng,

Trang 5

tình cảm đối với các nhân vật trung

nghĩa, làm sáng thêm chân dung những

anh hùng nghĩa hiệp ở Nam Bộ

3 Từ láy trong thơ điếu của Nguyễn

Đình Chiểu mang đậm màu sắc phương

ngữ Nam Bộ Bên cạnh sử dụng từ láy

toàn dân, thơ điếu của ông còn sử dụng

những từ láy là phương ngữ Nam Bộ

Ngoài 10 năm sống ở kinh đô Phú Xuân,

hầu hết cuộc đời của Nguyễn Đình Chiểu

gắn bó với nhân dân Nam Bộ, và sáng tác

của ông hướng tới đối tượng trước hết là

người dân Nam Bộ Từ láy thể hiện màu

sắc phương ngữ Nam Bộ, đem đến những

giá trị, đặc trưng rất riêng trong phong

cách văn chương Nguyễn Đình Chiểu Đó

là các từ: sảng sốt, chống chỏi, chàng

ràng, xững vững,, thình lình, xăng văng,

xếu mếu, thung dung,… Hầu hết các từ

trên đều được ghi trong Từ điển từ ngữ

Nam Bộ do Huỳnh Công Tín biên soạn

Tuy nhiên, trong phương ngữ Nam Bộ,

“người nói có thể dựa vào sự gần gũi về

âm mà phát âm biến dạng đi hoặc nói trại

đi một bộ phận nào đó trong âm tiết, miễn

là âm hưởng chung của toàn âm tiết không

biến khác hoàn toàn thì người nghe vẫn

nhận ra được tiếng gốc”(4) Từ láy thể hiện

màu sắc phương ngữ Nam Bộ trong thơ

điếu Nguyễn Đình Chiểu cũng có hiện

tượng này

Các từ láy phản ánh cách đánh giá

của người Nam Bộ về sự vật, hiện tượng

hay tính cách thể hiện màu sắc phương

ngữ Nam Bộ, có từ tương ứng trong ngôn

ngữ toàn dân Từ láy mang đậm tính

phương ngữ trong những bài thơ điếu của

Nguyễn Đình Chiểu có sức khái quát toàn

bộ tình hình của nghĩa quân Khi tướng

quân xuất hiện, phong trào đấu tranh

chống giặc xâm lược trỗi dậy; khi tướng

quân mất đi, thế cuộc của nghĩa quân

thay đổi, lâm vào trạng thái khó khăn, không còn khả năng trụ vững Từ láy

xững vững trong Thơ điếu Trương Định

khiến lời thơ trở nên bi tráng:

Mấy dặm non sông đều xững vững Nạn dân ách nước để ai toan?

(Thơ điếu Trương Định - Bài 7)

Xững vững có nghĩa: choáng váng,

“hoa mắt” vì bị một tác động mạnh, bất ngờ; có khả năng suy sụp; điêu đứng lao đao, nghiêng ngả, ở trạng thái không ổn

định (Theo Từ điển từ ngữ Nam Bộ -

Huỳnh Công Tín, tr.1368)

Từ láy thể hiện màu sắc Nam Bộ trong thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu dựa trên sự gần gũi với từ địa phương hay dựa trên một đơn vị vốn là một từ địa phương Từ láy được Nguyễn Đình Chiểu tạo ra gần gũi với từ địa phương, thực sự

có ý nghĩa nghệ thuật Từ láy thể hiện màu sắc phương ngữ Nam Bộ góp phần tạo nên sự đa dạng, phong phú, làm giàu thêm không chỉ cho phương ngữ Nam Bộ

mà còn cho vốn từ láy tiếng Việt

4 Từ láy trong thơ điếu của Nguyễn

Đình Chiểu còn góp phần “làm sống lại” lịch sử, địa danh vùng Lục tỉnh Nam kỳ cách đây đã gần hai thế kỷ Thơ điếu của ông mang tính chất thời sự, đồng thời thể hiện tâm trạng đau xót của tác giả trước

sự hy sinh anh dũng của các anh hùng

lãnh binh Trong Thơ điếu Trương Định,

từ láy ít nhiều phản ánh thời gian, không gian lịch sử vùng đất Nam Bộ hào hùng:

Quân thân còn gánh nặng hai vai

Lỡ dở công trình hệ bởi ai?

(Thơ điếu Trương Định - Bài 4) Thời gian được phản ánh trong Thơ

điếu Trương Định là thời gian vùng đất

Nam Bộ gặp nhiều khó khăn trong việc chống quân xâm lược, thông qua từ láy

lỡ dở, Nguyễn Đình Chiểu phản ánh

Trang 6

phần nào tình trạng bấy giờ đang diễn ra

Từ láy lỡ dở có phần vần trùng lặp, khác

phụ âm đầu, khác thanh điệu nhằm biểu

thị sự không hoàn thành được trọn vẹn

một việc gì đó, chưa thực hiện xong mà

còn đang ở tình trạng lỡ dở Nguyễn

Đình Chiểu muốn nói đến cuộc kháng

chiến chống xâm lược của các vị lãnh

binh và nhân dân ta chưa hoàn thành, vậy

mà tướng quân hy sinh, biết tìm ai tiếp

tục lãnh đạo cuộc chiến đấu chống quân

xâm lược:

Đâu vầy sấm chớp nổ thình lình

Gió hạc thêm buồn mấy đạo binh

(Thơ điếu Trương Định - Bài 11)

Từ láy thình lình thật giản dị, gần gũi

nhưng gây ấn tượng sâu sắc về sự bất

ngờ, đột nhiên của sấm chớp (ám chỉ khói

lửa chiến tranh)

Trương Định mất đi là một tổn thất

lớn, là sự đau xót khôn cùng, không chỉ

nhân dân đau xót mà cảnh vật thiên nhiên

cũng đượm nỗi bâng khuâng:

Nghe chốn Lý Nhơn người sảng sốt

Nhìn cồn Đa Phước cảnh bâng khuâng

(Thơ điếu Trương Định - Bài 3)

Khi nghe tin Trương Định hy sinh, ở

chốn Lý Nhơn người nghe sảng sốt Đây

là trạng thái sảng sốt, bàng hoàng vì sự

việc diễn ra một cách đột ngột, cảnh cồn

Đa Phước cũng phải bâng khuâng Từ láy

bâng khuâng thể hiện trạng thái lo lắng

trước sự hy sinh của vị lãnh binh yêu

nước, làm cồn Đa Phước cũng phải xót

xa, u buồn Đây là vùng đất đầy nghĩa

tình, không chỉ con người mà mảnh đất

nơi đây cũng mang nặng những tâm tư

tình cảm giống như con người, buồn

thương cho con người Mấy dặm non

sông đều thảng thốt khi hay tin Trương

Định mất đi Các từ láy gắn liền với

những địa danh và cảnh vật thiên nhiên

cụ thể được nêu trong các bài thơ làm sống dậy tinh thần của vùng đất Nam Bộ nửa sau thế kỷ XIX:

Ai khiến cuộc hòa ra cuộc chiến

Người qua An Lái luống bâng khuâng

(Thơ điếu Phan Tòng - Bài 7)

Ngựa trạm xăng văng miền Bắc khuyết

Xe nhung ngơ ngẩn cõi Tây Ninh

(Thơ điếu Trương Định - Bài 11) Các từ láy xăng văng (có sự giống nhau ở âm chính, âm cuối), ngơ ngẩn

(giống nhau phụ âm đầu, âm chính và âm cuối khác biệt) giúp người thời nay hình dung cụ thể nơi trạm ngựa xăng văng, thể hiện trạng thái không ổn định, không chỉ

ở miền Nam mà cả ở miền Bắc khuyết cũng lo lắng; cõi Tây Ninh, xe nhung cũng ngẩn ngơ, đầy buồn lo, không yên trước thực tại thời bấy giờ

Trong Thơ điếu Phan Thanh Giản,

Nguyễn Đình Chiểu viết:

Hữu thiên lục tỉnh tồn vong sự

An đắc thung dung tựu nghĩa thần

(Thơ điếu Phan Thanh Giản - Bài 2)

Thung dung (từ láy Hán) có sự giống

nhau về âm chính, âm vần cuối diễn tả sự ung dung, có vẻ như thư thả của Phan Thanh Giản trước khi chết Lòng trung quân - ái quốc của cụ - một con người trải

ba triều vua, đến cuối đời vẫn quyết giữ tiết trong sạch, khó ai có thể hiểu hết được Bi kịch của Phan Thanh Giản cũng

là bi kịch của cả một thời đại trước thực trạng sáu tỉnh Nam kỳ lọt vào tay thực dân Pháp Các từ láy (dĩ nhiên đặt trong chỉnh thể câu thơ, bài thơ) tuy không diễn

tả một cách cụ thể chi tiết về hoàn cảnh lịch sử vùng đất Nam Bộ, nhưng gợi cho chúng ta cảm nhận tâm trạng đau khổ của nhân dân Nam kỳ trong những ngày bị Pháp tấn công quyết liệt Các vị lãnh binh cũng đành phải bất lực:

Trang 7

Gò Công binh giáp hãy chàng ràng

Ngó Bắc trông Nam luống thở than

(Thơ điếu Trương Định - Bài 7)

Gò Công là nơi chịu nhiều đau

thương mất mát, nhân dân luôn sống

trong cảnh hồi hộp, âu lo, binh giáp cũng

chàng ràng Từ láy thở than (có sự trùng

lặp về âm đầu, phần âm chính và âm vần

cuối khác biệt) gợi lên một không khí u

buồn, vắng lặng trước sự tàn phá của

quân xâm lược, góp phần tái hiện hoàn

cảnh lịch sử đau thương nơi Gò Công -

vùng đất Nam Bộ chịu nhiều đau thương,

mất mát ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX

Trong Thơ điếu Phan Tòng, Nguyễn

Đình Chiểu mô tả tình cảnh thật thảm

thương của nhân dân Ba Tri:

E nỗi dạ dài quan lớn hỏi

Cớ sao xếu mếu cảnh Ba Tri

(Thơ điếu Phan Tòng - Bài 5)

Cái chết của Phan Tòng khiến nhân

dân Ba Tri rơi vào hụt hẫng, đau đớn

khôn cùng Còn ai có thể lãnh đạo phong

trào yêu nước ? Các quan lớn thời bấy

giờ không quan tâm gì đến nhân dân, lại

còn hỏi “cớ sao xếu mếu”, làm cho lòng

người càng căm giận hơn Từ láy xếu

mếu (hai từ tố khác nhau ở phụ âm đầu)

vừa bày tỏ sự xót thương, vừa thể hiện

lòng căm thù đối với bọn tay sai bán

nước hại dân Có thể thấy các từ láy trong

các bài thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu

gần gũi, bình dị nhưng có khả năng biểu

vật (tái hiện cuộc sống) một cách cụ thể

sinh động, tạo nên nét đặc trưng trong

cách ngôn từ của Nguyễn Đình Chiểu

5 Từ láy góp phần đắc lực trong khắc

họa hình tượng con người trung nghĩa yêu

nước - mẫu hình con người đẹp nhất trong

văn học yêu nước nửa sau thế kỷ XIX mà

Nguyễn Đình Chiểu là người tiên phong

tìm kiếm, xây dựng Có thể thấy các tác

giả của khuynh hướng văn học yêu nước – chống Pháp ở giai đoạn nửa sau thế kỷ XIX đều là nhà nho hành đạo Nguyễn Đình Chiểu cũng là nhà nho hành đạo, nhưng do hoàn cảnh riêng – bị mù, cách hành đạo của ông khác các nhà nho khác Không thể trực tiếp tham gia kháng Pháp, ông vẫn theo dõi sát phong trào, tìm cách tham mưu cho các lãnh tụ nghĩa quân – nhất là Trương Định Trương Định trong văn tế và thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu thực sự là một anh hùng, một tấm gương trung nghĩa hiếm có:

Giúp đời dốc trọn ơn nam tử Ngay chúa nào lo tiếng nghịch thần…

Cái chết của Trương Định khiến người anh hùngLỡ dở công trình Nhưng

Lỡ dở công trình hệ bởi ai? Câu thơ đặc

biệt có từ láy lở dở hàm chứa bao đau

xót, tiếc thương, và oán trách thời thế, oán trách triều đình…

Với Phan Thanh Giản – nhân vật phức tạp hơn, qua những vần thơ đầy ẩn

ý, Nguyễn Đình Chiểu vừa xót thương, chia xẻ, vừa có chút trách móc người bạn trước bài toán trung quân – ái quốc Xét trong quan hệ với lý tưởng trung quân, Phan Thanh Giản là vị quan trung thần, trong quan hệ với nhân dân ông thấy mình chưa làm tròn nghĩa vụ, chưa thực hiện được việc nghĩa cứu dân nên đành tuẫn tiết Hành động tuẫn tiết của Phan Thanh Giản cũng là một biểu hiện đáng trân trọng của con người trung nghĩa Phan Thanh Giản mất đi, nhân dân Nam

Bộ đau xót; đất trời, non nước cỏ cây

cũng chịu cảnh thảm sầu:

Non nước tan tành hệ bởi đâu Dàu dàu mây trắng cõi Ngao Châu

(Thơ điếu Phan Thanh Giản - Bài 1)

Vì đâu mà non nước tan tành? Từ láy tan tành có phụ âm đầu trùng lặp và

Trang 8

có phần vần khác biệt, thể hiện sự tan ra

từng mảnh, gợi hình ảnh nhà cửa, ruộng

vườn đã bị giặc Pháp tàn phá tan tành Từ

láy dàu dàu hoàn toàn giống nhau về

thành phần cấu tạo, ngữ nghĩa, nhưng

khác nhau về trọng âm nhằm thể hiện thái

độ nhấn mạnh của tác giả và kéo dài ra

trong khi phát âm Trọng âm rơi vào

tiếng thứ hai của từ láy dàu dàu, chỉ sự

héo úa của cây cỏ, nhấn mạnh sự héo tàn,

tang thương Các từ láy đậm tính gợi

hình, gợi cảnh tượng chiến tranh chết

chóc, nhà cửa, ruộng vườn bị tàn phá, gợi

sự tang tóc bao trùm lên quê hương

6 Nguyễn Đình Chiểu là nhà thơ lớn

của dân tộc, là ngọn cờ đầu của thơ văn

yêu nước chống Pháp giai đoạn nửa sau

thế kỷ XIX Cuộc đời Nguyễn Đình

Chiểu là tấm gương sáng về đạo đức và

lòng yêu nước, đặc biệt thái độ sống và

chiến đấu vì chính nghĩa, vì vận mệnh

của dân tộc và nhân dân Từ láy là một

trong những yếu tố đặc sắc của ngôn ngữ

thơ nói chung, thơ điếu nói riêng của

Nguyễn Đình Chiểu, góp phần quan trọng

tạo nên sự thấm thía, dư ba cho nhiều vần

thơ viết tự đáy lòng của tác giả Các từ

láy được lựa chọn, vận dụng, tổ chức

trong các câu thơ/ bài thơ một cách hợp

lý, góp phần hữu hiệu trong biểu đạt nội

dung tư tưởng, giãi bày cảm xúc, tâm

trạng của nhà thơ và nhân dân trước sự ra

đi của người anh hùng cứu nước Từ láy

trong thơ điếu của Nguyễn Đình Chiểu

còn thể hiện chân thực sắc thái phương

ngữ Nam Bộ, như là dấu ấn khắc ghi hiện

thực một thời bi thương và hào hùng của

lịch sử vùng Lục tỉnh Nam Kỳ

Chú thích:

(1)

Ngô Viết Dinh: Đến với thơ Nguyễn Đình

Chiểu, Nxb Thanh niên, 2002, tr.676

(2) (3)

Nhiều tác giả: Thế kỷ XIX nhìn về nhân vật

lịch sử Phan Thanh Giản, Tạp chí Xưa và nay phối hợp với Trung tâm Khoa học Xã

hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học, 2003, tr.274 - 279

(4)

Trần Thị Ngọc Lang: Phương ngữ Nam Bộ

những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với phương ngữ Bắc Bộ, Nxb KHXH Hà

Nội, 1985, tr.123

(5)

Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu: Thơ văn

Phan Thanh Giản, Nxb Hội Nhà văn, 2005,

tr.886

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Tài Cẩn (1999), Ngữ pháp tiếng

Việt, Nxb ĐHQG, Hà Nội

2 Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa

tiếng Việt, Nxb Giáo dục

3 Ngô Viết Dinh (2002), Đến với thơ Nguyễn

Đình Chiểu, Nxb Thanh niên

4 Nhiều tác giả (2003), “Thế kỷ XIX nhìn về nhân vật lịch sử Phan Thanh Giản”, Tạp chí

Xưa và nay phối hợp với Trung tâm Khoa

học Xã hội và Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức Hội thảo khoa học

5 Hoàng Văn Hành (1985), Từ láy trong tiếng

Việt, Nxb Khoa học Xã hội

6 Phan Thị Minh Lễ, Chương Thâu (2005),

Thơ văn Phan Thanh Giản, Nxb Hội Nhà

văn

7 Nguyễn Nguyên Trứ (1970), “Một số suy nghĩ xung quanh việc xác định từ láy đôi

trong tiếng Việt hiện đại”, Tạp chí Ngôn

ngữ (số 2), tr.52

8 Ca Văn Thỉnh, Nguyễn Sĩ Lâm, Nguyễn

Thạch Giang (1982), Nguyễn Đình Chiểu

toàn tập, tập 2, Nxb Đại học và Trung học

chuyên nghiệp, Hà Nội

Ngày nhận bài: 09/3/2017 Biên tập xong: 15/4/2017 Duyệt đăng: 20/4/2017

Ngày đăng: 24/10/2020, 19:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w