1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm từ địa phương thanh hoá

125 2,1K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm từ địa phương Thanh Hóa
Tác giả Nguyễn Thị Thắm
Người hướng dẫn TS. Hoàng Trọng Canh
Trường học Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Khoá luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2007
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 125
Dung lượng 518,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặt khác, nh ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, phơng ngữ Thanh Hóa là một trong những vùng cùng với phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên mang nhiều nét cổ và cho thấy khá rõ né

Trang 1

trờng Đại học vinh Khoa ngữ văn

Nguyễn thị thắm

Đặc điểm

từ địa phơng thanh hoá

khoá luận tốt nghiệp

vinh - 2007

Trang 2

trờng Đại học vinh Khoa ngữ văn

Nguyễn thị thắm

Đặc điểm

từ địa phơng thanh hoá

khoá luận tốt nghiệp đại học

Trang 3

Mục lục Trang

1.2 Vài nét về phơng ngữ Tiếng Việt nói chung và phơng ngữ

1.2.1 Các phơng ngữ trong Tiếng Việt và lịch sử nghiên cứu chúng15

2.1 Diện mạo vốn từ địa phơng Thanh Hóa qua các loại từ xét về 31

Trang 4

Mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Tiếng Việt là ngôn ngữ dân tộc thống nhất của cộng đồng các dân tộc Việt Nam Ngôn ngữ dân tộc thống nhất trong sự đa dạng Tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc đợc thể hiện ở sự khác nhau trên các vùng địa lí dân c - phơng ngữ

đial lý; tính đa dạng của ngôn ngữ dân tộc còn thể hiện ở sự khác nhau giữa các tầng lớp ngời sử dụng trong xã hội - phơng ngữ xã hội Ngoài ra, tính đa dạng của ngôn ngữ còn biểu hiện ở sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các phong cách chức năng Do đó, tìm hiểu phơng ngữ chính là góp phần tìm hiểu sự phong phú, đa dạng của bức tranh tiếng Việt

1.2 Theo cách phân chia của một số nhà nghiên cứu đợc Trơng Văn Sinh [27], Hoàng Thị Châu [9] tổng kết trong các nghiên cứu của mình và một số tác giả nh Phạm Văn Hảo [13], Hoàng Trọng Canh [6], Nguyễn Hoài Nguyên [23] làm rõ thêm, phơng ngữ Thanh Hóa là một trong những tiểu vùng của phơng ngữ Bắc Trung Bộ (bao gồm phơng ngữ Thanh Hóa, phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên) Nếu nh tiếng Nghệ Tĩnh đợc xác định là phơng ngữ tiêu biểu, thể hiện đầy đủ nhất đặc điểm phơng ngữ vùng Bắc Trung Bộ [6], [23], giống nh tiếng Thừa Thiên Huế (thuộc phơng ngữ Bình Trị Thiên) mang đặc điểm chuyển tiếp (giữa phơng ngữ Bắc Trung Bộ và Nam Trung Bộ - Nam Bộ), phơng ngữ Thanh Hóa cũng mang đặc điểm là phơng ngữ chuyển tiếp nhng là giữa vùng ph-

ơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ Do đặc điểm địa hình và dân c, nằm trên đờng thiên lí Bắc - Nam, là điểm cuối tiếp giáp của vùng Bắc Bộ và điểm đầu của Trung Bộ; tuy tách ra khỏi Bắc Bộ nhng làn sóng ngôn ngữ với những biến đổi của nó từ Bắc Bộ tác động vào Bắc Trung Bộ thì Thanh Hóa là điểm đầu tiên chịu ảnh hởng

đó Là tiểu vùng phơng ngữ cha đợc nghiên cứu nhiều, nhng qua ý kiến của Hoàng Thị Châu [9], Phạm Văn Hảo [13], Trơng Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân [28], Hoàng Trọng Canh [6], Nguyễn Hoài Nguyên [23], chúng ta thấy tiếng Thanh Hóa tuy nằm trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ nhng có một vị trí riêng Về ngữ âm, tiếng địa phơng Thanh Hóa tuy 5 thanh và có ba phụ âm quặt lỡi khác với vùng phơng ngữ Bắc nhng phơng ngữ Thanh Hóa lại có một số đặc điểm giống ph-

Trang 5

ơng ngữ Bắc Bộ Về mặt từ vựng, tiếng Thanh Hóa gần với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên hơn là so với phơng ngữ Bắc Bộ Nên về mặt phơng ngữ học, tiếng Thanh Hóa là một tiểu vùng rất đáng đợc quan tâm nghiên cứu Cho nên nghiên cứu đặc điểm từ đị phơng Thanh Hóa sẽ góp phần làm rõ hơn vị trí của phơng ngữ này.

1.3 Đề tài này khảo sát các đơn vị từ vựng tiếng Việt đợc thể hiện ở khu vực dân c Thanh Hóa với những khác biệt nhất định về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân Nh vậy, nghiên cứu phơng ngữ Thanh Hóa là việc làm cần thiết Bởi vì sự khác biệt về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa của từ địa phơng Thanh Hóa

so với từ toàn dân là khá rõ nét Mặt khác, nh ý kiến của nhiều nhà nghiên cứu, phơng ngữ Thanh Hóa là một trong những vùng cùng với phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên mang nhiều nét cổ và cho thấy khá rõ nét về quá trình phát triển, biến đổi của lịch sử tiếng Việt, nên việc khảo sát vốn từ địa phơng thuộc địa bàn dân c này có thể góp thêm phần cứ liệu soi sáng lịch sử tiếng Việt.1.4 Nh đã biết, trong một chừng mực nhất định, việc nghiên cứu ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp dới góc độ nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa, lịch sử tiếng Việt nói chung hay phơng ngữ và văn hóa địa phơng nói riêng đều phải dựa trên cơ sở vốn

từ Cho nên, thu thập và khảo sát từ địa phơng là một nhu cầu cần yếu Nhất là trong xu thế tất yếu của công cuộc hiện đại hóa đất nớc nh hiện nay, việc giao lu, tiếp xúc giữa các vùng, các tầng lớp xã hội ngày càng mở rộng, phạm vi sử dụng

từ ngữ địa phơng bị thu hẹp một cách nhanh chóng, xét về mặt địa lý dân c cũng

nh các tầng lớp thành viên sử dụng nó Mặt khác, nếu chúng ta cho rằng, từ địa

ph-ơng là nơi lu giữ những dấu ấn văn hóa địa phph-ơng, biểu hiện ở ngời nói, ở giao tiếp

và nếu muốn góp phần vào việc làm rõ bản sắc văn hóa địa phơng thì việc thu thập

từ địa phơng và nghiên cứu nó là một yêu cầu cấp bách và có ý nghĩa hơn bao giờ hết Thực hiện đề tài này cũng chính là góp phần thu thập vốn từ địa phơng Thanh Hóa nói riêng, từ địa phơng Bắc Trung Bộ nói chung

Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn nh trên, chúng tôi mạnh dạn chọn

đề tài này, trớc hết là thu thập vốn từ, trên cơ sở đó bớc đầu tiến hành nghiên cứu

từ địa phơng Thanh Hóa về ngữ âm và ngữ nghĩa

Trang 6

2 Lịch sử nghiên cứu

Nghiên cứu đặc điểm từ địa phơng Thanh Hóa là một vấn đề còn rất mới, cha

đợc nhiều ngời quan tâm; cho đến nay, chỉ mới có một số ít nhà nghiên cứu ngôn ngữ đi vào nghiên cứu vấn đề này trên một vài khía cạnh, ở những mức độ rộng hẹp khác nhau Chúng tôi xin đợc điểm qua một số công trình có liên quan đến đề tài này

Đề cập đến tiếng địa phơng Thanh Hóa, trớc hết phải kể đến công trình nghiên cứu Tiếng Việt trên các miền đất nớc" (Phơng ngữ học) của GS Hoàng

Thị Châu {9} Trong công trình này, GS đã đa ra nhiều ý kiến xác đáng về phân chia vùng phơng ngữ và đặc điểm chung của các vùng phơng ngữ đó Theo tác giả, phơng ngữ Thanh Hóa thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Đồng thời bà cũng chỉ ra rằng, phơng ngữ Thanh Hóa là một trong hai tiểu vùng của phơng ngữ Bắc Trung Bộ mang một số đặc điểm phơng ngữ chuyển tiếp Nếu nh các vùng và các tiểu vùng phơng ngữ khác trong tiếng Việt đã đợc nghiên cứu nhiều thì tiếng địa phơng Thanh Hóa lại ít đợc chú ý

Về phơng ngữ Nam Bộ, cho tới nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về vùng phơng ngữ này ở nhiều bình diện khác nhau Trong đó có hai công trình lớn

là : Sổ tay phơng ngữ Nam Bộ (dới dạng từ điển (1987) [1], do Nguyễn Văn ái

chủ biên, và Phơng ngữ Nam Bộ - Những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa so với phơng ngữ Bắc Bộ của tác giả Trần Thị Ngọc Lang (1995) [19] Nghiên cứu về

phơng ngữ Nghệ Tĩnh, có chuyên luận Bản sắc văn hóa ngời Nghệ Tĩnh (Trên

dẫn liệu ngôn ngữ) của GS.TS Nguyễn Nhã Bản; Luận án Tiến sĩ Nghiên cứu đặc

điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh của TS Hoàng Trọng Canh (2001) [6]; Luận án

Tiến sĩ Miêu tả đặc trng ngữ âm phơng ngữ Nghệ Tĩnh của TS Nguyễn Văn

Nguyên (2003) [23]; công trình tập thể do Nguyễn Nhã Bản chủ biên Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh (1999) [4] Về tiếng địa phơng Bình Trị Thiên có Ph-

ơng ngữ Bình Trị Thiên của TS Võ Xuân trang (1997) [32] v.v…

Riêng tiếng địa phơng Thanh Hóa, một tiểu vùng của phơng ngữ Bắc Trung

Bộ thì cha đợc nghiên cứu nhiều Ngời nghiên cứu, quan tâm đến phơng ngữ này

Trang 7

nhiều hơn cả là tác giả Phạm Văn Hảo Ngoài công trình Nghiên cứu đặc điểm ngữ âm tiếng Thanh Hóa (Luận án Tiến sĩ bằng tiếng Nga), hiện nay tài liệu công

bố trong nớc duy nhất chỉ có bài viết của tác giả Về một số đặc trng tiếng Thanh Hóa, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ (1985) [13] là

trực tiếp bàn về phơng ngữ này Đây là bài viết gợi ý nhiều cho chúng tôi đi đến thu thập vốn từ địa phơng Thanh Hóa ở công trình này, ông cùng chung quan

điểm với Giáo s Hoàng Thị Châu, xem tiếng địa phơng Thanh Hóa là phơng ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ, đồng thời ông cũng nêu và nhận xét về đặc trng của tiếng Thanh Hóa

Ngoài ra còn có một số tác giả khác khi phân vùng phơng ngữ tiếng Việt cũng đã đề cập đến phơng ngữ Thanh Hóa trong các bài viết của mình, nh Trơng Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân trong Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hóa

[28] Hai tác giả đã nhận xét về vị trí không ổn định của tiếng địa phơng Thanh Hóa trong bảng phân loại của các tác giả, hoặc xếp phơng ngữ này vào vùng ph-

ơng ngữ Bắc Bộ hoặc định vị nó thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Hai ông đề nghị nên xếp tiếng địa phơng Thanh Hóa vào phơng ngữ Bắc Trung Bộ cùng với tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên

Nh vậy, điểm qua các công trình nghiên cứu có liên quan đến tiếng địa phơng Thanh Hóa, ta thấy phơng ngữ này cha đợc quan tâm đúng mức và cha có sự định

vị thống nhất

Qua các công trình nghiên cứu của nhiều tác tác giả, chúng ta thấy, các nhà nghiên cứu mới chỉ dựa vào một số t liệu ít ỏi, với một số ví dụ không phong phú

để nhận xét, đánh giá, rút ra các đặc điểm, cho nên về vị trí và đặc điểm của tiếng

địa phơng Thanh Hóa vẫn là những vấn đề cần tiếp tục làm rõ Do đó chúng tôi thiết nghĩ, qua kết quả của khóa luận này hi vọng cung cấp bổ sung thêm một số

cứ liệu về từ vựng ngữ nghĩa, thông qua bảng từ địa phơng Thanh Hóa T liệu là kết quả điều tra điền dã của chúng tôi ở các thổ ngữ mang sắc thái phơng ngữ Thanh Hóa đậm nhất Cũng trên cơ sở nguồn cứ liệu đó, bớc đầu có thể kiểm chứng những nhận định của các tác giả đi trớc và hi vọng đi sâu hơn hơn vào mặt

Trang 8

từ vựng - ngữ nghĩa để rút ra một vài đặc điểm về âm và nghĩa, góp phần làm rõ hơn bộ mặt từ vựng phơng ngữ Thanh Hóa.

3 Đối tợng, mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tợng nghiên cứu

Khi tiến hành khảo sát đặc điểm từ địa phơng Thanh Hoá, chúng tôi tán thành giải pháp chia tiếng Việt làm 3 vùng phơng ngữ lớn: Phơng ngữ Bắc Bộ, Ph-

ơng ngữ Bắc Trung Bộ và Phơng ngữ Nam Phơng ngữ Thanh Hoá thuộc vùng

ph-ơng ngữ Bắc Trung Bộ, là tiếng nói của c dân từ Tam Điệp đến khe nớc lạnh Hoàng Mai Nh vậy, ranh giới phơng ngữ Thanh Hóa về cơ bản trùng với ranh giới hành chính và địa lý tự nhiên, mà Rặng Tam Điệp là bức thiên thành che chắn phía Bắc và đèo Hoàng Mai nh cánh cửa mở nhìn vào phơng Nam (D địa chí Thanh Hoá, tập I).

Do thời gian không nhiều và những điều kiện khác nhất là khả năng không cho phép, chúng tôi tự giới hạn việc khảo sát điền dã từ địa phơng Thanh Hoá ở một số thổ ngữ mà tiếng nói mang sắc thái phơng ngữ khá rõ là: Tĩnh Gia, Quảng Xơng, Đông Sơn, Triệu Sơn, Vĩnh Lộc, Bỉm Sơn, Yên Định, Sầm Sơn, Thọ Xuân, Nông Cống Các điểm điều tra khảo sát là những làng, xã định c từ xa, xa trung tâm, có tiếng nói mang tính phơng ngữ nổi bật, đồng thời là nơi lu giữ nhiều nét cổ của tiếng Việt Mỗi huyện nh vậy chúng tôi chọn ít nhất là hai làng Nhân chứng

đợc chọn để thu thập t liệu là những ngời già có độ tuổi khoảng từ 60 trở lên, cha thoát ly khỏi làng Ngoài ra, chúng tôi cũng tranh thủ thu thập từ địa phơng Thanh Hoá qua sinh viên là ngời Thanh Hoá đang học tại trờng Đại học Vinh Công việc

điều tra điền dã đợc chuẩn bị và thực hiện nhiều đợt trong một thời gian khá dài Nghiên cứu phơng ngữ Thanh Hoá cũng nh các phơng ngữ khác trong tiếng Việt, có thể miêu tả nó trên tất cả các phơng diện Nhng khoá luận này, chúng tôi chủ yếu thực hiện hai nhiệm vụ là: thu thập vốn từ và trên cơ sở đó chỉ ra một số

đặc điểm về từ vựng - ngữ nghĩa của phơng ngữ Thanh Hoá so với từ toàn dân và

từ địa phơng Nghệ Tĩnh Vì vậy, đối tợng khảo sát của đề tài là toàn bộ từ ngữ thu thập đợc của một số thổ ngữ nói trên mang đặc trng phơng ngữ Thanh Hoá, bao gồm những đơn vị từ vựng đợc ngời dân của các vùng Thanh Hoá đó dùng một

Trang 9

cách tự nhiên, phổ biến hầu khắp trên địa bàn dân c, có sự khác biệt hoàn toàn hoặc ít, hoặc nhiều ở mặt nào đó về mặt ngữ âm, ngữ nghĩa hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân Nh vậy, lớp từ địa phơng Thanh Hoá thu thập và miêu tả ở đây

là xét về bình diện khu vực dân c thể hiện của tiếng Việt Đó là sự thể hiện của các

đơn vị từ vựng tiếng Việt ở địa bàn Thanh Hoá với các dạng biến thể khác nhau của nó Trong số này có những từ ngữ cũng lu hành ở các địa bàn dân c khác thuộc vùng Bắc Bộ hoặc Bắc Trung Bộ Điều đó cũng chứng tỏ rằng, phơng ngữ Thanh Hoá tuy mang đặc điểm vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ nhng chịu nhiều ảnh hởng của phơng ngữ Bắc Bộ và giải thích tính phức tạp của phơng ngữ tiếng Việt nói chung và tiếng Thanh Hoá nói riêng Thực tế về tính chất pha trộn phơng ngữ của tiếng địa phơng Thanh Hoá nh vậy có thể đợc giải thích bởi nhiều nguyên nhân ngôn ngữ và lịch sử xã hội Đó là do sự biến đổi không đều và mức độ lan truyền rộng, hẹp khác nhau của các làn sóng ngôn ngữ; do điều kiện di dân vào các thời

kỳ khác nhau trong lịch sử khiến cho tiếp xúc ngôn ngữ thay đổi, các biến thể ngôn ngữ ở các thời kì, các vùng khác nhau vì thế mà chồng xếp lên nhau không

rõ ràng, nên một biến thể nào đó của ngôn ngữ có thể chỉ có mặt trong một vùng, một số biến thể khác lại có thể có mặt trong nhiều vùng phơng ngữ hoặc từ một vùng mà lan tiếp tới các vùng khác Điều đó cho phép cắt nghĩa, Thanh Hoá thuộc vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ nên có những biến đổi của tiếng Việt trên địa bàn Thanh Hoá đồng thời cũng là sự biến đổi chung trên toàn vùng Bắc Trung Bộ, do vậy bên cạnh những khác biệt thì phơng ngữ thanh Hóa cũng có nhiều biến thể chung có mặt trong phơng ngữ Nghệ tĩnh và Phơng ngữ Bình Trị thiên

Nh vây, đối chiếu so sánh từ ngữ địa phơng Thanh Hóa với từ ngữ toàn dân,

ta có thể hình dung đối tợng khảo sát, miêu tả của khoá luận sẽ là các lớp từ ngữ

cụ thể sau:

- Những từ ngữ riêng biệt trong phơng ngữ Thanh Hoá không có quan hệ tơng ứng ngữ âm, ngữ nghĩa với từ ngữ trong ngôn ngữ toàn dân

- Lớp các từ có sự tơng ứng ngữ âm, hoặc ngữ nghĩa với từ ngữ toàn dân nhng

có sự khác biệt ít nhiều về một hoặc hai mặt đó

3.2 Mục đích nghiên cứu

Trang 10

3.2.1 Khảo sát thu thập từ địa phơng Thanh Hoá là góp phần cùng tác giả đi trớc xác định một bức tranh toàn cảnh về vốn từ địa phơng Thanh Hoá, góp phần làm cho diện mạo bức tranh chung về từ ngữ vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ hiện lên rõ nét phong phú đa dạng hơn.

3.2.2 Trên cơ sở của vốn từ ngữ đã thu thập đợc, khoá luận đi thêm một bớc

tìm hiểu về âm và nghĩa nhằm chỉ ra đựơc một số đặc điểm từ địa phơng Thanh Hoá

Khoá luận hớng tới các mục đích cụ thể là:

3.2.2.1 Về mặt t liệu ngôn ngữ, khoá luận sẽ cố gắng cung cấp đợc ít nhiều t liệu về phơng ngữ đó là một bảng từ điều tra đối chiếu về nghĩa với từ toàn dân, hi vọng đây sẽ là ngữ liệu tham khảo cho những ai quan tâm nghiên cứu những vấn

đề có liên quan trong tiếng Việt nói chung và phơng ngữ nói riêng

3.2.2.2 Qua so sánh, đối chiếu trên những kiểu loại từ ngữ cụ thể, xét về mặt

âm thanh và ý nghĩa khoá luận sẽ cố gắng rút ra những đặc trng, những dị biệt, chủ yếu về mặt từ vựng - ngữ nghĩa của các lớp từ địa phơng Thanh Hoá so với lớp

từ toàn dân hoặc với phơng ngữ khác về âm và nghĩa

3.2.2.3 Khoá luận cũng sẽ đi vào khảo sát một số từ ngữ cụ thể xét về phơng diện định danh trong quan hệ phản ánh thực tại Qua tên gọi và cách gọi tên, qua

sự tri nhận và cách thể hiện thế giới đợc phản ánh, lu giữ trong từ ngữ, khoá luận

cố gắng rút ra những nét đặc trng văn hoá truyền thống của con ngời xứ Thanh

3.3 Nhiệm vụ nghiên cứu

Xuất phát từ mục đích của đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu đợc đặt ra là :

3.3.1 khảo sát, thu thập vốn từ địa phơng Thanh Hoá

3.32 So sánh đối chiếu với từ toàn dân và từ địa phơng Nghệ Tĩnh về âm và nghĩa, rút ra những đặc điểm của từ địa phơng Thanh Hoá và những sắc thái văn hóa cũng nh một vài điểm có liên quan đến vấn đề định vị phơng ngữ này

Trang 11

Để có đợc cứ liệu cho các phân tích đánh giá, trớc hết khoá luận sử dụng

ph-ơng pháp điều tra điền dã để thu thập vốn từ, từ đó mà thống kê, phân loại vốn từ theo tiêu chí âm và nghĩa

4.2 Phơng pháp so sánh đối chiếu

Mục đích của khoá luận là thu thập vốn từ, trên cơ sở đó miêu tả các đặc

điểm về từ vựng - ngữ nghĩa của phơng ngữ Thanh Hoá nên phơng pháp so sánh

đối chiếu đợc xem nh là cái lõi quán xuyến, là phơng pháp chủ yếu để thực hiện

đề tài Ngoài so sánh đối chiếu với ngôn ngữ toàn dân nh một yêu cầu tất yếu của việc nghiên cứu phơng ngữ học, chúng tôi còn so sánh với từ địa phơng Nghệ Tĩnh qua Từ điển tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh (1999) [4].

Nh chúng ta đã biết, nghiên cứu vốn từ không phải là nghiên cứu một số từ rời bất kì mà bao giờ cũng phải khảo sát theo hệ thống các lớp từ đã đợc phân loại trong những quan hệ nhất định Khóa luận sẽ so sánh từ vựng trong hai chiều quan

hệ chủ yếu, giữa các lớp từ địa phơng Thanh Hóa với các từ trong ngôn ngữ toàn dân và giữa các lớp từ địa phơng Thanh Hóa với các lớp từ địa phơng trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ (chủ yếu là với phơng ngữ Nghệ Tĩnh)

4.3 Phơng pháp phân tích từ vựng - ngữ nghĩa

Khi so sánh các đặc điểm của từ địa phơng Thanh Hóa với từ toàn dân và từ phơng ngữ Nghệ Tĩnh, chúng tôi dùng phơng pháp phân tích từ vựng - ngữ nghĩa, trong đó phơng pháp phân tích thành tố nghĩa thờng xuyên đợc sử dụng, nhất là khi khảo sát những từ cụ thể, đối chiếu về nghĩa giữa chúng

5 Những đóng góp mới của khóa luận

Nh đã khái quát trong phần "Lí do chọn đề tài" ở trên, các tác giả Hoàng Thị Châu [9], Phạm Văn Hảo [13], Trơng Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân [28], Hoàng Trọng Canh [6], Nguyễn Hoài Nguyên [23], đã nêu lên những ý kiến thống nhất

định vị phơng ngữ Thanh Hóa là một tiểu vùng của phơng ngữ Bắc Trung Bộ, ít nhiều mang đặc điểm chuyển tiếp Về mặt ngữ âm của phơng ngữ này đã có nghiên cứu của Phạm Văn Hảo (nhng tài liệu không đợc công bố trong nớc) Về mặt từ vựng ngữ nghĩa, thu thập vốn từ cũng nh nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa của chúng dờng nh cha đợc bàn đến Do vậy kết quả của khóa luận này sẽ là

Trang 12

những đóng góp cụ thể góp phần làm cho diện mạo phơng ngữ Thanh Hóa hiện lên

rõ hơn trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ

6 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, nội dung của khóa luận đợc triển khai thành các chơng sau:

Chơng 1: Một số vấn đề chung làm cơ sở cho đề tài

Chơng 2: Đặc điểm từ địa phơng Thanh Hóa

Sau cùng là phần phụ lục : Bảng từ ngữ địa phơng Thanh Hóa

hay ngôn ngữ dân tộc đảm trách chức năng ngôn ngữ quốc gia là nói tới những

“phạm trù xã hội ngôn ngữ học lịch sử phát triển” (Lê Quang Thiêm, Vấn đề ngôn ngữ quốc gia, (2000), (dẫn theo Hoàng Trọng Canh [6]) Quá trình hình thành một

dân tộc đã đa đến sự hình thành một ngôn ngữ dân tộc thống nhất Mỗi ngôn ngữ

Trang 13

dân tộc đều có sự thống nhất nội bộ Tuy nhiên sự thống nhất của ngôn ngữ dân tộc không có nghĩa là sự đồng nhất của tất cả các biểu hiện ngôn ngữ trong thực

tế Tính thống nhất của ngôn ngữ dân tộc đợc thừa nhận nh là một thuộc tính bản chất, đồng thời tình trạng tồn tại trong lòng nó - ngôn ngữ dân tộc- những phơng ngữ địa lí và phơng ngữ xã hội là sự thực hiển nhiên mà chúng ta hoàn toàn có thể quan sát đợc trong tiếng Việt cũng nh các ngôn ngữ khác

Nhìn một cách khái quát, nói tới quan hệ ngôn ngữ và phơng ngữ là nói tới sự

thống nhất trong cái đa dạng và đa dạng trên một căn bản thống nhất (dẫn theo

Hoàng Trọng Canh [6])

1.1.1 Khái niệm và quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc

Nội dung khái niệm ngôn ngữ dân tộc thờng đợc hiểu là: “Ngôn ngữ chung

của cả một dân tộc Đó là một phạm trù lịch sử - xã hội biểu thị ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp của một dân tộc và đợc thể hiện dới hai hình thức: nói và viết Ngôn ngữ dân tộc hình thành cùng với sự hình thành dân tộc đồng thời cũng là tiền đề và

điều kiện hình thành và tồn tại của dân tộc, mặt khác ngôn ngữ dân tộc là kết quả

và sản phẩm của quá trình hình thành, tồn tại của dân tộc” (Nguyễn Nh ý (chủ biên) [35] Tuy có sự phân biệt về mặt khái niệm nhng nội dung của thuật ngữ

ngôn ngữ toàn dân gần gũi với nội dung thuật ngữ ngôn ngữ dân tộc bởi “ngôn

ngữ dân tộc là hình thức thống nhất của ngôn ngữ toàn dân” (Yu X.Xtêpanov (1984) - Những cơ sở của ngôn ngữ học đại cơng, tr.367, dẫn theo Hoàng Trọng

Canh [6]) và ngôn ngữ toàn dân: “là ngôn ngữ đợc sử dụng rộng rãi trong giao

tiếp hằng ngày, không bị hạn chế ở phong cách và phạm vi sử dụng; ngôn ngữ đợc mọi ngời trong quốc gia biết, chấp nhận và sử dụng” [35, tr.171] Vì vậy, ở những phơng diện nhất định, sự đối lập phơng ngữ với ngôn ngữ dân tộc cũng hàm nghĩa

nh là đối lập ngôn ngữ toàn dân với phơng ngữ

Ngôn ngữ dân tộc là phơng tiện giao tiếp chung của toàn dân tộc, bất kể sự khác nhau về lãnh thổ hay xã hội của họ Tuỳ theo hoàn cảch lịch sử mà sự hình thành của dân tộc và ngôn ngữ dân tộc, mỗi nơi, mỗi thời kì một khác, theo những con đờng khác nhau Nh vậy, Con đờng hình thành của ngôn ngôn ngữ dân tộc gắn

Trang 14

nhất định- thời đại hình thành thống nhất dân tộc Quá trình hình thành thống nhất dân tộc cũng là quá trình hình thành thống nhất ngôn ngữ dân tộc Song không phải khi ngôn ngữ dân tộc đã đợc hình thành thì không còn phơng ngữ Trái lại, trong lòng ngôn ngữ dân tộc, ở các mặt biểu hiện, trên các vùng địa lí dân c khác nhau, trong các tầng lớp xã hội khác nhau, phơng ngữ vẫn tồn tại.

1.1.2 Phơng ngữ - con đờng hình thành và mặt biểu hiện của tính đa dạng ngôn ngữ

Quá trình hình thành ngôn ngữ dân tộc diễn ra nh trên một sự phản ánh quy luật phân tán và thống nhất của ngôn ngữ Qui luật chung đó của ngôn ngữ gắn liền với sự phát triển của xã hội mà phơng ngữ là một hiện tợng không tách rời của quá trình hình thành và thống nhất của ngôn ngữ dân tộc nên phơng ngữ ra đời cũng gắn liền với điều kiện lịch sử xã hội của từng quốc gia trong từng thời kì cụ thể Trong từng thời kỳ lịch sử, tuỳ theo chế độ xã hội của từng quốc gia, trong lòng ngôn ngữ dân tộc thống nhất vẫn xảy ra hiện tợng các phơng ngữ đợc hình thành và và củng cố dần do tình trạng cát cứ, tình trạng phân tán cách biệt của các khu vực địa lí dân c ở các quốc gia phong kiến

Con đờng hình thành phơng ngữ khi đã có ngôn ngữ quốc gia trong những

điều kiện địa lí giao tiếp cách biệt nh vậy, nhìn bên ngoài dờng nh đi ngợc lại, trái với quy luật phát triển thống nhất ngôn ngữ dân tộc, nhng hiện tợng này cũng chỉ tồn tại trong một thời gian với điều kiện lịch sử xã hội cụ thể của từng nớc Các phơng ngữ đó cũng mất dần tính cách biệt và đi đến thống nhất khi hàng rào địa lí

và giao tiếp xã hội của các nớc công quốc (ở Châu Âu), các vùng địa lí dân c cách biệt về giao thông (các nớc phong kiến phơng Đông) bị xoá bỏ

Dù phơng ngữ có đợc hình thành theo một trong hai con đờng nào nh trên thì

đó cũng chỉ là nguyên nhân kinh tế, địa lí, lịch sử xã hội – nguyên nhân bên ngoài ngôn ngữ Phơng ngữ ra đời còn là kết quả của một sự tác động bên trong, từ cấu trúc ngôn ngữ Ngôn ngữ luôn luôn phát triển và biến đổi Mặt biến đổi của

nó đợc thể hiện trên từng phơng ngữ về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp

Ngôn ngữ ở bất kì thời kì nào cũng không ngừng biến đổi Sự biến đổi của ngôn ngữ là không đồng đều trên từng bình diện ngôn ngữ cũng nh trên khắp các

Trang 15

vùng dân c, vì thế mà tạo nên đặc điểm riêng của từng phơng ngữ, làm nên tính đa dạng của ngôn ngữ trong thể hiện Trong điều kiện các c dân cùng nói một ngôn ngữ nhng sống trải rộng trên một địa bàn lớn mà các vùng dân c lại cách biệt nhau

về địa lí, điều kiện giao thông và thông tin khó khăn, sự giao tiếp, tiếp xúc ngôn ngữ giữa các vùng không thờng xuyên, bị khép kín, thì thông thờng một sự thay

đổi nào đó về ngôn ngữ cũng chỉ lan truyền trong nội bộ dân c vùng địa lí đó mà thôi Ban đầu sự thay đổi tạo nên sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng địa lý dân c có thể chỉ là những yếu tố rời rạc về mặt từ vựng, nh sự xuất hiện của các từ mới, sự mất đi của các từ cũ, về sau những thay đổi lớn hơn bắt đầu chạm đến cấu trúc của hệ thống ngôn ngữ, nh sự biến đổi của một vài âm vị, sự thay đổi của các

từ công cụ ngữ pháp trong từng vùng địa lí (nh ba phụ âm quặt lỡi (tr, r, s) mất đi trong cách phát âm của c dân vùng Bắc Bộ, việc quen dùng các từ chỉ trỏ: mô, tê, răng, rứa mà không dùng đâu, kia, sao, thế, ở địa bàn dân c Thanh Hóa, Nghệ

Tĩnh, Bình Trị Thiên); đó là những dấu hiệu của sự khác nhau về ngôn ngữ giữa các vùng dân c Nói cách khác, các phơng ngữ địa lí đã ra đời Đứng về phơng diện hoạt động giao tiếp mà nói, ngôn ngữ thay đổi trong từng vùng dân c là sự thay đổi và tạo ra thói quen nói năng khác vùng dân c khác Tập hợp các thói quen nói năng khác nhau đó của một vùng dân c so với vùng dân c khác là tập hợp tạo nên phơng ngữ của từng vùng Nh vậy, nhìn vào biểu hiện của ngôn ngữ trên từng khu vực địa lí, ta thấy có sự khác nhau Sự khác nhau của các phơng ngữ địa lí rõ ràng không phải do nguyên nhân địa lí Nguyên nhân sâu xa, bên trong là do sự phát triển biến đổi của ngôn ngữ dân tộc Điều kiện địa lí chỉ là nhân tố khách quan bên ngoài ngôn ngữ làm cho các cách biệt của ngôn ngữ đợc giữ lại và thể hiện ra Nếu không có sự phân bố tách biệt nhau về địa lí thì không có phơng ngữ nhng đó chỉ là điều kiện để các thay đổi ngôn ngữ đợc biểu hiện phổ biến trong vùng Trả lời câu hỏi tự đặt ra, cái gì tạo nên sự khác nhau giữa các phơng ngữ Sự khác nhau về địa lí các phơng ngữ thực chất “chính là lịch sử phát triển của ngôn ngữ ánh xạ lên phân bố địa lí” (Hoàng Thị Châu (1989) [9, tr.35] Thực ra, nếu xét một cách toàn diện hơn, phơng ngữ là một hiện tợng phức tạp, ngoài những nguyên nhân chủ yếu phổ biến tạo ra phơng ngữ nh nêu trên, cần phải xét một

Trang 16

cách cụ thể thêm những nhân tố khác, nh điều kiện tự nhiên, bối cảnh tiếp xúc ngôn ngữ, nguồn gốc c dân của từng địa phơng , đó cũng có thể là những nhân

tố góp phần tạo nên những nét khác biệt trong hệ thống một phơng ngữ Song cũng luôn nhớ rằng, sự khác nhau giữa các phơng ngữ dù lớn đến đâu cũng chỉ là sự khác biệt không đáng kể so với ngôn ngữ toàn dân, bởi các phơng ngữ nh vậy, trên căn bản giống nhau về hệ thống cấu trúc Chúng vẫn dùng chung một mã ngôn ngữ thống nhất Xu hớng thống nhất ngôn ngữ, xoá bỏ dần sự khác biệt của các phơng ngữ so với ngôn ngữ toàn dân ở mỗi quốc gia là một tất yếu của sự phát triển của ngôn ngữ và xã hội

Những phơng ngữ địa lí mà chúng ta đã chỉ ra các nguyên nhân hình thành

nh trên là đã đợc nhìn theo chiều thời gian và không gian của sự phát triển biến đổi

và biểu hiện của ngôn ngữ dân tộc Phơng ngữ địa lí tạo thành hệ thống, quan hệ gắn bó với hệ thống ngôn ngữ toàn dân, và là một trong những biểu hiện của tính phong phú đa dạng của ngôn ngữ dân tộc Ngoài ra, nếu nhìn ngôn ngữ dân tộc trong một quan hệ khác – quan hệ xã hội của các tầng lớp ngời sử dụng, chúng ta

sẽ thấy có những cộng đồng xã hội, những lớp ngời có địa vị xã hội, văn hoá và nghề nghiệp khác nhau có thể có cách dùng ngôn ngữ toàn dân với những biến thể riêng Hệ thống biến thể ngôn ngữ đó thờng đợc gọi là "phơng ngữ xã hội" Thông

thờng trong một quốc gia, khi ngời ta nói tới ngôn ngữ bác học, ngôn ngữ bình dân, ngôn ngữ thành thị, ngôn ngữ nông thôn, ngôn ngữ quý tộc v.v thì có nghĩa

là đang nói tới các phơng ngữ xã hội Thực ra, nếu căn cứ vào cách dùng với những biểu hiện khác biệt của các yếu tố trong từng phơng ngữ xã hội thì ta thấy tính hệ thống của phơng ngữ xã hội không rõ ràng nh phơng ngữ địa lí và những khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân cũng không đáng kể

Từ những điều đã trình bày nh trên, ta có thể rút ra một vài đặc điểm của

ph-ơng ngữ nh sau:

Nếu nh ngôn ngữ dân tộc hay ngôn ngữ toàn dân là ngôn ngữ chung của toàn dân tộc, là phơng tiện ngôn ngữ đợc dùng phổ biến rộng rãi hằng ngày trong toàn quốc, không bị hạn chế về phạm vi sử dụng, thì:

Trang 17

- Phơng ngữ là một biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân trong quá trình phát triển biến đổi của quy luật ngôn ngữ.

- Sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ luôn luôn diễn ra trên hai mặt cấu trúc và chức năng Cùng với sự phát triển chức năng nhiều mặt của ngôn ngữ, sự phát triển cấu trúc của ngôn ngữ thể hiện ở sự biến đổi về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa, ngữ pháp Phơng ngữ là nơi thể hiện kết quả của sự biến đổi ấy Chính vì vậy phơng ngữ khác ngôn ngữ toàn dân ở một vài khía cạnh nào đó, ở một mức độ nào đó, nhng trên căn bản, cái mã chung - hệ thống cấu trúc ngữ pháp, từ vựng, âm

vị giữa phơng ngữ và ngôn ngữ toàn dân là giống nhau

- Phơng ngữ là một hệ thống biến thể của ngôn ngữ toàn dân bị hạn chế về phạm vi sử dụng Nói cách khác giới hạn sử dụng của phơng ngữ là trong những vùng địa lí dân c hoặc tầng lớp xã hội nhất định

- Phơng ngữ là một hiện tợng lịch sử, nó ra đời nh một tất yếu do sự phát triển, biến đổi của ngôn ngữ cùng với sự phát triển của lịch sử xã hội, do đó với xu thế thống nhất ngôn ngữ ngày càng cao, phạm vi sử dụng của phơng ngữ ngày càng bị thu hẹp và về mặt lý thuyết, nó sẽ mất đi trong tơng lai của một ngôn ngữ dân tộc thống nhất và đợc tiêu chuẩn hoá cao

Tóm lại, nói tới phơng ngữ là nói tới một hiện tợng phức tạp của ngôn ngữ không chỉ về mặt hệ thống cấu trúc, cấu tạo cũng nh phơng diện thể hiện mà bản thân nó còn là sự phản ánh của nhiều mối quan hệ trong và ngoài ngôn ngữ Cho nên, để trả lời đợc câu hỏi: “Phơng ngữ là gì ?” làm cơ sở cho mọi sự khảo sát về phơng ngữ, ngời ta đành phải trừu tợng hoá để khái quát về những phơng diện cơ bản của đối tợng nh các định nghĩa sau đây mà khóa luận này xem là một trong những cơ sở về mặt lý luận Nói đến phơng ngữ chúng ta có thể nhấn mạnh đến những nét khác biệt trong biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể, nh định nghĩa của Hoàng Thị Châu: Phơng ngữ là một thuật ngữ ngôn ngữ học để chỉ sự biểu hiện của ngôn ngữ toàn dân ở một địa phơng cụ thể với những nét khác biệt của nó so với ngôn ngữ toàn dân hay với một phơng ngữ khác [9, tr

24] Hoặc đồng thời chú ý thêm đến tính hệ thống và các phơng diện thể hiện của

nó nh quan niệm của nhóm tác giả Đái Xuân Ninh, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn

Trang 18

Quang, Vơng Toàn: Phơng ngữ là hình thức ngôn ngữ có hệ thống từ vựng, ngữ pháp và ngữ âm riêng biệt đợc sử dụng ở một phạm vi lãnh thổ hay xã hội hẹp hơn là ngôn ngữ Là một hệ thống ký hiệu và quy tắc kết hợp có nguồn gốc chung với hệ thống khác đợc gọi là ngôn ngữ (cho toàn dân tộc) các phơng ngữ (có ngời gọi là tiếng địa phơng, phơng ngôn) khác nhau trớc hết là ở cách phát

âm, sau đó là vốn từ vựng” [24, tr 275].

1.2 Vài nét về phơng ngữ tiếng Việt nói chung và phơng ngữ Thanh Hóa nói riêng

1.2.1 Các phơng ngữ trong tiếng Việt và lịch sử nghiên cứu chúng

Nhìn một cách sơ lợc và chung nhất về tình hình nghiên cứu phơng ngữ học tiếng Việt từ trớc đến nay, ta thấy những phơng hớng chủ yếu, những bình diện chính, các nội dung cơ bản, mức độ và phạm vi nghiên cứu các phơng ngữ cụ thể

đã đợc đẩy mạnh và thu đợc nhiều thành tựu Song cũng còn nhiều rất nhiều công việc cha đợc tiến hành hoặc cha đi sâu nghiên cứu Ta có thể nhìn lại lịch sử nghiên cứu phơng ngữ với những nét khái quát nh sau:

Trớc hết ta có thể kể đến các công trình có đề cập đến phơng ngữ tiếng Việt của các tác giả nớc ngoài nh công trình Nghiên cứu lịch sử ngữ âm tiếng Việt

(1912) của Maspéro; Ngữ âm tiếng Việt (phơng ngữ miền thợng Trung kì) (1902); Ngữ âm tiếng Việt (phơng ngữ miền hạ Trung kì) (1911) của H.Cadière; Nghiên cứu ngữ pháp tiếng Việt (1951) của M.B E Meneau; Cơ cấu ngữ âm tiếng Việt

(1984) của M.V.Gordina và I.S.Bxtrov v v Nhìn chung các công trình của các tác giả đều nghiên cứu tiếng Việt ở mặt biểu hiện của nó, chủ yếu về phơng diện ngữ âm nên ít nhiều đều mang tính chất phơng ngữ Tuy nhiên, phần lớn các công trình đó đều đi vào miêu tả ngữ âm của một vùng nhất định nhng lại không đặt nó trong sự đối lập với ngôn ngữ toàn dân hoặc với các phơng ngữ khác, vì thế nó mang tính chất của một công trình ngôn ngữ nhiều hơn là một nghiên cứu phơng ngữ học, do đó các đặc trng của phơng ngữ không đợc thể hiện rõ nét

Một xu hớng nghiên cứu khác của phần lớn các nhà Việt ngữ học là dù đi vào những vấn đề cụ thể hay nghiên cứu những đặc trng khái quát, hệ thống của phơng ngữ tiếng Việt, họ đều chú ý miêu tả các đặc trng phơng ngữ trong sự so sánh đối

Trang 19

lập, nên các công trình của các tác giả này mang tính chất của một công trình nghiên cứu phơng ngữ thực sự Có thể kể công trình của các tác giả nh: Hoàng Thị Châu với nhiều công trình, trong đó có hai nghiên cứu đợc đánh giá cao là: Về bốn phụ âm ngạc hóa còn lại trong tiếng Việt vùng Bắc Bình Trị Thiên (trong Tiếng Việt và các ngôn ngữ Đông Nam á, NXB KHXH, Hà Nội, tr 19-22); Tiếng Việt trên các miền đất nớc [9]; Hồng Dân với nghiên cứu: Từ ngữ phơng ngôn với vấn

đề chuẩn hóa từ vựng tiếng Việt (1981), (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt từ ngữ - Nxb KHXH, Hà Nội, tr 304 - 312); Hoàng Dũng với công

trình: Cứ liệu từ vựng và biến đổi các phụ âm kép ML, BL, TL, PL, KL (Luận văn

cao học, Trờng ĐHSP Hà Nội); Nguyễn Đức Dơng, Trần Thị Ngọc Lang với công trình: "Mấy nhận xét bớc đầu về những khác biệt từ vựng - ngữ nghĩa giữa phơng ngữ miền Nam và tiếng Việt toàn dân" (Ngôn ngữ, số 1, tr 47- 51); Phạm Văn

Hảo với Về một số đặc trng của tiếng Thanh Hóa, thổ ngữ chuyển tiếp giữa

ph-ơng ngữ Bắc Bộ và phph-ơng ngữ Bắc Trung Bộ [13]; Cao Xuân Hạo với Số phận các vần có nguyên âm hẹp qua các phơng ngữ lớn của Việt Nam (trong Tiếng Việt - mấy vấn đề về ngữ âm, ngữ nghĩa, ngữ pháp, Nxb Giáo dục, tr 116 - 119);

Nguyễn Quang Hồng với Các lớp từ địa phơng và chức năng của chúng trong ngôn ngữ văn hóa tiếng Việt (trong Giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt về mặt

từ ngữ {16}; Trơng Văn Sinh, Nguyễn Thành Thân Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hóa {28}; Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Văn Nguyên với: Nhát cắt thời gian trong tâm thức ngời Nghệ (Ngôn ngữ, số 4, tr.65- 67); Võ Xuân Trang với Phơng ngữ Bình Trị Thiên {32}.

Ngày nay, phơng ngữ trong tiếng Việt đã thực sự là đối tợng của ngành

ph-ơng ngữ học Trong các trờng đại học trong nớc, phph-ơng ngữ học đều đợc đa vào chơng trình giảng dạy cho sinh viên khoa ngữ văn Có cả giáo trình về phơng ngữ

đợc biên soạn công phu nh: Tiếng Việt trên các miền đất nớc (phơng ngữ học) của

Hoàng Thị Châu; hoặc có các chơng nghiên cứu về phơng ngữ nh trong các giáo trình từ vựng nh: Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt của Đỗ Hữu Châu, NXB Giáo

Trang 20

Dục, Hà Nội, 1981; Nguyễn Văn Tu: Từ vựng học tiếng Việt hiện đại", NXB Giáo

dục, Hà Nội, 1986; Nguyễn Thiện Giáp: "Từ vựng học tiếng Việt, 1989

Điểm qua các công trình đã nêu trên, ở một phơng diện khác cũng cho ta thấy, phơng ngữ học tiếng Việt đã đợc nghiên cứu cả về mặt cấu trúc và chức năng

và càng về sau các chức năng của phơng ngữ càng đợc chú ý nhiều hơn Hai bình diện chính lâu nay đợc đẩy mạnh nghiên cứu trong phơng ngữ tiếng Việt là ngữ

âm và từ vựng – ngữ nghĩa Các công trình nghiên cứu về ngữ âm và từ vựng - ngữ nghĩa phơng ngữ, trớc tới nay phần nhiều đều hớng tới các mục đích: nghiên cứu lịch sử tiếng Việt, quan hệ giữa các phơng ngữ với ngôn ngữ và nghiên cứu phơng ngữ phục vụ cho công cuộc chuẩn hóa và giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt Bình diện đợc tập trung nhiều nhất và có kết quả nhất là nghiên cứu ngữ âm của các phơng ngữ Điều này cũng phản ánh một thực tế là sự khác biệt diễn ra chủ yếu và dễ thấy nhất giữa phơng ngữ với ngôn ngữ toàn dân cũng nh với các phơng ngữ khác là về mặt ngữ âm Bình diện từ vựng – ngữ nghĩa cha đợc nghiên cứu nhiều Ngoài nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Lang Phơng ngữ Nam Bộ - Những khác biệt về từ vựng - ngữ nghĩa của phơng ngữ Nam Bộ so với phơng ngữ Bắc Bộ và Hoàng Trọng Canh Nghiên cứu đặc điểm lớp từ địa phơng Nghệ Tĩnh Cho đến nay các công trình khác chủ yếu mới chỉ đi vào một vài nét khác

biệt về ngữ nghĩa trên một vài nhóm từ cụ thể Vả lại, trừ hai công trình của Trần Thị Ngọc Lang và Hoàng Trong Canh, phần nhiều các nghiên cứu khác về từ vựng

- ngữ nghĩa lâu nay mới chỉ tập trung hớng tới một mục đích là chuẩn hoá ngôn ngữ Hớng nghiên cứu ngữ nghĩa phơng ngữ gắn với văn hoá địa phơng, tuy rất lý thú và thiết thực nhng chỉ mới đợc chú ý gần đây Thực tế này cũng phản ánh rằng, ngữ nghĩa của từ vựng, nhất là đối vối lớp từ địa phơng thờng là phức tạp và khó thấy, đòi hỏi phải có thời gian tìm hiểu công phu, nhất là ngời sống ngoài địa bàn phơng ngữ đó, nếu không trực tiếp sử dụng, không hiểu phong tục tập quán thói quen ngôn ngữ giao tiếp của ngời địa phơng đó thì rất khó, nếu không muốn nói là không thể thực hiện đợc

Một phơng diện khác về nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việt, tuy đợc nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nớc quan tâm từ sớm, nhng cho đến nay vẫn cha có đợc

Trang 21

sự thống nhất cao là vấn đề xác định các phơng ngữ Tiếng Việt có bao nhiêu

ph-ơng ngữ? Ranh giới của các phph-ơng ngữ đến đâu? Về mặt lí luận và thực tế, xác

định ranh giới của các phơng ngữ, thổ ngữ trong một trong một ngôn ngữ là hết sức phức tạp, không chỉ riêng với tiếng Việt Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc,

đa ngôn ngữ, vấn đề ngôn ngữ và phơng ngữ các dân tộc thiểu số anh em có nhiều liên quan mật thiết với tiếng Việt về cội nguồn và tiếp xúc Cho nên, nghiên cứu ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam cũng liên quan và soi sáng nhiều vấn đề không riêng đối với tiếng Việt nói chung mà còn đối với các phơng ngữ trong tiếng Việt nói riêng, trong đó có vấn đề sự hình thành của các phơng ngữ

Từ quy luật của sự hình thành ngôn ngữ và các phơng ngữ nói chung, khi nhìn vào một ngôn ngữ nào đó về biểu hiện, ngời ta đều có thể nói đợc rằng ngôn ngữ ấy bao gồm nhiều phơng ngữ và trong từng phơng ngữ lại có thổ ngữ khác nhau Song đi vào các ngôn ngữ cụ thể, bức tranh ngôn ngữ và phơng ngữ trong lịch sử là luôn luôn thay đổi và ở mỗi dân tộc có một sự phức tạp riêng Sự thay

đổi của bức tranh ngôn ngữ là vừa mang dấu ấn không gian vừa mang dấu ấn thời gian của lịch sử, địa lí, dân c và sự phát triển biến đổi của bản thân ngôn ngữ Một ngôn ngữ cũng nh một phơng ngữ nào đó hiện nay, có thể trớc đây chúng đã biến

đổi qua nhiều không gian rộng hẹp khác nhau, cho nên, bức tranh ngôn ngữ hiện nay không phải là kết quả của một sự phát triển tuần tự và trùng khít của bức tranh ngôn ngữ quá khứ trong từng vùng cũng nh trong toàn quốc Vì vậy, khi tiếp cận các phơng ngữ và ngôn ngữ cần phải “chấp nhận một thực tế là không gian ngôn ngữ hiện nay chỉ là không gian bề mặt, trong đó nó chứa đựng nhiều tầng không gian khác nhau phản ánh một lịch sử phát triển đa chiều của chúng” Và “không loại trừ khả năng pha trộn ngôn ngữ trong quá trình phát triển lịch sử" Đi vào các phơng ngữ, nhất là xác định ranh giới chúng trong tiếng Việt, chúng ta sẽ thấy

“tính chất không thuần nhất của không gian thuần Việt” [11, tr.23] Thực tế đó đã làm cho các nhà ngôn ngữ học nói chung phơng ngữ học nói riêng, khi xác định ranh giới của các phơng ngữ trong tiếng Việt đã không có tiếng nói chung

Vấn đề ranh giới hay còn gọi là phân vùng phơng ngữ trong tiếng Việt là một trong những nội dung đợc nhiều nhà nghiên cứu về tiếng Việt và phơng ngữ tiếng

Trang 22

Việt quan tâm Nhng đây cũng là chỗ thể hiện rõ nhất sự không thống nhất về ờng ranh giới của các phơng ngữ Sở dĩ không có đợc một tiếng nói chung về vấn

đ-đề này là do nhiều nguyên nhân.Trớc hết bản thân đối tợng - ranh giới của các

ph-ơng ngữ không phải là đờng ranh giới tự nhiên Ranh giới của phph-ơng ngữ là phản

ánh phạm vi biến đổi của biến thể ngôn ngữ Nhng sự biến đổi của ngôn ngữ lại không chỉ xảy ra đối với một hiện tợng Vì vậy mỗi biến đổi của ngôn ngữ có thể tạo nên một đờng biên Tuỳ theo mức độ lan toả của mỗi biến thể ngôn ngữ mà các đờng ranh giới (các đờng đồng ngữ) có phạm vi rộng hẹp khác nhau Hơn nữa, ngôn ngữ lại liên tục phát triển biến đổi vì thế các đờng đồng ngữ có thể chồng xếp, đan chéo lên nhau Do đó sẽ không bao giờ có đợc một đờng ranh giới phơng ngữ lý tởng- mà nơi ấy là điểm hợp lu của các dòng chảy, là nơi gặp nhau của các con sóng ngôn ngữ, tạo nên sự trùng kít của các đờng đồng ngữ Bản thân đối tợng phức tạp nh vậy nên đờng ranh giới phơng ngữ mà các nhà nghiên cứu đa ra bao giờ cũng chỉ là “ớc định”, tơng đối Tuỳ theo cách nhìn của mỗi tác giả, nhấn mạnh đặc điểm này thì đờng ranh giới phơng ngữ sẽ là thế này, nhấn mạnh đặc

điểm kia, đờng ranh giới phơng ngữ sẽ là thế kia Vì thế, không ai ngạc nhiên khi nhìn thấy có nhà nghiên cứu chia tiếng Việt thành năm phơng ngữ, nhiều ngời khác thì cho rằng tiếng Việt có bốn phơng ngữ, phần đông các tác giả lại chia tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ, nhng có ba nhà nghiên cứu lại chỉ chia tiếng Việt thành hai vùng phơng ngữ, thậm chí, có ngời cho rằng do trạng thái chuyển tiếp của ngôn ngữ tiếng Việt từ Bắc vào Nam là liên tục nên không thể phân chia tiếng Việt thành các vùng phơng ngữ Các xu hớng, quan niệm và kết quả khác nhau về phân chia phơng ngữ tiếng Việt nh trên đã đợc Trơng Văn Sinh trong

Điểm qua tình hình nghiên cứu phơng ngôn tiếng Việt trong thời gian qua {27},

Hoàng Thị Châu Tiếng Việt trên các miền đất nớc (Phơng ngữ học) {9} và một số

tác giả khác tổng kết, vì thế ở đây chúng tôi xin không nhắc lại Từ kết quả phân loại phơng ngữ của các nhà nghiên cứu, chúng tôi thấy có hai điểm liên quan đến khóa luận này là:

Xu hớng thống nhất hiện nay cũng nh ý kiến của phần đông các nhà nghiên cứu điều cho rằng tiếng Việt có ba vùng phơng ngữ lớn Đó là phơng ngữ Bắc (Bắc

Trang 23

Bộ), phơng ngữ Trung (Bắc Trung Bộ), phơng ngữ Nam (Nam Trung Bộ, Nam Bộ) Cả ba vùng phơng ngữ này, cho tới nay cha có vùng nào đợc khảo sát nghiên cứu toàn diện triệt để

Trong cách phân chia của nhiều tác giả, đờng ranh giới của các phơng ngữ có

địa bàn phân bố từ Thanh Hoá đến Thuận Hải thờng không trùng nhau; đặc biệt là

địa vị của tiếng Thanh Hoá và Thừa Thiên Huế đợc định vị trong bảng phân loại của các nhà nghiên cứu rất không ổn định Điều đó khách quan cũng nói lên tính phức tạp của các phơng ngữ phân bố ở địa bàn miền Trung này Tính chất chuyển tiếp và ảnh hởng qua lại của quan hệ tiếp xúc đã làm cho các phơng ngữ này mang tính không thuần nhất nh phơng ngữ Bắc và Nam Điều đó, theo suy nghĩ của chúng tôi, để vẽ nên đợc bức tranh toàn cảnh, chẳng hạn nh bức tranh phơng ngữ Bắc Trung Bộ, một trong những cách có thể làm trớc hết là chọn đợc một phơng ngữ tiêu biểu trong vùng, khảo sát và miêu tả nó trên các bình diện khác nhau để khái quát thành những đặc điểm chung Khảo sát các phơng ngữ khác trong vùng

sẽ làm đầy và rõ hơn đặc điểm vùng và tính chất giao thoa của vùng chuyển tiếp các phơng ngữ Cả hai vấn đề nêu trên đều có liên quan đến việc xác định vị trí, vai trò của phơng ngữ Thanh Hóa cũng nh mục đích, ý nghĩa của việc nghiên cứu

nó đối với vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ

Tóm lại, điểm qua các công trình nghiên cứu phơng ngữ Tiếng Việt lâu nay ta thấy vấn đề phơng ngữ tiếng Việt ngày càng đợc đẩy mạnh nghiên cứu và đã thu

đợc những kết quả đáng kể trên một vài phơng diện quan trọng; đóng góp đợc nhiều vấn đề về lý luận và t liệu cho lịch sử tiếng Việt cũng nh các mặt văn hoá, xã hội, chuẩn hoá ngôn ngữ Song những kết quả thu đợc, cha thể nói là đã đáp ứng đợc đòi hỏi của ngành phơng ngữ học nói riêng, Việt ngữ học nói chung, do

đó còn phải tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện hơn nữa Nh đã nói, phần lớn các nghiên cứu phơng ngữ tiếng Việt mới tập trung vào bình diện ngữ âm; bình diện từ vựng - ngữ nghĩa cha đợc quan tâm đúng mức Hớng nghiên cứu của phần nhiều các công trình phơng ngữ lâu nay là để phân vùng phơng ngữ, hoặc phục vụ

Trang 24

cho mục đích chuẩn hoá ngôn ngữ Tuy đã có một vài công trình đi vào nghiên cứu phơng ngữ từng vùng cụ thể, rất hữu ích, nhng cho tới nay cũng cha có vùng phơng ngữ nào đợc nghiên cứu toàn diện trên các bình diện khác nhau của nó Nh vậy, muốn dựng lên đợc diện mạo, đặc điểm của các vùng phơng ngữ một cách

đầy đủ cụ thể cần phải đẩy mạnh hơn nữa việc nghiên cứu theo thuộc tính mở, nghiên cứu sâu hơn ngữ nghĩa trên cơ sở một vốn từ đã đợc su tập, miêu tả so sánh giữa nó với ngôn ngữ toàn dân và các phơng ngữ khác có liên hệ với văn hoá, xã hội

vị từ vựng tiếng Việt có sự khác biệt với ngôn ngữ toàn dân ở khu vực dân c Thanh Hóa (là thuộc đối tợng phơng ngữ Thanh Hóa) Nh vậy, cách gọi này không nhằm thể hiện tính chất phân loại, phân vùng phơng ngữ nằm trong bảng phân vùng ph-

ơng ngữ tiếng Việt

Mặt khác, theo thiển nghĩ của chúng tôi, quan niệm về phơng ngữ Thanh Hóa

nh trên cũng phù hợp với cách nhìn khoa học của một số nhà nghiên cứu phơng ngữ lâu nay Để nghiên cứu đợc đối tợng một cách cụ thể, triệt để sâu sắc, các nhà khoa học thờng có thao tác chia tách đối tợng thành những phạm vi, phơng diện khảo sát hẹp hơn, cụ thể hơn Nhờ những nghiên cứu cụ thể nh vậy, trên cơ sở đó ngời ta mới đi đến những khái quát vừa toàn diện vừa cụ thể về đối tợng trên một phạm vi rộng hơn Dĩ nhiên để chia tách đợc đối tợng nghiên cứu nh trên phải dựa trên những tiêu chí nhất định Hoàng Thị Châu trong công trình Tiếng Việt trên

Trang 25

các miền đất nớc (phơng ngữ học) [9], sau khi nêu lên ý kiến của mình về chia

tiếng Việt thành ba vùng phơng ngữ lớn, tác giả nêu những nhận xét khái quát về từng vùng phơng ngữ; bớc tiếp theo, bà đã chia các vùng phơng ngữ này thành những phơng ngữ nhỏ hơn, căn cứ trên những đặc điểm ngữ âm riêng của từng vùng Cụ thể đối với phơng ngữ Trung, tác giả viết: “Phơng ngữ Trung cũng gồm

ba phơng ngữ nhỏ hơn, khác nhau về Thanh điệu:

a) Phơng ngữ Thanh Hoá lẫn lộn thanh hỏi và thanh ngã ( )

b) Phơng ngữ vùng Nghệ Tĩnh không phân biệt thanh ngã với thanh nặng.Cả năm thanh tạo thành một hệ thống thanh điệu khác với phơng ngữ Bắc, có độ trầm lớn hơn

c) Phơng ngữ Bình Trị Thiên không phân biệt thanh hỏi với thanh ngã

Nhng về mặt điệu tính các thanh lại giống với thanh điệu Nghệ Tĩnh” [37, tr.92]

Võ Xuân Trang cũng băn khoăn khi đứng trớc một phơng ngữ có địa bàn phân bố rộng nh phơng ngữ Bắc Trung Bộ, những biến thể có phạm vi trong một vài tỉnh trong phơng ngữ đó thì gọi là gì khi mà những biến thể trên một địa bàn hẹp hơn thờng đợc các nhà nghiên cứu quen gọi là thổ ngữ ? Ông đề xuất dùng khái niệm vùng phơng ngữ để chỉ phơng ngữ Bắc, phơng ngữ Trung, phơng ngữ

Nam Mỗi vùng phơng ngữ nh vậy bao gồm nhiều phơng ngữ khác nhau Với quan

niệm đó theo ông “về mặt địa lý", phơng ngữ là biến thể địa phơng có địa bàn phân bố trên một phạm vi rộng gồm một hoặc nhiều tỉnh Các phơng ngữ có những

đặc điểm giống nhau và đợc phân bố gần nhau có thể tạo thành một vùng phơng ngữ Giống nh Hoàng Thị Châu, ông cho rằng “ Vùng phơng ngữ Trung có ba ph-

ơng ngữ là: phơng ngữ Thanh Hoá, phơng ngữ Nghệ Tĩnh và phơng ngữ Bình Trị Thiên”[32]

Nh chúng ta đã biết, lâu nay vị trí phơng ngữ Thanh Hoá và tiếng địa phơng Thừa Thiên Huế (thuộc phơng ngữ Bình Trị Thiên) trong bảng phân loại phơng ngữ của các nhà nghiên cứu thờng rất khác nhau Phơng ngữ Thanh Hoá, về ngữ âm và từ vựng có những đặc điểm mang đặc trng của vùng phơng ngữ Trung nhng cũng có những đặc điểm giống phơng ngữ Bắc Nếu xét trên những đặc trng cơ bản, phơng ngữ Thanh Hoá không có đặc điểm nào giống hoàn toàn với phơng ngữ Trung,

Trang 26

hoặc vùng phơng ngữ Bắc Chẳng hạn, có thể lấy hai đặc trng cơ bản về ngữ âm để phân biệt phơng ngữ Trung với phơng ngữ Bắc là có hay không ba phụ âm quặt l-ỡi: ʐ,ţ, ş và hệ thống năm thanh hay sáu thanh làm căn cứ thì thấy cả hai

đặc điểm đó điều thể hiện không triệt để trong phơng ngữ Thanh Hoá Có thể thấy

rõ và đầy đủ hơn về tính chất trung gian của phơng ngữ này trong các nghiên cứu của Phạm Văn Hảo, Trơng Văn Sinh và Nguyễn Thành Thân, Hoàng Thị Châu Hơn nữa điều này cũng dễ hiểu vì nh chúng ta đã biết vị trí địa lí của tỉnh Thanh Hóa nằm giữa miền Bắc và miền Trung, đợc bắt đầu từ Bỉm Sơn cho đến huyện Tĩnh Gia Trong D địa chí Thanh Hóa, tập I, đã nói rõ tính chuyển tiếp của vị trí

Thanh Hóa :"Thanh Hóa - một tỉnh mang tính trung gian giữa Bắc Bộ và Trung

Bộ Phía bắc giáp ba tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Ninh Bình; phía Nam và Tây Nam nằm liền kề Nghệ An; Phía Tây nối liền sông núi với tỉnh Hủa Phăn của Nớc Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào; phía Đông mở ra phần giữa của Vịnh Bắc Bộ thuộc biển Đông với đờng bờ biển của giải đất liền hơn 102 Km và một thềm lục địa khá rộng" Thanh Hóa có một quá trình hình thành và phát triển khá phức tạp nhất là

về dân c Trải qua bao thăng trầm, ngày nay Thanh Hóa là một tỉnh đang trên đà phát triển mạnh, dân c đông đúc Những đặc điểm đó đã góp phần làm cho vốn từ

địa phơng Thanh Hóa phong phú và đa dạng

Thanh Hóa nh là điểm đóng lại của giải đồng bằng Bắc Bộ và là nơi bắt đầu của giải đất miền Trung (chật hẹp chiều ngang, lắm sông nhiều núi) Thanh Hóa là nơi cuối cùng và cũng chính là nơi bắt đầu chịu sự tác động của hai vùng văn hóa Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ; Thanh Hóa là nơi bắt đầu vùng ngôn ngữ Việt Mờng ở Bắc Trung Bộ, chịu ảnh hởng của ngôn ngữ Việt từ Bắc Bộ, khi tiếng Việt ở Bắc

Bộ đã tách khỏi tiếng Mờng thành ngôn ngữ riêng

Qua nhiều tài liệu nghiên cứu, chúng tôi cho rằng, tiếng địa phơng Thanh Hóa là một phơng ngữ tồn tại hiện thực cùng với phơng ngữ Nghệ Tĩnh và Bình Trị Thiên Phơng ngữ Thanh Hóa vừa có vị trí quan trọng đối với vùng phơng ngữ Trung vừa mang sắc thái riêng, là đối tợng có thể nghiên cứỉutên nhiều phơng diện

về ngữ âm, từ vựng - ngữ nghĩa

Trang 27

Nằm trong vùng phơng ngữ Trung - một vùng phơng ngữ có vị trí quan trọng

đối với nghiên cứu lịch sử tiếng Việt Cho nên, trực tiếp hay gián tiếp phơng diện này hay phơng diện khác, cho tới nay cũng đã có một số công trình quan tâm đến phơng ngữ Thanh Hóa Bộ mặt phơng ngữ Thanh Hóa đợc hiện lên qua những nét phác thảo trong công trình nghiên cứu chung về phơng ngữ Tiếng Việt trên các miền đất nớc của Hoàng Thị Châu [9]; Về một số đặc trng của tiếng Thanh Hóa, thổ ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ của Phạm Văn Hảo

[13]; Về vị trí của tiếng địa phơng Thanh Hóa của Trơng Văn Sinh, Nguyễn

Thành Thân [28] Gần đây có một có một vài khảo sát cụ thể về một vài phơng diện của tiếng Thanh Hóa nh Đặc trng ngữ âm tiếng Hoằng Hóa, Khóa luận tốt

nghiệp đại học của Lê Thị Hữu [18]; Bớc đầu khảo sát vốn từ địa phơng Thanh Hóa, Luận văn Cao học của Nguyễn Thị Sơn [29].

Nh vậy có thể nói, nằm trong tình hình chung của phơng ngữ tiếng Việt,

ph-ơng ngữ Thanh Hóa cha đợc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống Phph-ơng diện ngữ âm tuy đợc nghiên cứu nhiều hơn, nhng cũng chỉ mới là những nét lớn hết sức sơ lợc; mặt từ vựng - ngữ nghĩa còn mờ nhạt và thấp thoáng, nếu có đợc đề cập đến, thờng cha đợc nghiên cứu dựa trên t liệu hệ thống, đặc trng phơng ngữ này còn cha đợc nghiên cứu Thực tế ấy đặt ra yêu cầu cần đẩy mạnh nghiên cứu toàn diện và sâu hơn nữa phơng ngữ Thanh Hóa, trớc hết là phơng diện từ vựng địa phơng

Nh ta đã thấy từ xa trong quan niệm của ngữ pháp truyền thống, từ là đơn vị cơ bản, trung tâm của ngôn ngữ, nh là công cụ hoạt động lời nói, là phần cấu trúc - cấu tạo câu nói Đi vào ngôn ngữ hiện đại, hình vị cũng đợc xem là đơn vị cơ bản bởi chức năng cấu tạo của nó, nhng nhìn rộng ra xét đơn vị ngôn ngữ trên nhiều mặt về cấu trúc - cấu tạo, về chức năng ở nhiều quan hệ, trong hệ thống ngôn ngữ, trong hoạt động giao tiếp, t duy con ngời, trong quan hệ phản ánh thực tại , thì từ vẫn là đơn vị cơ bản quan trọng nhất

Là đơn vị tồn tại một cách hiển nhiên với những đặc trung cơ bản, chiếm vị trí trung tâm của ngôn ngữ nh vậy, cho nên có thể nói khi nghiên cứu ngôn ngữ dù

ở cấp độ nào, mặt âm thanh cũng nh ý nghĩa, theo hớng cấu trúc hay chức năng thì

Trang 28

ít hay nhiều đều liên quan tới từ T liệu về từ càng đặc biệt quan trọng trong so sánh lịch sử Để xác định nguồn gốc, quan hệ họ hàng giữa các ngôn ngữ, ngời ta phải tiến hành so sánh từ vựng trên t liệu của một bảng từ đã đợc thu thập, từ đó tìm ra quy luật biến đổi ngữ âm của các ngôn ngữ ấy Việc so sánh các phơng ngữ trong cùng một ngôn ngữ cũng có thể nói không đi ra ngoài nguyên tắc có tính ph-

ơng pháp đó Cho nên, việc thu thập đợc một vốn từ làm cơ sở cho việc nghiên cứu phơng ngữ là rất cần thiết và có lẽ nên là bớc đầu tiên Nghiên cứu phơng ngữ Thanh Hóa nói riêng, phơng ngữ tiếng Việt nói chung, lâu nay ở bình diện ngữ âm của từ đã đợc chú ý, nh thế là cần thiết nhng cần phải chú ý tới cả mặt ngữ nghĩa của từ và phải đẩy mạnh nghiên cứu hơn nữa Phải thấy rằng từ địa phơng không chỉ là biến thể ngữ âm mà còn là biến thể từ vựng ngữ nghĩa, mà biểu hiện tập trung của nó là ở quan hệ đa nghĩa của từ, đó nh là sự thể hiện của quan hệ giữa mặt biến đổi với mặt bất biến đổi giữa phơng ngữ và ngôn ngữ toàn dân

Với sự cần thiết hữu ích nhiều mặt đối với việc nghiên cứu từ địa phơng nh thế, chúng tôi đi vào khảo sát nhận xét bớc đầu về từ địa phơng Thanh Hóa trên cả hai phơng diện chính về âm và nghĩa

Trớc khi đi vào những nghiên cứu cụ thể, chúng tôi đã tiến hành thu thập từ ngữ địa phơng bằng nhiều hình thức, nhiều cách khác nhau Để thu thập đuợc từ ngữ địa phơng chúng tôi dựa vào những tiêu chí nhất định Những tiêu chí (hay là căn cứ) ấy đợc rút ra từ các định nghĩa về từ địa phơng của một số nhà nghiên cứu Cũng xin đợc nói ngay rằng, ở đây chúng tôi không đặt ra nhiệm vụ là thảo luận và đa ra một định nghĩa mới về từ địa phơng Tuy là một khái niệm phức tạp của phơng ngữ học nhng chúng tôi thấy các định nghĩa về từ địa phơng của nhiều nhà nghiên cứu lâu nay đã cho thâý đợc những đặc điểm chính yếu nhất về đối t-ợng này, có thể lấy đó làm cơ sở cho việc khảo sát, nghiên cứu khóa luận này Trớc hết, có thể thấy các nhà ngôn ngữ học khi định nghĩa về từ địa phơng

đều thống nhất ở hai điểm Thứ nhất, Từ địa phơng là những từ bị hạn chế về phạm vi địa lý sử dụng Thứ hai, Từ địa phơng có sự khác biệt nhất định về ngữ

âm, từ vựng hay ngữ pháp so với ngôn ngữ toàn dân Tuy vậy mỗi tác giả có thể

nhấn mạnh một điểm nào đó trong định nghĩa của mình, nên việc vận dụng có thể

Trang 29

gặp khó khăn, nếu chỉ dựa vào một định nghĩa nh thế Chẳng hạn Nguyễn Văn Tu

đã nhấn mạnh đến tính chất riêng của từ địa phơng Cái riêng đó làm cho ngời của

địa phơng này không hiểu những từ của địa phơng khác ông viết: Từ địa phơng không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc về tiếng nói của một vùng nhất định Chúng mang sắc thái địa phơng Ngời của địa phơng này không hiểu những từ của địa phơng khác [33, tr.129] Trong thực tế, đi tìm những từ rất riêng và đóng

kín trong một vùng nhất định nh vậy thì số từ địa phơng thoả mãn tiêu chí đó quả thực không có nhiều Và rồi những từ nh trốc, cẳng, tru, heo, mần, nhởi, ngời

nhiều địa phơng khác nhau cũng hiểu, vậy có thể xem chúng là từ địa phơng hay không?

Một hớng định nghĩa khác nhìn từ góc độ của ngời biên soạn từ điển đó là cách nhìn của Phạm Văn Hảo Để có thể thu nạp và định nghĩa đợc từ địa phơng trong từ điển phổ thông, Phạm Văn Hảo cho rằng: Khác với một số biến thể vốn

là đơn vị trong cùng một hệ thống, từ ngữ địa phơng là loại biến thể gắn với một

hệ thống nằm ngoài hệ thống từ vựng tiếng Việt văn hoá Điều đó đảm bảo cho một phơng pháp định nghĩa phù hợp với chúng Định nghĩa qua từ có nghĩa tơng

đơng (trong tiếng Việt văn hoá) [12, tr 59] Nh vậy, theo tác giả, là từ địa phơng

thì phải có từ văn hoá tơng đơng về nghĩa Sự đối lập từ địa phơng với từ toàn dân

nh vậy là triệt để Song, trong thực tế có những từ do ngời của một địa phơng tạo

ra trên cơ sở chất liệu của ngôn ngữ dân tộc để chỉ những “đặc sản” riêng của vùng đó, do vậy, lớp từ này không có từ tơng ứng về nghĩa trong ngôn ngữ toàn dân Đó là những từ nh: sầu riêng, chôm chôm, măng cụt (Nam Bộ); nhút, cu đơ, chẻo (Nghệ Tĩnh), chè lam Vĩnh Lộc, Bánh gai Tứ Trụ (Thanh Hóa) v.v Nếu lấy

định nghĩa trên làm tiêu chí thu thập từ địa phơng thì lớp từ vựng này sẽ bị bỏ qua Phần đông các nhà nghiên cứu nh Nguyễn Quang Hồng, Hồng Dân, Trơng Văn Sinh, Nguyễn Nhã Bản, Nguyễn Thiện Chí, Trần Thị Ngọc Lang, Nguyễn Thiện Giáp v.v đều xem những từ nh trên là lớp từ riêng biệt, “đặc phơng ngữ” (từ dùng của Trơng Văn Sinh) của mỗi phơng ngữ

Trang 30

Mặt khác cũng cần phải thấy, qua thực tế nghiên cứu của Trần Thị Ngọc Lang [19], Hoàng Trọng Canh [6], không phải từ địa phơng nào cũng có từ toàn dân tơng ứng về nghĩa Nằm trong hệ thống phơng ngữ, từ địa phơng có thể có sự phát triển nghĩa, đợc ngời trong vùng dùng với thói quen riêng do đó nó có thể có những nghĩa khác với từ toàn dân Ví dụ: gấy và gái có sự tơng ứng ngữ âm, nhng gấy ngoài nghĩa nh gái chỉ con gái, gấy còn có nghĩa chỉ vợ; cũng vậy ló tơng

ứng với hai từ trong ngôn ngữ toàn dân là lúa (chỉ cây), thóc (chỉ hạt).

Một số nhà nghiên cứu, ngoài việc thừa nhận trong vốn từ ngữ địa phơng có một lớp từ riêng biệt có tính chất địa phơng nh trên còn thấy rằng có một lớp từ khác không bị bó hẹp phạm vi sử dụng chỉ trong một địa phơng cụ thể nên đã “nới lỏng” không gian tồn tại của từ địa phơng trong quan niệm của mình; điều này theo chúng tôi là phản ánh đúng thực tế hoạt động của phơng ngữ trong đời sống xã hội Có thể lấy định nghĩa của Nguyễn Thiện Giáp làm đại diện cho khuynh h-ớng này Trong giáo trình Từ vựng học tiếng Việt, ông đã viết Từ địa phơng là những từ đợc dùng hạn chế ở một hoặc một vài địa phơng Nói chung, từ địa ph-

ơng là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hằng ngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngôn ngữ văn học Cũng với cách nhìn

vừa bao quát vừa cụ thể, sát với thực tế phơng ngữ tiếng Việt, Nguyễn Quang Hồng trong bài viết Các lớp từ địa phơng và chức năng của chúng trong ngôn ngữ văn hoá tiếng Việt đã định nghĩa: Từ địa phơng là những đơn vị và dạng thức

từ ngữ của một ngôn ngữ dân tộc mà phạm vi tồn tại và sử dụng tự nhiên nhất của chúng chỉ hạn chế trong một vài vùng địa phơng nhất định Nh vậy, trong

định nghĩa này, tác giả vừa chú ý đến các kiểu loại từ địa phơng (là những đơn vị

và dạng thức từ ngữ của ngôn ngữ dân tộc) vừa chỉ ra phạm vi sử dụng (trong một vài vùng địa phơng) đồng thời cũng lu ý tới một đặc điểm quan trọng vốn diễn ra trong thực tế xét về phía ngời sử dụng, đó là cảm thức tự nhiên, quen thuộc không gợng gạo về mặt tâm lý, mang bản ngữ của ngời dùng (sử dụng tự nhiên nhất) Cái nhận cảm tự nhiên về địa phơng mà Nguyễn Quang Hồng nói tới cũng giống nh cái cảm thức quen thuộc của ngời Việt về những từ họ xem là “thuần Việt”, không thể diễn ra đợc bằng các thao tác, các căn cứ có tính chất khoa học để nhận diện

nó nhng lại vô cùng quan trọng đối với ngời điều tra phơng ngữ, nếu lại là ngời

Trang 31

thuộc địa phơng ấy thì đó là một lợi thế lớn Còn Hoàng Trọng Canh lại định nghĩa: Từ địa phơng là những đơn vị và dạng thức từ ngữ đợc sử dụng quen thuộc

ở một hoặc vài địa phơng nhất định có những nét khác biệt với ngôn ngữ toàn dân {6}.

Dựa trên những nét chính yếu trong quan niệm của các nhà nghiên cứu, và

đặc biệt là của GS.TS Nguyễn Nhã Bản, chúng tôi rút ra một cách hiểu chung nhất

và phổ biến nhất về từ địa phơng để làm cơ sở khảo sát và nghiên cứu về từ địa

ph-ơng nh sau: Từ địa phơng là những từ đợc sử dụng tự nhiên ở một địa phơng cụ thể có sự khác biệt với ngôn ngữ văn hóa hoặc địa phơng khác về ngữ âm và ngữ nghĩa.

Với cách hiểu nh vậy, khảo sát ngôn ngữ toàn dân ở bình diện khu vực dân c thể hiện, chúng tôi thu thập những đơn vị từ ngữ xuất hiện ở địa bàn dân c Thanh Hóa thoả mãn hai điều kiện: 1- Có sự khác biệt ít nhiều (hoặc hoàn toàn) với ngôn

ngữ toàn dân (về ngữ âm, ý nghĩa) 2- Những từ ngữ có sự khác biệt đó đợc ngời Thanh Hóa quen dùng một cách tự nhiên

Những từ ngữ thu thập ở địa bàn Thanh Hóa nh vậy, chúng tôi gọi một cách

có tính chất ớc định là từ ngữ địa phơng Thanh Hóa Tập hợp các từ địa phơng

đó lại ta có vốn từ địa phơng Thanh Hóa Trên cơ sở của vốn từ thu thập đợc cho

phép chúng tôi nghiên cứu đặc điểm các lớp từ

Với những điều đã trình bày nh trên, đến đây có thể nói gọn lại rằng: “Từ

địa phơng Thanh Hóa ” đợc dùng ở khóa luận này là để chỉ những từ tồn tại ở Thanh Hóa (chứ không phải mang tính Thanh Hóa), đợc dùng quen thuộc ở địa phơng Thanh Hóa, có những nét khác biệt so với ngôn ngữ toàn dân nên nó có sắc thái địa phơng Cũng có nghĩa là chúng tôi đi tìm sự biểu hiện của Tiếng Việt – ngôn ngữ dân tộc ở địa bàn c dân Thanh Hóa – với những nét khác biệt của nó

so với từ ngữ toàn dân

ở trên, chúng tôi đã cố gắng trình bày những nét cơ bản về quy luật biến

đổi và lan truyền của ngôn ngữ và những nhân tố hình thành phơng ngữ để có cái nhìn cụ thể về không gian và thời gian lịch sử của tiếng Việt nói chung, vùng Thanh Hóa nói riêng, cho phép khẳng định tính tồn tại hiện thực của phơng ngữ Thanh Hóa trong vùng phơng ngữ Bắc Trung Bộ Đó cũng là cơ sở cho phép xác

Trang 32

định đối tợng và phơng pháp nghiên cứu khoa học phù hợp có thể đi vào những vấn đề cụ thể ở chơng 2.

Chơng 2

Đặc điểm từ địa phơng Thanh Hóa

Trang 33

Là từ địa phơng nên các đặc điểm của từ chỉ đợc hiện lên qua các miêu tả so sánh với từ toàn dân và từ của phơng ngữ khác Nh mục đích đã xác định trong phần mở đầu, chơng này, khóa luận nhằm chỉ ra những đặc điểm của từ địa phơng Thanh Hóa về âm và nghĩa Đặt trong so sánh với từ toàn dân và từ địa phơng Nghệ Tĩnh, các đặc điểm đợc miêu tả cũng chính là những khác biệt của từ địa ph-

ơng Thanh Hóa so với từ toàn dân và từ địa phơng Nghệ Tĩnh Trên các bình diện chủ yếu - các phơng diện quan trọng của từ và vốn từ, đặc điểm từ địa phơng Thanh Hóa đợc phân tích miêu tả, bức tranh toàn cảnh về từ vựng - ngữ nghĩa ph-

ơng ngữ Thanh Hóa vì vậy cũng đợc hiện rõ

Phơng ngữ Thanh Hóa, nh đã nói ở chơng 1, là phơng ngữ chuyển tiếp giữa phơng ngữ Bắc và phơng ngữ Trung Các từ ngữ vừa có quan hệ gắn bó trong nội

bộ vốn từ địa phơng, vừa có quan hệ chặt chẽ với hệ thống vốn từ toàn dân ở đây, khóa luận chỉ đi vào nhận xét đặc điểm từ địa phơng Thanh Hóa về mặt ngữ âm và ngữ nghĩa, thông qua so sánh, đối chiếu với vốn từ toàn dân và vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh Nh chúng ta đã biết, khi nghiên cứu từ vựng, ngời ta phải chú ý đến

đặc điểm toàn diện của từ Nhng vì vốn từ địa phơng Thanh Hóa không phải là một hệ thống tách biệt với vốn từ toàn dân, cũng nh vốn từ trong vùng Bắc Trung

Bộ, khi nghiên cứu từ địa phơng Thanh Hóa không thể nghiên cứu một cách riêng

rẽ, biệt lập

Qua so sánh, đối chiếu với từ của ngôn ngữ toàn dân và từ địa phơng Nghệ Tĩnh, vấn đề đặc điểm từ địa phơng Thanh Hóa sẽ đợc khảo sát, miêu tả nh là đối tợng trung tâm Trớc hết có thể mô tả mặt biểu hiện bên ngoài, có tính chất định l-ợng về vốn từ phơng ngữ Thanh Hóa so với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh

2.1 Diện mạo vốn từ địa phơng Thanh Hóa qua các loại từ xét

về cấu tạo

Từ các nguồn khảo sát t liệu, bớc đầu chúng tôi đã thu thập đợc từ địa phơng Thanh Hóa là 4.800 từ, gồm các loại từ khác nhau tạm gọi đó là vốn từ địa phơng

Trang 34

Thanh Hóa Nếu phân chia vốn từ này căn cứ theo số lợng âm tiết tạo nên từ thì ta

có kết quả: số lợng từ đa tiết nhiều hơn từ đơn tiết Cụ thể: Từ đa tiết có số lợng là 3.840 từ (chiếm 80%), từ đơn tiết chỉ có 960 từ (chếm 20%) Trong khi đó vốn từ

địa phơng Nghệ Tĩnh, theo phân tích của tác giả Hoàng Trọng Canh trong Luận án Tiến sĩ [6] thì từ đa tiết cũng nhiều hơn từ đơn tiết, nhng không chênh lệch nh ở từ

địa phơng Thanh Hóa Cụ thể: từ đa tiết trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh có số lợng là 3.412 từ (chiếm 55,1%), còn từ đơn tiết có số lợng là 2.776 từ (chiếm 44,9%) Nh vậy, số lợng từ địa phơng Nghệ Tĩnh không những phong phú hơn mà số lợng từ

đơn tiết cũng cao hơn Số lợng từ đơn tiết trong tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh có tỉ lệ cao hơn tiếng địa phơng Thanh Hóa chứng tỏ lớp từ gốc, lớp từ cặn còn đợc bảo lu nhiều hơn tiếng địa phơng Thanh Hóa Đó cũng là dấu hiệu đầu tiên cho thấy từ

địa phơng Nghệ Tĩnh cổ hơn; từ địa phơng Thanh Hóa có lớp từ đa tiết cao nh vậy chứng tỏ đây là lớp từ phái sinh về sau có sự khác biệt với từ toàn dân

Xét cụ thể hơn, về tỉ lệ các loại từ trong từ đa tiết địa phơng Thanh Hóa thì số lợng từ ghép gấp 5,15 lần so với từ láy Còn trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, số lợng

từ ghép gấp 4,78 lần từ láy Cụ thể, trong vốn từ địa phơng Thanh Hóa, số lợng từ ghép là 3.216 đơn vị, chiếm 38,75% từ đa tiết, số lợng từ láy là 624 đơn vị, chiếm 16,25% từ đa tiết Còn ở vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh, số lợng từ ghép là 2.822 đơn

vị, chiếm 82,7% từ đa tiết, số lợng từ láy là 590 đơn vị, chiếm 17,3% từ đa tiết

Nh vậy, có thể thấy rằng, về tỉ lệ giữa các loại từ trong từ đa tiết, vốn từ địa phơng Thanh Hóa chiếm tỉ lệ gần tơng đơng với vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh So sánh các loại từ trong lớp từ đa tiết giữa hai phơng ngữ, chúng tôi thấy số lợng từ ghép của hai phơng ngữ đều cao hơn nhiều so với từ láy Nhng ở phơng ngữ Thanh Hóa thì sự cách biệt giữa hai loại từ cao hơn, chênh lệch hơn so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh Cụ thể, từ ghép địa phơng Thanh Hóa so với từ láy chiếm tỉ lệ cao hơn

so với tỉ lệ giữa từ ghép với từ láy trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh So sánh ba loại từ phơng ngữ, điều khác biệt rõ nhất là từ đơn của phơng ngữ Thanh Hóa chiếm tỉ lệ thấp hơn so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh, điều đó cũng chứng tỏ rằng, các yếu tố cổ của tiếng Việt đợc bảo lu trong phơng ngữ Thanh Hóa là ít hơn so với phơng ngữ Nghệ Tĩnh Nói cách khác, vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh còn bảo lu nhiều yếu tố

cổ, yếu tố gốc của tiếng Việt hơn phơng ngữ Thanh Hóa Điều này có thể lí giải vì

Trang 35

phơng ngữ Thanh Hóa có vị trí địa lí gần kề với vùng tiêu biểu - đại diện cho ngôn ngữ toàn dân (ngôn ngữ Bắc Bộ) Cho nên, vốn từ đơn địa phơng Thanh Hóa do chúng tôi khảo sát, thu thập phải chăng vì thế cũng ít hơn nhiều so với từ đơn ph-

ơng ngữ Nghệ Tĩnh (960/ 4.800 từ so với 2776/ 6.118 từ)

Số lợng và tỉ lệ các loại từ đợc thể hiện qua bảng sau:

Bảng 1: Các loại từ địa phơng Thanh Hóa (phân theo cấu tạo).

2.2 Đặc điểm ngữ âm của từ địa phơng Thanh Hóa

ở đề tài này, chúng tôi không miêu tả hệ thống ngữ âm tiếng Thanh Hóa, xem ngữ âm tiếng Thanh Hóa nh là một đối tợng khảo sát độc lập; nghĩa là không trình bày từng đặc trng ngữ âm, nêu lên sự có mặt hay không có mặt của đặc trng

đợc miêu tả; cũng không miêu tả ngữ âm phơng ngữ Thanh Hóa thành một hệ thống âm vị nh một công trình nghiên cứu ngữ âm thờng thấy mà chỉ xem ngữ âm

ở đây nh là mặt hình thức của từ địa phơng trong quan hệ so sánh với nghĩa từ địa phơng tơng ứng Nói cụ thể hơn, ở đề tài này chúng tôi chủ yếu miêu tả và nêu lên các dạng biến thể ngữ âm của từ trong phơng ngữ Thanh Hóa có sự tơng ứng ngữ

âm với từ toàn dân

2.2.1 Những tơng ứng phụ âm đầu

Trang 36

Đối chiếu với từ ngữ trong ngôn ngữ toàn dân, chúng tôi thấy, trong vốn từ

địa phơng Thanh Hóa có một số lợng từ khá lớn có quan hệ tơng ứng phụ âm đầu với từ toàn dân, có 43 kiểu tơng ứng sau:

- Tơng ứng: : me - (con) bê, (ốc) mơu - (ốc) bơu; mống

v, b - (cầu) vồng, mấn - váy, mú - vú

- Tơng ứng : n - d: nệm- đệm

η

- Tơng ứng : :

c;k ngán – chán, ngần ngừ – chần chừ; ngành – cành, ngạp – cạp, ngoeo – queo, ngoeo ngoắt – queo quắt, ngoèo – quèo, ngoặt – quặt

t'

- Tơng ứng : :

n,v,t,ʐ,s, ş 

Trang 37

thÌ (c¬m) - nhÌ (c¬m); thÊt thëng - vÊt vëng, thÑo - vÑo; (mét) thÝ - (mét) tÝ, thÝ thÑo - tÝ tÑo; thèt - dét, thæ (em) - dç (em); thoa (®Çu) - xoa (®Çu); th©u - s©u, thÑo - sÑo.

- T¬ng øng: v - b: ve - be, vÊu - bÊu

TiÒu (ga) - diÒu (gµ), tÐm (ch¨n) - dÐm (ch¨n); tÊp (ngâ) - rÊp (ngâ), (con) tÝt

- (con) rÕt, (con) t¾n - (con) r¾n

Trang 38

Nhìn qua sự liệt kê trên, chúng tôi thấy đợc sự đối ứng phức tạp giữa phụ âm

đầu từ địa phơng Thanh Hóa với từ toàn dân Sự tơng ứng ở đây không chỉ xảy ra theo tơng quan 1/1 mà còn xảy ra theo tơng quan 1/ hơn 1

Đối chiếu với miêu tả của tiến sĩ Hoàng Trọng Canh trong luận án của mình [6] về tơng ứng phụ âm đầu giữa từ địa phơng Nghệ Tĩnh với từ toàn dân, chúng tôi thấy những tơng ứng phụ âm đầu giữa từ địa phơng Thanh Hóa với từ toàn dân

nh miêu tả trên là giống với những tơng ứng phụ âm đầu từ địa phơng Nghệ Tĩnh

so với từ toàn dân Song sự khác nhau là ở chỗ, ở tiếng Nghệ Tĩnh, sự tơng ứng phụ âm đầu với từ toàn dân xảy ra ở nhiều cặp hơn, số lợng từ tơng ứng trong mỗi cặp phong phú hơn Cũng theo miêu tả của tiến sĩ Hoàng Trọng Canh, thì từ địa phơng Nghệ Tĩnh có 45 kiểu tơng ứng phụ âm đầu Còn ở từ địa phơng Thanh Hóa theo khảo sát của chúng tôi, số cặp tơng ứng phụ âm đầu ít hơn, có 43 cặp Ngoài

43 kiểu tơng ứng nh đã miêu tả, giống 43 kiểu tơng ứng phụ âm đầu ở từ địa

ph-ơng Nghệ Tĩnh, từ địa phph-ơng Thanh Hóa có một số tph-ơng ứng sau đây không gặp hoặc chỉ xảy ra ở một vài từ trong phơng ngữ Nghệ Tĩnh, đó là:

Nh vậy, qua miêu tả và so sánh với phơng ngữ Nghệ Tĩnh về tơng ứng phụ âm

đầu, chúng ta thấy, tuy phơng ngữ Thanh Hóa có một vài tơng ứng phụ âm đầu giống Bắc Bộ nhng chỉ xảy ra trong một vài thổ ngữ, phổ biến rộng khắp là các t-

Trang 39

ơng ứng phụ âm đầu của từ địa phơng Thanh Hóa với phụ âm đầu từ toàn dân giống với các tơng ứng phụ âm đầu trong từ địa phơng Nghệ Tĩnh so với từ toàn dân Sự khác nhau chỉ là ở chỗ, theo các cặp tơng ứng, số từ tơng ứng phụ âm trong tiếng địa phơng Nghệ Tĩnh thờng nhiều hơn, phổ biến hơn, ở phơng ngữ Thanh Hóa có những cặp tơng ứng chỉ xảy ra ở một vài từ (ví dụ tr - l: trém - lém)

Rõ ràng về tơng ứng phụ âm đầu, từ địa phơng Thanh Hóa giống Nghệ Tĩnh hơn là Bắc Bộ

2.2.2 Những tơng ứng phần vần

Những tơng ứng về phần vần của từ địa phơng Thanh Hóa so với từ toàn dân

là rất nhiều ở đây xin đợc liệt kê theo t liệu chúng tôi đã khảo sát và thu thập ợc

đ-Dựa vào cách kết thúc vần ta thấy 4 loại vần trong ngôn ngữ toàn dân đều có mặt trong phơng ngữ Thanh Hóa Vần của từ phơng ngữ Thanh Hóa có những kiểu tơng ứng phổ biến với vần từ toàn dân nh sau:

- Loại vần khép của từ địa phơng Thanh Hóa tơng ứng với vần khép của từ toàn dân gồm có những vần và từ sau:

ot-at: hột- hạt;εk-ek, lạch - lệch;ak-Шγk: nác-nớc;ut-uot: vút - vuốt, bút - buốt;Шp-γp: cựp rựp - cập rập;it-iet: kít - kiết, ti - tiết, bít

- biết;γp-ăp: gập - gặp, cập - cặp;γk-Шk: cậc - cực, bậc - bực

ở loại vần khép của từ địa phơng Thanh Hóa tơng ứng với từ toàn dân, so sánh với từ địa phơng Nghệ Tĩnh ta thấy: phần lớn các vần đều giống nhau (5/7), chỉ có một số vần phơng ngữ Thanh Hóa có tơng ứng với ngôn ngữ toàn dân mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có và ngợc lại Đó là: it -iet;γp - ăp.Phơng ngữ Nghệ Tĩnh có hai vần tơng ứng với vần từ toàn dân mà phơng ngữ Thanh Hóa không có, đó là: ut - ot: đút - đốt;it - Шt: bít - bứt

Nh vậy, có thể kết luận, ở loại vần khép tơng ứng vần khép từ toàn dân, từ địa phơng Thanh Hóa và từ địa phơng Nghệ Tĩnh phần lớn có các vần đều giống nhau

- Loại vần nửa khép của từ địa phơng Thanh Hóa tơng ứng với vần nửa khép của từ toàn dân gồm có những vần sau:

Trang 40

ɔŋ-oŋ: đòng - đồng, cọng - cộng;aŋ-γŋ-Шγŋ: đàng - đờng - ờng;γn-an: đờn - đàn;εŋ -eŋ : gành (thác) - ghềnh (thác);un-on: khun - khôn;oŋ-ɔ:ŋ- ɔŋ: nống - noong - nong; γŋ-Шŋ: mầng - mừng;

đ-Шn-γn: chn - chân;iŋ -in:chính (cây) - chín (cây); ien-in-uien: kiền (thế) - kìn (thế) - quyền (thế); Шm-γm:tm - tâm; γŋ-Шγŋ:giờng - gi-ờng;iŋ-ieŋ:tíng - tiếng

Cũng so sánh tơng tự, ở loại vần nủa khép chúng ta thấy, các vần nửa khép của từ địa phơng Thanh Hóa tơng ứng với vần nửa khép từ toàn dân so với vần nửa khép trong vốn từ địa phơng Nghệ Tĩnh tơng ứng với vần nửa khép từ toàn dân giống nhau là không nhiều Chỉ có 12 cặp tơng ứng trên tổng số 16 cặp tơng ứng vần nửa khép là giống nhau Số lợng vần khác nhau cũng tơng đơng với số lợng vần giống nhau Cụ thể: từ địa phơng Thanh Hóa có 4 vần nửa khép tơng ứng với vần nửa khép của từ toàn dân mà phơng ngữ Nghệ Tĩnh không có là:ing-

iêng; inh-in;iên-in-uyên;m-âm Ngợc lại, phơng ngữ Nghệ Tĩnh có 12 vần nửa khép tơng ứng với vần nửa khép từ toàn dân mà phơng ngữ Thanh Hóa không có là:uông - ông: cuông - cong;ăng - an: dăng (díu) - dan (díu);ơm - yêm: ớm - yếm; anh - iêng: mánh - miếng; ơm - âm: mơn - mâm;ơng- ang: nờng - nàng;ong - uông:rọng - ruộng; oen - en: thoen - then; oan - uyên: toàn - tuyền;oan - uân: xoan - xuân;in - ân: chin - chân;

eng - iêng: méng - miếng

Nhìn vào liệt kê trên ta thấy sự tơng ứng giữa vần khép và nửa khép của

ph-ơng ngữ Thanh Hóa với ngôn ngữ toàn dân khá phong phú và có quy luật chặt chẽ Xét về cuối vần, chúng cùng có phơng thức giống nhau Đồng thời phụ âm kết thúc hai vần đều cùng phơng thức cấu âm, thậm chí phần lớn các trờng hợp đó đều

có cùng một phụ âm kết thúc giống nhau Những hiện tợng nh mũi (của vần nửa khép) cũng là hai vần tơng ứng - phía cuối vần, cách kết thúc chỉ đợc phép dịch chuyển (chặt hay lỏng mà thôi)

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:35

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Các loại từ địa phơng Thanh Hóa (phân theo cấu tạo). - Đặc điểm từ địa phương thanh hoá
Bảng 1 Các loại từ địa phơng Thanh Hóa (phân theo cấu tạo) (Trang 35)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w