1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm thơ nữ nghệ an từ 1986 đến nay

109 464 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay
Tác giả Nguyễn Thị Huyền
Người hướng dẫn TS. Lờ Thị Hồ Quang
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 515 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xứ Nghệ là vùng giàu truyền thống văn hóa cách mạng, là mảnh đất với vẻ đẹphùng vĩ hiền hòa: Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ, Ai vô xứ Nghệ thì vô Con

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh

Trang 2

tỏ lòng cảm ơn chân thành sâu sắc tới TS Lê Thị Hồ Quang - Người đã hướng dẫn tôi

hoàn thành luận văn này Đặc điểm thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay là cả một chặng

đường dài, có bề dày, có tầm vóc, nhưng do thời gian và do khả năng của bản thân, chắcchắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp,nhận xét chân tình của các thầy cô giáo và các bạn

Vinh, tháng 12 năm 2010

Tác giả

Trang 3

MỤC LỤC

Trang

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 5

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

5 Phương pháp nghiên cứu 6

6 Đóng góp của luận văn 6

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1: Nhìn chung về sáng tác của các nhà thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay 7

1.1 Những điều kiện lịch sử - thẩm mĩ dẫn đến sự đổi mới trong thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay 7

1.1.1 Những điều kiện lịch sử - xã hội mới 1

1.1.2 Con người và văn hóa xứ Nghệ 8

1.1.3 Truyền thống thơ ca xứ Nghệ 12

1.1.4 Những đổi mới trong tư duy thơ Việt Nam sau 1986 16

1.2 Thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay – khái lược diện mạo 24

1.2.1 Nhìn chung về thơ nữ Nghệ An trước 1986 24

Trang 4

1.2.2 Sáng tác của các tác giả nữ Nghệ An từ 1986 đến nay 25

Chương 2: Những đổi mới trong hệ đề tài, chủ đề của thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay 28

2.1 Sự thể hiện cái tôi ngày một đa diện và sâu sắc 28

2.2 Sự mở rộng phạm vi mô tả hiện thực 34

2.3 Đào sâu vào chủ đề tình yêu và khát vọng hạnh phúc lứa đôi 43

2.4 Chú ý khắc họa hình tượng Đất và Người xứ Nghệ 52

Chương 3: Những đổi mới trong phương thức thể hiện của thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay 60

3.1 Thể loại 60

3.2 Giọng điệu 74

3.3 Ngôn ngữ thơ 81

Kết luận 97

Tài liệu tham khảo 99

Trang 5

1.2 Cho đến nay thơ Nghệ An nói chung, thơ nữ nói riêng đã trở thành đối tượngkhám phá của nhiều nhà nghiên cứu, nhà phê bình Thơ nữ Nghệ An đã được bàn luận

từ nhiều góc độ khác nhau: thể loại, tác giả, tác phẩm,… Tuy vậy, đấy phần lớn mới lànhững bài viết nhỏ lẻ mà chưa có một công trình nào thật công phu, nghiên cứu mộtcách toàn diện, có hệ thống về các nhà thơ Nghệ An Do đó, thơ nữ Nghệ An cần đượcnghiên cứu một cách có hệ thống và kỹ lưỡng hơn Đây là lí do thứ hai khiến chúng tôilựa chọn đề tài nghiên cứu này

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Tính đến thời điểm hiện nay, ngoài những bài giới thiệu đánh giá mang tính kháiquát, sơ lược, chưa có một công trình khoa học nào nghiên cứu về sáng tác của các nhà

Trang 6

thơ nữ Nghệ An một cách hệ thống và toàn diện Theo tìm hiểu của chúng tôi, về vấn đềnày, mới chỉ có một số bài phê bình của các tác giả như Vân Anh, Thạch Quỳ, NguyễnTrọng Tạo, Nguyễn Văn Hùng… Vì vậy, để tiện theo dõi, trong phần lịch sử vấn đềchúng tôi sẽ trình bày theo hai vấn đề: thứ nhất là lịch sử nghiên cứu về thơ nữ Nghệ Annói chung; thứ hai là lịch sử nghiên nghiên cứu về một số nhà thơ nữ Nghệ An cụ thể

2.1 Về thơ nữ Nghệ An nói chung

Tất cả những bài viết mang tính giới thiệu, nhận xét, phát hiện riêng về thơ Nghệ

An nói chung, thơ nữ nói riêng đã được tuyển tập trong Nghiên cứu lý luận phê bình thơ

Nghệ An 1900 – 1996 và Nghiên cứu lý luận phê bình thơ Nghệ An 1997 – 2002 Các bài

viết trong hai cuốn sách này giúp chúng ta cảm nhận được phần nào diện mạo, bản sắccủa thơ ca xứ Nghệ nhưng các bài viết chỉ mới dừng lại ở những đánh giá ban đầu, còntản mạn và thiếu hệ thống

Năm 1999, tại cuộc hội thảo “Thơ và những vấn đề của thơ hôm nay” đã xuất

hiện nhiều bài viết, nhiều đánh giá về thơ xứ Nghệ Trong đã bài viết Thơ hôm nay bạn

đọc và phê bình theo Nguyễn Văn Hùng, sau những năm đất nước bước vào thời kỳ đổi

mới, lực lượng thơ Nghệ An khá chững chạc và sung sức

Năm 1999, các tác giả Vân Anh, Nguyễn Văn Hùng, Đào Tam Tỉnh trong Thơ nữ

Nghệ An đã viết: “Trong nền thi ca dân tộc, đã có bao chân dung tác giả khả dĩ ở đó

chúng ta có thể nhận ra được không ít gương mặt thân quen – những cây bút nữ NghệAn” [5, 5]

Năm 2004, tác giả Hoàng Thúy Hà với luận văn thạc sĩ Đặc điểm ngôn ngữ thơ

của các nữ tác giả Nghệ An đã đưa lại một cái nhìn khá bao quát về ngôn ngữ thơ của

các tác giả nữ xứ Nghệ Theo tác giả, “thơ nữ Nghệ An ngắt dòng chủ yếu là các câu thơ

có tiếng không cố định, tạo nên nhịp điệu ngôn ngữ thơ xứ Nghệ mới mẻ, không đềuđặn, thể hiện tính cách xứ Nghệ cá tính bí ẩn, khó nắm bắt” [20, 26]

Năm 2004, tác giả Bùi Thanh Xuân trong luận văn thạc sĩ Cái tôi trữ tình trong

thơ Nghệ An giai đoạn 1975 - 2000, đã phân tích, mô tả khá cụ thể về diện mạo cái tôi

Trang 7

trữ tình trong thơ Nghệ An giai đoạn này Theo tác giả, "Việc đi sâu vào thế giới cái tôicùng với sự giải phóng cá tính đã tạo cho thơ sự phong phú, đa dạng trên nhiều cấp độthể loại Thế nhưng những thể nghiệm của cái tôi trữ tình trong thơ Nghệ An giai đoạn

1975 - 2000 vẫn chưa thực sự định hình và giàu sức thuyết phục Thơ ca còn mang tínhnhàn nhạt, cái tôi trữ tình chưa thực sự bộc lộ được gương mặt thơ độc đáo, chưa tạođược một phong trào thơ ca tiêu biểu cho thời đại…" [70, 33]

Năm 2008, tác giả Vũ Thị Đông với luận văn thạc sĩ Thơ Nghệ An giai đoạn1986

-2006 cho rằng: "Thơ ca Nghệ An giai đoạn này tương đối phong phú, nó đã thể hiện

một cách trung thực muôn mặt cảm xúc của cuộc sống đời thường Đó là nỗi niềm nhântình thế thái, là tình yêu lứa đôi, tình yêu quê hương gia đình…" [13, 67]

Nhìn chung, trong phần lớn các công trình, bài viết kể trên, thơ nữ Nghệ An chưatrở thành một đối tượng nghiên cứu độc lập Như vậy, dù đứng ở góc độ nào để đánh giáthì chúng ta cũng nhận thấy, thơ nữ Nghệ An chưa được tìm hiểu, đánh giá, xem xét một

cách thỏa đáng Vì vậy với luận văn Đặc điểm thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay, chúng

tôi mong muốn góp thêm một tiếng nói khám phá thơ xứ Nghệ, góp phần khẳng địnhđặc điểm, vị trí của nó trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam đương đại

2.2 Về một số nhà thơ nữ Nghệ An cụ thể

Tuyết Nga là một nhà thơ nữ Nghệ An có diện mạo riêng, đặc sắc Với một bútpháp mới mẻ, một trí tưởng tượng phong phú kết hợp với độ mãnh liệt của cảm xúc, thơ

chị đã sớm được độc giả cũng như giới chuyên môn đánh giá cao Bài viết Người thơ

một mình góc khuất của Bình Nguyên Trang (An ninh thế giới – số 14, 2003) đã có

những nhận xét khá tinh tế về thơ Tuyết Nga: “Thơ Tuyết Nga dù không gây sốc nhưnglại có khả năng len lỏi trong trí nhớ người đọc bằng sự tinh tế và đằm sâu của một tâmhồn thành thật, không xiêm áo, cầu kỳ Thơ của chị giống như hương của một loài hoarất khiêm nhường ẩn sâu trong đám lá, cần tri âm của những người đủ bình tĩnh trongcuộc kiếm tìm” [62, 14]

Trang 8

Tiếp đã là bài viết Thơ Tuyết Nga - Ảo giác vết thương chìm trên báo Văn nghệ số

22 ra ngày 31/5/2003 của Nguyễn Trọng Tạo Tác giả cho rằng: “Thơ Tuyết Nga thườngbuốt nhói những cái rùng mình của một tâm hồn đa cảm: từng trải mà ngây thơ, khátkhao và tuyệt vọng, thông minh và dại khờ, khắt khe mà vị tha, trong trẻo mà cuộn xiết.Đấy là thơ của người biết hóa thân vào con chữ để hiện ra hình ảnh của chính mình, haynói cách khác, người thi sĩ biết đứng lặng lẽ ở ngoài thơ để nhìn ngắm và ngẫm ngợi vềbản thân mình hiện diện trong thơ” [50, 25]

Vân Anh cũng là một tác giả nữ đáng chú ý của thơ Nghệ An Nhà thơ ThạchQuỳ cho rằng: “Vân Anh là tác giả có dấu vân tay điểm chỉ vào giấy khai sinh tác phẩm.Vân tay không phải là “hoa tay” theo quan điểm hình sự Nhưng thơ, vân tay chính làhoa tay ghi đậm dấu ấn tâm hồn tác giả” [173, 7] và “Như cụ Nguyễn Du nói, vậy làVân Anh đã mang lấy nghiệp vào thân Gốc cội đa truân tiền kiếp của tâm hồn đa cảmthuộc cái “ren” cái “nòi” mà ta thường gọi là thi sĩ Mơ ước và thương tổn là hai bầu vúsữa nuôi lớn những câu thơ của nữ sĩ Vân Anh …” [53, 8]

Nguyễn Thị Phước cũng là một gương mặt tác giả tiêu biểu của thơ Nghệ An.Trong thơ của Nguyễn Thị Phước đã “Tận dụng được những phẩm chất vốn có của vănxuôi Nó trực tiếp, giản đi những từ ngữ nhiều khi chỉ làm nhiệm vụ tạo âm điệu dudương, vốn quen nhàm trong thơ lâu nay Bộc bạch thẳng thắn giúp thơ của chị vượtqua cái “sáo”đến với cái thực của tình nơi trái tim tâm hồn” [Theo Nguyễn Thiết – Tạpchí sông Lam số 73/2 – 2006, trang 61]

Nhà thơ Thạch Quỳ cho rằng, trong thơ Cẩm Thạch mặc dù “Ở thời điểm thơđang được thôi thúc bởi tiếng gọi của Cái Mới, dường như Cẩm Thạch vẫn hồn nhiêndung dị trong vẻ đẹp hướng tới của thơ mình Chị không thiên về cái tứ của toàn bài,không cố tình nói một tiếng nói mới lạ trong kết cục, thơ chị “hồn nhiên nhi nhiên” đốicảnh sinh tình” [5, 52]

Trang 9

Nguyễn Quang Hà cho rằng “Khi đọc tập thơ Tình bậc thang, tôi chọn ra những

câu thơ khá hơn ở 30 bài thơ, khi sắp xếp lại, bỗng dưng thấy ra cái tứ: những câu thơ đitìm cuộc đời” [9, 17]

Như vậy, dù đứng ở góc độ nào để đánh giá thì chúng ta cũng nhận thấy thơ nữNghệ An chưa được tìm hiểu, đánh giá, xem xét một cách thỏa đáng Để khẳng địnhđược tầm vóc của thơ nữ Nghệ An chúng ta cần phải có những công trình dài hơi hơn

nữa Vì vậy, chúng tôi mạnh dạn đi vào đề tài Đặc điểm thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến

nay, để góp thêm một tiếng nói khám phá thơ xứ Nghệ, góp phần khẳng định những

thành tựu của thơ nữ Nghệ An trong dòng chảy của thơ ca đương đại Việt Nam

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đặc điểm thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Do thời gian và phạm vi luận văn nên chúng tôi chỉ tập trung vào nghiên cứumột số tác giả, tác phẩm tiêu biểu của thơ ca Nghệ An nói chung, thơ nữ Nghệ An nóiriêng đã được xuất bản như:

Các tuyển tập thơ: Thơ Nghệ An 2004 – 2006; Thơ Nghệ An 2007.

Các tập thơ của các tác giả nữ :

Tuyết Nga với các tập thơ: Viết trước tuổi mình, Ảo giác, Hạt dẻ thứ tư.

Vân Anh với các tập thơ: Trái muộn, Quê với mẹ và anh, Bình minh muộn, Vọng

về xứ Phuống, Con sóng khát

Nguyễn Thị Phước với các tập thơ: Tự ru, Lời cánh đồng, Cho đồng thơm gió Cẩm Thạch với các tập thơ: Giá như em là biển, Mùa Chăm Pa, Tình khăn piêu Phạm Thái Lê với tập thơ: Đêm thức

Trần Thu Hà với các tập thơ: Tình bậc thang, Mặt cắt, Trái đất tự quay

Trần Thúy Hà với tập thơ: Vầng trăng trong mắt anh

Phạm Mai Chiên với tập thơ: Hát với bầu trời

Trang 10

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Luận văn có những nhiệm vụ chính sau đây:

4.1 Tìm hiểu khái quát về thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay (về bối cảnh lịch sử thẩm mĩ, lực lượng sáng tác…)

4.2 Tìm hiểu đặc điểm nội dung trong thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay

4.3 Tìm hiểu đặc điểm hình thức trong thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu trên đây, chúng tôi sử dụng các phương pháp sau:phương pháp thống kê phân loại, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích tổnghợp, phương pháp cấu trúc – hệ thống, phương pháp lôgic – lịch sử…

6 Đóng góp của luận văn

Luận văn nghiên cứu Đặc điểm thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay một cách tương

đối bao quát và hệ thống

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn được triển khai qua 3chương:

Chương 1: Nhìn chung về sáng tác của các nhà thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay Chương 2: Những đổi mới trong đề tài, chủ đề của thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến

nay

Chương 3: Những đổi mới trong phương thức thể hiện của thơ nữ Nghệ An từ

1986 đến nay

Trang 11

1.1.1 Những điều kiện lịch sử - xã hội mới

Nghệ An là một vùng đất cổ Trong quá trình đấu tranh dựng nước và giữ nước,Nghệ An đã cùng với cả dân tộc băng qua giông bão và máu lửa để tồn tại và phát triển.Nhiều biến cố lịch sử trọng đại đã để lại nhiều dấu ấn đậm nét ở mảnh đất xứ Nghệ này.Theo thời gian, khi yên bình, lúc sục sôi, lịch sử Nghệ An luôn biểu thị sự nỗ lực rất caocủa một cộng đồng đa dân tộc, quật cường và bền bỉ Triều đại nào người ta cũng thấyNghệ An là chốn hy vọng của thời loạn, là nơi nương tựa của thời trị Trong cuộc chiếnđấu chống giặc, giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc, Nghệ An trở thành vùng chiếnlược quan trọng của đất nước Nơi đây đã có lúc là bãi chiến trường, là chỗ dựa lúcphòng thủ, là “nơi đúng chân” để tích lũy lực lượng, là nơi xuất phát của cuộc tiến công

áp đảo quân thù Với tấm lòng yêu nước thiết tha, với cảm nhận sâu sắc vận mệnh đấtnước, với khát vọng giải phóng cao cả, nhân dân Nghệ An đã từng chấp nhận sự chiếnđấu hy sinh, đã từng nếm mật nằm gai với Lê Lợi – Nguyễn Trãi để lập nên chiến cônghiển hách trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, đã từng nhanh chóng bổ sung 5vạn quân cho Quang Trung, hành quân thần tốc ra Bắc, tiêu diệt 29 vạn quân Thanhxâm lược

Trang 12

Chiến thắng mùa Xuân năm 1975 đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sửdân tộc Việt Nam Từ đây dân tộc ta bước vào một thời đại mới với những thay đổi tolớn về đời sống xã hội đẫn đến sự thay đổi rõ rệt trong đời sống văn học, trong đó có thơca.

Hiện thực xã hội thời hậu chiến đã có ảnh hưởng to lớn đối với sự nghiệp sáng táccủa các nhà thơ nói chung và thơ nữ nói riêng, sự đổi mới trong sáng tác đã trở thànhnhu cầu tất yếu của các nhà thơ Đặc biệt, Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI(1986) đã mở ra một trang mới cho lịch sử đất nước nói chung và văn học nghệ thuậtnói riêng Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa của đất nước đã có tác động rất lớnđến sự nghiệp sáng tác của các nhà thơ Như vậy, chỉ có trong thời kỳ xã hội đổi mớihiện nay cá nhân mới có cơ hội thực sự phát triển hài hòa với ý thức cộng đồng xã hộichủ nghĩa Đây cũng là thời kỳ nở rộ của các phương tiện thông tin đại chúng: phátthanh, truyền hình, Internet… đã tạo điều kiện thuận lợi để các nhà thơ nữ Nghệ An bộc

lộ rõ ý thức cá nhân, tạo nên những thay đổi tích cực trong diện mạo nghệ thuật của họ Nghệ An - mảnh đất của gió Lào cát trắng với thiên nhiên khắc nghiệt (bão lụt, hạnhán…), nền kinh tế lại thuần là nông nghiệp, người nông dân chủ yếu bám vào mảnhruộng để sinh sống nên cái đói, cái nghèo luôn luôn là mối đe doạ đối với người dân nơiđây Nghệ An là trung tâm văn hóa - chính trị của cả tỉnh, ngoài thị xã Cửa Lò còn cócác thôn bản, làng xã, huyện lị Trong cuộc sống hiện đại, cùng với sự tác động dữ dộinhư vũ bão của đời sống thị trường, cộng đồng làng xã của con người xứ Nghệ dườngnhư đứng trước nguy cơ bị lung lay, nhiều giá trị bị đảo lộn, con người dường như bịcuốn vào vòng xoáy ấy Ngoài việc phải đối mặt với gánh nặng cơm áo gạo tiền, ngườidân xứ Nghệ còn đối mặt với bao nhiêu nỗi lo toan khác Trong khi cuộc sống càngngày càng phức tạp với biết bao khó khăn, thử thách, bên cạnh niềm vui là nỗi buồn,bên cạnh hạnh phúc là đau khổ, là bất hạnh, bên cạnh cái được là cái mất… với biết baonghịch cảnh và éo le đang diễn ra hàng ngày, hàng giờ

Trang 13

Đó là môi trường, là mảnh đất để thơ ca xứ Nghệ hình thành và phát triển Và cũng

từ đây những vần thơ được cất lên với biết bao suy tư, trăn trở, day dứt nhưng cũng đằmthắm thiết tha và đầy niềm tin lạc quan, tin tưởng

1.1.2 Con người và văn hóa xứ Nghệ

Nghệ An ngày nay, phía nam giáp Hà Tĩnh, phía bắc liền kề Thanh Hóa, phía tâygiáp nước bạn Lào, phía đông giáp với biển Núi cao sông sâu, cảnh tượng tươi sáng,con người thì thuận hòa mà hiếu học Những vị thần ở núi, ở biển phần nhiều có tiếnglinh thiêng, được khí tốt của sông núi nên sinh ra nhiều bậc danh hiền

Xứ Nghệ là vùng giàu truyền thống văn hóa cách mạng, là mảnh đất với vẻ đẹphùng vĩ hiền hòa:

Đường vô xứ Nghệ quanh quanh Non xanh nước biếc như tranh họa đồ,

Ai vô xứ Nghệ thì vô

Con người xứ Nghệ với bản lĩnh kiên cường, anh hùng bất khuất và lối sống tìnhnghĩa thủy chung cùng với truyền thống hiếu học của các "Ông Đồ" chính là động lựcthúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thơ ca xứ Nghệ:

Đất mẹ nghèo Quỳnh Đôi - quê ngoại Thắt lưng ong dệt vải sớm trưa

Đất làng Quỳnh lầm lũi nắng mưa

Nhưng nức tiếng đất giàu chữ nghĩa

(Đôi quê - Trần Thu Hà)

Cựu Tổng Bí thư Lê Duẩn đã khẳng định vị trí, vai trò của xứ Nghệ và truyềnthống tốt đẹp của nhân dân xứ Nghệ: "Trong nước ta hàng ngàn năm nay, Nghệ Tĩnh lànơi xây dựng cơ sở chống ngoại xâm, giữ vững nước nhà Khi nào phía Bắc mất người

ta lại vào đây xây dựng lực lượng, xây dựng sức mạnh để giải phóng cả nước Do cơ sở

vị trí truyền thống đó mà chúng ta, không lấy làm ngạc nhiên ở Nghệ Tĩnh đã sinhtrưởng những lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Cái đó không phải tình cờ mà do lịch sử tự

Trang 14

nhiên, lịch sử lâu đời, lịch sử xây dựng kiến thiết đã hun đúc lại Nghệ Tĩnh, nhân dânanh hùng, cần cù lao động, có nhiều năng lực phi thường”[39, 26].

Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ trường kỳ của dân tộc, xứNghệ là mảnh đất đã sản sinh ra những anh hùng dân tộc như Phan Bội Châu, Lê HồngPhong, Lê Hồng Sơn Hồ Chí Minh… Và nơi đây với phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh,ngã ba Đồng Lộc, Truông Bồn… đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng mỗi người dânViệt Nam

Nghệ An với thiên nhiên không mấy ưu đãi với con người (hạn hán, bão lụt), đểđối mặt, chống chọi với thiên nhiên khắc nghiệt, người xứ Nghệ cần cù, chịu khó Khiđối mặt với kẻ thù thì người xứ Nghệ bản lĩnh, kiên cường Vốn quý của con người xứNghệ chính là đời sống tình cảm "đối nhân xử thế" mộc mạc mà đằm thắm, đầy bản sắc

mà lại nhân văn Nhà văn Đặng Thai Mai đã nhận xét: "Nếu ta biết rõ xứ Nghệ qua vănchương, qua lịch sử, qua đời sống của nhân dân, thì ta sẽ thấy rằng: Rắn rỏi, khô khanchỉ là một khía cạnh của tính cách người Nghệ Tĩnh Kỳ thực đời sống tình cảm conngười ở nơi đây đối với tự nhiên, với con người, với cái đẹp của thiên nhiên, của conngười, với cái đẹp của lý tưởng tuy không bộc lộ một cách ồn ào, hời hợt, nhưng lại cóphần suy nghĩ, điềm tĩnh, sâu sắc và bền bỉ, cảm động đến thiết tha" [39, 26]

Có thể nói, nét tính cách của con người xứ Nghệ được khái quát bằng bốn điểm:chất lý tưởng trong tâm hồn; sự trung hiếu trong bản chất; sự khắc khổ trong sinh hoạt;

sự cứng cỏi trong giao tiếp Còn rất nhiều nhận xét tương tự như vậy về con người xứNghệ Đó là cái hay nhưng cũng là cái dở, song dù sao đi nữa thì đó cũng là điều tạo nêntính cách riêng biệt cho con người xứ Nghệ và điều đó hiện lên như một nét văn hóa xứNghệ Ở mảnh đất xứ Nghệ này đã có những người con làm rạng danh cho quê hương,đất nước Họ là những anh hùng dân tộc như Mai Hắc Đế, Quang Trung - Nguyễn Huệ,Phan Bội Châu, Hồ Chí Minh, Lê Hồng Phong, Nguyễn Thị Minh Khai…; là những nhàthơ như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, Huy Cận, Hồ Chí Minh,Minh Huệ, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung… Phạm Văn Đồng đã nói: "Trong

Trang 15

lịch sử cách mạng nước ta, xứ Nghệ là một trong những địa phương có truyền thốngsớm nhất và rạng rỡ nhất Nghệ Tĩnh đã góp phần xứng đáng của mình cho dân tộc ngaytại địa phương, đồng thời gửi biết bao con em mình, những người chiến sĩ, những cán

bộ, những tri thức đi khắp mọi miền của đất nước và sang làm nghĩa vụ Quốc tế, ở hainước láng giềng anh em Con người Nghệ Tĩnh là vốn quí của địa phương và của nướcta" [39, 27]

Xứ Nghệ là mảnh đất anh hùng của Tổ quốc Việt Nam với những pháo đài uynghiêm, những đền đài cổ kính… với núi Dũng Quyết, đền Quang Trung, PhượngHoàng Trung Đô, Truông Bồn… Đặc sắc của văn hóa xứ Nghệ chính là cảnh núi sôngbao la, hùng vĩ và mỗi cảnh sắc thiên nhiên đều gắn liền với những chiến công vang dộilẫy lừng

Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, cùng với truyền thống anh hùng, bất khuất nhândân xứ Nghệ đã sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần vô cùng phong phú và đadạng Đó là kho tàng văn học dân gian xứ Nghệ như truyện dân gian, hò, vè, câu đố,truyện cười… Trong tất cả các giá trị văn hóa tinh thần đó, ca dao, dân ca hiện lên nhưmột nét văn hóa độc đáo của con người xứ Nghệ Ca dao và các làn điệu dân ca như: hát

ví, hát dặm, hát phường vải… đã giúp người Nghệ giải tỏa được những ưu phiền, lolắng trong cuộc sống hàng ngày và tạo cho họ tinh thần lạc quan, niềm tin yêu cuộcsống Vì vậy, thơ ca trở thành tiếng nói cổ vũ, động viên tinh thần con người

Nghệ An không những đóng góp to lớn về người và của cho công cuộc chống giặcgiữ nước mà còn đóng góp xứng đáng về nhiều mặt trong đời sống văn hóa tinh thầncủa nhân dân ta Trên mảnh đất Hồng Lam lịch sử này đã có một nền văn hóa phát triểnphong phú, luôn luôn vươn lên kế thừa và cách tân theo bước phát triển của lịch sử, cólúc đã trở thành một trong những trung tâm văn hóa của cả nước Sự phát triển phongphú của văn học nghệ thuật, với nhiều thể loại đặc sắc như ca dao, hò, vè, hát ví, hátdặm, hát phường vải, các truyện cổ tích, thần thoại của miền xuôi và miền núi đã trởthành vồn quý của nhân dân Sức sống văn hóa mãnh liệt của nhân dân đã góp phần hun

Trang 16

đúc nên nhiều danh nhân văn hóa lỗi lạc, nhiều văn thần, võ tướng có công với dân, vớinước; nhiều nhà khoa bảng có học vị cao, nhiều “thầy đồ Nghệ” “đi dạy chữ, dạy nghĩa”khắp mọi miền trong nước Nền văn hóa giàu tình cảm và trí tuệ ấy đã để lại nhữngthành tựu rực rỡ trên nhiều mặt như y học, dược học dân tộc, văn học dân gian, văn họcbác học, lịch sử và địa lý, kiến trúc – điêu khắc, giáo dục, khoa cử … đã góp phần nângcao vị trí văn hóa Nghệ An có bản sắc riêng lên ngang tầm lịch sử của nó và đóng góp

to lớn vào nền văn hóa tộc của nước nhà

Bên cạnh sự đa dạng của ca dao, dân ca thì tín ngưỡng dân gian của người Nghệcũng phong phú như việc thờ cúng tổ tiên ông bà, thờ các vị anh hùng có công với nước,người Nghệ còn thờ thần Sông, thần Biển, thần Núi… cầu cho mưa thuận gió hòa, nôngdân không bị đói kém… Tất cả những điều đó tạo nên nét văn hóa đặc trưng của ngườiNghệ

Như vậy, con người và văn hóa xứ Nghệ là cơ sở, là nền tảng cho sự phát triển củathơ ca và là nguồn cảm hứng bất tận cho sự sáng tạo nghệ thuật của các nghệ sĩ

1.1.3 Truyền thống thơ ca xứ Nghệ

Nghệ An với truyền thống hiếu học đã có từ xưa chính là động lực thúc đẩy mạnh

mẽ cho sự phát triển của thơ ca xứ Nghệ Theo chiều dài lịch sử phát triển của thơ caViệt Nam nói chung, thơ ca Nghệ An nói riêng đã xuất hiện biết bao nhà thơ kiệt xuấtsinh ra từ mảnh đất khắc nghiệt này, có thể kể đến các nhà thơ như Hồ Xuân Hương, HồChí Minh, Minh Huệ, Hoàng Trung Thông, Trần Hữu Thung, Nguyễn Du, Huy Cận, LêQuốc Hán, Thạch Quỳ, Bùi Sĩ Hoa, Tuyết Nga, Vân Anh, Nguyễn Thị Phước, Trần Thu

Hà, Trần Thúy Hà, Cẩm Thạch… Thơ ca xứ Nghệ chứa đựng những nỗi niềm thân phận

éo le, những khát khao rạo rực cháy bỏng, những suy tư trầm lắng, những nỗi đau dằnvặt và bản lĩnh kiên cường của con người xứ Nghệ

Trong dòng chảy của thơ ca xứ Nghệ, mạch nước ngầm đầu tiên mà lắng sâu nhất

đó là ca dao - dân ca Đến với ca dao, ta như cảm nhận được nỗi niềm cũng như hạnhphúc của nhân dân lao động được gửi gắm vào đó

Trang 17

Mảnh đất "gió Lào cát trắng" với thiên nhiên khắc nghiệt, hạn hán chưa hết, bãolụt lại ập đến đã trở thành nỗi lo, nỗi khắc khoải từ bao đời nay của người dân xứ Nghệ.Bên cạnh điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt cái đói, cái nghèo luôn bám riết đè nặng lêncuộc sống của người dân xứ Nghệ Trước cuộc sống đầy khó khăn, vất vả đó, người dân

xứ Nghệ không chịu khuất phục, không phải ngồi khóc than mà họ lại thể hiện một thái

độ dứt khoát quyết liệt, sự cứng cỏi của mình:

Ông trời chết nứt chết trương Ông ghét tôi khổ, ông thương nhà giàu

(Ca dao) Người dân nhận ra được cuộc sống đói nghèo mà họ phải gánh chịu một phần là dothiên nhiên khắc nghiệt nhưng cái khổ do bọn thống trị áp bức, bóc lột là lớn nhất Vìvậy mà họ không thể khuất phục mà phải đoàn kết cùng nhau chống lại bọn "nhà giàu" -bọn thống trị độc ác

Nếu như trong cuộc sống người dân xứ Nghệ cần cù, chịu khó, trong đấu tranh với

kẻ thù thì kiên cường, ngang tàn và gan góc, còn trong tình yêu họ lại mãnh liệt, đắmsay với một khát khao cháy bỏng về hạnh phúc lứa đôi nhưng luôn thể hiện một thái độ

rõ ràng, rành mạch trong tình yêu:

Đã yêu thì yêu cho chắc

Đã trục trặc thì trục trặc cho luôn Đừng như con thỏ đứng đầu truông Khi vui giỡn bóng, khi buồn bỏ đi

(Ca dao)

Ca dao xứ Nghệ là cuộc sống, là nét văn hóa độc đáo của con người, là cơ sở,ngọn nguồn cho dòng chảy của thơ ca bác học

Từ nguồn mạch ca dao, thơ ca xứ Nghệ có những bước đi, những lối rẽ khác nhau

Dù phong phú, đa dạng đến đâu thì mỗi thời kỳ thơ ca có những đặc sắc riêng Chính sự

Trang 18

phát triển của những phong trào thơ ca bình dân đã bước đầu góp phần làm xuất hiệnnhững gương mặt thơ ca tiêu biểu.

Được văn học dân gian bắc nhịp, khởi nguồn, dòng thơ của các nhà thơ xứ Nghệ rađời Họ là những con người tuy gia cảnh nghèo khó nhưng có tinh thần hiếu học, yêuvăn chương, giàu khí phách và có tình yêu sâu đậm, am hiểu sâu sắc văn học dân giancủa quê hương, vì thế chính họ là động lực thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển của thơ ca

xứ Nghệ Nếu như nói đến văn học trung đại Việt Nam phải kể đến những đóng góp củacác nhà thơ xứ Nghệ như Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ… Chẳng

hạn Hồ Xuân Hương với bài thơ Bánh trôi nước:

Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn

Mà em vẫn giữ tấm lòng son

hay bài Mời trầu, Hồ Xuân Hương vó viết:

Quả cau nho nhỏ miếng trầu hôi Này của Xuân Hương đã quệt rồi

Có phải duyên nhau thì thắm lại Đừng xanh như lá bạc như vôi

Tiếp đó là dòng thơ của các nhà thơ Cần Vương như Nguyễn Xuân Ôn, Phan ĐìnhPhùng, Lê Huy Hiệu…, rồi đến thơ của nhóm Đông Kinh, Đông Du với Phan Bội Châu,Đặng Thái Thân, Ngô Đức Kế… với ngòi bút đầy trẻ trung, hăm hở, giàu nhiệt huyết

Họ dùng thơ ca như vũ khí tinh thần đấu tranh sắc bén, như nguồn động viên cổ vũ tinhthần đấu tranh cách mạng Thơ ca của giai đoạn này về hình thức nghệ thuật thì chưa có

gì mới mẻ nhưng về nội dung đã dóng lên những nhịp đập mới mang tinh thần thời đại Trong khi phong trào thơ Đông Kinh, Đông Du chưa kịp lắng xuống thì phong tràothơ Xô Viết Nghệ Tĩnh lại được nổi lên với sự ra đời của các tổ chức, các đoàn thể đãtạo điều kiện cho thơ ca phát triển mạnh mẽ và len lỏi vào mọi ngõ ngách của đời sống

Trang 19

Thơ ca trở thành hơi thở của thời đại Thơ ca thời kỳ này vừa phơi bày thảm cảnh khốcliệt của chiến tranh, những mất mát hi sinh nhưng vừa biểu dương tinh thần chiến đấukiên cường, niềm tin lạc quan vào tương lai tươi sáng:

Thịt nát mặc thây đầu sá kể

Xương tan kệ xác quyết không lùi

Hạ màn sẽ biết bên nào thắng

Chính nghĩa xưa nay vẫn sáng ngời

(Tin tưởng - Phan Thái Ất)

Hòa chung với không khí chiến trận của cả dân tộc, trong cuộc kháng chiến chốngPháp, chống Mỹ trường kỳ, người dân xứ Nghệ với bản lĩnh kiên cường, anh dũng đãxông pha vào mưa bom bão đạn, thơ ca xứ Nghệ cũng trở thành động lực, niềm tin cổ

vũ tinh thần chiến đấu của nhân dân Trong thời gian này, sáng tác thơ ca, hò, vè pháttriển khắp mọi nơi để cổ vũ động viên quần chúng nhân dân, động viên các chiến sĩngoài mặt trận Dù ở đâu cũng vậy, ở miền xuôi hay miền ngược, nông thôn hay thànhthị, đồng bằng hay miền núi của xứ Nghệ luôn vang lên tiếng ca cách mạng:

Bao giờ Hồng Lĩnh hết cây Sông Lam hết nước, hết người đấu tranh

(Ca dao) Bên cạnh sự phát triển mạnh mẽ của các phong trào thơ ca quần chúng thì các tổchức câu lạc bộ thơ ca cũng được thành lập như: chi hội văn nghệ Liên khu IV, phân hộivăn học Nghệ Tĩnh, các chi hội văn nghệ ở các huyện, thị Từ phong trào thơ ca quầnchúng đã nuôi dưỡng những tài năng thơ ca mà tên tuổi của họ được biết không chỉ bóhẹp trong tỉnh mà còn rộng ra trong cả nước Các nhà thơ trở thành những chiến sĩ xôngpha trên mọi tuyến lửa để kịp thời phản ánh những sự kiện đang diễn ra hàng ngày trênchiến trường Đến với thơ ca kháng chiến chống Pháp chúng ta không thể không kể đến:

Chú cá cưởng, Bác sáo ngà của Huy Phương; O Bưởi làng tôi, Thăm lúa, Anh vẫn hành quân của Trần Hữu Thung; Đêm nay Bác không ngủ của Minh Hụê; Hoàng Trung

Trang 20

Thông với các tập thơ: Quê hương chiến đấu, Đường chúng ta đi, Đường sóng, Tiếng

thơ không dứt …

Sau kháng chiến chống Pháp, cả nước bước vào cuộc chiến đấu gay go và ác liệtvới đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng Đội ngũ các nhà thơ xứ Nghệ lại càngthêm đông đảo hơn như: Huy Huyền, Nam Hà, Nguyễn Bùi Vợi, Vương Trọng, ThạchQuỳ, Thúy Bắc, Anh Ngọc, Bùi Sĩ Hoa, Phan Văn Từ, Lê Quốc Hán, Biển Hồ… Họ lànhững kĩ sư, cử nhân, nhà giáo, là những sinh viên trên những giảng đường… mỗingười một ngành nghề khác nhau nhưng tất cả đều theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổquốc hăm hở xông pha ra mặt trận, lên công trường… Thơ ca là tiếng nói của chủ nghĩaanh hùng cách mạng, là tiếng nói của nhân dân, của đồng bào, đồng chí vì thế nhữngsáng tác văn học trong giai đoạn này mang âm hưởng anh hùng ca Trong hoàn cảnhchiến tranh lúc bấy giờ, thơ ca xứ Nghệ với tinh thần phản đế (chống thực dân Pháp và

đế quốc Mỹ cùng bè lũ tay sai của chúng) và phản phong (chống phong kiến), người dân

xứ Nghệ với lý tưởng cao cả, lòng tự hào dân tộc, tinh thần đấu tranh không mệt mỏi:Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh

Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, cuộc sống của con người trở về với muônmặt của đời thường Thơ ca cũng vậy, đặc biệt là từ năm 1986 đến nay, đề tài về chiếntranh, về tình cảm với quê hương, đất nước, tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa… vẫnđược tiếp tục phản ánh Nhưng bên cạnh đó, các nhà thơ tập trung đi sâu phản ánhnhững nghĩ suy, dằn vặt, day dứt của con người trong cuộc sống thời bình Điều đó tạonên những giá trị nhân văn – thẩm mĩ mới cho thơ ca xứ Nghệ thời kì này

1.1.4 Sự đổi mới trong tư duy thơ Việt Nam sau 1986

Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử dân tộc bước sang một trang mới: dântộc được độc lập, Bắc - Nam sum họp về một mối Trong khi các điều kiện lịch sử, xãhội thay đổi thì dẫn đến tâm lý con người cũng sẽ được nảy sinh những suy nghĩ vànhững cảm nhận mới Con người trở về với muôn mặt đời thường, phải đối mặt với

Trang 21

những vấn đề trở nên phức tạp trước một giai đoạn có nhiều biến động, nhiều đổi thaytrong xã hội.

Trước năm 1975, do hoàn cảnh lịch sử - xã hội đặc biệt (đất nước có chiến tranh),trong văn học nói chung, thơ ca nói riêng đề cao quá mức đặc tính văn học phản ánhhiện thực và hiểu thiên lệch phiến diện, cực đoan bản chất sáng tạo của nghệ thuật, coinhẹ sự tìm tòi cá nhân của chủ thể sáng tạo và coi nhẹ sự tìm tòi tư tưởng và hình thứcnghệ thuật của chủ thể sáng tạo Vấn đề hiện thực được hiểu theo nghĩa giản đơn, hiệnthực nằm trong chi tiết xã hội học, ở ghi chép, tái hiện cụ thể chi tiết các sự kiện, hoạtđộng bên ngoài của con người Với quan niệm ấu trĩ, thô sơ này, hiện thực được mô tảchỉ là hiện thực bên ngoài, hiện thực thô sơ, dễ dãi chứ chưa phải là hiện thực của nộitâm, của tâm tư, của tình cảm, đời sống bên trong của con người Hiên thực được chú ý

mô tả thường là ở bề nổi, phần tích cực, phần lý tưởng, ánh sáng chứ không phải là phầnbóng tối, tiêu cực, hạn chế trong đời sống xã hội và dẫn đến phạm vi hiện thực trở thành

"huý kị" Trong một thời gian dài trước năm 1975, văn học nói chung, thơ ca nói riêngtập trung khắc họa hình tượng lớn như: Tổ quốc, Nhân dân, Người lính… Các nhà thơ ít

mô tả con người cá nhân, con người số phận, thân phận Nếu có mô tả thì con người cánhân được mô tả trong tập thể, quần chúng và gắn với tình cảm tập thể, tình cảm cộngđồng

Còn 1975, nhất là sau năm 1986, với tinh thần “nhìn thẳng vào hiện thực” và “nói

rõ sự thật”, những người nghệ sĩ đã đưa ra một quan niệm khác trước về hiện thực cũngnhư cách mô tả, phản ánh về hiện thực Hiện thực được nói tới ở đây là hiện thực sâuhơn, rộng hơn, hiện thực toàn vẹn, hiện thực đa chiều, nghĩa là hiện thực được phản ánhvừa có ánh sáng, lý tưởng, cao cả, tốt đẹp nhưng vừa có bóng tối, khổ đau, mất mát;vừa có hiện thực bên ngoài, vừa có hiện thực bên trong nội tâm, tâm linh của con người.Đồng thời với quan niệm về nghệ thuật đó, người nghệ sĩ cũng ý thức cao độ về tráchnhiệm xã hội của mình trước vận hội lịch sử mới Thơ giờ đây không chỉ biết ca ngợi

mà còn phải biết phê phán cái xấu, cái tiêu cực nhằm xây dựng một xã hội tốt đẹp hơn,

Trang 22

nhân văn hơn, thực sự vì con người hơn Thơ bây giờ không chỉ là những chữ "đẹp",

"ngọt ngào", “lộng lẫy" (chữ dùng của Lưu Quang Vũ) mà thơ còn phải bộc lộ tinh thần

“dấn thân”, “nhập cuộc” của người nghệ sĩ trước xã hội Vai trò của người nghệ sĩkhông phải là minh nói, nói theo tư tưởng chính trị có sẵn, rao giảng giá trị đạo đức mà

họ còn góp phần thức tỉnh lương tri và khát vọng của con người

Nếu như trước năm 1975 do sự bao trùm của ý thức chính trị, cái chung lấn át cáiriêng, ý thức trữ tình chính trị bao trùm Ý thức cộng đồng gần như trùng lấp ý thức về

cá nhân Đó là những năm cả nước "có chung tâm hồn, có chung gương mặt" (Chế Lan

Viên) Cả nền thơ thống nhất trong tư tưởng trữ tình - chính trị mà nổi bật là cái tôi trữ

tình - chính trị, trong đó "Đọc thơ đồng chí tưởng thơ mình" (Chính Hữu) Tuy nhiên,

sau năm 1975, nhất là sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), quan niệm về cá nhân đã cónhững đổi mới tích cực và mạnh mẽ Con người thời đại này, không còn vui với niềmvui ngày trước, không còn buồn với nỗi buồn ngày trước và nếu như trước đây họ sốngvới khát vọng chung của dân tộc là độc lập tự do, thống nhất đất nước thì giờ đây họsống cho khát vọng của chính mình Con người cá nhân tự ý thức về mình trước cuộcsống đời thường Trong thơ, ý thức về cái tôi trở nên đa diện hơn, cái tôi ý thức về chínhmình trong nhiều mối quan hệ, và trên nhiều phương diện: đời tư và xã hội, bóng tối vàánh sáng, lạc quan và bi kịch, hạnh phúc và đau thương, mất mát… Sau 1986, nhiều nhàthơ chủ trương hướng ngòi bút vào việc đào sâu vào thế giới nội cảm, vô thức, tâm linh,vào những trạng thái tinh thần không thuộc phạm vi chi phối của ý thức khiến thơ caphát lộ trong vùng sâu kín của hiện thực, hiện thực bên trong, hiện thực của đời sốngtinh thần nhân loại

Tóm lại, cuộc sống, tâm lý của con người thay đổi đòi hỏi văn học phải có cáinhìn về con người một cách toàn diện hơn Con người giờ đây được văn học phản ánh,soi chiếu ở mọi mặt, ở nhiều bình diện, cả ý thức và vô thức Đời sống tư tưởng tìnhcảm và đời sống tự nhiên, bản năng, khát vọng cao cả và dục vọng thấp hèn, phần thiên

Trang 23

thần và ác quỷ trong con người, con người cụ thể cá biệt và con người trong tính nhânloại phổ quát Điều này dẫn đến sự đổi mới của văn học nói chung, thơ ca nói riêng Nằm trong dòng chảy của thơ Việt Nam đương đại, chịu ảnh hưởng và tác độngcủa một quan niệm về nghệ thuật ngày càng đa diện và sâu sắc hơn, tích cực và mới mẻhơn, thơ ca xứ Nghệ giai đoạn sau 1986 đã có sự thay đổi đáng kể cả về nội dung lẫnhình thức Nếu như trong kháng chiến, thơ ca xứ Nghệ được sáng tác với ngôn từ mộcmạc, giản dị tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày của các điệu hò, vè, điệu ví, ca dao,dân ca thì sau 1986 đến nay, công cuộc đổi mới kinh tế - chính trị - xã hội đã dẫn đến sựthay đổi trong đời sống và trong cảm quan sáng tác của người nghệ sĩ Cuộc sống hiệnthực đầy phức tạp đã có tác động trực tiếp đến sự chuyển biến tư tưởng, tình cảm củacác nhà thơ Sự thay đổi đó kéo theo sự thay đổi trong cách cảm, cách nghĩ đến nhậnthức về đối tượng của văn học

Thơ ca Nghệ An giai đoạn này đã chú ý đi sâu phản ánh cuộc sống của con ngườivới tất cả niềm vui, đau khổ, với những suy nghĩ dằn vặt trước cuộc sống Hiện thựccuộc sống đã ùa vào thơ ca tạo nên hơi thở mới, tinh thần mới Từ những vấn đề bìnhthường đến vấn đề quan trọng, từ việc gia đình đến việc xã hội…đều được thơ ca phảnánh:

Tôi cũng là người lính trở về Thú thực nhiều khi quên mình từng là lính Cũng thú thực có khi ớn lạnh

Tan cuộc vui chợt nhớ bạn: Không về…

Bữa đó tôi về như có tội

Bao nhiêu niềm vui không dấu được nỗi buồn

Rồi lấy vợ sinh con thu hẹp mình sau cửa Tên bạn mờ sau bia đá hoàng hôn.

(Thầm nghe – Bùi Sĩ Hoa)

Trang 24

Bên cạnh mảng thơ trữ tình mảng thơ về thế sự đời tư, thơ trào phúng, thơ châmbiếm cũng phát triển mạnh mẽ trước những vấn đề phức tạp của đời sống xã hội (thamnhũng, sự tha hóa về đạo đức, sự băng hoại về tinh thần…) Do đó cảm hứng đời tư, thế

sự là cảm hứng chủ đạo của thơ ca giai đoạn này Khi tiếng đạn bom đã tắt, lòng tathanh thản trong giây lát thì bỗng chốc âm thanh cuộc sống lại dội vào Sự phức tạp, xô

bồ trong cuộc sống với muôn vàn khó khăn trong chiến tranh mà những năm thángkháng chiến ta chưa nghĩ đến, nhưng lúc này đây, con người sống giữa bao mối lo toan,suy nghĩ của cuộc sống đời thường, từ miếng cơm manh áo, từ những mất mát của chiếntranh ngày càng thấm sâu vào da thịt, tinh thần của con người Đó chính là những nỗiniềm, sự thông cảm của chính những người ngoài cuộc về những mất mát, những nỗi

đau hiện hữu bằng xương thịt trên mảnh đất đã liền da Hoàng Cát với Ba nén hương để làm giỗ mẹ, Vũ Toàn bùi ngùi, xúc động với Nghe hát ru ở làng lòi, Vương Trọng cảm

thương cùng người mẹ một mình nuôi con ngoài giá thú Nguyễn Văn Hùng xót xa saumột đêm mưa đá:

Sáng ra cây tả tơi cây

Mẹ tôi vác cuốc trông mây cuối trời

(Đêm qua)

Trong cuộc sống hiện đại, cùng với sự tác động dữ dội như vũ bão của đời sống thịtrường, cộng đồng làng, xã của con người xứ Nghệ dường như đang đứng trước nguy cơ

bị lung lay, nhiều giá trị bị đảo lộn, con người như bị cuốn vào cơn lốc ấy

Trước mặt dạ dạ, thưa thưa Sau lưng lão ấy tao trừ mặt ra Trước mặt: anh giỏi quá ta

Sau lưng: đồ ấy chẳng ra thế nào … Lưỡi quay đúng nửa vòng tròn

Sau lưng, trước mặt méo tròn khác xa

Ở trong nội bộ chúng ta

Trang 25

Lưỡi quay điên đảo xem ra vẫn còn

(Lưỡi quay- Dương Huy)

Trong thơ Võ Văn Trực viết:

Chợt mùng gặp đứa bạn xa Hắn quay mặt thớt làm ngơ lánh mình Tủi lòng đành đứng lặng thinh Nhìn theo bóng hắn linh đình ngựa xe.

(Sau trận ốm)

Từ những năm 1980, xã hội có nhiều đổi thay mạnh mẽ, con người hoang mangtrước sự phức tạp của đời sống với sự đảo lộn của những giá trị, những chuẩn mực cũ.Chạm mặt với đời sống hiện thực đầy bất trắc, phần lớn các nhà thơ mất đi cảm giácbình yên mà thay vào đó là nỗi âu lo, ưu tư về nhân thế

Ngàn câu thơ thông điệp gửi con người

Mà cái chết ngòi bút đành bất lực

(Ghi bên mộ mười cô gái – Nguyễn Văn Hùng)

Có thể bắt gặp trong thơ các cặp mâu thuẫn, nghịch lí: lý tưởng - hiện thực,chiến tranh - hòa bình, cũ - mới, lừa dối - sự thật, thật - giả, sáng - tối, nhớ - quên, được

- mất, hy vọng - tuyệt vọng, quá khứ - hiện tại… Bên cạnh dòng mạch sử thi như một sựtiếp nối của cảm hứng thơ Cách mạng trước 1975, các nhà thơ hôm nay còn nói nhiềuhơn về sự hi sinh, về những mất mát, đớn đau của nhân dân, dân tộc, con người Càng

về sau, khi chạm mặt với đời sống đầy biến động của thời bình, cảm hứng sử thi cóchiều hướng ngày một nhạt dần, thay vào đó là sự trỗi dậy mạnh mẽ của cảm hứng thế

sự, đời tư Điều này đem lại những cách nhìn nhận, lí giải rất khác nhau về cuộc sống vàcon người

Nếu như trong bài thơ Tảng đá hình người của nhà thơ Thạch Quỳ, hình tượng "người

thành tảng đá" không chỉ là hình ảnh nàng Tô Thị chờ chồng mà còn là sự biểu hiện vôtâm, trơ lì như đá của con người trước cuộc đời:

Trang 26

Người ngồi im bặt Như câm dưới trăng Người thành đá tảng

Đá thành người chăn ?

Sương không thấm tóc Nắng chẳng sém da Thôi thì rêu phủ

Thôi thì bụi mờ

Thì trong thơ Nguyễn Thị Phước lại viết:

Có một đứa con để ôm vào lòng sao lại hóa đá

về thôi, chị ơi

Kìa sương buốt giá

thịt da con trẻ non tơ

Dẫu kiếp người dâu bể tới đâu

thì trẻ con cũng phải được lớn lên

để chúng tự mình chọn lựa.

Chị về đi

đàn bà chúng tôi không tin chị nữa Bao người cũng đợi chờ, đến khô, đến úa đến sông đổi, núi dời

đã cầu xin với đất trời

vẫn không thành đá được!

(Gửi nàng Tô Thị - Nguyễn Thị Phước)

Trang 27

Nếu như trước năm 1975, do điều kiện chiến tranh, văn học nói chung, thơ nóiriêng trở thành phương tiện, công cụ để phục vụ chính trị thì giờ đây, quan niệm về thơthay đổi Các tác giả rất chú ý đề cao bản chất nghệ thuật của nó: "Sau khi phục vụ nhưmột vũ khí bây giờ thơ ca phải trở về với chính nó", "đã đến lúc cần phải ý thức về thơnhư một loại hình nghệ thuật đặc thù" (Hoàng Hưng) Thơ ca trước 1975 được chi phốibởi một cảm quan thẩm mĩ và những nguyên tắc sáng tạo mới, giờ đây, trong thơ xuấthiện phổ biến kiểu câu thơ trúc trắc, không xuôi dòng, không êm ái, phá vỡ tính chấtnguyên tắc tự bộc lộ của cái tôi cảm xúc Các nhà thơ đòi hỏi sự gia tăng về trí tuệ, về tưtưởng trong thơ Đồng thời, họ cũng kêu gọi đổi mới quan niệm về thơ, chất thơ, tínhthơ Điều đó kéo theo những đổi mới, cách tân tích cực trong hình thức của thơ Trả lời

phỏng vấn trên báo Giáo dục và thời đại, Tuyết Nga cho rằng: “Thơ đã có trước khi

mình sinh ra, nhưng mình lại là một cá thể, vậy thơ do mình viết phải mới, phải khácnhưng vẫn phải không xa lạ là điều gần như bắt buộc rồi Tôi không có gắng làm mớinhững câu thơ, tôi chỉ cố gắng làm mới cuộc sống, suy nghĩ, cảm xúc của mình Nếutinh thần tôi mới thì thơ tôi viết ra sẽ mới Cũng có thể nói, làm mới bản thân là cách đểtôi làm mới thơ mình” (số 23, ngày 8/6/2008)

Những thay đổi tích cực trong quan niệm về thơ, về sự sáng tạo này đã dẫn đếnnhững nỗ lực cách tân, đổi mới mạnh mẽ trong hình thức, ngôn ngữ thơ của nhiều nhàthơ Nghệ An Chúng ta có thể kể đến nhiều tên tuổi trong số này như Thạch Quỳ, ĐàoPhương, Bùi Sĩ Hoa, Lê Thái Sơn, Lê Quốc Hán, Nguyễn Văn Hùng, Tuyết Nga,Nguyễn Thị Phước, Trần Thu Hà… Chẳng hạn trong thơ Lê Quốc Hán có sự đổi mớimạnh mẽ trong hình thức thơ:

Vườn xưa gai cỏ mọc Suối xưa

sót lại

hao gầy bóng trăng.

Trang 28

Nhìn về

quá khứ mưa giăng Chạnh thương một đóa bằng lăng

cuối trời.

(Sám hối (II))

Như vậy, sau 1986 trở đi, sự đổi mới tích cực của đời sống văn hóa – thẩm mĩđến sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy thơ Việt Nam đương đại Trong bối cảnh đổi mớithơ ca ấy, thơ Nghệ An nói chung, sáng tác của các tác giả nữ Nghệ An nói riêng cũng

đã có những chuyển biến rất đáng chú ý

1.2 Thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay – khái lược diện mạo

1.2.1 Nhìn chung về thơ nữ Nghệ An trước 1986

Tiếp nối truyền thống thơ ca của dân tộc, của xứ Nghệ, thơ nữ Nghệ An trước

1986 đuợc khai thác trên nhiều phương diện, đặc biệt là các đề tài yêu nước, tình yêunam nữ, lao động sản xuất, mảnh đất và con người xứ Nghệ… nhưng nhìn chung vẫnchưa đạt được nhiều thành tựu Thơ nữ Nghệ An xuất hiện một cách “bình dân” với lời

lẽ mộc mạc, dân dã tự nhiên như lời ăn tiếng nói hàng ngày của các điệu hò, vè, điệu ví

xứ Nghệ Thơ ca sáng tác phổ biến theo kiểu ca dao, đồng dao, mang âm hưởng hò, vè

Về nội dung và hình thức nghệ thuật thơ nữ Nghệ An trước 1986 chưa có gì đổi mới sovới thơ ca trước đó (thơ ca trong chiến tranh), cụ thể như: các nhà thơ nữ vẫn sáng tácvới các đề tài về chiến tranh, về tình yêu, về quê hương, về gia đình; còn về hình thứcnghệ thuật thì hầu như họ chủ yếu sáng tác theo thể lục bát (như trong thơ của Vân Anh,thơ Nguyễn Thị Phước)

Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975 đến những năm trước Đổi mới (1986), nhữngcây bút đã sáng tác từ trước và mới xuất hiện đã có những thành công mới: Tuyết Nga,Vân Anh, Tố Nga, Cẩm Thạch, Trần Thu Hà, Nguyễn Thị Phước… Những âm hưởngchiến tranh vẫn còn sót lại trong thơ họ với những điệu hồn của dân tộc, những tình cảm

Trang 29

với quê hương đất nước, tình cảm gia đình, tình bạn, tình yêu đôi lứa, và những cuộchành quân đầy ắp tiếng hát trên đường ra chiến trường, lòng biết ơn đối với thế hệ chaanh – những người đã ngã xuống vì nền độc lập, tự do cho dân tộc Những nỗi đau bằngthể xác lẫn tinh thần đã được phản ánh trong cuộc sống thời bình… Tất cả đều được bắtnguồn từ mảnh đất giàu truyền thống văn hóa, văn nghệ này.

Nhìn chung, thơ nữ Nghệ An trước 1986 về đội ngũ sáng tác vẫn chưa thật sựđông đảo, các tác giả vẫn chưa định hình về phong cách, chưa có nhiều “bứt phá” lớn,chưa có nhiều tập thơ hay nhưng các nhà thơ đã bộc lộ ý thức trách nhiệm của mình vềđất nước, quê hương, về những vấn đề chiến tranh, về tình yêu hạnh phúc

1.2.2 Sáng tác của các tác giả nữ Nghệ An từ 1986 đến nay

1.2.2.1.Về đội ngũ sáng tác

Nhìn chung trên thi đàn xứ Nghệ hiện nay với hơn một trăm hội viên với cácthành phần, lứa tuổi khác nhau, từ các vùng miền trên quê hương xứ Nghệ đã hội đủ vềđây, tạo cho vườn thơ xứ Nghệ trở nên đa dạng và phong phú

Ở Nghệ An, người làm thơ đa số không chuyên nghiệp Họ xuất thân từ nhiềungành nghề khác nhau: giáo viên, nhà báo, nhà quản lý… Trong vườn thơ xứ Nghệ đahương sắc đó phải kể đến đóng góp của các nhà thơ nữ Họ đã tạo nên những dấu ấnriêng của họ thông qua những sáng tác của mình Sau đây, chúng tôi sẽ điểm qua một sốgương mặt tiêu biểu

Trước hết, cần kể đến nhà thơ Tuyết Nga với các tập thơ: Viết trước tuổi mình, Ảo

giác, Hạt dẻ thứ tư Tuyết Nga được đánh giá là một trong những gương mặt nữ khá độc

đáo của nền thơ Việt Nam hiện đại “ Thơ Tuyết Nga dù không gây sốc nhưng lại có khảnăng len lỏi trong trí nhớ người đọc bằng sự tinh tế và đằm sâu của một tâm hồn thànhthật, không xiêm áo, cầu kỳ…”[62, 14] Chị đã đạt được những giải thưởng nghệ thuật

như: Giải thưởng Tác phẩm xuất sắc năm 1993 của Uỷ ban Tổ quốc các Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam và Giải thưởng Hồ Xuân Hương của Uỷ ban Nhân dân tỉnh Nghệ An cho tập thơ Viết trước tuổi mình, giải thưởng cuộc Thi thơ báo văn nghệ

Trang 30

năm 1995, giải thưởng Tác phẩm xuất sắc năm 2003 của Hội Nhà văn Việt Nam cho tập thơ Ảo giác Ngoài ra tập thơ Hạt dẻ thứ tư được đưa vào bình chọn là một trong 6 tập

thơ xuất sắc nhất của Hội đồng thơ Hội Nhà văn Việt Nam năm 2009

Là một nhà văn được biết đến với nhiều trang văn đẹp, thấm đẫm chất nhân sinh,Nguyễn Thị Phước còn được đánh giá cao trong tư cách là một nhà thơ với các tập thơ:

Lời cánh đồng, Cho đồng thơm gió; Quê hương Diễn Châu với những địa danh như cầu

Bùng, chợ Si, Đền Cuông, những tiếng rao, cánh đồng lúa… đã in dấu đậm nét trongtâm hồn và thơ chị Thơ Nguyễn Thị Phước đằm thắm, hướng ngoại, hướng về cõi nhânsinh Chị đã đạt được những giải thưởng và tặng thưởng của Báo văn nghệ Quân đội,của Uỷ ban toàn quốc liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam, giải thưởng văn học nghệthuật Nguyễn Du năm 2002

Vân Anh là tác giả của các tập thơ: Trái muộn, Quê với mẹ và anh, Vọng về xứ

Phuống, Con sóng khát Bến đò Phuống, chợ phuống, nhà thờ đạo xứ Phuống… đã in

dấu trong tâm hồn nhạy cảm của chị Vân Anh làm thơ vơi “mơ ước và thương tổn làhai bầu vú sữa nuôi dưỡng những câu thơ của chị” (Thạch Quỳ) Chị đã đạt được giảithưởng văn học Hồ Xuân Hương – 2002, giải thưởng văn học của Uỷ ban Tổ quốc –Liên hiệp các Hội văn học nghệ thuật Việt Nam – 2006 Thơ Vân Anh không nặng nềcâu chữ mà nặng ở cái tình, cái hồn

Ngoài ra, còn phải kể đến nhiều gương mặt tác giả nữ khác như Cẩm Thạch với

các tập thơ: Giá như em là biển, Mùa Chăm Pa, Tình khăn piêu; Phạm Thái Lê với tập thơ : Đêm thức; Trần Thu Hà với các tập thơ: Tình bậc thang, Mặt cắt, Trái đất tự quay; Trần Thúy Hà với tập thơ: Vầng trăng trong mắt anh; Phạm Mai Chiên với tập thơ Hát

với bầu trời…

Nhìn chung, sau Đổi mới (1986) đến nay, hàng loạt cây bút thơ nữ xuất hiện vớinhững tập thơ, đi sâu thể hiện nhiều chủ đề, cảm hứng đa dạng Họ mạnh dạn hướngngòi bút của mình vào việc thể hiện nhiều vấn đề phức tạp, éo le của cuộc sống Trong

đó nhiều cây bút thực sự chinh phục được công chúng và được đón nhận như: Tuyết

Trang 31

Nga, Vân Anh, Nguyễn Thị Phước, Cẩm Thạch, Phạm Thái Lê, Trần Thu Hà, TrầnThúy Hà, Phạm Mai Chiên, Tố Nga, Thúy Bắc, Giáng Vân, Nguyễn Thị Minh Châu…

1.2.2.2 Về chất lượng sáng tác

Sau năm 1975, đặc biệt là từ sau 1986 đến nay, đề tài của văn học nghệ thuật trởnên đa dạng và phong phú Các nhà thơ nữ Nghệ An luôn bám sát những vấn đề thời sựcủa đất nước và của địa phương, phản ánh trên những đề tài khác nhau: về cuộc sốngđời thường, về tình yêu quê hương, gia đình, tình yêu đôi lứa, cái tôi cá nhân cá thể,niềm bất hạnh cũng như hạnh phúc của con người… Trong đó, những địa danh lịch sử,văn hóa và con người xứ Nghệ đã trở thành một đề tài phổ biến, thành nguồn cảm hứngdạt dào và thôi thúc sự sáng tạo của các nhà thơ Điều đó tạo nên nét khu biệt của thơ ca

xứ Nghệ

Hầu như trong các tập thơ của các nhà thơ nữ xứ Nghệ, ta đều thấy xuất hiện dàyđặc các địa danh lịch sử, văn hóa như: Đền Cuông, ngã ba Đồng Lộc, Truông Bồn, LàngSen và những tên đất, tên xóm, tên làng, tên núi, tên sông của quê hương xứ Nghệ.Ngoài ra ngôn ngữ xứ Nghệ cũng được các nhà thơ đưa vào và trở thành đề tài, thànhnguồn cảm hứng trong sáng tạo nghệ thuật của họ

Như vậy, về phương diện nội dung, thơ nữ Nghệ An từ 1986 đến nay khá phongphú Các nhà thơ vừa phản ánh được trong thơ của mình những tâm tư, tình cảm chungcủa con người Việt Nam hiện đại với những đấu tranh phức tạp, gay go, những bộn bềđầy giằng xé… nhưng lại vừa mang những nỗi niềm riêng của tâm hồn, tính cách conngười xứ Nghệ Thơ nữ Nghệ An sau 1986 đến nay, nhìn chung đã thể hiện một cái nhìnmới mẻ, đa diện về hiện thực đời sống và nội tâm con người Các nhà thơ có ý thức thểnghiệm trên nhiều thể loại: thơ bốn chữ, thơ ngũ ngôn, thơ lục bát, thơ tự do, thơ vănxuôi…

Tuy nhiên, thơ Nghệ An nói chung, thơ nữ nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế: vẫncòn thiếu tác giả lớn, chưa có những tập thơ mang dấu ấn thời đại, một số bài thơ cónhững ý thơ, hình ảnh "cũ kỹ sáo mòn" (Văn Giá), một số bài thơ rơi vào triết lí vụn

Trang 32

vặt" (Văn Giá), nhiều bài thơ còn mang tính qui phạm Ngoài ra thơ nữ Nghệ An từ

1986 đến nay chưa có nhiều đổi mới trong cảm xúc, chưa có được những giọng điệu thơriêng và độc đáo Mặc dù còn những hạn chế nhưng thơ nữ Nghệ An giai đoạn này đãtạo nên được một diện mạo mới, góp phần làm cho sinh hoạt văn hóa - văn học xứ Nghệtrở nên phong phú và đa dạng hơn

Chương 2

Trang 33

NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG HỆ ĐỀ TÀI, CHỦ ĐỀ CỦA THƠ NỮ NGHỆ AN TỪ 1986 ĐẾN NAY

2.1 Sự thể hiện cái tôi ngày một đa diện và sâu sắc

Khái niệm cái tôi được đề cập ở nhiều lĩnh vực, ở nhiều phương diện khác nhautrong đời sống con người Theo quan điểm triết học và nhân văn thì "cái tôi là một trongnhững khái niệm cổ nhất, đánh dấu ý thức đầu tiên của con người về bản thể tồn tại củamình, để nhận ra mình là một con người khác với tự nhiên, làm một cá thể khác vớingười khác" [2, 19]

Cái tôi là một khái niệm thuộc về phạm trù triết học Các nhà triết học duy tâm lànhững người đầu tiên chú ý đến cái tôi khi đề cao ý thức lí tính trong mối quan hệ giữavật chất với ý thức, giữa chủ quan và khách quan, giữa cá nhân và xã hội các nhà duytâm như Hegel, S.Freud… đã khẳng định: cái tôi là phương diện trung tâm tinh thần conngười, là cốt lõi ý thức, là khả năng chi phối hành động và là sự khẳng định nhân cáchcon người trong thế giới Cụ thể theo Hegel (1770 - 1831) đã giải thích thực chất xã hộicủa cái tôi như một sức mạnh bộc lộ ở từng con người cụ thể nhất định; còn S.Freud(1856 - 1939) cho rằng: "Cái tôi là sự hiện diện bên trong của vô thức con người" Triếthọc Mác - Lênin đã thấy được vai trò của cái tôi thực chất là khái niệm về cấu trúcmang tính tổng quát Hiện tượng cái tôi vừa mang tính xã hội - lịch sử, vừa phân biệt cáiđộc đáo và khẳng định tính tích cực của nhân cách con người Cái tôi là sự tự ý thức vềmình, tự xác định giá trị của mình trong thế giới: "Chỉ có trong xã hội, tồn tại tự nhiêncủa con người mới là tồn tại có tính chất người Tồn tại bản thân tôi cũng là hành động

xã hội, khi tôi có ý thức về tôi như một thực thể xã hội" [43, 22]

Cái tôi trữ tình là "sự thể hiện một cách nhận thức và cảm xúc đối với thế giới vềcon người thông qua lăng kính cá nhân của chủ thể và thông qua việc tổ chức cácphương tiện của thơ trữ tình, tạo ra một thế giới tinh thần riêng biệt độc đáo, mang tính

Trang 34

thẩm mỹ, nhằm truyền đạt năng lượng tinh thần ấy đến người đọc" [2, 32] Cái tôi trữtình có vai trò quan trọng trong thơ với tư cách là trung tâm bộc lộ của những suy nghĩ.Cái tôi trữ tình là cái tôi của nhà thơ được nghệ thuật hóa, lúc đi vào nghệ thuật cái tôiđược nâng lên, được trình bày đa dạng và phong phú hơn Do đó từ cái tôi nhà thơ đếncái tôi trữ tình là cả một quá trình

Cái tôi cá nhân trong thơ ở mỗi giai đoạn đều có sự khác nhau và nó hiện lên trongtác phẩm với tư cách là đối tượng, là nhân vật trữ tình Trong Thơ mới cái tôi hiện lênvới thân phận bơ vơ, lạc lõng và buồn bã cô đơn (khi đất nước bị thực dân xâm chiếm).Còn cái tôi trong thơ giai đoạn 1945 - 1975, giai đoạn văn học cách mạng có thể gọi làcái tôi sử thi bởi nội dung chính của văn học giai đoạn này là nội dung lịch sử - dân tộc.Cái tôi xuất hiện với tư cách con người công dân - chiến sĩ mang cảm hứng lịch sử, thờiđại, dân tộc Với tư cách đó, con người có ý thức cao độ về trách nhiệm xã hội, tráchnhiệm trước lịch sử, có tư thế đại diện cho sức mạnh của dân tộc và thời đại, đóng vaitrò người chứng kiến tự hào, ngợi ca sức mạnh tinh thần của nhân dân và Tổ quốc Đó làcái tôi mang sứ mệnh lịch sử Nhưng khi đất nước được giải phóng, nhân dân được tự

do thì văn học được đổi mới, cái tôi được giải phóng ra khỏi mọi ràng buộc và nó có cơhội thể hiện mình một cách đa dạng, đầy đủ nhất

Trước hết, đặc điểm nổi bật trong chân dung cái tôi của các tác giả nữ Nghệ An làtính chất duy tình, duy cảm (đây cũng là một chân dung tinh thần phổ biến của các tácgiả nữ, vốn sống nghiêng về cảm tính, cảm xúc…)

Sự thay đổi của đời sống kinh tế - xã hội, của tâm lý con người trong mỗi giai đoạnlịch sử đã dẫn đến sự thay đổi trong các mối tương quan, trong tiêu chuẩn thẩm mỹ củamỗi thời đại Con người với tư cách là một cá nhân cá thể sẽ cảm nhận được những nỗiniềm thế sự của xã hội, của chính mình Vì thế thơ trở nên sâu đậm hơn, buồn hơn và côđơn hơn Một khi tách mình ra khỏi cảm quan nghệ thuật cộng đồng, xã hội thì lúc đócon người rơi vào một thế giới lạ lẫm và lạnh lẽo nhưng chính ở nơi đó, con người như

Trang 35

đứng ở một nơi cao hơn, rộng lớn hơn để nhìn thấy chính mình, vì thế tạo nên tâm trạng

cô đơn, lẻ loi và ở đó cái tôi nhận ra sự hữu hạn và nhỏ bé của chính mình:

Từ sâu thẳm lòng mình

Tôi thấy mình quá nhỏ bé

(Đọc nhật ký Đặng Thùy Trâm - Trần Thu Hà)

Cái tôi xoáy sâu vào đời sống nội tâm, trực diện với chính mình và cảm thấy mìnhquá nhỏ bé trong thế giới bao la, vô tận này Tuy vậy, ý thức về cái tôi bản thể khôngđậm nét trong thơ nữ Nghệ An

Ý thức về cái tôi ở đây chủ yếu nghiêng về bộc lộ các trạng thái nội tâm, cảm xúcnhất là trong tình yêu lứa đôi (một điều có tính đặc thù) chứ không nghiêng về sự phântích, nhận thức, lí giải bản thể (như trong thơ của một số tác giả như Ý Nhi, Lâm Thị

Mỹ Dạ…) Chân dung cái tôi duy cảm, duy tình có tạo nên sự đa dạng, phong phú vềmặt nội cảm Thơ họ nghiêng về giãi bày, thổ lộ hơn là phân tích, lí giải Những trảinghiệm đống cá nhân được tác giả đưa vào thơ một cách thành thực và có tác dụng làmgiàu thêm kinh nghiệm thẩm mĩ:

Tôi cũng có gần mười năm xa xứ Gạn niềm đau mà chảy thành văn Giờ mười năm thoát cô đơn lưu lạc

Mà tôi đang như lạc cả bóng mình

Tôi lại muốn độc hành như thuở trước

Để không phải thấy mình bơ vơ giữa người thân

Tôi lại ước trái tim mình khóc được

Sẽ biết ơn giọt nước mắt trong ngần.

(Gửi người phương tuyết – Nguyễn Thị Phước)

Trang 36

Đào sâu vào thế giới tâm tư, nội cảm, thơ nữ Nghệ An giai đoạn này còn thể hiệnmột cái tôi vừa mạnh mẽ vừa thẳng thắn Một cái tôi cháy bỏng đam mê với một khátvọng tình yêu, hạnh phúc đời thường:

Em gói tròn tình yêu Ném đời mình vào đó

Em nguyện làm đồng cỏ Lót thảm xanh anh ngồi

Gặm nhấm buồn qua bữa

Vá víu thời gian thành manh áo đời ta

Trang 37

Thăng thiên giữa niềm hoan lạc Tôi

Cô độc nơi chốn đông người Chỉ mình tôi

Ảo ảnh của tôi ơi hãy bay vào vũ trụ

Cuộc đời này đâu có chỗ cho anh

(Ảo ảnh - Đinh Thu Hiền)

Từ những vui - buồn, được - mất… cá nhân, các nhà thơ có nhu cầu được nhậnthức một cách sâu sắc hơn về bản chất của đời sống cũng như quy luật tâm hồn conngười Chất triết lí trong thơ của các tác giả, do vậy, xuất hiện một cách khá tự nhiên và

nhuần nhị Trong bài Ú tìm, nữ thi sĩ Trần Thu Hà đề cập đến một trò chơi con trẻ để rồi

ngẫm ngợi sâu xa hơn về bản chất của cuộc đời cũng như ý nghĩa sự tồn tại của mỗi cánhân giữa vô cùng:

Trang 38

Trong bài thơ diễn ra hai cuộc chơi Một cuộc chơi thật, nhân vật tôi đã thắng, saukhi bạn chơi không tìm thấy người đi trốn cùng với mình Cuộc chơi thứ hai là cuộcchơi ảo, chỉ lẻ loi một người tham dự Nhân vật tôi tự đưa mình vào thế bị động mà

không biết, đó là tự trốn chính mình và Tôi tìm chẳng thấy tôi, tôi đã đánh mất tôi Thực

ra, tôi chỉ thắng riêng bạn chơi - thắng một người nhưng lại thua trong cuộc đời, thua

chính bản thân mình Sau này, trải qua bao Ngày tháng đã xa xôi, tôi hóa ra vẫn chỉ là người Chưa dễ gì khôn dại mà thôi Cứ ngỡ rằng cuộc trốn tìm xưa cũ đã xong, kẻ thắng

người thua đã được phân định rõ ràng Nhưng có ngờ đâu:

Bất chợt ở cuối đời

Trò ú tìm lặp lại

Trò chơi có lặp lại hay không? Lặp lại trò chơi thật với bạn chơi hay là lặp lại tròchơi ảo với chính mình Thắng hay thua, nhân vật tôi có tìm được chính mình haykhông, bài thơ vẫn để ngỏ lời đáp Nhưng có một điều ta nhận ra là: suốt cả cuộc đời,

trước khi có cuộc Ú tìm thứ hai, nhân vật tôi vẫn chưa tìm thấy chính mình.

Khi trở về với cái tôi cá nhân cá tính, trở về với bản ngã của chính mình, các nhàthơ dường như cảm thấy cô lẻ, đơn độc trên hành trình của cuộc đời dài rộng Mỗi mộtcon người đằng sau những thành công hay thất bại thì đều phải đối diện với nỗi cô đơncủa chính mình Nhưng con người rất cần đến những lời ru cho đời bớt đi hiu quạnh,buồn bã Bạn đọc hãy lắng nghe lời ru cho nỗi cô đơn trong thơ Tuyết Nga:

Hãy yên nghỉ hỡi trái tim khổ ải ngoài kia sao sa

ngoài kia gió xoay

người em yêu bên cạnh người yêu em nhưng em đã kiệt cùng sức lực

hãy yên ngủ đáy mùa thu thăm thẳm đáy mùa thu mây trắng vĩnh hằng

Trang 39

Nhưng có lời ru nào có thể xoa dịu bớt những nỗi đau? Nơi vĩnh hằng xa xăm, mùathu và những nỗi đau vẫn còn mãi với con người Câu thơ đưa người đi vào cõi nhớnhưng rồi lại đưa người đọc trở về với thực tế phũ phàng của cuộc đời thực Nhưng rấtmay, ở đó có cỏ cây lay thức và sự sống đã trở về:

Nhịp đập cuối cùng lay dậy ban mai giọt máu cuối cùng thắm lại xanh rêu thôi em… thôi em…

dòng sông đã chảy

ru em… ru em…

mặt trời không tuổi

thôi nào trái tim

(Dòng sông đã chảy)

Tuyết Nga đã từng nói về nỗi đau như thế trong một bài thơ khác Chị không mô

tả nó mà chị chỉ ra sự hiện diện của nó trong mỗi con người:

Nỗi đau không qua như xúi quẩy một ngày nỗi khổ không qua như rủi ro phút chốc hạnh phúc như trái ở cây, tình yêu như lá rơi vào đất

mặt trời ngày ngày cặm cụi trước hiên

(Xem vở kịch câm "Người đi ngược chiều gió")

Nỗi buồn, nỗi cô đơn đã đi đến tận cùng bởi sự bất lực của con người trướcnhững đòi hỏi tất yếu của cuộc sống, trước sự tha hóa băng hoại của các giá trị đạo đức.Nỗi buồn, nỗi cô đơn trong thơ nữ Nghệ An giai đoạn là dấu hiệu của sự tự ý thức vềchính mình trước cuộc đời Vì thế nó giúp nhà thơ giải tỏa được tâm trạng tìm kiếm sựđồng cảm tri âm và lay động lòng trắc ẩn đối với người đọc Chính vì thế nỗi buồn cóchức năng "thanh lọc tâm hồn" và làm cho cái tôi cá thể hiện lên chân thật và có đủ sứcmạnh để vượt qua được những thăng trầm của số phận và trước bão tố của cuộc đời

2.2 Sự mở rộng mô tả phạm vi hiện thực đời sống

Trang 40

Sự mở cửa của kinh tế - xã hội, sự hội nhập và phát triển nhanh trên mọi mặt đờisống giai đoạn sau 1986 đã kéo theo sự thay đổi trong ý thức hệ, trong cách nhìn, lốisống của con người Những mâu thuẫn, những cách nhìn nhận mới xuất hiện, đẩy conngười đến những mâu thuẫn giằng xé trong nội tâm Thơ nữ Nghệ An giai đoạn nàychứa đựng trong nó những vấn đề phức tạp của cuộc sống Nó quan tâm đến tất cảnhững vấn đề nóng bỏng rộng lớn của thời cuộc lẫn những vấn đề riêng tư của mỗi cánhân Thơ tìm đến sự phản ánh trung thực nhất hiện thực của cuộc sống với cả cái hay,cái dở, mặt trái - mặt tốt, ánh sáng - bóng tối, hạnh phúc - đau khổ… Thơ hướng về đờisống hiện thực với tất cả buồn vui của kiếp sống nhân sinh.Giờ đây, thơ mang mộtnhiệm vụ, một trách nhiệm mới: "trách nhiệm công dân, đạo đức của người nghệ sĩđược đặt ra, tuy âm thầm nhưng khá quyết liệt Nhân cách của người nghệ sĩ được thểhiện trên hai bình diện: “Các vấn đề xã hội với tư cách công dân, các vấn đề đời sốngvới tư cách một cá tính trong đó sự thành thực được coi là cội nguồn, là sức mạnh củacác khuynh hướng nội dung trữ tình, là yêu cầu đầu tiên dẫn đến giá trị chân - thiệntrong thơ ca trữ tình hiện nay" [43, 98].

Chính nguồn cảm hứng thế sự, ý thức mở rộng phạm vi hiện thực đời sống trong

mô tả và phản ánh đã tạo điều kiện cho các nhà thơ thể hiện đựơc ý thức trách nhiệmcông dân và đạo đức của người nghệ sĩ Ở đây nhà thơ hiện diện với hai tư cách: conngười công dân đối diện với cách vấn đề đạo đức xã hội và tư cách cá tính đối diện vớicác vấn đề của đời sống cá nhân

Nếu như trước năm 1975 các nhà thơ viết theo cảm hứng lãng mạn, cảm hứngngợi ca thì thơ sau 1975, nhất là từ 1986 trở đi âm hưởng sử thi anh hùng ca lãng mạnmột thời đã bị che lấp đằng sau những mất mát của cuộc sống Người mẹ tiễn con đinhưng không được đón con về, sau nhiều năm xa cách không có tin tức của con hay đến

cả dòng tên con cũng không tìm thấy Nỗi đau đó cứ "giết" dần sức khoẻ của mẹ, mẹsống trong cô đơn, trong nỗi nhớ thương con:

Chập chờn vẳng tiếng ầu ơ

Ngày đăng: 17/12/2013, 21:35

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Hữu Anh (1991), "Một giải thưởng thơ đáng nhớ", Văn nghệ (4) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một giải thưởng thơ đáng nhớ
Tác giả: Hữu Anh
Năm: 1991
3. Vân Anh (1991), Trái muộn, Nxb Thanh Niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trái muộn
Tác giả: Vân Anh
Nhà XB: Nxb Thanh Niên
Năm: 1991
4. Vân Anh (1996), Quê với mẹ và anh, Nxb Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quê với mẹ và anh
Tác giả: Vân Anh
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 1996
23. Trần Mạnh Hảo (1997), Thơ phản thơ, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ phản thơ
Tác giả: Trần Mạnh Hảo
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1997
24. Bùi Công Hùng (2000), Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự cách tân thơ văn Việt Nam hiện đại
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Văn hóa –Thông tin
Năm: 2000
40. Nhiều tác giả (1990 - 1996), Nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật NghệAn
Nhà XB: Nxb Nghệ An
41. Nhiều tác giả (1997 - 2002), Nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật Nghệ An, Nxb Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu lý luận phê bình văn học nghệ thuật NghệAn
Nhà XB: Nxb Nghệ An
60. Đỗ Lai Thúy (2000), Con mắt thơ, Nxb Văn hóa – Thông tin Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con mắt thơ
Tác giả: Đỗ Lai Thúy
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 2000
61. Trần Quốc Thực (2003), “Viết về tập thơ Ảo giác”, Văn nghệ (10) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viết về tập thơ Ảo giác”, "Văn nghệ
Tác giả: Trần Quốc Thực
Năm: 2003
71. Nguyễn Như Ý (1998), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại từ điển tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Như Ý
Nhà XB: Nxb Văn hóa – Thông tin
Năm: 1998

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w