Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Nguyễn thị thanh thúy
đặc điểm của hồi ký văn học việt nam
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Trong lịch sử nghiên cứu về thể loại, có không ít công trình, bàiviết nghiên cứu về ký văn học, đặc biệt nhiều công trình đã đi sâu vào các tiểuloại nh: tuỳ bút, bút ký, truyện ký, phóng sự văn học, du ký, ký sự, tạp văn…Tuy là một tiểu loại thuộc ký văn học nhng hồi ký vẫn cha đợc quan tâm đúngvới vai trò của nó, cha đợc nghiên cứu đầy đủ, khái quát, toàn diện dới góc độ
đặc trng thể loại
Đối với mỗi ngời, viết hồi ký có phần còn xa lạ, e dè bởi họ đã không vợt
đ-ợc chính mình Trong cuộc đấu tranh với cái tôi cá nhân ích kỷ, đời thờng, họ đãkhông chiến thắng để dũng cảm nói lên sự thật, nhìn thẳng vào sự thật Tô Hoài-một tác giả đã đóng đinh tên tuổi ở thể loại hồi ký văn học với nhiều tác phẩm đặcsắc, tâm sự rất thật: “Tôi cho viết hồi ký là khó khăn hơn sáng tác, bởi đó là mộtcuộc đấu tranh t tởng để viết ra”, “một cuộc mổ xẻ toàn diện”, không nhẹ nhàng
và cũng không phải là sự lựa chọn hứng thú đối với nhiều nhà văn
Hiếm có một thể loại nào đặc biệt, hấp dẫn nh hồi ký Dễ mà khó, đó lànhận định chung về việc viết thể loại này Dễ bởi ai cũng có thể viết đợc hồi
ký, vì viết hồi ký là ghi chép, hồi tởng lại, tái hiện lại những gì cá nhân tác giả
đã trải qua hoặc đợc chứng kiến Trong khi đó, con ngời ai chẳng có một miền
ký ức để nhớ, để thơng Mỗi bớc ta đi, mỗi ngời ta gặp có thể đều ghi đậm dấu
ấn, trở thành máu thịt của ta; giúp ta trải nghiệm, trởng thành Mặt khác, cơchế hồi tởng vốn là quy luật tâm lý chung của con ngời Con ngời luôn có xuhớng nhớ về quá khứ, chiêm nghiệm thực tại để hớng tới tơng lai Hồi ký đápứng nhu cầu tự thân đó Tuy nhiên, không phải ai cũng có thể viết hồi kýthành công Điều đó không chỉ phụ thuộc vào vốn sống, kinh nghiệm, sự từngtrải mà còn phụ thuộc vào tài năng, cá tính sáng tạo của ngời viết Văn học là
sự tái tạo, nhng quan trọng hơn còn là sự sáng tạo Đó là bản chất của nghệthuật Viết hồi ký cũng vậy, đó không chỉ là sự ghi chép một cách máy móc,khô khan những dòng ký ức của ngời viết Đó không chỉ là sự hồi tởng mộtcách đơn điệu, tẻ nhạt, sự kể lể dông dài những gì đã xảy ra trong quá khứ màtrớc hết phải viết sao cho hay, cho hấp dẫn ngời đọc Nghĩa là, ngời viết phải
Trang 3biết gạn lọc, nhào nặn các sự kiện, biến cố, nhng phải đảm bảo tính chân thực,chính xác để diễn tả đợc nhiều nhất t tởng, quan điểm của bản thân Cái tàiriêng của ngời viết hồi ký nằm ở đó.
1.2 Từ cái dễ, cái khó của việc viết hồi ký, từ u thế riêng của thể loạinày trong việc tái hiện đời sống, giúp ta lý giải vì sao hồi ký văn học, đặc biệthồi ký của các nhà văn luôn chứa đựng nhiều hấp dẫn, hứa hẹn sự tò mò với
độc giả Bạn đọc khi tiếp cận các tác phẩm hồi ký luôn với tâm thế tò mò,muốn khám phá những bí mật cha bao giờ đợc hé lộ và khi công khai có thểgây những chấn động khó lờng Nhng nếu chỉ dừng lại ở đó, hồi ký không còn
là thể loại mang đặc trng thẩm mỹ của văn học mà chỉ có chức năng thông tin.Những giây phút hiếu kỳ qua đi, tác phẩm hồi ký sẽ không còn gây ám ảnh,không vợt qua đợc sự băng hoại của thời gian, không chịu đợc sự “đọc lại” của
độc giả Một tác phẩm hồi ký thành công là một tác phẩm ghi đậm dấu ấntrong lòng bạn đọc Tác giả viết về cái hôm qua nhng giúp ta nhìn nhận thấu
đáo hơn cái hôm nay Đọc hồi ký cũng là một cách trải nghiệm, thu nhậnnhững kinh nghiệm trong cuộc sống: “Viết hồi ký là sống lại một lần nữa cuộc
đời mình, cũng là san sẻ cho ngời trong thiên hạ vui buồn của mình, thân phậncủa mình và phần nào những trải nghiệm dọc đời đã sống” (Huy Cận) Bởivậy, có thể khẳng định hồi ký là một thể loại xứng đáng đợc tìm hiểu vànghiên cứu kỹ lỡng
1.3 Theo Bakhtin, mỗi thể loại là sự thể hiện “một thái độ thẩm mỹ đốivới hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh về thế giới và con ng-ời” Vì vậy, đời sống thể loại văn học luôn vận động để phù hợp với chuyểnbiến của thời đại, đáp ứng nhu cầu của con ngời hiện tại, của thực tiễn cuộcsống Không phải ngẫu nhiên từ năm 1986, trên văn đàn xuất hiện nhiều tácphẩm hồi ký của các văn nghệ sĩ, chủ yếu là các nhà văn đã tạo nên một mảng
sinh động trong đời sống văn học mà trớc đó cha hề có nh: Cát bụi chân ai,
Chiều chiều của Tô Hoài; Hồi ký song đôi của Huy Cận; Nhớ lại một thời của
Tố Hữu; Nhớ lại của Đào Xuân Quý; Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt của Anh Thơ; Bốn mơi năm nói láo của Vũ Bằng; Năm tháng nhọc nhằn, năm
tháng nhớ thơng của Ma Văn Kháng; Rừng xa xanh lá của Bùi Ngọc Tấn; Mất
Trang 4để mà còn của Hoàng Minh Châu …Nhiều tác phẩm ra đời gây xôn xao dluận và trở thành một hiện tợng văn học.
1.4 Hồi ký là một thể loại không mới ở phơng Tây, đã phát triển mạnh
mẽ từ thế kỷ XIX nhng ở Việt Nam bắt đầu từ thời kỳ đổi mới (từ 1986),chúng ta mới đợc chứng kiến sự nở rộ của thể loại này Đặc biệt, trong nhữngnăm gần đây, viết hồi ký trở thành một “trào lu” Không chỉ các nhà văn, nhàthơ mới viết hồi ký, từ các nhà phê bình văn học, các chính trị gia đến nhữngngời hoạt động trong lĩnh vực giải trí (ca sĩ, diễn viên, ngời mẫu, cầu thủ bóng
đá…), hay những cá nhân vô danh trong xã hội nhng có số phận không bình ờng cũng viết hoặc hợp tác viết và công bố hồi ký Sự phát triển mạnh mẽ củathể loại này có đơn thuần là sự a dua theo trào lu hay thực sự là nhu cầu tự thâncủa ngời viết, nhu cầu muốn bộc lộ, giải toả những bí mật, những ẩn ức Từthực tế trên, thiết nghĩ sự nở rộ của hồi ký văn học Việt Nam từ 1986 đến nay làmột hiện tợng đáng để nghiên cứu, suy ngẫm
th-1.5 Một lý do khá quan trọng nữa khiến tôi tìm đến với thể loại này,nhất là các tác phẩm hồi ký văn học từ thời kỳ đổi mới đến nay, xuất phát từhứng thú của cá nhân Hồi ký đã làm sống dậy bức tranh hiện thực của đất nớcqua hai cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại với bao bộn bề, ngổn ngang của cuộcsống đơng đại Nhiều số phận văn chơng, nhiều vấn đề phức tạp của quá khứgần xa đợc nhìn nhận lại đa diện, nhiều chiều, thấu tình, đạt lý hơn Nhiều nhàvăn, nhà thơ hiện lên chân thực trong cuộc sống đời thờng với một “cự ly gần”,thậm chí một khoảng cách gần đến tàn nhẫn, giúp ta có cái nhìn đa dạng hơn về
họ Cùng với sự phong phú về nội dung, sự đột phá trong cảm quan hiện thực,thể tài hồi ký từ 1986 đến nay đã mang đến những cách tân đáng ghi nhận trongnghệ thuật thể hiện và thi pháp thể loại, phát huy những u thế vốn có của thểloại này trong việc tái hiện cuộc sống Bởi vậy, nghiên cứu về hồi ký văn học
đặc biệt là hồi ký văn học Việt Nam từ 1986 trở lại đây không chỉ cần thiết chongời làm công tác nghiên cứu, phê bình mà còn rất hữu ích và là nguồn t liệu
đáng quý cho những ngời dạy văn, học văn, yêu văn
Từ những lý do trên, chúng tôi chọn vấn đề Đặc điểm của hồi ký văn
học Việt Nam từ 1986 đến nay làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình.
Trang 52 Lịch sử vấn đề
Hồi ký là một thể quan trọng thuộc loại hình ký Tác phẩm hồi ký vừa
có khả năng đáp ứng những yêu cầu bức thiết của thời đại vừa là nơi cá tínhsáng tạo của ngời nghệ sĩ tìm đợc chân trời nghệ thuật mới Bởi vậy, trong khotàng văn học Việt Nam, đặc biệt từ những thập niên 90 của thể kỷ XX trở lại
đây, thể hồi ký ngày càng đợc nhân lên về số lợng tác phẩm, gia tăng về chấtlợng và là đối tợng đợc quan tâm sâu sắc của lý luận, phê bình hiện đại Theo
định hớng nghiên cứu của đề tài, chúng tôi chia các ý kiến thành hai dạng:những bài nghiên cứu mang tính tổng quan về hồi ký văn học Việt nam từ 1986
đến nay và những bài nghiên cứu về từng tác phẩm hồi ký riêng lẻ
2.1 Những bài nghiên cứu mang tính tổng quan
Nghiên cứu, thảo luận mang tính tổng quan về hồi ký văn học Việt Nam
từ 1986 đến nay, có các bài viết, các công trình của Bích Thu (2004), Đỗ HảiNinh (2006), Lý Hoài Thu (2008), Phạm Thị Lan Anh (2008) Tất cả các bàiviết, các công trình nghiên cứu này đều khẳng định: bắt đầu từ thời kỳ đổi mới(từ năm 1986), hồi ký trở thành hiện tợng văn học nở rộ, thể loại này càng pháttriển hơn nữa khi văn học đợc “cởi trói”, khi đời sống dân chủ đợc thúc đẩy và
“cái tôi” cá nhân của tác giả trở thành đối tợng phản ánh
Năm 2004, Bích Thu trong cuốn Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục (Phan Cự Đệ chủ biên), ở mục Ký Việt Nam sau Cách mạng tháng Tám
1945, có cái nhìn tổng quát về sự phát triển của thể ký nói chung, hồi ký văn
học nói riêng Ngo i việc khẳng định vai trò của thể loại hồi ký từ sau nămài việc khẳng định vai trò của thể loại hồi ký từ sau năm
1975, đặc biệt từ khi đất nớc đổi mới, tác giả còn chỉ ra điểm đặc sắc của cáctác phẩm hồi ký thời kỳ này là đều có giá trị văn học, mang đậm dấu ấn cái tôicủa nhà văn
Năm 2006, trên Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 11, tác giả Đỗ Hải
Ninh trong bài Ký trên hành trình đổi mới, mục Sự nở rộ của hồi ký đã đi tìm
căn nguyên để lý giải hiện tợng thú vị trên Tác giả chỉ ra nguyên nhân kháchquan và chủ quan, nguyên nhân xuất phát từ điều kiện lịch sử, xã hội vànguyên nhân bắt nguồn từ quá trình vận động nội tại của nền văn học Nh vậy,văn học thời kỳ này tìm đến thể hồi ký là tìm một cách tiếp cận hiện thực, đáp
Trang 6ứng nhu cầu giãi bày của ngời viết, nhu cầu đợc hiểu, đợc chiêm nghiệm quákhứ, đánh giá lại lịch sử Lúc này, hiện thực đợc phản ánh không chỉ là hiệnthực bề mặt, mà còn là hiện thực chiều sâu, đầy tính phức tạp, bí ẩn của conngời Tiếp đó, Đỗ Hải Ninh chỉ ra một vài đặc điểm của hồi ký văn học ViệtNam thời kỳ đổi mới ở cả phơng diện nội dung và nghệ thuật Về phơng diệnnội dung, tác giả nhấn mạnh: hồi ký thời kỳ đổi mới quan tâm hơn tới sựchiêm nghiệm lịch sử và số phận cá nhân trong lịch sử; đồng thời qua nhữngtrang viết các nhà văn đã làm sống lại ký ức về thời đại của họ, những bứcchân dung về bạn bè, đồng nghiệp và cả bức chân dung tự hoạ về chính bảnthân ngời viết Về phơng diện nghệ thuật, Đỗ Hải Ninh nhấn mạnh đến chấtgiễu nhại, giọng tự thú, tự vấn- một trong những đặc trng riêng biệt- một thểnghiệm thành công của hồi ký thời kỳ đổi mới.
Năm 2008, Lý Hoài Thu với bài Hồi ký và bút ký thời kỳ đổi mới (Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 10) khẳng định: “Dù viết về quá khứ, tái dựng “ký
ức thời gian đã mất”, song giá trị và khả năng cảm hoá của các tác phẩm hồi
ký lại đợc xác lập bởi góc nhìn hiện tại, đáp ứng nhu cầu nhận thức thực tại
Về phơng diện nội dung, Lý Hoài Thu chỉ ra: Bên cạnh viêc khai thác nhữngchủ đề- đề tài mang tầm “vĩ mô”, tầm đất nớc, dân tộc (hai cuộc chiến tranh
vệ quốc vĩ đại, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc), các tácphẩm hồi ký thời kỳ đổi mới luôn bám sát cuộc sống “vi mô” với bao ngổnngang, bề bộn của “muôn mặt đời thờng”, của nhân tình thế thái Song songvới dòng chảy lịch sử là dòng chảy văn chơng, là công cuộc “nhận đờng” và
“lên đờng” đầy khó khăn, thử thách; là những vụ án văn chơng, là chân dungvăn nghệ sĩ; là những số phận văn chơng trong quá khứ cũng nh trong hiện tạihiện lên rõ nét, trần trụi cùng với những trải nghiệm thấm thía, những suy tsâu lắng về nghiệp, về nghề Tất cả đều có trong hồi ký thời kỳ đổi mới Về cơbản, Đỗ Hải Ninh và Lý Hoài Thu cùng tiếng nói chung khi chỉ ra sự đa dạngtrong nội dung phản ánh của hồi ký văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới Riêng
ở phơng diện nghệ thuật, mỗi tác giả có những phát hiện khá thú vị Nếu ĐỗHải Ninh nhấn mạnh đến chất giễu nhại, giọng tự thú , tự vấn trong hồi ký thời
kỳ này thì Lý Hoài Thu chỉ ra sự đa dạng trong giọng điệu trần thuật, dẫn đến
Trang 7sự “đa dạng hoá” trong kết cấu hồi ức tạo nên những phong cách nghệ thuậtkhông thể trộn lẫn.
Có thể nói, hai bài viết của Đỗ Hải Ninh và Lý Hoài Thu là những nhận
xét xác đáng về thể hồi ký văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới
Tháng 11/ 2008, luận văn Thạc sĩ của Phạm Thị Lan Anh Hồi ký của một“
số nhà văn Việt Nam hiện đại” (Trờng Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn)
nghiên cứu khá công phu về thể loại hồi ký của văn học Việt Nam hiện đại ớng nghiên cứu của đề tài đã mang tính tổng quát hơn, nhìn nhận, khảo sát vấn
H-đề ở phơng diện đặc trng thể loại, không dừng lại ở việc nghiên cứu từng tácphẩm hồi ký riêng lẻ Trong luận văn này, thể loại Phạm Thị Lan Anh quan tâmcũng là hồi ký văn học Việt Nam Song tác giả đã khảo sát các tác phẩm hồi ký
đợc sáng tác cả trớc và sau năm 1986 để chỉ ra một số đặc điểm về mặt nội dung
và phơng thức biểu hiện của hồi ký văn học Việt Nam hiện đại
2.2 Những bài nghiên cứu về từng tác phẩm riêng lẻ
Bên cạnh những bài viết, những công trình nghiên cứu tổng quan về thểhồi ký văn học trong văn học Việt Nam hiện đại, đặc biệt là hồi ký văn học ViệtNam từ 1986 đến nay, chúng tôi qua quá trình khảo sát đã tìm thấy rất nhiềunhững bài viết, những công trình nghiên cứu về từng tác phẩm hồi ký riêng lẻ
Nghiên cứu, thảo luận về Cát bụi chân ai và Chiều chiều của Tô Hoài
có các bài viết của: Xuân Sách và Trần Đức Tiến (1993), Đặng Thị Hạnh(1998), Đặng Tiến (1999), Phong Lê (1999), Vơng Trí Nhàn (2002), Nguyễn
Đăng Điệp (2004), Nguyễn Văn Thọ (2006) Những bài viết trên, nhìn chung
đã đánh giá đúng, trúng những đặc sắc về giá trị nội dung, giá trị nghệ thuật
của hai cuốn hồi ký Cát bụi chân ai và Chiều chiều, giúp ích nhiều cho những
nghiên cứu mang tính khái quát hơn Những nhận xét đó đã cho chúng ta phần
nào hiểu đợc vì sao phải đến Cát bụi chân ai và Chiều chiều ngời ta mới hình
dung đợc tầm vóc và tiềm lực của hồi ký Tô Hoài, dù đó là thể loại “sở trờng”của ông nh G.s Nguyễn Đăng Mạnh đã từng nhận định
Trên báo Văn nghệ, số ra ngày 13/11/1993, Xuân Sách và Trần Đức Tiến
đã có một cuộc trao đổi về Cát bụi chân ai của Tô Hoài Theo Trần Đức Tiến, với Cát bụi chân ai, “lần đầu tiên ông đã cho thế hệ cầm bút chúng tôi nhìn một
Trang 8số “nhân vật lớn” của văn chơng nớc nhà từ một cự ly gần,…- một khoảng cáchkhá tàn nhẫn, nhng chính vì thế mà chân thực và sâu sắc” Xuân Sách khẳng
định rằng: “So với những tác phẩm của ông mà tôi đọc thì Cát bụi chân ai là
quyển tôi thích nhất Tác phẩm mang dấu ấn đậm nhất phong cách Tô Hoài- từvăn phong đến con ngời Thâm hậu mà dung dị, thì thầm mà không đơn điệu,nhàm chán, lan man tí chút nhng không kề cà vô vị, một chút u mặc với cáigiọng khơi khơi mà nói, anh muốn nghe thì nghe không bắt buộc nghe rồi hiểu,
đừng cật vấn…Và vì thế, sức hấp dẫn chủ yếu là sự chân thật” [78]
Năm 1998, trong tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12, với bài Viết về
một cuộc đời và những cuộc đời (Hay Nghệ thuật tự sự trong Cát bụi chân“
ai”), Đặng Thị Hạnh rất quan tâm đến cấu trúc thời gian và ngôn ngữ trong Cát bụi chân ai Theo tác giả: “Dòng hoài niệm trong Cát bụi chân ai chạy
lan man rối rắm nh ba mơi sáu phố phờng, những phố hẹp của Hà Nội cổ đanxen nhau dày đặc, với những rẽ ngoặt quanh co…Thời gian hồi tởng nh ngẫuhứng cũng chạy lông bông theo dòng hoài niệm” [30, 37]
Năm 1999, Phong Lê trong bài Ngót sáu mơi năm văn Tô Hoài , khi
đánh giá về phong cách nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật của Tô Hoài có nhắc
đến Cát bụi chân ai và Chiều chiều với những nhận xét: “Đọc Cát bụi chân ai rồi lại đọc Chiều chiều, ngời đọc luôn luôn đợc cuốn hút bởi những gì mới mẻ,
không trùng lặp, không nhạt mờ, không kém sút trong cái kho kỉ niệm của nhàvăn Chẳng lên giọng cũng chẳng cần ra bộ khiêm nhờng, Tô Hoài cứ tự nhiên
mà kể những gì mình đã biết, đã trải” [53, 40] Phong Lê chỉ ra chân dung
“một Tô Hoài không lẫn với bất cứ ai, một Tô Hoài hết mình Hóm hỉnh vàthông minh Nhẹ nhõm mà có sức nặng, cứ nh đùa mà thật nghiêm chỉnh.Nhũn nhặn, khiêm nhờng mà thật dũng cảm, chẳng biết sợ là gì” [53, 41]
Cũng trong năm 1999, cùng quan điểm với Phong Lê, Đặng Tiến trong
bài Tổng quan về hồi ký Tô Hoài, nhận định : “Tô Hoài viết cái gì cũng ra…tựtruyện Anh nhẩn nha kể hết chuyện này sang chuyện khác nhng mỗi tácphẩm đều mang đến cho ngời đọc nhiều kiến thức mới lạ và lý thú…Cát bụi
chân ai mang lại nhiều hiểu biết về Nguyễn Tuân, Nguyên Hồng, Xuân Diệu
và một thời đại văn học Tởng đến đó là hết chuyện, nhng Chiều chiều lại
Trang 9mang lại nhiều ánh sáng mới, rọi chiếu vào một giai đoạn dài và nhiều truânchuyên trong xã hội và văn học từ 1955 đến nay Ngày nay không thể viết phêbình hay lịch sử văn học mà không đọc Tô Hoài” [91].
Năm 2002, Vơng Trí Nhàn, một trong những nhà phê bình đã để lại
nhiều bài viết hấp dẫn, khi nghiên cứu Tô Hoài và thể hồi ký đã chỉ ra một số
đặc điểm của hồi ký Tô Hoài: “Sống đến đâu viết đến đấy; quan niệm của TôHoài về cái thực- một điều hết sức thiết cốt với hồi ký; hồi ký Tô Hoài có sựphân thân: trong ngời có mình” [66, 20]
Năm 2004, Nguyễn Đăng Điệp với bài Tô Hoài sinh ra để viết (Tạp chí
Nghiên cứu Văn học, số 9), khi đánh giá về khối lợng tác phẩm đồ sộ của Tô
Hoài không quên dừng lại ở mảng hồi ký, đặc biệt hai tác phẩm Cát bụi chân
ai và Chiều chiều Nguyễn Đăng Điệp nhận định: “Đặc sắc trong hồi ký của
Tô Hoài theo ý tôi… ớc hết, là ở nghệ thuật dựng không khí và giọng điệu, trthứ hai, đặt nhân vật trong muôn mặt đời thờng và thứ ba, các chi tiết giàuchất văn xuôi Thật đấy mà cứ nh tiểu thuyết” [24, 120]
Năm 2004, hai tác giả Nguyễn Văn Long và Nguyễn Huệ Chi trong cuốn
Từ điển Văn học (bộ mới), khi giới thiệu Tô Hoài đã dừng lại khá lâu và có
những nhận định mang tính tổng quát hơn cả về hai cuốn hồi ký Cát bụi chân
ai và Chiều chiều Hai tác giả xác đáng khi nhận xét: “Chiều chiều gần nh là
một tác phẩm liên hoàn của Cát bụi chân ai, cũng khai thác sâu vào một đối ợng mà Cát bụi chân ai cha nói hết” [40, 1748] Bài viết chỉ ra sự chân thực
t-trong hồi ức Tô Hoài, cái nhìn đa diện nhiều chiều về một thời đoạn lịch sử, đặcbiệt tài lột tả chân dung, gọi ra cái tạng thật về những nghệ sĩ cùng thời của ông
Đó là một Nguyễn Tuân thèm đi, lịch lãm, tinh tế; một Nguyên Hồng phàm ăn,
bỗ bã, mau nơc mắt; một Xuân Diệu mê mẩn tình trai…
Năm 2006, Nguyễn Văn Thọ trong Vài cảm giác với Chiều chiều, báo
Văn nghệ, số ra ngày 30/4 cũng nhận ra: Chiều chiều rất cuốn hút ở nghệ
thuật trần thuật, ở giọng điệu dân dã, hóm hỉnh, dí dỏm rất riêng mang phongcách Tô Hoài: “từng trang, từng trang đợc kể với một giọng bình thản, khôngcâu nệ thứ tự thời gian, thứ tự các tình huống, nhân vật, nhng thấm đợm cái
nhìn rất riêng, rất dí dỏm của tác giả Cái dòng chảy của Chiều chiều là dòng
Trang 10chảy tự nhiên Là thứ văn chơng đạt tới mức tự nhiên Tự nhiên, dung dị đạt
đ-ợc, phải là bậc thặng thừa của văn chơng!” [88, 13]
Bên cạnh những bài phê bình, tiểu luận nói trên, góp phần nghiên cứu
sâu hơn về phong cách hồi ký Tô Hoài nói chung và Cát bụi chân ai, Chiều
chiều nói riêng, phải kể đến các luận văn, luận án: Năm 1998, Lê Minh Hiền
(Đại học S phạm Hà Nội) với đề tài Tìm hiểu hồi ký Tô Hoài Năm 2001, Đoàn Thị Thuý Hạnh (Đại học S phạm Hà Nội) với đề tài Nghệ thuật trần thuật của
Tô Hoài qua hồi ký Năm 2007, Trơng Thị Huyền (Đại học S phạm Hà Nội) với
đề tài Đặc trng của thể loại hồi ký Tô Hoài, Lê Thị Biên (Đại học S phạm Hà Nội) với đề tài: Chiều chiều và những đặc sắc về thể tiểu thuyết- tự truyện của
Tô Hoài Năm 2009, Trần Thị Mai Phơng (Đại học Khoa học Xã hội & Nhân
văn) với đề tài Nhân vật ngời kể chuyện trong hồi ký và tự truyện Tô Hoài Năm 2010, Nguyễn Thị Nguyên (Đại học S phạm Hà Nội) với đề tài Hình tợng
tác giả trong hồi ký tự truyện của Tô Hoài, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng Tất
cả các công trình nghiên cứu trên đã chỉ ra những đặc sắc trong hồi ký Tô
Hoài nói chung và của hai tác phẩm Cát bụi chân ai và Chiều chiều nói riêng
ở phơng diện phản ánh hiện thực, nghệ thuật trần thuật, xây dựng kết cấu,nghệ thuật dựng chân dung nhân vật, ở cái tôi tác giả trong vai trò là ngời kểchuyện…Công trình của Đoàn Thị Thuý Hạnh chỉ ra vai trò đặc biệt của miêutả trong nghệ thuật trần thuật, phân tích cách tổ chức cốt truyện, phát triểnmạch truyện của Tô Hoài; đồng thời tác giả cho ta thấy tính phức điệu tronggiọng điệu trần thuật của ông, vừa hài hớc, dí dỏm, pha chút mỉa mai tinhquái, lại có lúc trữ tình, xót xa Hoặc qua việc khảo sát tất cả các cuốn hồi kýcủa Tô Hoài đợc công bố từ trớc đến nay, Trơng Thị Huyền nhận ra: “Cảmquan nhân bản đời thờng là cái nhìn xuyên suốt, bao trùm trong suốt năm tậphồi ký” [46, 94] Trong một số công trình, một số tác giả cũng đề cập tới chândung Tô Hoài ở một vài khía cạnh: tính cách, lối sống, cuộc đời; đặc biệt họluôn thấy một Tô Hoài hài hớc, hóm hỉnh, lạnh lùng, tỉnh táo, đôi khi tai quái
đến mức sắc lạnh, tàn nhẫn Hoặc có những công trình dừng lại chỉ ra một sốbình diện liên quan đến nhân vật ngời kể chuyện ở phơng diện: giọng điệu,ngôn ngữ, tài dẫn truyện…
Trang 11Những tác phẩm hồi ký khác của Mộng Tuyết (Núi Mộng gơng Hồ); Anh Thơ (Khi chim tu hú, Bên dòng chia cắt); Tố Hữu (Nhớ lại một thời), Đào Xuân Quý (Nhớ lại), Ma Văn Kháng (Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ
thơng), Huy Cận (Hồi ký Song đôi), Bùi Ngọc Tấn (Rừng xa xanh lá, Một thời
để mất), Hoàng Minh Châu (Mất để mà còn)…những bài đánh giá, phê bình,công trình nghiên cứu còn rất tha thớt Mỗi tác giả nghiên cứu lại có một cáinhìn riêng, lại khám phá một điểm thú vị riêng về mỗi tác phẩm
Về cuốn Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thơng của Ma Văn
Kháng có các bài viết của Hồ Anh Thái (2009), Nguyễn Ngọc Thiện (2009),Bùi Bình Thi (2009), Đinh Hơng Bình (2009), Thi Thi (2010); các công trìnhnghiên cứu của Nguyễn Thị Nguyên (2010), Lê Thị Kim Liên (2010)
Hồ Anh Thái ngày 17/10/2009 trên internet đăng bài Ma Văn Kháng con
đờng hồi ức đã nhận xét về nội dung và cách viết của cuốn sách: “từ số phận
một cá thể soi chiếu qua lịch sử ngời đọc có thể hình dung ra một thời đại”,cách viết “nhu đấy nhng bên trong là thép tôi rừng rực” [85]
Tháng 11/2009, Nguyễn Ngọc Thiện với bài Ma Văn Kháng và cuốn hồi
ký - tự truyện mới lại chỉ ra quá trình thai nghén, ra đời rất kỳ khu, tâm huyết
của tác phẩm trong bốn năm ròng Đồng thời, ông cho rằng đây là tác phẩm hồiký- tự truyện đặc sắc, bởi lẽ: Nhà văn không chỉ kể lại một cách trung thực, mắtthấy tai nghe mà còn miêu tả, dựng lại một cách tạo hình, sống động với ngôn
từ, bút pháp, phong cách của một cây bút tài hoa, lão thực [95]
Ngày 21/12/2009 trên báo Văn nghệ Công an, số 118, Bùi Bình Thi có
đăng bài viết với tiêu đề Ma Văn Kháng với hồi ký Năm tháng nhọc nhằn,“
năm tháng nhớ thơng ” Tác giả chỉ ra hành trình cuộc đời của nhà văn và độngcơ viết của ông Theo Bùi Bình Thi: “Cuốn hồi ký là cuốn sách chất ngất đờisống và nhuyễn sánh trữ tình” [92]
Cuối tháng 12/2009, Đinh Hơng Bình trên báo An ninh Thủ đô có đăng bài Đọc hồi ký Ma Văn Kháng thấy bóng văn nhân Đọc hồi ký Ma Văn Kháng, tác giả nhận ra một con ngời rất “nhân ái, có tình”, một lối viết
“không kiểu cách, không cầu kì, nh vừa tâm sự, vừa kể chuyện…viết là để giãibày chứ không phải để câu khách” [9]
Trang 12Ngày 19/1/2010 trên báo Hà Nội mới, số 14701, Thi Thi có bài Văn trong
hồi ký và hồi ký của một nhà văn Tác giả cho rằng: sức hấp dẫn của tác phẩm
(Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thơng) chính là ở chất liệu đời sống
phong phú và tâm tình nhẹ nhàng của nhà văn toát lên qua từng trang sách
Nhìn chung, các tác giả đều thống nhất ở thái độ khen ngợi tác phẩm,khâm phục tác giả Song họ cha đặt ra nhiệm vụ nghiên cứu khoa học, chanhằm phát hiện ra giá trị thẩm mỹ của hình tợng nghệ thuật Những ý kiếntrên chỉ là những nhận xét trên phơng diện cảm nhận, cảm thụ văn học, cha cótính hệ thống, cha có cái nhìn toàn diện, khái quát
Đến tháng 11/2010 có hai công trình nghiên cứu của Lê Thị Kim Liên
và Nguyễn Thị Nguyên Lê Thị Kim Liên (Đại học S phạm Hà Nội) với đề tài:
Thể hồi ký tự truyện trong hồi ký của Ma Văn Kháng và Đặng Thị Hạnh.
Nguyễn Thị Nguyên (Đại học S phạm Hà Nội) với đề tài: Hình tợng tác giả
trong hồi ký tự truyện của Tô Hoài, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng Cả hai luận
văn trên đều khảo sát cuốn hồi ký Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ
th-ơng để chỉ ra phong cách hồi ký tự truyện đặc sắc của Ma Văn Kháng.
Nguyễn Thị Nguyên đi sâu vào hình tợng tác giả và chỉ ra: một Ma VănKháng với quan niệm hồi ký không chỉ là sự thật trần trụi, đắng cay mà còn lànhững trang văn rất nên thơ về cuộc đời; một Ma Văn Kháng có cái nhìn sắcsảo, đa diện nhiều chiều phát hiện mọi góc khuất của cuộc đời trần trụi; một
Ma Văn Kháng với giọng điệu trữ tình, sâu lắng, mỉa mai, châm biếm, triết luậnsâu xa Lê Thị Kim Liên với phạm vi đề tài rộng hơn, đã chỉ ra ba đặc tr ng cơbản của hồi ký tự truyện qua sự đối sánh của hồi ký Ma Văn Kháng và ĐặngThị Hạnh: thứ nhất, hồi ký tự truyện là nơi tác giả thể hiện cái tôi bản thân rõnét nhất; thứ hai, là nơi phản ánh hiện thực; thứ ba là đặc trng về nghệ thuật,trên bình diện điểm nhìn trần thuật, kết cấu, giọng điệu và ngôn ngữ
Về cuốn Nhớ lại một thời của Tố Hữu có bài viết Hành trình cách
mạng- hành trình thơ của tác giả Mai Hơng trong Tạp chí Nghiên cứu Văn học, số 12, năm 2000 Ngời viết nhận ra hành trình cách mạng, hành trình thơ
Tố Hữu luôn song hành cùng nhau Mỗi sự kiện lớn lao của dân tộc đều gợicảm hứng cho hồn thơ Tố Hữu thăng hoa cảm xúc
Trang 13Về cuốn hồi ký Tiếng chim tu hú và Bên dòng chia cắt của Anh Thơ chỉ
có một vài ý kiến nhận xét nằm rải rác trong các bài viết giới thiệu về AnhThơ và sự nghiệp sáng tác của bà
Trên trang web http://www.hanoimoi.com.vn, Trần Hoàng Thiên Kim
với bài Tình- thơ của nữ sĩ Anh Thơ cho rằng mục đích của nữ sĩ Anh Thơ khi
đến với thể loại hồi ký là “để ghi lại một thời đầy nhiệt huyết của mình, củabạn bè mình” [51] Bởi vậy, cuối đời, khi tuổi cao, sức yếu, hiu quạnh, cô đơn,nữ sĩ vẫn dành tất cả thời gian để viết hồi ký Tác giả coi việc viết hồi ký là cơhội cuối cùng để trả nốt món nợ đời đã trót đa mang
Trong Từ điển văn học (bộ mới), mục Anh Thơ, tác giả Nguyễn Văn
Long khi giới thiệu về nữ sĩ đã quan tâm sâu sắc đến bộ ba cuốn hồi ký của bà,
trong đó có Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt: “Một bộ sách nửa hồi ký, nửa
tự truyện, ghi lại… những hoạt động cách mạng và văn học từ sát trớc Cáchmạng tháng Tám cho đến cuối những năm 90 của thế kỷ XX” Bên cạnh việcgiới thiệu giá trị nội dung của cuốn sách, tác giả đã rất tinh khi nhận ra đặc sắctrên phơng diện nghệ thuật: “Cuốn sách cho thấy giọng văn lôi cuốn của AnhThơ và khả năng dựng lại các hồi ức tỉ mỉ, sinh động của bà” [40, 47]
Về cuốn hồi ký Rừng xa xanh lá, bạn bè một thuở của Bùi Ngọc Tấn, một nhà văn cuộc đời nhiều sóng gió, chìm nổi, bất hạnh, đa truân có Một thời
không mất của Vân Long, Viết về bạn bè thấy chân dung tác giả của Đình
Kính, Một kiếp bên trời của Phạm Xuân Nguyên, Bùi Ngọc Tấn kể chuyện
bạn bè của Trần Thiện Đạo, Chữ nặng của Lê Minh Hà, Sinh khí của văn
ch-ơng của Khánh Phch-ơng Mỗi nhà phê bình cảm nhận trong hồi ký Bùi Ngọc
Tấn một nét đẹp riêng Song ai cũng thống nhất, đằng sau chân dung các vănnghệ sĩ, bạn bè, đồng nghiệp của Bùi Ngọc Tấn, qua lối viết hồn hậu, ngấmngầm, sôi bỏng; qua giọng văn trầm tĩnh, đôn hậu của ông, ta thấy một thời,một đời ngời Bùi Ngọc Tấn hiện lên là con ngời có ý chí, nghị lực phi thờng,chan chứa tình yêu thơng với đời, với nghề, với ngời, đặc biệt là những ngời bạn
đã cùng ông chia ngọt, sẻ bùi, động viên ông vợt qua những bão táp của cuộc
đời Đọc hồi ký của ông, ta không chỉ kinh ngạc, cảm động, thán phục mà còntin Tin vào chữ, vào ngời
Trang 14Về hồi ký Song đôi của Huy Cận, tháng 11/2010, Đặng Ngọc Huyền (Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn) có công trình nghiên cứu Đặc điểm
hồi ký của các nhà thơ Lu Trọng L- Huy Cận- Xuân Diệu ở công trình này,
Đặng Ngọc Huyền đã khảo sát cuốn hồi ký Song đôi của Huy Cận cùng với
một số cuốn hồi ký khác của nhà thơ Lu Trọng L, Xuân Diệu và rút ra nhận
định: đó là những trang hồi ký tràn ngập kỉ niệm, từ thuở ấu thơ cho đến lúctrởng thành, từ cuộc đời của cá nhân nhà thơ đến cuộc đời rộng lớn của nhândân, đất nớc; tất cả đã góp phần lý giải những bớc đờng hình thành t tởng,nhân cách ngời nghệ sĩ Mặt khác, vì là hồi ký của nhà thơ lãng mạn nên ngời
đọc có thể tìm thấy nhiều hình ảnh nên thơ, cách so sánh ví von và giọng trữtình, đằm thắm của thơ ca
Về cuốn hồi ký Nhớ lại của Đào Xuân Quý đã từng gây xôn xao d luận
một thời, chúng tôi đọc đợc một tin ngắn đăng trên trang Web
http://BBCVietnamese.com với tựa đề Nhà thơ Đào Xuân Quý không còn nữa
nhận xét nh sau: “Cái tên Đào Xuân Quý gây xôn xao nhất lại là khi ông đã về
hu, và cho ra tập hồi ký Nhớ lại Chơng cuối của cuốn sách kể chi tiết về Đại
hội lần thứ IV của Hội Nhà văn Việt Nam năm 1989… Đây đợc xem là đạihội “dân chủ” nhất và có nhiều tranh cãi tự do nhất trong các đại hội của giớinhà văn Việt Nam” [105]
Trong cuốn Từ điển văn học (bộ mới), mục Đào Xuân Quý, Đặng Thị
Hảo nhắc đến tác phẩm này và cho rằng tác phẩm đã “ghi lại chân thật chặng
đờng hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, lao động nghệ thuật với t cách lànhân chứng của nhiều biến động cùng các sự kiện văn chơng lớn trong toànquốc” [40, 386]
Về cuốn Núi Mộng gơng Hồ của Mộng Tuyết có các bài nghiên cứu của
Huy Cận, Đoàn Minh Tuấn, Lê Thị Thanh Tâm, Vũ Thanh, đặc biệt là luậnvăn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Xuân Mai
Năm 1998, trong lời cảm đề đầu cuốn hồi ký Núi Mộng gơng Hồ của
Mộng Tuyết nữ sĩ, nhà thơ Huy Cận viết: “Núi Mộng gơng Đông Mộng Tuyết là duyên văn tự, mà cũng là tình duyên, tình đời thấm đợm tìnhnon nớc” [101]
Trang 15Hồ-Năm 2004, trong cuốn Từ điển Văn học (bộ mới), mục Mộng Tuyết, Vũ
Thanh giới thiệu về ba tập hồi ký của bà: “Năm 1998, Mộng Tuyết cho xuấtbản cuốn hồi ký Núi Mộng gơng Hồ…ghi lại cuộc đời, sự nghiệp, những hoạt
động văn học, văn hoá của bà, Đông Hồ và một số văn nghệ sĩ khác” [40, 999]
Năm 2010, trên trang web http://www.nld.com.vn, Đoàn Minh Tuấn có
bài Ngời con gái hay chữ phơng Đông ở bài viết này, Đoàn Minh Tuấn
không chỉ giúp ta nhận ra nội dung mà còn hé lộ đặc điểm về kết cấu của tácphẩm: “Ba tập hồi ký văn học của Mộng Tuyết gồm 60 bài viết, về những kỷniệm với văn nhân cả nớc… Các cuộc du ngoạn…giao lu thù tạc với bạn vănbốn phơng” [100]
Năm 2011, trên trang web http://khoavanhoc-ngonngu.edu.vn, Lê Thị
Thanh Tâm với bài viết Núi Mộng gơng Hồ đã chỉ ra nét đặc sắc về nội dung
trong tập hồi ký của Mộng Tuyết với hình ảnh vùng đất Hà Tiên trầm buồn,thơ mộng, cổ kính; những cuộc đời đã trải qua cả bình yên, sóng gió của thời
đại; ở đó có cuộc đời, những bớc đờng sự nghiệp của nhà thơ Đông Hồ, mốitình Đông Hồ- Mộng Tuyết; ở đó đầy ắp những câu chuyện du ngoạn…
Đặc biệt, hồi ký Mộng Tuyết đã trở thành vấn đề nghiên cứu cho luậnvăn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Xuân Mai, tháng 5/2011 (Đại học Vinh) với đề
tài Đặc điểm hồi ký của Mộng Tuyết.
Nh vậy, qua quá trình khảo sát t liệu theo hai hớng trên, chúng tôi nhậnthấy, trong những năm gần đây, giới nghiên cứu phê bình đã quan tâm hơn
đến thể hồi ký nhng các công trình nghiên cứu mang tính tổng quan chanhiều Các công trình nghiên cứu về từng tác phẩm hồi ký riêng lẻ chỉ chủ yếu
tập trung vào Cát bụi chân ai, Chiều chiều của Tô Hoài và gần đây là Năm
tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thơng của Ma Văn Kháng; còn Núi Mộng
g-ơng Hồ của Mộng Tuyết; Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt của Anh Thơ; Nhớ lại một thời của Tố Hữu, Nhớ lại của Đào Xuân Quý, hồi ký Song đôi
của Huy Cận; Rừng xa xanh lá, Một thời để mất của Bùi Ngọc Tấn; Mất để mà
còn của Hoàng Minh Châu cha đợc sự quan tâm thích đáng Có tác phẩm cha
trở thành đối tợng nghiên cứu khoa học; hoạ chăng chỉ là những lời nhận xétrải rác đây đó hay điểm qua khi nhắc đến sự nghiệp sáng tác của họ Đặc biệt
Trang 16hơn cả, cha có một công trình nghiên cứu chuyên biệt nào về Đặc điểm của hồi
ký văn học Việt Nam từ 1986 đến nay mà chỉ có một vài nhận xét trong một số
bài viết Tiếp thu và phát triển ý kiến của những ngời đi trớc, đặc biệt của
những nhà nghiên cứu văn học, chúng tôi chọn vấn đề Đặc điểm hồi ký văn
học Việt Nam từ 1986 đến nay làm đề tài nghiên cứu.
3 Đối tợng nghiên cứu, phạm vi t liệu khảo sát
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Đối tợng nghiên cứu của luận văn là đặc điểm của hồi ký văn học ViệtNam từ 1986 đến nay
3.2 Phạm vi t liệu khảo sát
Luận văn tập trung khảo sát các tác phẩm tiểu biểu sau:
- Cát bụi chân ai (Tô Hoài)
- Chiều chiều (Tô Hoài)
- Nhớ lại một thời (Tố Hữu)
- Nhớ lại (Đào Xuân Quý)
- Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thơng (Ma Văn Kháng)
- Hồi ký Song đôi (Huy Cận)
- Một thời để mất, Rừng xa xanh lá (Bùi Ngọc Tấn)
- Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt (Anh Thơ)
- Mất để mà còn (Hoàng Minh Châu)
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 17biểu đợc chọn làm đối tợng nghiên cứu, chúng tôi sẽ tổng hợp để chỉ ra những
đặc điểm của hồi ký văn học Việt Nam từ 1986 đến nay trên cả phơng diệnnội dung và phơng diện nghệ thuật
so sánh, đối chiếu để thấy đợc những phong cách viết hồi ký đặc sắc, độc đáo,riêng biệt ở mỗi nhà văn
6 Cấu trúc của luận văn
Ngoài Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận văn đợc cấu trúc qua
Trang 18Chơng 1 Hồi ký văn học từ 1986 đến nay trong sự phát triển Chung của hồi ký Việt Nam đơng đại
1.1 Khái niệm hồi ký
Hồi ký là một thể thuộc loại hình ký bên cạnh những thể khác nh: bút
ký, tuỳ bút, phóng sự, ký sự, truyện ký và một tiểu loại mới xuất hiện mấychục năm trở lại đây là chân dung văn học Từ thế kỷ XX, đặc biệt từ nhữngnăm đầu của thế kỷ XXI, hồi ký đã trở thành thể tài thông dụng, có vị trí quantrọng trong đời sống văn học Việt Nam nói riêng và các nền văn học khác trênthế giới nói chung
Vậy thế nào là hồi ký?
Có thể nói có bao nhiêu loại từ điển là có bấy nhiêu cách định nghĩa vềhồi ký Mỗi loại từ điển tuỳ mục đích, đối tợng độc giả, khái niệm hồi ký đợclàm sáng tỏ ở những mức độ nhất định
Theo Từ điển tờng giải và liên tởng tiếng Việt, Nxb Văn hoá- Thông tin,
Hà Nội 1999, tác giả Nguyễn Văn Đạm đa ra cách hiểu: “Hồi ký: là thể văn
thuật lại theo thứ tự thời gian những sự việc mà tác giả đã trải qua hoặc chứngkiến một phần nào trong những mối quan hệ với thời đại” [21, 386] Nh vậy,Nguyễn Văn Đạm cho rằng hồi ký luôn thuật lại sự việc theo thứ tự thời gian.Trong thực tế, kết cấu của tác phẩm hồi kí vô cùng phong phú và đa dạng, đặcbiệt với những tác phẩm hồi ký hiện đại Dòng hồi tởng của tác giả luôn bị đứtnối, chắp vá và ký ức là những mảnh ghép Cũng trong cuốn từ điển này, tác giả
đã đồng nhất khái niệm hồi ký [21, 386] và khái niệm tự truyện [21, 887] vốn là
hai khái niệm rất gần nhau nhng không hoàn toàn trùng khít Tìm hiểu về vấn đề
này, trong cuốn Từ điển Văn học (bộ mới), mục Tự truyện, tác giả Đỗ Đức Hiểu
đã giúp ta phân biệt tự truyện và hồi ký: “Hồi ký có thể chỉ ghi những sự kiện về
một thời kỳ lịch sử, mà tác giả không phải là nhân vật chính; còn tự truyện kể cáctruyện của cái “tôi” tác giả Tự truyện không phải một tập hợp những kỷ niệm tảnmạn, mà đợc bố trí nh một truyện, một tiểu thuyết ” [40, 1906] Qua nhận địnhtrên, ta thấy rõ, những vấn đề phản ánh trong hồi ký và tự truyện luôn thuộc
Trang 19bình diện quá khứ Do vậy ngời viết phải hồi tởng, nhớ lại để viết ra Tuynhiên, không phải tác phẩm hồi ký nào cũng là tự truyện và ngợc lại khôngphải tác phẩm tự truyện nào cũng là hồi ký Trong tự truyện nhân vật chính vàngời kể chuyện luôn là cái tôi tác giả Tác giả đang hồi tởng, kể về chính cuộc
đời mình Tác giả trở thành đối tợng thẩm mỹ, đời t của anh ta đợc nhào nặn,
h cấu, tởng tợng và xây dựng thành một cốt truyện hoàn chỉnh, đợc “tiểuthuyết hoá” Lúc này, đời t của nhà văn chỉ là chất liệu hiện thực đợc anh ta sửdụng vào những mục đích nghệ thuật khác nhau Trong khi đó, với hồi ký,nhân vật chính có thể không phải là chính bản thân tác giả Anh ta chỉ đanghồi cố, ghi lại những sự kiện lịch sử mà mình đợc chứng kiến; tái hiện lại chândung những bạn bè, đồng nghiệp Hồi ký không dùng các thủ pháp cốt truyện,
đôi khi đơn thuần chỉ là một tập hợp những kỷ niệm tản mạn
Trong cuốn Từ điển tiếng Việt, hồi ký lại đợc Hoàng Phê định nghĩa nh
sau: “Hồi ký là thể văn ghi lại những điều còn nhớ sau khi đã trải qua, đãchứng kiến sự việc” [71, 591] Cách định nghĩa theo kiểu chiết tự từ Hán- Việt
có phần ngắn gọn, đơn giản và dễ hiểu cho số đông ngời đọc bởi hồi là quaytrở lại, ký là ghi chép
Nhìn từ đặc trng thể loại, các tác giả của cuốn Từ điển thuật ngữ văn
học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2000, cho rằng: “Hồi ký là một thể
thuộc loại hình ký, kể lại những biến cố đã xảy ra trong quá khứ mà tác giả là
ngời tham dự hoặc chứng kiến” [29, 127] Từ điển văn học (bộ mới), Nxb Thế
giới, năm 2004, cùng thống nhất với quan điểm trên: “Hồi ký là một thuật ngữchỉ một thể loại nằm trong nhóm thể tài ký Tác phẩm hồi ký là một thiên trầnthuật từ ngôi tác giả (“tôi” tác giả, không phải “tôi” h cấu có thể thấy ở một sốtiểu thuyết, truyện ngắn), kể về những sự kiện có thực xảy ra trong quá khứ
mà tác giả tham dự hoặc chứng kiến” [40, 646] Trong cuốn Lý luận văn học
(Phơng Lựu chủ biên), Nxb Giáo dục, năm 2002, không trực tiếp định nghĩa
về hồi ký, song nhắc đến tiểu loại này trong các thể ký văn học, nhóm tác giả
đã nhấn mạnh: “Chủ thể trần thuật phải là ngời trong cuộc, kể lại những sựviệc trong quá khứ Hồi ký có thể nặng về ngời hay việc, có thể theo dạng kếtcấu- cốt truyện hoặc dạng kết cấu liên tởng” [60, 436] Hà Minh Đức trong
Trang 20cuốn Lý luận văn học, Nxb Giáo dục năm 1997, nhấn mạnh thêm: quá khứ mà
tác giả hồi cố phải là những sự việc đã để lại ấn tợng sâu sắc, gắn bó vớinhững kỉ niệm riêng, nhng đồng thời lại có một nội dung xã hội phong phú.Thời điểm câu chuyện xảy ra thuộc về một quá khứ gần gũi và có nhiều liên
hệ với cuộc đời hiện tại
Nh vậy, những vấn đề đợc phản ánh trong hồi ký luôn thuộc bình diệnquá khứ mà ngời viết- bình diện thứ nhất của tác phẩm hồi ký ghi lại bằngnhững ấn tợng, hồi ức trực tiếp của mình Đó là những vấn đề anh ta tham dựhoặc chứng kiến Lẽ dĩ nhiên, đó là những điều đã để lại ấn tợng sâu sắc, vẫncòn gây ám ảnh và có ý nghĩa quan trọng đối với ngời viết, với cuộc đời hiệntại Ngời ta chỉ viết hồi ký khi có một độ lùi nhất định về thời gian, khi có mộtkhoảng cách đủ xa để lắng lại, nhìn nhận mọi việc điềm tĩnh và sâu sắc hơn.Thậm chí ngời ta chỉ có nhu cầu viết hồi ký khi tuổi đã xế chiều, khi có nhiềutrải nghiệm trong cuộc sống, mang trong mình đầy ắp những bí mật cần giảitoả, những tâm sự cần bộc bạch Vì vậy, nội dung của hồi ký thờng là nhữngchiêm nghiệm, hé mở những bí mật trong cuộc đời (cả bí mật riêng t và bí mậtcộng đồng); những khoảnh khắc lớn lao của thời đại; những trăn trở, ngẫm suy
về cuộc đời, về con ngời
Trong các định nghĩa, nhận định trên về hồi ký, các tác giả, các nhànghiên cứu cũng xác định rất rõ những đặc trng cơ bản của thể hồi ký trên ph-
ơng diện nội dung là: tính xác thực của sự kiện đợc phản ánh và tính chủ quan
của ngời hồi tởng
Đặc trng đầu tiên, cơ bản nhất của hồi ký là tính xác thực của các sự
kiện đợc phản ánh qua cái nhìn hồi cố của ngời viết ở đặc trng này, Hà Minh
Đức đã nhấn mạnh: “Không gắn với sự thật xác thực trong đời sống kí dễ chơivơi và xoá đi ranh giới giữa mình với các thể loại khác” [25, 211] Các sự kiện
đợc kể lại trong hồi ký là những sự kiện ngời viết trực tiếp trải nghiệm hoặctận mắt chứng kiến Họ phải là ngời trong cuộc hoặc là một nhân chứng đángtin cậy Điều đó tạo cho hồi ký tính xác thực cao, rất ít yếu tố h cấu ở phơngdiện này, hồi ký rất gần với văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học, hấp dẫn ngời
đọc bởi những t liệu có giá trị về bản thân ngời viết, về không khí thời đại, các
Trang 21sự kiện lịch sử trong quá khứ mà cuốn hồi ký đó dựng lên Cũng bởi vậy, viếthồi ký không phải là sự lựa chọn của số đông nhà văn, viết hồi ký là “sự đấutranh để viết ra”, là “một cuộc mổ xẻ toàn diện” mà ngời viết phải thực sựdũng cảm Sau một cuốn hồi ký, có thể nhiều bí mật đợc hé lộ, gây chấn động
d luận Chính vì tính xác thực của hồi ký mà Cục Văn hoá Thông tin đã raquyết định cấm xuất bản hồi ký của những ngời ở một số vị trí công tác đặcbiệt Bởi lẽ, những cuốn hồi ký của họ có thể tiết lộ những bí mật quốc gia
Đặc trng thứ hai của hồi ký là tính chủ quan của ngời viết Đặc trng này
đợc sản sinh do cơ chế của hoạt động hồi tởng, do lăng kính chủ quan thâutóm toàn bộ câu chuyện của ngời kể chuyện Các sự vật, hiện tợng đợc phản
ánh, đợc kể lại trong hồi ký luôn thuộc bình diện quá khứ nên chịu tác độngbởi quy luật “quên lãng” và làm “méo lệch” của cơ chế hồi ức Nếu câuchuyện xảy ra trong quá khứ gần hoặc mới xảy ra, ngời viết còn nhớ rõ thìviệc hồi tởng có thể chân thực, sinh động đến từng chi tiết Song cũng có khicâu chuyện đã lùi sâu vào quá khứ, ngời kể quên đi một số chi tiết đòi hỏi phảivận dụng trí tởng tợng để h cấu, nhào nặn, bồi da, đắp thịt cho cái khung hiệnthực thêm sống động, giàu sức hấp dẫn và đầy ấn tợng Dùng h cấu, tởng tợng
là điều có thể và đôi khi là cần thiết trong hồi ký để tái tạo lại hiện thực nhằmphản ánh một cách đầy đủ và toàn vẹn diện mạo của đời sống trong tính đadạng, phức tạp, lẫn bề dày lịch sử của nó Hơn nữa tính chủ quan của hồi kýcòn đợc tạo nên bởi sự nhìn nhận, đánh giá của ngời viết Hiện thực phản ánhtrong hồi ký là hiện thực đợc lựa chọn, và gây ấn tợng sâu sắc với ngời kể nên
nó luôn ám ảnh họ, buộc họ phải viết ra, phải giải toả Hiện thực ấy lại đ ợc táihiện với một trạng thái cảm xúc riêng, đợc nhìn nhận, đánh giá lại bằng nhậnthức chủ quan của ngời viết, bằng kinh nghiệm sống của chính anh ta Do vậy,ngời viết hồi ký khi tái hiện hiện thực không giữ đợc thái độ khách quan nhcác sử gia Hiện thực trong hồi ký cũng không thể so bì với các t liệu gốc, cácchứng tích mang tính lịch sử Hồi ký chỉ là một phần cơ sở để xác minh hiệnthực trên phơng diện lịch sử- xã hội Quan trọng hơn, thông qua các sự kiện,các chi tiết tiểu sử, cũng nh qua cách đánh giá, nhìn nhận, thái độ tình cảm tr-
Trang 22ớc những gì đợc kể lại; tác giả hồi ký gián tiếp bộc lộ mình Điều này, trongcác thể loại khác nh văn xuôi lịch sử, tiểu sử khoa học không có đợc.
Đặc trng thứ ba của hồi ký xét trên phơng diện nghệ thuật là cách kể
chuyện theo dòng hồi tởng, nhớ đến đâu kể đến đấy và thờng không sử dụng
thủ pháp cốt truyện Tác giả có thể hồi tởng lại quá khứ theo trật tự thời giantuyến tính, từ quá khứ xa đến quá gần nhng cũng có thể trình tự của hồi ức bị
đảo lộn không theo quy luật khách quan mà lại chịu tác động bởi sự linh độngcủa ý thức Lúc này, hiện thực đợc phản ánh trong hồi ký tuân theo quy luậtriêng của sự hồi tởng mà chúng tôi tạm gọi là quy luật của dòng ý thức “Dòng
ý thức” vốn là một thủ pháp nghệ thuật rất phổ biến của tiểu thuyết đầu thế kỷ
XX, có khả năng tái hiện trực tiếp đời sống nội tâm, xúc cảm và liên tởng ởcon ngời, tạo nên sức hấp dẫn, diện mạo mới mẻ của tiểu thuyết Hồi kýkhông sử dụng thủ pháp này nh một sự vận dụng, ảnh hởng của tiểu thuyết;cũng không sử dụng thủ pháp này nghệ thuật nh tiểu thuyết mà chỉ đơn thuần
đó là cơ chế của dòng hồi tởng; là cách kể chuyện tự thân, vốn có của hồi ký
mà trong quá trình phát triển của thể loại, hồi ký đang khám phá chính mình
để trở nên hấp dẫn, lôi cuốn bạn đọc và có giá trị nghệ thuật cao hơn Bởi vậycàng những tác phẩm hồi ký hiện đại, nghệ thuật thể hiện càng điêu luyện vàmang giá trị thẩm mỹ cao
Nh vậy, hồi ký là thể loại tự sự đặc biệt thuộc loại hình ký, là “thiên trầnthuật từ ngôi tác giả”, mang tính xác thực, tính chủ quan và hình thức tự sự củadòng hồi ức Sức hấp dẫn của hồi ký ở bản thân các sự vật, hiện tợng đợc phản
ánh trong tác phẩm, ở cách kể lôi cuốn, hấp dẫn của tác giả nhng trớc hết là cáitôi cá nhân hiện hình sống động trên trang giấy
Về việc phân loại hồi ký, các tác giả, các nhà nghiên cứu tạm chia hồi
ký thành hai loại: hồi ký cách mạng và hồi ký văn học Hồi ký cách mạng có
vị trí vô cùng quan trọng Nội dung ghi lại những sự kiện lịch sử lớn lao củadân tộc (cuộc Cách mạng tháng Tám vĩ đại, chiến thắng Điện Biên Phủ lẫylừng năm châu, chấn động địa cầu…); những năm tháng không thể nào quên,nhân dân đấu tranh gian khổ; những ký ức về Bác Hồ, về những chiến sĩ cáchmạng kiên trung, bất khuất, đã chiến đấu vì độc lập, tự do của dân tộc Việt
Trang 23Nam Nhắc đến hồi ký cách mạng, chúng ta không thể không nhắc đến: Ngục
Kon Tum của Lê Văn Hiến; Bất khuất của Nguyễn Đức Thuận; Những năm tháng không thể nào quên của đại tớng Võ Nguyên Giáp Đây là những cuốn
hồi ký xuất sắc trong dòng văn học cách mạng nói riêng và văn học Việt Namnói chung Cùng với hồi ký về đề tài chiến tranh, cách mạng, hồi ký văn học,hồi ký của các nhà văn chiếm vị trí đặc biệt Trong đề tài này, đối tợng chúngtôi quan tâm nghiên cứu là hồi ký văn học, phạm vi hẹp hơn là hồi ký của cácnhà văn, nhà thơ từ 1986 đến nay Nội dung của hồi ký văn học cung cấp chongời đọc những thông tin về thân thế, tiểu sử, cuộc đời, sự nghiệp của các tácgiả cũng nh quá trình sáng tác, con đờng đa họ đến với văn chơng, cả nhữngsuy nghĩ, tâm sự suốt cuộc đời hoạt động nghệ thuật Đồng thời có tác phẩmcòn tái hiện lại hoàn cảnh lịch sử xã hội mà tác giả từng trải qua, những chặng
đờng văn học trong quá khứ…Nhắc đến hồi ký văn học, bạn đọc còn ấn tợng
mãi với những cuốn hồi ký nh: Từ bến sông Thơng của Anh Thơ; Cát bụi chân
ai, Chiều chiều của Tô Hoài; Núi Mộng gơng Hồ của Mộng Tuyết; Nhớ lại một thời của Tố Hữu; Nhớ lại của Đào Xuân Quý; Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thơng của Ma Văn Kháng; Hồi ký Song đôi của Huy Cận; Mất
để mà còn của Hoàng Minh Châu… ở hồi ký, các tác giả không chỉ xây dựng
đợc diện mạo của bản thân, của những ngời cùng thời mà còn phác hoạ gơngmặt của thời đại
Tóm lại, trong các tiểu loại hồi ký, ngời ta thờng đánh giá cao vị trí và ýnghĩa của hồi ký văn học Bởi ngoài việc ghi chép lại một cách chân thực quákhứ, hồi ký văn học còn mang đầy đủ đặc trng của một tác phẩm văn học- loạihình đặc biệt của ngôn từ với tính hàm súc, thẩm mỹ, tính hình tợng cao Nhvậy, hồi ký văn học có một vị thế tơng đối đặc biệt, ngoài mang chức năngthông tin nó còn không thể thiếu chức năng thẩm mỹ- một chức năng mà HàMinh Đức đã nhấn mạnh: “Không biểu hiện tính nghệ thuật rõ nét tác phẩm
ký có xu hớng lẫn lộn với các hình thức ghi chép khác về đời sống” [25, 211]
ở hồi ký văn học, những đặc trng của hồi ký nh tính xác thực, tính chủ quan vàhình thức tự sự theo dòng hồi ức đợc biểu hiện đậm đặc nhất, mang tính nghệthuật thẩm mỹ cao Có những hồi ký văn học xứng đáng là những tác phẩm
Trang 24nghệ thuật thực thụ, đợc sản sinh từ những nhà văn, nhà thơ, những cây bút bậcthầy, giàu kinh nghiệm, từng trải, sâu sắc và tinh tế.
1.2 Tổng quan về sự phát triển của hồi ký Việt Nam
Chỉ tính riêng trong thể ký văn học có nhiều tiểu loại khác nhau, trongmỗi tiểu loại lại có các thể nhỏ hơn Sự phân chia ấy thuộc nhiệm vụ củachuyên ngành lý luận văn học Và mọi sự phân chia chỉ là tơng đối Bởi trongthực tế sáng tác có rất nhiều tác phẩm khó có thể xếp riêng vào một thể loạinào Thêm vào đó, sự vận động tự thân của văn học cùng với sự phát triểnkhông ngừng của xã hội đã dẫn tới các thể loại bị xô lệch, mở rộng đờng biên,giao thoa với nhau Thực tế này, khiến chúng tôi rất khó khăn khi tìm hiểu vềquá trình hình thành và phát triển của thể hồi ký trong văn học Việt Nam
ở châu Âu thể loại hồi ký ra đời từ rất sớm, từ thời cổ Hy Lạp và đợcphát triển liên tục ở các thời trung đại, Phục hng, Khai sáng cho đến thế kỷXXI với nhiều tác phẩm xuất sắc của các nhà văn tiêu biểu Tác phẩm hồi kí
đợc coi là cổ xa nhất phải kể đến hồi ức của Kxênôphôn (nhà văn, nhà triết
học ngời Hy Lạp, 430-355 trớc C.N) mang tên Những sự kiện đáng nhớ hồi
t-ởng về nhà triết học Xôcrat và những ghi chép của ông về các cuộc hành quâncủa ngời Hy Lạp (thế kỷ V trớc C.N) Với phơng Tây, một xã hội luôn coitrọng tài năng, bản ngã của cá nhân, hồi ký có cơ hội hình thành và phát triển
từ rất sớm Đặc biệt, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, việc ứngdụng các thành tựu của nó vào thực tế, ý thức cá nhân lại càng trỗi dậy mãnhliệt Từ thế kỷ XV, hồi ký đã phát triển mạnh mẽ và cho đến nay nó vẫn là thểloại thông dụng, đợc quan tâm chú ý, có một bề dày lịch sử với khối lợng tácphẩm đồ sộ, số lợng tác giả đông đảo
Riêng ở Việt Nam, thể ký nói chung và hồi ký nói riêng xuất hiện muộnhơn Nguyên nhân chính xuất phát từ nền văn hoá, quan điểm t tởng của xãhội Vốn là một nớc phơng Đông với nền văn hoá nông nghiệp lúa nớc, phải
định c, phụ thuộc nhiều vào tự nhiên nên ngời Việt Nam luôn coi trọng tậpthể, coi trọng tình cảm, đề cao sự đoàn kết, tơng thân tơng ái Do vậy, con ng-
ời cá nhân thờng bị khuất lấp trong cái chung, trong cộng đồng; tài năng của
họ không đợc đề cao, ý thức cá nhân không đợc xem trọng Mặt khác, với hơn
Trang 25một nghìn năm Bắc thuộc, Việt Nam đã bị chi phối mạnh mẽ bởi t tởng phongkiến lấy “trung quân ái quốc” làm đầu nên con ngời cá nhân càng bị xem nhẹ.Trong văn học, các bậc nho sĩ, văn gia thờng cao giọng đàm đạo, giáo lý về lẽsống ở đời; bày tỏ những khát vọng, hoài bão lớn lao, cao cả Con ngời luônxuất hiện với ý thức về vai trò, trách nhiệm công dân, với những hình mẫu lýtởng là những bậc hiền nhân, quân tử, phụ nữ tiết hạnh Họ ít, thậm chí rất kỵkhi nhắc đến cái tôi cá nhân với những mơ ớc, khát vọng đời thờng của conngời cá thể, bản năng Hiện thực đợc nói tới thờng chỉ là hiện thực mang tínhtợng trng, ớc lệ và phần nhiều là cảnh thiên nhiên với phong, hoa, tuyết,nguyệt; không có hiện thực trần trụi, dung tục bởi họ cho đó là những đề tàithấp hèn
Bởi những lý do trên, mãi đến thế kỷ XVIII, thế kỷ của những đảo lộntrật tự xã hội, phép tắc, kỷ cơng bị lung lay, nhận thức của giới văn sĩ cũngkhác, thể ký mới xuất hiện Một trong những tác phẩm ký lần đầu tiên xuất
hiện ở Việt Nam phải kể đến Thợng kinh ký sự của Lê Hữu Trác, Vũ Trung tuỳ
bút của Phạm Đình Hổ Có quan điểm cho tác phẩm Thợng kinh ký sự của Lê
Hữu Trác, đợc viết năm Quý mão, niên hiệu Cảnh Hng thứ 44, nhà Lê (1781)
đã đánh dấu sự xuất hiện của thể văn hồi ký trong nền văn học Việt Nam
(Quan điểm của Cuốn Bàn thêm về hồi ký- Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội, 1963) Song tôi thiết nghĩ, tuy Thợng kinh ký sự là một tác phẩm có yếu tố của
hồi ký, tác giả đã ghi chép lại những sự việc trong quá khứ mà bản thân là ngờichứng kiến, tham dự nhng không thể xếp nó vào thể loại hồi ký Bởi yếu tố cánhân tác giả với những tâm t, suy nghĩ, với chân dung tự hoạ đang còn mờ nhạt
Lê Hữu Trác chủ yếu ghi chép một cách khách quan những gì mình đã đợc “mục
sở thị” Ông rất dè dặt khi đa ra những nhận xét riêng t, cố gắng không để lộ sắcthái chủ quan khi nhìn nhận, đánh giá Mặt khác, hồi ký còn đợc gọi là hồi ức tứckhoảng cách giữa thời điểm kể và thời điểm câu chuyện diễn ra là một khoảngthời gian khá dài- một khoảng thời gian đủ để ngời viết chiêm nghiệm, nhìnnhận bằng chính tuổi đời và sự từng trải của bản thân
Hồi ký ở Việt Nam xuất hiện sau một khoảng thời gian dài đến gần hai
thế kỷ Đầu thế kỷ XX, Ngục trung th, Phan Bội Châu niên biểu xuất hiện đã
Trang 26thực sự đánh dấu sự có mặt của thể loại hồi ký trong đời sống thể loại của văn
học Việt Nam Ngục trung th là cuốn hồi ký đợc Phan Bội Châu viết trong nhà
tù Trung Hoa Quốc dân đảng năm 1914 Tuy nhiên đến Phan Bội Châu niên
biểu- tác phẩm quan trọng nhất của cụ Phan trong những năm cuối đời (sáng
tác vào những năm 30 của thế kỷ XX) bút pháp hồi ký mới thực sự điêu luyện
và già dặn hơn rất nhiều Nội dung của cuốn hồi ký đã ghi chép lại những nămtháng hoạt động cách mạng bền bỉ, gian khó của ngời chí sĩ yêu nớc Phan BộiChâu với quá trình chuyển biến t tởng từ con đờng quân chủ lập hiến sang dânchủ t sản và có lúc tởng nh đã cảm nhận đợc sự cần thiết phải tìm đến “cáchmạng xã hội” Đi một chặng đờng dài với hoài bão, lý tởng, nhiệt huyết củamột thanh niên yêu nớc muốn làm những việc kinh thiên động địa, xoaychuyển càn khôn; với t tởng mới mẻ “Muốn vợt bể đông theo cánh gió/ Muôntrùng sóng bạc tiễn ra khơi”, cuối đời cụ Phan phải ngậm ngùi thừa nhận trong
nuối tiếc: Đời tôi một trăm lần thất bại không một lần thành công Cách cảm,
cách nghĩ của cụ là cách nghĩ của một con ngời đã đồng nhất số phận mìnhtrong số phận chung của cộng đồng dân tộc
Từ 1930 đến 1945, sự du nhập của văn hoá phơng Tây đã làm cả nềntảng xã hội Việt Nam “một phen điên đảo, lung lay” (chữ dùng của Hoài
Thanh trong Thi nhân Việt Nam) Lần đầu tiên chữ “tôi” xuất hiện mang theo
một quan niệm cha từng thấy ở xứ này: quan niệm cá nhân với sự ý thức đầy
đủ, trọn vẹn về cái bản ngã, cá thể với những khát vọng, hoài bão, những nhucầu chính đáng thuộc về con ngời Trong các nhu cầu đó, nhu cầu đợc bộc lộmình, đợc nói lên tiếng nói của cá nhân mãnh liệt đến mức nó lên tiếng cảtrong thơ, trong tiểu thuyết và nhất là trong hồi ký Đó là cơ sở xã hội cho hồi
ký lần lợt xuất hiện và có cơ hội phát triển với sự ra đời của các tác phẩm:
Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng (1938), Cỏ dại của Tô Hoài (1944)…
Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng đã tái hiện chuỗi ngày tuổi thơ cay đắng, tủi
nhục, tác giả phải sống trong sự hắt hủi của ngời thân, trong nỗi khát thèm bóng
hình ngời mẹ Cỏ dại, Tô Hoài hồi tởng lại quãng đời thơ ấu nhọc nhằn, cay
đắng của mình Khi mới chỉ là một đứa trẻ, ông đã sớm phải lăn lộn kiếm sống
Trang 27bằng đủ mọi nghề Bên cạnh đó là sự xuất hiện của những hồi ký cách mạng,
tiêu biểu là tác phẩm Ngục Kon Tum (Lê Văn Hiến, 1938).
Từ 1945 đến 1975, trớc những biến động lớn của đời sống xã hội,những đòi hỏi của thực tế lịch sử, của cách mạng Việt Nam, cái “tôi” cá nhântạm thời lắng lại để con ngời hoà vào đời sống chung của cộng đồng dân tộc,góp sức mình vào sự nghiệp giải phóng đất nớc Chặng đầu tiên của giai đoạnvăn học này (từ 1945-1954), hồi ký vắng bóng trên diễn đàn văn học, nhờngchỗ cho sự phát triển nở rộ của truyện ký, bút ký, tuỳ bút- những thể loại phản
ánh một cách nhanh nhạy, kịp thời các sự kiện đang liên tiếp, dồn dập diễn rahàng ngày, hàng giờ trên khắp đất nớc Đó là cuộc kháng chiến trờng kỳchống thực dân Pháp của quân và dân ta, đó là các vấn đề xung đột dân tộc,xung đột giai cấp Đến cuối những năm 50, mới có sự xuất hiện trở lại của thểloại hồi ký, đặc biệt là những năm 60, 70, hồi ký cách mạng nở rộ Bởi lúcnày, mối quan tâm lớn nhất của hàng triệu ngời dân Việt Nam là chuyện sốngcòn của dân tộc Văn học gắn bó sâu sắc với đời sống cách mạng và khángchiến; hớng tới đại chúng, phản ánh sức mạnh của quần chúng nhân dân; thểhiện niềm tự hào dân tộc và niềm tin vào tơng lai tất thắng của cách mạng Vìvậy, trong dòng chảy chung của nền văn học mang khuynh hớng sử thi, hồi kýcách mạng xuất hiện và phát triển đã hoàn toàn phù hợp với xu thế văn họccủa thời đại Nhân mời bảy năm thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam, Tổngcục Chính trị cũng đã mở một cuộc vận động văn học nghệ thuật rộng rãi với
đề tài lực lợng vũ trang cách mạng Đợt đầu hớng trọng tâm viết hồi ký- hồi
ký cách mạng Cuộc vận động đó càng tạo điều kiện cho thể loại này pháttriển Lịch sử không thể quên những tác phẩm một thời đã từng đại diện chotiếng nói chung của cả cộng đồng dân tộc, gây tiếng vang và làm xúc động
lòng ngời: Từ nhân dân mà ra, Những năm tháng không thể nào quên (Võ Nguyên Giáp, 1972); Hai lần vợt ngục (Trần Đăng Ninh); Kỷ niệm Cứu quốc
quân (Chu Văn Tấn); Nhân dân ta rất anh hùng (Hoàng Quốc Việt); Không còn con đờng nào khác (Nguyễn Thị Định)… Một số hồi ký ghi laị những kỷ
niệm về Đảng, Bác Hồ nh: Avoóc Hồ, Đầu nguồn, Con đờng theo Bác… Đây
là những dòng hồi tởng của các chiến sĩ cộng sản lớp trớc, các vị tớng lĩnh, sĩ
Trang 28quan quân đội về những năm tháng hoạt động sôi nổi nhng đầy hiểm nguy;những cuộc chiến đấu anh dũng với những chiến công oanh liệt mà họ và
đồng đội đã trải qua Nhân vật chính của hồi ký cách mạng là những con ngời
vĩ đại, những bậc anh hùng từ nhân dân mà ra, vì nhân dân mà chiến đấu.Cuộc đời, sự nghiệp của họ gắn liền với những biến cố trọng đại của cáchmạng Họ là những ngời đại diện, kết tinh những phẩm chất cao quý của dântộc Việt Nam anh dũng, kiên cờng, bất khuất
Vào những năm 60, 70, hồi ký văn học tuy không phát triển sôi nổi nh hồi
ký cách mạng song cũng có những thành tựu đáng ghi nhận ở miền Nam, xuấthiện một số cây bút viết hồi ký vốn là những nhà văn, nhà thơ tiền chiến
Họ tái hiện lại đời sống văn học theo quan điểm riêng của cá nhân mình nh: Văn
thi sĩ tiền chiến (Nguyễn Vĩ, 1962); Bốn mơi năm nói láo (Vũ Bằng 1969); Ta
đã làm chi cho đời ta (Vũ Hoàng Chơng, 1974) …Còn ở miền Bắc, từ đầu nhữngnăm 70, hồi ký văn học cũng bắt đầu đợc chú ý với sự xuất hiện của các tác
phẩm nh: Bớc đờng viết văn (Nguyên Hồng, 1970); Đời viết văn của tôi (Nguyễn Công Hoan, 1971); Tự truyện (Tô Hoài, 1973); …Một số nhà văn đã lấy chínhcon ngời cá nhân của mình làm đối tợng để suy ngẫm
Sau 1975, chiến tranh khép lại, đất nớc bớc vào giai đoạn hoà bình, xãhội biến đổi, tâm t, tình cảm, suy nghĩ của con ngời, đặc biệt của những vănnghệ sĩ cũng đổi khác ý thức cá nhân thức tỉnh trở lại, trỗi dậy mạnh mẽ khiếnhồi ký văn học phát triển hơn bao giờ hết Nếu trớc đây, ngời ta ngại nói vềmình bởi nh vậy sẽ trở nên lạc lõng giữa cộng đồng Họ gắng quên đi mọi nhucầu cá nhân để hành động và sống cho tập thể, kìm nén mọi khát vọng chỉ hớngtới một khát vọng duy nhất là độc lập tự do, giải phóng dân tộc thì nay họ chợtphát hiện ra bi kịch đánh mất mình Hơn lúc nào hết, con ngời nhất là nhữngngời nghệ sĩ vốn nhạy cảm với những biến thiên của thời cuộc, họ có nhu cầunhìn nhận lại chính mình, khẳng định, đề cao vai trò, trách nhiệm, vị trí của cánhân trong xã hội Thời kỳ này, văn học Việt Nam đã chứng kiến cuộc trình
làng của những cuốn hồi ký: Những gơng mặt (Tô Hoài, 1980); Trong ma núi (Phan Tứ, 1984), Hồi ký Đặng Thai Mai (Đặng Thai Mai, 1985), Từ bến sông
Thơng (Anh Thơ, 1985)… Hiển hiện và cấp bách hơn bao giờ hết nhu cầu bộc
Trang 29lộ cái tôi cá nhân, nhìn nhận lại nhiều vấn đề thuộc về một giai đoạn lịch sử đãqua một cách khách quan, thấu đáo hơn nhng dờng nh nhiều tác giả đang còn
dè dặt Có những tác phẩm hồi ký, tác giả chỉ viết riêng cho chính mình mà chadám công khai, cha dám xuất bản
Thời kỳ hồi ký bùng nổ phải kể đến từ năm 1986, đờng lối đổi mới của
Đảng đã tác động đến mọi mặt của đời sống xã hội trong đó có văn học nghệthuật Với đờng lối chính trị cởi mở, Đảng đã mở ra một hành lang thôngthoáng cho văn nghệ sĩ sáng tác khiến cho hiện thực đời sống đi vào nhữngtrang viết phong phú hơn Đặc biệt thể loại hồi ký lúc này mới có cơ hội đểphát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết và thu hút đợc sự chú ý của bạn đọc Ph-
ơng châm quan trọng nhất của giới văn nghệ sĩ là thành thực với chính mình,tôn trọng sự thật Họ không còn e dè, ngại ngùng, họ có quyền và đợc cổ vũphát huy cá tính sáng tạo của chính bản thân Vì vậy, một loạt hồi ký văn học
đã ra đời để nói rõ hơn những sự thật mà trớc kia họ không có dịp nói; phơibày những mảng còn khuất lấp của đời sống hôm qua trong đó có cả đời sốngxã hội, đời sống văn nghệ; nhìn nhận lại những vấn đề chúng ta đã quan niệm
ấu trĩ một thời Nhng cũng có những cuốn hồi ký, tác giả sáng tác đơn giản chỉ
để sống lại một lần nữa cuộc đời đã qua mà tránh đụng chạm đến những khúcmắc, những vấn đề nhạy cảm Những tác phẩm đã đánh dấu vị trí quan trọngcủa hồi ký trên diễn đàn văn học Việt Nam và trong đời sống tạo nên một
mảng sinh động cha từng thấy trong lịch sử của thể loại này phải kể đến: Một
giọt nắng nhạt (Nguyễn Khải, 1987); Cát bụi chân ai (Tô Hoài, 1992); Thời
đã qua (Nguyễn Văn Bổng, 1995); Tiếng chim tu hú (Anh Thơ, 1995); Núi Mộng gơng Hồ (Mộng Tuyết, 1998); Chiều chiều (Tô Hoài, 1999); Bóng ngày qua (Quách Giao, 1999); Nhớ lại một thời (Tố Hữu, 2000); Nửa đêm sực tỉnh
(Lu Trọng L, 2001); Nhớ lại (Đào Xuân Quý, 2002); Bên dòng chia cắt (Anh Thơ, 2002); Hồi ký Song đôi (Huy Cận, 2003); Một thời để mất, Rừng xa xanh
lá (Bùi Ngọc Tấn, 2004); Hồi ký Quách Tấn (Quách Tấn, 2005); Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thơng (Ma Văn Kháng, 2009); Mất để mà còn
(Hoàng Minh Châu, 2010)… Hồi ký cách mạng thời kỳ này có xuất hiện nhng
số lợng không nhiều và nhìn chung ít gây đợc tiếng vang bởi có lẽ nó đã hết
Trang 30vai trò lịch sử của mình Giờ đây, văn học và bạn đọc quan tâm hơn đến vấn
1.3 Nguyên nhân sự nở rộ của hồi ký văn học Việt Nam từ 1986 đến nay
Sự nở rộ của hồi ký văn học Việt Nam từ 1986 đến nay xuất phát từnhiều nguyên nhân, có cả nguyên nhân khách quan, nguyên nhân chủ quan
1.3.1 Nguyên nhân khách quan
Năm 1986 Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam toàn quốc lần thứ VI đãdiễn ra trong bầu không khí đổi mới, mở ra cho đất nớc Việt Nam, dân tộcnhững vận hội mới Một trong những vấn đề trọng yếu, mới mẻ và cũng là ph-
ơng châm của Đại hội Đảng lần này là đổi mới t duy, nhìn thẳng vào hiện thựctrên mọi lĩnh vực, trong đó có văn hoá, văn nghệ Tiếp sau đó là Nghị quyết
05 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (1987)- Nghị quyết về Đổi mới
và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sáng tạo, đa văn học nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bớc mới Đây cũng là nghị quyết duy nhất của Bộ Chính trị dành riêng cho văn
nghệ từ trớc cho tới lúc đó Nghị quyết đã mở ra một cách nhìn mới về vị trí
và chức năng của văn nghệ Giờ đây, chức năng của văn học nghệ thuật không
Trang 31còn đợc hiểu một cách đơn giản, giáo điều chỉ là một công cụ của chính trị, là
vũ khí để tuyên truyền, vận động cách mạng, giáo dục t tởng cho quần chúng.Văn học đã là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng t tởng và văn hoá”, “làmột bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hoá, thể hiện khát vọng của con ngời
về chân- thiện- mỹ, có tác dụng bồi dỡng tình cảm tâm hồn, nhân cách, bảnlĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trờng đạo đức trong xã hội, xâydựng con ngời mới xã hội chủ nghĩa” [8] Đảng cũng khuyến khích văn nghệ
sĩ phải tìm tòi, sáng tạo, yêu cầu họ phải có những thể nghiệm mạnh bạo vàrộng rãi trong sáng tạo nghệ thuật, trong việc đa dạng hoá các hình thức chiếmlĩnh hiện thực đời sống, bởi “tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nêngiá trị đích thực trong văn hoá, văn nghệ, để phát triển tài năng” [8] Với quan
điểm đổi mới toàn diện và sâu sắc của Đảng, văn học nghệ thuật đã đợc làchính nó, mang vai trò sứ mệnh đặc trng của loại hình nghệ thuật luôn luôn h-ớng tới con ngời, vì con ngời ở chiều sâu nhân bản Bởi vậy, không phải thậmxng khi chúng ta khẳng định đờng lối đổi mới của Đảng đã thổi vào văn họcmột luồng gió mới, tạo nên luồng sinh khí mới làm văn học thời kỳ này đợccách tân một cách toàn diện, sâu sắc; tạo môi trờng cho thể loại hồi ký có cơhội bùng nổ mạnh mẽ cha từng thấy Không khí dân chủ len lỏi vào mọi ngócngách của đời sống và trở thành bầu khí quyển cổ vũ, khích lệ con ngời nóichung, các nhà văn nói riêng nói ra sự thật, nhìn thẳng vào sự thật Không khí
ấy làm cho ngời cầm bút tự tin hơn trong những tìm tòi sáng tạo của mình, tựtin đa ngòi bút khai thác những vấn đề phức tạp của đời sống, thậm chí nhữngvấn đề vốn đợc coi là vùng cấm kỵ một thời Họ mạnh dạn đề xuất những kiếngiải, bộc lộ những nhận xét, đánh giá khách quan mà không sợ bị quy kết là ttởng mang màu sắc tiểu t sản, không lành mạnh, đi ngợc lại với đờng lối chủtrơng chính sách của Đảng Bởi thế, bên cạnh những chi tiết về tiểu sử đời tcủa mỗi nhà văn là những vấn đề hiện thực nhức nhối một thời, những quan
điểm sai lầm, ấu trĩ Đó là chuyện đi thực tế của giới văn nghệ sĩ, là sự kiệnNhân văn, giai phẩm, là những chuyện nhạy cảm về giới nhà văn và lãnh đạovăn nghệ, là chuyện đời, chuyện nghề, chuyện ngời với những mối quan hệphức tạp…vận hành theo những biến cố thăng trầm của lịch sử
Trang 32Mặt khác, quan điểm đổi mới của Đảng không chỉ tác động đến văn họcnghệ thuật mà còn tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội Nền kinh tếViệt Nam chuyển dần từ tập trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trờng.Văn hoá Việt Nam có điều kiện tiếp xúc rộng rãi với văn hoá nhiều nớc trên thếgiới Nhiều thông tin mới lạ cha từng thấy về chính trị, kinh tế, khoa học kỹthuật, văn học nghệ thuật trên khắp năm châu với nhiều biến động trong vàngoài nớc đã dội vào đời sống con ngời Việt Nam khiến họ phải thay đổi cáchnghĩ, cách làm, khiến giới văn nghệ sĩ không thể nghĩ và viết nh trớc, nếukhông sẽ bị đào thải, lạc lõng so với thời đại và rơi vào bi kịch bị lãng quên Tr-
ớc đây, đất nớc phải sống trong thời chiến, tất cả cho tiền tuyến, tất cả để đánhthắng giặc ngoại xâm, giải phóng dân tộc nên con ngời ta chỉ quan tâm đếnnhững vấn đề sống còn của tổ quốc Ngời ta chỉ quen nói đến cái chung, nhândanh cái cộng đồng Cái cá nhân, riêng t bị giấu đi, chìm khuất đi Nay, khi đấtnớc đã hoà bình, đổi mới và ngày càng phát triển thì ý thức của con ngời cánhân với những nhu cầu, khát vọng đời thờng mang tính nhân bản càng đợc
đánh thức Cái tôi cá nhân có nhu cầu đợc tìm hiểu, khám phá chính mình, nhucầu đợc coi trọng, đề cao Lúc này văn học Việt Nam phải có một diện mạo mới
để đáp ứng những thị hiếu, nhu cầu cấp thiết của độc giả Cảm hứng thế sự- đời tthay thế cho cảm hứng lịch sử Văn học ít hớng ngoại mà đi vào hớng nội, đàosâu vào cái tôi nội cảm để cắt nghĩa, lý giải cho sự tồn tại và những ham muốncủa chính nó Bởi thế, đời sống riêng t của mỗi nhà văn trở thành chất liệu hiệnthực sinh động để họ sáng tác
Mặt khác, ngay chính bản thân ngời viết- những ngời vốn nhạy cảm vớithời cuộc, họ cũng tự nghĩ lại về công việc sáng tác của mình và nhận ra nhucầu ghi chép, phản ánh hiện thực theo kiểu trớc đây không còn đặt ra cấp bách
nh trong những năm chiến tranh nữa Cuộc sống đã bộc lộ những mặt phức tạp
mà những lời giải thích đơn giản, công thức không còn đủ sức thuyết phục.Sức mạnh của mỗi tác phẩm văn học không chỉ nằm ở khối lợng hiện thực đợcghi chép, phản ánh mà còn phụ thuộc vào sự nghiền ngẫm của nhà văn, vàochiều sâu t tởng, tình cảm mà anh ta gửi gắm Đây chính là thế mạnh của hồi
ký, đặc biệt là hồi ký văn học Quá khứ đợc hồi cố lại chỉ là đờng viền, là cái
Trang 33cớ để ngời viết bộc bạch, hé lộ những nỗi niềm gan ruột, những nhận xét,
đánh giá, những trăn trở suy ngẫm và bộc lộ những quan điểm t tởng củachính mình Mục đích chính của hồi ký không phải là nuối tiếc một thời quávãng mà để “ôn cố tri tân”, nói cái hôm qua để suy xét cái hôm nay, để ngời
đọc nhận ra bao ngổn ngang, bộn bề của muôn mặt đời thờng, của thế tháinhân tình Nh vậy bên cạnh tiểu thuyết, truyện ngắn- những thể loại đã cónhững cuộc bứt phá ngoạn mục trong việc cách tân thể loại, nắm bắt và đápứng nhu cầu, khát vọng của độc giả đơng đại, hồi ký cũng phát triển rực rỡ và
là sự lựa chọn của nhiều nhà văn
Hơn mời năm đã trôi qua (1975-1986), một khoảng thời gian đủ để conngời, đất nớc Việt Nam thoát khỏi ánh hào quang của chiến thắng để rồi nhận
ra những gì văn học phản ánh trong giai đoạn 1945-1975 không thực sự làm
độc giả thoả mãn Họ cần biết về quá khứ nhng không phải là quá khứ phiếndiện, một chiều, đơn điệu mang khuynh hớng lãng mạn hoá mà là quá khứ đợcnhìn nhận đa diện, nhiều chiều và đánh giá khách quan nhất Quá khứ ấy có cảmặt tốt lẫn mặt xấu, mặt trái lẫn mặt phải Quá khứ đợc phơi bày nh nó vốn có
Và hồi ký là thể loại đáp ứng đợc nhu cầu cần hiểu, cần đánh giá lại lịch sử,chiêm nghiệm lại quá khứ của cả bản thân ngời viết và của độc giả
Một lý do nữa khiến thể hồi ký là điểm đến của nhiều nhà văn và độcgiả còn bởi nhu cầu “tự vấn” trong mỗi con ngời và của mỗi nền văn học khi
đã trởng thành Sau mấy chục năm lăn lộn trong đời sống, chứng kiến biết baothăng trầm của lịch sử với những phức tạp, bộn bề của chuyện đời, chuyệnnghề, họ- những nhà văn đã ở vào cái tuổi “xa nay hiếm” có nhu cầu “cuối đờinhìn lại”, tổng kết lại cuộc đời mình để sống lại một lần nữa cuộc đời đã sống,
để khách quan đánh giá bằng chính sự trải nghiệm của bản thân Viết hồi kývới nhiều nhà văn nh để trả món nợ đời, nh là một nhu cầu cần giải toả những
ẩn ức bởi những giục giã, thôi thúc từ bên trong
Nh vậy, lý giải cho sự nở rộ của hồi ký, trớc hết ta có thể căn cứ vào
điều kiện lịch sử xã hội Với không khí cởi mở và dân chủ của xã hội ViệtNam từ sau năm 1986, hồi ký đã tìm đợc sự gặp gỡ giữa bạn đọc và ngời viết ởnhu cầu, khát vọng khám phá thế giới và chính mình
Trang 341.3.2 Nguyên nhân chủ quan
Sự tác động của điều kiện lịch sử, xã hội đối với văn học nói chung vàthể loại hồi ký nói riêng là không thể phủ nhận Song sẽ là bất công và phiếndiện nếu chúng ta chỉ nhìn nhận vấn đề từ những tác động bên ngoài
Một trong những nguyên nhân không thể thiếu quy định sự vận động,phát triển của cả nền văn học Việt Nam là ở quá trình vận động nội tại của nó.Chính bởi vậy nhân buổi toạ đàm với các anh chị em cán bộ nghiên cứu củaBan Văn học hiện đại, Viện Văn học, ngày 30/6/1988, nhà văn Xuân Thiều đãthẳng thắn cho rằng: “Đổi mới là thuộc tính của văn nghệ sĩ, không cần Đảnggọi, nhu cầu đổi mới cũng là sự vận động tự thân của mỗi chúng ta” Ma VănKháng cũng cùng chung quan điểm khi ông thành thực: “Quy cái sự vận động
tự thân, nội tại vào một hành động gọi là “cởi trói” của cấp trên, là không thoả
đáng” Từ sau 1986, nền văn học Việt Nam với sự vận động tự thân đã tìm tòi
ra một thể loại có khả năng thích ứng với tâm thế của nhà văn, với nhu cầu
đ-ợc giãi bày của họ và với khuynh hớng tự vấn đang ngày càng phổ biến trongvăn học nớc ta Thể loại đó chính là hồi ký Hồi ký với cách tiếp cận hiện thựckhông chỉ ở bề mặt mà còn khai thác ở chiều sâu với đầy những bí ấn, phứctạp của đời sống nội tâm con ngời đã phần nào thoả mãn đợc nhu cầu nhậnthức, nhu cầu thẩm mỹ của con ngời đơng đại Lúc này, cá nhân mỗi nhà vănvới hồi ức về cuộc đời mình đã trở thành đối tợng phản ánh, chất liệu hiệnthực Họ không cần phải h cấu tởng tợng nhiều, cũng không cần phải côngphu trong việc xây dựng cốt truyện, nhân vật với những tình huống lôi cuốn,hấp dẫn, ly kỳ Họ chỉ cần thành thực với chính mình, sòng phẳng với quá khứ
mà đánh giá, chiêm nghiệm Lựa chọn cách trình bày quá khứ dới hình thứcnhững kỷ niệm, qua sự nhớ lại của ngời hôm nay là phơng thức tiếp cận, phản
ánh hiện thực đặc trng của hồi ký Phơng thức này cho phép nhà văn tiếp cậnlịch sử tự do hơn, gửi gắm đợc nhiều hơn những ấn tợng, tâm trạng của mìnhcũng nh những cảm nhận còn lại sau năm tháng, những suy nghiệm đợc chắtlọc từ chính sự từng trải của bản thân Sự phát triển của thể loại hồi ký thời kỳ
đổi mới cũng chứng tỏ giờ đây kinh nghiệm cá nhân khi đánh giá lịch sử cógiá trị và đợc coi trọng hơn kinh nghiệm tập thể Lịch sử đợc hiển hiện cụ thể,
Trang 35sinh động, xác thực qua lăng kính của mỗi cá thể là cái con ngời cần Và hồi
ký là thể loại đáp ứng đợc nhiều nhất những nhu cầu ấy
Tóm lại, văn học đang tự ý thức về mình, đang có những bớc chuyển biếnquan trọng và tìm đến với thể loại hồi ký nh một cứu cánh Sự nở rộ của thể loạinày là sự cấu thành của nhiều nguyên nhân, cả nguyên nhân khách quan lẫnnguyên nhân chủ quan, cả nguyên nhân xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội lẫnnguyên nhân xuất phát từ sự vận động nội tại của nền văn học
1.4 Một số tác giả và tác phẩm tiêu biểu
1.4.1 Tô Hoài với Cát bụi chân ai và Chiều chiều“ ” “ ”
Tô Hoài tên khai sinh là Nguyễn Sen, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1920,quê ở xã Kim An, huyện Thanh Oai, tỉnh Hà Đông, nay thuộc Thủ đô Hà Nội.Nhng ông lại sinh ra và lớn lên ở quê ngoại- làng Nghĩa Đô, thuộc phủ Hoài
Đức, tỉnh Hà Đông (nay là phờng Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội) Bútdanh Tô Hoài gắn liền với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức Xuấtthân trong một gia đình thợ thủ công, Tô Hoài có tuổi thơ và một thời trai trẻ
đầy cơ cực, vất vả Sớm bỏ học, lăn lộn kiếm sống bằng nhiều nghề
Tô Hoài đến với nghề văn từ rất sớm Mời bảy, mời tám tuổi, ông đã cómột số sáng tác thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ bảy Nhng ông sớm nhận ra, thơ
ca không phải là địa hạt thích hợp với “tạng” của ông Tô Hoài đã nhanhchóng chuyển hớng và đến với cánh đồng bất tận của văn xuôi, với chủ nghĩahiện thực tỉnh táo để có cơ hội tái hiện lại những cảnh đời thờng, những cảnhsống vất vả, khốn khó của những ngời lao động chất phác quanh ông, đặc biệt
là những ngời nông dân, thợ thủ công vùng ngoại ô Ngay từ những truyện
ngắn đầu tay đăng trên báo Hà Nội tân văn của Vũ Ngọc Phan hay tờ Chủ
nhật của nhóm Tự lực văn đoàn, Tô Hoài đã đợc chú ý, báo hiệu sự xuất hiện
của một nhà văn đầy triển vọng
Từ khi bớc vào nghề, Tô Hoài đã thể hiện một khả năng tự học phi thờng,một sức sáng tạo dồi dào, bền bỉ Ông để lại một sự nghiệp văn học đồ sộ vớigần 200 đầu sách, đa dạng, phong phú về thể loại Trên nhiều trang viết, ôngluôn có một giọng điệu riêng làm nên một phong cách nghệ thuật đặc sắc
Trang 36Sáng tác đầu tiên gây đợc sự chú ý của đông đảo bạn đọc là Dế Mèn
phiêu lu ký (truyện, 1941) Đây là tác phẩm đặc sắc nhất trong các truyện về
loài vật của Tô Hoài Tác phẩm bộc lộ một khả năng quan sát tinh tế, thể hiện
ớc mơ về một thế giới đại đồng Cùng thời gian này, Tô Hoài đã sáng tác một
loạt tác phẩm mang giá trị hiện thực sâu sắc: Quê ngời (Tiểu thuyết, 1941); O
chuột (Tập truyện ngắn, 1942); Giăng thề (Truyện, 1943); Nhà nghèo (Tập
truyện ngắn, 1944); Cỏ dại (1944- hồi ký) Mảng hiện thực ông quan tâm trớc
Cách mạng tháng Tám là những ngời cần lao chất phác ở quê ông Thời kỳ này,trên nhiều trang văn của Tô Hoài luôn phảng phất nỗi u buồn, ảm đạm
Sau Cách mạng Tháng tám, Tô Hoài là một trong số ít những cây bútkhông phải trăn trở, ngập ngừng nhiều trớc trang giấy, trong công cuộc “nhận
đờng”, “nhập cuộc” Ông sớm gắn bó với công tác báo chí Nghề nghiệp buộc
ông không ngừng đi, không đợc phép buông lơi mọi diễn biến của tình hìnhthời sự, chính trị Trong những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp, códịp đi với bộ đội trong nhiều chiến dịch Việt Bắc, Tô Hoài đã đến với mảng đềtài miền núi và để lại cho thời kỳ văn học này những thành tựu đáng kể Nổi
bật hơn cả là tập Truyện Tây Bắc đã đợc Giải thởng của Hội Văn nghệ Việt
Nam 1954- 1955 Đến tập truyện này, Tô Hoài mới thực sự thành công xuấtsắc ở đề tài miền núi Tây Bắc Không bó hẹp nội dung và đối tợng phản ánhtrong phạm vi của một vùng quê nghèo ngoại thành Hà Nội- nơi ông từng gắn
bó sâu sắc, Tô Hoài đã vơn ngòi bút khám phá những vùng đất mới, nhữngmiền đất còn nhiều xa lạ và bí ẩn Có thể nói, Tô Hoài là ngời đã đặt nềnmóng và làm thay đổi diện mạo của đề tài miền núi trong văn học Việt Namhiện đại
Từ sau năm 1954, Tô Hoài vừa tiếp tục sáng tác, vừa tham gia công táclãnh đạo Hội Nhà văn Việt Nam và Hội Văn nghệ Hà Nội Đề tài phong phú,Tô Hoài thử sức mình ở nhiều thể loại: truyện ngắn, truyện vừa, tiểu thuyết,truyện đồng thoại, ký sự, bút ký, hồi ký, tiểu luận…Tiêu biểu phải kể đến: tiểu
thuyết Miền Tây (1967); hồi ký Tự truyện (1978), Cát bụi chân ai (1992),
Chiều chiều (1999); tiểu thuyết Ba ngời khác (2006)…ở thể loại nào ôngcũng đạt đợc những thành tựu đáng ghi nhận, cho thấy một Tô Hoài dẻo dai,
Trang 37bền bỉ, năng động, linh hoạt trong cách viết; sắc sảo trong cách nhìn đời;phong phú, sâu sắc trong vốn sống.
Đến với trang văn Tô Hoài, dù ở thể loại nào, chúng ta cũng bị hấp dẫnbởi những hiểu biết phong phú, đa dạng về phong tục, tập quán ở nhiều vùngmiền khác nhau trên đất nớc Việt Bạn đọc bị lôi cuốn đến kỳ lạ bởi lối trầnthuật hóm hỉnh, sinh động của một ngời từng trải, ngạc nhiên với vốn từ vựnggiàu có, nhiều khi rất bình dân, thông tục nhng đợc tác giả sử dụng một cách
đắc địa, tài ba Năm 1996, Tô Hoài đợc tặng Giải thởng Hồ Chí Minh về Vănhọc nghệ thuật đợt I
Nh vậy hồi ký tuy chỉ chiếm một vị trí khiêm nhờng (bốn tác phẩm:
Cỏ dại, Tự truyện, Cát bụi chân ai, Chiều chiều ) trong số gần 200 đầu sách
đã xuất bản nhng là mảng sáng tác nổi bật, độc đáo, hấp dẫn nhất của TôHoài, là nơi ông thể hiện rõ nhất tài năng, cá tính sáng tạo và sở tr ờng củamình
Tô Hoài viết hồi ký từ rất sớm Cuốn hồi ký đầu tiên mang tên Cỏ dại ra
đời năm ông mới ngoài hai mơi tuổi Cỏ dại viết về quãng đời thơ ấu, nhọc
nhằn, cay đắng của Tô Hoài với những ký ức của một thời thơ dại, những kỷniệm “vui thơng, chìm sâu trong những ngày cũ buồn bã” Ngay từ khi ra đời
tác phẩm đã đợc d luận chú ý Cuốn hồi ký tiếp theo, Tự truyện in ra khi ông
đã ở tuổi năm mơi Từ Cỏ dại đến Tự truyện, khoảng cách thời gian tới ba mơi năm nhng là sự tiếp nối một dòng suy nghĩ, một mạch cảm xúc Tự truyện tái
hiện chặng đờng đời niên thiếu phải lang thang cơ cực của nhà văn đến khi
ông tới với văn chơng và tham gia hoạt động cách mạng sôi nổi trong phongtrào Văn hoá Cứu quốc Thông qua số phận cá nhân trên con đờng kiếm tìmmiếng cơm mang áo, nhà văn đã khái quát lên số phận của cả lớp thanh niêntrí thức tiểu t sản giai đoạn trớc Cách mạng tháng Tám trên cái nền là bứctranh xã hội rộng lớn ở một vùng quê Hà Nội nói riêng và xã hội Việt Namnói chung với những phong tục, tập quán, những cảnh đời tăm tối, ngột ngạt
Cỏ dại và Tự truyện, yếu tố đời t của nhà văn đều là trung tâm, là đối tợng
phản ánh trong tác phẩm với những chi tiết về tiểu sử, ngoại hình, những tâm
t, suy nghĩ, tình cảm, những bớc trởng thành Với yếu tố tự truyện đậm đặc,
Trang 38ngời kể chuyện luôn đứng ở vị trí trung tâm của bức tranh đời sống để trựctiếp suy t, trải nghiệm, bộc lộ quan điểm, thái độ của bản thân Đó là một tâmhồn dễ đồng cảm, nhạy cảm trớc những đau khổ, lầm than của con ngời.
Tuy nhiên, Cát bụi chân ai và tiếp đó là Chiều chiều ra đời thì ngòi bút
Tô Hoài mới có dịp tung hoành giữa những chuyện đã sống, với quá khứ đãqua để dựng lên ngồn ngộn những chuyện đời, chuyện nghề với mọi biểu hiệnphức tạp, tinh vi nhất (đặc biệt là lớp văn nghệ sĩ đã làm nên diện mạo mộtthời kỳ văn học từ những năm 40 trở đi) Bao trùm hơn cả là một bức tranh xãhội rộng lớn, ngồn ngộn, vừa bi- hài, tốt- xấu, lẫn lộn cả cái cao cả, cái thấphèn, cái nhố nhăng, lố bịch… Bảy mơi tuổi, với Cát bụi chân ai và vài năm sau đó là Chiều chiều, Tô Hoài thực sự đợc tái sinh để trở lại cái thời lừng lẫy,
uy tín Hai tác phẩm này, chi tiết đời t đã mờ dần, thay vào đó là đời sống xãhội với những vấn đề thế sự đợc soi chiếu qua lăng kính của nhà văn Một TôHoài hoàn toàn khác trớc xuất hiện, không còn non nớt, vụng dại của nhữngngày đầu bớc vào đời, lăn lộn kiếm sống mà là một Tô Hoài đầy bản lĩnh, cátính, trải đời, tinh đời, sắc sảo Nhận xét về hồi ký Tô Hoài, Phong Lê đã trầmtrồ khen ngợi: “Đọc Tô Hoài, tôi bỗng ngạc nhiên không hiểu sao ngời ta lại
có thể viết hay đến thế về mình, để qua mình hiểu ngời, hiểu đời, hơn thế hiểucả một thời”
Nói tóm lại, tuy chiếm một số lợng hết sức khiêm tốn trong sự nghiệpsáng tác đồ sộ nhng hồi ký Tô Hoài thực sự đã góp phần làm thay đổi diệnmạo văn học Việt Nam, đánh dấu sự trởng thành của thể loại Dù có ngời
khen, kẻ chê nhng tất cả đều không thể phủ nhận, đặc biệt Cát bụi chân ai và
Chiều chiều thực sự là một “hiện tợng” đáng chú ý của văn xuôi nớc ta thời kỳ
đổi mới Hồi ký Tô Hoài là những sáng tạo nghệ thuật đặc sắc, vừa là nguồn tliệu văn học có giá trị, vừa là tiếng nói nghệ thuật sâu sắc về một thời kỳ lịch
sử đầy biến động, một hoàn cảnh đặc biệt đã nhào nặn nên những số phận,tính cách có sức ám ảnh lạ thờng
1.4.2 Tố Hữu với Nhớ lại một thời“ ”
Tố Hữu sinh năm 1920, mất năm 2002, tên thật là Nguyễn Kim Thành,sinh ra ở Hội An, tỉnh Quảng Nam Năm chín tuổi, ông theo cha về quê nội
Trang 39làng Phù Lai, huyện Quảng Điền- tỉnh Thừa Thiên nay là Thừa Thiên Huế.Cha ông là một nhà nho nghèo, không đỗ đạt, chật vật trong cuộc mu sinh nh-
ng thích thơ, thích su tầm ca dao, tục ngữ và hay dạy con làm thơ cổ Mẹ ông
là con gái một đồ nho nên thuộc rất nhiều ca dao, dân ca Huế Những lời dân
ca ấy đã đi vào những lời ru ngọt ngào và thẩm thấu vào tâm hồn Tố Hữu tựthuở nào Truyền thống văn hoá, văn chơng của quê hơng, gia đình là nhữngnhân tố quan trọng trong sự hình thành hồn thơ Tố Hữu
Năm 12 tuổi Tố Hữu mồ côi mẹ, năm 13 tuổi ông vào trờng Quốc họcHuế Tố Hữu là một trong số ít thanh niên sớm giác ngộ lý tởng cách mạng,coi cách mạng là lẽ sống của đời mình Bút danh “Tố Hữu” là do một cụ đồ
nho ngời Quảng Bình vì thích bài thơ Lao Bảo nên tặng với ý nghĩa: “sẵn có”,
ca ngợi cái tiềm ẩn trong con ngời ông Tố Hữu rất trân trọng sự khen ngợi ấycủa cụ đồ nhng ông chỉ dám nhận và hiểu hai chữ ấy là “ngời bạn trong sáng”(tố: trong sáng, hữu: bạn) Từ đó, Tố Hữu trở thành bút danh của Nguyễn KimThành và đi theo ông suốt chặng đờng đời Ông đã trởng thành, thành danhvới bút danh này
Cách mạng và Tố Hữu thật nhiều duyên nợ Cách mạng gắn bó với ông
nh máu thịt, chân tay Cách mạng không chỉ đem đến cho Tố Hữu một lý tởngsống cao đẹp mà còn đem đến cho ông cả cảm hứng sáng tạo thi ca Chínhcách mạng là nhân tố quan trọng và quyết định làm nên một nhà thơ lớn củadân tộc Vì vậy, tìm hiểu cả hành trình sáng tạo của thi nhân ta nhận ra một
điều thú vị, thơ ông nh một cuốn biên niên sử ghi lại những bớc đờng t tởngcủa ông, ghi lại hành trình cách mạng Việt Nam với bao biến thiên của thờicuộc Năm tập thơ của Tố Hữu đã phản ánh chân thật những chặng đờng củaCách mạng Việt Nam, đầy gian khổ, hy sinh nhng cũng nhiều thắng lợi, vinhquang; đồng thời cũng là những chặng đờng vận động trong quan điểm, t tởng
và bản lĩnh nghệ thuật của chính nhà thơ: Từ ấy (1937-1946); Việt Bắc 1954); Gió lộng (1955- 1961); Ra trận (1962- 1971), Máu và hoa (1972- 1977); Một tiếng đờn (1992); Ta với ta (1999) Tập thơ nào, chặng đờng sáng
(1946-tác nào cũng cho ta thấy ở Tố Hữu một phong cách nghệ thuật thống nhất Vềnội dung, thơ ông là thơ trữ tình chính trị sâu sắc Về nghệ thuật thơ ông đậm
Trang 40đà tính dân tộc Chính bởi vậy đọc thơ Tố Hữu ta luôn cảm nhận đợc mộtgiọng điệu hào sảng, một niềm vui bất tuyệt với sự kết hợp hài hoà của yếu tốchính trị và tính trữ tình sâu sắc.
Cuối đời, khi đã 80 tuổi Tố Hữu lại có nhu cầu tổng kết lại cuộc đờimình Một chặng đờng nhiều gian khổ, mất mát, hy sinh, đôi khi ranh giớigiữa sự sống và cái chết rất mong manh nhng vinh quang và vĩ đại Năm 2000,
trớc khi qua đời hai năm, Tố Hữu đã cho xuất bản cuốn hồi ký Nhớ lại một
thời Sau 80 năm tuổi đời, hơn 60 năm hoạt động và làm thơ, Tố Hữu tự nhận
thấy đã đến lúc cần phải viết một bản hồi ký về cuộc đời chung đã sống trong
đó có cuộc đời riêng của chính ông Cuốn hồi ký đã kể lại một cách chân thựcnhững bớc đờng hoạt động cách mạng, sự chuyển biến trong t tởng, nghệ thuậtthơ của Tố Hữu Những yếu tố về tiểu sử, đời t của tác giả là trung tâm, là trụcchính để xoanh quanh đó là cuộc đời đau khổ của đồng bào ta trớc Cách mạngTháng tám, là con đờng hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh; là nhữngtấm gơng anh dũng, kiên cờng của những ngời chiến sĩ cộng sản; là nhữngchiến công oanh liệt của nhân dân, bộ đội; là sự lãnh đạo tuyệt vời của Đảng vàBác Hồ trong hai cuộc kháng chiến chống đế quốc xâm lợc Cuốn hồi ký khôngchỉ có tác dụng giáo dục thế hệ trẻ ngày nay phải biết nhìn về quá khứ, trântrọng quá khứ, tự hào về sự nghiệp hiển hách của ông cha mà còn là lời tri ânsâu nặng của nhà thơ dành cho Đảng, cho dân, cho những đồng bào, đồng chí
mà ông mang nặng ân tình
Dù ở thời chiến hay thời bình, dù đang còn trẻ hay khi đã về già, lúc nào Tố
Hữu cũng toàn tâm, toàn ý, toàn hồn, một lòng kiên định, tin tởng vào lý tởng vàcon đờng cách mạng, tin vào chữ nhân luôn toả sáng trong mỗi ngời Ông vẫn luônchung thuỷ với nguồn đề tài của đời sống cách mạng, đất nớc, nhân dân
1.4.3 Đào Xuân Quý với Nhớ lại“ ”
Đào Xuân Quý là nhà thơ, dịch giả có uy tín của Việt Nam Khác vớinhiều nhà thơ, nhà văn khác, Đào Xuân Quý là tên khai sinh và cũng là bútdanh của ông Sinh năm 1924, mất năm 2005, ông xuất thân trong một gia
đình tiểu t sản nghèo ở xã Phớc Hoà, huyện Tuy Phớc, tỉnh Bình Định