1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đặc điểm thơ viết về biển đảo Việt Nam từ 1986 đến nay

104 649 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 104
Dung lượng 659 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng không phảibây giờ mà trước đây rất lâu rồi, khi các nhà thơ lênh đênh trên những chuyếntàu ra với lính đảo đều đã ghi lại niềm tự hào dân tộc, cảm nhận được nhịpđập ch

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ NGỌC

ĐẶC ĐIỂM THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

TỪ 1986 ĐẾN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

NGUYỄN THỊ NGỌC

ĐẶC ĐIỂM THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO VIỆT NAM

TỪ 1986 ĐẾN NAY

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.01.21

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS NGUYỄN VĂN HẠNH

NGHỆ AN - 2014

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu 12

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát 12

5 Phương pháp nghiên cứu 12

6 Cấu trúc luận văn 13

Chương 1 THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY MỘT CÁI NHÌN PHÁC THẢO 14

1.1 Cơ sở sự hình thành dòng cảm hứng biển đảo trong thơ Việt Nam từ 1986 đến nay 14

1.1.1 Vẻ đẹp của biển đảo 14

1.1.2 Những đổi thay của đất nước 16

1.1.3 Những tranh chấp trên biển Đông 17

1.2 Diện mạo thơ viết về biển đảo 19

1.2.1 Đội ngũ nhà thơ 19

1.2.2 Đề tài 20

1.3 Một số nhà thơ tiêu biểu 28

1.3.1 Ngô Minh 28

1.3.2 Hữu Thỉnh 30

1.3.3 Trần Đăng Khoa 31

1.3.4 Nguyễn Việt Chiến 33

1.3.5 Nguyễn Ngọc Phú 35

Chương 2 CẢM HỨNG VÀ GIỌNG ĐIỆU TRONG THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO TỪ NĂM 1986 ĐẾN NAY 37

2.1 Cảm hứng sáng tạo 37

Trang 4

2.1.2 Biển đảo với những bản tình ca của người lính 43

2.1.3 Sự kiên cường bất khuất của những người lính biển 49

2.1.4 Những suy tư về biển 53

2.2 Giọng điệu thơ 55

2.2.1 Giọng kiêu hãnh, trầm hùng 55

2.2.2 Giọng thiết tha, sâu lắng 57

2.2.3 Giọng uất hận, hờn căm 59

Chương 3 MỘT SỐ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT NỔI BẬT TRONG THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO TỪ 1986 ĐẾN NAY 62

3.1 Sử dụng nhiều hình thức thơ 62

3.1.1 Thơ tự do 62

3.1.2 Thơ lục bát 64

3.1.3 Thơ văn xuôi 68

3.1.4 Trường ca – trữ tình 70

3.2 Sử dụng thành công nhiều biện pháp tu từ 75

3.2.1 Biện pháp ẩn dụ 75

3.2.2 Trùng điệp lời thơ 78

3.3 Sử dụng nhiều lớp ngôn từ 81

3.3.1 Ngôn ngữ văn hóa, lịch sử 82

3.3.2 Ngôn ngữ đời thường, giản dị 83

3.3.3 Ngôn ngữ giàu hình ảnh 86

3.3.4 Sử dụng ngôn ngữ mang tính biểu tượng 88

KẾT LUẬN 94

TÀI LIỆU THAM KHẢO 97

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Việt Nam là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của biểnĐông, có địa thế chính trị và kinh tế rất quan trọng Với bờ biển dài 3260km,trải dài từ Bắc xuống Nam, biển và đảo từ ngàn đời nay đã gắn liền với cuộc sốngcon người Việt Nam, đi vào thơ ca họa nhạc Trong đời sống thơ ca, dân tộc, từlâu biển, đảo đã trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo của nhiều nhà thơ Tuy nhiên,cho đến nay, việc nghiên cứu thơ viết về biển đảo chưa có nhiều thành tựu

1.2 Từ 1986 đến nay, nhất là trong thập niên đầu thế kỉ XXI, nhiềucuộc thi thơ viết về biển đảo đã được tổ chức, nhiều giải thưởng lớn đã đượctrao cho những tác phẩm đặc sắc Có thể nói, chưa bao giờ đề tài về biển đảolại thu hút sự quan tâm của đông đảo nhà thơ, công chúng như bây giờ Cókhông ít tác phẩm đã để lại dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc cả về nộidung, tư tưởng và nghệ thuật thể hiện, góp phần tạo nên một diện mạo mớicho thơ Việt Nam đương đại

1.3 Trong những năm gần đây, biển Đông đang trở thành vấn đề thờisự, thu hút sự quan tâm của cả dân tộc Nghiên cứu thơ viết về biển đảo, vìvậy không chỉ để hiểu về đời sống thơ ca đương đại Việt Nam, mà còn gópphần thể hiện tiếng nói chủ quyền dân tộc về biển đảo

2 Lịch sử vấn đề

Trên cơ sở nguồn tư liệu bao quát được và trong phạm vi quan tâm của

đề tài, chúng tôi điểm lại một số vấn đề cơ bản về hướng tiếp cận và nhữngthành tựu nghiên cứu thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay

Từ 1986, cùng với việc mở rộng đề tài sáng tạo, thơ viết về biển đảo đãít nhiều có thành tựu Theo đó, đã có một số bài nghiên cứu, phê bình thơ vềchủ đề biển đảo trên một số báo, tạp chí và đặc biệt là báo mạng Đỗ Ngọc

Trang 6

Yên trên viet-nam-/124101.html.viết: “Sau ngày đất nước sạch bóng quân xâm lược, đề

http://vanhocquenha.vn/vi-vn/113/49/de-tai-bien-dao-trong-tho-ca-tài biển đảo Tổ quốc như mạch ngầm trong mát, khiến các nhà thơ vừa bước

ra từ cuộc chiến khốc liệt nhất trong lịch sử dân tộc không thể không bị

choáng ngợp” Cùng cái nhìn ấy, Lâm Việt trong bài Đôi dòng về thơ viết về biển đảo (http://mucxanhaotrang.vn/vi-vn/113/49/doi-dong-ve-tho-viet-ve- bien-dao/125291.htm), viết: “Hẳn là, để hiểu hết kí ức của một dân tộc thì

không thể dừng lại ở những trang sử đơn thuần mà phải lắng lòng nghe nhữngthanh âm của nhạc Nhưng, để tìm đến sự đằm sâu, phải lặn lội tìm trong khúcthức của thi ca dân tộc với loại hình nghệ thuật tưởng như bóng vía, đỏngđảnh ấy lại lưu giữ tốt nhất thứ bản mệnh ấy là tình yêu Yêu những gì là hiểnnhiên là tự thuở cha ông mình Kể từ khi Lí Thường Kiệt viết câu thơ rạch đôigầm trời cũng là khi thi ca nước Nam hình thành nguồn cảm hứng về cươngvực đất nước cứ cồn cào như lớp lớp sóng không ngừng nghỉ” Theo HòaBình, “Thơ ca về chủ đề biển đảo đang phát huy sức mạnh thực sự của ngôntừ, khi mà “sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa” của Tổ quốc Nhưng không phảibây giờ mà trước đây rất lâu rồi, khi các nhà thơ lênh đênh trên những chuyếntàu ra với lính đảo đều đã ghi lại niềm tự hào dân tộc, cảm nhận được nhịpđập chung trong trái tim Việt nam và chuyển tải cảm xúc chân thành của mìnhtới công chúng, bi tráng, trầm hùng, thơ ca biển đảo hiện nay không còn làtiếng lòng riêng của cá nhân thi sĩ mà đã trở thành sự thổn thức chung của

hàng triệu trái tim Việt Nam, trở thành thơ ca của lòng yêu nước” (Nguồn: http://nld.com.vn/van-hoa-van-nghe/tho-bien-dao-tieng-long-yeu-

nuoc- 20140615214745204 htm ) Tuy nhiên, có một thực tế, thành tựu thơ viết

về biển đảo chưa có nhiều Là người sáng tác, Nguyễn Hữu Quý trong bài

Thơ viết về biển đảo cần một độ sâu hơn (7/2014), viết: “Tôi nghĩ, lính biển đảo, dân biển đảo cần ở thi ca một cái nhìn gần với cuộc sống chất chứa gian

khổ và dũng cảm của mình để từ đó những trang thơ chân thực đầy vốn sống

Trang 7

và nghệ thuật trở thành cây phong ba của họ Có khái quát xa xôi đến baonhiêu thì cái đích của thi ca vẫn phải là tâm hồn người đọc Để lắng lại hồndân tộc trong hồn mỗi người thơ về biển đảo nên có chiều sâu” Theo ông,cuộc sống của những người lính, người dân bám biển cực kỳ gian khổ hiểmnguy Cảm giác cô đơn trống trải không phải là không có Con người trở nên

bé nhỏ vô cùng trước trời biển mênh mang nhất là khi sóng to gió lớn tràn quađảo, nhà giàn Đã có những hi sinh đầy xúc động của người lính, người dân

bám biển (Nguồn can-mot-do-sau-hon.html ) Bàn về bài Đây biển Việt Nam – vẻ đẹp của sự chân thành đã tạo ra sự chấn động, Bảo Anh cho rằng: “Trong bối cảnh hội nhập

http://nhavantphcm.com.vn/tac-pham-chon-loc/nghien-cuu-phe-binh/tho-ve-bien-dao-quốc tế, biển là chiến lược của toàn cầu Mỗi một dân tộc muốn lớn mạnhphải lớn mạnh từ biển Điều khiến tôi thật sự xúc động, với tư cách một ngườinghiên cứu, đó là biển cả của ta chứa đầy truyền thống yêu nước, anh hùngdân tộc Biển cũng là điểm xuất phát, giúp chúng ta đi ra khắp thế giới, làm

giàu đất nước từ biển Hoàng Sa – Trường Sa như Trường Sơn… đôi vai gánh bao nỗi gian truân đất nước…” Đã là người Việt Nam dù làm gì, ở đâu cũng

hướng về cội nguồn dân tộc Văn học nghệ thuật hướng con người đến những

giá trị đích thực của đời sống, dân tộc, tôn vinh lòng yêu nước Cuộc thi Đây biển Việt Nam đã thực sự có sức cuốn hút, thức tỉnh công chúng (Nguồn http://hitt//phongdiep.net/default.asp?action=article&ID=14850) Có cùng cách nhìn ấy, Lâm Việt với bài viết Đôi dòng thơ viết về biển đảo Trên

http://vanhocquenha.vn/vi-vn/113/49/doi-dong-ve-tho-viet-ve-bien-dao/125291.html chorằng: “Hẳn là, để hiểu hết kí ức của một dân tộc thì không thể dừng lại ở những trang

sử đơn thuần mà phải lắng lòng nghe những thanh âm của nhạc Nhưng, đểtìm đến sự đằm sâu, phải lặn lội tìm trong khúc thức của thi ca dân tộc vớiloại hình nghệ thuật tưởng như bóng vía, đỏng đảnh ấy lại lưu giữ tốt nhất thứbản mệnh ấy là tình yêu.Yêu những gì là hiển nhiên là tự thuở cha ông mình.Kể từ khi Lí Thường Kiệt viết câu thơ rạch đôi gầm trời cũng là khi thi ca

Trang 8

nước Nam hình thành nguồn cảm hứng về cương vực đất nước cứ cồn càonhư lớp lớp sóng không ngừng nghỉ” Cùng nhìn thấy vai trò, vị trí của biểntrong đời sống nói chung và trong cảm hứng sáng tạo nói riêng, Phạm Thị

Phương Thảo trong bài viết Biển - đảo và Tổ quốc trong thơ (11/2012) đã

nhấn mạnh tầm quan trọng to lớn của biển, đảo đối với Tổ quốc và nêu lênquan điểm của mình về chủ quyền lãnh hải khi bị Trung Quốc xâm lược Tácgiả viết: “Biển và đảo, đó là những thứ tuyệt vời mà thiên nhiên ban tặng chođất nước chúng ta Biển và đảo nơi gắn liền của những kỳ quan thiên nhiên,của thế giới bởi những vẻ đẹp và những kiến tạo độc đáo Đó là món quà tặng

vô giá và lâu dài cho cuộc sống ngàn đời của dân tộc Việt Nam Biển và đảokhông chỉ thu hút mỗi người bởi vẻ đẹp thiên nhiên, mà còn là những dấumốc gắn liền với những giá trị lịch sử, chính trị, kinh tế, văn hóa và chiếm giữcả vị trí quan trọng về an ninh quốc phòng của đất nước” Biển còn là nơi lưugiữ và gợi cảm hứng cho con người, đứng trước biển con người như đứng trước bao lớpcảm xúc ồ ạt Biển và đảo cũng là những nguồn cảm hứng bất tận cho các văn nhân, cácthi sỹ, nhạc sỹ, các họa sĩ khi họ say mê sáng tạo ra những tác phẩm văn chương, âm nhạc

và hội họa của mình (Nguồn dao-va-To-Quoc-trong-tho- 33 / .)

http://hanglinhthao.com/vi/news/Van-hoc-Bao-chi/Bien-Bên cạnh những bài viết bàn về đề tài biển đảo trong thơ sau 1986, cókhông ít bài viết bàn về một số hiện tượng tiêu biểu viết về đề tài biển đảotrong những năm gần đây, như Ngô Minh, Đỗ Quyên, Nguyễn Việt Chiến,Nguyễn Ngọc Phú

Trong bài viết Cái tôi trữ tình trong thơ Ngô Minh, đăng trên http:// www.bichkhe.org/home.php?cat_id= 147 id= 1 & id= 2828, Nguyễn Thị BíchKiều cho rằng: “Từ những năm tháng đất nước còn trong chiến tranh, nhà thơNgô Minh đã thể hiện cái tôi trữ tình ngợi ca, tự hào về quê hương, đất nước,con người Khi hòa bình lặp lại, cái tôi trữ tình lúc bấy giờ đi sâu vào đời tư,thế sự, để khám phá những miền sâu xa trong cõi tâm linh, sâu thẳm của con

Trang 9

người.Cái tôi ấy thể hiện nỗi buồn đau nhân thế, chứa đựng giá trị nhân văncao cả” Đó chính là con đường thơ, con đường cuộc đời sau những trảinghiệm, nhà thơ Ngô Minh đã dịch chuyển thơ đến gần hơn với cuộc sốngcủa con người, kéo thơ đến gần hơn với cuộc sống Đến với các tập thơ của

Ngô Minh, Như Hà trong bài viết Nhà thơ Ngô Minh: biển đảo quê hương mang tiếng gọi khẩn thiết (9/ 2013) đã cho rằng: “ông có cảm xúc biển

thường trực, nên mấy mươi năm qua, số bài thơ viết về biển của ông nhiều

thuộc hàng kỷ lục của Việt Nam” Ký tự biển thực sự là chất biển đậm đặc và

chính nhà thơ cũng thừa nhận “chưa bao giờ tôi viết đậm đặc về biển nhưtrong tập này Đây là xúc cảm có thể gọi là đặc biệt, trước đó chưa có Gặpbất cứ đề tài gì, hình tượng biển bao giờ cũng ám ảnh tôi, lúc nào tôi cũngnghĩ về biển” Khi biển mang tiếng gọi khẩn thiết và thấy rõ vị trí của biểnđảo với đời sống con người, hơn ai hết, nhà thơ chính là người nhạy cảm nhấtvới mọi vấn đề của thời đại đã kịp thời nói lên tiếng nói của mình, góp phần

cổ vũ tinh thần và tuyên truyền Họ chính là người “thư kí trung thành” củathời đại Nguồn:http://worldcup.thethaovanhoa.vn/world-cup- 2014 /nha-tho-ngo-minh- bien-dao-que-huong-vang-tieng-goi-khan-thiet-n 20130918100429369 htm Trong công

trình Ngô Minh hạt phù sa biển với bài Phù sa biển của Ngô Minh (2001), nhà xuất bản Thuận Hóa (2014), Hoàng Phủ Ngọc Tường cho rằng “Phù sa

biển” đã "đảm bảo được tính chất sang trọng của một tập thơ; của sự tinh tế

về tâm hồn và sự chín muồi của ngôn ngữ" Là “một tập thơ hiếm hoi đãmang lại cho tôi cái quyền hạn được ban bố ý nghĩa cho những vật tầmthường quanh ta; tập thơ đã vẽ nên một chân dung con người biết sống đôn

hậu và đầy sức mạnh” Văn Cầm Hải với bài viết Ngô Minh - Đứa con của cát (1998) trích Ngô Minh hạt phù sa biển, nhà xuất bản Thuận hóa, (2014) đã

khẳng định : “Mỗi con người đều cho ta một cuộc đời và mỗi cuộc đời lại cho

ta một miền quê với những sắc màu văn hóa Tất cả những gì hiện hữu trêncõi đời này đều có ngọn nguồn khai sinh, với Ngô Minh - Anh tự cho mình là

Trang 10

Đứa con của cát” Thơ Ngô Minh không có điểm dừng, đó chính là hi vọng của độc giả Ngô Minh - Đứa con của cát, bằng thơ và đời, sau cùng ông đã

làm lòng mẹ yên tâm và thanh thản như từng nhiệt nồng hi vọng Nhờ vàotình yêu với biển, với đảo, với cát mà Ngô Minh đã kết tinh thành bãi bờ lớn

Ở ông có sự “kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa cảm xúc bất chợt và laođộng nghệ thuật để sáng tạo một chân dung thơ độc đáo, mạnh mẽ, lấp lánhnét tài hoa ám ảnh người đọc bằng những hiệu quả thẩm mĩ phong phú”

Thơ, bên cạnh những lớp ngôn từ đan bện vào nhau bằng ý và tứ thì nó

còn được gắn kết bằng các hình tượng trong thơ Tập thơ Chân sóng của Ngô

Minh đã thể hiện nổi bật hình tượng mẹ với bao cảm xúc ngập tràn trước sự hisinh cao cả quên đi chính bản thân mình “góa bụa một đàn con trẻ” vì sự hạnhphúc và niềm vui của con.Vì thế, “Với tâm thế tự nhiên của người con khi trở

về làng cũ, trong anh cồn cào nỗi nhớ mẹ Đầu tiên anh những tưởng: Nhớ mạcon ra với biển - để rồi sau đó đã bàng hoàng thảng thốt cao lên: rằng conbỗng không còn mạ?” tình cảm với cha với mẹ là nỗi lòng sâu thẳm mà Ngô

Minh đã viết lên từ Chân sóng - nơi tận cùng của con sóng gió nhưng lại là

đỉnh điểm của sự bình yên muôn thuở Đó là những nhận xét của Trần Minh

Tích ở bài viết “Mẹ” trong “Chân sóng” của Ngô Minh” trích Ngô Minh hạt phù sa biển, nhà xuất bản Thuận hóa (2014) Trong bài Từ “Chân sóng” đến “Quà tặng xứ xưa” trích Ngô Minh-hạt phù sa biển, nhà xuất bản Thuận hóa, 2014, Nhất Lâm cho rằng: “Hai tập Chân sóng và Quà tặng xứ xưa, tôi lại thích 37 bài thơ của tập Chân sóng hơn Ở đây, anh viết về mẹ mình, về

-quê hương giống cách nghĩ của tôi Giữa mẹ nhà thơ và mẹ tôi có nhiều điểmgiống nhau, suốt đời cực khổ lo cho chồng, cho con và làm nghĩa vụ với đấtnước Nay cả hai đã gần tuổi 90 (mẹ anh mất, mẹ tôi còn) Chúng tôi, nhữngđứa con, biền biệt xa mẹ, xa quê; khi trở về thì mẹ đã già, đã mất.Chúng tôi

hiểu nhau và hiểu thơ về lẽ đó” Trong bài viết: Nhà thơ Ngô Minh: Biển đảo

Trang 11

quê hương vang tiếng gọi khẩn thiết trích Ngô Minh - hạt phù sa biển, nhà

xuất bản Thuận hóa, (2014) Lý Đợi viết: “Từ thuở mẹ đẻ rơi tôi bên bờ chânsóng, trong tôi biển đảo Việt Nam là hoàn thiện, giống như làng tôi vậy Tậpthơ nào tôi cũng có nhiều bài về biển, có tập toàn về biển”… Nhà thơ NgôMinh bắt đầu câu chuyện theo tôi, nếu nghệ thuật làm tốt công việc củamình, thì “lãnh hải” tự nhiên được mở rộng, được ghi nhớ, được truyền tụngnên cũng được bảo vệ, ít nhất là trong tâm tưởng và tâm thức của cộng đồng,

của dân tộc” Tập thơ Ký tự biển của Ngô Minh có thể nói rằng đó là tập thơ

“đậm chất biển” Đọc thơ Ngô Minh hầu như tập nào hình ảnh biển cũng xuấthiện, biển ở mỗi tập thơ đều có một vị thế và cách nhìn riêng nhưng đều toátlên vẻ đẹp, sự kì vĩ và giàu có của biển đảo Biển luôn có vai trò quan trọngtrong đời sống của con người

Bên cạnh Ngô Minh, Đỗ Quyên được xem là một trong những nhàthơ viết nhiều về biển đảo Sáng tác của ông đã thu hút sự quan tâm củagiới nghiên cứu phê bình và đông đảo công chúng yêu thơ Vương Hùng

trong bài viết Đỗ Quyên với trường ca Lòng Hải Lý nhận xét: “Trường ca

Đỗ Quyên như chính cuộc sống của con người, nó là toàn bộ đời sống củacon người với tư cách là một vũ trụ thu nhỏ Không đơn giản chỉ dừng lại ởmạch tình cảm, mà chất trí tuệ mới là sợi dây xuyên suốt tạo nên linh hồntrong trường ca Đỗ Quyên Chất trí tuệ ấy lấp lánh suốt cả bốn trường canày, đôi khi nó là giọng nói triết lí phát ra từ những điều giản dị, đôi khi lànhững chiêm nghiệm về thời gian, về xã hội, về con người… Một đời sốngthu nhỏ với nhiều chiều kích cảm xúc được mở ra trong tập trường ca này”

Trường ca Lòng Hải Lý chính là một cuộc hành trình muôn dặm đã được

chuẩn bị chu đáo bằng chính những kiến thức, những chiêm nghiệm và đặc

biệt là bằng chính tình cảm phong phú và dạt dào của tác giả Nói Lòng hải

lý như một vũ trụ thu nhỏ bởi trong đó chất chứa bao điều tồn tại của xã

Trang 12

hội, của thời đại và mọi vấn đề của đời sống con người (Nguồn

http://phongdiep.net/default.asp?action=article & ID= 13159) Cùng nói vềnhững đổi mới trong trường ca của Đỗ Quyên, Nhà báo Hà Li trong bài

"Trường ca Lòng hải lý: Về một nỗi buồn muộn cùng thế kỷ" viết: “Trong

tập trường ca này, nhân vật trữ tình đã vượt lên trên tư cách những cá thểđơn lẻ để vươn tới giá trị chung của cộng đồng, của đất nước, dân tộc Chủ

đề, ý nghĩa nhân văn của cả tập trường ca vì thế mang được một ý nghĩa xãhội lớn Về cấu trúc và thủ pháp, Đỗ Quyên đã sử dụng “đủ loại”: từ kỹthuật chương, khúc, đoạn, đến việc pha trộn các thể loại, tạo nên sự đa ngữđiệu và cân bằng các giá trị đối lập” Chính điều đó đã làm nên một trường

ca kì vĩ với bao vấn đề mới mẻ và cách tân ( choi/truong-ca-long-hai-ly-ve-mot-noi-buon-muon-cung-the-ky- 500165 htm ).

http://dantri.com.vn/xem-an-Nhà báo Lưu Nguyễn trong bài “Tập Lòng hải lý: Một chiếc áo khác cho trường ca” trên http://www.baomoi.com/Tap-Long-hai-ly-Mot-chiec-ao-khac-cho- truong-ca/ 152 / 6644692 epi cho rằng: “Tác phẩm của Đỗ Quyên còn là nhữngnỗi niềm cuồng nhiệt từ phía bên kia bờ đại dương gửi về bên này nơi đấtnước đứng bên bờ sóng" Nhà phê bình Phạm Xuân Nguyên gọi bút danh ĐỗQuyên như con chim Đỗ Quyên lúc nào cũng nhớ nước, cũng kêu quốc, quốc

Và như câu thơ của Nguyễn Duy: “Dù ở đâu cũng tổ quốc trong lòng/Cột cây

số đóng từ thương đến nhớ!” Một chiếc áo khác của trường ca, không dựa

vào một thực tế nào đó, không khúc thức, cốt truyện, không mang âm hưởng

sử thi, cũng không phải là sự hòa hợp giữa tính sử thi và tính cộng đồng, mà

Lòng hải lý đi sâu vào những suy tưởng riêng tư

Thời gian gần đây đã có nhiều bài viết, nhiều cuộc thi, nhiều hoạt độnghướng tới biển đảo Đặc biệt Báo VietNamNet phối hợp cùng với Hội nhạc sỹViệt Nam, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc thi sáng tác thơ và ca khúc

Đây biển Việt Nam Cuộc thi là một trong những hoạt động góp thêm những

Trang 13

tiếng nói mới, thanh âm mới, trang sách mới - dùng ngôn ngữ “thơ ca và âmnhạc” để xây đắp thêm sự vững bền của phòng tuyến nơi hải đảo Cùng viết

về biển đảo, các tác giả với các tác phẩm tiêu biểu như Nguyễn Việt Chiến

với Tổ quốc nhìn từ biển, Nguyễn Ngọc Phú với Tổ quốc tôi ba nghìn cây số biển, Trịnh Công Lộc với Mộ gió, Hữu Thỉnh với Trường ca biển, Nguyễn Thế Kỷ với tập thơ Về tổ đã làm nên diện mạo thơ viết về biển đảo thêm

phong phú và có những ý tưởng mới mẻ

Trang 14

Nguyễn Việt Chiến - một trong những nhà thơ tiêu biểu với biển đảo quêhương Dưới cái nhìn của nhà thơ, biển đảo chính là cội nguồn, là gia sản lớnnhất mà cha ông đã phải bỏ bao xương máu để giữ lấy cho đến ngày nay Nghiên

cứu về thơ Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Mẫu Hùng Kiệt trong bài viết Bài thơ

Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt Chiến trên http://vanvn.net/news/ 16 / 809 - den-voi-bai-tho to-quoc-nhin-tu-bien-nguyen-viet-chien.html đã khẳng địnhchủ quyền của đất nước khi gợi nhớ về truyền thuyết Lạc Long Quân và Âu Cơchia con lên rừng, xuống biển mà làm nên hình hài đất nước Theo nhà thơ

“Chúng ta là con dân của đất Việt, ông cha ta từ ngàn năm trước đã lên rừng, đãxuống biển để khai phá, dựng xây non nước này Và, biển - đảo ấy là mộtphần gia tài nghèo khó mà ông cha ta tự ngàn xưa đã không tiếc máu xương,công sức để giữ gìn, để truyền đời lại cho cháu con hôm nay” Phùng Văn

Khai trong bài Nguyễn Việt Chiến - Một tiếng lòng như triệu tiếng lòng cho rằng, “hòa cùng khí thế sục sôi của cái nắng tháng 5, tháng 6 khi mà Trung

Quốc hạ đặt giàn khoan 981 trên biển đảo nước nhà, một lần nữa chủ quyềnthiêng liêng của Tổ quốc đang bị những hành vi ngang ngược, thiếu thiện chí

của Trung Quốc đe dọa Thì bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển của Nguyễn Việt

Chiến sáng tác năm 2009 như một lời khẳng định đanh thép chủ quyền thiêngliêng, những hi sinh mất mát để giữ gìn đất nước Đúng như nhà thơ NguyễnViệt Chiến từng nói “một nhà thơ của Tổ quốc, của nhân dân luôn đồng thời

là một người yêu lịch sử nước mình Lịch sử dù đớn đau, khuất khúc hay rạng

rỡ, huy hoàng đến mấy trước tiên và trước hết phải là sự trung thực” Tổ quốc nhìn từ biển là sự thao thức khôn cùng của nhà thơ, của nhân dân Việt Nam.

Là tiếng chuông âm vang từ nghìn vạn năm luôn gióng lên trong bữa cơm,giấc ngủ và như một nỗi đớn đau của cái đúng, của lẽ phải, của chính nghĩa

mà luôn phải đương đầu với u tối, tham tàn, cuồng vọng của các thế lực thù

Trang 15

địch muốn thôn tính” Nguồn http://congluan.vn/tin-chi-tiet/ 8 / 51392 Viet-Chien-%E 2 % 80 % 93 -Mot-tieng-long-nhu-trieu-trieu-tieng-long.html

/Nguyen-Nhà báo Hoàng Thy Anh trong bài Tổ quốc nhìn từ biển trên trang http://www.baothanhhoa.vn cho rằng “Văn học nghệ thuật ngoài “vị nhânsinh”, những tác phẩm có giá trị còn mang tính dự báo về số phận con người,

số phận cả đất nước” Tổ quốc nhìn từ biển chính là chuỗi dài đau thương của

dân tộc suốt hàng nghìn năm, với lòng yêu chuộng hòa bình, độc lập dân tộc

và truyền thống yêu nước không bao giờ vơi cạn

Cùng với Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Ngọc Phú là một nhà thơ kháthành công khi viết về biển đảo Sáng tác của ông đã được nhiều nhà phê bình

quan tâm Trong bài viết Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú – Biển dạy cho con biết sống, Phong Điệp viết: “Thật hiếm có quốc gia nào có hơn ba nghìn cây số

đường bờ biển như Việt Nam Ý thức của cha ông ta về biển đã hình thànhtừ rất sớm Chúng ta có một văn hóa biển từ rất lâu đời Và đến nay, nó vẫnđược phát huy và là sợi dây gắn kết mọi con dân nước Việt” Nguyễn NgọcPhú - một con người sinh ra và lớn lên ở vùng biển miền trung chịu bao khắcnghiệt của vùng “chảo lửa” gió lào bỏng rát Chính cái khắc nghiệt này đã tôiluyện thêm tính cách cần cù chịu khó cho con người nơi đây Tình yêu với biển,sự gắn kết và xem biển như một phần không thể thiếu trong chính cuộc sống mànhà thơ đã từng tâm sự: “Tôi lớn lên trong hơi gió biển Bữa cơm là đậm đà vịmuối biển Đêm ngủ không được nghe tiếng sóng biển là tôi thấy thiếu điều gì đó.Được viết về biển, nói về biển, tôi thấy mình như con cá được bơi trong nước”.Nguồn http://www.phongdiep.net/default.asp?action=article & ID= 14859

Trang 16

Ngoài những gương mặt thơ tiêu biểu về đề tài biển đảo đã được đôngđảo bạn đọc và giới nghiên cứu phê bình nói tới, những năm qua còn xuấthiện sáng tác của nhiều nhà thơ như Trần Đăng Khoa, Nguyễn Thế Kỷ, TrịnhCông lộc Theo đó cũng đã có một số bài phê bình thơ về sáng tác của họđăng trên một số trang báo mạng Tuy nhiên, nhìn chung, các bài viết còn tảnmản, mang tính thẩm bình nhiều hơn là nghiên cứu.

Điểm lại những nghiên cứu, phê bình của thơ viết về biển đảo thời gian

qua, có thể thấy, hầu hết các bài viết mới dừng lại ở việc phân tích, phê bìnhmột bài thơ, tập thơ cụ thể và chủ yếu là đăng trên các trang báo điện tử Chođến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diệnthơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay Đây là cơ sở để chúng tôi thực hiện đềtài này với mong muốn đưa ra một cái nhìn hệ thống, toàn diện về thơ viết về

đề tài biển đảo Từ đó, góp phần nhận diện các khuynh hướng vận động củathơ Việt Nam đương đại

3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Như tên của đề tài đã xác định, mục đích nghiên cứu của đề tài là chỉ ranhững đặc điểm nổi bật (trên cả hai phương diện nội dung và hình thức thểhiện) của thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay

3.2 Với mục đích ấy, đề tài đặt ra nhiệm vụ:

Thứ nhất, phác thảo diện mạo thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay Thứ hai, chỉ ra những phương diện đặc sắc về cảm hứng, giọng điệu

của thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay

Thứ 3, chỉ ra một số phương diện nghệ thuật đặc sắc của thơ viết về

biển đảo từ 1986 đến nay

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi khảo sát

Trang 17

4.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đặc điểm thơ viết về biển đảo từnăm 1986 đến nay.

4.2 Thơ viết về đề tài biển đảo từ 1986 đến nay khá phong phú, đa dạng.Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn Thạc sĩ, chúng tôi chọn khảo sát một số tập thơ

tiêu biểu, như: Chân sóng (1995), Đứa con của cát (1998), Phù sa biển (2001), Kí

tự biển (2013) của Ngô Minh, Trường ca Lòng hải lý của Đỗ Quyên … và một số

bài thơ được giải cao trong các cuộc thi viết về đề tài biển đảo

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết tốt nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài, chúng tôi lựa chọnmột số phương pháp nghiên cứu, như:

- Phương pháp thống kê, phân loại

- Phương pháp cấu trúc hệ thống

- Phương pháp phân tích tổng hợp

- Phương pháp so sánh đối chiếu

6 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Thơ viết về biển đảo từ 1986 đến nay - một cái nhìn phác

thảo

Chương 2 Cảm hứng và giọng điệu thơ viết về biển đảo từ 1986 đến

nay

Chương 3 Một số phương diện nghệ thuật nổi bật trong thơ viết về

biển đảo từ 1986 đến nay

Và cuối cùng danh mục Tài liệu tham khảo

Trang 18

Chương 1 THƠ VIẾT VỀ BIỂN ĐẢO TỪ 1986 ĐẾN NAY

MỘT CÁI NHÌN PHÁC THẢO

1.1 Cơ sở sự hình thành dòng cảm hứng biển đảo trong thơ Việt Nam từ 1986 đến nay

1.1.1 Vẻ đẹp của biển đảo

Việt Nam là quốc gia nằm bên bờ biển, lưng tựa Trường Sơn và ba phíahướng về biển Đông Vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng của Việt Nam luôn gắn liềnvới biển đảo Từ Trà cổ Quảng Ninh chạy dài đến Hà Tiên, bờ biển Việt Namvới 3260 km, mềm mại với những đường cong, nét khuất góp phần làm nêndáng hình đất nước Những dải cát vàng tinh khôi, những hàng phi lao xanhmướt ven biển, gợi lên ý niệm về khu vườn địa đàng nơi trần thế Nơi đây,bình minh sẽ đến rất nhanh và thật đẹp rồi khi ánh hoàng hôn huyền ảo chớmsoi, con người mới cảm nhận được niềm hạnh phúc trọn vẹn khi ngắm nhìn vẻđẹp của đất trời và biển đảo Việt Nam Hướng tầm mắt ngút ngàn về phía biển

khơi là những con sóng vừa “dữ dội và dịu êm”, vừa “ồn ào và lặng lẽ” ngày đêm

ôm ấp vuốt ve những hòn đảo ngọc Có không ít địa danh bờ biển, hòn đảo đã trởthành điểm du lịch thu hút sự chú ý của du khách mọi miền đất nước và trên thếgiới Đó là Minh Châu, nơi hằng đêm cát trắng tỏa ánh hào quang lên bầu trời lấplánh ngàn sao; là Cù Lao Chàm hùng vĩ với vô vàn di tích khảo cổ; là một PhúQuý hoang sơ, thơ mông, một Lý Sơn giàu có và hào phóng… Tất cả góp phầntạo nên vẻ đẹp tự nhiên, huyền ảo, hấp dẫn của đất nước Việt Nam

Bên cạnh vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ, biển đảo Việt Nam còn hết sứchấp dẫn bởi sự trù phú của nguồn tài nguyên vô tận Nguồn tài nguyên hải sảnphong phú với đầy đủ chủng loại tôm, cua, cá, mực Nguồn tài nguyênkhoáng sản đưới lòng đại dương mênh mông vô tận Nằm ở ngã ba đườnggiao thương quốc tế trên Thái Bình Dương, biển đảo Việt Nam có một vị trí

Trang 19

quan trọng trong phát triển giao thông, phát triển kinh tế Từ ngàn đời nay,biển đảo luôn gắn liền với đất liền bằng tình thương ruột thịt, cách xa nghìntrùng mà như kề sát Những đảo xa xôi giữa trùng khơi sóng tố là nơi tâmthức người dân Việt Nam luôn đau đáu hướng về Từ thuở hồng hoang cácvua Hùng mở mang bờ cõi, xuyên suốt qua lịch sử nghìn năm dựng nước vàgiữ nước, biển đảo luôn là nơi ngọn nguồn chắn sóng giữ gìn cho đất mẹ bìnhyên Biển đảo đã mang lại nguồn lợi phong phú, giàu có, góp phần làm giàucho đất nước Truyền thuyết về Lạc Long Quân và Âu Cơ đã đi vào tâm thứccủa mỗi người dân Việt như một niềm tự hào, kiêu hãnh về dòng giống tiên,rồng về rừng vàng biển bạc Nó trở thành đề tài bất tận cho văn chương, nghệ

thuật Việt Nam Theo cách nói của Ngô Minh trong Ký tự biển, “Hoàng Sa, Trường Sa/ Ngư trường bao đời ấm giấc mơ làng biển/ Nồi cơm Thạch Sanh của làng” Và: “Biển như mâm cơm/ Đảo là bát úp/ Biển là làng/ Đảo ngoài khơi dang tay che chắn” Sự giàu có về vật chất và tinh thần, là nguồn cảm hứng cho sáng tạo thơ ca, là nơi cất giấu cơm áo và bài ca: “Cơm áo, bài ca/

Tôi cất dành trong biển” (Biển).

Với người Việt Nam, biển là môi trường lao động, môi trường sống,nơi cung cấp các sản vật cho cuộc sống, biển được ví như lòng mẹ đong đầytình cảm, hiền hòa và bao dung, suốt một đời bao bọc, chăm lo cho đàn conthơ nên biển hằn sâu vào tâm thức của con người qua bao thế hệ Như một lẽtự nhiên, trong cảm hứng về quê hương đất nước, từ rất sớm đã xuất hiện mộtdòng mạch hướng về biển đảo, nhất là khi "Biển trời bao la đã sạch bóng thù"

(Võ Văn Di) Bởi lẽ, "Biển cho ta cá như lòng mẹ/ Nuôi lớn trong ta từ thủa nào" (Huy Cận) Và: "Con cơm, con nục… tháng ngày/ Gom góp tình biển

nuôi bầy con thơ" (Bên mộ mạ) Biển từ lâu đã là một phần của vẻ đẹp, sức

sống Việt Nam

1.1.2 Những đổi thay của đất nước

Trang 20

Năm 1975, chiến tranh kết thức, đất nước thống nhất, bước vào mộtthời kỳ mới, xây dựng và phát triển Một giải non sông gấm vóc từ đồng bằngđến miền núi, hải đảo xa xôi đã thu về một mối Những tiềm năng lớn lao củađất nước, trong đó có biển đảo, đang đứng trước cơ hội được thể hiện Tuynhiên, chỉ bốn năm sau chiến thắng 30/4/1975, đất nước lại bước vào hai cuộcchiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc Thêm vào đó, sự bao vâycấm vận kinh tế của các nước và cơ chế quản lý quan liêu bao cấp kéo dài…

đã đẩy nền kinh tế rơi vào thời kỳ khủng hoảng trầm trọng Lạm phát giatăng, đời sống nhân dân gặp nhiều khó khăn Đứng trước tình hình đó, Đảng

ta đã chứng tỏ năng lực lãnh đạo của mình bằng công cuộc đổi mới sâu sắctoàn diện (1986) Nhờ đó, đất nước dần dần thoát khỏi sự khủng hoảng

Sau gần 30 năm đổi mới, diện mạo đất nước đã có nhiều thay đổi Tiềmlực của đất nước, đặc biệt là tiềm lực biển đảo đã được thức tỉnh, góp phầnlàm giàu cho đất nước Những con tàu đã vươn xa đến các vùng biển đảo củaquê hương và đến với nhiều nước trên thế giới Chưa bao giờ tiềm năng biển,đảo lại được nói tới nhiều như mấy chục năm qua Biển hào phóng cung cấpcho con người không chỉ vô số hải sản mà còn cả nguồn năng lượng giàu có,góp phần làm giàu cho tổ quốc Nhưng giàn khoan trên biển ngày càng vươn

xa đánh thức tiềm lực biển Đông Hướng về biển, khai thác biển đã trở thànhmột chủ trương lớn của Đảng và nhà nước trong định hướng phát triển đấtnước thời kỳ mới Nhận thức về vai trò của biển đảo đã có nhiều thay đổitrong mỗi người dân Biển, đảo không chỉ đóng vai trò quan trọng trong xâydựng phát triển đất nước, mà còn góp phần bảo vệ sự thống nhất toàn vẹn củađất nước, cả trong lịch sử, hiện tại và tương lai Không chỉ cung cấp nguồnthức ăn cho cư dân ven bờ từ hàng nghìn năm nay, biển Đông còn tạo điềukiện để phát triển các ngành kinh tế và là cửa ngõ để Việt Nam có quan hệ

Trang 21

trực tiếp với các vùng miền của đất nước, giao thương với thị trường khu vực

và quốc tế, là nơi trao đổi và hội nhập của nhiều nền văn hóa

Gắn liền với những thay đổi trên nhiều phương diện kinh tế, xã hội, vănhọc Việt Nam cũng bước vào thời kỳ đổi mới tích cực và mạnh mẽ Sự đổimới trong văn học được bắt đầu bằng sự đổi mới tư duy Chính sự đổi mới tưduy bắt đầu từ sự tìm tòi, sáng tạo bằng nhiều nguồn cảm hứng được bungtỏa, trong đó nguồn cảm hứng về biển đảo quê hương đất nước được rất nhiềunhà thơ nhà văn quan tâm Trong đời sống văn hóa, văn nghệ, chủ trương "cởitrói" cho văn nghệ sĩ của Đảng đã giải phóng ngòi bút cho các nhà văn Tự dosáng tạo đã tạo điều kiện cho các nhà văn thể hiện tài năng, cá tính sáng tạocủa mình Nhiều đề tài mới, cách viết, cách nhìn mới đã được thể hiện, trongđó có đề tài biển đảo Cảm hứng biển đảo Tổ quốc như mạch ngầm trong mát,thu hút sự sáng tạo của đông đảo nhà thơ

1.1.3 Những tranh chấp trên biển Đông

Xung đột biển Đông là vấn đề thời sự, có ý nghĩa toàn cầu Chủ quyềnbiển đảo của Việt Nam đang bị đe dọa bởi âm mưu độc chiếm biển Đông củaTrung Quốc Lãnh hải của Tổ quốc đã trở thành điểm nóng, thu hút sự quantâm của mọi tầng lớp nhân dân

Vấn đề xung đột, tranh chấp về biển và hải đảo trên biển Đông đã xảy

ra cách đây hơn 40 năm Tuy nhiên chưa bao giờ lại gay gắt như thời gianqua Theo chuyên gia Mesyakov, ngày 15/01/1974 các “ngư dân TrungQuốc” đã đổ bộ lên 4 hòn đảo thuộc quần đảo Hoàng Sa Họ cắm cờ TrungQuốc lên những hòn đảo nhỏ và bắt đầu dựng nhà tạm Chính quyền ViệtNam phái đội bảo vệ biển tới trục xuất các “ngư dân Trung Quốc” Đến ngày17/01/1974, xung quanh các khu vực xung đột ở Hoàng Sa đã xuất hiện nhiềutàu chiến và lính thủy đánh bộ Trung Quốc Ngày 19/01/1974, lực lượng nàybắt đầu bắn phá đảo Hoàng Sa Ngày 20/01/1974, lính Trung Quốc đổ bộ lên

Trang 22

các đảo Lực lượng đồn trú trên các đảo nhanh chóng bị đè bẹp vì lợi thế lớntừ phía Trung Quốc Hạm đội Trung Quốc chiếm thế thượng phong trên biển,

và sau 1 vài cuộc đụng độ đã đẩy lật tàu tuần phòng của Việt Nam khỏi cácđảo Trong khi đó, chiến hạm Mỹ “án binh bất động” quan sát sự thất bại củaquân đồng minh và chỉ hỗ trợ cho việc sơ tán mấy đơn vị đồn trú trên đảo.Đến chiều tối ngày 20/01/1974, Trung Quốc đã kiểm soát toàn bộ quần đảoHoàng Sa

Hiện nay có rất nhiều tài liệu chứng minh quần đảo Hoàng Sa, Trường

Sa ngay từ thế kỷ XIX đã là m ột bộ phận của Việt Nam Người sáng lậpvương triều nhà Nguyễn là vua Gia Long trong những năm 1815-1816 đã gửiđoàn thám hiểm đặc biệt đi khảo sát quần đảo Hoàng Sa và các tuyến đườngbiển tại đây Như vậy, quyền tài phán lịch sử của Trung Quốc đối với Hoàng

Sa là rất là đáng ngờ Nhưng Bắc Kinh hiểu rõ tầm quan trọng chiến lược củanhững hòn đảo đối với ưu thế kiểm soát quân sự biển Đông giàu tài nguyên.Ngoài ra, việc chiếm cứ Hoàng Sa đã làm thay đổi cục diện địa chính trị trongtoàn bộ khu vực Đông Nam Á Trung Quốc đã mở tuyến đường trực tiếpvươn về phía nam đến quần đảo Trường Sa, mục tiêu kế tiếp trong chính sáchđối ngoại và quân sự của Bắc Kinh Gần đây nhất, Trung Quốc đặt giàn khoantrái phép HD 981 vào vùng biển Việt Nam một cách ngang nhiên đã chứng tỏvấn đề biển Đông ở nước ta đang ngày một nóng bỏng và có nguy cơ trởthành cuộc chiến Biển Đông đang nóng lên từng ngày, từ diễn đàn Quốc Hộicho đến trong mỗi nghĩ suy, mỗi việc làm của mỗi con người Việt Nam Cảnước hướng về biển đảo thân yêu đang trở thành phương châm sống, hànhđộng trên khắp mọi miền đất nước

Chưa bao giờ biển đảo lại thiêng liêng đến thế Hàng chục triệu ngườiViệt Nam đã thể hiện tình cảm yêu nước của mình bằng những hành độngthiết thực Như một lẽ tự nhiên, các nhà thơ thêm một lần “ra trận” Cảm

Trang 23

hứng về biển đảo quê hương đã trở thành một cảm xúc tự nhiên, dồn nén,căng tràn trong tâm hồn mỗi nhà thơ Sự xuất hiện của dòng thơ viết về biểnđảo đã ra đời trong bối cảnh lịch sử xã hội đó.

1.2 Diện mạo thơ viết về biển đảo

1.2.1 Đội ngũ nhà thơ

Trong dòng chảy của thơ ca Việt Nam hiện đại, đề tài biển đảo đã xuấthiện trong thời kỳ 1954 - 1975 Hàng loạt các nhà thơ tên tuổi đều đã có

những vần thơ hay về biển đảo quê hương Huy Cận với Đoàn thuyền đánh

cá, Xuân Diệu với Biển, Văn Cao với Đảo, Hoàng Trung Thông với Biển…

đã đi vào lòng người đọc hơn nửa thế kỷ qua Các nhà thơ trưởng thành từcuộc kháng chiến chống Mỹ, như: Hữu Thỉnh, Bằng Việt, Thanh Thảo,Nguyễn Khoa Điềm, Xuân Quỳnh… đến các nhà thơ thời hậu chiến, như:Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hữu Quý, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Trọng Văn,Nguyễn Phan Quế Mai… đều có những bài thơ hay về biển đảo, góp phầnlàm phong phú thơ ca Việt Nam hiện đại

Sau 1986 đội ngũ nhà thơ viết về biển đảo ngày càng đông đảo Trongđó tiêu biểu là các nhà thơ, như: Thanh Thảo, Hữu Thỉnh, Đỗ Quyên, NgôMinh, Nguyễn Ngọc Phú, Nguyễn Việt Chiến, Nguyễn Phan Quế Mai Họsáng tác trên nhiều thể loại, trong đó thành công nhất là thơ trữ tình và trường

ca Có thể kể đến các tác phẩm tiêu biểu như: Trường ca Biển (1994) của Hữu Thỉnh, Lòng hải lý (2011) của Đỗ Quyên, Hạ Thủy những giấc mơ (2013) của

Nguyễn Hữu Quý các tập thơ tiêu biểu Chân sóng (1995); Đứa con của cát

(1998); Phù sa biển (2001); Huyền thoại Cửa Tùng (2004); Ký tự biển (2013)

của Ngô Minh Nhiều bài thơ đã được phổ nhạc trở nên gần gũi với mọi thế

hệ người đọc, người nghe như: Thơ viết ở biển của Hữu Thỉnh, Thuyền và biển của Xuân Quỳnh, Thơ tình người lính biển của Trần Đăng Khoa, Tổ quốc gọi tên của Nguyễn Phan Quế Mai Bên cạnh những nhà thơ đã xuất

Trang 24

hiện trước đó, giai đoạn này còn xuất hiện nhiều tác giải trẻ viết về biển đảo

như: Thanh Tú với Mùa xuân dâng Đảng, Anh Vũ với Mẹ ơi biển gọi, Vũ Hải với Tình yêu biển đảo…

Có thể nói, chưa bao giờ trong lịch sử thơ ca dân tộc lại xuất hiện đôngđảo một đội ngũ nhà thơ viết về biển như mấy thập niên qua Biển đảo đã trởthành nguồn cảm hứng cho các nhà văn nhà thơ sáng tạo Dù là những nhàthơ thành danh hay mới vào nghề, tuy có những cảm xúc riêng nhưng đềumang một nỗi lòng chung, đó là lòng yêu nước, yêu quê hương, yêu biển đảo.Các tác phẩm của họ, dù cách viết có khác nhau, song đều thể hiện được tìnhcảm của mọi người dân Việt Nam về biển đảo

1.2.2 Đề tài

Biển đảo một phần lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc mang những dấu

ấn lịch sử dựng nước và giữ nước sâu đậm của dân tộc Hình ảnh nhữngngười lính, người dân đối mặt với sóng gió, những con thuyền ra khơi vàolộng, những giàn khoan ngày đêm rực sáng luôn là cảm hứng dạt dào vừaquen thuộc vừa mới mẻ của người nghệ sĩ

Có không ít nhà thơ đã lấy biển đảo làm cảm hứng chính cho các sángtác của mình Họ ngợi ca vẻ đẹp kì vĩ và lãng mạn của biển, đảo; là tình yêu

vô tận khi đứng trước một phần lãnh hải gắn với đất liền của tổ quốc; là tìnhyêu của người mẹ dành cho những người con đang làm nghĩa vụ canh giữ đảoxa; là tình yêu của người vợ đối với chồng; là lời ước hẹn của đôi lứa yêunhau; là sự khó khăn gian khổ nhưng vẫn ngời sáng niềm tin và sự lãng mạncủa những người lính biển; là sự gắn kết thiêng liêng về chủ quyền; Muônmặt đời sống biển đảo đã đi vào thơ Ở đó không chỉ có những bản tình ca, màcòn có những tráng ca đậm chất bi hùng về những người lính hải quân ngàyđêm bám biển Máu của ngư dân, của những người lính hải quân đã hòa vàonước biển lấp lánh dưới ánh mặt trời tạo nên một vẻ đẹp vừa kỳ vĩ, vừa thiêng

Trang 25

liêng Anh Ngọc trong trường ca Điệp khúc vô danh đã có những đoạn thơ

thăng hoa về biển Gắn liền hình ảnh cánh buồm nâu như cái gạch nối mongmanh nối biển với đất liền là Tổ quốc với nhân dân thân thương Hình tượngđất nước và nhân dân chợt trở nên cao rộng huyền ảo trong hải trình của cánhbuồm trên biển lớn:

Những cánh buồm đi dưới trăng thanh.

Đi lặng lẽ trong sương mờ cổ tích.

Buồm như thể chiếc lưỡi cày lật ngược.

Vạch ngang trời những luống trăng sao.

Không dừng lại ở đó, không bằng lòng với những gì đã có, đất nướcViệt Nam đã đang và sẽ vươn ra biển lớn với bản lĩnh và ước mơ “mạnh lêntừ biển, giàu lên từ biển” Trong hành trình đi về phía mặt trời Tổ quốc đồngnghĩa, đồng hành với tình yêu và khát vọng của mọi người chúng ta:

Để mỗi sáng mỗi chiều như nỗi nhớ

Tự chân trời Tổ quốc lại hiện lên.

Như bao thế hệ đi trước, người lính hôm nay gánh vác nghĩa vụ giữ gìn bảo vệ đất nước Mang trong mình tình yêu Tổ Quốc và cả tình yêu đôi lứanồng nàn, những người lính biển ra khơi canh giữ biển trời Dù có những khókhăn, gian khổ nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp lãng mạn, và niềm tin vào nhữngđiều tốt đẹp của cuộc sống:

Đất nước gian lao chưa bao giờ bình yên Bão táp chưa ngưng trong những vành tang trắng.

Anh đứng gác Trời khuya Đảo vắng.

Biển một bên và em một bên.

(Thơ tình người lính biển - Trần Đăng Khoa)

Trang 26

Nguyễn Thanh Mừng sau những thao thức, rung động về sự hi sinh của

người lính hải quân thời bình đã viết bài thơ Hào phóng thềm lục địa, dài 110

câu, mang vóc dáng trường ca Hình ảnh người chiến sĩ hải quân và nhữngngười thân của họ hiện lên thật sinh động và sáng đẹp

Các anh cứ giản lược hồn nhiên Quen việc căng thân mình đầu sóng gió Quen cơn bão đánh tên bằng con số

Đó còn là sự tự hào về vùng biển quê hương đất nước, là sự gắn kết chủ

quyền mà Nguyễn Trọng Văn đã thể hiện trong trường ca Tổ quốc - đường chân trời:

Tổ quốc căng như một cánh buồm Thẳng hướng ra khơi

Đất nước ta là chuyến đi dài Mấy ngàn năm không nghỉ.

Bên cạnh đó, tình yêu dành cho biển đảo còn gắn liền với sự hi sinh caođẹp vì sự bình yên của biển đảo Bao người lính phải xa con, xa vợ, xa mái

ấm gia đình bé nhỏ để ngày đêm giữa biển Đó là một vẻ đẹp tràn ngập cảmxúc yêu thương và tự hào đủ cho ta hình dung về tâm thế, vị thế của Tổ quốchôm nay Nguyễn Anh Vũ, một tác giả trẻ chuyên viết văn xuôi, đã có bài thơ

về Trường Sa thật độc đáo và xúc động:

Mẹ vượt cạn Sinh con.

Cha vượt biển Cùng đồng đội hành quân trên sóng.

Có một phần con trong balo Cha mang ra đảo.

Tổ quốc mình đâu cũng là quê mẹ

Trang 27

Biển luôn là nơi lưu giữ những kỉ niệm, những lời hẹn thề, những gửigắm tâm sự của con người Một Xuân Quỳnh với tình yêu và nỗi nhớ không

vơi: "Chỉ có biển mới biết/ Thuyền đi đâu về đâu/ Những ngày không gặp nhau/ Biển bạc đầu thương nhớ/ Những ngày không gặp nhau/ Lòng thuyền

đau rạn vỡ" (Thuyền và biển); một Đỗ Trung Quân tế nhị, nhẹ nhàng mà

thâm trầm sâu sắc: "Anh như núi đứng nghìn năm chung thủy / Không ngẩng đầu dù chạm tới mây bay / Yêu biển vỗ dưới chân mình dào dạt / Dẫu đôi khi

vì sóng núi hao gầy " (Biển, Núi, Em và Sóng).

Biển đảo luôn là đề tài không bao giờ vơi cạn của văn học, bởi l ẽ đãhàng ngàn năm qua, biển đảo luôn gắn liền với số phận dân tộc Từng hải lý,từng tấc đất trên đảo, Hoàng Sa, Trường Sa… là máu, mồ hôi của ông cha đểlại Tổ quốc thân yêu đã và đang hướng ra biển lớn Nh ững người lính đangngày đêm canh giữ biển trời để cho những con thuyền ra khơi vào lộng,những con tàu xuôi ngược đại dương, những giàn khoan rực sáng mang nguồnnăng lượng giàu có từ biển làm giàu cho đất nước Văn học nói chung, thơ canói riêng không thể thờ ơ hay đứng ngoài những vấn đề lớn lao của dân tộc.Hành trình lịch sử dân tộc và con đường thi ca chân chính chưa bao giờ táchbiệt nhau với hạt nhân của nó là lòng yêu nước nồng nàn

Ngày càng có nhiều bài thơ hay viết về biển đảo đang là đòi hỏi của đấtnước, của mỗi người đọc, trong đó có người chiến sĩ hải quân và nhân dânđang bám trụ nơi đầu sóng ngọn gió, đang vững tay súng bảo vệ biên giới hảiđảo xa xôi của Tổ quốc

1.2.3 Hình thức thể loại

Thể loại là chỉnh thể thống nhất của tác phẩm văn học, “là hình thứcsáng tác văn học nghệ thuật được đặc trưng bằng phương pháp phản ánh hiệnthực, sự vận dụng ngôn ngữ riêng khác: các thể loại văn học, sự khác nhaugiữa thể loại tự sự và trữ tình”[72; 1555] Thể loại là sản phẩm của quá trình

Trang 28

tìm kiếm hình thức phản ánh hiện thực, nó là do thực tế khách quan trực tiếp

“đặt hàng” với chính chủ thể sáng tạo ra nó Khảo sát thơ viết về biển đảotrong gần ba thập kỷ qua, chúng tôi nhận thấy nổi lên một số thể loại chính,như: trường ca, thơ văn xuôi, thơ tự do và những thể thơ truyền thống

Thể loại trường ca từ những năm sau 1986 không còn nở rộ như giaiđoạn trước đó Sau năm 1975 một loạt trường ca đã xuất hiện Trong đó có

những tác phẩm tiêu biểu, như Những ngọn sóng mặt trời, Những người đi tới biển của Thanh Thảo; Quê hương mặt trời vàng, Người vắt sữa bầu trời của Thu Bồn; Sóng Côn Đảo của Anh Ngọc; Trường ca sư đoàn của Nguyễn Đức Mậu; Đất nước hình tia chớp, Mặt trời trong lòng đất của Trần Mạnh Hảo,…

Điều này khiến cho nhiều người kì vọng về một thời đại của trường ca Tuynhiên, đến giai đoạn sau 1986, trường ca gần như biến mất, chỉ còn xuất hiệnmột cách lặng lẽ, đơn lẻ Trường ca trong giai đoạn này phản ánh những vấn

đề lớn của lịch sử, dân tộc và thời đại bằng một cấu trúc phức hợp thông qua

các hình thức biểu hiện Sự xuất hiện của Điệp khúc vô danh (1993) của Anh Ngọc, Gọi nhau qua vách núi (1994) của Thi Hoàng, Trường ca biển (1994) của Hữu Thỉnh, Lòng hải lý (2011) của Đỗ Quyên, Hạ thủy những giấc mơ (2013) của Nguyễn Hữu Quý,… đã phần nào phản ánh được sự tồn tại và

những đóng góp nhất định của thể loại này

Là một tác phẩm được viết bằng thơ trên cơ sở kết hợp nhuần nhuyễnhai yếu tố tự sự và trữ tình, trường ca có quy mô hoành tráng cả về phươngnội dung, tư tưởng và cấu trúc nghệ thuật Tác phẩm được nhà thơ viết bằngmột cảm hứng mạnh mẽ, cảm xúc tuôn trào gắn liền với những sự kiện trọngđại Chính được viết lên từ cảm xúc dâng trào mạnh mẽ, Đỗ Quyên đã có

những dòng thơ đầy ấn tượng: “Mũi tên, mũi lao/ Có thể trở lại chân người/ Gió, nắng cản tầm địa chỉ/ Địa lý phá lực/ Lịch sử chọc ngang/ Tấm bia tội nghiệp giương mặt điếm” (Lòng Hải lý) Trong Gọi nhau qua vách núi, Thi

Trang 29

Hoàng đã khái quát tên tuổi những người lính như những kí hiệu toán học.Mỗi lần đọc đến đoạn này, lòng người đọc cứ nghe xốn xang, day dứt để rồi

tự đáy lòng dâng lên những cảm xúc lớn lao như chưa hề bắt gặp: “Có một đám tang chỉ có ba người/ Kể cả người đã chết/ Trong góc rừng miền Tây xa tít tắp/ Có một đám tang chỉ có ba người/ Nước trong lòng suối lặng lờ trôi/ Chiều lạnh và trong như ngàn vạn mảnh thủy tinh tan vỡ/ Những giọt nước mắt khô long lanh sắc cứa/ A và B khóc C trong một tổ ba người/ Bông hoa dại kia thương xót bời bời/ Hoa tựa làn môi cô gái quê mùa hát lời ru dân dã/ Cho kẻ thù nhìn thấy hoa mà sợ/ Cho mình nhìn thấy hoa mà buồn/ Ta bỗng như chưa được đặt tên/ Bông hoa dại trên nấm mồ chiến sĩ/ Ba người thôi kể

cả người yên nghỉ/ Mình cho ta xin tính cả ta vào”

Có thể nói, trường ca viết về biển đảo giai đoạn sau 1986 có sự kết hợpmột cách đa dạng và phong phú các thể thơ từ truyền thống đến hiện đại phùhợp với mọi cung bậc của cảm xúc Đồng thời, nó còn là một sự phức hợpnghệ thuật về ngôn ngữ, giọng điệu và cấu trúc tác phẩm

Bên cạnh trường ca là thơ văn xuôi Đây là một loại thơ trữ tình có cấutrúc câu giống văn xuôi, câu nọ tiếp câu kia không xuống dòng, hầu nhưkhông có vần Thơ văn xuôi dung nạp trong mình nhiều yếu tố văn xuôi nhưyếu tố tự sự, câu thơ phát triển theo tuyến tính, nhiều tầng bậc không phụthuộc vào dòng thơ, mở ra khả năng chuyển tải được một dung lượng nộidung phong phú, đa dạng, phù hợp với dòng cảm xúc dồn nén, nhiều suy tư,triết lí Ngôn ngữ trong thơ văn xuôi gần với ngôn ngữ đời thường

Sau 1986, thơ văn xuôi viết về biển đảo đã có nhiều thể nghiệm, tìmtòi Có thể kể đến một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu, như: Mai Văn Phấn với

Lúc mặt trời mọc, Hải phòng trước năm 2000; Mai Nam Thắng với Lính biển xem chèo, Nguyễn Thanh Tùng với Hào phóng thềm lục địa, Văn Chính với

Trang 30

Bụi tre ở Trường Sa, Anh Vũ với Quê hương, Ngô Minh với Mộ biển, Đêm nói tiếng Quảng Trị ở Lộc Ninh…

Hải Phòng trước năm 2000 của Mai Văn Phấn không chỉ là bức tranh

đa màu, mà còn là bản tường thuật quá trình đổi thay của thành phố HảiPhòng, một thành phố bên bờ biển cả Nhà thơ Mai Văn Phấn, không đứng ở

vị trí “người quan sát”, thay vào đó là tư cách “người tham dự” khi đã sốngcùng nhịp đập với Hải Phòng Mở đầu bài thơ là cảnh tượng Hải Phòng đangtrên con đường hội nhập, một thành phố công nghiệp năng động Chính vì thế

mà mỗi trái tim con người đang thức, đang trở thành hạt giống ươm mầm phì

nhiêu Và kia là con tàu với “đôi hài vạn dặm”, bên kia là tiếng cười ngoài

khơi xa, thủy triều dâng, song râm ran…những hình ảnh chen chúc, nhộn nhịpcủa tàu, thuyền, người, nhà,…đã gợi nên niềm vui ngập tràn, du dương trongđiệu nhạc trữ tình của từng con sóng Những cảnh vật nên thơ của gốcphượng, rì rào của đường phố…những luật bằng trắc của thanh điệu xen kẽnhau làm cho câu thơ giàu tính nhạc:

Hải Phòng trước năm 2000, trái tim mỗi người hay hạt giống đang ươm, cánh đồng biển phì nhiêu bên cửa sổ Những con tàu tựa đôi hài cổ, tiếng ai cười gieo xuống khơi xa Thủy triều thức dậy cùng cây lau cây sậy Tiếng sóng râm ran gõ cửa mỗi căn nhà.

Gốc phượng vĩ vừa đọng thêm phù sa, đường phố rì rào ngỡ từng con sông nhỏ Đôi tình nhân lặng lẽ trôi đi tấp vào một ca bin tin học, nhãn cầu và màn hình cũng đồng tông đồng tộc, trèo qua bậc thềm thực đơn, ngây ra nhìn: đẹp quá chừng quả cà trắng rau xanh! Từ Bến Bính, Lạch Tray, Cầu Đất đến Cầu Rào, Cát Dài, Cát Cụt Gió ùa đến đu cây làm sóng, trong giấc mơ những đàn chim bay về thanh khiết hót ta nghe.

Với Ngô Minh, bài thơ văn xuôi Mộ biển như là một sự gợi nhớ về quá khứ, một cảm xúc khó tả khi nghĩ về những “nấm mộ biển, những chùm hoa

Trang 31

muống và những que nhang” Những câu thơ văn xuôi được buông thả một

cách tự nhiên chuyển tải dòng cảm xúc chất chứa, nhiều lắng đọng suy tư củanhà thơ về con người và biển cả:

Chị lặng lẽ thắp thêm một tuần nhang nữa cắm lên trước những ngôi

mộ đợi chị cắm xong nén nhang cuối cùng, tôi mới dò hỏi: “Dạ thưa đây

là phần mộ những ai?” Và câu chuyện của người đàn bà không quen biết đêm Cửa Tùng ấy ám ảnh tôi đến nỗi, mỗi lần nhìn thấy cái gì màu đỏ là lập tức tôi nhớ về những ngôi mộ biển và những linh hồn đang cháy trong đêm…

Nhìn chung thơ văn xuôi viết về biển đảo sau 1986 ít nhiều đã có bướcphát triển Giọng điệu thơ vừa gai góc vừa phức tạp nhưng cũng trữ tình, lắmchất lí sự và triết lý Nó được thể hiện trên một nền mạch cảm xúc mãnh liệt, ồ ạtkhơi trào không có điểm dừng và dường như không bị gò bó bởi một luật lệ nào.Cái tôi cá nhân được tự do tung hứng theo mạch cảm của con tim và lí trí

Bên cạnh trường ca, thơ văn xuôi, thơ tự do viết về biển đảo cũng gópphần không nhỏ vào quá trình đổi mới và hiện đại hóa nền văn học nước nhà.Thơ tự do ra đời khá sớm, là thể loại không bị ràng buộc về nhịp điệu, âmluật, vần và một số yếu tố thứ sinh khác như khổ thơ Với khả năng dung chứalớn, thơ tự do được rất nhiều nhà thơ sử dụng Sau 1986, thơ tự do khá pháttriển, hầu như nhà thơ nào cũng sử dụng thể loại này trong quá trình sáng tác

về biển đảo Không ít nhà thơ đã rất thành công ở thể loại thơ tự do viết về

biển đảo Có thể kể đến một số nhà thơ, như: Hữu thỉnh với Thơ viết ở biển; Trần Đăng Khoa với Thơ tình người lính biển, Đợi mưa trên đảo Sinh Tồn; Anh Vũ với Mẹ ơi biển gọi, Vũ Hải với Tình yêu biển đảo; Nguyễn Phan Quế Mai với Tổ quốc gọi tên…

Sự thay đổi của xã hội, của môi trường đã dần mở rộng cho người viếthôm nay những đối tượng nghệ thuật, đối tượng thẩm mĩ mới Thơ giờ đâykhông còn bị bó hẹp về phạm vi, khuôn phép cũ mà đã được nới rộng, tự do

Trang 32

về mọi mặt Thơ thực sự trở thành một hình thức đối thoại của một người vớimuôn người Và khi đối tượng nghệ thuật của thơ đã rộng mở, cũng đồngnghĩa với việc, tuy vẫn là tiếng nói trữ tình, tri âm, đồng vọng nhưng giọngthơ của thời hiện đại đa sắc, đa diện hơn với một chất giọng đầy trải nghiệm,suy tư và mang tính triết lý sâu sắc Đó là bước phát triển mới của thơ hiệnđại nói chung, thơ viết về biển đảo nói riêng

1.3 Một số nhà thơ tiêu biểu

1.3.1 Ngô Minh

Nhà thơ Ngô Minh tên thật là Ngô Minh Khôi, sinh 10/9/1949, quê ởlàng Thượng Luật, xã Ngư Thủy Trung, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.Ông tốt nghiệp Đại học Thương nghiệp Hà Nội, tháng 9/1972 Ông nhập ngũngày 25/9/1972, vào miền Đông Nam Bộ tháng 4/1973 Ông đã làm nhiềuchức vụ: Ban chính trị trung đoàn 141, sư đoàn 7; làm bản tin Ba Vì của trungđoàn, quân hàm trung sĩ Tháng 6/1976, ra quân, về Huế, làm trưởng đại diện báoThương mại tại miền Trung Hiện ông nghỉ hưu tại 11/73 Phan Bội Châu, Huế.Ông là hội viên Hội văn nghệ Bình Trị Thiên năm 1978, Hội nhà văn Việt Namnăm 1979 Ngoài ra, ông còn là ủy viên ban chấp hành Hội Liên hiệp Văn họcNghệ thuật Thừa Thiên Huế các khóa IX (2000-2005), X (2005-2010)

Ngô Minh sáng tác ở hai thể loại thơ và văn xuôi Ở thể loại thơ, ông

sáng tác nhiều, nhất là thơ về biển, như: Chân sóng (1995), Đứa con của cát (1998), Phù sa biển (2001), Huyền thoại Cửa Tùng (2004), Ký tự biển (2013).

Ông được trao tặng nhiều giải thưởng văn học lớn và được tặng thưởng thơhay Ngô Minh là một nhà thơ sinh ra từ miền biển Có lẽ vì thế mà hình ảnhbiển đảo trong thơ ông luôn căng tràn và hiện lên lung linh, huyền ảo Ông đãtừng nói: “Từ thửa mẹ đẻ rơi tôi bên bờ chân sóng, trong tôi biển đảo ViệtNam là hoàn thiện, giống như làng tôi vậy Tập thơ nào tôi cũng có nhiều bàithơ về biển, có tập toàn về biển…” [50; 171] Biển với Ngô Minh vừa là quê

Trang 33

hương, theo cả nghĩa hẹp lẫn nghĩa rộng, nghĩa đen lẫn nghĩa bóng Nhưng

biển trong Ký tự biển lại là những tự tình mang tính triết lý, tính báo động.

Biển là sự chia sẻ, là nơi đi và đến của tâm trạng, tâm tưởng Đối với ông, cát

và biển là nơi chất chứa những triết lý cuộc sống Biển ắp đầy, nhưng lúc tabuồn thì biển hoang vắng đến tận cùng Biển là thi ảnh thể hiện rất rõ sự bất

an hay bình an của lòng người:

Biển là mộ, làng ơi con nhớ Tháng bảy sóng nhảy qua bờ Tháng bảy giỗ mạ, giỗ dì Quế và giỗ biển Con lại về cúng biển

Hóa vàng thơ

(Mộ biển trong tập Ký tự biển)

Đặt vấn đề liên quan đến biển Đông, Ngô Minh nghĩ giới sáng tạo vănhọc nghê thuật thời nào cũng rất nhạy cảm với vận mạng của đất nước Họđều yêu biển và sẵn sàng “xung trận”, vung bút vung cọ vì biển Tuy nhiên,tùy theo chỗ đứng của mỗi người mà có cách tiếp cận biển khác nhau Ông tinrằng nếu nhà nước tạo điều kiện để họ xâm nhập biển sâu hơn, dài hơn, họ sẽcó những tác phẩm tốt về biển đảo quê hương Theo ông, nếu nghệ thuật màlàm tốt công việc của mình thì “lãnh hải” tự nhiên được mở rộng, được ghinhớ, được truyền tụng,…nên cũng được bảo vệ, ít nhất là trong tâm tưởng vàtâm thức của cộng đồng, của dân tộc

1.3.2 Hữu Thỉnh

Hữu Thỉnh tên thật là Nguyễn Hữu Thỉnh, bút danh là Vũ Hữu, là nh àthơ thuộc thế hệ chống Mỹ Ông sinh 15/2/1942, là hội viên Hội nhà văn ViệtNam từ năm 1976, Hữu Thỉnh hiện là chủ tịch Hội nhà văn Việt Nam, Tổngbiên tập báo Văn nghệ

Trang 34

Hữu Thỉnh đã có những sáng tác thành công trước 1975, song phải đếnthời hậu chiến ông mới khẳng định được vị trí của mình qua một loạt tác

phẩm thơ, như: Âm vang chiến hào, Đường tới thành phố, Từ chiến hào tới thành phố, Khi bé Hoa ra đời, Thư mùa đông, Trường ca biển, Thương lượng

và thời gian Với Hữu Thỉnh, người làm thơ lấy cái rung động của tâm hồn

để bắt nhịp với đời sống Và bài thơ trước hết là sản phẩm của tâm hồn, tàinăng của nhà thơ Nhưng trong sâu xa lăng kính tâm hồn ấy luôn luôn mở ravới đời sống, nhằm tái hiện đời sống một cách có nghệ thuật thi ca bay bổng

mơ mộng Nhưng mọi cánh diều của thơ ca đều phải buộc chặt vào mặt đất.Đứt dây với đời sống thì cánh diều sẽ rơi mất

Hữu Thỉnh là nhà thơ viết nhiều về biển Tập trường ca Biển dù đứng bên cạnh trường ca Đường tới thành phố chỉ là sự “phú quý thụt lùi” (nh ư có

người đã nhận xét) song cũng có những câu để lại nhiều dư ba, nhất là nhữngcâu nhắc về đảo Trường Sa:

Biển có đảo biển đỡ lặp lại mình Đảo có lính cát non thành Tổ quốc

- Nổi chìm bao kiếp người Dìu đảo ngoi trên sóng Chim có nơi nghỉ cánh Ngày vẽ trên cát tươi.

Với Hữu Thỉnh biển không chỉ đẹp mà còn mang nỗi buồn Trong thơHữu Thỉnh, biển như một sự sống, biết cảm nhận vui buồn, cô đơn Nói đếnnỗi cô đơn của biển, Hữu Thỉnh viết:

Biển vẫn cậy mình dài rộng thế Vắng cánh buồm một chút đã cô đơn.

Có thể nói, dù không phải là một "hiện tượng" song khi nói đến thơ viết

về biển, đảo Hữu Thỉnh là nhà thơ đã có một ví trí riêng Thơ ông đã đi vào

Trang 35

lòng người đọc một cách lặng lẽ, tự nhiên Tất cả là ở cái tinh tế, sinh động,với những phát hiện riêng về biển, đảo

1.3.3 Trần Đăng Khoa

Trần Đăng Khoa sinh 24/4/1958, quê làng Trực Trì, xã Quốc Tuấn,huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương Ông là một nhà thơ, nhà báo, biên tập viênTạp chí Văn nghệ Quân đội Từ nhỏ, ông đã được nhiều người cho là thầnđồng thơ Lên 8 tuổi, ông đã có thơ đăng báo Năm 1968, khi mới 10 tuổi, tập

thơ đầu tiên Từ góc sân nhà em (tập thơ tiếp theo là “Góc sân vườn và khoảng

trời”) của Trần Đăng Khoa được nhà xuất bản Kim Đồng xuất bản Có lẽ tác

phẩm nhiều người biết đến nhất của ông là bài thơ Hạt gạo làng ta, sáng tác

năm 1968, được thi sĩ Xuân Diệu hiệu đính, sau được nhạc sĩ Trần Viết Bínhphổ nhạc (1971)

Trần Đăng Khoa nhập ngũ ngày 25/02/1975 khi đang học tại trườngphổ thông cấp 3 Nam Sách Sau năm 1975, ông được điều về quân chủng hảiquân Sau đó, ông theo học Trường viết văn Nguyễn Du và được cử sang họctại Viện Văn học thế giới M.Gorki thuộc Viện Hàn lâm khoa học xã hội Nga.Khi trở về nước ông làm biên tập viên Văn nghệ quân đội Hiện nay, ông là

phó bí thư Đảng ủy Đài tiếng nói Việt Nam Các tác phẩm của ông: Từ góc sân nhà em (1968), Góc sân và khoảng trời (1968), Khúc hát người anh hùng (1974), Bên cửa sổ máy bay (1986), Thơ tình người lính biển, Đảo chìm

(2009) Ông ba lần được tặng giải thưởng thơ của báo Thiếu niên Tiền phong(các năm 1968, 1969, 1971), Giải nhất Báo văn nghệ (1982) và Giải thưởngNhà nước (2000)

Nhà thơ Trần Đăng Khoa đã từng nói: “Thơ là thơ Thực tế còn lãngmạn và dữ dội hơn Người chưa ra biển, không ở đảo không thể hình dungđược” Trần Đăng Khoa không chỉ là nhà thơ viết về những người lính biển

mà chính ông cũng là những người lính ấy Và mỗi khi biển Đông bình yên,

Trang 36

lại thấy những câu thơ như thế này của Trần Đăng Khoa như là một điềm báo

Biển một bên và em một bên…

(Thơ tình người lính biển)

Trần Đăng Khoa vừa là nhà văn, đồng thời là người lính biển, m ộttrong những người cầm súng có mặt rất sớm ở Trường Sa Chính thời gian rabiển, đảo đã làm nên một Trần Đăng Khoa văn thơ, một thành công đáng kểcủa ông ở tuổi trưởng thành Một thành công có thể sánh ngang với thành tựucủa Trần Đăng Khoa thần đồng mấy chục năm trước, có phần lại còn đa dạnghơn, phong phú và sâu sắc hơn…

1.3.4 Nguyễn Việt Chiến

Nguyễn Việt Chiến, sinh ngày 08/10/1952, quê ở Chàng Sơn, ThạchThất, Hà Tây Ông là nhà báo, nhà văn đang làm việc tại Báo Thanh niên ở

Hà Nội Ông hiện là hội viện Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội nhà báoViệt Nam, hội viên hội nhà văn Hà Nội Một số bút danh khác của ông dùngkhi làm thơ có: Nguyễn Văn Nguyễn, Từ Kim Việt

Nguyễn Việt Chiến đi bộ đội từ năm 1970, xuất ngũ năm 1974 và vàoĐại học Tốt nghiệp ngành địa chất, năm 1990, chuyển sang viết báo Năm

1991 công tác ở báo văn nghệ Năm 1992 về làm phóng viên tại báo Thanh

Niên Các tác phẩm của ông: Mưa lúc không giờ (1992); Ngọn sóng thời gian (1998), Cỏ trên đất (2000); Những con ngựa đêm (2003), Tổ quốc nhìn từ biển (2011) và phê bình 2 tiểu luận “Thơ Việt Nam tìm tòi và cách tân 1975-

Trang 37

2005” (2007)… Trong thời gian từ năm 1990 đến 2004, ông đã được trao nămgiải thưởng về thơ: Giải nhì Cuộc thi thơ báo Văn Nghệ, Hội nhà văn ViệtNam (1989-1990); Giải nhì Cuộc thi thơ hay về biển của Vũng Tàu (1992),Giải nhì Cuộc thi thơ Tạp chí Văn Nghệ (1998-1999); giải thưởng Hội nhà

văn Hà Nội (2004) và Hội nhà văn Việt Nam (2004) cho tập thơ Những con ngựa đêm Trong số những sáng tác của Nguyễn Việt Chiến về biển đảo, bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển là tác phẩm tiêu biểu nhất, thu hút sự quan tâm của

đông đảo công chúng yêu thơ và các nhà phê bình văn học Nguyễn ViệtChiến đã đặt ra nhiều từ “nếu” và triển khai mạch cảm xúc suy tưởng từ nhiềugóc độ khác nhau:

Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm họa

Đã mười lần giặc đến tự biển Đông Những ngọn sóng hóa Bạch Đằng cảm tử

Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng.

Tổ quốc nhìn từ biển là một tác phẩm thành công, từ cấu tứ, âm hưởngthơ; từ cái thông điệp rất đĩnh đạc đầy hào sảng mà bài thơ chuyển tải đếnngười đọc Bài thơ được xây dựng trên cấu tứ nền tảng là những giả định về

Tổ quốc gắn với những hình ảnh về biển đảo:

Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển

… Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển

… Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ bao quần đảo

… Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích…

Nhưng cái độc đáo hơn là ở chỗ nhà thơ gợi nhắc chúng ta về mộttruyền thuyết từ buổi bình minh của Tổ quốc, khi Lạc Long Quân và Âu cơ

Trang 38

với trăm người con, theo mẹ lên rừng, theo cha xuống biển, vẽ lên hình hàiđất nước cho cháu con muôn đời.

Ngàn năm trước con theo cha xuống biển

Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa.

Không chỉ vậy, Tổ quốc dưới góc nhìn “từ biển” của Nguyễn ViệtChiến vừa trải qua ngàn năm đau thương, mất mát với bao nhiêu hiểm họa,nhưng cũng từ ngàn năm ấy, Tổ quốc đã bất khuất ngẩng cao đầu chiến thắngquân thù Và Nguyễn Việt Chiến đã thay chúng ta nói lên niềm tự hào, kiêuhãnh chính đáng về một Tổ quốc anh hùng:

Lời cha dặn phải giữ từng thước đất Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi.

Có thể nói, nếu không có một tình yêu lớn đối với Tổ quốc thì nhà thơkhông thể viết nổi những câu thơ lay động tâm hồn như vậy Và đó cũng là

điều ta nhận thấy ở Nguyễn Việt Chiến Bài thơ Tổ quốc nhìn từ biển, vì vậy

là một thông điệp về tình yêu Tổ quốc và sứ mạng công dân Tổ quốc nhìn từbiển - nhìn từ hơn 3000 hòn đảo, cái nhìn thăng trầm của lịch sử đầy biếnđộng, của những nỗi đau thương mất mát, nhìn từ phía biển là cái nhìn chấtchứa nỗi lo thế sự về an ninh của biển đảo; nhìn từ phía biển để thấy khát

vọng của dân tộc, để thấy “trong hồn người có ngọn sóng nào không”.

(UNICEF) về văn học thiếu nhi, Giải nhì cuộc thi Đây biển Việt Nam.

Nguyễn Ngọc Phú cho rằng, con người trước biển cả, sẽ nhanh chónggục ngã nếu đơn phương độc mã Cần phải kết thành một khối đoàn kết, đồng

Trang 39

tđm đồng lòng Ní́u chỉ hời hợt, chỉ hô khẩu hiị́u, bií̉n cả sẽ mêi mêi ở ngoăibạn, lă điều bạn không thí̉ có được Với bií̉n, bạn phải thđ̣t lòng, thđ̣t tđm.Sức mạnh dđn tộc cũng được hình thănh từ chính tinh thđ̀n ấy Ông sinh ra ởvùng bií̉n Cửa Sót (Hă Tĩnh), nơi giao thoa giữa hai dòng nước, nơi thườngxuyín tạo ra những khu vực xoáy chí́t người Ông lớn lín trong hơi gió bií̉n.Bữa cơm đđ̣m đă vị muối bií̉n Đím không ngủ được, nghe tií́ng sóng bií̉n lẵng thấy thií́u điều gì đó Được vií́t về bií̉n, nói về bií̉n, ông thấy mình như

con cá được bơi trong nước Tác phẩm dự thi Đđy biển Việt Nam phđ̀n lớn

đều không cđ̀u kì cđu chữ, không cđu nị́ hình thức Ông nói: “Tôi vií́t về bií̉n

trong tđm thí́ lă một người con của vùng bií̉n Băi thơ Tổ quốc tôi ba nghìn cđy số biển được Giải lđ̀n năy chỉ lă một trong rất nhiều băi thơ tôi đê vií́t về

bií̉n” Thđ̣t hií́m có một quốc gia năo có hơn 3000 cđy số bờ bií̉n như Viị́tNam Trong huyền thoại xưa 50 con của Đu Cơ - Lạc Long Quđn đê theo chaxuống bií̉n Ý thức của cha ông ta về bií̉n đê hình thănh từ rất sớm Chúng tacó một văn hóa bií̉n từ rất lđu đời Vă đí́n nay, nó vẫn được phát huy vă lăsợi dđy gắn kí́t mọi người con dđn nước Viị́t Vií́t về bií̉n đảo, các nhă thơđều mang trong mình cái đau đáu khi nghĩ đí́n bií̉n đảo, về những người línhcanh giữ bií̉n trời Còn có một Bií̉n khác trín đất liền - bií̉n của người phụ

nữ, cũng gian truđn vă nhiều bêo tố Đó lă hđ̣u phương của những người lính

Bií̉n vă tất cả những gì gắn với nó dường như đê có tự lúc năo, ngấmvăo trong vô thức, trong bản năng đí̉ rồi mang hình hăi, số phđ̣n, mang chởnhững trực cảm, trải nghiị́m về cuộc đời, thđn phđ̣n con người vă những đuổibắt tđm linh sđu thẳm:

Cânh võng đầu tiín ru tôi

Lă mảnh lưới cha tôi cắt ra từ đâm lưới còn đầy vẩy câ Trong giấc mở tôi không có tiếng côn trùng

Tiếng câ quẩy khuấy văo tôi trăm sóng.

(Bií̉n tđ́u bií̉n)

Trang 40

Thơ Nguyễn Ngọc Phú từ suy tư, cảm xúc cho đến hình ảnh, ngôn ngữ,giọng điệu vẫn là thực tại ở tầng nghĩa thứ nhất Những cảm xúc, suy ngẫm vềcuộc đời, về thiên nhiên, con người dù có sâu sắc, thấm thía đến đâu vẫn đượcchuyển tải bằng lối diễn đạt trực tiếp.

Thơ Nguyễn Ngọc Phú đã có sự xuất hiện sự cách tân, dù chưa thật nổibật Đọc thơ Nguyễn Ngọc Phú trong tính hệ thống, liên văn bản có thể nhận

ra điều đó Phải khẳng định rằng nếu thiếu đi các đời sống cụ thể và phongphú về đề tài chủ đề, thơ Nguyễn Ngọc Phú lại giàu có đời sống tâm trạng,trong đó có cảm giác, nỗi niềm, thân phận, tâm linh mà nhà thơ đã cho ngườiđọc được trải nghiệm, được ý thức về sự tồn tại rất thực, rất có ý nghĩa củachúng, thơ viết về biển của Nguyễn Ngọc Phú đã thực sự tạo được sự mới lạ,đầy sức thuyết phục

Ngày đăng: 19/07/2015, 19:00

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bảo Anh (2014), “Đây biển Việt Nam – vẻ đẹp của sự chân thành đã tạo ra sự chấn động”, http://hitt//phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đây biển Việt Nam – vẻ đẹp của sự chân thành đã tạo ra sự chấn động”
Tác giả: Bảo Anh
Năm: 2014
2. Vũ Tuấn Anh (1997), Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nửa thế kỷ thơ Việt Nam 1945 – 1995
Tác giả: Vũ Tuấn Anh
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1997
3. Hoàng Thy Anh (2014), “Tổ quốc nhìn từ biển”, http://www.baothanhhoa.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổ quốc nhìn từ biển”
Tác giả: Hoàng Thy Anh
Năm: 2014
4. Aristotle (1999), Nghệ thuật thy ca, Nxb văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghệ thuật thy ca
Tác giả: Aristotle
Nhà XB: Nxb văn học
Năm: 1999
5. Lại Nguyên Ân (2004), Văn học và phê bình, Nxb Đ.H Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và phê bình
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đ.H Quốc gia
Năm: 2004
10. Nguyễn Phan Cảnh (2000), Ngôn ngữ thơ, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ
Tác giả: Nguyễn Phan Cảnh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Huy Cận, Hà Minh Đức (1993), Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca (60 năm phong trào thơ mới), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhìn lại cuộc cách mạng trong thi ca
Tác giả: Huy Cận, Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1993
12. Trần Ngọc Dung (2006), “Đời sống thể loại văn học sau năm 1975”, Nghiên cứu văn học (2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống thể loại văn học sau năm 1975”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Trần Ngọc Dung
Năm: 2006
13. Vũ Dũng (2000), Từ điển tâm lý học, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 2000
14. Hữu Đạt (1996), Ngôn ngữ thơ Việt Nam, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ thơ Việt Nam
Tác giả: Hữu Đạt
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1996
15. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2005), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: Nxb Giáo dục
16. Hà Minh Đức (1998), Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1998
17. Hà Minh Đức (2003), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
19. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, Nxb Văn học Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2002
20. Phong Điệp (2014), “Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú – Biển dạy cho con biết sống”, http://www.phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Nguyễn Ngọc Phú – Biển dạy cho con biết sống”
Tác giả: Phong Điệp
Năm: 2014
21. Như Hà (2013), “Nhà thơ Ngô Minh: biển đảo quê hương mang tiếng gọi khẩn thiết”, http://worldcup.thethaovanhoa.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà thơ Ngô Minh: biển đảo quê hương mang tiếng gọi khẩn thiết”
Tác giả: Như Hà
Năm: 2013
22. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2007), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
23. Bùi Công Hùng (1983), Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, Nxb Xã hội 24. Hùng, “Đỗ Quyên với trường ca Lòng Hải Lý”, http://phongdiep.net Sách, tạp chí
Tiêu đề: Góp phần tìm hiểu nghệ thuật thơ ca, "Nxb Xã hội 24. Hùng, “Đỗ Quyên với trường ca "Lòng Hải Lý"”
Tác giả: Bùi Công Hùng
Nhà XB: Nxb Xã hội " " 24. Hùng
Năm: 1983
25. Inrasara (2013), “Âm vang biển đảo qua cách nhìn Trịnh Công Lộc”, http://www.baodanang.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Âm vang biển đảo qua cách nhìn Trịnh Công Lộc”
Tác giả: Inrasara
Năm: 2013
26. Inrasara (2008), Song thoại với cái mới, Nxb Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Song thoại với cái mới
Tác giả: Inrasara
Nhà XB: Nxb Hội nhà văn
Năm: 2008

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w