1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay (Luận án tiến sĩ)

165 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 165
Dung lượng 394,22 KB
File đính kèm Luận án Full.rar (1 MB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nayTruyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay

Trang 1

NỘI DUNG

1. Lý do lựa chọn đề tài

1.1 Được coi là một trong những thể loại “nhạy bén” của nền văn học hiện đại, thành tựu và những quy luật vận động của truyện ngắn có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu văn học của một dân tộc Ở nước ta, văn

học từ sau 1986 nói chung và truyện ngắn nói riêng có vị thế vô cùng quan trọng trong nền văn chương Việt Bởi đó là cột mốc đánh dấu sự đổi mới, phát triển toàn diện của nền văn học nước nhà

1.2 Sau 1986, văn học Việt Nam chứng kiến “sự bức phá ngoạn mục” của các cây bút nữ Từ những hiện tượng đơn lẻ chỉ xuất hiện chủ yếu ở thể loại thơ trong giai đoạn văn học trước 75, ở giai đoạn này các nữ văn sĩ đã chứng tỏ bút lực dồi dào cũng như khả năng bao quát ở tất cả các thể loại văn xuôi, đặc biệt là truyện ngắn Chính sự đồng hành ấy đã làm nên bộ phận truyện ngắn nữ, một trong những “điểm sáng” của nền văn học đương đại

1.3 Đã có nhiều công trình nghiên cứu về truyện ngắn nữ nhưng chủ yếu chỉ dừng lại ở từng tác giả, tác phẩm cụ thể hoặc đi sâu vào một phương diện nào đó trong sáng tác của cây bút nữ Vì vậy, việc nghiên cứu truyện ngắn nữ một cách hệ thống, bao quát được nhiều bình diện của vấn đề vẫn còn là một hướng đi giàu gợi mở Trên cơ sở tiếp thu những thành tựu đã đạt được trong việc nghiên cứu truyện ngắn nữ, chúng tôi muốn có một cái nhìn

hệ thống và khái quát về sự vận động cũng như những thành tựu, đặc điểm của truyện ngắn nữ từ sau 1986 đến nay Đề tài nghiên cứu góp phần trong việc phác thảo diện mạo của truyện ngắn Việt Nam nói riêng và văn học Việt Nam nói chung trong tiến trình vận động của văn học dân tộc

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAMHỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ QUỲNH LÊ

TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

Ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 9 22 01 21

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

1.PGS.TS Lưu Khánh Thơ

2.PGS.TS Nguyễn Thị Bích Thu

HÀ NỘI - 2019

HÀ NỘI ăm

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nêu trong luận án là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công

trình nào khác

Tác giả luận án

TRẦN THỊ QUỲNH LÊ

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án 4

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án 4

7 Cấu trúc của luận án 5

CHƯƠNG 1:TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 6

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 6

1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước 34

1.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài 37

Chương 2: TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY TRONG BỔI CẢNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP 42

2.1.Những tác động “ngoại sinh” 42

2.2.Những vận động “nội tại” 55

2.3.Truyện ngắn nữ - “phần tinh túy làm nên bản lai diện mục” của nền văn học Việt Nam đương đại 68

Chương 3: NHỮNG MÔ HÌNH GIAO TIẾP TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 74

3.1 Mô hình giao tiếp với thiên nhiên 75

3.2 Mô hình giao tiếp với cuộc sống và con người 87

3.3 Mô hình giao tiếp với chính mình 98

Chương 4: NHỮNG DẠNG THÁI BIỂU HIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 108

4.1 Không gian và thời gian nghệ thuật 108

4.2 Diễn ngôn mang đặc trưng giới trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay 126

KẾT LUẬN 148

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ 151

TÀI LIỆU THAM KHẢO 152

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

1.1 Truyện ngắn là thể loại có lịch sử lâu đời trong văn học thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng Được coi là một trong những thể loại năng động,

“nhạy bén” của nền văn học hiện đại, thành tựu và những quy luật vận động của truyện ngắn có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc nghiên cứu văn học của một dân tộc Ở Việt Nam, cùng với tiểu thuyết, truyện ngắn đã khẳng định vai trò và

vị thế của một trong những thể loại luôn tiên phong trong việc nắm bắt những chuyển động của cuộc sống và thời đại để tự làm mới mình

1.2 Năm 1986 được xem là một dấu mốc quan trọng của lịch sử văn học dân tộc Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học Việt, làm “bứt rễ” cả những điều tưởng đã trở thành bất biến của nền văn học cũ Chính trong không khí đó, sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ đã trở thành “hiện tượng” của nền văn chương đương đại Không phải đến giai đoạn này, các nữ văn sĩ mới xuất hiện trên văn đàn nhưng có lẽ chưa bao giờ lực lượng các nhà văn nữ lại đông đảo và mạnh mẽ đến thế Sự góp mặt

của họ không chỉ ấn tượng về con số mà quan trọng hơn còn là sự bứt phá củanhững cá tính và bản lĩnh nghệ thuật dường như chưa được khai phóng đúng mức ở các giai đoạn trước

1.3.Bằng sự nhập cuộc sôi nổi và tinh thần phản tư sâu sắc những giá trị

về cuộc sống và thân phận con người, đặc biệt là những người đàn bà, các cây bút nữ đã thực sự đem lại sắc diện mới, rất riêng về tâm hồn người phụ nữ trongvăn Dấu ấn tài năng của họ được thể hiện trong nhiều thể loại nhưng đậm nétnhất có lẽ là trong truyện ngắn Đó dường như là một sự lựa chọn mang tính tự giác đầy chủ ý của các nữ văn sĩ Vì thế, việc lý giải cho sự gắn kết như duyên

nợ ấy sẽ nhằm “phát lộ” những đặc trưng riêng của người viết nữ trong việc chuyển tải những thông điệp cuộc sống và con người trên những trang văn, để

Trang 5

làm nên cái người ta vẫn gọi là “văn học mang gương mặt nữ” Những thành tựu của truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay là hệ quả từ sự tác động của hoàn cảnh lịch sử, từ đặc trưng thể loại hay chính những đặc trưng về giới vẫn còn là câu hỏi mở, đầy thú vị cho những người nghiên cứu

Vì những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: Truyện ngắn nữ Việt Nam

từ 1986 đến nay

2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án

2.1 Mục đích: Trên cơ sở tìm hiểu và nghiên cứu truyện ngắn của một số tác giả nữ tiêu biểu từ 1986 đến nay, luận án muốn chỉ ra được những nét đặc trưng làm nên bản sắc của lối viết nữ Đồng thời, qua đó khẳng định vị trí và tài năng của các cây bút nữ trong dòng chảy văn học Việt Nam đương đại Lựa chọn giai đoạn từ 1986 đến nay, luận án cũng hướng đến việc khẳng định truyện ngắn

nữ không chỉ là một bộ phận mà còn là bộ phân tiêu biểu làm nên sự phong phú, đặc sắc của văn học Việt Nam đương đại

2.2 Nhiệm vụ: Xuất phát từ nhận thức trên, để thực hiện đề tài này, trước tiên chúng tôi hệ thống những quan điểm và hướng nghiên cứu về văn xuôi nữ nói chung và truyện ngắn nữ nói riêng để làm định hướng nghiên cứu của đề tài

Ở chương 2, chúng tôi đặt truyện ngắn nữ trong bối cảnh đổi mới và hội nhậpcủa văn chương Việt Nam đương đại để nhìn thấy được sự hình thành và phát triển mạnh mẽ của truyện ngắn nữ không chỉ là sự vận động tất yếu của đời sống văn học mà còn là quá trình cộng hưởng từ nhiều yếu tố của lịch sử, xã hội, văn hóa và tư tưởng Sau đó, luận án sẽ tiếp tục làm sáng rõ đặc trưng của truyện ngắn nữ thông qua sự khác biệt trong việc xây dựng mô hình giao tiếp của các cây bút nữ ở chương 3 và cuối cùng đến chương 4 chúng tôi nghiên cứu một số dạng thái biểu hiện của lối viết nữ để đem lại một cái nhìn tương đối toàn diện

về truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Trang 6

Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận án là truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay trên các phương diện cụ thể như mô hình giao tiếp, không gian, thời gian nghệ thuật và diễn ngôn mang đặc trưng của giới nữ

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận án tập trung khảo sát các tập truyện ngắn của những cây bút nữ tiêu biểu như: Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Nguyễn Ngọc Tư, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Đỗ Bích Thúy Bên cạnh đó, chúng tôi cũng khảo sát truyện ngắn của một số cây bút hải ngoại tiêu biểu như: Nguyễn Thị Hoàng Bắc, Nhung Uyển, Trân Satrong tuyển tập Khung trời bỏ lại (NXB Phụ Nữ - 1996)

Ngoài ra, để làm phong phú và tăng sức thuyết phục của luận án chúng tôi còn khảo sát thêm một số tập truyện ngắn nữ như: Những truyện ngắn nữ đặc

sắc từ 1986 đến nay (NXB Phụ Nữ), Truyện ngắn nữ 2000 – 2006 (NXB Phụ

nữ); Truyện ngắn nữ đầu thế kỷ 21 (NXB Văn học), Truyện ngắn nữ 2000 –

2009 (NXB Phụ nữ), Truyện ngắn 9 cây bút nữ (NXB Văn học), Vũ điệu thân gầy, truyện ngắn 12 cây bút nữ (NXB Trẻ), Độc thoại trên tháp nhà nhờ (Tuyển tập truyện ngắn hiện đại của 5 nhà văn nữ) (NXB Hội Nhà văn)…

Do đối tượng nghiên cứu vẫn đang tiếp tục vận động và phát triển nên chúng tôi giới hạn mốc thời gian sau cùng cho những tác phẩm trong phạm vi khảo sát của luận án là những truyện ngắn được xuất bản đến năm 2017

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu

cơ bản sau:

- Phương pháp cấu trúc – kí hiệu học: nhằm nghiên cứu cấu trúc nội tại của tác phẩm, từ đó giúp lý giải được những kí hiệu được tác giả mã hóa trong quá trình giao tiếp

-Phương pháp loại hình: Nhằm bao quát đặc trưng thể loại truyện ngắn từ các phương diện biểu cụ thể trong truyện ngắn nữ đương đại

Trang 7

- Phương pháp so sánh: Góp phần làm nổi bật đặc trưng của lối viết nữ trong tương quan so sánh với truyện ngắn của các cây bút nam cùng thời hay với truyện ngắn của các tác giả nữ trước năm 1986

-Tiếp cận theo hướng thi pháp học: để phân tích những yếu tố “hình thức mang tính quan niệm” như không gian – thời gian nghệ thuật trong truyện ngắn

nữ đương đại

Ngoài ra trong luận án, chúng tôi còn vận dụng sự hỗ trợ từ các thao tác nghiên cứu văn học như: khảo sát văn bản, thống kê – phân loại, phân tích, tổng hợp, phê bình văn học… để khám phá những đặc sắc của truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay

5 Đóng góp mới về khoa học của luận án

Luận án là công trình chuyên biệt nghiên cứu một cách hệ thống các phương diện cơ bản làm nên đặc trưng của lối viết nữ cũng như thành tựu và đóng góp của truyện ngắn nữ từ 1986 đến nay trong tiến trình vận động của văn học Việt Nam và văn học thế giới Trong đó, đặc biệt là cách tiếp cận truyện ngắn nữ dưới góc độ cấu trúc, kí hiệu học, xem sáng tác của các nhà văn nữ như một hình thức giao tiếp của các nữ văn sĩ với con người, cuộc đời và với chính mình, góp thêm một hướng đi trong việc luận giải những giá trị của hiện tượng văn học này

6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án

- Ý nghĩa lý luận: Luận án làm sáng rõ một số vấn đề thuộc về lý luận thể loại, về những đặc điểm khu biệt và tính kí hiệu của tác phẩm qua việc khảo sát truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay

-Ý nghĩa thực tiễn: Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho cán bộ, sinh viên ngành Ngữ văn ở các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông cũng như các độc giả quan tâm, nghiên cứu về truyện ngắn đương đại Việt Nam đặc biệt là truyện ngắn của các cây bút nữ

Trang 8

7 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương

cụ thể như sau:

-Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

- Chương 2: Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay trong bối cảnh đổi mới và hội nhập

- Chương 3: Những mô hình giao tiếp trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ

1986 đến nay

-Chương 4: Những dạng thái biểu hiện trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ

1986 đến nay

Trang 9

CHƯƠNG 1TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Từ năm 1986 đến nay, cùng với sự phát triển của nhiều thể loại, truyện ngắn đã “ghi danh” mình như một trong những thể loại có bước tiến mạnh mẽ trong nền văn học thời kỳ đổi mới Nghiên cứu về thể loại truyện ngắn vì thế đãthu hút được sự quan tâm của đông đảo giới nghiên cứu phê bình Nhiều công trình nghiên cứu chuyên sâu về truyện ngắn từ hệ thống lý thuyết thể loại đến thực tiễn sáng tác, từ diện mạo chung đến những hiện tượng cụ thể đã xuất hiện Tuy nhiên,những công trình nghiên cứu trực tiếp về truyện ngắn nữ còn khá hạn chế Phần lớn là những bài báo đăng trên các tạp chí, website hoặc là những bài

viết được lồng ghép trong những nghiên cứu về văn xuôi nữ nói chung Một số tác giả nữ đã được đề cập ở những công trình nghiên cứu chuyên sâu nhưng thường dừng lại ở từng tác giả đơn lẻ hay nhóm các tác giả theo một hệ vấn đề nhất định Vì thế, qua việc tổng hợp các công trình và bài viết về văn xuôi nữ nói chung và truyện ngắn nữ nói riêng, chúng tôi khái quát được 4 hướng nghiên cứu chính về truyện ngắn nữ Việt Nam (có thể lồng ghép trong văn xuôi nữ) từ 1986 đến nay cụ thể như sau:

1.1.1 Tổng kết, đánh giá thành tựu của các cây bút nữ

Từ 1986 đến nay, truyện ngắn nữ đã phát triển hơn 30 năm Đó là chặng đường không dài so với lịch sử phát triển của văn học dân tộc Thế nhưng, với khoảng thời gian ấy cũng đủ để những nhà nghiên cứu nhìn lại vị trí, vai trò cũng như sự đóng góp của các cây bút nữ trong diễn trình văn học Việt Nam đương đại Bên cạnh niềm tin, sự kỳ vọng về một nền văn học “mang gương mặt nữ”, các bài viết theo xu hướng này đã soi rọi được nhiều khía cạnh đặc trưng trong sáng tác của những người đàn bà viết văn

Trang 10

Năm 1993, với nhiều bài viết về truyện ngắn, nhà phê bình lý luận văn học Bùi Việt Thắng đã nhận thấy sự bứt phá của một “lực lượng “Ganepho” giàu nội lực” Trong bài viết Khi người ta trẻ (I) (Tản mạn về truyện ngắn của những cây bút nữ trẻ), ông không chỉ khẳng định sự đóng góp của các cây bút nữ trẻ trên văn đàn “Truyện ngắn hôm nay đang khởi sắc nhờ sự đóng góp không nhỏ của các cây bút nữ trẻ Dung nhan của thể loại nhỏ đang lấp lánh hơn

những giọng điệu trẻ trung của Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị

Ấm, Y Ban, Nguyễn Minh Dậu và Phan Thị Vàng Anh” [132, tr 189] mà còn lật

mở những đặc điểm của các nữ văn sĩ Theo ông, làm nên nét đặc trưng của các cây viết nữ trẻ chính là “nhu cầu đến như là say mê được tham dự, được hòa nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng của con người” [132,tr 190] Chính vì thế nữ tính của những cây bút nữ trẻ “phát lộ rất rõ trong sự quyết liệt đấu tranh giành giữ tình yêu và sự bình quyền trong tình cảm” [132, tr 191] Bên cạnh việc dụng công xây dựng những nhân vật nữ, truyện ngắn của những cây bút nữ trẻ gây được ấn tượng ở người đọc nhờ cách trình bày cuộc sống tronghình thức “ lạ hóa” đối tượng, ở sự phá cách rất tự do, khoáng đạt và uyển chuyển linh hoạt Do đó, tuy có chút lo lắng về truyện ngắn của các cây bút nữ khi “vẫn thiếu một cái gì đó thật căn cốt, thật dư ba” nhưng ông vẫn khẳng định

“chính họ chứ không ai khác sẽ làm nên diện mạo văn học thế kỷ hai mốt…tôi vẫn tin vào thế hệ thứ năm này như tin vào tiền đồ của văn học nước nhà sẽ tới một thời kỳ phục hưng” [132, tr 196 - 197] Có thể thấy, tuy chỉ là một bài viết nhỏ nhưng nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng đã có những nhìn nhận khá xác đáng

về những đặc điểm cũng như triển vọng trong sáng tác của đội ngũ những cây bút nữ trẻ lúc bấy giờ và cũng lực lượng sáng tác chính của văn học nữ đương đại

Năm 1995, trong bài viết mở đầu Những tác giả nữ trong nền văn xuôi

cách mạng của cuốn sách Truyện ngắn các tác giả nữ (Tuyển chọn 1945 – 1995),

nhà phê bình Hà Minh Đức đã có cái nhìn bao quát về lực lượng sáng tác những người viết nữ từ giai đoạn cách mạng đến sau năm 1975 Theo nhà nghiên cứu,

Trang 11

với các tác giả thuộc thế hệ nổi lên từ sau 1975 như Phạm Thị Hoài, Dạ Ngân, Trần Thị Trường, Ngô Thị Kim Cúc, Nguyễn Thị Ấm, Phạm Thị Minh Thư…, sáng tác của họ đã xuất hiện nhiều yếu tố mới từ nhân vật đến cấu trúc: “Các nhân vật mở rộng nếp cảm nghĩ, bộc lộ rõ cá tính trong các mối quan hệ, trong thị hiếu thẩm mĩ và ngôn ngữ xử sự Cấu trúc câu chuyện cũng vẫn xoay theo những kiểu dáng mới không theo nếp truyền thống” [10, tr 7] Còn những cây bút nữ mới xuất hiện gần đây như Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh,

Võ Thị Xuân Hà, Hồ Hải Âu, “cái tôi của mỗi người đều không dấu kín mà bộc

lộ chân tình, linh hoạt trên trang viết Tươi trẻ, nhưng từng trải, biết hòa nhập.Theo ông, chất nữ tính làm nên sự khác biệt trong sáng tác của các cây bút nữ trong giai đoạn này chính là “sự mềm dịu”, “phần thì bộc lộ vẻ đẹp khách quan của những tâm hồn nữ, phần thì làm dịu đi ở người đọc những mệt mỏi trăn trở khó khăn của cuộc đời Chính cái tâm lý ấy góp phần tạo nên chất thơ riêng của các tác giả nữ” [10, tr 7] Vì thế ông khẳng định “văn xuôi nữ phải có chất thơ”, tuy nhiên điều làm cho người đọc ngạc nhiên và cũng có khi hứng thú là “sự mạnh dạn của nhiều cây bút nữ trong việc bộc lộ phần rất riêng tư của tình yêu

kể cả những khao khát thầm kín có tính chất bản năng ở mỗi người” [10, tr 7 8].Chính sự “vừa đông vui về lực lượng, vừa đa dạng về tiềm năng, phong cách” [10, tr 8], khiến nhà nghiên cứu tin rằng, văn học nữ khi khởi phát còn dừng lắng như đợi chờ sự tích tụ thì “trong khoảng hơn thập kỷ trở lại đây đã thành dòng chảy xiết mạnh mẽ, hứa hẹn nhiều thành quả tốt đẹp” [10, tr 8]

-Bước sang thế kỷ XXI, dường như là một mốc thời gian đủ xa để các nhà nghiên cứu nhìn lại thành tựu của văn học nữ, đặc biệt là truyện ngắn nữ để từ đónhận diện những nét đặc trưng riêng của những người viết nữ qua nhiều bài viết khác nhau Bằng sự mẫn cảm của một người đàn bà, năm 2001, nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Bích Thu đã có nhiều kiến giải mang tính phát lộ bản chất của văn xuôi nữ trong bài viết “Văn xuôi phái đẹp” Theo bà, “Trong những năm gần đây, cùng với đội ngũ viết văn của cả nước, các nhà văn nữ vẫn tỏ ra sung sức

Trang 12

và bền bỉ trong lao động sáng tạo Bằng những trang viết của mình, các chị đã góp phần nâng cao tính thẩm mỹ của thể loại, đặc biệt vẫn giữ được “bình đẳng” với đồng nghiệp nam giới về hiệu quả và chất lượng nghệ thuật” [143, tr 112] Bản lĩnh của người viết nữ được thể hiện thông qua việc làm chủ ngòi bút trong tư duy nghệ thuật và cảm hứng sáng tạo: “Văn chương của phái đẹp hôm nay đã không thi vị hóa những chuyện đời, không tỏ ra đài các hoặc đa cảm trong những dòng lệ…mà sắc sảo và sâu sắc khi tiếp cận và khai thác đề tài thế

sự, đời tư với nỗi đau nhân tình thế thái bằng lối viết dịu dàng mà bén ngọt, diết dóng mà đồng cảm sẻ chia với những thân phận, những con người sống quanh mình” [143, tr 113,] Đặc trưng của văn xuôi phái đẹp trên phương diện đề tài là

“những va chạm nhỏ, những xung động khẽ của cuộc sống” hay “cái lỉnh kỉnh,

dở dang” của cuộc đời Với ưu thế riêng của giới tính, các nhà văn nữ đã thể hiện sở trường của mình trong đề tài tình yêu muôn thuở, trong khai thác đối tượng sáng tạo chủ yếu chính là cuộc đời và tâm hồn của người phụ nữ Đồng thời, bà cũng khẳng định đối tượng mà người đàn bà tìm kiếm chính là đàn ông –những Adam của cuộc sống đời thường Mỗi trang viết của họ là một sự vỡ lẽ về các đấng mày râu mà quan trọng hơn đó là sự “bộc lộ lòng vị tha, nhân ái của phụ nữ với con người và cuộc đời Suy cho cùng đó cũng là một cách dung hòa cân bằng các mối quan hệ ứng xử ở đời” [143, tr 115] Trong sáng tác của mình, các cây bút nữ đã thể hiện cả ý thức lẫn vô thức sáng tạo, dựa trên linh cảm đầy biến ảo để khai thác đến nhiều vỉa tầng của hiện thực và chiều sâu nhân vật Vì thế, việc phát hiện các tình huống tâm lý, thế giới nội tâm nhân vật với bút pháp

tự sự trữ tình đã trở thành một nét đặc trưng trong sáng tác của các chị Bên cạnh

đó, việc không ngừng đổi mới nghệ thuật ngôn từ, lối viết tự do, khoáng đạt hiện đại mà gợi cảm và đầy nữ tính đã khiến tác phẩm của các chị ngày càng có nhiều độc giả Chính với những thành tựu đó, nhà nghiên cứu đã tin rằng “trong nền văn xuôi đương đại phong phú và đa dạng hôm nay, sáng tác của các nhà văn nữ

Trang 13

đã có một tiếng nói riêng, hương sắc riêng…phụ nữ với tác phẩm của phụ nữ sẽ

là lời mời, tiếng gọi của văn chương và người đọc trong thế kỷ 21” [143, tr 117]

Năm 2006, trong bài viết Sức bật mới của những cây bút nữ, tác giả Lê Viết Thọ thông qua việc đánh giá những cái tên rất quen như Võ Thị Hảo, Trần Thùy Mai, Nguyễn Ngọc Tư đến sự xuất hiện của những cây bút nữ trẻ mới trên văn đàn như Hồng Hạnh, Phan Việt đã khẳng định “Những năm đầu của thế kỷ XXI này, văn đàn thêm một lần khởi sắc bởi những cây bút nữ Nhờ họ, văn học ngày càng mang thêm diện mạo mới, một đời sống nhiều giằng co, trắc ẩn và đa đoan…Những cây bút nữ đã và đang âm thầm tỏa sáng, bày tỏ cách hiện diện trong cuôc sống bằng văn chương, tạo nên những nhịp mạch mới cho đời sống văn học [125] Theo ông, điều quan trọng làm nên sức bật ấy chính là “trong sâu thẳm trang văn cho dù tưởng như cay nghiệt, thì vẫn phập phồng một trái tim nhân hậu, một cái nhìn sẻ chia, cảm thông trước cuộc đời, tạo nên một mạch nguồn ấm áp trong đời sống văn chương” [125]

Năm 2007, nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên ở bài viết Vũ điệu văn chương trẻ trong tập truyện ngắn của 12 cây bút nữ đã đã bộc lộ sự vui mừng khi chứng kiến sự trưởng thành của những cây viết thế hệ 7x, 8x như Nie Thanh Mai, Nguyễn Thúy Hằng, Ngọc Cầm Dương, Từ Nữ Triệu Vương…và với những gì họ đem lại trong văn chương “Họ trẻ tuổi, họ sống trẻ theo nhịp sống của thế hệ và thời đại, họ nghĩ và cảm trẻ Và họ viết trẻ Trẻ tự nó đã là một phẩm chất Ở lối nhìn đời Và ở cách trình bày lối nhìn ấy thành văn…Không có

gì mới dưới mặt trời, nói về thất tình lục dục của con người Chỉ có cách nhìn cách nói về chúng là mới mà thôi Dù cái mới đây nhiều khi chưa phải là cái mới

thực chất Mới chỉ đang là khác, là lạ Thì đấy cũng đã là một sự bắt đầu để có mới” [10, tr 7] Theo tác giả, truyện ngắn là thể gan lì và ương bướng khi chấp nhận mọi người viết muốn thử sức nhưng không dễ cho ai làm chủ được nó khi không có đủ nội lực và tay nghề, nhưng 12 cây bút nữ trẻ đã đáp lại lời mời và

sự thách thức đó Mỗi cây bút, với những cách khám phá khác nhau đã mạnh dạn

Trang 14

nữ viết nhiều về đề tài tình yêu, hạnh phúc với những khát vọng tình yêu luôn luôn bỏng chát nhưng dường như chẳng bao giờ có thể thực hiện được, chẳng bao giờ có thể trọn vẹn “Vẫn còn bàng bạc những mất mát trong tình yêu và hôn nhân, nhấn chìm người phụ nữ vào sự cô đơn, đau khổ” [145] Tuy nhiên, các cây bút nữ đã mạnh dạn cất lên tiếng nói cá nhân, nêu lên ước nguyện của mình, dám đòi hỏi và kêu gọi người đời quan tâm đến số phận những người phụ

nữ Không chỉ vậy, “văn xuôi nữ còn đi sâu vào những tầng bậc của cuộc sống gia đình, ở đó có cả những mâu thuẫn, xung đột, bất hòa giữa hai thế hệ mà tưởng như không thể giải tỏa nổi” [145] Đặc biệt, theo nhận định của tác giả Trần Thục, nhân vật nữ trong tác phẩm của các cây bút nữ xuất hiện với mật độ dày đặc và trở thành hình tượng trung tâm, có thể lên đến 2/3 nhân vật của toàn

bộ tác phẩm “Nhân vật nữ của họ rất tinh tế, nhạy cảm, có cá tính mạnh mẽ, dám sống, dám yêu, dám đòi hỏi quyền được yêu, quyền được sống hạnh phúc chính đáng” [145] Đồng thời với giọng điệu mới mẻ, có cá tính và ngôn ngữ sắc sảo, mạnh bạo mà vẫn không thiếu chất đằm thắm, dịu dàng, các nhà văn nữ đã góp những tiếng nói riêng, những hương sắc riêng cho diện mạo văn xuôi đương đại Theo tác giả, văn xuôi nữ ở Việt Nam tuy xuất hiện muộn hơn so với các nước khác nhưng “hứa hẹn những bước đi triển vọng góp phần làm phong phú diện mạo văn học Việt Nam thế kỷ XXI” [145]

Trang 15

Luận án đầy đủ ở file: Luận án Full

Ngày đăng: 26/02/2019, 08:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm