1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Những tìm tòi nghệ thuật trong tiểu thuyết của nguyễn đình chính từ 1986 đến nay luận văn thạc sĩ ngữ văn

150 890 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Những tìm tòi nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính từ 1986 đến nay
Tác giả Nguyễn Đình Chính
Người hướng dẫn PGS. TS. Phan Huy Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Văn học Việt Nam
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 773,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì thế, nghiên cứu những tìm tòi nghệ thuậttrong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính là công việc có ý nghĩa nhằm gópthêm cứ liệu để ta có thể hiểu được những vấn đề có tính phổ quát hơn c

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

MAI VĂN VINH

NH÷NG T×M TßI NGHÖ THUËT TRONG TIÓU THUYÕT CñA NGUYÔN §×NH CHÝNH Tõ 1986 §ÕN NAY

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

NGHỆ AN - 2012

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

MAI VĂN VINH

NH÷NG T×M TßI NGHÖ THUËT TRONG TIÓU THUYÕT CñA NGUYÔN §×NH CHÝNH Tõ 1986 §ÕN NAY

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Mã số: 60.22.34

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

Người hướng dẫn khoa học:

PGS TS PHAN HUY DŨNG

NGHỆ AN - 2012

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 1

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát 9

4 Nhiệm vụ nghiên cứu 10

5 Phương pháp nghiên cứu 10

6 Đóng góp của luận văn 10

7 Cấu trúc luận văn 10

Chương 1 NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY 11

1.1 Nhìn chung về bức tranh tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay .11

1.1.1 Những tiền đề dẫn đến đổi mới 11

1.1.2 Sự đa dạng của những hướng tìm tòi 15

1.1.3 Những thành tựu đã được ghi nhận và những vấn nạn 18

1.2 Con đường tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính 26

1.2.1 Vài nét tiểu sử 26

1.2.2 Những sáng tác đầu tay 27

1.2.3 Thời kỳ quyết tâm đổi mới và các hệ lụy 27

Chương 2 NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG CÁI NHÌN VỀ CON NGƯỜI VÀ NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN, XÂY DỰNG NHÂN VẬT 30

2.1 Đổi mới cái nhìn về con người 30

2.1.1 Những giới hạn của tiểu thuyết trước đây trong cái nhìn về con người 30

Trang 4

2.1.2 Những điểm nhấn của Nguyễn Đình Chính trong quan niệm về

con người 31

Trang 5

2.2.1 Tiếng gọi trò chơi trong tổ chức cốt truyện 43

2.2.2 Cốt truyện phiêu lưu và truyền kỳ 45

2.2.3 Cốt truyện tâm lý 50

2.3 Các loại nhân vật và phương thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính 53

2.3.1 Giới thuyết về nhân vật trong tiểu thuyết đương đại 53

2.3.2 Các loại nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính 55

2.3.3 Phương thức xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính .62

2.3.4 Yếu tố sex trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính 75

Chương 3 NHỮNG TÌM TÒI VỀ NGÔN NGỮ, GIỌNG ĐIỆU VÀ CÁC THÍ NGHIỆM LỐI VIẾT HẬU HIỆN ĐẠI 90

3.1 Những tìm tòi về ngôn ngữ 90

3.1.1 Tính đối thoại của các lớp ngôn từ 90

3.1.2 Những thí nghiệm với loại văn nói 98

3.1.3 Tính thẩm mỹ của của lớp ngôn từ dân dã, đời thường 105

3.2 Những tìm tòi về giọng điệu 106

3.2.1 Tính đa thanh của giọng 107

3.2.2 Giọng chất vấn, truy bức 115

3.2.3 Giọng châm biếm, giễu nhại 118

3.3 Các thí nghiệm lối viết hậu hiện đại 126

3.3.1 Một vài giới thuyết về lối viết hậu hiện đại 126

3.3.2 Những bình diện của lối viết hậu hiện đại đã được chạm đến 132

3.3.3 Những khoảng cách với lối viết hậu hiện đại “đích thực” 134

KẾT LUẬN 137

TÀI LIỆU THAM KHẢO 139

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam từ sau Đổi mới (1986) đến nay đã và đang cónhững nỗ lực cách tân đáng ghi nhận, trên cơ sở kế thừa và phát huy nhữnggiá trị nghệ thuật của văn học các giai đoạn trước, khắc phục những hạn chế,thiếu sót, mở rộng giao lưu hội nhập, tiếp thu một cách chủ động, sáng tạonhững tinh hoa văn hóa nước ngoài trong một tinh thần dân chủ, cởi mở Vănhọc Việt Nam đã bước đầu tạo lập cho mình một diện mạo, một lối đi riêngkhác với giai đoạn trước Sự đổi mới trong đường lối văn nghệ của Đảng cũngtạo nên một động lực quan trọng về mặt tinh thần, tạo điều kiện cho các nhàvăn được tự do sáng tạo, phát huy năng lực, cá tính của người nghệ sĩ tronglao động nghệ thuật Quá trình đổi mới văn học Việt Nam diễn ra rất sôi động

và đa dạng trên tất cả các bình diện với đầy đủ các thể loại, trong đó tiểuthuyết là thể loại đạt dược nhiều thành tựu nhất cả về nội dung lẫn hình thứcnghệ thuật Tìm hiểu về những thành tựu của tiểu thuyết Việt Nam từ 1986đến nay là một việc đã được các nhà nghiên cứu, phê bình chú ý Tuy nhiên,còn rất nhiều vấn đề, nhiều tác giả phải được tiếp tục khám phá Nguyễn ĐìnhChính với các tiểu thuyết của ông là một trường hợp cụ thể thuộc loại này

1.2 Nguyễn Đình Chính không hẳn là một gương mặt tiểu thuyết cónhững đóng góp nổi bật Nhưng những trăn trở, kiếm tìm, những thành công

và cả những bước đi trầy trật của ông thì lại khá tiêu biểu cho con đường củatiểu thuyết Việt Nam hiện nay Vì thế, nghiên cứu những tìm tòi nghệ thuậttrong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính là công việc có ý nghĩa nhằm gópthêm cứ liệu để ta có thể hiểu được những vấn đề có tính phổ quát hơn của cảnền văn học trong bối cảnh giao lưu, hội nhập hiện nay

2 Lịch sử vấn đề

Trang 8

2.1 Những bài viết nói chung về con người và nghiệp văn của NguyễnĐình Chính

Nhìn chung, các công trình nghiên cứu, các bài viết về con người vànghiệp văn của Nguyễn Đình Chính chưa nhiều và chủ yếu là những bài viếtnhỏ, lẻ được đăng trên các trang mạng Tiêu biểu trong các bài viết đó cần

Hoàng Lan Anh, “Nhà văn Nguyễn Đình Chính gặp “Ngày hoàng đạo”

http://maivang.nld.com.vn, đăng ngày 30/09/2006.

Hoà Bình, “Nguyễn Đình Chính - Không thể cả đời đuổi theo sự thật”,

http://vietbao.vn, đăng ngày 4 tháng mười năm 2006

Thi Anh, “Tiểu thuyết hậu hiện đại viết theo phong cách văng mạng!”,

www.tienve.org đăng vào Thứ Sáu, 13/02/2009

Các bài viết chủ yếu xoay quanh vấn đề về gia đình, quá trình trưởngthành trên con đường viết văn cũng như sự ra đời, ý kiến khen chê đối với cáctiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính Nói về gia đình và văn nghiệp Nguyễn

Đình Chính thì Chân dung Nguyễn Đình Chính của Đỗ Minh Tuấn là đáng

chú ý hơn cả Nhìn chung các bài viết này đã cho biết: Nguyễn Đình Chính làngười con út của cố nhà văn Nguyễn Đình Thi, từ nhỏ đã phải sống một cuộcđời đầy sóng gió Cha đi kháng chiến, mấy mẹ con ông phải tự nuôi nhau quanhững ngày tháng cơ cực Lớn lên cùng những đứa trẻ chăn trâu ở thôn quê,Nguyễn Đình Chính thấm thía cái đói, cái khát Những kỷ niệm về người mẹ,

Trang 9

nỗi đau khi phải chứng kiến cái chết của mẹ trên đường chạy loạn không baogiờ có thể xóa nhòa trong ông Lớn lên, Nguyễn Đình Chính, làm nhiều nghề

để kiếm sống, từng nếm trải cái thiếu thốn của anh nhà văn nghèo Hành trìnhviết văn của Nguyễn Đình Chính là một hành trình đầy những gian nan,nhưng không vì thế mà ông nản lòng Khó khăn như là những động lực giúpông khẳng định khát khao tìm tòi, đổi mới và sáng tạo của mình Là con củamột “cây đại thụ” trong làng văn, Nguyễn Đình Thi, là một thử thách đối vớiông Nguyễn Đình Chính phải vượt qua “cái bóng” của cha mình, nếu khôngông chỉ là cái bóng mờ mà thôi Vượt qua cha mình nghĩa là vượt qua cả thế

hệ cha anh, vượt qua cả một thời văn học đã có những thành tựu rực rỡ Điềunày không hề đơn giản nếu không phải là nhà văn có thực tài, có chí lớn

Nguyễn Đình Chính đã làm được điều đó, với sự ra đời của Đêm thánh nhân

(Ngày hoàng đạo).

Các bài viết khác chủ yếu nêu những cảm nhận về Đêm thánh nhân

(Ngày hoàng đạo) và Online… ba lô Theo đó, ta được biết Đêm thánh nhân (Ngày hoàng đạo) có một số phận không hề bằng phẳng, từng bị không ít nhà

xuất bản từ chối bản thảo Phần một của cuốn tiểu thuyết ra đời đã gây xônxao dư luận Sau những ồn ào đó tưởng rằng phần II của cuốn sách sẽ không

bao giờ tới tay bạn đọc Nhưng thật không ngờ, sau khi đổi tên thành Ngày

hoàng đạo tiểu thuyết đã đến được với bạn đọc, trở thành một trong những

cuốn sách bán chạy nhất ở thời điểm bấy giờ

Bài viết của Phạm Thị Điệp Giang đăng trên trang http://www.tienve.org

Không có gì phải ầm ĩ! thì lại cho rằng Online… ba lô chưa đạt được những giá

trị nghệ thuật đích thực “có văng mà văng chưa tới mạng”…

Các bài viết còn lại đều khẳng định Tiểu thuyết Onlinee… ba lô là một

thử nghiệm của Nguyễn Đình Chính về lối viết hậu hiện đại “Khuôn khổ cũ

đã chật”, Nguyễn Đình Chính đi tìm cho mình một lối viết mới, “Không thể

Trang 10

cả đời đuổi theo sự thật” ông buộc phải “ép mình vào cuộc chạy ma-ra-tông”

để tìm cho mình lối đi riêng Online… ba lô đã ra đời như thế, và thực sự nó

là một thể nghiệm ban đầu về một lối viết mới, mặc dù không tránh khỏi

những hạn chế nhưng Online… ba lô đã chạm đến được với lối viết hậu hiện

đại, để lại trong bạn đọc cũng như giới phê bình, sáng tác nhiều suy nghẫm

2.2 Những bài viết đánh giá mặt thành công và hạn chế trong các tìmtòi nghệ thuật của Nguyễn Đình Chính ở lĩnh vực tiểu thuyết

Nhìn chung, số lượng các bài viết chưa nhiều, mà cũng chỉ tập trung

bàn về Đêm thánh nhân (Ngày hoàng đạo), mà một số đã được chính tác giả Nguyễn Đình Chính tập hợp lại, in ở phần sau của cuốn Ngày hoàng đạo, tập

2, Nxb Văn học, 2006 Các bài tiêu biểu là:

- Đặng Tiến (1999), Thay cho lời tựa.

- Hòa Vang (1999), Chính mía ở Đêm thánh nhân.

- Văn Cầm Hải (1999), 240 phút mạo hiểm cùng Nguyễn Đình Chính.

- Thanh Thảo (1999), Những không gian xúc cảm của tiểu thuyết.

- Hoàng Hữu Các (2000), Trò chuyện với Đêm thánh nhân.

- Một độc giả không quen biết (2009), “Thư gửi nhà văn NguyễnĐình Chính”

Trong Thay cho lời tựa, Đặng Tiến nhận định tiểu thuyết Đêm thánh

nhân là một bộ tiểu thuyết huyền ảo kết hợp hai thể loại truyền kỳ và quái

đản, ở đây tác giả Nguyễn Đình Chính đã tạo được một cốt truyện “cớ và cắccớ” Từ đầu tác giả đã tạo ra “cắc cớ”, một bác sĩ đã bị liệt dương còn can tội

hủ hóa, và bị kỷ luật Đảng, lâm bệnh tâm thần phân lập, rồi lại sống với ma…

từ đó tác giả tha hồ kể chuyện hấp dẫn Thứ hai, tiểu thuyết Đêm thánh nhân

là một tiểu thuyết phiêu lưu truyền kỳ, tác giả đã nắm rất vững mọi kỹ thuật

kể chuyện, tạo không khí hư hư thực thực như truyện quái đản khoa học ảotưởng của phương Tây, mặt khác tác giả nêu lên những vấn đề xã hội trầmtrọng dưới dạng hư cấu làm như không đụng chạm đến ai Đồng thời tác giả

Trang 11

kết hợp thể tiểu thuyết ngắn truyền kỳ với thể du ký tạo nên sức hấp dẫn cho

tiểu thuyết Thứ ba, tiểu thuyết Đêm thánh nhân là sự kết hợp hài hòa giữa

truyện truyền kỳ và truyện ký, dung hòa được yếu tố huyền ảo và hiện thực

Sự kết hợp này thể hiện rõ trong cách gọi tên nhân vật và xác định địa danh.Gọi tên nhân vật dài dòng gây ấn tượng huyễn hoặc, địa danh trong tiểuthuyết nửa hư nửa thực tạo được ảo giác thân thuộc giữa một thế giới lạlùng Thứ tư, tác giả Đặng Tiến khẳng định, tác phẩm vừa mang màu sắchiện thực vừa mang màu sắc “liêu trai”, ông đánh giá cao đoạn văn miêu tảquan hệ luyến ái giữa bác sĩ Trương Vĩnh Cần và cô bé Ma thị Thảo:

“Nguyễn Đình Chính là một phù thủy cao tay ấn khi sang tạo ra nhân vậtphụ Ma Thị Thảo, chỉ xuất hiện thấp thoáng trong một vài trang đầu nhưngvừa là một yếu tố phá quậy, vừa là một nhân vật cứu tinh, một thứ chìa khóagiả mã cho câu chuyện… tác phẩm do đó mà hàm súc, vừa giải trí vừa suynghĩ” Thứ năm, tác giả khẳng định, sức hấp dẫn của tác phẩm là việc nhàvăn tạo ra nhiều tuyến nhân vật, vừa độc đáo vì tính cách truyền kỳ, vừađiển hình vì tính cách hiện thực Trong các tuyến nhân vật đó nổi bật hơn cả

là hai tuyến nhân vật người và ma Thứ sáu, tác giả đã khẳng định sự thànhcông của Nguyễn Đình Chính trong việc đưa tình dục vào tiểu thuyết “Nhìnchung, trong đề tài tính dục, ngòi bút Nguyễn Đình Chính có nghịch ngợm

nhưng lành mạnh” Thứ bảy, tác giả cho rằng tiểu thuyết Đêm thánh nhân

phần nào hướng theo quan niệm dân gian: ở hiền gặp lành, tích ác phùng ác,tiểu thuyết mang niềm tin ở thiện căn con người Thứ tám, tác giả đã tinh tếkhi phát hiện ra rằng, không gian tác phẩm từng trang, từng trang mở rộng,không gian nới rộng kích thước và nhân gia nới rộng tự do Còn thời gian,ngày lại ngày như lùi về tiền sử Thể hiện một niềm tin còn dè dặt, phê phán,gạn lọc văn minh “Và dường như cũng có ước mơ một nhân chủng mới, nảysinh từ hoang phế của một xã hội rệu rã” Cuối cùng, tác giả khẳng định

Đêm thánh nhân là một thành tựu của văn chương huyền ảo, hứa hẹn một

Trang 12

nguồn giải trí lành mạnh cho trí thức và tâm linh trong một xã hội mà trật tựtinh thần chưa ổn định Tiểu thuyết đã mở ra một nguồn vui và một niềm tin

ở con người, ở cuộc sống, ở tình đồng loại và khả năng hạnh phúc Đêm

thánh nhân làm mới những giá trị không mới”.

Nhà văn Hòa Vang trong Chính Mía ở Đêm thánh nhân đã cho người đọc những cảm nhận ban đầu về tác phẩm Đêm thánh nhân (Ngày hoàng

đạo) được viết ở Ô Cách, trong ân tình của bạn bè và "gánh nặng cơm áo gạo

tiền", bìu díu trách nhiệm Khi đọc Đêm thánh nhân (Ngày hoàng đạo),

Hoàng Hữu Các có những chấn động sâu sắc: "có nhiều trang (khoảng 10

trang) không mím môi mà tôi đọc là tôi ói đấy" Ở Đêm thánh nhân (Ngày

hoàng đạo) Nguyễn Đình Chính đã bày lên nhiều trang giấy những gì nhớp

nhúa của cuộc đời Cái sex trong tác phẩm không phải là thứ văn học đồi trụy

mà là văn học nhục cảm, "tác phẩm như một lưỡi ben khổng lồ của một cáitàu nạo vét bùn sục đến tận vỉa đáy, khuấy tung cả lòng sông cuộc đời lên".Điều này có được do nhà văn là người đã sống cuộc đời của kẻ cực khổ, longđong, vất vả trong lòng của thực tế cuộc sống Tiểu thuyết được viết theophong cách văng mạng, khác hẳn với văn chương diêm dúa, đứng đắn nghiêmchỉnh của thế hệ cha anh

Nhà thơ, luật sư Văn Cầm Hải trong bà 240 phút mạo hiểm cùng

Nguyễn Đình Chính đã thể hiện những ấn tượng sâu sắc đến ám ảnh của tác

giả khi đọc Đêm thánh nhân Mỗi nhân vật, mỗi cuộc đời, mỗi cảnh huống

đều để lại trong ông những ám ảnh không thể xóa nhòa Tác giả viết “Tôikinh hoàng nhận ra đấy không phải là một giấc mơ thấy họ được phong

“thánh” như lời tựa tác giả Nguyễn Đình Chính tự lòng, đó là trường năngđộng, là độ sâu của một sự dịch biến có thật đang xô đảy tôi vào khoảng thờigian có chiều dài 240 phút mù mịt mảnh vỡ pha lê thăng giáng, mỗi mảnhtrong veo ấy tôi nhìn thấy tôi, tôi nhận thấy người, tôi nhìn thấy Nguyễn Đình

Trang 13

Chính, tôi nhìn thấy 10 nhân vật ứng với 10 chương sách như 10 truyện ngắnđược liên kết với nhau bằng một dòng ý thức huyền nhiệm dân gian không laođộng theo khuôn khổ của tư duy mà là cuộc chơi hực hỡ của trực giác, vật vãthông thống trườn qua từng con chữ ám ảnh nỗi niềm cô đơn và dục tính…”.Tác giả còn đề cao kết cấu và trò chơi ngôn ngữ của tiểu thuyết, “kết cấu biếnhóa và chuyển tải bởi một cuộc chơi ngôn ngữ lười quy tắc đến độ tần nhẫn

ấy, có lẽ Đêm thánh nhân I không dành riêng cho những ai yếu vía hoặc thậm

chí nhìn nó với một ánh mắt lén lút!”

Trong bài Những không gian xúc cảm của tiểu thuyết, Thanh Thảo lại tìm thấy cái độc đáo của tiểu thuyết Đêm thánh nhân là ở những không gian

cảm xúc Ông cho rằng “nghệ thuật tinh vi nhất của một nhà tiểu thuyết là tạo

ra nhiều không gian cảm xúc khác nhau” và Nguyễn Đình Chính đã làm đượcđiều đó “không gian cảm xúc mà anh tạo dựng nên đã gây được xúc cảm chongười đọc Để tạo ra được điều này thì trước hết Nguyễn Đình Chính đã thànhcông trong việc xây dựng nhân vật Trương Vĩnh Cần, một người có năng lực

mở ra được nhiều kênh liên lạc, đối thoại với cả người sống và người chết,khả năng đặc biệt ấy đã giúp ông đến được với nhiều số phận, nhiều thế giới,trong những cảm xúc cảm xúc khác nhau… từ đó trên mỗi bước đường lẩnthẩn của Trương Vĩnh Cần, Nguyễn Đình Chính có thể thoải mái “bịa” ranhững câu chuyện, những số phận nhân vật khác nhau, và những “chuyệnbịa” ấy nghe được, vào được người đọc, và từ đó tiểu thuyết mở ra nhiều cảmxúc khác nhau, để lại nhiều cảm xúc sâu sắc trong người đọc

Còn trong Trò chuyện với Đêm thánh nhân Hoàng Hữu Các lại khẳng định tiểu thuyết Đêm thánh nhân là một cuốn tiểu thuyết khó đọc, người đọc

không thể trả lời được tiểu thuyết nói cái gì? Bởi hiện thực của tiểu thuyếtnằm trong cái hằng số ảo, hiện thục của tiểu thuyết là cái mà người đọc có thể

cảm thấy chứ không phải cái nhìn thấy Đêm thánh nhân hấp dẫn, cuốn hút

Trang 14

người đọc “Ai đọc một trang thì đều muốn đọc tiếp trang sau, … số phậnnhân vật lôi cuốn ta, mạch văn mạch truyện lôi cuốn ta, nhưng khi đọc xong

ta lại rơi vào một trạng thái mơ hồ, hình như khó nắm bắt được một cái gì rõ

ràng, tất cả đều hư hư thực thực” cái mà ta có được sau khi đọc Đêm thánh

nhân chỉ là những cảm nhận.

Tác giả H.Q.T trong Đêm thánh nhân cõi nào giữa nhân gian trả lời cho câu hỏi Đêm thánh nhân viết về cõi nào? Cõi trần, cõi thiên đàng hay điạ ngục? Tác giả cho rằng Đêm thánh nhân miêu tả nhiều về địa ngục, ở đó có

nhiều nhân vật nửa người, nửa ngợm, những quái nhân, những hồn ma…nhưng thực chất Nguyễn Đình Chính đã thông qua cõi địa ngục đó để nói vềcõi trần “Đám nửa người nửa thú đó chính là loài mặt người dạ thú sống chenlẫn trong xã hội để hù dọa, ăn hiếp, cướp bóc, làm tình, làm tội những kẻ yếubóng vía Nguyễn Đình Chính đã phơi trần bộ mặt thật của những kẻ không

có văn hóa và trình bày dưới dạng tác phẩm văn học Đêm thánh nhân chính

là phiên tòa của địa ngục trần gian

Tác giả P.Đ (một độc giả già ở Hà Nội) trong bài Mấy cảm nghĩ khi

đọc Đêm thánh nhân viết rằng: “Nguyễn Đình Chính đã dung nghệ thuật kể

chuyện rất khéo để viết cuốn tiểu thuyết có sức hấp dẫn người đọc của mình.Chỉ riêng việc cầm mấy trăm trang giấy trong tay, sau một hồi đã cảm thấy cómột ma lực cuốn hút, đọc một mạch từ trang đầu đến trang cuối,… càng đọccàng cảm thấy giọng văn của Chính hồn nhiên, không kiểu cách… ” Tác giảkhẳng định Nguyễn Đình Chính nói lên sự thật không che đậy, bằng mộtgiọng văn không hằn học hay chua cay độc địa Nguyễn Đình Chính ngợi catình dục như những hình tượng đẹp, cái đẹp thẩm mỹ, cao thượng nhằm

chống thói đạo đức giả và thói bôi xấu tình dục Đêm thánh nhân là cuốn tiểu

thuyết thét lên tiếng thét của cuộc đời, tiếng thét lặng câm Nó vượt lên trên

cả cái tốt và cái xấu, cái thiện và cái ác, lên trên mọi oán hờn, long đố kỵ, sự

ti tiện, hèn mọn, lên trên tất cả nỗi dại khờ Do đó nó vượt ra ngoài mọi cách

Trang 15

nhìn, cách nghĩ cũ kỹ, không thể đem các định ước có sẵn áp đặt cho nó, cáckhuôn khổ chật hẹp khoác vào mình nó Vì nó là nó Vì bản than nó là mộtnội dung và dòng chảy của cuộc đời.

Một độc giả không quen biết trong thư gửi nhà văn Nguyễn ĐìnhChính, đã nói lên những cảm nhận sâu sắc của mình về sức hấp dẫn của tiểu

thuyết Đêm thánh nhân trên những mặt sau: Đêm thánh nhân hiện thực trong

tiểu thuyết còn thực hơn cả ở cuộc đời, mỗi khuôn mặt nhân vật đều hiện lên

rõ nét như chính họ bước từ cuộc đời vào các tác phẩm văn học trong trạngthái mơ mơ tỉnh tỉnh, lieu xiêu như ước vọng con người Tiểu thuyết xây dựngnhiều hình tượng đẹp, ở đó tình người là thiêng liêng hơn tất thảy Tác giảkhẳng định: đây là lần đầu tiên trong nền văn học nước Việt ta có một cuốntiểu thuyết có cách đặt tên người, tên đất rất độc đáo, rất nông thôn Việt Namnhưng không vì thế mà xa lạ hay gây khó chịu cho người đọc Lần đầu tiên cómột tiểu thuyết dài mới viết xong tập một có số lượng lớn nhân vật lam lũ, vất

vả như vậy Lần đầu tiên có một cuốn tiểu thuyết liên tục đưa ra những trạngthái xuất thần, xuất hồn, phép kinh công rút đất, phép cúng ma đồng cốt thựcthực, hư hư cuốn hút người đọc đi từ sự tò mò, ngạc nhiên thú vị đến hồi hộp

và ưu tư suy nghĩ Cuối cùng tác giả viết: “cái hay nhất trong cuốn tiểu thuyếtnày là cái hồn, cái thần chỉ đạo, người cầm bút nào cũng nhủ lòng mình, tâmmình phải viết đúng tâm nguyện, vì dân tộc, không bị chi phối bởi ngoại cảnh,

bởi miếng cơm manh áo, bởi quyền lực… Đêm thánh nhân là như vậy”.

3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi tư liệu khảo sát

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Như tên đề tài đã xác định rõ, đối tượng nghiên cứu của luận văn là

những tìm tòi nghệ thuật trong tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính từ 1986 đến nay.

3.2 Phạm vi tư liệu khảo sát

Trang 16

Tư liệu khảo sát chính của luận văn là những tác phẩm sau của nhà văn

Nguyễn Đình Chính: Con phù du cánh mỏng (1986); Đêm thánh nhân (1990 2006); Online… ba lô (2009) Ngoài ra, chúng tôi còn khảo sát cả những tiểu

-thuyết nổi tiếng ra đời từ sau 1986 của các nhà văn Việt Nam khác để có tưliệu đối sánh…

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Tổng quan về diện mạo của tiểu thuyết nói riêng, văn xuôi Việt

Nam nói chung từ 1986 đến nay và vị trí của Nguyễn Đình Chính

4.2 Phân tích những đổi mới trong cái nhìn về con người và nghệ thuật

tổ chức cốt truyện, xây dựng nhân vật ở tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính

4.3 Khảo sát những tìm tòi về ngôn ngữ, giọng điệu và các thí nghiệmlối viết hậu hiện đại trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính

5 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện luận văn này, chúng tôi chủ yếu sử dụng các phương pháp

nghiên cứu sau: phương pháp hệ thống - cấu trúc, phương pháp loại hình,

phương pháp so sánh, phương pháp thống kê

6 Đóng góp của luận văn

Đây là công trình đầu tiên tìm hiểu một cách hệ thống những tìm tòinghệ thuật của tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính sau 1986

7 Cấu trúc luận văn

Ngoài Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận

văn được triển khai trong 3 chương:

Chương 1 Nguyễn Đình Chính trong bối cảnh đổi mới của tiểu thuyết

Việt Nam từ 1986 đến nay

Chương 2 Những đổi mới trong cái nhìn về con người và nghệ thuật tổ

chức cốt truyện, xây dựng nhân vật

Trang 17

Chương 3 Những tìm tòi về ngôn ngữ, giọng điệu và các thí nghiệm lối

viết hậu hiện đại

Trang 18

Chương 1 NGUYỄN ĐÌNH CHÍNH TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI

CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY

1.1 Nhìn chung về bức tranh tiểu thuyết Việt Nam từ 1986 đến nay

1.1.1 Những tiền đề dẫn đến đổi mới

Thứ nhất, về lịch sử đất nước, sau 1975, chiến tranh kết thúc, đất nước

được thống nhất, cả dân tộc bước vào công cuộc tái thiết và phục hồi saunhững đổ nát chiến tranh với rất nhiều khó khăn, thử thách Hậu quả nặng nềcủa hai cuộc chiến ác liệt và lâu dài nhất trong lịch sử dân tộc khiến cả đấtnước đã phải gồng mình để đứng vững trước núi khó khăn chồng chất Trướctình hình ngày càng xấu đi của nền kinh tế, chính trị, xã hội và đời sống, Đạihội lần thứ VI của Đảng (12 - 1986) đã xác định đường lối đổi mới toàn diện,

mở ra một thời kì mới cho đất nước vượt qua khủng hoảng để bước vào giaiđoạn ổn định, phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc Đường lối đổi mớitại Đại hội VI của Đảng và Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị được thông qua đãkhẳng định một cách mạnh mẽ quyết tâm đổi mới đất nước Sự suy thoái kinh

tế đã được chặn lại, tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế ngày một được nângcao và dần đi vào ổn định, nền kinh tế thị trường dần được hình thành Đã bắtđầu có những dấu hiệu phục hồi kinh tế thông qua hàng loạt chủ trương, chínhsách mới được kịp thời ban hành

Sau đổi mới, những chuyển biến về xã hội, văn hoá - tư tưởng là hết sức

rõ nét Từ chiến tranh sang hoà bình, từ nền kinh tế tập trung, bao cấp chuyểnđổi sang nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã kéo theonhiều thay đổi về mặt xã hội Một trong những thay đổi xã hội mạnh mẽ nhất

đó là sự thay đổi của bộ mặt nông thôn Việt Nam Từ chỗ là thành luỹ kiên cốkhó bị tấn công nhất trong cơ cấu xã hội Việt Nam, nông thôn Việt Nam đã

Trang 19

từng bước thích nghi với nền kinh tế thị trường vừa chịu ảnh hưởng tích cựcvừa phải hứng chịu những mặt trái đầy thử thách của nó Thành thị từ chỗ chưa

có vai trò lớn trong cơ cấu xã hội Việt Nam đã dần cởi bỏ tấm áo cũ nhạt màu,thay vào đó là sự phong phú, ồn ã, tấp nập vừa văn minh vừa cũng không thiếunhững hạn chế có tính tất yếu của một đất nước đang chập chững những bướcđầu tiên trên hành trình công nghiệp hoá và hội nhập cùng thế giới trong xu thếtoàn cầu hoá Đất nước thoát khỏi chiến tranh, cuộc sống được cởi bỏ cơ chếbao cấp trì trệ, con người được trả về đời sống xã hội thường nhật, với đờithường mà ở đó có muôn màu muôn vẻ, lẫn lộn tốt xấu, trắng đen, bi hài, v.v

Xã hội Việt Nam chứng kiến quy luật nghiệt ngã của buổi giao thời: những giátrị về đạo đức, xã hội, nhân cách trước đây bền vững là thế thì nay đã bị nềnkinh tế thị trường tấn công mạnh mẽ không khoan nhượng dẫn đến lung lay,rạn nứt, đổ vỡ Trong khi đó, các chuẩn mực và các giá trị mới chưa thực sựhình thành Xã hội và con người Việt Nam trong hơn 30 năm qua đã “trải quamột cuộc trở dạ lớn lao và không ít đau đớn, phải tự xây dựng lại hình ảnh củachính mình cùng lúc với việc phải tự hình thành từng bước các tiêu chí giá trị”[50, 134] Trong tình hình ấy, đời sống văn hoá - tư tưởng cũng có những diệnmạo và diễn biễn hết sức phức tạp

Sự thay đổi trên nhiều lĩnh vực cũng làm cho tự thân văn học có nhữngkhám phá, tìm tòi mới khi đi vào phản ánh những ngổn ngang bề bộn củacuộc sống đương đại Đúng như lời nhận xét của Nguyến Khải “chiến tranh

ồn ào, náo động mà lại có cái yên tĩnh giản dị của nó, hòa bình mà chứa chấtbao nhiêu sóng ngầm, bao nhiêu gió xoáy bên trong”

Đại hội lần thứ VI đã nhìn nhận lại vai trò, nhiệm vụ, chức năng củabáo chí, văn học nghệ thuật Báo cáo chính trị của Đảng có nêu “không cóhình thái tinh thàn nào có thể thay thế được văn học nghệ thuật trong việc xâydựng tình cảm lành mạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp sống, nếp

Trang 20

nghĩ của con người … các sản phẩm của văn học nghệ thuật vừa là món ăntinh thần không thể thiếu của đời sống con người và là món thuốc đặc hiệunâng cao tình cảm con người” Cùng với việc nhận thức đúng đắn vai trò,nhiệm vụ, chức năng quan trọng của văn học, Đảng cũng hết sức quan tâmđến điều kiện sáng tác, điều kiện đời sống của anh chị em nghệ sĩ Đặc biệt tưtưởng chỉ đạo “nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật” của Đảng đã tạo sự hồisinh cho văn học

Từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), đường lối “đổi mới” và “mởcửa” đã đem lại cơ hội phát triển và hội nhập cho kinh tế, văn hoá ở quy môkhu vực và thế giới Bối cảnh ấy là điều kiện thuận lợi cho văn học bước rakhỏi ám ảnh của chiến tranh, cởi trói khỏi gánh nặng tư tưởng chính trị vànhiệm vụ cách mạng, trở về đúng với bổn phận và bản chất của mình Thực

tế này được xác nhận bằng sự phát triển mạnh mẽ của văn học, đặc biệt làvăn xuôi với những gương mặt truyện ngắn và tiểu thuyết tiêu biểu nhưNguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Chu Lai, Lê Lựu, Ma Văn Kháng,Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,Dương Thu Hương, Bảo Ninh, Tạ Duy Anh, Hồ Anh Thái, Phan Thị VàngAnh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Y Ban, v.v Mặc dù chưa có đượcnhững kiệt tác nhưng những sáng tác của họ, ở những mức độ và phươngdiện khác nhau, đã góp phần dân chủ hoá đời sống văn học và ít nhiều tạonền một diện mạo tươi sáng hơn cho nền văn học dân tộc trong quá trìnhvươn ra tầm khu vực và thế giới

Bên cạnh đó, sự phát triển của lí luận - phê bình và nghiên cứu văn họccũng là nhân tố có ý nghĩa thiết thực trong quá trình hội nhập Những thànhtựu của lí luận và nghiên cứu trên thế giới đã được giới nghiên cứu trong nướctiếp thu, vận dụng vào nghiên cứu văn học dân tộc và thu được những kết quảkhả quan Chẳng hạn như lí thuyết về Thi pháp học và lí thuyết về Thể loại

Trang 21

của Bakhtin, lí thuyết về cấu trúc văn bản nghệ thuật của Lotman, lí thuyết vềliên văn bản của chủ nghĩa hậu hiện đại, v.v, cùng những thành tựu nghiêncứu ngôn ngữ học thế giới đã trở nên quen thuộc trong đời sống văn học -điều mà trước 1986 còn chưa thực sự phổ biến (nhất là ở miền Bắc).

Những tiến bộ của khoa học công nghệ, đặc biệt là mạng Internet toàncầu, nhu cầu phổ biến về ngoại ngữ và sự phát triển của hoạt động dịch thuậtvăn học, sự quốc tế hoá luật bản quyền, v.v, đã làm cho đời sống văn họcdân tộc trở nên sôi nổi hơn và khiến các nền văn học có xu hướng xích lạigần nhau

Bên cạnh những thuận lợi kể trên là không ít khó khăn, thách thức chovăn học Việt Nam trong quá trình hội nhập với văn học thế giới Mặc dù làđất nước có văn hoá lâu đời, có nền văn học phát triển tương đối sớm nhưngnhững tác phẩm đạt đến trình độ và đẳng cấp thế giới chưa nhiều (vì vậykhông phải không có cơ sở khi có ý kiến cho rằng, Nôben cho văn học ViệtNam vẫn còn là một khát vọng xa vời) Sự thật này ít nhiều gây khó khăn choviệc quảng bá hình ảnh văn học cũng như là nguyên nhân gây nên “mặc cảmtâm lí hậu thuộc địa” đã nói ở trên

Ngoài ra có thể kể đến những khó khăn thuộc về cách làm văn học ở ta

mà theo cách nói bây giờ là còn thiếu tính chuyên nghiệp: phê bình văn họcvẫn được xem là khâu yếu nhất trong đời sống văn học (dù rằng các nhà phêbình đã rất cố gắng và không phải là không có thành tựu); chưa có chươngtrình quảng bá văn chương chúng ta ra thế giới; khâu dịch thuật còn nặng vềchọn các tác phẩm viết về chiến tranh hoặc có nội dung chính trị; các giảngđường gần như bỏ ngỏ việc giảng dạy hoặc giới thiệu văn học đương đại thếgiới, v.v…

Nếu sự giao lưu, trao đổi diễn ra trên cả bề rộng lẫn chiều sâu thì nhữngnhững kinh nghiệm của thế giới là hết sức bổ ích cho văn học dân tộc trong

Trang 22

thời điểm hiện tại Tuy nhiên, trên thực tế, không phải khi nào và ở đâu ý thứchội nhập cũng hiện diện trong văn học Việt Nam đương đại Đây đó, những lolắng thái quá đến từ phía các nhà quản lí văn học nghệ thuật; sự do dự ngậpngừng của một bộ phận cầm bút; những định kiến cứng nhắc về thẩm mĩ vàvăn học của cả tác giả lẫn độc giả, v.v, đã tự tước đi cơ hội của văn học dântộc Nhìn một cách tổng quát, toàn cầu hoá đã và đang ảnh hưởng mạnh mẽđến văn học Việt Nam ở cả hai mặt thuận lợi và khó khăn theo một cách thứcriêng với những đặc thù của nó

1.1.2 Sự đa dạng của những hướng tìm tòi

Có thể nói, tiên đoán của M.Bakhtin về sức sống mãnh liệt của tiểuthuyết đã được chứng thực bằng sự phát triển mạnh mẽ của tiểu thuyết ViệtNam trong hơn hai mươi lăm năm qua (1986-2012) Sự lo ngại về “số phậncủa tiểu thuyết” đã không còn Thay vào đó, tiểu thuyết thực sự đã trở thànhnhân vật chính trên sân khấu văn học hiện đại Với ưu thế của mình, một mặt,tiểu thuyết thâm nhập mạnh mẽ vào các thể loại, mặt khác, tích hợp vào nócác thể loại khác để tạo nên cấu trúc nghệ thuật đa tầng Một trong nhữngthay đổi đáng kể nhất trong nghệ thuật tự sự tiểu thuyết Việt nam thời kỳ đổimới là sự đa dạng và linh hoạt của những hướng tìm tòi

Theo Mai Hải Oanh trong công trình Những cách tân nghệ thuật trong

tiểu thuyết Việt Nam đương đại thì tiểu thuyết Việt Nam đương đại có 5

khuynh hướng nổi bật như sau: khuynh hướng tiểu thuyết theo phong cáchlịch sử, tiểu thuyết tự vấn, tiểu thuyết dòng ý thức, tiểu thuyết huyền thoại vàkhuynh hướng tiểu thuyết tự thuật

Thứ nhất là khuynh hướng tiểu thuyết theo phong cách lịch sử Hiệnđang tồn tại hai cách quan niệm về loại tiểu thuyết này Cách thứ nhất đã trởthành quan niệm truyền thống, đặt yêu cầu trung thành với chính sử làmnguyên tắc hàng đầu và như vậy đương nhiên yêu cầu tái hiện lịch sử là mục

Trang 23

đích Cách thứ hai coi lịch sử là chất liệu vay mượn của văn học, nhà văn cóquyền nhào nặn lại, biến nó thành phương tiện cho những mục đích nghệthuật khác “Điểm tới” của tác phẩm không phải là cung cấp tri thức lịch sử

mà là gây hiệu ứng thẩm mỹ từ gương mặt lịch sử mới được sáng tạo ra Ởkhuynh hướng này có các tác giả, tác phẩm nổi bật như: Hoàng Quốc Hải với

Thăng Long nổi giận, Vương triều sụp đổ, Bão táp cung đình, Huyền Trân

công chúa, Nguyễn Xuân Khánh có Hồ Quý Ly, Mẫu thượng ngàn, Võ Thị

Hảo có Giàn thiêu Nguyễn Mộng Giác có Sông Côn mùa lũ.

Thứ hai, khuynh hướng tiểu thuyết tự vấn “Đây là những tiểu thuyếtviết về những hiện thực quen thuộc, nhưng đã thay đổi cách nhìn, thậm chícòn nói ngược lại những quan điểm vẫn tồn tại lâu dài trong đời sống trướcđây” [45, 67] Các tác giả, tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng này là: Lê

Lựu với Thời xa vắng, Nguyễn Khắc Trường với Mảnh đất lắm người nhiều

ma, Ma Văn Kháng với Mùa lá rụng trong vườn, Dương Hướng với Bến không chồng, Đào Thắng có Dòng sông mía và Tô Hoài có Ba người khác.

Thái độ tự vấn và tinh thần nhận thức lại lịch sử chính là những dấu hiệu củaquá trình đổi mới, sáng tạo và tinh thần dân chủ của một nền văn học

Khuynh hướng thứ ba thể hiện sự đa dạng của những hướng tìm tòichính là tiểu thuyết dòng ý thức Nguyên tắc xuyên suốt và chủ đạo của xuhướng tiểu thuyết này là việc khai thác chiều sâu tâm trạng, đời sống tâm linh.Các tác giả vận dụng kỹ thuật dòng ý thức, ngôn ngữ của loại tiểu thuyết nàythường giàu chất thơ và có sự nhòe mờ giữa hư và thực Không thời gian củatiểu thuyết thường không xác định, chập chờn, cuộc sống chủ yếu hiện lêntheo “dòng ý thức” của nhân vật Hiện thực cuộc sống được hiện hình trongnhững giấc mơ Chúng ta có thể tìm thấy những đặc điểm này trong cá tiểu

thuyết: Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Người sông Mê của Châu Diên,

và Trí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương…

Trang 24

Thứ tư, đó là xu hướng tiểu thuyết huyền thoại Từ điển văn học đã

viết: “Hiện nay, huyền thoại được hiểu theo nghĩa rộng; là huyền thoại cónhững ý nghĩa sâu thẳm, vĩnh cửu và toàn nhân loại, thường dưới dạng biểutượng và có chức năng biểu đạt thân phận con người” [31, 669] Theo đóhuyền thoại bao giờ cũng có sự pha trộn giữa cái thực và cái ảo, cái hoangđường Các nhà văn đương đại sử dụng rất nhiều yếu tố huyền thoại trong tiểuthuyết của mình Việc sử dụng yếu tố này làm cho thế giới hiện ra nhiềuchiều, nhiều tuyến, nhiều tầng, tạo nên sự lạ hóa và mang đến cho tiểu thuyết

sức mê hoặc Thiên sứ của Phạm Thị Hoài, Người Sông Mê của Châu Diên,

Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo, Thiên thần sám hối của Tạ Duy Anh, Thoạt kỳ thủy của

Nguyễn Bình Phương hay Ngày hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính… là

những tác phẩm tiêu biểu cho khuynh hướng tiểu thuyết này Chính khuynhhướng này đã để lại ấn tượng sâu đậm trên con đường đi tìm cái mới của thểloại tiểu thuyết

Khuynh hướng cuối cùng theo như Mai Hải Oanh định danh trong cuốn

Những cách tân nghệ thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại là khuynh

hướng tiểu thuyết tự thuật Đây là một xu hướng tiểu thuyết tiêu biểu trongdòng văn học Việt Nam đương đại theo như Mai Hải Oanh thì “Nó gần giốngvới tự truyện, nhưng tiểu thuyết tự thuật mặc dù dựa vào những biến cố trongcuộc đời nhà văn nhưng nhất thiết phải mang tính hư cấu Mục đích của tiểuthuyết tự thuật không phải là để tô vẽ cá nhân hay thanh minh một vấn đề màthông qua những trải nghiệm cá nhân để thể hiện những suy ngẫm về các giátrị” [45, 85] Ở khuynh hướng này có những tác giả, tác phẩm tiêu biểu:

Thượng đế thì cười của Nguyễn Khải, Ba người khác của Tô Hoài, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn, Chuyện của thiên tài của Nguyễn Thế Hoàng Linh, Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân…

Trang 25

Như vậy, có thể khẳng định rằng tiểu thuyết đương đại Việt Nam rất đadạng về những hướng tìm tòi, sáng tạo Đó là một trong những đóng góp quantrọng của các nhà văn đối với sự phát triển của văn học dân tộc trong suốt gần

ba mươi năm qua

1.1.3 Những thành tựu đã được ghi nhận và những vấn nạn

Về những thành tựu, nhìn một cách khái quát thì từ thời điểm cao tràoĐổi mới (1986) đến nay, tiểu thuyết nở rộ, đội ngũ người viết ngày càng đông

đúc, số lượng tác phẩm dồi dào, nhiều cuốn làm xôn xao dư luận: Thời xa

vắng của Lê Lựu, Bên kia bờ ảo vọng của Dương Thu Hương, Thiên sứ của

Phạm Thị Hoài, Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ, Côi

cút giữa cảnh đời của Ma Văn Kháng, Mảnh đất tình yêu của Nguyễn Minh

Châu, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Bến không chồng của Dương Hướng,

Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Lời nguyền hai trăm năm của Khôi Vũ, Miền hoang tưởng của Đào Nguyễn, Ngoại tình, Nền móng của Nguyễn Mạnh Tuấn, Nước mắt đỏ của Trần Huy Quang, Người và xe chạy dưới ánh trăng của Hồ

Anh Thái, Những người ở khác cung đường của Hoàng Minh Tường, Không

phải trò đùa, Góc tăm tối cuối cùng của Khuất Quang Thuỵ, Nhữngmảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập, Hồ Quý Ly của Nguyễn Xuân Khánh, Cơ

hội của Chúa của Nguyễn Việt Hà,…

Đặc biệt người đọc được chứng kiến sự nở rộ của những cây bút luôn ýthức về sự đổi mới trong sáng tạo, sẵn sàng thể nghiệm, cách tân, chấp nhận

mạo hiểm Người đọc đã dần quen và nhớ tên hàng loạt tiểu thuyết: Vào cõi,

Những đứa trẻ chết già, Người đi vắng, Trí nhớ suy tàn, Thoạt kỳ thuỷ và Ngồi của Nguyễn Bình Phương, Người đàn bà trên đảo, Trong sương hồng hiện ra, Cõi người rung chuông tận thế, Mười lẻ một đêm của Hồ Anh Thái,

Cơ hội của Chúa, Khải huyền muộn của Nguyễn Việt Hà, Đi tìm nhân vật,

Trang 26

Ngày hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính, Thiên thần sám hối của Tạ Duy

Anh, Giàn thiêu của Võ Thị Hảo,

Trong bối cảnh giao lưu và hội nhập văn hoá quốc tế, nhiều sáng tác

của các cây bút hải ngoại đã được giới thiệu với bạn đọc trong nước: Sông

Côn mùa lũ của Nguyễn Mộng Giác, Phố Tàu, Paris 11 tháng 8 của Thuận, Tìm trong nỗi nhớ, Trên đỉnh dốc của Lê Ngọc Mai, Gió từ thời khuất mặt

của Lê Minh Hà Sự trở về Việt Nam bằng tác phẩm của các cây bút sống ởnhững quốc gia khác nhau tại đã góp phần làm cho diện mạo tiểu thuyếtphong phú và đa dạng hơn, đồng thời làm tiếng nói về cuộc đời và con ngườitrong tiểu thuyết cũng giàu sắc điệu và đa nghĩa hơn

Nhìn vào các phương diện nghệ thuật thì tiểu thuyết từ 1986 đến nay đạtđược nhiều thành tựu trong hành trình đổi mới thể hiện qua những mặt sau:

Trước hết là việc nhiều tác phẩm đã đổi mới trong cách nhìn nhận vềhiện thực xã hội Với xu hướng nhìn thẳng vào sự thật, các nhà tiểu thuyết đãdấn thân vào hiện thực ở thời hiện tại, đang hình thành, chưa ổn định Trongtác phẩm của họ ý thức “lột trần mặt nhau, lột trần mặt mình, lột trần mặt đời”

và cao hơn là “bóc trần thế giới”, đồng thời với ý thức hướng tới “chất lượngcuộc sống”, sống sao cho đúng với cuộc sống của con người đã thẩm thấu các

tầng ngữ nghĩa, mang đậm tính nhân văn: Thời xa vắng, Hai nhà của Lê Lựu,

Đám cưới không có giấy giá thú, Ngược dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Một cõi nhân gian bé tý của Nguyễn Khải, Đi về nơi hoang dã của Nhật Tuấn, Những mảnh đời đen trắng của Nguyễn Quang Lập, Một thời hoa mẫu đơn, Ngoài khơi miền đất hứa của Nguyễn Quang Thân, Thiên sứ của Phạm Thị

Hoài, Trả giá, Sóng lừng, Chim én bay Nguyễn Trí Huân, Nỗi buồn chiến

tranh của Bảo Ninh, Bến không chồng của Dương Hướng, Mảnh đất lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Ăn mày dĩ vãng, Phố, Cuộc đời dài lắm của Chu Lai, Ngày hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính, Một ngày và

Trang 27

một đời, Cơn giông của Lê Văn Thảo, Lạc rừng của Trung Trung Đỉnh, Cuốn gia phả để lại của Đoàn Lê, Thuỷ hoả đạo tặc của Hoàng Minh Tường, Trùng

tu của Thái Bá Lợi, Luật đời và cha con của Nguyễn Bắc Sơn, Cánh đồng lưu lạc của Hoàng Đình Quang, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân Trong số đó Đi

về nơi hoang dã, Ngoài khơi miền đất hứa, Sóng lừng, Cơn giông, Luật đời

và cha con đã từng được đương thời và hôm nay nhận định là những tác phẩm

mang tính “dự báo của lương tri” trước một xã hội hiện đại còn nhiều bất an

và khiếm khuyết

Từ sự thay đổi quan niệm và cách tiếp cận hiện thực, văn học sau 1986

xuất hiện khuynh hướng nhận thức lại Trước nhu cầu bức thiết của đời sống

yêu cầu nhìn thẳng vào sự thật, nhiều tác phẩm đã dũng cảm phơi bày nhữngmặt trái còn bị che khuất, lên án những định kiến lỗi thời đã trở thành vật cản

trên bước đường phát triển của xã hội Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu

được coi là tác phẩm chính thức khơi dòng cho khuynh hướng này Nhận thứclại mà trước hết là về chiến tranh, là nhu cầu bức thiết của đời sống, được cácnhà văn hết sức quan tâm Chiến tranh được nhìn từ những tác động ghê gớmcủa nó đến số phận con người, là nguyên nhân gây nên những bi kịch thời hậuchiến, vết thương chiến tranh để lại không một thứ hào quang phù phiếm nào

có thể làm lành, ngược lại, trước những biến động nghiệt ngã của đời sống, nólại nhức nhối hơn bao giờ hết Những tiểu thuyết của Nguyễn Minh Châu với

Mùa trái cóc ở miền Nam, Cỏ lau, Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh,

Dương Hướng với Bến không chồng, Hồ Anh Thái với Người đàn bà trên

đảo, Người và xe chạy dưới ánh trăng, v.v, đã đem đến một cái nhìn khác

trước về cuộc chiến tranh của dân tộc Ở những tác phẩm kể trên, không cònnhững trang viết hào hùng, không còn giọng điệu ngợi ca, thay vào đó lànhững nỗi đau, những mất mát, những bi kịch và bất hạnh mà con người đangphải chịu đựng và đối mặt hàng ngày

Trang 28

Thành tựu tiếp theo là tiểu thuyết sau 1986 đã thể hiện cách nhìn mới

về con người Con người xuất hiện trong hàng loạt các tiểu thuyết là conngười trần thế với tất cả chất người tự nhiên của nó: ánh sáng và bóng tối, cao

cả và thấp hèn, ý thức và vô thức Thế giới bên trong đầy bí ẩn và phức tạpcủa con người chịu sự chi phối của hai lực lượng vừa đối lập vừa hoà đồng,vừa chối bỏ lại vừa chung sống với nhau, bởi: “Con người không bao giờtrùng khít với chính nó” (Bakhtin) Con người gục ngã hay đứng dậy cũngchính từ trạng thái lưỡng hoá trong tính cách Con người được nhình nhận vớitất cả các mối quan hệ, các cách ứng xử Số phận con người trở thành mốiquan tâm hàng đầu của nhà văn thể hiện cái nhìn dân chủ đối với sự phức tạpcủa tính người Nhiều cuốn tiểu thuyết đã hướng tới miêu tả số phận nhữngcon người bình thường với những bi kịch của đời họ Bi kịch giữa khát vọng

và thực trạng, giữa cái muốn vươn lên và cái kìm hãm, giữa thanh lọc và thahoá, giữa nhân bản và phi nhân bản Trong giai đoạn này vấn đề con người cánhân, cá thể được đặt ra một cách bức xúc, mạnh mẽ trong cảm hứng sáng tạocủa nhà văn Song con người cá thể trong văn học hiện nay không phải là conngười của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, phủ nhận mọi nền tảng đạođức đã được thiết lập, không chịu sự tác động của xã hội Mà ở đây số phận

cá nhân được giải quyết thoả đáng trong mối liên hệ mật thiết với cộng đồng,

xã hội Đằng sau mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời

đại, có sự giao nhịp phức điệu giữa con người cá thể và nhân loại: Cõi người

rung chuông tận thế, Trong sương hồng hiện ra của Hồ Anh Thái, Phố Tầu, Paris 11 tháng 8 của Thuận, Thoạt kỳ thuỷ của Nguyễn Bình Phương, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh

Các tác giả tiểu thuyết đã nhìn nhận con người như một cá thể bìnhthường trong những môi trường đời sống bình thường Nhân vật trong tiểuthuyết là những con người với trăm ngàn mảnh đời khác nhau “đầy những vết

Trang 29

dập xoá trên thân thể trong tâm hồn”: Cơn giông của Lê Văn Thảo, Cánh

đồng lưu lạc của Hoàng Đình Quang, Tấm ván phóng dao của Mạc Can, Dòng sông mía của Đào Thắng

Tiểu thuyết Việt Nam từ sau đổi mới không chỉ đi sâu vào thân phậncon người mà còn đề cập tới khát vọng sống, về hạnh phúc cá nhân, về tìnhyêu đôi lứa Các tác giả đã khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu củahạnh phúc đời thường, của cuộc sống riêng tư Khi con người trở về với cuộcsống đời thường, trong hàng loạt tác phẩm của Lê Lựu, Ma Văn Kháng, ChuLai, Nguyễn Khắc Trường, Dạ Ngân, Nguyễn Bắc Sơn, Dương Hướng đãthể hiện được sự gắn bó giữa sự nghiệp chung với hạnh phúc riêng, giữa conngười cá nhân và con người xã hội

Để thể hiện rõ con người tự nhiên đời thương, tiểu thuyết đã khôngngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục thể là một lĩnh vực rất riêng tưcủa mỗi cá nhân Miêu tả những con người tự nhiên, khai thác yếu tố tích cực

của con người tự nhiên cũng là một khía cạnh nhân bản của văn học: Ngược

dòng nước lũ của Ma Văn Kháng, Người đi vắng, Ngồi của Nguyễn Bình

Phương, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai,

Ngày hoàng đạo của Nguyễn Đình Chính, Hai nhà của Lê Lựu, Gia đình bé mọn của Dạ Ngân, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh

Đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người dẫn đến sự biến đổi về hệthống nhân vật được xem là nhân tố then chốt quyết định sự đổi mới của tiểuthuyết sau 1986 Văn học sau 1986 có sự thay đổi hệ hình tư duy từ sử thisang tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm hứng thế sự đời tư.Trong bối cảnh đó, tiểu thuyết đã phát huy được khả năng tiếp cận, nắm bắt,phản ánh tinh nhạy và sắc bén tình hình của đời sống Số phận con người trởthành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn Nhiều tiểu thuyết hướng đến miêu

tả số phận những con người bình thường với những bi kịch giữa khát vọng và

Trang 30

thực tại, giữa nhân bản và phi nhân bản Vấn đề con người cá thể được đặt ramột cách riết róng, mạnh mẽ với nhu cầu được giải quyết thoả đáng mối quan

hệ cá nhân - cộng đồng, từ lâu vốn bị cái nhìn giới hạn bởi những quan niệmgiai cấp cứng nhắc Các tác giả tiểu thuyết Việt Nam đã nhìn nhận con ngườinhư một cá thể bình thường trong những mối quan hệ bình thường của đời tư

Ở đó, nhân vật hiện lên với đầy đủ những tốt xấu, vui buồn, hạnh phúc, khổđau, sung sướng hay bất hạnh Các nhà văn đã thể hiện khá thành công bi kịch

cá nhân của con người thời hậu chiến qua các nhân vật như Giang Minh Sài

trong Thời xa vắng, Vạn, Hạnh trong Bến không chồng, Kiên trong Nỗi buồn

chiến tranh, Khiêm trong Ngược dòng nước lũ, Hùng trong Ăn mày dĩ vãng,

v.v Tiểu thuyết thời kì này cũng chứng kiến sự bứt phá đáng chú ý khi cáctác giả không ngần ngại miêu tả chất sắc dục, tình yêu nhục thể Tình dục vốn

là một lãnh địa gần như bị cấm kỵ trong văn học trước đó thì nay được nóiđến một cách tự nhiên, mạnh mẽ trong sáng tác của Phạm Thị Hoài, Ma VănKháng, Nguyễn Bình Phương, Thuận, Nguyễn Đình Chính…

Một thành tựu đáng kể nữa đó là các nhà tiểu thuyết từ sau đổi mới đã

có ý thức đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá chiều sâu tâm linh nhằmnhận diện hình ảnh con người đích thực Sự xuất hiện con người tâm linh biểuhiện sự đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn học Tiểuthuyết bắt đầu tiếp cận với thế giới đằng sau thế giới hiện thực, đó là thế giớitâm linh, vô thức, tiềm thức, giấc mơ Các nhà văn đã cố gắng thoát ra khỏikiểu “phản ánh hiện thực” được hiểu một cách thông tục của tiểu thuyết trướcđây Với quan niệm nghệ thuật mới, họ đã có ý thức thay đổi hình thức biểuđạt Ngòi bút nhà văn khơi sâu vào cõi tâm linh, vô thức của con người, khai

thác “con người ở bên trong con người” Chim én bay của Nguyễn Trí Huân,

Góc tăm tối cuối cùng của Khuất Quang Thụy, Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai, Người đi vắng của Nguyễn Bình Phương, Ngược dòng nước lũ của Ma Văn

Kháng, Cõi người rung chuông tận thế của Hồ Anh Thái, Thiên sứ của Phạm

Trang 31

Thị Hoài, Mẫu thượng ngàn của Nguyễn Xuân Khánh và Ngày hoàng đạo của

Nguyễn Đình Chính

Thành tựu không thể không nhắc tới khi nói về những thành tựu của tiểuthuyết Việt Nam sau 1986 là những đổi mới về ngôn ngữ Có thể khẳng địnhđổi mới về ngôn ngữ là dấu hiệu đặc trưng của văn học thời đổi mới Ngôn ngữtiểu thuyết là thứ ngôn ngữ gần gũi ở mức tối đa với đời sống, mang các đặctrưng thể loại như: tính văn xuôi, tính đa thanh, tính tổng hợp, tính dân dã đờithường Tư duy tiểu thuyết thay thế tư duy sử thi, khoảng cách trần thuật cũngthay đổi, ngôn ngữ tiểu thuyết cũng biến đổi theo chiều hướng đó Tiếp cận đờisống ở một khoảng cách gần gũi, với thái độ thân mật, suồng sã, lời văn tiểuthuyết thay đổi từ thứ ngôn ngữ chuẩn mực, trang trọng chuyển sang ngôn ngữđời thường, thông tục, đậm tính khẩu ngữ Các tác giả đã tạo lập được lời vănmới cho tiểu thuyết: đầy tính đối thoại, tự do, thậm chí là có xu hướng cách tânbằng việt phá bỏ các chuẩn quy tắc tiếng Việt như không thanh điệu, pha trộncác phụ âm, không dấu câu, phối chen từ nước ngoài

Ngoài ra, sự xuất hiện trở lại của tiếng cười và đặc biệt là giọng giễunhại đã mang đến cho tiểu thuyết nói riêng và văn học thời đổi mới một diệnmạo phong phú hơn, gần gũi hơn, bớt đi tính trang nghiêm vốn đã quá nhàmchán Có thể nói, suốt một thời gian dài văn học Việt Nam không được cười,hay nói đúng hơn là quên mất tiếng cười, những gì người ta được thấy là một

bộ mặt trang nghiêm, quy cách nhiều khi thái quá Sự trở lại của yếu tố hàitrong văn học, nhất là trong tiểu thuyết từ sau hiện tượng Vũ Trọng Phụng,như một chất xúc tác làm mới bộ mặt văn chương Việt Với chất giọng giễunhại đặc sắc và sự cách tân khá quyết liệt trên các mặt như cách tiếp cận đờisống, kĩ thuật viết, những sáng tác của Phạm Thị Hoài, Nguyễn Khải, Hồ AnhThái, Châu Diên, Bùi Hoằng Vị, Nguyễn Viện, Thuận, v.v… vì thế đã gópphần không nhỏ cho một diện mạo mới của tiểu thuyết sau 1986

Trang 32

Bước vào một thời đại mới, “thời đại của thế giới phẳng” với những quyluật khắt khe, tiểu thuyết đương đại Việt Nam cũng đứng trước nhiều vấn nạn.

Vấn nạn thứ nhất, thực chất sau gần ba mươi năm đổi mới, mặc dù có

số lượng tiểu thuyết rất lớn, nhiều hướng tìm tòi, sáng tạo, nhiều tiểu thuyếtđạt được nhiều giải thưởng… nhưng để có được một tiểu thuyết xuất sắc, đểlại tiếng vang cho mọi thời đại, sánh tầm văn học thế giới là không có HồThế Hà nhận xét: “Lấy mốc từ năm 2000 trở lại nay, trên văn đàn nước ta vẫnchưa có nhiều tác phẩm nổi đình nổi đám và neo được sâu đậm trong lòng độcgiả Trái lại, có sự phân hóa rất sâu sắc trong đời sống văn chương nước nhà

Và đặc biệt là chúng chưa tạo ra được một thời đại văn học mới như họ từngnghĩ và lạc quan, chưa kể, có người tự ngộ nhận” [35] Thực sự văn họcđương đại chưa có nhiều những tác phẩm lớn có giá trị như mong ước củamọi người, chưa tạo ra được phong trào và chưa tạo ra sự thống nhất vềkhuynh hướng sáng tác để tạo ra hệ thi pháp tiêu biểu cho cả một thời kỳ vàgiai đoạn Còn Nguyễn Hòa thì cho rằng: “Lâu nay, dường như các tiểuthuyết gia ở Việt Nam vẫn chưa vươn tới một tầm vóc tư tưởng có khả năngbao quát, thấu triệt và trừu xuất về không gian - thời gian lịch sử rộng lớntrong tương quan với số phận con người, mà tạm bằng lòng với việc sáng tạo

“những hiện tượng tiểu thuyết” cho từng giai đoạn văn học” [32] Hàng chụcnăm qua, tiểu thuyết Việt Nam loay hoay trong nỗ lực vượt qua các thành tựu

đã có mà xem chừng chưa vượt nổi

Điều đáng nói khác là trong tiểu thuyết hôm nay, nhiều nhà văn, đặcbiệt là những nhà văn trẻ thể hiện những cách tân cực đoan, những thăm dò vàthể nghiệm vô tăm tích, thể hiện sự non kém do học đòi và tiếp thu nướcngoài một cách sống sượng, thiếu chọn lọc Ngôn từ trong một số tác phẩm

“gợi dục” nhiều hơn là gợi cảm hứng thẩm mỹ Nói về điều này, ý kiến củamột nhà văn nữ sau đây là rất đáng chú ý: “Trong xu thế xã hội đang thả sức

Trang 33

chạy theo những cái gọi là đột phá, đổi mới, mà phần lớn theo kiêu bản nănghóa trên nhiều lĩnh vực, mà giới văn thơ bộc lộ rõ nhất Người ta đang mặcsức tung hô những thứ ngôn ngữ phô phang và hạ đẳng, và phong cho đó một

từ “dám” Đó là “dám lột”, ai lột trần ra nhiều nhất và táo bạo nhất thì đượccoi như một anh hùng cách tân, nhất là phái nữ, không ít trong số đó điểmtrúng cái gọi là “thị dục” mà bối cảnh xã hội Đông phương lâu nay bị áp chế.Nào có phải người xưa không biểu hiện được những vấn đề của một phầncuộc sống ấy đâu, nhưng người ta đủ tinh tế, đủ tầm để chọn lọc ngôn ngữvừa đủ để nói đến điều người ta muốn nói, mà vẫn đủ tầm giá trị văn hóa mộtcách lịch sự Còn bây giờ, những thứ từ ngữ hạ cấp nhất, phản cảm nhất đềuđược tung ra một cách sống sượng nhất, và được một thành phần cổ vũ đến

mê muội Và cái thành phần được cổ vũ ấy, lại vênh vểnh với thứ hào quangbọt sóng, rồi tha hồ ngông ngạo một cách điên rồi, là bởi, họ đang bị mấtphương hướng, mất kiểm soát, mà bị rơi vào cái võng “đổi mới” Sự đổi mớiđương nhiên là rất cần, rất nên ủng hộ, nhưng với điều kiện sự đổi mới ấy làmcho con người ngày càng “người” hơn, chứ không phải khiến cho bao nhiêunăm tiến hóa, để bây giờ đang tụt dần xuống phần con như vậy" [62]

1.2 Con đường tiểu thuyết của Nguyễn Đình Chính

1.2.1 Vài nét tiểu sử

Nguyễn Đình Chính sinh ngày 28.10.1946 tại số nhà 14 Nguyễn TháiHọc (nhà bác sĩ Chính), Hà Nội Ông là con trai thứ hai trong số ba người concủa nhà văn Nguyễn Đình Thi (1924 - 2004) và bà Bùi Nữ Trâm Nguyệt Nga(1926 - 1951) Sau ngày toàn quốc kháng chiến (19.12.1946), Nguyễn ĐìnhChính (lúc ấy chưa tới 2 tháng tuổi) và anh trai (2 tuổi) được mẹ bồng đi ditản lên Việt Bắc Năm 1951, bà Nguyệt Nga mất vì trọng bệnh tại khu di tản,Nguyễn Đình Chính sống với bà ngoại Năm 1955, Nguyễn Đình Chính về

Hà Nội và học hết phổ thông Năm 1965, đi bộ đội Năm 1976, xuất ngũ,

Trang 34

thương binh 2/4 Nguyễn Đình Chính từng công tác nhiều năm trong các lĩnhvực điện ảnh, sân khấu và báo chí Hiện ông sống ở Hà Nội.

1.2.2 Những sáng tác đầu tay

Nguyễn Đình Chính bắt đầu sáng tác từ năm 1976, mặc dù một, hai

năm ông đã cho ra đời một cuốn sách hay Xưởng máy nhỏ của tôi (1976) (tiểu thuyết đầu tay), Nhớ để mà quên (tiểu thuyết, viết năm 1981 nhưng đến 1998 mới được in, đã được dịch ra tiếng Pháp), Phù du cánh mỏng (tiểu thuyết, 1986), hay Đá xanh ở thung lũng cháy, Sương mù ký ức… với lối văn suy

tưởng nhẹ nhàng đẹp như văn Saint Exupéry, cũng từng là tác giả kịch bản

của những bộ phim truyện khá hay như Rừng lạnh, Hồi chuông màu da cam,

Bãi biển đời người, kịch bản sân khấu Duyên nợ trần gian (giải thưởng Liên

hoan sân khấu ở Hàn Quốc 2002) và khoảng 15 vở kịch khác, trong đó 5 vở

đã được dựng và diễn trên các sân khấu Hà Nội nhưng tên tuổi Nguyễn

Đình Chính vẫn bị chìm đi dưới cái tên của người bố - Nguyễn Đình Thi

Ngay cả tác giả cũng đã từng thừa nhận: “Trước đây đều đặn in, một,hai năm một tiểu thuyết Nhưng quả thật mình không hài lòng, không thoảmãn và luôn cảm thấy đuối, chờn vờn, chờn vờn không thể đuổi bắt được hiệnthực Đuối vì các tác phẩm hiện thực đó còn hạn chế Không đi đến tận cùng

vì chính bản thân ngời viết còn đầy do dự và nhút nhát Và cái kiểu viết

"truyền kỳ quái đản" đã đến với mình” [42]

1.2.3 Thời kỳ quyết tâm đổi mới và các hệ lụy

Khát khao sáng tạo là điều không của riêng nhà văn nào, nhưng đối vớiNguyễn Đình Chính thì điều đó rất quan trọng và có thể nói là cần thiết hơntất cả Bởi ông không chỉ là nhà văn luôn có khát vọng tìm tòi, đổi mới màcòn là người có một ông bố có thể nói là cây đại thụ của nền văn học truyềnthống Nếu không sáng tạo, không đổi mới thì Nguyễn Đình Chính chỉ là cáibóng mờ mờ đằng sau của bố mình Vượt qua cái bóng của bố mình cũng có

Trang 35

nghĩa là Nguyễn Đình Chính vượt qua được quan niệm nghệ thuật, cùngphương pháp sáng tác truyền thống để làm mới mình, khẳng định vị thế của

mình trong nền văn học đương đại Xuất phát từ sự thúc bách đó mà sau Phù

du cách mỏng (1986) Nguyễn Đình Chính đã cho ra đời bộ tiểu thuyết dài gần

ngàn trang Đêm thánh nhân Tiểu thuyết được viết thời gian 1990-1992, in

tập I năm 1998, dự định sẽ in tập II vào năm 2000, nhưng không được cấpgiấy phép Tháng 10.2006, Nxb Văn Học in trọn vẹn cả hai tập dưới tựa đề

mới là Ngày hoàng đạo

Tiểu thuyết là câu chuyện dài về bác sĩ Trương Vĩnh Cần, một bác sĩ bị

kỷ luật cấm hành nghề, chỉ được trông coi nhà xác ở một bệnh viện Bị liệtdương từ năm 45 tuổi, nhưng 4 năm sau đó, bác sĩ Cần bị kết tội hủ hóa vớimột nữ bệnh nhân vị thành niên người Tày có tên Ma Thị Thảo Vụ tai tiếngnày đã khiến ông bị kỷ luật khai trừ Đảng, cách chức và ra khỏi biên chế Nhànước Vợ ông, bà Ngót, cũng vì thế mà bỏ đi khiến bác sĩ Cần rơi vào trạngthái tâm thần, bỏ nhà lang thang đến tận một trại cùi ở Tây Nguyên Nhữngngày lang thang ấy đã đưa ông gặp nhiều nhân vật thật kỳ lạ, đem đến chocuộc đời ông những phút giây kỳ lạ, có thật mà như hư ảo

Ngay khi mới ra đời, cuốn tiểu thuyết đã làm làm rung động văn đàn,trở thành cuốn sách bán chạy nhất thời kỳ bấy giờ Cuốn tiểu thuyết được dưluận chú ý, trong đó đáng chú ý nhất có nhiều độc giả là lớp cha anh ÔngĐinh Nho Liêm, nguyên Thứ trưởng Bộ Ngoại giao nhận xét: “Đọc xong

Đêm thánh nhân có một cảm giác không bình thường, lạ lắm, thấy như đất

chuyển dưới chân” [42] Còn nhà văn Trần Kim Thành bảo Chính: “Tôi đọc

hai lần Đêm thánh nhân, thấy ông lên đồng suốt cả nghìn trang, kinh quá!”

[42] Cuốn tiểu thuyết là cú lên đồng hoành tráng của Nguyễn Đình Chính đểnhập vào hồn vía của những kiếp người dưới đáy “Khiến nhà văn NguyễnĐình Thi sau cơn sốc ban đầu thấy con mình đang phá hỏng ngôn ngữ, đã

Trang 36

phải thừa nhận: “Về tiểu thuyết Chính đi xa hơn bố nhiều lắm! Văn Chính nóngồn ngộn chất liệu cuộc đời” [42] Từ đó, có thể nói Nguyễn Đình Chính đã

tự giải phóng mình khỏi cái bóng của người cha để bước song hành bên ôngnhư một nhà văn độc lập có bản lĩnh riêng và bút pháp riêng

Chưa dừng lại ở đó, Năm 2010 Nguyễn Đình Chính còn cho ra đời

cuốn tiểu thuyết Online… ba lô Cuốn tiểu thuyết mà ông gọi là tiểu thuyết

hậu hiện đại, được viết theo lối “văng mạng” Cuốn tiểu thuyết như một hoàiniệm của nhân vật tên Zê, nhớ về các mối tình trong hiện tại và quá khứ, đụng

độ giữa lãng mạn và hiện thực, của tuổi già và tuổi trẻ, của non tơ và … “cáogià” Cuộc sống cứ tiếp diễn, và những gì trong nội tâm nhân vật Zê đượcquán chiếu từ chính những người con gái đi qua đời Zê; từ người bạn thươngbinh của Zê với khao khát được sống, được yêu, được làm chồng, làm đàn

ông; từ cuốn tiểu thuyết Hồi ức về những cô gái điếm buồn của tôi (Gabriel

Garcia Marquez) Giọng điệu tưng tửng, đôi khi nhấm nhẳng bất cẩn, lúc

“trơ” lì nhưng khó giấu nổi sự yếu đuối và khao khát sống của một lớp người.Cuốn tiểu thuyết được tác giả nhận xét là: “Về kỹ thuật và hình thức cấu trúc,

văn phong của Online ba lô không tuân thủ theo một khuôn mẫu bất biến.

Nó chưa định hình Nó còn đang ở dạng bào thai Có thể nó sẽ là một đứa trẻ

xinh xắn nhưng cũng có thể là quái thai Về nội dung, Online ba lô đang cố

gắng dò tìm những đại giá trị mới Có thể những đại giá trị này không có hoặc

có mà chưa có tên gọi Đó là những yếu tố hậu hiện đại ” [58] Mặc dù chưagây được tiếng vang lớn nhưng thực sự cuốn tiểu thuyết đã thể hiện một khátkhao tìm tòi, đổi mới theo lối viết hậu hiện đại

Trong thời gian tới, tác giả dự kiến sẽ xuất bản tiểu thuyết Ảo giác.

Trang 37

Chương 2 NHỮNG ĐỔI MỚI TRONG CÁI NHÌN VỀ CON NGƯỜI

VÀ NGHỆ THUẬT TỔ CHỨC CỐT TRUYỆN,

XÂY DỰNG NHÂN VẬT

2.1 Đổi mới cái nhìn về con người

2.1.1 Những giới hạn của tiểu thuyết trước đây trong cái nhìn về con người

Khi nói đến quan niệm về con người chúng ta nói đến con người trong

ba mối quan hệ: quan hệ với xã hội, quan hệ với tự nhiên và quan hệ vớichính mình Tương ứng với quan hệ này là con người xã hội, con người tựnhiên và con người tâm linh

M.Gorki từng khẳng định “Văn học là nhân học”, vì thế sự thay đổiquan niệm nghệ thuật bao giờ cũng gắn với sự thay đổi về cách nhìn nhận conngười Cho dù viết về vấn đề gì, dù tuyên bố tác giả đã chết hay nhân vật đãchết thì rốt cuộc văn học vẫn là câu chuyện về con người

Điều này được thể hiện rõ qua các chặng đường văn học Trong vănhọc cách mạng Việt Nam từ 1945 - 1975, quan niệm về con người của nhàvăn bị quy định chặt chẽ bởi cái nhìn chung của cộng đồng Nhà văn muốnthông qua con người để biểu thị hiện lịch sử, con người trở thành phương tiện

để khám phá lịch sử, cho nên hạn chế trong quan niệm về con người tronggiai đoạn văn học này là nhân vật trong tiểu thuyết nặng về cái chung, nhẹ vềcái riêng Chính điều này đã khiến cho hệ thống nhân vật trong tiểu thuyết

1945 - 1975 mang tính phân tuyến: ta đại diện cho cái thiện, chính nghĩa; địchtiêu biểu cho cái ác, phi nghĩa Để ngợi ca vẻ đẹp của chính nghĩa, của lòngyêu nước, các nhà văn đã dựng nên những nhân vật mang màu sắc lí tưởng,

tiêu biểu cho vẻ đẹp cộng đồng, ví dụ như Lữ trong Dấu chân người lính của

Trang 38

Nguyễn Minh Châu, Chị Sứ trong Hòn Đất của Anh Đức…) Chính cảm hứng

lãng mạn và khuynh hướng sử thi đã chi phối nguyên tắc xây dựng nhân vậttiểu thuyết của nhà văn

Văn học 1945 - 1975 ý thức chưa đầy đủ về con người tự nhiên (bảnnăng) Các nhà văn còn e ngại viêc miêu tả đời sống bản năng vì cho rằngđiều đó phương hại đến lí tưởng Điều này làm cho tiểu thuyết giai đoạn nàykhô cứng, một chiều, mất đi một bình diện quan trọng, ít sức hấp dẫn

Về phương diện con người tâm linh, do các nhà văn sợ sa vào duy tâm,

mê tín hoặc ngại vì viết về tâm linh sẽ khó có thể tuân thủ những nguyên tắc

mỹ học của phương pháp sáng tác hiện thực xã hội chủ nghĩa cho nên nhânvật tiểu thuyết 1945 - 1975 rơi vào sơ lược công thức

2.1.2 Những điểm nhấn của Nguyễn Đình Chính trong quan niệm

về con người

Sau 1975, đặc biệt là từ sau Đổi mới 1986, con người trong tiểu thuyết

là con người đời thường, tồn tại trong hàng loạt các mối quan hệ chằng chịt,phức tạp, lắm khi oái oăm, không đoán trước được bất cứ điều gì Con ngườitrong tiểu thuyết sau Đổi mới “không bao giờ trùng khít với chính mình” (M.Bakhtin) Đó là con người không hoàn hảo, con người phàm tục có sự đan xengiữa thiên thần và ác quỉ, có ý nghĩa đối thoại với những quy phạm nghệ thuậttừng được xác lập trong quá khứ Con người trong tiểu thuyết đương đại đượcnhìn nhận đầy đủ cả ba phương diện: con người xã hội, con người tự nhiên vàcon người tâm linh

Nguyễn Đình Chính là nhà văn ý thức rất sâu sắc và nỗ lực hết mình vềviệc cách tân, tìm con đường đi riêng cho tiểu thuyết của mình Có thể nóiNguyễn Đình Chính đã vượt qua những tiếng nói hiền lành của nhiều cây bútthời hậu chiến để công phá dữ dội vào những bức thành trì bấy lâu vẫn vâyhãm con người

Trang 39

Con người xã hội trong tiểu thuyết Nguyễn Đình Chính được nhìn nhậntrong nhiều mối quan hệ khác nhau: quan hệ cộng đồng, dòng họ, quan hệ vớipháp luật Nhà văn đã đề cập những vấn đề mà văn học trước đó không dámnói như sự hủ bại của cán bộ công chức, sự tha hóa của đảng viên, thói đạođức giả hay con người tâm linh với những điều thần bí… Nguyễn Đình Chính

đi sâu vào những ngõ ngách, đẩy xa ngòi bút tìm hiểu thế giới bí hiểm củacon người để nhằm đạt tới sự tận cùng của những số phận, những cuộc đời

Tiểu thuyết Phù du cánh mỏng (1986) khi phát hành đã được dư luận

chú ý Nhưng nó đã không được tái bản bởi những điều “nhạy cảm” đượcphản ảnh trong cuốn tiểu thuyết Đặc biệt, giữa cái thời bao cấp hẹp hòi đó mànhà văn lại ca ngợi một thiếu nữ xuất thân trong gia đình ngụy quân ngụyquyền của chế độ cũ ở miền Nam và lên giọng phê phán một anh bộ đội miềnBắc, người anh hùng thời đại, một đảng viên chính cống

Khánh là một anh bộ đội đang đi kiếm việc làm đã gặp một cô gái đạidiện cho phía bên kia trên một chặng đường, họ đã yêu nhau đắm say Tìnhyêu của họ đẹp đến tuyệt vời Thu Hà đã hiến dâng cho anh tất cả những gìquý giá nhất của cuộc đời Nhưng rồi Khánh đã không thể vượt qua nhữngđịnh kiến, sợ hãi, sợ tiêu tan sự nghiệp, tiêu tan danh dự khi liên quan đến mộtngười có liên quan đến phía bên kia… Chính vì thế mà tình yêu tan vỡ, anhkhông dám nhận con, nhận vợ, nhận người tình Sự dằn vặt theo đuổi xoayquanh các nhân vật và kết cục cuộc đời anh là những chuỗi ngày dài ân hận vàđau khổ

Tiểu thuyết Đêm thánh nhân (Ngày hoàng đạo) “đạp đổ thần tượng”,

phanh phui, lật tẩy thói đạo đức giả trong đời sống xã hội Cười cợt, phỉ báng

sự mòn cũ trong tư duy, quan niệm cổ hủ về giá trị

Người đảng viên trong quan niệm xã hội (kể cả đến bây giờ) là nhữngngười tốt, sáng ngời về lí tưởng, về đạo đức, nhân cách, tác phong dường

Trang 40

hoàng… Song, đến với Ngày hoàng đạo tất cả những điều đó không còn mà

thay vào đó người đọc thấy phần nhem nhuốc, tối tăm thậm chí nhơ nhớp củanhững kẻ mang danh là đảng viên

Nhân vật bà Phạm Thị Ngót vợ của bác sĩ Trương Vĩnh Cần là cán bộcốt cán, là ủy viên thành ủy có một chân dung quê mùa, thô tục Ngoài vẻ bênngoài cơ bắp của một gã lực điền thì bà lại có những thói xấu trong sinh hoạt.Thí dụ bà Ngót có thói quen hay múc canh lên húp một nửa muôi còn thừanửa muôi lại đổ luôn vào bát canh Hoặc bà không thích rửa chân mà chỉ thíchđập đập hai gan bàn chân vào nhau trước khi leo lên giường đệm mút để ngủ.Hoặc là nếu muốn soi mói kể thêm nữa thì bà Ngót còn có cái tật rất hay quênđánh răng Và đến năm 40 tuổi thì bà nhất quyết bỏ luôn cái động tác đánhrăng vào buổi sáng thay vào đó chỉ xúc miệng xòng xọc vài cái rồi nhổ toẹt rathềm coi như là xong

Nguyễn Đình Chính còn cho người đọc thấy được con người bên trongvới những toan tính, những mưu mô, những “bài” của những kẻ làm chính trị:

“Lại nói về bà Ngót sau khi tiễn anh y sĩ cán bộ tổ chức cửa bệnh viện về rồi

bà Ngót bèn khóa trái cổng ra vào lại rồi lên phòng khách ngồi suy nghĩ Bannãy bà ung dung xởi lởi tươi cười bao nhiêu thì bây giờ bà lại nhăn nhó ưu tư

và băn khoăn bấy nhiêu Bà tự hỏi: Cái thằng Sự nó bày đặt ra cái trò này làđịnh có dụng ý gì Nó định lật đổ ông Cần à? Nhưng nó lật đổ ông Cần để làm

gì Ông Cần là cái thứ gì mà nó cần lật đổ Hay là nó định "đấu đá" bà Mượnchồng đánh vợ Nhưng mà thằng Sự là cái thá gì dám dại dột chống bà Mộtanh cán bộ tổ chức quèn ở bệnh viện tỉnh có mà phát rồ tự dưng lại chườngmặt ra công khai và ngang nhiên đấu đá với một cán bộ tỉnh ủy viên Hay là

có ai đang nấp sau thằng cha y sĩ dở người này Bà Ngót thầm điểm lại tất cảcác bạn bè và kẻ thù của bà ở cái tỉnh này Không có một ai khả dĩ có thể nêutên để bà nghi vấn Vả lại, theo kinh nghiệm của bà thì mọi sóng to gió cả chỉ

Ngày đăng: 20/12/2013, 19:05

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nhật Anh (2011), “Nhà văn Thuận: “Đã chấp nhận cầm bút là chấp nhận làm “kẻ bên lề”, http//: www.nguoivienxu.vnn.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhà văn Thuận:" “"Đã chấp nhận cầm bút là chấpnhận làm “kẻ bên lề”
Tác giả: Nhật Anh
Năm: 2011
2. Thái Phan Vàng Anh (2010), “Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại”, Tạp chí Khoa học, Đại học Huế, (60) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trần thuật trong tiểu thuyếtViệt Nam đương đại”, "Tạp chí Khoa học
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
3. Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị Hoài Thanh (sưu tầm và biên soạn, 2004), Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết, Nxb Hội Nhà văn, Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lý thuyết
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
4. M. Bakhtin (1992), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1992
5. M. Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết (Phạm Vĩnh Cư dịch và giới thiệu), Trường Viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Năm: 1992
6. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án PTS Ngữ văn, Trường ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới của văn xuôi nghệ thuật ViệtNam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
7. Nguyễn Thị Bình (2004), “Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu - một thành công đáng chú ý của văn xuôi sau 1975”, Tự sự học, 320 - 365 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới ngôn ngữ và giọng điệu - một thànhcông đáng chú ý của văn xuôi sau 1975”, "Tự sự học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2004
8. Nguyễn Thị Bình (2005), “Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyết Việt Nam gần đây”, Nghiên cứu văn học, (11), 61- 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về một hướng thử nghiệm của tiểu thuyếtViệt Nam gần đây”, "Nghiên cứu văn học
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2005
9. Nam Cao (1946), Chí Phèo, Nxb Hội Văn hóa cứu quốc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chí Phèo
Tác giả: Nam Cao
Nhà XB: Nxb Hội Văn hóa cứu quốc
Năm: 1946
10. Hoàng Hữu Các (2009), “Trò chuyện với Đêm thánh nhân”, Ngày hoàng đạo, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chuyện với "Đêm thánh nhân"”, "Ngàyhoàng đạo
Tác giả: Hoàng Hữu Các
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2009
11. Nguyễn Đình Chính (2006), Ngày hoàng đạo, tập 1, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày hoàng đạo
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
12. Nguyễn Đình Chính (2006), Ngày hoàng đạo, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngày hoàng đạo
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2006
13. Nguyễn Đình Chính (2008), Đêm thánh nhân, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đêm thánh nhân
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2008
14. Nguyễn Đình Chính (2009), Phù du cánh mỏng, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phù du cánh mỏng
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2009
15. Nguyễn Đình Chính (2010), Online… ba lô, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Online… ba lô
Tác giả: Nguyễn Đình Chính
Nhà XB: Nxb Hội Nhà văn
Năm: 2010
16. Nguyễn Đình Chính (2011) "Khuôn mẫu cũ về tình yêu đã chật", http://www.xaluan.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khuôn mẫu cũ về tình yêu đã chật
17. Lê Chí Dũng (2005), “Cảm ơn ông Hoàng Ngọc Tuấn đã không dùng lối mimesis trong khi đáp lại bài viết của tôi”, http//: www.talawas.org Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm ơn ông Hoàng Ngọc Tuấn đã không dùnglối mimesis trong khi đáp lại bài viết của tôi”
Tác giả: Lê Chí Dũng
Năm: 2005
18. Nguyễn Đăng Điệp (2002), Giọng điệu trong thơ trữ tình, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giọng điệu trong thơ trữ tình
Tác giả: Nguyễn Đăng Điệp
Nhà XB: NXB Vănhọc
Năm: 2002
19. Hà Minh Đức (chủ biên, 1996), Lý luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Nhà XB: Nxb Giáo dục
20. P.Đ. (2009), “Mấy ý nghĩ khi đọc Đêm thánh nhân”, Ngày hoàng đạo, tập 2, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy ý nghĩ khi đọc "Đêm thánh nhân”, Ngày hoàng đạo
Tác giả: P.Đ
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 2009

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w