Thực hiện chủ trơng của Đảng “ Về việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc’’ nên dân tộc Thái trên cả nớc nói chung cũng nh dân tộc Thái ở Nghệ A
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
trơng thị quỳnh
Biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của dân tộc Thái ở Anh Sơn ( Tỉnh Nghệ An ) từ năm 1963 đến năm 2008
Luận văn thạc sĩ khoa học lịch sử
Vinh – 2009 2009
Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
Trơng thị quỳnh
Trang 2Biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của dân tộc Thái ở Anh Sơn ( Tỉnh Nghệ An ) từ năm 1963 đến năm 2008
Chuyên ngành: lịch sử việt nam
Trang 3Lời cảm ơn
Để hoàn thành công trình này tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới thầy TS Nguyễn Quang Hồng đã nhiệt tình, hớng dẫn giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn tới các thầy giáo và những ngời làm khoa học thuộc chuyên ngành lịch sử Việt Nam trờng Đại học Vinh
đã đọc nhận xét và góp ý để đề tài đợc hoàn thiện hơn
Ngoài ra tôi xin gửi lời cảm ơn tới th viện dân tộc học, Ban dân tộc tỉnh Nghệ An, th viện trờng đại học Vinh, th viện Nghệ An đã giúp tôi có đợc tài liệu trong quá trình nghiên cứu đề tài
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các phòng ban của UBND huyện Anh Sơn: Phòng Dân tộc, Phòng Văn hóa, Phòng Giáo dục, Phòng Thống kê, Đảng ủy, UBND các xã Thành Sơn, Thọ Sơn, Tờng Sơn, Phúc Sơn, Cẩm Sơn và Ban Giám hiệu các Trờng học đóng trên địa bàn các xã
Cảm ơn sự cộng tác của đồng bào ngời dân tộc Thái, đặc biệt là bác Vi Xuân Lộc - Bí th Đảng ủy các xã Thành Sơn, anh Lơng Văn Thủy - Bí th bản ồ
ồ, bác Vi Văn Quyết - Già làng bản Bộng, anh Lơng Văn Lu - Gia Hóp, anh Lơng Văn Khoa, thầy giáo Vi Văn Cơng đã nhiệt tình giúp đỡ tôi về t liệu để hoàn thành luận văn này.
Do nhiều nguyên nhân chủ quan và khách quan luận văn còn có rất nhiều hạn chế Rất mong nhận đợc sự góp của thầy cô, gia đình, ngời thân và bạn bè để Luận văn đợc hoàn thiện hơn.
Vinh, tháng 12 năm 2009
Tác giả
Trơng Thị Quỳnh
mục lục
Trang
Mở Đầu 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 4
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu 6
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 7
Trang 45 Đóng góp của luân văn 8
6 Cấu trúc luận văn 9
Nội Dung 10
Chơng 1. Khái quát về đời sống kinh tế, văn hoá, xã hội của dân tộc Thái trên địa bàn huyện Anh Sơn (Nghệ An) trớc 1963 1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội 10
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên 10
1.1.2 Địa hình đất đai 12
1.1.3 Thời tiết, khí hậu 13
1.1.4 Điều kiện xã hội 14
1.2 Vài nét về đời sống kinh tế của ngời Thái ở huyện Anh Sơn trớc 1963 18
1.2.1 Nông nghiệp 18
1.2.2 Các ngành nghề thủ công truyền thống 24
1.2.3 Hoạt động buôn bán trao đổi 26
1.3 Vài nét về đời sống văn hoá, xã hội 27
1.3.1 Giáo dục, y tế 27
1.3.2 Tín ngỡng, tôn giáo 29
1.3.3 Các phong tục tập quán 32
1.3.4 Một số lễ hội 44
* Tiểu kết chơng 1 47
Chơng 2. Biến đổi trong đời sống kinh tếcủa dân tộc Thái ở Anh Sơn từ năm 1963 đến năm 2008 2.1 Những biến động lịch sử tác động đến đời sống kinh tế của cộng đồng ngời Thái ở Anh Sơn 48
2.2 Những biến động trong đời sống kinh tế của cộng đồng ngời Thái ở Anh Sơn từ khi thành lập huyện đến trớc đổi mới (1963 - 1985) 52
2.2.1 Tác động của Hợp tác xã nông nghiệp đối với đời sống kinh tế của ngời Thái ở Anh Sơn 52
2.2.2 Các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp 58
2.2.3 Hoạt động buôn bán trao đổi 60
2.3 Chuyến biến kinh tế của cộng đồng ngời Thái ở Anh Sơn trong công cuộc đổi mới từ 1986 - 2008 62
2.3.1 Nguyên nhân dẫn đến chuyển biến 62
2.3.2 Những thay đổi căn bản trong đời sống kinh tế của cộng đồng ngời Thái ở Anh Sơn 63
Trang 5* Tiểu kết chơng 2 80
Chơng 3. Biến đổi trong đời sống văn hoá xã hội của ngời Thái ở Anh Sơn từ năm 1963 đến năm 2008 3.1 Chuyển biến trong đời sống văn hoá vật chất 81
3.1.1 Chuyển biến trong giáo dục và y tế 81
3.1.2 Những thay đổi trong kiến trúc nhà cửa, làng bản 87
3.1.3 Những chuyển biến trong ẩm thực, trang phục 90
3.2 Chuyển biến trong đời sống văn hoá tinh thần 97
3.2.1 Tín ngỡng, tôn giáo 97
3.2.2 Một số phong tục tập quán khác 105
* Tiểu kết chơng 3 105
Kết luận 106
Tài liệu tham khảo 109
Phụ lục ảnh
Danh mục chữ cái viết tắt
THCS : Trung học cơ sở KHKT : Khoa học kỹ thuật UBND : ủy ban nhân dân
QĐTTCP : Quyết định Thủ tớng Chính phủ
Trang 6văn hoá, văn minh dân tộc Nh Nghị quyết TW5 đã chỉ rõ "Các giá trị và sắc thái văn hoá đó bổ sung cho nhau làm phong phú nền việt nam và củng cố sự thống nhất dân tộc là cơ sở để giữ vững sự bình đẳng và phát huy tính đa dạng văn hoá của dân tộc anh em’’.
Dân tộc Thái là một dân tộc có nền văn hoá nghệ thuật rất phong phútrong số 53 dân tộc ít ngời ở nớc ta Vì trong 53 dân tộc đó, Thái là một dân tộc
có dân số đông, chỉ đứng sau ngời Kinh và ngời Tày về số lợng ở Nghệ An
ng-ời Thái chiếm số lợng lớn (sau ngng-ời Kinh) c trú chủ yếu ở miền Tây, họ sở hữumột nền văn hoá cực kỳ phong phú và đầy chất trữ tình thể hiện trong lịch sử,truyện kể, văn hoá dân gian, âm nhạc, vũ điệu trong sắc phục của phụ nữ hay vănhoa thổ cẩm, nhà sàn….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với.văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực vớibánh chng, rợu cần cùng món ăn đặc biệt khác
Kể từ ngày thống nhất đất nớc đến nay do chủ trơng phân bố lại lao
động trên phạm vi cả nớc nên nhiều đồng bào miền xuôi đến lập nghiệp ở miềnnúi đất rộng ngời tha hình thành nên những vùng kinh tế mới và việc c trú đanxen giữa ngời kinh và ngời Thợng Trong quá trình sống chung ấy diễn ra quá
trình Việt hoá Thực hiện chủ trơng của Đảng “ Về việc xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc’’ nên dân tộc Thái trên
cả nớc nói chung cũng nh dân tộc Thái ở Nghệ An và Anh Sơn nói riêng luôn
kế thừa, phát huy, gìn giữ những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp mà thế hệtrớc đã để lại nhng đồng thời quá trình sống chung ấy ngời Thái cũng tiếp thunhững yếu tố văn hoá của các dân tộc cùng cộng c và sáng tạo ra những yếu tốvăn hoá mới thích hợp với hoàn cảnh sinh sống
1.1.1 Vì thế khi nghiên cứu về quá trình chuyển biến trong đời sốngkinh tế văn hoá của các dân tộc ít ngời trên phạm vi cả nớc nói chung, Nghệ
An nói riêng từ sau nửa thế kỷ XX đến nay đợc nhiều nhà sử học, dân tộchọc, kinh tế, chính trị học, văn học, ngôn ngữ học….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với trong và ngoài nớc quan
Trang 7tâm Do đó có khá nhiều công trình nghiên cứu về đời sống kinh tế, văn hoádân tộc Thái đã đợc công bố điển hình là Giáo s Từ Chi, Giáo s Đặng NghiêmVạn, Giáo s Hoàng Xuân Chinh, Giáo s Hà Văn Tấn, Phó tiến sỹ Nguyễn
Đình Lộc….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với gần đây một số học viên thạc sỹ chuyên ngành lịch sử Việt Nam,dân tộc học, ngôn ngữ học và một số nghiên cứu sinh tiến sỹ đã đi sâu nghiêncứu về mảng đề tài này và đã bảo vệ thành công luận văn, luận án của mình
Do đó việc chọn đề tài “Biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hoá - xã hội của dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn (Tỉnh Nghệ An) từ 1963-2008 ’’ Nhằm gópphần nghiên cứu về vấn đề liên quan để tái tạo những nét cơ bản về văn hoátruyền thống cũng nh biến đổi của nó trong thời gian gần đây và những mặttích cực, hạn chế của sự chuyển biến ấy với lịch sử dân tộc
1.1.2 Nghệ An là một tỉnh có nhiều dân tộc ít ngời c trú nh Thái, ờng, HMông, Khơ Mú, ơ Đu, Đan Lai….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với Mỗi dân tộc có một bản sắc văn hoáriêng đã tạo thành một khu vực lịch sử - dân tộc học với một nền văn hoá miềnTây Nghệ An phong phú, độc đáo và sáng tạo Vì thế công tác nghiên cứu vềquá trình định c, tổ chức làng bản, tìm hiểu về đời sống kinh tế văn hoá củacác dân tộc này với lịch sử dân tộc trên tất cả các mặt cũng là một mảng đề tài
M-đợc nhiều ngời quan tâm Tuy nhiên, đi sâu vào nghiên cứu về biến đổi trong
đời sống kinh tế, văn hoá xã hội của dân tộc Thái nói chung, của miền tâyNghệ An và dân tộc Thái định c trên địa bàn huyện Anh Sơn nói riêng, dới
góc độ sử học còn nhiều khoảng trống đề tài: “ Biến đổi trong đời sống kinh
tế, văn hoá - xã hội của dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn ( tỉnh Nghệ An ) từ
1963 - 2008 ” Hy vọng góp phần nhỏ bé vào lấp đầy dần những khoảng trống
đó
1.1.3 Qua quá trình nghiên cứu tài liệu, điền dã khảo sát trên địa bàncác xã có dân tộc Thái định c sinh sống ở Anh Sơn, đối chiếu với một sốhuyện khác ở miền Tây Nghệ An , chúng tôi thấy rằng ngoài những điểmchung về quá trình chuyển đổi đời sống kinh tế xã hội của dân tộc Thái thì ở
Anh Sơn có những nét riêng khá điển hình Đề tài “ Biến đổi trong đời sống kinh tế văn hoá - xã hội của dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn ( Tỉnh Nghệ An )
từ 1963 - 2008 ’’ hy vọng đa ra đợc cái nhìn khách quan khoa học, về quá
trình chuyển đổi của dân tộc Thái ở Nghệ An , đồng thời chỉ ra một số nétriêng trong quá trình chuyển đổi ấy
1.2 Về thực tiễn
Trang 81.2.1 Là một huyện giáp ranh giữa khu vực 1 và khu vực 2 miền núinên huyện Anh Sơn có điều kiện tiếp cận với nền văn hoá văn minh, áp dụngkhoa học kỹ thuật vào cuộc sống và sản xuất sớm hơn Vì thế so với dân tộcThái định c ở một số huyện khác ở miền Tây Nghệ An.thì đời sống dân tộcThái c trú ở huyện Anh Sơn cao hơn và có những nét thay đổi theo hớng tíchcực vì thế khi nghiên cứu sự biến đổi về đời sống kinh tế văn hoá của dân tộcThái ở huyện Anh Sơn không chỉ giúp ta hiểu thêm về sự thay đổi phong tụctập quán của cộng đồng dân tộc ít ngời ở một số huyện trong thời kỳ hội nhập
mà còn cung cấp tài liệu để các nhà chức năng có cái nhìn toàn diện về đờisống của ngời Thái và những đóng góp của họ từ sau đổi mới đến nay đề từ đó
có chính sách hợp lý về việc phát triển kinh tế, gìn giữ và hát huy bản sắc dântộc Thái Góp phần nâng cao đời sống dân tộc ít ngời nói chung và đới sốngnhân dân huyện Anh Sơn nói riêng trong thời kỳ hội nhập
Kết quả nghiên cứu còn là nguồn tài liệu giúp các nhà chức năng làmtài liệu tham khảo nhằm xây dựng đời sống dân tộc Thái ở các huyện kháctrong tỉnh phát triển cao hơn
1.2.2 Với nguồn tài liệu mà tác giả su tập đợc sẽ là cơ sở bổ sung chocác cấp, các công trình nghiên cứu nội bộ của huyện cũng nh lịch sử Đảng bộhuyện Anh Sơn, lịch sử các làng, lịch sử dân tộc Thái
1.2.3 Qua đề tài còn góp phần giáo dỡng cho học sinh và toàn thể nhândân huyện Anh Sơn niềm tự hào về quê hơng đất nớc và có thái độ hợp táctích cực trong việc gìn giữ và phát huy bản sắc dân tộc Vì thế đề tài sẽ là tàiliệu quan trọng trong việc biên soạn và dạy chơng trình địa phơng của các cấphọc
Với những lý do trên tôi chọn đề tài Biến đổi trong đời sống kinh tế“
văn hoá xã hội của dân tộc Thái ở Anh Sơn ( Tỉnh Nghệ An ) từ 1963 2008’’ làm luận văn tốt nghiệp cao học.
-2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sinh sống lâu đời trên dải đất Việt Nam, kế thừa nền văn minh cổtruyền của cha ông, ngời Thái đã góp phần không nhỏ vào kho tàng văn hoáchung của các dân tộc Việt Nam Họ có nhiều phong tục tập quán, truyềnthống tốt đẹp, văn hoá đa dạng
Ngày nay mặc dầu đã trải qua nhiều biến động của lịch sử xã hội nhngngời Thái vẫn luôn bảo tồn đợc những nét văn hoá đặc sắc của mình Bên cạnh
Trang 9đó đời sống của họ cũng có nhiều thay đổi trong quan hệ xã hội, tập tục, kinh
tế Với một địa bàn kinh tế rộng lớn, một dân tộc thống nhất trong nhóm ngônngữ Tày Thái nên họ đựơc nhiều nhà nghiên cứu chính sách, các nhà khoa họctrong và ngoài nớc đặc biệt quan tâm với hàng trăm cuốn sách, hàng ngàn bàiviết về tộc ngời này
Ngay từ thời xa xa bản thân dân tộc Thái đã có những văn tự ghi nhiềusách truyện trên giấy bản, lá cọ với những cuốn sách sử chép tay dày hàngtrăm trang về những bộ luật, tập quán phản ánh tình hình xã hội đơng thời,những truyện thơ khuyết danh, những tập dân ca, những bài hát đồng giao,sách văn dạy ghi chép các nghi thức tôn giáo sơ khai
Đến thời phong kiến đã có một số tác phẩm nổi tiếng đề cập đến dântộc Thái nh Bộ Đại Việt sử ký toàn th của Ngô Sỹ Liên, sách Nghệ An ký củaBùi Dơng Lịch, Đại Nam Nhất Thống chí của Quốc Sử triều Nguyễn đã giúpchúng ta có cơ sở để nghiên cứu về ngời Thái
Sang thời thuộc Pháp một số tác giả cũng đã chú ý nghiên cứu đến vấn
đề này đặc biệt nghiên cứu về ngời Thái ở Nghệ An có cuốn Ng“ ời Mờng ở cửa Rào’’ của L.Albert Mặc dầu cuốn sách chủ yếu là phục vụ cho mục đích
tìm hiểu dân tộc ít ngời để cai trị, phần nào giúp ích cho chúng ta trong quátrình nghiên cứu về ngời Thái ở Nghệ An sau này
Sau năm 1954 khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng nhà nớc quan tâmhơn về vấn đề VHXH đặc biệt là văn hoá dân tộc ít ngời nên nhiều công trìnhnghiên cứu về ngời Thái trên cả nớc nói chung ở Nghệ An và Huyện Anh Sơn
nói riêng đã xuất hiện nh cuốn “Các dân tộc thiểu số ở Nghệ An’’ của Nguyễn Đình Lộc, Văn hoá vật chất của ng“ ời Thái ở Thanh Hoá và Nghệ An’’ của Vi Văn Biên, T “ liệu về lịch sử và xã hội dân tộc Thái ’’ của Đặng
Nghiêm Vạn, cuốn Địa chí Nghệ An“ ’’, cuốn “Lịch sử Đảng bộ huyện Anh Sơn’’, cuốn “Địa chỉ làng văn hoá - Tập 2’’ và mới đây nhất là cuốn luận văn
nghiên cứu về đời sống văn hoá tinh thần của dân tộc Thái ở miền Tây Nghệ
An của tác giả Nguyễn Thị Huyền - Cao học 14, tác giả Lê Na với bài viết vềchuyển biến kinh tế - xã hội bản Bộng, Thành Sơn - Anh Sơn -Nghệ An.Ngoài ra còn một số bài báo viết về một số lĩnh vực khác có liên quan đến đờisống vật chất văn hoá tinh thần của dân tộc Thái, một số bản tiêu biểu nh bảnBộng, bản Vĩnh Kim, bản ồ ồ đăng trên các tạp chí nh: Tạp chí Dân Tộc Học,Dân Tộc và Thời Đại, Dân Tộc và Miền Núi
Trang 10Tóm lại các bài báo, các công trình nghiên cứu trên ta nhận thấy các tácgiả còn nghiên cứu ở diện rộng, cách viết còn mang tính khái quát cao hoặcchỉ ở một số lĩnh vực nhất định chứ cha có một công trình nào nghiên cứu một
cách trực tiếp đầy đủ và có hệ thống về sự “Biến đổi trong đòi sống kinh tế văn hoá của dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn (Tỉnh Nghệ An) từ 1963 - 2008’’
nh đề tài tác giả đề cập đến nhằm rút ra đợc những đóng góp của họ trong việcgìn giữ và phát huy bản sắc văn hoá dân tộc trong cộng đồng dân tộc Thái nóichung và dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn nói riêng
Do đó việc nghiên cứu đề tài “Biến đổi trong đời sống kinh tế, văn hóa xã hội của dân tộc Thái ở Huyện Anh Sơn (Tỉnh Nghệ An) từ 1963 - 2008’’.
-Mặc dầu còn trong phạm vi nhỏ và mang tính chất địa phơng nhng hoàn toànmới Tác giả nghiên cứu đề tài này với hy vọng sẽ đóng góp ít nhiều về mặtkhoa học cũng nh thực tiễn để tìm hiểu về sự biến đổi dân tộc Thái huyệnAnh Sơn nói riêng và dân tộc Thái trong tỉnh Nghệ An nói chung
3 Nguồn t liệu và phơng pháp nghiên cứu
3.1 Nguồn t liệu : Đề tài “Biến đổi trong đời sống văn hóa - xã hội
của dân tộc Thái ở Huyện Anh Sơn ( Tỉnh Nghệ An ) từ 1963 - 2008’’ đợc
nghiên cứu bởi nguồn tài liệu sau:
- Nguồn t liệu dân tộc học:
+ Sách: “Nguồn gốc của dân tộc Việt Nam’’ tác giả Đào Duy Anh, các dân tộc ở miền Bắc Việt Nam, văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số “ T liệu
về lịch sử và xã hội của dân tộc Thái ’ ’của Đặng Nghiêm Vạn
+ Sổ tay các dân tộc ở Việt Nam, viện dân tộc học, đặc biệt là cuốn
“Các dân tộc ở miền núi Bắc Trung Bộ’’ của tác giả Mặc Đờng Cuốn sách
“ảnh về ngời Thái ở Tây Bắc’’ của tác giả: Bảo Cờng, Tiến Dũng, Ngô D.
- Nguồn t liệu văn hoá:
Sách “Việt nam văn hóa sử cơng” của tác giả Đào Duy Anh, kỷ yếu
“Xây dựng và phát triển nền văn hoá Việt Nam tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc ” tác giả Đỗ Thị Minh Thuý, “Việt Nam văn hoá và du lịch” tác giả Trần Mạnh Thờng, “ Địa chí văn hoá dân gian Nghệ Tĩnh ” tác giả Nguyễn
Đổng Chi
- Sách tham khảo:
“Lễ hội trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam’’ tác giả Vũ Ngọc Khánh, “Truyện cổ các dân tộc miền núi Bắc Trung Bộ ” tác giả Nguyễn Hữu
Trang 11Chức Và một số bài viết, bài nghiên cứu đăng trên các tạp chí Dân Tộc vàThời Đại, Dân Tộc và Miền Núi, văn hoá Nghệ An ….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với
- Nguồn t liệu địa phơng:
Tôi đã điền dã khảo sát một số xã nh Thành Sơn, Thọ Sơn, Bình Sơn, ờng Sơn….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với.tìm hiểu một số phong tục tập quán, lễ hội ở các bản làng tronghuyện Tìm hiểu một số gia phả, tộc phả của dòng họ nh họ Lơng, họ Vi
T-Gặp gỡ và trao đổi với một số già làng, trởng bản trong xã nh ông ViVăn Quyết, Vi Xuân Lộc, Lơng Văn Khoa ở làng văn hoá bản Bộng, xãThành Sơn - Anh Sơn và hai nhà giáo Lơng Văn Cơng, Vi Văn Coóng ở bảnVĩnh Kim xã Hội Sơn - Anh Sơn
Về hiện vật: Tôi đã mục sở thị các nhà cửa vật dụng, công cụ lao động
của ngời Thái tại địa phơng nh một số đồ trang sức, trang phục, công cụ lao
động, một số món ăn đặc trng của xa và nay để đối chiếu so sánh
3.2 Phơng pháp nghiên cứu
Để đạt đợc những yêu cầu đặt ra khi nghiên cứu đề tài chúng tôi sửdụng phơng pháp sử học Mác-Xít từ lúc su tầm chỉnh lý tài liệu cho đến quátrình biên soạn đề tài Bên cạnh đó chúng tôi còn sử dụng phơng pháp logic,thống kê đối chiếu, phơng pháp so sánh để xử lý tài liệu, để đánh giá và phântích sự kiện Ngoài ra còn tiến hành điền dã tại địa bàn c trú của dân tộc Tháitrên toàn huyện để có cách nhìn bao quát toàn diện
4 Đối tợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4.1 Đối tợng nghiên cứu
Đề tài đi sâu nghiên cứu về sự biến đổi kinh tế văn hoá xã hội của dântộc Thái ở huyện Anh Sơn từ 1963 - 2008
- Tìm hiểu khái quát về nguồn gốc địa bàn c trú và đặc điểm của ngờiThái ở huyện Anh Sơn, Nghệ An
- Tập trung nghiên cứu về những biến đổi trong đời sống kinh tế củadân tộc Thái ở Anh Sơn từ 1963 - 2008
- Đề tài nghiên cứu về những biến đổi trong đời sống văn hoá - xã hộicủa dân tộc Thái ở Anh Sơn từ 1963 - 2008
4.2 Phạm vị nghiên cứu của đề tài
Giới hạn về không gian:
Trang 12Đề tài đề cập đến vấn đề về sự chuyển biến trong đời sống, kinh tế vănhoá xã hội của dân tộc Thái trong phạm vi địa giới ổn định là huyện Anh Sơn,Nghệ An.
Giới hạn về thời gian:
Đề tài chủ yếu tập trung nghiên cứu những chuyển biến về đời sốngkinh tế văn hoá của dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn từ 1963 - 2008 Những nộidung khác không nằm trong phạm vi nghiên cứu của đề tài
5 Đóng góp của luân văn
5.1 Luận văn là công trình đầu tiên nghiên cứu một cách khá đầy đủtoàn diện về những chuyển biến trong đời sống kinh tế văn hoá của dân tộcThái ở huyện Anh Sơn từ 1963 - 2008
5.2 Kết quả nghiên cứu của luận văn là một nguồn tài liệu có ích chocác nhà nghiên cứu hoạch định những chính sách hợp lý để bảo tồn phát huynhững giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn
5.3 Là một giáo viên dạy cấp THCS tôi nhận thấy hệ thống tài liệu vàkết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu hữu ích sử dụng và việc biên soạn
và giảng dạy lịch sử địa phơng và các trờng phổ thông Đồng thời qua đề tàicòn có tác dụng giáo dục lòng tự hào dân tộc tình cảm trân trọng và biết giữgìn những giá trị văn hoá truyền thống của dân tộc Thái nói riêng và 54 dântộc Việt Nam nói chung cho thế hệ mai sau
5.4 Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là một nguồn t liệu quý để giúpích cho việc tìm hiểu nguồn gốc cũng nh sự phát triển kinh tế và truyền thốngvăn hoá của dân tộc Thái ở huyện Anh Sơn - Nghệ An
Chơng 3 Chuyển biến trong đời sống văn hóa xã hội của dân tộc Thái
ở huyện Anh Sơn (Nghệ An) từ 1963 đến năm 2008.
Trang 13huyện Anh Sơn (Nghệ An) trớc 1963
1.1 Khái quát về điều kiện tự nhiên - xã hội
1.1.1 Về điều kiện tự nhiên
* Điều kiện địa lý
Huyện Anh Sơn hiện nay đợc thành lập từ năm 1963, ngày 19/4/1963Thủ tớng chính phủ ký quyết định số32/CP thành lập các huyện Tân Kỳ, TơngDơng, Anh Sơn và Nghi Xuân Hà Tĩnh Từ đó Anh Sơn trở thành một đơn vịhành chính, kinh tế độc lâp tách ra từ huyện lớn theo quyết định của thủ trởngchính phủ số 32/CP ngày 19/4/1963 Đây là một huyện trung du miền núi củatỉnh Nghệ An bao gồm 19 xã và một thị trấn trải dài theo đôi bờ Sông Lam
Với các xã tả ngạn là: Thọ Sơn, Bình Sơn, Thành Sơn, Tam Sơn, HùngSơn, Đức Sơn, Vĩnh Sơn, Tào Sơn, Lạng Sơn
Các xã phía hữu ngạn là: Đỉnh Sơn, Cẩm Sơn, Tờng Sơn, Hội Sơn,Thạch Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Lĩnh Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn
Ngợc về cội nguồn, Anh Sơn vốn là phần đất thuộc bộ Việt Thờng, mộttrong 15 bộ của đất văn Lang thủa các vua Hùng dựng nớc Trong thời kỳ
Trang 14chống lại ách đô hộ của phong kiến phơng Bắc, trải qua nhiều lần tách nhập,Anh Sơn thuộc các đơn vị hành chính khác nhau Đời nhà Hán, Anh Sơn thuộcphần đất của huyện Hàm Hoan, đời Đông Ngô là đất của huyện Đồ Giao, đời
Đờng thuộc huyện Nhật Nam của Châu Hoan Cho đến đời Lê thế kỷ XV mới
có tên gọi Anh Đô gồm toàn bộ phần đất của huyện Hng Nguyên, Nam Đàn,Anh Sơn , Đô Lơng nh hiện nay Dới chế độ phong kiến nhà Nguyễn, nămMinh Mạng thứ 3 (1822) phủ Anh Đô đợc đổi tên là phủ Anh Sơn Đến khithực dân Pháp xâm lợc, cho đến đầu năm 1946, phủ Anh Sơn là một trong 5phủ, 6 huyện của Nghệ An (Phủ Anh Sơn lúc này tơng đơng với 2 huyện AnhSơn, Đô Lơng hiện nay) Phần đất Anh Sơn thuộc tổng Lãng Điền và phấn lớntổng Đặng Sơn là 2 trong 6 tổng của phủ
Anh Sơn có toạ độ địa lý từ 105015' đến 1050 50' kinh Đông và từ 1809' đến
18045' Vĩ độ Bắc phần đất phía đông Anh Sơn giáp huyện Đô Lơng, phía Tâygiáp huyện Con Cuông và có chung 25km đờng biên giới quốc gia với Lào,Phía Bắc giáp huyện Tân Kỳ và phía Nam giáp huyện Thanh Chơng
Lúc mới thành lập, huyện Anh Sơn gồm 19 xã: Tam Sơn, Đỉnh Sơn,Cẩm Sơn, Bình Sơn, Thành Sơn, Thọ Sơn, Hùng Sơn, Tờng Sơn, Đức Sơn, HộiSơn, Thạch Sơn, Phúc Sơn, Long Sơn, Khai Sơn, Cao Sơn, Tào Sơn, Vịnh Sơn,Lịnh Sơn, Lạng Sơn
Ngày 01/03/1988 Chủ tịch hội đồng bộ trởng ra quyết định số 22 vềhoạch định địa giới hành chính một số xã, thị trấn của các huyện Anh Sơn ,Con Cuông, Tân Kỳ và Nghi Xuân (Hà Tĩnh) Trong đó thành lập thị trấn AnhSơn trên cơ sở tách 28 ha diện tích tự nhiên và 26 nhân khẩu của xã Hội Sơn,xóm đờng 7 của xã Phúc Sơn gồm 92 ha diện tích tự nhiên và 87 nhân khẩu,xóm chợ Mùa của xã Thạch Sơn gồm 96 ha diện tích tự nhiên và 180 nhânkhẩu cùng 3291 nhân khẩu là cán bộ công nhân viên nhà nớc và ngời ăn theocủa các cơ quan đóng trên địa bàn này
Từ đó thị trấn Anh Sơn có tổng diện tích tự nhiên 2.216 ha và 3584nhân khẩu Địa giới thị trấn Anh Sơn ở phía Đông giáp xã Phúc Sơn, phíaTây giáp xã Hội Sơn, phía Nam giáp xã Phúc Sơn, Thạch Sơn phía Bác giápxã Thạch Sơn
Nh vây đến năm 2003 tổng diện tích của thị trấn Anh Sơn, sau một vàilần điều chỉnh là 2216 ha và 3584 nhân khẩu Hiện nay diện tích tự nhiên của
Trang 15thị trấn Anh Sơn tiếp tục đợc mở rộng với diện tích là 2519 ha, số nhân khẩu
4814 khẩu (số liệu phòng thống kê huyện Anh Sơn năm 2008)
Hiện nay huyện Anh Sơn có 1 thị trấn và 19 xã toàn huyện có 245 xómbản Trong tổng số 19 xã, 1 thị trấn, ngời Thái c trú trên địa bàn 8 xã: ThọSơn, Tam Sơn, Thành Sơn, Bình Sơn, Tờng Sơn, Hội Sơn, Phúc Sơn, Cẩm Sơntức là gần 1/2 số xã của Anh Sơn có ngời Thái c trú
1.1.2 Địa hình đất đai
*Địa hình
Địa hình Anh Sơn nghiêng dần về phía Đông, điểm cao nhất là đỉnhCao Vều và đỉnh Kim Nhan (1340m) Độ cao trung bình từ 100- 200m so vớimặt biển, điểm thấp nhất so với mặt biển là ven bãi sông Lam (từ 10 - 15m).Rừng đồi Anh Sơn chiếm 80% đất tự nhiên trong đó diện tích núi đá vôichiếm 30 %
*Đất đai: Diện tích đất tự nhiên của Anh Sơn có 60600 ha, trong đó
riêng phần đất rừng đồi chiếm 41416 ha (80%) Rừng Anh Sơn có nhiều loại
gỗ quý nh Lim, Sến, Táu và có nhiều loại động vật hiếm sinh sống nh Voi,
Hổ, Hơu, Nai Đặc biệt là có loài Bò rừng xám Vùng núi có nhiều lèn đá vôi
là nguyên liệu vô tận cho công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng trong tơnglai Ruộng bậc thang của vùng ven bãi sông Lam có diện tích 1721 ha, thíchhợp cho cây ngô và các cây công nghiệp ngắn ngày Vùng này hàng năm chomột sản lợng hàng hoá ngô, đậu, lạc khá lớn, riêng ngô có sản lợng hàng hoáhàng nắm chiếm 1/3 sản lợng ngô của tỉnh, là một trong những vùng ngô caosản của nớc ta Đồi núi của Anh Sơn rất thích hợp cho việc trồng các cây côngnghiệp dài ngày, đặc biệt là chè Chè Anh Sơn thơm ngon nổi tiếng đang trởthành cây trồng có giá trị lớn, bảo đảm thoả mãn nhu cầu nguyên liệu cho nhàmáy chè đen đã đợc xây dựng tại đây để làm giàu cho quê hơng xứ sở
1.1.3 Thời tiết, khí hậu
Nằm chung trên dải đất miền Trung, khí hậu ở Anh Sơn mang nhữngnét chung của vùng nhiệt đới gió mùa Ngoài những yếu tố thuận lợi cho sựphát triển của cây trồng do ánh sáng mặt trời và lợng ma hàng năm đem lại,khí hậu ở đây cũng khá khắc nghiệt vì chịu ảnh hởng của gió mùa nhất là gióphơn Tây Nam và sự phân bố ma nắng không đồng đều trong năm Theo sốliệu thống kê của phòng thống kê huyện Anh Sơn nhiệt độ Trung bình hàngnăm là 230C Nhiệt độ cao nhất từ tháng 4 đến tháng 8 có thể lên tới 400c, về
Trang 16mùa đông nhiệt độ có khi xuống đến 50c Nhiệt độ thấp nhất từ tháng 10 đếntháng 12 hàng năm Lợng ma trung bình hàng năm ở Anh Sơn tơng đối lớnkhoảng từ 1500 - 1700mm phân bố đều trên khắp các vùng miền của huyện.
Ma lớn tập trung theo mùa từ tháng 5 đến tháng 8 tạo nên muôn vàn khe suối
đổ vào Sông Lam gây hiên tợng lũ lụt ngập úng nhiều xã ven sông trên toànhuyện, ảnh hởng đến mùa màng và hoạt động giao thông đờng thuỷ, đờng bộnhất là vùng tả ngạn sông Cũng nh các huyện Miền Tây Nghệ An ở Anh Sơnhàng năm gắn với 2 mùa gió chính Gió Tây nam (gọi là gió lào) bắt đầu từtháng 4 đến tháng 7 khô nóng ảnh hởng đến trồng trọt và chăn nuôi "Mùa giólào lấy đi nửa màu xanh" Gió mùa Đông Bắc (từ tháng 10 đến tháng 1) gây
ma phùn, giá rét, sơng muối ảnh hởng nghiêm trọng đến đời sống con ngời vàsản xuất
Tuy nhiên với đức tính cần cù, chịu thơng, chịu khó sáng tạo thì ngờidân Anh Sơn vẫn luôn biết hạn chế khắc phục khó khăn và phát huy thế mạnhxây dựng quê hơng ngày càng giàu đẹp Thế mạnh kinh tế miền đất Trung duAnh Sơn đợc phát huy thêm bởi hệ thống giao thông đờng thuỷ, bộ tơng đốithuận lợi
*Sông ngòi, hồ đập: Sông Lam chảy suốt chiều dài của huyện Anh Sơn
với hơn 47km, không chỉ tạo cho Anh Sơn nhiều nơi có cảnh "Sơn thuỷ hữutình" mà còn bồi đắp phù sa tạo nên vùng đất bãi bồi tốt phì nhiêu màu mỡ.Hơn thế nữa Sông Lam còn là con đờng giao thông thuận tiện nhất để các sảnphẩm ở đây theo thuyền bè đến với mọi miền quê hơng xứ Nghệ Gần nh liền
kề với sông Lam có con đờng số 7 cũng chạy suốt chiều dài của huyện, cànglàm cho sự giao lu kinh tế- văn hoá thêm thuận tiện Ngoài quốc lộ số 7, một
số đờng ô tô sang vùng Tây Bắc nh Tân Kỳ, Nghĩa Đàn hoặc về phía Nam, nhThanh Chơng đã đợc xây dựng, tạo nên một mạng lới giao thông đờng bộ đápứng đợc nhu cầu phát triển kinh tế - văn hoá của huyện
Bên cạnh dòng sông Lam uốn khúc hiền hoà thì trên địa bàn huyện AnhSơn còn có hệ thống sông nhánh nh sông Con, sông Giăng….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực vớivà hệ thống khesuối hồ đập phong phú nh khe Sừng, khe Gát, khe Nớc Bạc Các đập nh: đậpCầu Cang, đập Khe Nậy, đập Khe Gia, đập Già Giang, Hệ thống hồ đập này
đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển kinh tế dịch vụ, du lịch toàn huyện
1.1.4 Điều kiện xã hội
* Về dân c:
Trang 17Theo kết quả nghiên cứu của khảo cổ học từ thế kỷ XX và đầu thế kỷXXI, vùng núi phía tây Nghệ An là địa bàn c trú của nhiều nhóm ngời cổ đại.Những phát hiện mới về Khảo cổ học đã cho biết những dấu vết văn hoá đángtin cậy về ngời vợn trên đất Nghệ An, đó là di chỉ khảo cổ học Thẩm ồm bênsuối Bản Thắm, xã Châu Thuận, huyện Quỳ Châu.Việc khám phá những bí ẩncủa di chỉ Thẩm ồm cùng nhiều di chỉ khác trong vùng Phủ Quỳ cho phép ng-
ời ta đoán định rằng những dấu vết văn hoá của con ngời ở Thẩm ồm đã ở vàogiai đoạn cuối cùng của ngời vợn đang chuyển biến thành dạng ngời hiện đại (Homosapiens) có niên đại vào khoảng 20 năm về trớc, mang dấu tích của nềnvăn hoá Sơn Vi [12,19]
Nền văn hoá Sơn Vi còn thể hiện ở cụm di chỉ trung du Nghệ An: ĐồiDùng (Thanh Đồng, Thanh Chơng), Đồi Rạng (Thanh Hng, Thanh Chơng) vàmột số nơi khác thuộc vùng nuí cao hiểm trở Sang nền văn hoá Hoà Bình đặctrng của công cụ đá là công cụ bằng đá cuội Chủ nhân của nền văn hoá HoàBình sinh sống trong các hang đá vôi thuộc phần lớn các huyện miền núiNghệ An: Con Cuông, Tân Kỳ, Tơng Dơng và Quỳ Châu là những c dân sốngchủ yếu nhờ săn bắt hái lợm và bớc đầu biết trồng trọt [12, 20] Riêng ở AnhSơn năm 2006 viện khảo cổ học, Uỷ Ban nhân dân tỉnh Nghệ An cùng các bannghành liên quan đã tiến hành khai quật di chỉ khảo cổ Đồng Trơng, xã HộiSơn, huyện Anh Sơn Kết quả đợt khai quật khẳng định quá trình xuất hiệnsớm của các tộc ngời trên địa bàn Anh Sơn nói riêng vùng đất Miền Tây Nghệ
An nói chung
Nh vậy địa bàn Anh Sơn ở vào một trong những khu vực con ngời xuấthiện khá sớm Thuở xa xa Anh Sơn đã từng chứng kiến con ngời đã bớc nhữngbớc đi đầu tiên trên mảnh đất này
So với các huyện Quỳ Châu, Quế Phong, Tơng Dơng….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với số ngời Thái
định c trên địa bàn Anh Sơn chiếm tỷ lệ thấp hơn nhiều Nếu so sánh số dântộc Thái định c ở tỉnh Nghệ An thì ngời Thái sống ở Anh Sơn chỉ chiếmkhoảng 38,9% Theo số liệu của Ban Dân tộc miền núi tỉnh Nghệ An, BanDân tộc miền núi huyện Anh Sơn và kết quả điền dã thực tế của chúng tôi thì
số ngời Thái này có các họ Lơng, Vi, Hà, Lô….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với tuy số ngời Thái định c ởAnh Sơn ít, nhng nguồn gốc của họ lại rất phong phú Theo lời kể của cụ LơngVăn Coóng và gia phả dòng họ Lơng ở các bản: Khe Trằng Thợng xã thọ Sơn,gia phả dòng họ Lơng ở bản Khe Sừng xã Hội Sơn, bản Cao Vều ở xã Phúc
Trang 18Sơn thì họ Lơng di c từ Thanh Hoá vào do chạy giặc và một số lại di c từ Quỳhợp Nghĩa Đàn sang, số còn lại từ Kỳ Sơn, Tơng Dơng dọc theo Quốc lộ 7 vàdọc theo bìa rừng biên giới lần đến đất Anh Sơn Theo các già làng Vi XuânQuyết, Vi Xuân Lộc ở bản Bộng xã Thành Sơn thì Họ Vi di c từ các huyệnMiền Tây Nghệ An sang và từ phía Bắc tới, họ Hà, họ Lô di c từ Con Cuông
và Tơng Dơng tới
Dân số huyện Anh Sơn hiên nay có 114105 ngời (số liệu phòng thống
kê huyện Anh Sơn Năm 2008) trong đó dân tộc Thái có 7806 nghìn ngờichiếm 7,7% dân số, số đồng bào dân tộc ít ngời này sống trên địa bàn 8 xãvới 18 bản và đã định c, định canh, cùng chung lng đấu cật với cộng đồng ng-
ời Kinh ỏ đây tồn tại và phát triển
Trải qua hàng nghìn năm tồn tại và phát triển của dân bản địa Anh Sơntiếp nhận nhiều nguồn dân c từ nơi khác đến Trớc 1963 vùng đất Anh Sơncòn tha thớt đến năm 1963 năm thành lập huyện có 49640 ngời, năm 1976 cókhoảng 60000 ngời, năm 2003 có 94000 ngời Đến nay năm 2008 dân sốhuyện Anh Sơn có 109785 ngời chủ yếu ngời Kinh và ngời Thái
Gia tăng dân số của huyện Anh Sơn là 6,5%, cơ cấu dân số trẻ, tỷ lệtheo giới tính: Nam 55931 ngời chiếm 49%, nữ 58174 ngời chiếm 51% dân
số Tỷ lệ theo nhóm tuổi: Số ngời dới 15 tuổi có 29005 ngời chiếm 25%, từ 15
- 60 tuổi có 62486 chiếm 55%, từ 60 tuổi trở lên 22614 chiếm 20%
Lao động ở Anh Sơn tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực là sản xuất nôngnghiệp, dịch vụ thơng mại, lâm nghiệp, ng nghiệp và xản xuất công nghiệp Với
1 huyện có số nhà máy công nghiệp nhiều nhất tỉnh (hai nhà máy xi măng, mộtnhà máy chè, một nhà máy đờng, và nhiều xí nghiệp nhà máy nhỏ lẻ khác) đãthu hút một nguồn lực lao động lớn với 4730 ngời tham gia vào lao động côngnghiệp xây dựng chiếm 10 % tổng lao động, dịch vụ thơng mại có 8821 ngờitham gia chiếm 17 % tổng lao động phân bố dân c
Mật độ dân số toàn huyện là 189 ngời/ km2 tập trung chủ yếu ở thị trấn
và nông thôn tha thớt ở vùng đồi núi (mật độ dân số thị trấn là 1604 ngời/km2.Mật độ dân số vùng núi cao là 90 ngời/km2)
Tính đến tháng 10/2007 dân tộc Kinh chiếm trên 90% dân số toànhuyện , dân tộc Thái chiếm gần 7,7% có 1572 hộ , gồm 7806 nhân khẩu
Trang 19Để tiện theo dõi chúng tôi xin lập bảng thống kê về tình hình tăng trởngdân c ở Anh Sơn từ 1963 – 2008
Thứ tự Năm Dân Số Ngời Kinh Ngời Thái
(Nguồn: UBND huyện Anh Sơn cung cấp-Tài liệu lu tại văn phòng)
Từ số liệu thống kê trên cho thấy trong gần nửa thế kỷ số ngời Kinh ởAnh Sơn phát triển nhanh trong khi đó ngời Thái phát triển chậm chỉ bằng25% so với ngời Kinh Lý do ngời Kinh tăng nhanh, ngời Thái tăng chậm cónhững nguyên nhân chủ yếu sau: trớc năm 1963 tỷ lệ sinh của ngời Thái nhiềusong do đời sống kinh tế văn hoá lạc hậu với những hủ tục sinh đẻ mạo hiểm,thiếu khoa học nên thông thờng con cái của họ có sinh mà không có dỡng,một nguyên nhân nữa là do chiến tranh loạn lạc, do kinh tế gặp khó khăn, dotập quán làm ăn sản xuất phát nơng làm rẫy theo lối du canh du c nên một sốbản làng dời đi nơi khác dẫn đến tỉ lệ tăng dân số của ngời Thái giai đoạnnày thấp
Toàn huyện có 8 xã với 18 bản có đồng bào dân tộc Thái sinh sống Từ
xa đồng bào Việt hay Thái định c trên vùng đất Anh Sơn luôn đoàn kết, tơngtrợ giúp đỡ lẫn nhau không phân biệt kỳ thị cùng chung sức, chung lòngchống thù trong giặc ngoài xây dựng quê hơng
* Trong dòng chảy lịch sử ngời Thái ở Anh Sơn nói riêng và Nghệ Annói chung luôn có ý thức giữ gìn phong tục tập quán, lối sống các giá trị vănhoá văn minh truyền thống của cha ông Mặt khác quá trình giao lu tiếp biếnvăn hoá của cộng đồng ngời Thái ở Anh Sơn diễn ra đa chiều mà những thay
đổi trong ăn, ở, mặc, sản xuất kinh tế….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với có thể dễ nhận thấy
Đây là dân tộc c trú sớm tại huyện Anh Sơn Về nguồn gốc của dân tộcThái thì dân tộc Thái ở Anh Sơn chủ yếu là Mãn Thanh hay Thái Đen gọi tắt
là dân tộc Thái Theo các t liệu từ các già làng trởng bản của dân tộc Thái ởAnh Sơn đều khẳng định ngời Thái đen ở đây có nguồn gốc sâu xa từ ThanhHoá vào Anh Sơn qua 3 con đờng: Từ Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Con Cuông theoquốc lộ 7 vào rừng biên giới Việt Lào vào Anh Sơn, hai là từ Quế Phong, QuỳHợp, Tân Kỳ sang Anh Sơn từ hớng Nam, ba là từ Nh Thanh, Nh Xuân (ThanhHoá) qua Nghĩa Đàn sang Anh Sơn
Trang 20Trớc 1963 ngời Thái ở Anh Sơn chủ yếu ở các bản ồ ồ, Già Hóp, BảnBộng, Bản Khe Khặng, bản Cao Vều, những địa danh ấy đã phần nào nói lên
sự tách biệt ngời Kinh và ngời Thợng Ngoài tên gọi theo địa danh ấy thì làngbản của họ còn đợc gọi theo họ tộc
Ngời Thái ở Anh Sơn chủ yếu di c đến từ 3 hớng việc nghiên cứu nguồngốc của 1 số dòng họ ngời ta thấy rõ hơn về các bộ phận hợp thành dân tộcThái ở Anh Sơn ngày nay Theo cụ Vi Văn Quyết, anh Lơng Văn Khoa, bác
Vi Xuân Lộc bản Bộng xã Thành Sơn, Cụ Hà Mạnh Cơng ở bản Vĩnh Kim,Anh Hà Văn Hợi ở bản Già Hóp kể những mẩu chuyện về các cuộc di c thờitrớc về làng bản tổ tiên của họ thì những ngời di c tới đây từ 2 hớng chính, h-ớng theo đờng 7 từ Kỳ Sơn, Tơng Dơng, Con Cuông men dọc rừng núi biêngiới lần đến Anh Sơn Hớng 2 từ Thanh Hoá - Miền Tây - Tân Kỳ - Anh Sơn Hầu hết các họ ấy mới chỉ chuyển vào từ 10 - 15 đời do chạy giặc, trốn suthuế hoặc do khởi nghĩa thất bại và cũng có thể do quá trình kiếm ăn họ pháthiện ra vùng đất mới
1.2 Vài nét về đời sống kinh tế của ngời Thái ở huyện Anh Sơn trớc 1963
1.2.1 Nông nghiệp
1.2.1.1 Trồng trọt
Cũng giống nh đồng bào Thái ở các huyện Miền Tây Nghệ An, trớccách mạng Tháng Tám năm 1945 đời sống của dân tộc Thái ở Anh Sơn gặpnhiều khó khăn.Tuy định c trên vùng đất đai màu mỡ, điều kiện tự nhiên cónhiều thuận lợi song do tập quán canh tác lạc hậu, chủ yếu là đốt nơng làmrẫy, phần diện tích trồng lúa nớc không đáng kể cộng với chính sách bóc lộtcủa Lang đạo, Phìa tạo đẩy ngời Thái vào tình cảnh đói kém quanh năm, nợnần chồng chất Nhiều bản làng phải di chuyển dời đến định c ở các huyện lâncận Ngợc dòng lịch sử, vào cuối thế kỷ XIX, phong trào Cần vơng bùng nổ,Anh Sơn là địa bàn khởi nghĩa của Lơng Văn út, Lơng Văn Bồng, Lê DoãnNhạ v.v….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực vớiKhi đàn áp phong trào Cần Vơng, Pháp và phong kiến tay sai đã đốttrụi nhiều làng bản mà chúng cho là căn cứ của nghĩa quân Pháp thành lậptrại lính ở Dừa, ở đồn Kim Nhan và xây dựng bộ máy quan lại tay sai bao gồmcả ngời Việt và ngời Thái để quản lý vùng đất này Đây cũng là một trongnhững nguyên nhân dẫn đến tình trạng đói nghèo của dân tộc Thái trên địabàn huyện Anh Sơn
Trang 21Về trồng trọt kinh tế nơng rẫy là nền kinh tế chủ đạo của ngời Thái trớc
1963 Lúa nơng của ngời Thái ở Anh Sơn giống với các giống lúa nơng của
đồng bào Thái ở Nghệ An Đó là các loại: Nếp Hoa Vàng, Nếp Cẩm, NếpLào….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với Các giống lúa này đợc tuyển chọn từ tự nhiên, năng suất thấp nhng khảnăng chịu hạn hán và những thay đổi thất thờng của khí hậu, thời tiết, thíchnghi với điều kiện đồi núi dốc, xói mòn nhanh.Giống lúa nếp trồng trên nơngrẫy còn có khả năng chống các loại sâu bệnh
Để có rãy trồng lúa, đồng bào Thái thờng chọn những thung lũng núi có
độ dốc vừa phải, cây cối mọc xanh tốt, dùng rìu dao chặt toàn bộ cây cối sau
đó chờ cây khô đốt cháy toàn bộ rồi dùng gậy chọc lỗ tra hạt Mỗi lỗ tra từ 5-7hạt thóc giống, khoảng cách các lỗ là 15-25 cm thờng đàn ông đi trớc chọc lỗ,
đàn bà con gái đi sau tra hạt và lấp đất lại Đồng bào Thái thờng tra hạt thànhtừng hàng theo hình cánh cung vòng theo sờn núi mà không tra thẳng hàng từdới chân núi đi lên Điều này góp phần chống xói mòn, do đó khi đứng dớichân rãy của ngời Thái ta thấy rãy lúa nơng của đồng bào tạo thành từng lớpvòng tròn quanh núi trông nh những bức thảm nhiều tầng
Xong việc gieo trồng, chờ khi ma xuống, lúa xanh tốt đồng bào dùngnạo vét làm cỏ chặt hết cây non chờ thu hoạch Để tránh thú rừng phá rãy
đồng bào thờng đặt bẫy quanh các rẫy lúa, các loại: gà rừng, nai, chuột, chồnthờng hay mắc bẫy
Dựa vào thời tiết và tập quán ngời Thái chia làm 2 vụ/1 năm Thu hoạchvào 2 vụ tháng 5 và thán g 10, gieo vào tháng 2 và thu hoạch vào tháng 5, gieotháng 7 thu hoạch vào tháng 10 Với lối sống canh tác chủ yếu "phát đất gieotrồng" theo chu kỳ vòng quay khép kín từ 4 -6 năm Rẫy đợc phân loại theo
địa thế đất (rẫy dốc và rẫy bằng) kỹ thuật canh tác hết sức thô sơ là dùng cuốcgậy (nọc) với thời gian canh tác rẫy vụ 1 và rẫy vụ 2/năm
Bộ công cụ làm rẫy gồm những loại với chức năng sử dụng khác nhau,công cụ phát có dao, rạ, rìu, móc, kều Công cụ gieo hạt có gậy chọc lỗ, Công
cụ làm cỏ nạo, cuốc Công cụ gặt hái có nhép
Cách chọn rẫy, chọn đất cũng rất đơn giản là chọn nơi cây cối tốt đấtnhiều màu mỡ và gần bản Việc chọn rẫy tuỳ theo từng hộ gia đình, dụng cụban đầu là dùng dao phát làm dất sau đó mới sử dụng rạ, rìu phát cây chờ khôrồi đốt làm đất và gieo hạt Dựa vào nhu cầu và điều kiện thiên nhiên để gieo
Trang 22trồng các loại cây phù hợp nh lúa, ngô, sắn, lạc Thông thờng trớc 1963 thì
đồng bào mới chỉ trồng cây chủ yếu là cây lúa
Công việc gieo hạt đợc làm rất thủ công :
Dùng 1 chiếc gậy dài khoảng từ 1,5m- 1,8 m, bằng gỗ săng nặng, cứngvót nhọn để đục lỗ và tra hạt, từ khi tra hạt đến lúc thu hoạch ngời dân chỉbiết làm cỏ 1 lần không phải chăm bón gì thêm vì thế nên năng suất thấp
Bên cạnh trồng lúa nơng đồng bào đồng bào còn trồng ngô, khoai, bí,
đậu v.v Ruộng lúa của ngời Thái nh là một khu vờn của ngời Kinh vừa cócây lơng thực (lúa, nếp, ngô) vừa có cây hoa màu: lạc đỗ lại có cả rau cả hoamàu nh bầu, bí, rau, chuối v.v….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với
Rẫy của đồng bào thờng ở cách bản làng từ 2-3 km thậm chí 5-7km, do
đó đến mùa thu hoạch đồng bào thờng làm sẵn cái kho chứa nhỏ, cả nhà cắtlúa ngay tại rẫy Lúađợc gặt bó thành từng nắm nhỏ, phơi khô xếp thành hàngngay ngắn ngay tài các kho này Khi cần dùng đồng bào đem gùi đem về chovào cối giã ra gạo nếp Thờng mỗi hộ gia đình có từ 2-3 rẫy và dĩ nhiên cáckho chứa cũng đợc xây dựng ở ngay các rẫy Để lúa ngô trong rẫy còn đềphòng hoả hoạn vì với đồng bào dân tộc Thái thì nhà cửa có thể dựng đợctrong vòng 10-15 ngày nhng thóc lúa thì không dễ gì có đợc
Ngoài lúa nơng rẫy, đồng bào Thái ở Anh Sơn còn biết trồng lúa nớc,thờng họ dùng trâu bò cho dẫm nát cỏ sau đó cấy lúa Tuy nhiên trớc năm
1963 diện tích trồng lúa nờc của ngời Thái ở Anh Sơn không nhiều, đồng bàochủ yếu phát triển nông nghiệp nơng rẫy Từ 1954-1963 mặc dầu nhà nớc cóchủ trơng định canh định c nhng qua khảo sát của chúng tôi đồng bào Tháivẫn sống du canh du c là chủ yếu Nơng rẫy vẫn là chỗ dựa chủ yếu trong đờisống kinh tế của đồng bào Thái Công cuộc xây dựng hợp tác xã bậc thấp, bậccao từ cuối 1958-1959, đến 1962 đạt đợc một số kết quả đáng khích lệ Một
số đồng bào Thái ở Anh Sơn tham gia hợp tác xã nông nghiệp năm 1962 nôngnghiệp chiếm tỉ lệ 90% Hệ thống bản làng dần dần đợc vào thế ổn định Nềnkinh tế nơng rẫy từ 1960-1963 có ảnh hởng không nhỏ đối với đời sống của
đồng bào ngời Thái ở Anh Sơn
1.2.1.2 Chăn nuôi
Dân tộc Thái khá nổi tiếng với nghề chăn nuôi các loại gia súc, gia cầmnh: Trâu, bò, ngựa, dê, lợn, gà, chó v.v….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực vớiĐồng bào Thái ở Anh Sơn trớc đâythờng nuôi trâu bò ở trong rừng Tối về đa các vật nuôi đó xuống ở ngay dới
Trang 23gầm nhà sàn Mỗi con trâu bò dê thờng đợc đeo một chiếc mõ ngay dới cổ để
dễ tìm trong vùng rừng núi Trâu bò nuôi để lấy sức kéo làm thịt và bán chongời kinh lấy tiền trang trải cho chi tiêu trong gia đình Trâu còn dùng để kéo
gỗ và lễ vật để nộp tài trong quan hệ hôn nhân trai gái
Ngoài trâu bò, đồng bào Thái ở Anh Sơn còn chăn nuôi lợn, dê, gà, vịt,ngan ngỗng nhng rất ít hộ gia đình làm chuồng cho vật nuôi Các loại vật nuôithờng đợc nuôi theo kinh nghiệm truyền thống và đều ở dới gầm nhà sàn gâymất vệ sinh Về sau học tập kinh nghiệm của ngời Kinh đồng bào bắt đầu đatrâu bò ra khỏi gầm sàn, có những chuồng nuôi nhốt riêng
Mỗi hộ gia đình ngời Thái thờng nuôi từ 2-4 con chó, có nhiều hộ gia
đình nuôi 7-10 con để phục vụ săn bắn- điển hình các phờng săn ở bản VĩnhKim, Bản Già Hóp, bản Cao Vều
Tóm lại: trồng trọt và chăn nuôi của ngời Thái ở Anh Sơn trớc 1963 chủyếu dựa theo kinh nghiệm truyền thống Từ những năm 1958-1963, nhờ kếtquả của cuộc vận động vào Hợp tác xã nông nghiệp, kinh tế trồng trọt chănnuôi của ngời Thái ở Anh Sơn có những thay đổi đáng kể Trong đó, nổi bậtnhất là việc phát triển trồng lúa nớc đa vật nuôi ra khỏi gầm nhà, áp dụngnhiều giống cây trồng vật nuôi cho năng suất chất lợng cao hơn.Nhng kinh tếhợp tác xã cha đáp ứng đủ nhu cầu của các hộ gia đình, do đó nông nghiệp n-
ơng rẫy mang tính chất hộ gia đình tự cung tự cấp vẫn đóng vai trò quan trọng
đối với ngời Thái ở Anh Sơn
1.2.1.3 Khai thác nguồn lợi tự nhiên
* Săn bắn hái lợm
Săn bắn: mỗi bản ngời Thái thờng có tới 1-2 phờng săn, mỗi phờng săn
có từ 10-15 hộ gia đình tham gia với một đoàn chó săn từ 10-30 con, chuyênsăn các loại thú rừng nh lợn, nai, hơu, cầy, sóc….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với Dụng cụ để săn cung, tên,súng tự chế gậy gộc, lới….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với Mỗi phờng săn có một trùm phờng, họ thờng đi săn
từ chập tối cho đến sáng, thờng phải đi xa có khi lên tới 15-20 km Khi săn
đ-ợc thú rừng ngời ta phân chia cho các thành viên trong phờng, chia phần cảcho chó săn, một phần để uống rợu chung, một phần chia cho bà con trongbản.Các phờng săn nổi tiếng ở Anh Sơn trớc đây là: Phờng Tổ 2 (bản KheKhặng) Thọ Sơn, Phờng Làng Trong (bản Làng Bộng) Thành Sơn….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với
*Hái lợm, khai thác nguồn lợi tự nhiên
Trang 24Phụ nữ Thái đi làm rẫy thờng mang theo gùi, họ vào rừng lấy củi măngrau xuống suối bắt cá, tôm, cua, ốc v.v Đàn ông thờng dùng câu, chài, đó,
vó, nơm để bắt cá dọc sông Lam và các khe suối hồ đầm v.v….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với đồng bào Tháicòn đào củ mài thu lợm thảo quả, các loại cây thuốc trong rừng để phục vụcho gia đình và đem đi chợ bán, đổi các loại hàng hoá cần dùng
Theo quan niệm của ngời Thái: “Sống rừng nuôi, chêt rừng chôn” (tai pá phăng, nhăng pá liêng) [5,286] Toàn bộ vật liệu dựng nhà từ gỗ, mét, tre,
nứa đều đợc khai thác trong rừng Đồ dùng trong nhà gùi, rổ rá, chõ xôi, cốigiã gạo đến khèn, sáo đều lấy từ rừng Các loại: Bông, lá cây nhuộm vải, thuốcchữa bệnh cho ngời, vật nuôi,….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với đều đợc khai thác từ rừng Khi chết quan tàicũng đợc khai thác từ rừng.Trớc đây, ngời Thái ở Anh sơn, chọn một cây gỗtròn dài trên 2m (thờng là gỗ có ruột mềm nh Gạo hoặc Sung), dùng rìu đụckhoét thành quan tài
Tóm lại, ngời Thái ở Anh Sơn trớc đây chủ yếu sống dựa vào tự nhiên,khai thác triệt để mọi nguồn lợi tự nhiên nh đất đai, lâm thổ sản, thú rừng, cá,tôm, cua, ốc từ sông suối….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với Để duy trì cuộc sống - nền kimh tế nông nghiệpvẫn giữ nhiều nét truyền thống.tuy nhiên từ sau 1945 đến năm thành lập huyện
do địa bàn Anh Sơn tiếp giáp với đồng bằng nên cộng đồng ngời thái định cAnh Sơn có nhiều thay đổi trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá, giáodục….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với Điểm nổi bật trong đời sống kinh tế nông nghiệp là sự chuyển dịch từ
đời sống dựa vào nơng rẫy hoàn toàn sang làm ruộng lúa nớc kết hợp kinh tếnơng rẫy.Vật nuôi trong gia đình đợc đa ra khỏi gầm nhà Nhiều giống lúanếp, ngô, rau đậu,….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với mới đợc áp dụng Đồng bào bắt đầu biết sử dụng cày 51,bón phân chuồng, làm thuỷ lợi, đào ao thả cá Những chuyển biến theo hớngtích cực này góp phần không nhỏ trong việc giúp cộng đồng ngời thái ở AnhSơn sớm ổn định đời sống kinh tế, vật chất và tinh thần Tuy nhiên, đây cũng
là một trong những nguyên nhân sâu xa dẫn đến tình trạng "Kinh hoá” cộng
đồng ngời Thái ở Anh sơn diễn ra nhanh hơn, triệt để hơn so với cộng đồngngời Thái ở một số huyện lân cận
Trang 25so với các dân tộc ít ngời khác vừa đẹp, vừa gọn gàng lại vừa làm nổi bậtnhững đờng nét trên cơ thể.
Và điều đáng chú ý hơn những thành tựu đó là kết quả của sự dày côngkhổ luyện của những ngời phụ nữ Thái
Nghề dệt của ngời thái Nghệ An ra đời từ xa xa, riêng phụ nữ Thái nổitiếng với thêu và dệt vải Các sản phẩm trớc hết thoả mãn nhu cầu nội tộc.Ngoài ra sản phẩm thêu dệt còn là biểu tợng của sự giàu có Hầu hết các côgái đều khéo léo thêu dệt không chỉ cho mình mà còn cho chồng, con, anh em
và cả sản phẩm làm hàng hoá trao đổi
Nguyên liệu để dệt là sợi bông và sợi tơ tằm vì thế kéo theo nó là nghềtrồng bông và nuôi tằm đều phát triển
Các khâu nghề dệt thể hiện rõ tính thủ công nh:
Nếu là sợi bông: Trồng - phơi khô - cán ra - kéo sợi - nhuộm - dệt
Nếu là sợi tơ: Trồng dâu- nuôi tằm - kéo kén - nhuộm - dệt - váy
Để có một váy nhiều màu sắc ngời Thái ở đây đã sử dụng các phẩmmàu nh: Cây vang nhuộm lấy màu đỏ
Dây chạc vàng : lấy màu vàng
Dây chìu : lấy màu Vàng đậm
Xanh: lấy các loại lá có mủ cắm
Hiện nay ở một số làng nh Cẩm Sơn, Cao Vều nghề trồng bông dệt vải
có chiều hớng mai một, song nhìn chung nghề dệt vẫn đợc bảo đảm duy trì và
đóng vai trò không nhỏ trong việc đáp ứng nhu cầu sử dụng trong gia đình.Hiện nay toàn huyện nghề dệt đợc khôi phục và phát triển mạnh nhất là ở bảnBộng và bản Vĩnh Kim
*Đan lát:
Bên cạnh nghề dệt thì nghề đan lát ở những bản làng ngời Thái cũng cónhững giá trị vật chất quan trọng Với các sản phẩm nh nong, nia, rá, rổ,thúng, mủng, dần, sàng để sử dụng trong cuộc sống hàng ngày và khi nôngnhàn thì họ làm để đem đổi lấy hàng hoá mà họ không có đợc Nếu ngời phụnữ Thái làm ra những sản phẩm thể hiện sự khéo léo của mình qua những đ-ờng nét tinh vi của những chân váy, thân áo thì những sản phẩm từ nghề đanlát của ngời đàn ông Thái cũng có giá trị không kém Khi đem trao đổi với ng-
ời Kinh sản phẩm của họ chắc và đẹp nên rất đợc a chuộng
*Nghề mộc
Trang 26Trớc 1963 nghề mộc chủ yếu của ngời Thái là khai thác rừng lấy gỗdựng nhà sàn Nhà sàn của họ đẹp và chắc chắn, dựng theo quy định chặt chẽ.Nhà sàn ngời Thái trớc 1963 đều là cột chôn hình khung mái rùa, hình đầumèo, mái tháp, lòng nhà hẹp Khung đợc làm bằng gỗ liên kết bằng mộng vàbuộc các hệ thống kết cấu chụm lại: Khung cột, hệ thống dàn, sàn nhà không
sử dụng một loại đinh vít nào, vật liệu lợp mái đều bằng cỏ tranh đan thànhphên, nhà có 2 tầng mỗi tầng cách nhau từ 1,5-2m, thờng gồm 3-5 gian dài60m, rộng 20m Sàn nhà đợc làm bằng gỗ hoặc ống bơng, trong nhà có cácvách ngăn các buồng song với bàn tay khéo léo của những ngời thợ mộc ở đâynên các cột lẩn vào trong do đó nhà vẫn rộng và thoáng, các mái hiên nhất làhiên trớc đợc điểm thêm một số lan can hoa mỹ Trớc 1963 nhà sàn chủ yếu
do thợ trong các bản mờng tự họp thành nhóm thợ để làm còn sau này do sự
du nhập các nhóm thợ ngời Kinh nên cấu trúc nhà sàn hiện nay cũng khác.Bên cạnh việc làm nhà sàn thì các nhóm thợ mộc ở đây còn biết đóng cácbàn, tủ, ghế,dờng với hoa văn rất đẹp Nh vậy cùng với các nghành nghề khácthì nghề mộc góp phần không nhỏ vào việc phục vụ cho hoạt động ở của ng ờiThái Bên cạnh nghề Dệt và nghề mộc thì để phục vụ cho cuộc sống của mìnhthì đồng bào Thái ở Anh Sơn còn biết làm các nghề rèn, với các sản phẩm nhCuốc, dao, rựa, liềm, hái….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực vớiphục vụ cho lao động nông nghiệp
1.2.3 Họat động buôn bán trao đổi
Trớc 1963 hoạt động buôn bán cha diễn ra mạnh mẽ, mới chủ yếu làtrao đổi hàng lấy hàng, hàng lấy thực phẩm,gia vị muối, dầu hoả với ngờiKinh và ngời Thái cha có buôn bán kinh doanh nh ngày nay
Một số hiện vật mà họ đem trao đổi đó là sản phẩm họ lấy đợc từ tựnhiên nh: mật ong, thịt rừng, rau rừng, gạo nếp Hàng chủ yếu mà họ lấy về từngời Kinh là muối, gạo tẻ, các vật dụng nh xoong nồi, bát đĩa sở dĩ hoạt
động buôn bán thời kỳ này cha phát triển vì những nguyên nhân sau:
Thứ nhất là do trớc 1963 nền kinh tế hàng hoá ở Anh Sơn nói riêng cảnớc nói chung cha phát triển dẫn đến cha ảnh hởng sâu sắc đến nền kinh tế tựtúc của đồng bào dân tộc Thái
Thứ hai là do thói quen và điều kiện ăn ở của đồng bào dân tộc Thái, họ
c trú ở vùng rừng rú xa trung tâm đa số các chợ đều cách xa so với nơi ở của
họ nên họ ít có điều kiện đi chợ thờng xuyên bản gần nhất cũng đã cách chợ
đến 15km, bản xa nhất cách chợ 30km đờng sá đi lại rất khó khăn Hơn nữa
Trang 27theo họ nền kinh tế tự nhiên, tự cung, tự cấp là đã đủ cung cấp cho họ nhữngmặt hàng thiết yếu để sinh hoạt hàng ngày nên không cần xuống chợ nữa
ít xuống chợ nên không nắm đợc giá cả thị trờng do đó khi đem cácsản phẩm họ đem ra bán chỉ bằng một nửa giá thị trờng nhng ngợc lại khi muanhững đồ dùng khác thì họ phải mua với giá gấp đôi
Thực tế đó cho chúng ta thấy,thị trờng trao đổi buôn bán của ngời Tháitrớc năm 1963 là rất khó khăn,đó là một trong những nguyên nhân kìm hãm
sự phát triển kinh tế của các dân tộc c trú của huyện Anh Sơn nói chung vàcủa tộc ngời Thái c trú ở đây nói riêng nên cứ kìm hãm họ mãi trong vòngluẩn quẩn, lạc hậu
Nghề thủ công của ngời Thái cũng nh các dân tộc ít ngời khác ở nớc tacha trở thành độc lập mà chủ yếu là nghề phụ Tuy vậy nghề trồng bông dệtvải của ngời Thái ở Anh Sơn rất thành thạo tinh vi họ không chỉ dệt cho mình
mà còn dệt để trao đổi buôn bán với những c dân sống liền kề nh ngời Thổ,ngời Khơ mú, Hmông Nghề dệt vải đóng vai trò quan trọng trong đời sốngkinh tế ngời Thái
1.3 Vài nét về đời sống văn hoá, xã hội
1.3.1 Giáo dục, y tế
*Giáo dục
Theo gia phả của các dòng họ Lô, Hà, Vi, Lơng….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với tại các xã Thọ Sơn,Thành Sơn, Tờng Sơn ….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với trong mỗi dòng họ chỉ có vài ngời biết chữ Hán, sốngời này thờng trở thành Lang, Đạo và có thế lực trong đời sống của ng ờiThái Thời Pháp thuộc một số ngời Thái đi lính hoặc làm tay sai cho Pháp
có biết một số ít chữ Pháp và chữ Quốc ngữ còn đại bộ phận đàn ông, đàn
bà mù chữ Theo gia phả các dòng họ ghi lại thì đến năm 1945, số ng ời biếtchữ quốc ngữ trong cộng đồng ngời thái ở Anh Sơn có thể đếm đầu ngóntay
Từ năm 1946-1950,trong phong trào bình dân học vụ có khoảng 70% số ngời trong độ tuổi biết đọc, biết viết nhng những ngời trên 40-50 tuổitái mù là khá phổ biến
65-Từ 1951-1963, hệ thống trờng học cấp 1, cấp 2 bắt đầu đợc xây dựng vàphát triển trên địa bàn c trú của đồng bào thái ở Anh Sơn đã tạo ra nhiều bớcchuyển biến quan trọng Mỗi bản làng thờng có 5-10 em đi học cấp 1, 3-5 em
đi học cấp 2, số học sinh học cấp 3 rất ít
Trang 28Bảng thống kê sau đây cho thấy rõ điều đó
Bảng thống kê số học sinh ngời Thái ở Anh Sơn học cấp 1 từ 1963
1955-TT Năm Lớp vỡ lòng Lớp 1 Số học sinh đi học Lớp 2 Lớp 3 Lớp 4 Ghi chú
Bên cạnh đó thì hủ tục lạc hậu chữa bệnh bằng khài cúng đã ăn sâu vàotrong tiềm thức dân bản Mọi ốm đâu, bệnh tật (từ đơn sơ đến hiểm nghèo)
đều nhờ thầy mo làm phép, bệnh dịch lan tràn thì cho là ý trời Tình hình đódẫn đến việc tuổi thọ trung bình của đồng bào dân tộc Thái ở đây rất thấp,bệnh dịch thờng xuyên xảy ra ảnh hởng đến sức khoẻ của con ngời
1.3.2 Tín ngỡng, tôn giáo
Trang 29Tổ chức xã hội trớc năm 1963 của ngời Thái ở huyện Anh Sơn vẫn duytrì một chế độ xã hội khá hoang sơ, chủ yếu giải quyết các việc trong bản làngbằng lệ làng Con ngời gắn bó với nhau và duy trì cộng đồng của mình chủyếu bằng những thiết chế và tập quán nguyên thuỷ sơ khai hoặc sơ kỳ phongkiến.
Đơn vị hành chính nhỏ nhất là bản, mỗi bản thờng có từ 20- 25 hộ gia
đình, các gia đình thờng có họ hàng dòng tộc với nhau Để duy trì trật tự, luậttục, lề thói mỗi bản thờng có một già làng Già làng là ngời có uy tín, tuổi táckinh nghiệm do dân bầu ra chứ không phải cha truyền con nối Đây là vị tríbao hàm ý vinh dự chứ không bao hàm quyền lợi đợc dân bản tôn kính, phụctùng một cách tự giác vô điều kiện Nhiệm vụ của già làng bao gồm các côngviệc xã hội nhằm duy trì trật tự bản làng, chủ trì việc cúng ma bản hàng năm,giải quyết các xích mích bất hoà trong bản Chỉ huy việc di chuyển nơi c trú,
đi săn bắn hoặc mâu thuẫn các dân tộc khác
* Về tín ngỡng:
Quan niệm về vũ trụ và các then ở Mờng Trời.
Về tín ngỡng dân gian : họ cho rằng có trời có đất họ quan niệm đất 5góc, trời 4 góc, trời nh chiếc vung màu xanh úp lên mặt đất.Vì thế đất trời đều đ-
ợc gọi Mờng.Đứng đầu Mờng Trời là Mờng Phà hoặc Mờng Then dới MờngThen là vua then chúa mờng là con Bọ Phà, dân bản phải thờ Bọ Phà tức là thờchúa đất, dới trời cò các then giúp việc nh: Then sấm chớp, then theo dõi việchình sự, then gây bão lụt, then quản lý đất đai Các then trên có liên quan đến
đời sống và phong tục tập quán của ngời Thái ở huyện Anh Sơn nói riêng và cáchuyện miền núi thuộc miền Tây Nghệ An nói chung
Theo quan niệm của ngời Thái ở Anh Sơn thì các then chia nhau caiquản theo thứ tự các thứ bậc Các dòng họ quý tộc do các then Khâu Châu caiquản các dòng họ dân thờng do các then Thởng Noong, Thao Noong, ThNoong quản lý Ngời Thái ở Anh Sơn quan niệm các họ nh họ Lơng, Họ Lò,
Họ Vi là họ quý tộc, các họ nh họ Văn, họ Lô là dọ dân thờng Và họ còn quy
định Then Ná phụ trách mọi việc trong lĩnh vực tâm linh Trong đời sống tâmlinh họ chia 2 loại tín ngỡng, đó là tâm linh Mờng Đất và tâm linh Mờng Trời,một thế giới ở Mờng Trời cũng sinh hoạt có sự quản lý và xử phạt riêng và đốivới họ đó là một thế giới mơ hồ lý tởng vừa là thiên đờng vừa là mặt đất, vừa
là hiện thực vừa là ớc mơ và mang nhiều yếu tố tởng tợng hoang đờng thể hiện
Trang 30khát vọng hấp dẫn với đồng bào Thái ở Anh Sơn Từ năm 1963 về trớc khi mà
sự tiếp cận văn hoá khoa học kỹ thuật với họ còn xa vời và ít nghĩ tới
Bên cạnh Mờng Trời thì đối với ngời Thái còn có Mờng Đất ở Mờng
đất thực tế hơn ở Mờng Trời, ở đó họ có tỏ chức xã hội sâu xa Đứng đầu ờng Đất thờng là các dòng họ quý tộc nh họ Lô, họ Lơng, Vi Dòng họ nàycho rằng tổ tiên của mình là con trời, nên đợc tôn trọng uy nghiêm.Vì thế họ
M-tự cho mình làm chủ phần hành chính, lễ nghi, đất đai thuỷ thổ trong rừng
D-ới Mờng lớn có các Mờng nhỏ ở mỗi Mờng nhỏ có 1 ngôi nhà trung tâm đểthờ ngời khai khẩn đất đai và dựng bản Mờng, ngôi nhà đó gọi là Phi Tến Đa
số những ngời đựơc thờ cúng ở đền ở trong các dòng họ quý tộc [5,408] Khicúng Mờng họ chỉ mời những ngời thuộc dòng họ này đến lễ, mỗi bản Mờngthờ nhiều hồn: Hồn rừng núi, sông suối, đồng ruộng, hồn dân bản nhng trong
đó có một hồn làm chủ ví dụ nh ở Bản Bộng xã Thành Sơn thì hồn chủ là hồncon sông Con, hàng năm vào tháng 2 họ tổ chức lễ cúng hồn sông mong cho
ma thuận gió hòa con sông không nổi giận gây lũ cuốn trôi nhà cửa, súc vậtcủa họ ở bản Vĩnh Kim thì thần Kim Nhan, Thần Khe Sừng, bản Già hóp thìthờ thác ồ ồ Một số bản không có nhng nó luôn nằm trong tâm thức củangời Thái vì đó là yếu tố tâm linh của họ để mỗi khi gặp chuyện không mayhoặc gặp chuyện bất thờng họ có chỗ dựa tinh thần
Một trong những đặc điểm tín ngỡng của ngừơi Thái là trong mỗi gia
đình có một bàn thờ tổ tiên thờ ma nhà còn gọi là ma xó, họ quan niệm rằngmình ăn gì thì ma nhà ăn nấy và ma nhà sẽ phù hộ cho con cháu họ
Nh vậy trớc 1963 thì hệ thống thần linh đợc ngời Thái ở Anh Sơn thờgồm:
Thờ cúng trời đất
Thờ ngời khai phá bản MờngThờ ngời dựng bản
Thờ ma nhàNgời Thái ở Miền Tây Nghệ An nói chung, Anh Sơn nói riêng có đờisống tín ngỡng khá đa dạng, phong phú Họ thờ vật tổ, thờ thần núi, thần sôngnúi, thần sấm sét, thần ma, thờ ngời lập ra bản, dựng làng, thờ tổ tiên Ngaytrong thờ ma họ còn có quan niệm là ma hiền và ma ác Ma hiền giúp mùamàng tốt tơi, vật nuôi chóng lớn, con cháu khoẻ mạnh, ông bà sống lâu, ma ácthờng đem đến ốm đâu, bệnh tật cho ngời và vật nuôi, làm cho mùa màng thất
Trang 31bát, trong bản hay có cháy nhà, mất đoàn kết Ngời Thái ở đây tin rằngkhông chỉ núi sông mà ngay cả những cây lớn cũng có hồn Điều này thể hiệnkhá rõ nét trong đời sống của đồng bào Thái, chẳng hạn: Săn đợc một con thú,
họ phải để phần để cúng thần rừng, đau yếu nhờ thầy mo đến cúng, khài để
đuổi con ma ra khỏi ngời bệnh, đám ma có cả ca hát nhảy múa, vì họ cho rằnglàm nh vậy hồn ngời chết đỡ buồn và không về quấy phá ngời sống, lấy huyệt
mộ dùng đôi đũa và quả trứng, nắng hạn thì cầu ma Trong xã hội ngời Thái
ở Anh Sơn thầy mo có một địa vị hết sức quan trọng, mọi ngời đều tôn trọng
Ông mo Môn (Mo 1) có phép cao, phép nhiều có thể đuôi đợc tà ma ác quỷ,nói chuyện với thần linh Thầy mo có thể lấy ba, bốn vợ, các bà vợ đều ởchung một nhà Thầy mo ăn cơm vào mâm riêng, vợ con không cùng ăn vớichồng hoặc cha Khi đau yếu hoặc có ngời chết, thầy mo hớng dẫn chủ nhàsắm đủ các loại lễ vật sau đó đến cúng, khài Trong các lễ hội ông mo làm lễ
tế trời đất, thần linh, nói chuyện với thế giới thần linh qua các bài văn cúng,
tế, dài bằng ngôn ngữ Thái [5,415] Đồng bào Thái ở Anh Sơn trớc đây còn tin
là có bùa phép Chẳng hạn: Họ tin rằng thầy mo có thể làm bùa yêu từ một vật
đơn giản nh vài rợi chỉ, con thoi dệt vải, cành cây có thể làm cho con trai,con trái cha hề quen biết yêu nhau Hay khi săn đợc Hổ ngời Thái đốt toàn bộria mép vì sợ ngời ác đa ria mép Hổ về nuôi thành con thuốc độc để hại ng-
ời
1.3.3 Các phong tục tập quán
Ngời Thái có nhiều phong tục tập quán trong đó tiêu biểu nhất là lễ tếttrong đó tiêu biểu nhất là lễ tết cổ truyền Theo phong tục tập quán của ngờiThái thì ngày lễ tết cổ truyền cũng là ngày ăn cơm gạo mới đựơc diễn ra vàonhững ngày cuối tháng 10 âm lịch hàng năm theo lịch Thái là tháng 6 Thờigian đó đồng bào nghỉ ngơi để sau đó phát rẫy làm nơng nhng từ năm 1963
đến nay thì lễ tết này trùng với tết Nguyễn Đán
Để chuẩn bị cho ngày tết này vào mùa gặt đồng bào để giành một số lúanon luộc chín phơi khô cất đến ngày ăn cơm mới mang ra hông lên Đó là lễvật cúng tổ tiên không thể thiếu đợc trong ngày cúng cơm lúa mới
Bên cạnh xôi là món cá, đây là lễ vật không thể thiếu tốt nhất là có cá tơicòn không thì cá hông còn nếu không có cá hông thì cá phơi khô để trên gác bếp.Ngoài ra ngời Thái ở Anh Sơn còn làm các món bánh để cúng Mờng và tổ tiên
ông bà nh Bánh Chng, bánh Dày, bánh rừng dê, bánh rán v.v….văn hoá Thái còn thể hiện trong nghệ thuật ẩm thực với
Trang 32* Về phong tục sinh đẻ: Do điều kiện sinh hoạt khó khăn nên trớc năm
1963 ngời phụ nữ mang thai và sinh con còn rất lạc hậu Để bảo vệ thai ngén
họ buộc phải kiêng khem nhiều điều vô lý Ví dụ: Phải đội nón lúc ra khỏinhà, kiêng ăn thịt vịt, ngỗng, không ăn nhộng, không uống nớc nóng, không
ăn thịt ếch, về gia vị thì không đợc ăn hành, không đợc ăn nóng về sinh hoạtthì không đựơc đứng ở ngỡng cửa, không ngồi ở cối giã gạo, không nằm sấp,không đợc mặc áo đỏ Tắm gội thì phải gội đầu và chải tóc vào chậu nớc có
đuôi lơn, kiêng không đựơc ăn vụng, chơi mắng, kiêng ăn thịt trâu, thịt lợnxảo [5, 339]
Đến ngày đẻ trớc cửa buồng thờng treo một mảnh chài cũ hoặc mộtmảnh phên bằng tre đan theo lỗi mắt cáo nhằm để xua đuổi hoặc ngăn chặn
ma quỷ hoặc vía khách lạ
Trớc 1963 phụ nữ Thái thờng đẻ ngồi, họ lấy các loại cây cỏ dày, bềnbện lại cho sản phụ ngồi lên đó, con đã ra đời mẹ vẫn phải ngồi hoặc nằm trêncác loại cỏ cây ấy, sau đó uống một ấm nớc lá, ra suối tắm và làm những côngviệc bình thờng
Đỡ đẻ bằng kinh nghiệm của một bà đỡ nhiều tuổi dùng một số bùaphép để đỡ đẻ, sau khi thai nhi ra đời bà đỡ lấy cái lách bằng nứa cắt rốn Nếusản phụ khó đẻ thì bà đỡ nhờ bà mo đến làm phép, thông thờng rất nguy hiểm
* Hôn nhân: Thông thờng ngời Thái thực hiện chế độ hôn nhân 1 vợ 1
chồng Từ năm 1963 về trớc chủ yếu là do đôi lứa tìm hiểu nhng phải đợc sự
đồng ý của 2 họ phải môn đăng hộ đối với đẳng cấp dòng họ vì nó liên quan
đến tục lễ cới hỏi Trớc đây đám cới của ngời Thái diễn ra rờm rà , tốn kémvới nhiều nghi thức phức tạp
Các bớc của hôn nhân:
Trang 331 Chiết xáo (giao ớc) thông thờng lễ vật giao ớc là một cái vòng tay,
vòng cổ bằng bạc, cô gái trao lại tấm khăn hoặc vật trang sức chàng trai cầm
kỷ vật tha với bố mẹ rồi xin bố mẹ đi hỏi làm vợ Đợc bố mẹ đồng ý rồi thì họtìm 2 ngời già trong bản làm ông mối, bà mối Thờng là ông mối, bà mối chịutrách nhiệm bàn bạc với nhà gái và chịu trách nhiệm tất cả các nghi lễ liên quan
đến cới hỏi Họ thay bố mẹ trông coi việc thực hiện các lễ tục
2 Lễ chạm ngõ:
Lễ vật 2 bó trầu, 2 bó rễ chay, 2 xâu cau, 1 chụm rợu cần, 2 chai rợuxiêng thờng đựơc tiến hành về đêm Nếu nhà gái ng thuận thì nhận không ngthuận thì nhờ ngời trả lại
4 Lễ ăn hỏi:
Thành phần đi hỏi gồm bố mẹ, anh chị ông bà mối số chăn trên 10 ngời,
lễ vật thờng là chum rợu cần, 2 vò rợu xiên, một số ống cơm lam, ống cá ớpchua, trầu , cau vỏ , con lợn , gạo nếp, 1 nén bạc
Nhà gái mời húng tá tại hôm đa lễ ăn hỏi này ông mối thay mặt nhàtrai tha chuyện, ông ngoại thay mặt bố mẹ cô gái tiếp chuyện và bằng lòng
sẽ cho cới, định đồ dân cới và định cả ngày cho chàng trai sang ở rể tục ở rểthờng
ở rể tạm thời, ở rể định ngày, ở rễ lâu dài, ở rể 3 năm thì đợc trừ hếttiền cới, ở rể 5 năm, khi ra ở riêng thì đợc chia một phần tài sản của nhà bố mẹvợ
5 Lễ cới và các bớc:
a Lễ nạp đồ dẫn cới
b Đám cới tại nhà gái có: Tục rớc rể, tục lễ tơ hồng, tục chuẩn bị đadâu
c Đám cới ở nhà trai có: Tục đa dâu, tục cúng ma ở nhà trai, tục chào
họ nhà trai và liên hoan
6 Những tục lệ sau đó: Tục trả ơn ông mối, tục chào họ, tục trả dấu chân.
Trang 347 Những ngoại lệ : Cới thay, cới mua, cới chạy, cớp vợ
* Làm nhà mới:
a Cách chọn đất làm nhà:
Lấy một bát nớc trong và thả mấy que tăm, dùng đĩa đậy lại đem đặt cảvào hố đào sẵn nơi định làm nhà và khấn theo yêu cầu Khi đặt chỉ một mìnhgia chủ hay ông mo thấy que tăm nằm sóng theo chiều nào thì ở theo chiều ấy,hoặc lấy một nắm lạt vặn lại với nhau đặt xuống chỗ định làm nhà, chân đạpmột đầu, một đầu để nguyên rồi khấn Nếu thấy những chiếc lạt vòng tiếp bệnlại với nhau thì làm nhà ở đó đợc
b Các tục lệ trong quá trình làm nhà:
- Lễ cúng ma nhà và thổ công, lễ đặt bạc
- Lễ trả công bứt tranh
Nhà sàn của ngời Thái thờng rât rộng, mỗi nhà thờng phải lợp từ 7 đến
8 nghìn cái, tranh có thể là cỏ hoặc nứa hoặc lá cọ Theo quy định tất cả đàn
ông trong bản ai cũng phải tự mình mang tranh đến leo lên nhà lợp cho gia
đình có nhà mới nên chủ nhà thờng làm lễ trả ơn thể hiện sự tơng trợ lần hồilẫn nhau trong bản Hôm làm lễ phải hông dăm hông xôi nếp và mổ con lợncúng ma nhà, nếu xôi thịt ăn không hết, mâm ít, mâm nhiều dồn lại đem chia đềucho những ngời đóng phần tranh, phần nứa Chủ nhà cũng đợc phần nh mọi ngờikhác ăn xong bao giờ cũng có uống rợu cần, hát nhuôn xuôi
- Lễ dọn nhà mới:
Làm xong nhà chọn ngày lành tháng tốt bà con tổ chức dọn đến nhàmới, trong lễ này với đồng bào TháI thì vai trò ông cậu rất quan trọng Trớckhi vào nhà ông cậu dẫn đoàn ngời chủ nhà đi đầu, theo sau là bố mẹ, anh em
họ hàng đi qua nhà 3 vòng, chủ nhà mang theo dao rạ tợng trng cho ma bếp.Dạo xong mọi ngời mới lên nhà sàn, sau đó chủ nhà mới cúng tổ tiên, cúngxong là phần lễ uống rợu khắc luống cầu mong cho sự no đủ ấm áp
Tiếng cồng chiêng và tiếng trống lại rôm rả hoà với giọng hát đối đáptheo các làn điệu lăm khắp, nhuôn xuôi, đằm thắm hứng khởi
*Tang ma:
Quan niệm:
Đám ma và các tập quán trong một đám ma, về nhiều mặt, đó là mộthiện tợng văn hoá mang sắc thái riêng của một cộng đồng dân tộc Dù phứctạp hau giản đơn, lạc hậu hay văn minh, đám ma nào cũng phán ảnh những
Trang 35quan niệm về tôn giáo, tín ngỡng, phong tục trong mỗi quan hệ giữa con
ng-ời với con ngng-ời, con ngng-ời với tâm linh của từng dân tộc
Do coi trọng việc thờ cúng tổ tiên (ma nhà) nên với ngời Thái ở AnhSơn tập quán về tang ma thờng đợc tổ chức thật chu đáo, nhất là ngời chết lại
là chủ gia đình
Tất nhiên mức chu đáo của một đám ma còn tuỳ thuộc vào địa vị xã hội
và khả năng của từng gia đìn, nhng bao giờ đám ma cũng đợc tổ chức linh
đình, vì đồng báo yên trí rằng, ngời chết có ảnh hởng đến sự yên vui, thịnh ợng của con cháu
v-Cũng nh các dân tộc khác ở miền Núi Việt Nam, lễ tục trong đám macủa ngời Thái ở Anh Sơn dựa trên lòng tin về sự tồn tại của linh hồn sau khichết, về sự tiếp tục đầu thai mãi mãi, về sự cuối cùng hồn đợc hởng sự th thái,niềm hạnh phúc Cùng với lòng tin này là sự quý trọng di hài của ngời mà hồnvừa lìa khỏi xác
Nhìn chung nghi lễ về tang ma có tính cấch cổ truyền thờng đợc cửhành theo những thể thức nh sau:
Quàn thi hài:
Khi trong nhà có ngời vừa tắt thở, đồng bào liền tắm rửa thân xác mộtcách cẩn thận bằng nớc nóng, rồi mặc vào những quần áo mới màu trắng haymàu đỏ, nếu là phụ nữ thờng đợc mặc 3 váy 2 áo, nếu là nam giới thì đợc mặc
ba áo, hai quần Những quần áo này thờng do ngời qua đời đã chuẩn bị từ trớc
và đê dành Màu đen bị cấm ngặt trong việc để tang Sau đó xác ngời chết đợcnằm trên một chiếc gờng nhỏ trải chiếu, có mảnh vải trắng , đặt dọc theo cáivăng của khung nhà (khự khoăn cái thứ hai, tình từ ngoài vào) cạnh "Sâuhoọng" và lấy ba đồng tiền và một nắm gạo bỏ vào lòng bàn tay (không bỏvào miệng) rồi mới buộc chân tay và vuốt mắt Ngời ta bọc xác ngời chết (bọckín cả đầu) trong một tấm vải liệm màu đỏ hoặc tấm thổ cẩm dệt bằng các sợivải mang nhiều màu sắc khác nhau, trừ màu đen, rồi lấy ba mảnh vải trắngbuộc lại Lúc đó ngời ta mới đặt một bàn thờ nhỏ trên một con gà nhép nớngchín, một bát cơm, một đôi đũa, một quả trứng luộc, một bát nớc và miếngtrầu Lễ cúng này mỗi này thay ba lần, sáng, tra, tối cho đến ngày đa ma vàorừng Ngời ta dùng sáp ong nặn những cây nến dài đúng bằng chiều cao củangời chết Những cây nến này đợc gắn vào cây cột Trong suốt thời gian xác
Trang 36quàn trong nhà, ngời ta đốt nến, mỗi lần chỉ đốt một cây, hết cây này thaybằng cây khác tr.364.
"Phà ơi,Bố hay mẹ tôi đã chết mất rồi ” [5, 423] Chỉ lúc đó trên sàn mới lêntiếng khóc, mới thổi kèn, đánh trống, đánh chiêng Và chủ tang giết ngay mộtcon gà, đa lên bàn cúng (đặt ở sân trớc) để thiết đãi ngời nhà trời đã về dẫnlinh hồn ngời chết đi Thời gian quàn xác trong nhà không nhất định vì còntuỳ vào việc định ngày mai táng do gia đình đã thoả thuận với thầy mo và tr -ởng bản Trớc dây thờng ba ngày sau khi chết
Phân công tổ chức đám ma:
Trong thời gian đó, dân bản chia ra nhiều nhóm:
Nhóm đi vào vùng nghĩa địa tìm nơi đào huyệt Đi cùng nhóm này có
ông mo luông và ngời con trai (hay con rể) Tay anh con trai cầm quả trứng gà
sống Đến một nơi nào đó mà ông mo cho là có thể cất mộ đợc thì khấn thần
đất nơi đó để xin một rẻo đất ngon lành cho ngời chết nằm, đồng thời cũngkhấn hồn ngời chết để xem hồn ngời chết có ng thuận không Khấn xong, ôngbảo ngời con trai cầm quả trứng quẳng bất cứ nơi nào, vừa quẳng vừa nói
"Ông (hay bà) thích chỗ nào thì chọn lấy" Quả trứng vỡ thì coi nh ngời chết
-ng chọn chỗ đó, -ngời ra liền đào huyệt; quả trứ-ng khô-ng vỡ thì lại nhặt lênkhấn lại bà quẳng nơi khác Trái với điều ngời ta thờng nghĩ, trờng hợp quảtrứng không vỡ khá nhiều
Một nhóm khác mang dao đi phát những bui cây trong rừng , mở đờngcho đám ma đi tới mộ Tuỳ con đờng đi từ nhà tới mộ dài hay ngắn, đờng đi cógập ghềnh, um tùm đầy lau lách, gai góc hay không mà công việc nặng nhẹ
Trang 37Một nhóm nữa cũng vào rừng tìm một thân cây để đục quan tài NgờiThái ở Anh Sơn đều làm quan tài bằng khúc gỗ gạo hoặc sung lộng ruột cùngvới nắp đậy Phía trên và phía dới quan tài phải đợc đẽo tròn.
Khâm liệm và thờ cúng tại nhà:
Khi khâm liệm, ngoài làm thịt con lợn để cúng còn phải bắt con gà đậpvào cột chính (sâu hoọng) cho chết, vật lông ngay, nớng luôn trên bếp để làm
lễ đa hồn ma ra suối tắm rửa rồi mới đa xác vào quan tài Quan tài, phải nằm ởgian ngoài thẳng góc với đòn nóc ở đầu quan tài thờng có một con dao nhọn
đợc thả mũi xuống Láng để yểm, không để ma ngoài cớp mất thi hài Phía dới láng ngay chỗ ngời chết nằm thờng giòng dây buộc lễ vật cho ngời nằm trên
đem lên trời Lễ vật đó có thể là con trâu, con bò hay con lợn Những con vậtnày thờng đợc buộc một lúc rồi mời đem giết thịt Tập quán ấy xuất phát từ
quan niệm "Côn mi họ, cọ mi vờn" (ngời có họ, cọ có vùng) [5,336] nên con
cháu, anh em phải góp cho ông hay bà, cha mẹ một ít lễ vật để nhập vào làng
ma của ngời chết Tuỳ theo khả năng của gia đình, lễ vật cho ngời chết có thể
là trâu, bò đối với nhà giàu, còn nhà bình thờng thì lễ vật nhỏ hơn (nhngkhông thể thiếu) là con lợn cho ngời chết mang đi
Nếu cha mẹ chết, mỗi ngời con trai và con dâu cúng một lợn, mỗi ngờicon gái và con rể cũng cúng một con lợn, anh em chung nhau một lợn Baonhiêu con trai con gái thì bấy nhiêu con lợn sẽ bị giết thịt Giết lợn cúng ngời
chết cũng đợc chia thành nhiều đợt Con lợn dới láng buộc cho ngời chết mang lên mờng trời gọi là "Mũ khoăn" Con lợn giết để thiết đãi làng ma ngoài nghĩa địa gọi là "mú long" Còn con lợn của cháu chắt, anh em ghi nhớ công lao, tỏ lòng thơng cảm với ngời chết gọi là "mu phàn khầu" Cứ theo
hạng mục cha mẹ, anh em mà quy định lễ vật cho ngời chết [5,367]
Đám ma của ngời Thái diễn ra một cách rất tốn kém về vật chất, những
lễ tục và ăn uống diễn ra rất phức tạp
Tất cả các bản ở Anh Sơn khi trong nhà nào đó có ngời qua đời, đồngbào thờng đón ông mo về cúng Khi nhận liệm cho ngời qua đời, ngời con traithờng đứng ở phía đầu thi hài, ăn mặc toàn đồ trắng, mình thắt một dây lngrộng bằng vải trắng, đầu đội mũ có hai sừng nhọn, tay cầm thanh kiếm để
đuổi ma quỷ (nếu không thì để trên đầu ngời chết nh đã nói trên) Những ngờicon trai khác và đàn bà thì đứng ở phía sau thi hài Đàn ông mặc toàn đồtrắng, đàn bà chỉ quấn trên đầu một vuông vải trắng có túm ba góc gọi là khăn
Trang 38tang, không một ai trong số những ngời này trong gia đình đợc phép bỏ chỗ
đứng bất kỳ vì lý do gì, trừ những việc thật cần thiết Họ phải ăn uống và ngủngay tại chỗ, ngoài ra phải tiếp khách đến viếng
Việc tang lễ diễn ra liên tiếp trong những ngày quan tài còn quàn tạinhà Với giọng "khóc đa" lâm ly thản thiết của ông mo, có sáo đệm (pi mốt),những ngời đang sống đợc hồi tởng lại lai lích công đức nuôi con cháu của ngời
đã tắt thở: Bắt đầu từ buổi thiếu thời đến bớc trởng thành, lấy vợ, sinh con làmrẫy, đi rừng, cày ruộng, săn bắn, tham gia việc xã hội Mỗi đoạn đời của ngờichết đợc mô tả rành rọt, xen kẽ những câu thể hiện quan hệ tình cảm với dòng
họ, bản mờng,bạn bè, sông suối, núi rừng, muông thú nghe rất gợi cảm, lâm ly,thảm thiết Đồng bào gọi đó là những bài "xống" hay bài "mo"
Ngời thân thích qua đời là một nỗi mất mát xót xa cho con cháu, anh
em trong dòng họ, bà con trong xóm làng, bởi từ nay vắng thiếu hẳn lời ăntiếng nói cùng những sinh hoạt của ngời quá cố Bài "xống" tác động đến mọingời làm cho ai cũng bùi ngùi, nhớ thơng, luyến tiếc
Sau bài "xống" ông mo lại dẫn linh hồn ngời chết trở về mờng trời.Trên bớc đờng "đi về mờng trời", linh hồn ngời chết đợc chứng kiến baocảnh xa lạ nhng đầy thơ mộng
Đó là những đoạn đờng có cây cối xum xuê, cành lá gieo nhau đanthành vòm cổng đi suốt ngày cha hết Những bản làng mà linh hồn đựơcchứng kiến trên đờng đi, đâu đâu cung vui vẻ hiếu khách Đến mờng Trời , ng-
ời chết ngỡ ngàng trớc cảnh xa lạ và đẹp mắt của thiên nhiên cùng cành trùphú của bản mờng Ngời nhà trời dẫn ngời chết đến nhập vào một bản mớitrong mờng Trời Đó là một thế giới:
Đám ruộng lớn có 4 vạn ngàn rãnh khơi nớc;
Đám ruộng rộng có 180 cái chuôm cho cá trú,
Đồi săng liền bãi cõ,Bụi mét bên dọc đờng có ngời thờng ngồi nghỉ hóng bóng nhâm.Quạt che mặt, ta ngắm xem cánh đồng
Quạt che mắt, ta nhìn xem mờng bảnThấy nắng ở cánh đồng nắng vàngNắng ở đồi ruộng nắng nồngTrời oi bức, ta lấy dù che lngTrời nắng đen nắng đỏ, ta lấy nón che đầu
Trang 39Thôi, ta với ta, nhai tạm miếng trầuRồi ta lại quay mặt đi hớng tiếp
Chỗ nào cũng mênh mang cũng lạ mắt [5,369]
Thực chất bài cúng của ông mo là một truyện thơ Nó phản ánh khá rõràng nhân sinh quan của ngời Thái về một xã hội ở Thiên đờng, nơi tiếp nhậnlinh hồn của con ngời khi trở về với tiên tổ Với bài "xống" này, ta thấy ngờiThái quan niệm: Con ngời không chết, họ trở về nơi họ phải về Đó khôngphải là Thiên đờng sung sớng mà con ngời khát vọng mau chóng đợc trở về;cũng không có gì đáng sợ vì phải chịu những hình phạt của quỷ sứ, chó ngao
nh quan niệm của Kitô giáo hay phật giáo Truyện thơ cho ta rõ nhân sinhquan tốt đẹp mà đồng bào Thái mong muốn cho con ngời đợc hởng hạnh phúccả trong cuộc sống nơi trần tục lẫn khi đã nhắm mắt
Đêm trớc ngày đa ma:
Cái đêm trớc ngày đa ma, dân bản và bà còn xa gần đến viếng tự làmtrò vui nh "khắp thạ", 'lăn thạ" (hát đố), "khắp ké khắp khang" (hát đối đáp),múa trống múa chiêng (điệu riêng cho đám ma), múa sạp, đeo mặt nạ diễn 'tròhái nấm", "trò bắt dê", cả đánh vật nữa, để làm cho " con ma nó vui" tr ớc lúclìa khỏi nhà ra mờng Trời
Trớc đây đa ma, con rể phải làm cầu thang mới bắc thẳng với cửa sổ ởngay đầu sàn nhà cho lĩnh cữu đi qua, gia đình không có con rể thì phải lấy rểtrong họ, con trai không đợc làm cầu thang này và nhất thiết không đa ma quacầu thang cũ
Ngày đa ma:
Ngày đa ma, dâu và rể làm thịt và xôi rồi kết một cái mâm bằng tre hayghép bằng ván đa đặt trớc quan tài, đặt bảy cái bát không, một cái đĩa không,một cái đĩa có một miếng trầu, một vò rợu trấu nhỏ đã cắm cần Tất cả concháu, dâu rể, anh em trong họ đứng xung quanh cái mâm ấy, mỗi ngời nhặtmột miếng thịt hoặc một miếng lòng và véo một cục xôi Xôi bỏ vào đĩa, lòng
và thịt bỏ vào bát (3 bát đựng lòng, 4 bát đựng thịt), dù có đầy tràn xuốngmâm cũng đợc
Xong việc đó, rể và dâu ném còn Rể đầu và dâu đầu ném trớc (3 lần)rồi đến các rể và dâu khác Sau ném còn rể và dâu lại nhảy sạp Rể đập sạp đểdâu nhảy và ngợc lại Nhảy sạp xong ông mo vào đọc bài mo, đó là bài "mờihồn ăn lễ" Ông mo đọc xong, tất cả lạy ba lạy rồi ngồi khóc
Trang 40Tiếp đó, nhóm đội tuỳ đa đòn khiêng quan tài đến, đặt dới láng (sànnhà) Cùng lúc đa quan tài xuống láng, rể phải bng mâm cỗ vừa nói trên cùngvới con gà đã đập chết, làm thịt nớng lên đem cúng, treo ở "xâu hoọng" Đitheo quan tài xuống đến láng (sân) thì ai đó gõ một hồi chiêng và cất tiếng húdài để báo cho mọi ma đều biết Khi quan tài đã đựơc đặt vào đòn khiêng, concháu thắp các ngọn sáp, gắn vào đầu, chân và hai bên, rồi lạy ba lạy Khi quantài đã đợc khiêng lên, con cháu ngồi thành hàng cho quan tài khiêng qua đầu,
ba lợt nh vậy trên đờng đi hai lợt quay mặt đi, một lợt quay mặt về để ngáng
đờng, tục đó gọi là "nọn tang" (ngủ dọc đờng) Khi chuyển cửu, đồng bào ờng tổ chức ném còn, múa sạp đánh vật.Giã đờng, nơi tạm nghỉ (quan tài đặttrên một cái giá do rể đã chuẩn bị trớc) để ông mo đọc bài mo tiễn ngời chết
th-Có những bản đồng bào còn tổ chức đánh vật thi với nhau theo từng cặp giữatrai trẻ Ném còn, múa sạp, đánh vật đều là những sinh hoạt văn hoá mang tínhvui vẻ để xua nỗi buồn đau, thơng tiếc , làm cho "con ma" thấy vui mà đi theo,không luẩn quẩn lu luyến căn nhà mình đã c trú nữa
Hạ huyệt:
Khi đa quan tài đến huyệt, ngời con cả cởi áo tang quét tợng trơng balần ở đấy huyệt, vừa quét vừa nói: "Con đã quét dọn sạch sẽ, xin mời cha (haymẹ) đến ở " Khi hạ huyệt xong, ngời con trai cả liền rút dao, vừa vạch lên nắpquan tài ba đờng vừa nói: "Đây là nơi cha (hay mẹ) an nghỉ, con chỉ đờng này
là đờng lên trời, đờng này là đờng đi rẫy làm nơng, đờng này là đờng về thămcon, thăm cháu
Đắp điểm xong, trên nấm mộ ngời vừa qua đời, đồng bào dựng một nhàsàn nhỏ (nhà mồ), bậc cầu thang phải là số chẵn ngợc với bậc cầu thang ở nhà
là số lẻ Trong cái nhà sàn đó, ngời ta đặt mâm cỗ bng theo, treo con gà đãlàm lễ mang theo Sọ trâu nếu có đem theo thì đặt ở một gốc cây gần đó Rồicon gái thì trồng một cây cau và một bụi trầu không bên cạnh mộ Tất cả đều
đợc bao quanh bằng một hàng rào
Những việc sau đó:
Khi đã hoàn tất, con cháu, dâu rể, anh em trong nhà ra suối gần đótắm rả, gội đầu cho sạch sẽ rồi mặc quần áo ớt đi về nhà Lúc đó tang chủ vềtrớc lấy kéo ra đứng ở gần cầu thang, cắt mỗi ngời một vài sợt tóc (hoặc ítmóng tay) để vào cái mẹt Đó là tục "tặt phổm, đổm nầu" (cắt tóc chịu tang)
để thể hiện quan hệ thân tình với ngời quá cố