1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Truyện ngắn về để tài lịch sử trong văn học việt nam từ 1986 đến nay

138 1,3K 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Truyện Ngắn Về Đề Tài Lịch Sử Trong Văn Học Việt Nam Từ 1986 Đến Nay
Tác giả Hoàng Vĩnh Thắng
Người hướng dẫn PGS. TS. Đinh Trí Dũng
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Ngữ Văn
Thể loại Luận Văn
Năm xuất bản 2010
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 825 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong tiếng anh short làngắn, story là truyện, short story là truyện ngắn.. Biến cố của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phứctạp.. Truyện ngắn thời trung

Trang 3

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 2

3 Nhiệm vụ nghiên cứu 5

4 Phạm vi tư liệu khảo sát 5

5 Phương pháp nghiên cứu 5

6 Đóng góp của luận văn 5

7 Cấu trúc của luận văn 6

Chương 1 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TỪ SAU 1986 7

1.1 Khái niệm “Truyện ngắn” và “Truyện ngắn về đề tài lịch sử” 7

1.1 Khái niệm “Truyện ngắn” 7

1.1.2 Khái niệm “Truyện ngắn về đề tài lịch sử” 10

1.2 Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 13

1.3 Sự phát triển của truyện ngắn về đề tài lịch sử 18

1.3.1 Những điều kiện tạo tiền đề phát triển 18

1.3.2 Những dấu ấn cơ bản 23

Chương 2 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TỪ 1986 ĐẾN NAY - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN HIỆN THỰC VÀ CẢM HỨNG SÁNG TẠO 26

2.1 Tiếp cận hiện thực 26

2.1.1 Sự kết hợp giữa lịch sử và hư cấu 26

2.1.2 Sự khám phá con người cá nhân trong dòng chảy lịch sử 33

2.2 Cảm hứng sáng tạo 63

Trang 4

2.2.3 Cảm hứng suy nghiệm triết lí 82

Chương 3 TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TỪ 1986 ĐẾN NAY - NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN HÌNH THỨC NGHỆ THUẬT 93

3.1 Nghệ thuật xây dựng tình huống 93

3.1.1 Tình huống kịch 94

3.1.2 Tình huống luận đề 98

3.1.3 Tình huống tượng trưng 102

3.2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 106

3.2.1 Đa dạng trong điểm nhìn về nhân vật 106

3.2.2 Vận dụng “dòng ý thức” trong miêu tả tâm lí nhân vật 109

3.3 Giọng điệu và ngôn ngữ 113

3.3.1 Giọng điệu 113

3.3.2 Ngôn ngữ 122

KẾT LUẬN 126

TÀI LIỆU THAM KHẢO 129

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Lịch sử luôn là một đề tài lớn, một nguồn cảm hứng lớn cho sángtác văn học Suy nghiệm về lịch sử người ta không chỉ tìm hiểu về những gìđã xảy ra trong quá khứ mà còn khao khát tìm kiếm những gì “ như nó đãkhông xảy ra” IU.Lôtman khi bàn về bản chất của nghệ thuật đã có một nhậnxét thú vị: “Khi chúng ta nhìn về phía trước, ta sẽ thấy những cái ngẫu nhiên.Nhìn lại phía sau thì những cái ngẫu nhiên ấy lại trở thành quy luật Vì thế mànhà lịch sử hầu như luôn luôn nhìn thấy quy luật và như thế anh ta không thểviết được cái lịch sử như nó đã không xảy ra Thế nhưng trên thực tế, theo

quan điểm này thì lịch sử chỉ là một trong vô vàn con đường có thể đi Một

con đường đã đi đồng thời là một sự đánh mất các con đường khác Chúng talúc nào cũng tìm được một cái gì và đồng thời cũng đánh mất một cái gì Mỗibước ta đi tới đều là một sự đánh mất Và thế là chính ở đây ta bắt gặp tính tấtyếu của nghệ thuật Nghệ thuật cung cấp cho ta cuộc đi trên những con đườngmà ta đã không trải qua, tức là những gì đã không xảy ra Thế mà lịch sử củanhững điều không xảy ra lại là một lịch sử vĩ đại và rất quan trọng Nghệthuật bao giờ cũng là một khả năng thể nghiệm cái chưa bao giờ trải qua.Trởvề quá khứ, hành động lại và làm lại theo cách mới Nghệ thuật là kinhnghiệm về những điều chưa xảy ra Hay là kinh nghiệm về những cái có thể

xảy ra” [31] Nhưng cách viết, cách nhìn nhận về lịch sử qua mỗi thời kì, qua

mỗi thể loại đều có những khác biệt Nó chịu sự tác động của những yếu tốnhư thời đại, tài năng, phong cách nghệ thuật của nhà văn… và cả quy luậtvận động nội sinh của chính bản thân văn học Xem xét sự khác biệt ấy chínhlà một nhiệm vụ của giới nghiên cứu

1.2 Bối cảnh đổi mới của Việt Nam từ sau 1986 đã tạo điều kiện thuậnlợi cho sự phát triển của văn học nói chung và văn xuôi viết về đề tài lịch sử

Trang 6

Bên cạnh sự xuất hiện phong phú và đặc sắc của hàng loạt tiểu thuyết lịch sử,truyện ngắn cũng gặt hái được nhiều thành tựu ở mảng đề tài này Nhiều tácgiả, tác phẩm đã trở thành “hiện tượng” tạo ra những dấu ấn mang tính cáchmạng trong đời sống văn học Tuy nhiên, giới nghiên cứu phê bình dường nhưchỉ mới tập trung vào thể loại tiểu thuyết mà chưa dành sự quan tâm xứngđáng cho truyện ngắn Thực tiễn phát triển và giá trị tự thân của các tác phẩmtruyện ngắn về đề tài lịch sử giai đoạn từ 1986 đến nay đòi hỏi một sự tổngkết, đánh giá đầy đủ.

1.3 Đi sâu vào nghiên cứu truyện ngắn về đề tài lịch sử giai đoạn từ

1986 đế nay cho phép chúng ta giải mã những tác phẩm văn học trên cácphương diện nội dung và hình thức nghệ thuật mà còn xác định được nét độcđáo, vị trí và những đóng góp của truyện ngắn ở mảng đề tài thú vị này Từđó, đề tài cũng góp phần nhỏ vào việc đổi mới giảng dạy truyện ngắn ViệtNam sau 1975 trong nhà trường

2 Lịch sử vấn đề

Như trên đã trình bày, sự nghiên cứu đánh giá truyện ngắn về đề tài lịchsử giai đoạn từ 1986 đến nay là chưa nhiều và mang tính hệ thống Chúng tôitạm chia các bài viết về đề tài này thành hai nhóm:

2.1 Nhóm những bài viết về những tác giả, tác phẩm cụ thể

Trong số những tác giả sáng tác truyện ngắn về đề tài lịch sử, NguyễnHuy Thiệp là nhà văn được quan tâm nhất Sự đánh giá về tác phẩm của ôngrất phong phú, đa dạng, thậm chí trái chiều Nguyễn Nghĩa Trọng trong bài

viết Thử nhận diện văn học ba mươi năm qua nhận xét: “Nhà văn có “khuôn

mặt nhàu nát” này lại mở đầu cho xu hướng phân tích, chiêm nghiệm lịch sử

với chùm chuyện giả lịch sử: Phẩm Tiết, Kiếm Sắc, Vàng Lửa bằng quan

điểm riêng, không theo cách nghĩ chung, mở ra cho độc giả nhiều cảm nhậnkhác nhau, tạo nhiều đối thoại, tranh luận ”[30, tr 77] Nhà văn Nguyên

Trang 7

Ngọc có ý kiến: “Trong những truyện rất đa dạng của Nguyễn Huy Thiệp, cóhẳn một loạt truyện thường được gọi là mảng truyện ngắn lịch sử, đúng ra đấylà những truyện ngắn giải lịch sử, giải lịch sử ra khỏi những huyền thoại đã

được thêu dệt nhiều trăm năm về chính nó” [30, tr.175] Lê Huy Bắc khi viết

về “kỹ thuật nhại” của Nguyễn Huy Thiệp cũng khẳng định: “thành tích nhạiđáng kể nhất của Nguyễn Huy Thiệp dĩ nhiên là ở mảng truyện nhại lịch sử.Nhưng đây không phải là những sáng tác thành công của ông Bởi lẽ, suy chocùng, Nguyễn Huy Thiệp vẫn không thoát khỏi cái bóng của lịch sử ít nhiều,ông cũng chưa thực sự đoạn tuyệt với cái nhìn lí tưởng hoá nhân vật lịch sử

của mình” [30, tr.323] Lê Thanh Nga lại đề cập đến những vấn đề hiện thực

trong truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp [41] Những tranh luận, phê bìnhvề truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp được Lê Văn Dương tổng kết: “Về

mảng truyện lịch sử (Vàng Lửa, Kiếm Sắc, Phẩm Tiết) sự đánh giá là phân vân,

thậm chí hoài nghi trên các vấn đề: Truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp cóphải là hình thức để nhận thức lịch sử hay không? Những nhân vật lịch sử trongtruyện có phải là biểu tượng nghệ thuật đúng đắn với ý nghĩa thủ pháp nghệthuật hay không? Quan hệ giữa sự thực lịch sử và hư cấu? Phải chăng NguyễnHuy Thiệp có một Gia Long, một Nguyễn Huệ của riêng mình? Nguyễn HuyThiệp không đứng xa để ngưỡng mộ nhân vật lịch sử mà kéo họ vào khu vựctiếp xúc gần gũi để thấy mặt đời thường ở họ Nhà văn đặt mình ngang hàngvới nhân vật, với sự kiện lịch sử để quan sát và phát biểu về họ” [13, tr.103]

Về nhà văn Võ Thị Hảo với tiểu thuyết Giàn Thiêu (đã được nhà văn cấu trúc lại thành một số truyện ngắn trong tập Những truyện không nên đọc lúc nửa

đêm), các nhà nghiên cứu cũng có nhiều ý kiến Phạm Xuân Thạch trong bài

viết Suy nghĩ từ những tác phẩm mang chủ đề lịch sử khi nói về vấn đề “sự thật

lịch sử”, “tính chân thật sử” đã khẳng định vai trò của yếu tố hư cấu trong tácphẩm Lại Nguyên Ân đánh giá cao sự “dày công hư cấu, thiết kế lại quá khứ

Trang 8

để tạo nên da thịt liền mạch cho đời sống quá khứ được dựng lại trong tácphẩm” của Võ Thị Hảo Chính Võ Thị Hảo trong trao đổi cuối tập truyện ngắn

Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm cũng đã nhận xét về sáng tác của

mình: “đó là câu chuyện của ngày hôm nay được khoác chiếc áo bào lịch sử vàdã sử cách đây cả ngàn năm” [17, tr.299]

Về các tác giả khác, các bài viết là không nhiều Chúng ta có thể tìmthấy những đề cập ngắn gọn về thế giới nhân vật của một số truyện ngắn về

đề tài lịch sử như: Ấm Đường ở hội thi (Phạm Thái Quỳnh), Sông vẫn chảy

cuối trời (Nam Trung Hiếu)… trong bài viết Liêu trai hiện đại Việt Nam của

Trần Lê Bảo [30, tr.311]

2.2 Nhóm những bài viết, nghiên cứu khái quát

Ở nhóm bài viết này, các tác giả trình bày những vấn đề khái quát vềđề tài lịch sử trong văn học nói chung mà chúng ta có thể tìm ra những luận

điểm quy chiếu vào truyện ngắn Đó là các bài: Về nhân vật lịch sử trong

văn chương Việt Nam hiện đại của Phan Quý Bích [7], Nhà văn Hà Ân, đề tài lịch sử không bao giờ xưa [5] Công trình nghiên cứu công phu nhất là

luận văn thạc sĩ Những hướng tìm tòi của văn xuôi viết về đề tài lịch sử

trong văn học Việt Nam sau 1975 của Ngô Thị Quỳnh Nga [42] Luận văn

đã tổng kết được quá trình hình thành cũng như các hướng tìm tòi trênphương diện nội dung, hình thức của văn xuôi viết về đề tài lịch sử sau 1975nhưng do tính khái quát của công trình, phạm vi tư liệu khảo sát lại thiên vềcác tiểu thuyết lịch sử nên tác giả chưa đưa ra được những vấn đề cụ thể vàmang tích đặc thù của truyện ngắn

Trong phạm vi tư liệu mà chúng tôi có được, có thể nhận thấy, dù đượcquan tâm nhưng chưa có một công trình nghiên cứu qui mô nào về truyệnngắn về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam giai đoạn từ 1986 đến nay Tấtcả mới chỉ dừng lại ở những nhận định khái quát hay những bài viết ngắn về

Trang 9

một số tác giả, tác phẩm cụ thể Luận văn của chúng tôi cố gắng hệ thống lạibức tranh phát triển chung cũng như những đặc điểm và thành tựu cơ bản trênphương diện nội dung cũng như nghệ thuật của mảng truyện ngắn này để từđó xác định vị trí, giá trị cũng như đóng góp của chúng vào tiến trình đổi mớicủa văn học Việt Nam đương đại.

3 Nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Nhận định khái quát về mảng truyện ngắn về đề tài lịch sử trongbức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam sau 1986

3.2.Khảo sát truyện ngắn về đề tài lịch sử trên phương diện tiếp cậnhiện thực và cảm hứng sáng tạo

3.3.Khảo sát truyện ngắn về đề tài lịch sử trên phương diện hình thứcnghệ thuật

4 Phạm vi tư liệu khảo sát

Luận văn của chúng tôi tập trung khảo sát các truyện ngắn về đề tài lịchsử trong giai đoạn từ 1986 đến 12-2009 Ngoài ra, chúng tôi cũng tìm hiểutruyện ngắn về đề tài này ở các giai đoạn trước đó để có những so sánh, tìmhiểu các truyện ngắn nói chung giai đoạn từ sau 1986 để thấy được bức tranhphát triển chung trong đó có truyện ngắn về đề tài lịch sử

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng kết hợp nhiều phương pháp nghiên cứu như: thống

kê, phân loại, phân tích tổng hợp, so sánh, phương pháp lịch sử, cấu trúc hệ thống

6 Đóng góp của luận văn

Đây là luận văn đầu tiên nghiên cứu tương đối khái quát và toàn diệnđặc điểm cũng như giá trị của truyện ngắn về đề tài lịch sử từ 1986 đến nay

Trang 10

trên các phương diện tiếp cận hiện thực, cảm hứng sáng tạo và hình thứcnghệ thuật, qua đó xác định đường hướng vận động cũng như vị trí, đónggóp của mảng truyện ngắn này trong tiến trình phát triển của văn học ViệtNam đương đại.

7 Cấu trúc của luận văn

Ngoài các phần Mục lục, Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận

văn của chúng tôi được triển khai trong ba chương:

Chương 1 Truyện ngắn về đề tài lịch sử trong bối cảnh đổi mới của

truyện ngắn Việt Nam sau 1986

Chương 2 Truyện ngắn về đề tài lịch sử từ 1986 đến nay-nhìn từ

phương diện tiếp cận hiện thực và cảm hứng sáng tạo.Chương 3 Truyện ngắn về đề tài lịch sử từ 1986 đến nay-nhìn từ

phương diện hình thức nghệ thuật

Trang 11

Chương 1

TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TRONG BỐI CẢNH ĐỔI MỚI CỦA TRUYỆN NGẮN VIỆT NAM TỪ SAU 1986

1.1 Khái niệm “Truyện ngắn” và “Truyện ngắn về đề tài lịch sử”

1.1.1 Khái niệm “Truyện ngắn”

Thuật ngữ “truyện ngắn” có nguồn gốc từ tiếng Italia, “Novella” vớinghĩa gốc là một cái tin mới, một truyện mới Ý nghĩa căn bản của từ nàykhông căn cứ vào tính chất ngắn, nghĩa là không căn cứ vào khối lượng haydung lượng mà vào nội dung câu chuyện được kể Trong tiếng anh short làngắn, story là truyện, short story là truyện ngắn Người Trung Quốc gọitruyện ngắn là “Đoản thiên tiểu thuyết” Theo Bùi Việt Thắng, quan niệm vềtruyện ngắn thật muôn hình muôn vẻ và thống kê đầy đủ chắc chắn có đến cả

100 định nghĩa về thể loại “tự sự cỡ nhỏ”này Ở nhiều nước Âu Mỹ, cách hiểuvề truyện ngắn của E.Pô được thừa nhận như một cương lĩnh gồm nhữngnguyên tắc sau:

- Truyện cần phải hướng tới một ấn tượng nhất định

- Nó cần phải loại trừ những gì không quan trọng đến hiệu quả đã địnhtrước đó Truyện cần có một sự thống nhất triệt để

- Truyện cần ngắn nhưng không thể ngắn hơn cái mức người ta có thểhiểu ý đồ của tác giả

Bên cạnh đó các cuốn Từ điển Văn Học ở Việt Nam cũng đưa ra những

định nghĩa khác nhau về truyện ngắn:

- Từ điển Văn học (Tập 2 - Nxb KHXH, H.1984) xem truyện ngắn là

“hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏhơn tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay vài biến cố xảy

ra trong một giai đoạn nào đó của cuộc sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào

Trang 12

đó của tích cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội.Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian và thời gianhạn chế Biến cố của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phứctạp Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi khôngnghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật tưtưởng chủ đề khắc họa nét tính cách nhân vật đòi hỏi nhà văn viết truyện ngắnphải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén Do đó, trongkhuôn khổ ngắn gọn những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện đượcnhững vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn”.

Từ điển thuật ngữ văn học (Nxb ĐHQG, H.1998) mục từ “Truyện

ngắn” định nghĩa: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắnbao trùm hầu hết các phương diện của đời sống, đời tư, thế sự hay sử thinhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liềnmột mạch, đọc một hơi không nghỉ Tuy nhiên mức độ dài ngắn chưa phải làđặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tự sự khác Trong văn họchiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn nhưng thực chất là những truyện dài viếtngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng cũng rất gần với truyệnvừa Các hình thức truyện kể về dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyệncười, giai thoại lại càng không phải là truyện ngắn Truyện ngắn hiện đại làmột kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rấtriêng mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tươngđối muộn trong lịch sử văn hoá Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnhđời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thườnghướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệnhân sinh trong đời sống tâm hồn con người Vì thế trong truyện ngắn thườngcó ít nhân vật ít sự kiện phức tạp Và với mỗi nhân vật của tiểu thuyết là mộtthế giới thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện

Trang 13

ngắn không nhằm tới việc khắc họa những tính cách điển hình đầy đặn, nhiềumặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiệnthân cho một quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của conngười Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thờigian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó đặc sắcvề cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiềutầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặcliên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là chấm phá.Yếu tốquan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượnglớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưanói hết”.

Cuốn 150 Thuật ngữ Văn học cũng coi truyện ngắn là một “thể tài tác

phẩm tự sự cỡ nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết cácphương diện của đời sống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắnlà sự giới hạn về dung lượng; tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếpnhận (độc giả) đọc liền một mạch không nghỉ.Những nét riêng- có chuyệnvà ngắn - vốn đã có ở các tác phẩm thời trung đại, ở các hình thức kểchuyện dân gian nhưng truyện ngắn với đặc điểm thể tài riêng biệt chỉ thựcsự phát triển ở các nền văn học hiện đại, gắn với sự xuất hiện và phát triểncủa báo chí Với tư cách một thể tài tự sự, truyện ngắn hiện đại cũng nhưtruyện vừa, truyện dài hiện đại đều ít nhiều mang những đặc tính của tư duytiểu thuyết Tuy vậy, khác với truyện vừa và truyện dài vốn là những thể tàimà quy mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong sự toàn vẹn đầy đặn của nó -truyện ngắn thường nhằm khắc hoạ một hiện tượng, một đặc tính trong quanhệ con người hay trong đời sống tâm hồn con người Truyện ngắn thường ítnhân vật, ít sự kiện chồng chéo Nhân vật truyện ngắn ít khi trở thành mộtthế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn, thường khi là hiện thân cho một

Trang 14

trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của conngười Cốt truyện của truyện ngắn thường tự giới hạn về thời gian, khônggian, nó có chức năng nhận ra một điều gì sâu sắc về cuộc đời, về conngười Kết cấu truyện ngắn thường là gồm nhiều tầng truyện và thườngđược dựng theo kiểu tương phản hoặc liên tưởng Chi tiết và lời văn lànhững yếu tố quan trọng cho nghệ thuật viết truyện ngắn Lời kể và cách kểchuyện là những điều được người viết truyện ngắn đặc biệt chú ý khai thácvà xử lí nhằm đạt hiệu quả mong muốn” [4,359-360].

Như vậy, có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về truyện ngắn nhưng về

cơ bản chúng ta có thể rút ra được những nét đặc thù của thể loại này: Đây làmột thể tài tự sự cỡ nhỏ Nhỏ có nghĩa là từ vài trang đến vài chục trang, mộtcâu chuyện được kể nghệ thuật nhưng không được phép kể dài dòng, câuchuyện có sức ám ảnh, nghĩa là tạo ra một ấn tượng duy nhất mạnh mẽ đồngthời tạo liên tưởng ở người đọc Tính quy định về dung lượng và cốt truyệncủa truyện ngắn tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, cácsự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định Nhân vật truyệnngắn thường được làm sáng tỏ, thể hiện một trạng thái tâm thế con người thờiđại Chi tiết đóng vai trò quan trọng, nó có tính chất biểu tượng

1.1.2 Khái niệm “Truyện ngắn về đề tài lịch sử”

Trong cách nhìn của các trường phái triết học văn hoá thế kỷ XX, kháiniệm “lịch sử” (History -tiếng Anh, Histoire - tiếng Pháp) bao hàm:

1 Phương thức tồn tại trong thời gian, của con người và của loài người

2 Sự trần thuật về quá khứ như một hình thái văn hoá, một bộ mônchuyên biệt

Chính sự tồn tại trong thời gian đã mặc nhiên khẳng định sự tồn tại củacon người là mang tính lịch sử “Ý thức về cuộc sống và lĩnh vực tri thứcchuyên biệt dựa vào ý thức ấy, suy cho cùng, được nảy sinh từ đặc điểm của

Trang 15

việc nhân loại tồn tại trong thời gian Kẻ sống trong lịch sử không thể khôngcách này hay cách khác luận bàn về nó, chẳng hạn, do muốn cắt nghĩa tiếntrình các sự kiện đời mình Diễn ngôn lịch sử, vì vậy, được coi như một hiệntượng văn hoá độc lập” [4, tr.399] Nhưng rõ ràng rằng, “Diễn ngôn lịch sử”hay “trứ thuật lịch sử” khác biệt với các tác phẩm văn học về đề tài lịch sử.Nói đến các tác phẩm văn học về đề tài lịch sử tức là nói đến những tác phẩmmà trong đó có đặt mục đích tái tạo cuộc sống con người ở những thời đại đãqua “Tác phẩm nghệ thuật đích thực vốn thấm nhuần sâu sắc tính đương thời(tính thời đại): nó tái tạo những nét cốt yếu của thời đại mình, bất kỳ với đềtài nào Nhưng tính thời đại sâu sắc hữu cơ đó lại không phải là cái gì kháchơn là biểu hiện của chủ nghĩa lịch sử trong việc lĩnh hội cuộc sống bằngnghệ thuật, là năng lực của nghệ sĩ trong việc bao quát cái năng động và pháttriển của đời sống, miêu tả nó như là sự biến đổi quá khứ thành tương lai Chủnghĩa lịch sử của nghệ thuật khác với chủ nghĩa lịch sử ở khoa học Nhiệm vụcủa nghệ sĩ không phải là thể hiện tính quy luật của sự phát triển lịch sử mộtthời đại nào đó, mà là ghi chắc cái ánh xạ tinh tế của tiến trình lịch sử chung ởhành vi và ý thức những con người Nghệ thuật cần thể hiện nội dung lịch sửcụ thể trong tính hình tượng toàn vẹn của con người, và để làm điều đó khôngnhất thiết phải miêu tả những sự kiện lớn của thời đại” [4,404].“Sử học chỉ cóthể phán xét về những gì đã thực sự xảy ra Văn chương không hề bị lệ thuộcvào một sự phán xét như thế Đó cũng là chỗ văn chương có đề tài lịch sửkhác với sử học Nó không minh hoạ cho sử học mà đưa ra một lối diễn giảngmới về lịch sử” [7] Sự khác biệt giữa một bên là khoa học với một bên là vănchương ấy còn khiến người ta phải nhận thức: khái niệm lịch sử đặc biệt làlịch sử trong văn học viết về đề tài lịch sử là một mặc định tương đối Hoài

Nam trong bài viết Bàn về tiểu thuyết lịch sử (Văn Nghệ số 45- 2008) đã có

một kiến giải thú vị: Những tác phẩm viết về hai cuộc kháng chiến chống

Trang 16

Pháp - chống Mỹ - dù khoảng cách thời gian của sự kiện so với hiện tại ít nhấtđã trên 30 năm nhưng người ta gọi đó là những tác phẩm về đề tài chiếntranh cách mạng Nghĩa là khoảng cách thời gian giữa quá khứ và hiện tạinhư vậy chỉ đủ để có một “lịch sử gần” và viết về “lịch sử gần” thì chưa làmcho tác phẩm trở thành một sáng tác về đề tài lịch sử “chính danh” Phải lùilại nữa ít ra là từ thời Cần Vương trở về trước, lịch sử mới đủ “xa” tới mứcđể tác phẩm văn học viết về nó được độc giả công nhận là tác phẩm về đề tàilịch sử Dĩ nhiên không có một tuyên ngôn hay công thức để xác định xa,gần Nó hoàn toàn nằm trong sự mặc nhận và là cái “bất khả tư nghị” Từ đóông khẳng định: “Lịch sử sẽ không thực sự là lịch sử đối với con người hiệntại khi họ là người tham gia vào tiến trình tạo ra nó hoặc là người chứngkiến diễn biến của nó Lịch sử đích thực phải là “lịch sử xa”, thứ lịch sửmà con người hiện tại được thừa hưởng (hoặc phải chịu đựng) như một thắtbuộc định mệnh của quá khứ trong khi họ hoàn toàn vô can với nó (xét theohành vi)” [40].

Tất cả những viện giải đã nêu là cơ sở để chúng tôi đưa khái niệm

“truyện ngắn về đề tài lịch sử” của mình

Trong luận văn này, khái niệm “truyện ngắn về đề tài lịch sử” chỉnhững tác phẩm văn học mang trọn đặc trưng truyện ngắn lấy nội dung lịch sửlàm đề tài, làm cảm hứng sáng tạo nghệ thuật qua đó bộc lộ tư tưởng, quanniệm của tác giả Không gian, thời gian, nhân vật trong tác phẩm gắn với mộtsự kiện, nhân vật lịch sử cụ thể hoặc lấy bối cảnh một thời kì lịch sử đã quavới “độ lùi” nhất định Lịch sử là chủ đề, chất xúc tác, tác động đến toàn bộmạch chảy của truyện hoặc cũng có thể lịch sử chỉ được sử dụng như mộtphông nền, cái đinh móc để tác giả xây dựng một cốt truyện mới, là “khí cụđể vẽ lên những điểm tương đồng giữa quá khứ và hiện tại và do đó làm sángtỏ hiện tại” [16] Lịch sử trong truyện ngắn về đề tài lịch sử không còn là lịch

Trang 17

sử khách quan như nó vốn có mà bị khúc xạ qua lăng kính của nhà văn thôngqua những hư cấu nghệ thuật nhất định.

1.2 Bức tranh chung của truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986

Công cuộc đổi mới từ 1986 thực sự đã mang đến một luồng gió mới,một diện mạo mới cho đời sống văn học Việt Nam Đại Hội Đảng toàn quốclần thứ VI đã khẳng định phương hướng nhất quán là “tiếp tục phát triển vànâng cao chất lượng các hoạt động văn hoá, văn học, nghệ thuật; xây dựngmột nền văn hoá, văn nghệ XHCN đậm đà bản sắc dân tộc” Vai trò của vănchương nghệ thuật được xác định rõ ràng: “không hình thái tư tưởng nào cóthể thay thế được văn học và nghệ thuật trong việc xây dựng tình cảm lànhmạnh, tác động sâu sắc vào việc đổi mới nếp nghĩ, nếp sống của con người”.Nghị quyết đại hội bên cạnh đưa ra những định hướng về việc động viên sángtạo khuyến khích tài năng cũng như việc chú trọng khuyến khích tìm tòi vàthể nghiệm Cũng đồng thời yêu cầu “đẩy mạnh công tác phê bình văn học,nghệ thuật với tinh thần xây dựng, dũng cảm và vô tư, khắc phục thói nể nangvà khuynh hướng lệch lạc, loại trừ các biểu hiện thô thiển” Nghị quyết 05 củaBộ chính trị BCH TW khoá VI ngày 28-11-1987 về đổi mới và nâng cao trìnhđộ lãnh đạo, quản lí văn học, nghệ thuật và văn hoá, phát huy khả năng sángtạo, đưa nghệ thuật và văn hoá phát triển lên một bước mới, chính thức đượcban hành Nghị quyết thẳng thắn chỉ ra những khuyết điểm và nhược điểmcủa văn hoá văn nghệ trong thời gian qua Nghị quyết nêu rõ: “Với thái độnhìn thẳng vào sự thật, cần nhận rõ chất lượng và hiệu quả các hoạt động vănhoá văn nghệ còn thấp, tác phẩm văn học nghệ thuật có giá trị còn ít, tiềmnăng sáng tạo chưa được huy động đầy đủ, bệnh phô trương hình thức, côngthức sơ lược còn nặng” Với yêu cầu văn nghệ nước ta càng phải đổi mới tưduy, đổi mới cách nghĩ cách làm, nghị quyết đòi hỏi văn nghệ phải trở thành

“tiếng nói đầy trách nhiệm, trung thực, tự do, tiếng nói của sự thật, lương tri

Trang 18

của tinh thần nhân đạo cộng sản chủ nghĩa , phát huy chức năng hiểu biếtkhám phá, dự báo, sáng tạo, nắm bắt nhạy bén hiện thực đang diễn biến” Đặcbiệt, từ phương châm phải quán triệt sâu sắc quan điểm của Đảng là coi trọngcon người, nghị quyết chỉ rõ: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nêngiá trị đích thực trong văn hoá, văn nghệ, để phát triển tài năng Cần tạo mộtkhông khí hồ hởi trong sáng tác, khơi gợi nhiều cảm hứng sáng tạo cao đẹptrong các văn nghệ sĩ Khuyến khích văn nghệ sĩ tìm tòi, sáng tạo, khuyếnkhích và yêu cầu có những thể nghiệm mạnh bạo và rộng rãi trong sáng tạonghệ thuật”.

Những nghị quyết quan trọng đó đã thực sự “cởi trói” cho văn nghệ sĩ,là điểm tựa và cũng là cú hích cho sự phát triển phong phú, đa diện, sôi nổi vàhội nhập mạnh mẽ với văn học thế giới của văn học Việt Nam trong đó cótruyện ngắn Nối tiếp những cách tân được những ủ mầm từ những giai đoạntrước đó, truyện ngắn cùng với các thể loại khác đã tạo nên một cuộc chạytiếp sức không ngừng nghỉ cho sự thay đổi quyết liệt, toàn diện trong bứctranh văn học Việt Nam đương đại

Đánh giá về truyện ngắn Việt Nam từ sau 1986 - dù còn nhiều tranhluận nhưng hầu hết giới nghiên cứu phê bình cũng như sáng tác đều gặp gỡ ởnhận định: Đây là thời kỳ “lên ngôi”, “được mùa” của thể loại này với nhữngđổi mới rõ nét Bùi Việt Thắng, trong bài viết từ năm 1987 đã đưa ra mộtthống kê sơ bộ: Năm 1986, các nhà xuất bản trung ương và địa phương đã cho

in gần đến 200 tác phẩm văn học thuộc các thể loại (chẳng hạn gần 50 tập thơ,khoảng 40 tiểu thuyết và truyện ngắn cùng với số lượng không kém khoảngtrên dưới 50 tập) Từ đó ông nhận định: “Quả thực nếu 1985 là năm được mùacủa tiểu thuyết, thì 1986 truyện ngắn đã tả xung hữu đột trườn tới mọi nơitrong cuộc sống để phát hiện Hàng trăm truyện ngắn trong một năm, nhữngmảnh gương nhỏ phản chiếu sự phong phú của cuộc sống và hình ảnh đầy đặn

Trang 19

ấy cũng ngang với hình ảnh của một tấm gương lớn mà thể loại “nhỏ” đã tạo

ra trong việc phản ánh đời sống trong nhiều mặt của nó” [65] La Khắc Hoàthì đánh giá: “thành tựu nghệ thuật của văn học thời kỳ đổi mới được kết tinhở truyện ngắn và tiểu thuyết” [30,132] Nhà văn Nguyên Ngọc khi nhìn vàovăn xuôi Việt Nam hiện nay để soi chiếu “logic quanh co của các thể loại”cũng khẳng định: “Đây có thể coi là một giai đoạn có nhiều truyện ngắn haytrong văn học Việt Nam tiếp theo những vụ được mùa truyện ngắn nhưngnăm 60 là một vụ mùa khác trong chiến tranh Đặc điểm nổi bật lần này làcầm cái truyện ngắn trong tay có thể cảm thấy cái dung lượng của nó nặngtrĩu Có những truyện ngắn, chỉ mươi trang thôi mà có sức nặng có vẻ cònhơn cả một cuốn tiểu thuyết trường thiên Rõ ràng, trong các thể loại, truyệnngắn đã tiến được xa hơn cả” [30, tr.87]

Nhìn vào đời sống văn học, truyện ngắn quả thực đã tạo nên nhữngdấu ấn quan trọng, những tranh luận nhiều chiều Có nhiều nhà văn được xemlà những người “mở đường dũng cảm và tinh anh”, nhiều tác phẩm thực sựtrở thành hiện tượng mới mẻ, phức tạp, là chủ đề cho những tranh luận sôi

nổi, đa chiều Có thể kể đến Phiên Chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, chùm tác phẩm: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp, những

sáng tác của Phạm Thị Hoài, Võ Thị Hảo và gần đây nhất là một số sáng táccủa những tác giả trẻ như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu Dù ít dù nhiềunhững tác phẩm và cả những tác giả ấy đã “khuấy động” đời sống vănchương, đánh thức và thay đổi hệ hình tư duy sáng tác phê bình và tiếp nhận,

“buộc” người ta phải chú ý và nhận ra vai trò và sự hiện diện của truyện ngắntrong bức tranh “trăm hoa đua nở” các thể loại

Đội ngũ sáng tác của truyện ngắn giai đoạn từ 1986 đến nay nhìn chungđược phân cực thành các thế hệ Thế hệ được coi là “già” nhưng là nhữngngười có những nỗ lực và đóng góp cho đổi mới sáng tác như: Nguyễn Minh

Trang 20

Châu, Nguyễn Kiên, Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Xuân Thiều Thế hệ thứhai là những cây bút bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn trước đó nhưng tới giaiđoạn này họ mới thực sự đang tới độ chín tạo nên lực lượng sáng tác chủ đạonhư: Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Mạnh Tuấn, Lê Minh Khuê, Dương ThuHương, Dạ Ngân, Nguyễn Quang Lập, Trần Thuỳ Mai, Hồ Anh Thái, NguyễnThị Thu Huệ Những tác giả như Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư, ĐỗHoàng Diệu được xem là những người viết truyện ngắn thuộc thế hệ thứ ba.Bên cạnh cũng cần phải kể đến lực lượng sáng tác trẻ thuộc thế hệ 8X, 9X.Những sáng tác của họ mới chỉ là những “tác phẩm tuổi xanh” xuất hiện trênbáo chí và mạng internet nhưng cũng có nhiều hứa hẹn.

Nhìn một cách tổng quát, truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay có sựđổi mới, đa dạng về đề tài cũng như cảm hứng Truyện ngắn đã đi tiên phongtrong việc đề cập đến mọi mặt phong phú, bề bộn, phức tạp của đời sống.Điều đó giúp nhà văn phát hiện nhiều chiều về hiện thực, kể cả những điềutrước mà được xem là cấm kị Đi liền với đó là sự thay đổi quan niệm về mốiquan hệ giữa văn học và hiện thực Không còn bị trói buộc trong quan niệmphản ánh hiện thực thụ động, dẫn tới việc sùng bái hiện thực, hạ thấp vai tròcủa chủ thể sáng tạo Truyện ngắn không chỉ phản ánh thế giới thực tại màcòn có cả những thế giới do nhà văn sáng tạo, thậm chí là thế giới kì ảo,tưởng tượng Cảm hứng thế sự đời tư là cảm hứng chủ đạo của văn chươngđương đại trong đó có truyện ngắn Ở đó con người không phải được nhìn ở

tư cách công dân, giai cấp được quy chiếu bởi các giá trị cộng đồng mà conngười được được tiếp cận ở nhiều bình diện Con người được quan tâm đếnphần riêng, phần cá thể đến những bi kịch và mâu thuẫn nội tại Con ngườiđược soi chiếu đến tận cùng, những góc khuất những rung động và khao khát,phần tốt phần xấu, lí tưởng và bản năng Ở đó con người hiện lên với tư cách

“Mi là người bình thường”, “đời” hơn nhưng cũng “thực” hơn Từ nhận thức

Trang 21

và quan niệm mới về con người, truyện ngắn cũng xây dựng cho mình mộtthế giới nhân vật phong phú Có nhiều kiểu nhân vật mới, vốn chưa có hoặcxuất hiện rất ít trong các giai đoạn trước đó đã xuất hiện: nhân vật cô đơn,nhân vật bi kịch, nhân vật lạc loài, nhân vật kỳ ảo.v.v.

Thành tựu của truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay còn gắn vớinhững cách tân nghệ thuật Có thể xem ý kiến của Phạm Thị Hoài như mộttuyên bố về ý thức và nỗ lực cách tân của những sáng tác: “Nhà văn đã khôngbị câu thúc với điều gì thì cũng chẳng xem thể loại là quan trọng Ước mơcủa tôi khi viết truyện ngắn là: Không nhất thiết phải trông giống một truyệnngắn” [65, tr.167] Bên cạnh kiểu truyện ngắn truyền thống (hay còn gọi làtruyện ngắn cổ điển) người ta còn cải biến “làm mới” và sử dụng nhiều hơnkiểu truyện ngắn tâm tình và kiểu truyện ngắn kì ảo, truyện ngắn liên hoàn.Mặt khác, còn có sự xuất hiện của kiểu truyện ngắn rất ngắn (truyện ngắn mini), truyện ngắn nhại cổ tích, nhại ngụ ngôn Nghệ thuật trần thuật cũng cónhiều biến đổi Từ bỏ sự áp đặt một quan điểm được coi là đúng đắn nhất vìđó là quan điểm của cộng đồng, người viết có thể đưa ra nhiều quan điểmchính kiến khác nhau Điểm nhìn được dịch chuyển vào nhiều nhân vật đểmỗi nhân vật có thể tự nổi lên quan điểm thái độ của mình và để cho các ýthức cùng có quyền phát ngôn, cùng đối thoại Bên cạnh đó là sự thay đổi vaikể, ngôi kể, cách đưa truyện lồng trong truyện, sự đảo ngược và xen kẽ cáctình tiết không theo một trật tự thời gian duy nhất, nhân vật người kể truyệncó khi xuất hiện trong kiểu “không đáng tin cậy” Truyện ngắn tiếp cận hiệnthực với một cự li gần với thái độ “thân mật” dẫn tới hệ lời cũng đã thay đổi.Ngôn ngữ vì thế mang tính đời thường, đậm tính khẩu ngữ thậm chí suồng sã,thô tục Tất cả xuất phát từ một tinh thần dân chủ và ý thức cá tính của ngườicầm bút Nó tạo nên một đời sống văn học sôi động, phong phú và nhiều độnglực phát triển

Trang 22

1.3 Sự phát triển của truyện ngắn về đề tài lịch sử

1.3.1 Những điều kiện tạo tiền đề phát triển

Trong bức tranh truyện ngắn Việt Nam từ 1986 đến nay, người tathấy sự hiện diện đầy dấu ấn và sôi động của truyện ngắn về đề tài lịch sử.Theo thống kê chưa đầy đủ của chúng tôi, trong khoảng thời gian từ 1986 -

2009 đã có gần 200 truyện ngắn về mảng đề tài này trong đó có nhiều tácphẩm gây được chú ý của dư luận và độc giả Sự phát triển ấy không phảilà sự bùng phát nhất thời mà có căn nguyên sâu xa từ những điều kiện tạotiền đề quan trọng

Trước hết, nó xuất phát từ truyền thống viết về lịch sử của nền văn hoádân tộc Một nền văn hoá lớn là nền văn hoá có truyền thống và nội lực Ở đềtài lịch sử cũng vậy, không kể đến thời trung đại, nhìn vào diễn trình pháttriển của VH Việt Nam hiện đại, chúng ta cũng có thể nhận thấy sự đông đảovà phong phú của những tác phẩm viết về lịch sử Ngay từ giai đoạn đầu thế

kỷ XX đến 1945, hàng loạt tác phẩm nổi tiếng đã ra đời Có thể kể đến: Trùng

Quang tâm sử (Phan Bội Châu), Tiếng sấm đêm đông, Bà Triệu Ẩu, Hai Bà đánh giặc (Nguyễn Tử Siêu), Cái hột mận, Ai lên phố Cát (Lan Khai), Hòm đựng người, Loạn kiêu binh, Bà Chúa Chè (Nguyễn Triệu Luật), An Tư, Đêm hội Long Trì (Nguyễn Huy Tưởng), Lịch sử Đề Thám, Gia đình Tổng trấn Tả quân Lê Văn Duyệt (Ngô Tất Tố), Tiêu Sơn tráng sĩ (Khái Hưng), Phan Yên ngoại sử - Tiết phụ gian truân ( Trương Duy Toản), Oán hồng quần phùng Kim Huê ngoại sử, Tô Huệ Nhi ngoại sử (Lê Hoằng Mưu).v.v Dù được viết

theo tính chất “ngoại sử” hay “dã sử”, các tác phẩm thời kỳ này đều thông

qua đề tài lịch sử để thể hiện tinh thần dân tộc, khẳng định và cổ vũ lòng yêunước của nhân dân Cách viết vẫn còn in đậm dấu ấn của lối kể chuyệnchương hồi nhưng nhiều tác phẩm đã có sự chuyển biến theo tinh thần hiệnđại; không khí và màu sắc lịch sử được trình bày trên cơ sở tôn trọng sử liệu,

Trang 23

có sự kết hợp giữa tính chân thực lịch sử với hư cấu tưởng tượng, những nhânvật đã được khai thác ở khía cạnh tâm lí, tính cách Đây là sự khởi đầu vàcũng là điểm tựa cho sự phát triển của văn xuôi hiện đại viết về đề tài lịch sử.

Trong những năm từ 1945 - 1975, bên cạnh nhiệm vụ phản ánh, ca ngợihiện thực đấu tranh cách mạng góp phần vào công cuộc giải phóng tổ quốcvăn học cũng không lãng quên đề tài lịch sử Những tác giả tiêu biểu để lại

dấu ấn như Hà Ân (Quận He khởi nghĩa, Nguyễn Trung Trực, Trên sông

truyền hịch), Chu Thiên (Bóng nước Hồ Gươm), Thái Vũ (Cờ nghĩa Ba Đình, Huế 1885), Nguyễn Huy Tưởng (Lá cờ thêu sáu chữ vàng, Kể chuyện Quang Trung), Tô Hoài (Nỏ thần), Lí Thị Dung (Người vợ thủ lĩnh) Các nhà văn đã

từng bước vượt qua các quan niệm truyền thống khi viết về đề tài lịch sử Cáctác phẩm đã có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sử liệu và hư cấu để dựng nênkhông khí của thời đại Bên cạnh những nhân vật lịch sử “quen thuộc” còn cónhững nhân vật lịch sử được mô tả hoàn toàn khác lạ so với chính sử, sinhđộng và giàu sức sống nội tại

Trong giai đoạn từ 1975 đến nay, đặc biệt là từ sau 1986, người ta thấyxuất hiện một phong trào viết về đề tài lịch sử Bên cạnh hàng loạt những tiểu

thuyết nổi tiếng như: Hồ Quý Li, Mẫu Thượng ngàn (Nguyễn Xuân Khánh),

Bão Táp cung đình, Thăng Long nổi giận, Huyền Trân công chúa, Vương triều sụp đổ (Hoàng Quốc Hải), Giàn thiêu (Võ Thị Hảo), Gió lửa, Đất trời

(Nam Giao), Sông Côn mùa lũ (Nguyễn Mộng Giác), người ta không thể

không nhắc đến những truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, Trần Thuỳ Mai,Trần Thị Trường, Phạm Thái Quỳnh, Hồ Anh Thái, Nguyễn Khắc Phục, LêHoài Lương, Trần Vũ Không chỉ khai thác đa chiều về lịch sử các tác phẩmcòn đặt ra vấn đề “nhận thức lại lịch sử”, nối lịch sử với hiện tại trong sự liênhội mang đầy tính thời sự và hơi thở hiện đại Về mặt nghệ thuật, có thể xemý kiến của nhà phê bình Lại Nguyên Ân như một đánh giá khái quát: “Mười

Trang 24

năm gần lại đây, có thể thấy trên đề tài lịch sử những tìm tòi mạnh dạn hơn,vượt qua các quy phạm cằn cỗi, đem lại sinh khí cho văn chương về đề tàilịch sử” [6] Sự “phồn thịnh” của văn học viết về đề tài lịch sử chứng minhtruyền thống sáng tác của văn hoc dân tộc, đây là một trong những điều kiệnđưa tới sự phát triển của truyện ngắn về đề tài này trong văn học Việt Namđương đại.

Bên cạnh đó, theo chúng tôi, một trong những nguyên nhân đưa tới sựphát triển của truyện ngắn về đề tài lịch sử còn xuất phát từ những điều kiệnchính trị xã hội và tư tưởng Công cuộc đổi mới cải cách và mở cửa đã tạo ramột bước ngoặt đáng kể trong đời sống kinh tế chính trị của đất nước Nềnkinh tế phát triển theo hướng thị trường đã tạo ra những điều kiện vật chất, kỹthuật thuận lợi cho xuất bản, in ấn, phát hành Những rào cản dần được xoábỏ Đảng khuyến khích đổi mới tư duy, nhìn thẳng vào sự thật Đời sống củađại bộ phận được nâng cao rõ rệt Các quan điểm chính trị dần bớt nặng nề.Đời sống chính trị trở nên dân chủ, rộng mở hơn, cơ hội đối thoại với nhữngngười vốn trước kia thuộc hai chiến tuyến, nhu cầu muốn nhận thức lại đầy đủvà toàn diện hơn những gì đã diễn ra thực sự là một thôi thúc Đại hội nhà vănlần thứ V tháng 4/2000 trong phương hướng hoạt động của mình đã đề ranhiệm vụ: “Tiếp tục dòng chảy không đứt đoạn của ký ức văn hoá, hội nhàvăn tạo mọi điều kiện đẩy mạnh sáng tác về đề tài lịch sử và chiến tranh cách

mạng” (Báo cáo của BCH Hội nhà văn khoá V- Văn nghệ số 17 ngày

22.4.2000) Tuy nhiên, đi kèm với nền kinh tế thị trường là những mặt tráicủa nó Những giá trị đạo đức bị chao đảo, tha hoá, xuống cấp, sự chênh lệchvề thu nhập, sự phân cực về tư tưởng Tất cả tạo nên một bức tranh hiện thực

đa sắc, đa chiều và không kém phần phức tạp Người ta có thể tìm thấy sựtrùng lặp nào đó của những gì đã từng diễn ra trong lịch sử với cuộc sống bộnbề hôm nay Người ta không tránh khỏi những hồi cố, những so sánh trước

Trang 25

hiện tại Sự phát triển của công nghệ thông tin cùng luồng gió đổi mới dânchủ cho phép người ta tìm hiểu sâu hơn, đầy đủ hơn về quá khứ Đã có nhiềuhội thảo đánh giá lại những nhân vật lịch sử, đánh giá lại cả một vương triều.Nó cung cấp cho người sáng tác những cứ liệu xác thực, tin cậy và cả một

“khí quyển xã hội”để khai thác đề tài lịch sử Mặt khác, xã hội ngày càng dânchủ nhưng không phải bất cứ ai cũng được nói hết những điều mình nghĩ Vẫncòn tồn tại những “vùng cấm”, những “kị huý” nhất định Điều đó khiếnngười viết phải đi đường vòng, ôn cố tri tân, mượn đề tài lịch sử để kí thácnhững nỗi niềm đương đại

Sự phát triển của truyện ngắn về đề tài lịch sử còn có nguyên nhân từnhững ảnh hưởng tích cực của sự giao lưu văn hoá Nghị quyết hội nghị lầnthứ IV, BCH TW Đảng khoá VII đã đề ra định hướng: “Phát triển văn hoá vớinước ngoài, tiếp thu những tinh hoa của nhân loại, làm giàu đẹp thêm nền vănhoá Việt Nam” Nhờ những chính sách cởi mở đó, văn học Việt Nam có điềukiện hoà nhập với văn học thế giới Các cuộc giao lưu văn học, các hội thảo,toạ đàm văn học với nước ngoài được tổ chức thường xuyên hơn đã giúp nềnvăn học của chúng ta xích lại gần hơn với các nước Đây cũng là cơ hội đểchúng ta tự nhận thức đánh giá lại mình, xác định rõ vị trí, khả năng của vănhọc Việt Nam trong nền văn học thế giới Các chủ nghĩa, trào lưu, trường pháivăn học thông qua dịch thuật và Internet đã được tiếp cận, cập nhật Đó làđiều kiện để nhà văn được tiếp xúc với những công trình lí thuyết lớn Cáccông trình lí luận của M.Bakhtin, của chủ nghĩa hình thức Nga, trường pháivăn hoá lịch sử, chủ nghĩa cấu trúc, chủ nghĩa hậu hiện đại.v.v đã được giớithiệu và trở thành những nhân tố tích cực thúc đẩy sự phát triển của hoạt độngcủa nghiên cứu phê bình, góp phần giúp các nhà văn xác định đường hướngsáng tác, hình thành phong cách và bắt nhịp vào xu hướng vận động chungcủa văn hoá thế giới Thời đại công nghệ thông tin với sự phát triển mạnh mẽ

Trang 26

của các phương tiện thông tin, cũng đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trìnhgiao lưu hội nhập văn hoá Internet đã biến trái đất thành một “thế giớiphẳng”, mà ở đó mọi khoảng cách về không gian, thời gian được rút ngắn,thậm chí xoá bỏ Các Website văn học của các tổ chức hay cá nhân trở thànhkênh thông tin, giao lưu và tương tác giữa những người sáng tác nghiên cứuvà với cả độc giả, tạo nên một đời sống văn hoá sôi động, dân chủ hơn Cũngnhờ chính sách mở cửa, mối quan hệ giữa văn hoá trong nước và văn hoá hảingoại được xây dựng Đội ngũ sáng tác được bổ sung nhiều nhà văn ở nướcngoài, những người trực tiếp tiếp thu hệ tư tưởng và thành tựu văn học củacác nước phát triển Các tác phẩm của họ từng bước được giới thiệu đượcnhìn nhận và đánh giá trong một cái nhìn cởi mở, thân thiện hơn Đây cũng làmột tác nhân, một cầu nối quan trọng đưa tới sự hoà nhập và phát triển củavăn học Giao lưu văn học quả thực đã mang đến sự khởi sắc cho văn họcViệt Nam Sự tiếp thu những thành tựu hiện đại của văn học thế giới đã khơidậy khả năng sáng tạo của nhà văn, tạo nên sự mới mẻ trong đời sống vănhọc Đây chính là nền tảng để văn học viết về đề tài lịch sử trong đó có truyệnngắn mạnh dạn đổi mới cách viết của mình.

Có một nguyên nhân không thể không nhắc tới xuất phát từ những ưuthế về thể loại của bản thân truyện ngắn “Truyện ngắn tự nó đã hàm chứa cáithú vị của những điều sâu sắc trong một hình thức nhỏ xinh, gọn ghẽ vàtruyền dẫn cực nhanh những thông tin mới mẻ Đây là thể loại văn học có nộikhí “một lời mà thiên cổ, một gợi mà trăm suy” Truyện ngắn có khả năngsống và chớp lấy sự thật nếu không quá chăm chú vào cái đặc biệt độc đáo nổilên như một hiện tượng đời sống Sự thật ấy tiềm ẩn trong cái bình thường,trong những sự kiện hoàn toàn có thực bởi sự “truyền ngôn” chứ không phảilà “truyền thuyết” để đem lại cho truyện ngắn những con người thực sự và sựthật về con người” [44] Chính bản chất đặc trưng trên của thể loại đã cho

Trang 27

phép và buộc truyện ngắn phải vượt qua sự mô tả, kể lể dài dòng để nhanhchóng dồn nén lại, cô đúc đến đặc sệt hiện thực Nó trở nên một thể loại năngđộng, kịp thời với hình thức gọn nhẹ, luôn bắt kịp những vận động của xã hộiđồng thời tái hiện được những biến thái tinh vi của muôn mặt đời sống Mặtkhác, truyện ngắn là thể loại khá tự do và có khả năng thích ứng rất nhanh.Nó không bị ràng buộc bởi những hình thức nghệ thuật đã thành qui phạm mà

luôn “vỡ ra”, thay đổi, “cấu trúc lại” Nó mang tính thời sự và tác động mạnh

mẽ, tức thì vào trạng thái tâm hồn, trạng thái tinh thần, vào quan niệm nhânsinh đang diễn biến hàng ngày hàng giờ trong con người và các phạm vi kháccủa đời sống xã hội Nhịp sống hiện đại với biết bao tất bật, lo toan, bận bịucũng không cho con người quá nhiều thời gian để có thể đọc liền mạch hàngnghìn trang tiểu thuyết Trong hoàn cảnh đó những ưu thế của truyện ngắncàng được phát huy và người ta tìm đến nó như một tất yếu

1.3.2 Những dấu ấn cơ bản

Với gần 200 tác phẩm của hơn 100 tác giả, truỵện ngắn về đề tài lịch sửtừ 1986 đến nay chứng tỏ được vai trò và chiếm được sự quan tâm của ngườiđọc Có thể nhận thấy có hai xu hướng chính Một xu hướng cố gắng tái hiệnlại “chân thực” lịch sử Nó gắn với một cách nhìn của hệ tư tưởng chínhthống, sự phân giới các lực lượng chính nghĩa - phi nghĩa khá rõ ràng Cảmhứng chủ đạo là ngợi ca phe chính nghĩa và ứng xử ngược lại với phe đối lập.Không khí bao trùm là không khí sử thi và nhân vật lịch sử mang tầm vóc anhhùng thời đại Có thể tìm thấy dấu ấn của xu hướng này trong những tác

phẩm: Thời của chim Hồng chim Hạc (Phạm Ngọc Quý), Nghĩa động càn

khôn (Trần Hạ Tháp), Vụ án rạch Láng Thé (Phạm Văn Thuý), Người làm thuê quán trọ thành Thăng Long (Khúc Hà Linh), Đào viên tình sử (Phạm

Thái Quỳnh), Sông vẫn chảy cuối trời (Nam Trung Hiếu).v.v

Có một xu hướng khác, tái hiện lịch sử thông qua những số phận cụ thểvà qua đó tác giả bộc lộ cái nhìn của thời đại mình Lịch sử xuất hiện trong

Trang 28

tác phẩm là điểm tựa để nhận được cái hôm nay thông qua những liên hệ đốidiện nào đó Xuất hiện trong xu hướng này nhân vật lịch sử có khi được miêutả khác lạ so với những gì được ghi chép trong chính sử, thể hiện những “nghingờ” của nhà văn đối với bao giá trị trong quá khứ, sự kiện có thể được hưcấu, bổ sung Tất cả thể hiện một cảm quan hiện đại, thể hiện tinh thần đốithoại với lịch sử Tiêu biểu cho xu hướng này có thể kể đến những sáng tác

của Nguyễn Huy Thiệp (Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết, Nguyễn Thị Lộ, Chút

thoáng Xuân Hương, Mưa Nhã Nam), Võ Thị Hảo (Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm), Nguyễn Khắc Phục (Phủ Tường Vi), Trần Hạ Tháp (Cội nguồn vang bóng), Đào Công Vĩnh (Phong hầu), Trần Chiến (Sư đồ), Lê Hoài

Lương (Dừng lại trên đỉnh đồi), Hồ Anh Thái (Sông cạn), Trần Thuỳ Mai (Thần nữ đi chân không) Trần Vũ (Mùa mưa gai sắc, Giáo sĩ, Gia phả), Nguyễn Thuý Ái (Trở về Lệ Chi viên).v.v.

Dù chưa có một cuộc thi chính thức, nhưng những truyện ngắn về đề tàilịch sử từ 1986 đến nay đã tạo được dấu ấn thậm chí trở thành những “hiệntượng văn học”, những chủ đề gây tranh luận trái chiều trong đời sống vănhọc Bộ ba truyện lịch sử của Nguyễn Huy Thiệp khi đăng báo được đánh giá

“đã là những tiếng bom làm một số ngự sử của chế độ mất ăn mất ngủ” Dưluận ban đầu cho rằng “tác giả tỏ ra tuỳ tiện quá đáng trong khi dùng nhân vậtlịch sử để chở cho ý tứ của mình” (Hồ Phương) hay những ý kiến phê phángay gắt: “Tôi rùng mình không ngờ phẩm giá nhân cách vua Quang Trung bịngười trong đám con cháu đời sau dìm xuống tận đáy của sự tồi tàn” (NguyễnThanh) Nhưng rồi người ta chỉ đánh giá công bằng, khách quan hơn khikhẳng định Nguyễn Huy Thiệp đã viết nên những truyện ngắn báo động lịchsử là những “báo động thức tỉnh” (Đặng Anh Đào) Gần đây dư luận có nhiều

“xôn xao” về các sáng tác của Võ Thị Hảo, Trần Vũ, Nguyễn Thuý Ái Có

một thống kê thú vị: trong Tuyển truyện ngắn hay 2000 của NXB Hội nhà văn có 5/15 tác phẩm viết về đề tài lịch sử (Phủ Tường Vi của Nguyễn Khắc Phục,

Trang 29

Người hát ca trù của Nguyễn Phan Hách, Viễn khúc của Bùi Văn Trọng

Cường, Trần Quang Diệu của Trần Thị Huyền Trang, Quả đồng chuỳ tóc bện của Trần Hạ Tháp) Trong 10 Truyện ngắn hay được bình chọn trên báo Văn

Nghệ năm 2002 có hai truyện ngắn về đề tài lịch sử Trong chuyên đề cuộc thitruyện ngắn 2003-2004 do báo Văn Nghệ phát hành có ba tác phẩm về đề tài

lịch sử trên hai mươi chín tác phẩm Trong phụ bản Mười Truyện Ngắn Hay 5

Năm 2000-2004, Tết Ất Dậu của báo Văn Nghệ có một truyện ngắn về đề tài

lịch sử Những con số đó một lần nữa khẳng định sức hấp dẫn và nhữngthành tựu đáng trân trọng của thể loại này

Trong những gương mặt tiêu biểu đóng góp nhiêu tác phẩm có giá trịnghệ thuật đặc sắc có thể kể đến Nguyễn Huy Thiệp, Võ Thị Hảo, Trần ThuỳMai, Phạm Thái Quỳnh, Ngô Văn Phú, Trần Hạ Tháp, Trần Vũ Tất cả đãtạo nên một đội ngũ sáng tác có chiều sâu và giàu tâm huyết, nỗ lực làm mớimột đề tài tưởng như xưa cũ, góp sức mình vào sự cách tân và phát triển củathể loại truyện ngắn trong đời sống văn học đương đại

Trang 30

Chương 2

TRUYỆN NGẮN VỀ ĐỀ TÀI LỊCH SỬ TỪ 1986 ĐẾN NAY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN TIẾP CẬN HIỆN THỰC

-VÀ CẢM HỨNG SÁNG TẠO

2.1 Tiếp cận hiện thực

2.1.1 Sự kết hợp giữa lịch sử và hư cấu

Lịch sử trong nhận thức mang tính phổ quát nhất là những gì đã diễn

ra trong quá khứ Nó “độc lập” và ngăn cách bởi một “khoảng cách sử thi”với hiện tại nơi con người “được thừa hưởng hoặc phải chịu đựng nó nhưmột thắt buộc định mệnh” [40] Bởi thế khi nhắc tới khái niệm “lịch sử”người ta còn hiểu nó như một tính từ gắn với sự khách quan, chính xác.Ngược lại, hư cấu “là vận dụng trí tưởng tượng để sáng tạo nên những nhânvật, câu chuyện, những tác phẩm nhằm phản ánh cuộc sống và hiện thựcnhững mục đích nghệ thuật nhất định” [16, tr.128] Đây luôn được xem làmột hoạt động cơ bản, tất yếu của sáng tạo nghệ thuật bởi nói như M.Gorki:

“không có hư cấu thì không thể và cũng không tồn tại được tính nghệ thuật”.Khi sáng tác về đề tài lịch sử có hai xu hướng khác nhau Một xu hướng chorằng, dù có những hư cấu nghệ thuật nhưng tác phẩm cần phải tôn trọngnghiêm cẩn lịch sử Nhà văn Thái Vũ, người có rất nhiều những tác phẩm vềđề tài này cho rằng: “Khi tôi viết tiểu thuyết lịch sử, sự thật là tôi không viếttiểu thuyết lịch sử mà tôi viết lịch sử hư cấu nhưng không phải là bịa Tôiviết tiểu thuyết lịch sử mà qua cách hư cấu của tôi tôn trọng tính chính xáccủa lịch sử” (Văn nghệ số 39 2003) Đỗ Ngọc Yên trong bài “Giới hạn giữa

hư cấu nghệ thuật và sự thật lịch sử”cũng khẳng định: “Người nghệ sĩ hoàntoàn có quyền tái hiện lịch sử theo cách riêng của mình Nhưng tuyệt nhiênanh ta không được phép bịa đặt lịch sử” [76] Một xu hướng khác, mới mẻ

Trang 31

hơn lại cho rằng: “Với một nhà văn, lịch sử không là những xác chết vànhững sự cố biên niên ù lì, quá khứ và lịch sử nhìn bởi nhà văn, nhà văn nhưchủ thể Đó là thứ quá khứ tái chiếm hữu và tái tạo từ vị thế hiện tại của chủthể” [10] “Nhà nghệ sĩ sử dụng quyền sáng tạo và hư cấu để bổ sung chonhững chi tiết, những thời kì mà lịch sử không nói đến dựa trên vốn sốngvà những tài liệu lịch sử, nhà nghệ sĩ phải tưởng tượng và bổ sung cho vô sốnhững “điểm trắng” “Một tác phẩm viết về đề tài lịch sử được công nhận làmột tác phẩm nghệ thuật hay không, tuỳ thuộc vào mức độ hư cấu và khảnăng tưởng tượng của nhà văn trên cơ sở những sự kiện và nhân vật lịch sửtheo đúng đặc trưng và nguyên tắc thể loại” [35, tr.936].

Có thể tìm thấy sự tương đồng của các ý kiến trên với quan điểm sáng

tác của các nhà văn trên thế giới K.Paustovski trong tác phẩm Một mình với

mùa thu đã đưa ra quan điểm: “Tôi thấy rõ rằng, nhà văn viết về đề tài lịch sử

cần phải viết các sự kiện cụ thể Nhưng tôi tin rằng, nhà văn không cần phảituân theo một cách quá ư mù quáng các sự kiện đó Nhiệm vụ của nhà văn là

mô tả quá khứ trong tất cả vẻ sống động của nó” A.Duyma, người được giớiphê bình đánh giá là “hiếp dâm lịch sử mà đẻ ra những đứa con hoang, sinhđộng hơn những đứa con chính thức” thì khẳng định “Lịch sử đối với tôi làgì? Nó chỉ là một cái đinh để tôi treo các bức họa của tôi mà thôi”.Nhà vănMạc Ngôn cũng cho rằng: “các nhà văn không chịu trách nhiệm tái hiện lạilịch sử, cái gọi là sự kiện lịch sử chẳng qua chỉ là những tư liệu để nhà văntham khảo trong khi tái tạo và dự báo về lịch sử” [62]

Nhìn vào truyện ngắn về đề tài lịch sử trong văn học Việt Nam từ 1980đến nay, có thể nhận thấy sự hoà kết và chuyển dịch của cả hai xu hướng.Lịch sử xuất hiện trong truyện ngắn không phải là những sự kiện có tầm quy

mô, hoành tráng với trường độ thời gian mà chỉ là những “khoảnh khắc”, “látcắt” của lịch sử Ở đó ta có thể bắt gặp những nhân vật “quen biết”, những sựkiện đã được các sử gia mô tả lại

Trang 32

Đào viên tình sử của Phạm Thái Quỳnh tái hiện lại sự kiện Trần Quốc

Tuấn cưới công chúa Thiên Thành Lênh đênh buồm sóng cũng của của Phạm

Thái Quỳnh có các nhân vật Trần Nhân Tông, Trần Anh Tông, Trần KhắcChung, Huyền Trân với sự kiện đưa công chúa Huyền Trân từ Chiêm Thành

về lại Đại Việt Khúc ngâm dưới nhà thờ tổ của Từ Khôi kể lại chuyện tình giữa Đặng Trần Côn và Đoàn Thị Điểm Truyện Thể Cúc của Trần Thuỳ Mai

có các nhân vật lịch sử như Tùng Thiện Vương Miên Thẩm, Đoàn Trưng, vuaTự Đức với sự kiện cuộc khởi nghĩa bất thành chống lại triều đình của

những công nhân, binh lính xây lăng Vạn Niên Thế trận linh xà của Trần Hạ

Tháp nhắc đến những ngày thu phục nhân tài chuẩn bị khởi nghiệp của

Nguyễn Huệ Truyện ngắn Trần Quang Diệu của Trần Thị Huyền Trang tái

hiện một giai đoạn trong cuộc đời hai nhân vật lịch sử Trần Quang Diệu và

Bùi Thị Xuân, Nghiệp chướng và Đầu thai (Trong Những truyện không nên

đọc lúc nửa đêm của Võ Thị Hảo) được sáng tác trên những ghi chép trong Đại Việt sử kí toàn thư: “Bính Thìn (1136), vua bệnh nặng chữa không khỏi,

nhà sư Minh Không chữa khỏi, phong làm quốc sư” [17, tr.308] “Nhâm Thìn(1112), vua tuổi đã nhiều mà chưa có con trai nối dõi, xuống chiếu chọn concủa tông thất để lập làm con nối Em vua là Sùng Hiền Hầu cũng chưa có contrai Gặp lúc nhà sư núi Thạch Thất là Từ Đạo Hạnh đến chơi nhà, Hầu nóivới Đạo Hạnh về việc cầu tự Đạo Hạnh dặn rằng: “bao giờ phu nhân sắp đếnngày sinh thì báo cho tôi biết trước để cầu khấn với sơn thần” Ba năm sauphu nhân có mang sinh con trai là Dương Hoán” [27, tr.286]

Với việc dựa vào các nhân vật và sự kiện lịch sử, các nhà văn đã tạocho tác phẩm một không khí của những thời kì đã qua Lịch sử ở đây khôngphải là cứu cánh Nó chỉ khu trú vào tác phẩm như một chất xúc tác cho câuchuyện, là điểm tựa làm sáng tỏ vấn đề mà nhà văn hướng đến

Bên cạnh các yếu tố lịch sử, truyện ngắn còn chú trọng tới những hưcấu nghệ thuật Như trên đã nói, có một sự dịch chuyển trong quan niệm khi

Trang 33

viết về lịch sử Đã có thời kì nhà văn nhìn lịch sử như những hằng số thiêngliêng, bất biến và không thể nghi ngờ Những hư cấu trong tác phẩm chỉ đểnhằm bổ sung, chứng minh cho hằng số đó Đi kèm với đó là cái nhìn phâncực phân tuyến rõ ràng hai phe: Chính - Tà và hai thái độ: ngợi ca hoặc phêphán Nhưng dần dần, đặc biệt là từ sau 1986, quan niệm đó đã thay đổi Biênđộ của hư cấu nghệ thuật được mở rộng Người viết đưa ra những giả thiết vàlí giải riêng về lịch sử, người viết có quyền nghi ngờ và tự tìm kiếm câu trảlời về lịch sử Lịch sử trở thành cái quá khứ được “tái chiếm hữu, tái tạo” bởichủ thể nhà văn Dù còn có những tranh cãi, thậm chí quy kết về tội “bôi nhọlịch sử” nhưng phải nhận thấy rằng, phần ấn tượng nhất, tạo nên sự sôi nổi vàchú ý trong đời sống văn học thời gian qua chính là những truyện ngắn thuộcdạng này Sự hư cấu trong truyện ngắn về đề tài lịch sử rất đa dạng Có tácphẩm cho xuất hiện song song bên cạnh các nhân vật, sự kiện lịch sử là các

nhân vật sự kiện hư cấu Bộ ba tác phẩm: Kiếm sắc, Vàng lửa, Phẩm tiết của

Nguyễn Huy Thiệp, bên cạnh các nhân vật: Nguyễn Ánh, Nguyễn Du,Nguyễn Huệ, Đặng Tiến Đông còn có sự xuất hiện của những nhân vật hưcấu như: Đặng Phú Lân, Phăng, Ngô Thị Vinh Hoa Các chi tiết hư cấu cũngrất đặc sắc Đặng Phú Lân hay Phăng gặp Nguyễn Du, hai ông vua QuangTrung, Gia Long đều say mê Vinh Hoa Quang Trung nhìn thấy Vinh Hoa thì

“thốt nhiên rùng mình, hoa mắt, đánh rơi cốc rượu quý cầm tay” “Nhà vuađang đêm xoã tóc, đi chân đất, vừa đi vừa vấp, chạy vào báo cho Vinh Hoaviệc Khải mất” Gia Long thì đòi “cắt dái”, cho Vũ Văn Hoàn “ăn cứt”, thấyVinh Hoa khỏa thân thì “bỗng nhiên xây xẩm mặt mày thở dài, ngã quay ra

đất ngất lịm đi” Nàng Vinh Hoa trong Kiếm sắc là ca nữ đất Phú Xuân, trong

Phẩm tiết là con một nhà buôn ở Thăng Long Trong Biệt lộ của Trần Thị

Huyền Trang bên cạnh các nhân vật Trần Cao Vân, Hồ Sĩ Tạo, các nhân vậtchính là những nhân vật hư cấu: Dư Mãnh, Mĩ Yên, ông Dậu, Thất Khê,

Trong Án lục người đàn bà họ Tống của Trần Thuỳ Mai, bên cạnh nhân vật

Trang 34

Nguyễn Phúc Lan, Nguyễn Phúc Tần có các nhân vật hư cấu: Tống Thị, Thừa

Nhi, Yến Hoa, Sử quan họ Trương Truyện Hành trạng tâm linh của Đỗ

Trọng Khơi có nhân vật lịch sử là Tuệ Trung thượng sĩ Trần Quốc Trung vànhân vật hư cấu là Trầm Nga với sự kiện Trầm Nga nhận lời mẹ Tuệ Trungthử lòng và tìm cách đưa ông từ bỏ cõi Thiền về lại thế tục Truyện có những

hư cấu lạ: nàng Trầm Nga khoả thân để Tuệ Trung thượng sĩ hoạ bộ “Ngũ bộthiền hoa” về nữ sắc Khi bức họa cuối cùng hoàn thành, nhận ra không thểkéo ông ra khỏi chốn Thiền tuệ nhiệm màu, Trần Nga đã hoá thành một cây

hoả ngọc Truyện ngắn Ngày cuối cùng của dâm phụ của Trần Thị Trường có

chi tiết: vua Lê Thánh Tông bằng tiên cảm của mình nghe lời dặn của vuaThái Tông, tìm được chiếc lá bồ đề có 38 đường gân Chiếc lá như một chiếcmáy ghi âm ghi lại cuộc trò chuyện cuối cùng giữa vua cha và Nguyễn Thị Lộở vườn vải Nó bộc lộ bí mật cái chết của đức Thái Tông và đó là cơ sở đểvua Lê Thánh Tông giải oan cho Nguyễn Trãi Có nhiều truyện ngắn sử dụnghoàn toàn những nhân vật, sự kiện hư cấu nhưng không vì thế mà mất đi chấtlịch sử Dấu ấn lịch sử hiện hữu qua bối cảnh, ngôn ngữ, nhân vật Truyện

Thời của chim Hồng chim Hạc (Phạm Ngọc Tuý) lấy bối cảnh thời Nguyễn.

Lai Nghi con gái Phan Long xinh đẹp, tài hoa lại giả trai kết bạn tri âm vớiPhúc Kháng, một vương hầu thi đỗ Hoàng giáp nhưng không ra làm quan.Hai người đánh cờ, gảy đàn, đàm đạo thế sự và giữa họ nảy sinh tình cảm.Khi kinh đô thất thủ vào tay thực dân Pháp, Lai Nghi cùng sư phụ bỏ gia đình

ra đi, Phúc Kháng cũng từ bỏ cuộc sống của một vương hầu gia nhập phong

trào văn thân chống Pháp Sư đồ của Trần Chiến lại là câu chuyện về các nhân

vật đã cùng nhau tham gia một cuộc khởi nghĩa và làm nên một sự nghiệp lẫylừng: Kì Thọ Vương Trần Lãm, Trương Tộn, Ngọc Sum, Lã Bía Để bất tửvới lịch sử, để dân chúng ngưỡng vọng tôn thờ, họ từ bỏ cuộc sống trần thế,luyện phép hoá thành nhóm tượng đài uy nghi Tuy là tượng nhưng là thực họvẫn sống, họ vẫn là con người với những tính cách, suy nghĩ đời thường

Trang 35

Chính trên đỉnh vinh quang ấy, Trầm Lãm nhận ra nhân cách thực của đámtay chân và bi kịch của một người phải luôn luôn phải sống trong những vai

diễn chính trị Ấm Đường ở hội thi của Phạm Thái Quỳnh là câu chuyện được

xâu chuỗi xung quanh những ván cờ, ván cờ giữa quan tri phủ và ông chài,ván cờ giữa ông chài và gã công tử nhà giàu, ván cờ giữa Chu Bột, một đệnhất danh kì nhưng mù mắt với ông chài, ván cờ giữa Chu Bột và cậu ẤmĐường Qua những cuộc cờ ấy, người ta nhận ra đâu là quân tử, bậc kì nhân,

đâu là kẻ tiểu nhân cũng như những biến động của một thời kỳ lịch sử Biệt lộ

(Trần Thị Huyền Trang) có nhân vật Dư Mãnh võ nghệ siêu quần, vũ khí làmột cái bắp cày nâu bóng Dư Mãnh cứu Dậu, một dân đinh khốn khó tứ cố

vô thân rồi gắn bó như ruột thịt Anh cũng có một mối tình đắm say với MỹYên, con gái yêu của chánh tổng Thời Đôn Khi phong trào kháng thuế nổ raở miền Trung, Dư Mãnh đã góp sức cộng tác, bảo vệ những chiến sĩ yêu nướcvà cuối cùng ông bị hi sinh Con ngựa bạch ngậm cái đầu của ông đem về choMĩ Yên chôn cất Mĩ Yên chết theo chồng còn Dậu bí mật canh giữ cái hangxếp đầy rựa để về sau giao lại cho Việt Minh rèn vũ khí

Nhắc đến hư cấu nghệ thuật khi viết về đề tài lịch sử, bên cạnh NguyễnHuy Thiệp, người ta không thể không nói tới những sáng tác của Võ Thị Hảo,

Nguyễn Thuý Ái hay Trần Vũ Trở về Lệ Chi viên của Nguyễn Thuý Ái có

chi tiết Nguyễn Trãi dùng bài thuốc tráng dương “nhất dạ ngũ giao” để đápứng nhu cầu dục tình của cô vợ trẻ Thị Lộ Tác phẩm cũng đưa ra một lí giảivề cái chết của vua Lê Thái Tông: tên Hề, người ngày xưa đã đặt lễ dạm ngõThị Lộ, do ghen tuông đã bí mật bỏ độc dược vào chén ngọc ngay trong đêmThái Tông và Thị Lộ đang trong cơn say hoan lạc ở vườn vải Trần Vũ dùngkiểu kết cấu phi thời gian, như một hư cấu chủ đạo tạo nên mạch diễn biến

của các câu chuyện lịch sử Trong truyện ngắn Gia phả, nhân vật tôi là người

chứng kiến toàn bộ sự hình thành và suy vong của triều Trần “Tôi” vừa là U

Trang 36

Đào, vừa là Bõ Phúc, những người ở cho tộc Trần, vừa là Trần Thiếu Đế, vịvua cuối cùng của Triều Trần “Tôi” như một cuốn gia phả chép bằng máu,

bằng nước mắt về một triều đại Ở truyện Giáo sĩ, các nhân vật cũng được đặt

trong những quan hệ giả tưởng về thời gian Người cai quản nhà thờ chính toàCao Bằng vào những năm 50 của thế kỷ XX lại là giáo sĩ AlexandreLucienAbel de Rhodes, người đến Đàng Trong từ thế kỷ XVII và sáng tạo ra chữQuốc ngữ Thống chế Ney, một tướng của Napolêông lại là một tư lệnh khubiên thùy Đông Bắc của quân đội Pháp ở Đông Dương Trung uý Bernard delattre Tassigny biết trước được ngày chết thậm chí anh còn đi xem tử vi, gọiđiện về phòng quân số của bộ tư lệnh, gọi điện về cha mình để kiểm tra ngàychết của mình Giữa trận đánh anh ta bị đâm hàng chục nhát lê, bị chích gan,cắt mạng sườn nhưng vẫn tỉnh táo, hài lòng”, “phát lên cười khanh khách” và

không thể chết Cô Tuyết, nhân vật trong tác phẩm Đời mưa gió của Nhất

Linh, bước ra khỏi trang sách, đối thoại, yêu, thậm chí ngủ với các nhà văntrong Tự Lực Văn Đoàn Cô mang bóng dáng cô thiếu nữ thành Goa, ngườitình trong mộng của giáo sĩ Tuyết đã chữa khỏi căn bệnh thối ruột thối gancho giáo sĩ, ngủ với Bernard, giúp anh tìm ra định nghĩa về tình yêu Tác giảmặc nhiên đưa vào tác phẩm rất nhiều những hư cấu “phi lí”, “huyền ảo” tạonên sự trộn lẫn nhiều chiều thời gian, số phận, cũng như trạng thái, tính cáchtừ đó đưa ra “những giả thiết về lịch sử”

Có thể thấy sự kết hợp giữa lịch sử và hư cấu trong tiếp cận hiện thựclà một thử thách đồng thời cũng là thước đo thể hiện tài năng, quan điểmthẩm mĩ và cá tính sáng tạo của người viết Dù còn những âu lo về sự lấn át

“độ chân thực lịch sử” của những hư cấu nghệ thuật nhưng không thể phủnhận sự gia tăng ngày càng nhiều những “hư cấu tuỳ tiện” khi viết về mảngđề tài này Nó phản ánh rõ hơn vị trí của nhà văn là sáng tác về lịch sử chứkhông phải là người chép sử Nó muốn minh chứng cho quan niệm, nói như

Trang 37

Selegan: “Người thợ khắc không phải là một chứng nhân Phiến đá không cótrách nhiệm phải giải thích Chúng ta không là người bảo lãnh” [28].

2.1.2 Sự khám phá con người cá nhân trong dòng chảy lịch sử

Theo Milan Kundela, một trong những bi kịch lớn nhất của văn họcchính là “sự lãng quên con người” Lẽ dĩ nhiên, khái niệm con người ở đâykhông hề là một khái niệm chung chung tưởng tượng mà biểu đạt một đốitượng hiện hữu mang hàm nghĩa cá nhân

Thế nhưng đã từng có một thời kì trong văn học Việt Nam hiện đại người ta ít nhắc đến con người cá nhân Bỏ qua những tác động của hoàn cảnhlịch sử và yêu cầu thời đại, ta sẽ thấy đây là một thiếu sót lớn của văn học.Điều đó chi phối tới những sáng tác về đề tài lịch sử khi người viết thườngchú trọng tới các biến cố sự kiện trọng đại có liên quan tới vận mệnh của quốcgia, dân tộc, liên quan và có sự tham dự của số đông Con người hiện trongcác tác phẩm kiểu này thường là một đại diện mang tính cách, phẩm chất,khát vọng của cả cộng đồng Cùng với sự đổi mới của văn học nói chung,truyện ngắn về đề tài lịch sử từ 1986 đến nay có sự chuyển hướng trong tiếpcận hiện thực mà cụ thể là tập trung khắc hoạ, phản ánh và khám phá conngười cá nhân trong dòng chảy của lịch sử Dưới cách nhìn đó, con ngườihiện lên trong vẻ bản nguyên, cụ thể, riêng biệt và độc đáo

-2.1.2.1 Đánh giá đa chiều về con người

Trong những tác phẩm viết về đề tài lịch sử ở các giai đoạn trước, cácnhân vật lịch sử nhiều khi được nhìn nhận, đánh giá khá đơn giản thậm chímột chiều Ở cách nhìn đó, nhân vật thường “trùng khít” với những ghi chéplịch sử và được định hình trong trí tưởng tượng người đọc như những “hằngsố nghệ thuật” Truyện ngắn về đề tài lịch sử giai đoạn từ sau 1986 thể hiệnmột cái nhìn phản ánh và phức tạp hơn về con người mà biểu hiện rõ rệt làđưa ra những đánh giá đa chiều về các nhân vật lịch sử

Trang 38

Nhân vật Huyền Trân công chúa trong Lênh đênh buồm sóng của Phạm

Thái Quỳnh được nhà văn xây dựng như một hình tượng lí tưởng về mộtngười phụ nữ: xinh đẹp, đoan trang có tâm hồn tự do bay bổng Huyền Trândám vượt ra khỏi những khoảng cách và tôn ti phong kiến để bày tỏ tình yêuvới Trần Khắc Chung Nhưng vì nghiệp lớn của vua cha, vì đất nước, nàngchấp nhận lấy vua Chiêm Thành Khi Chế Mân chết, Trần Khắc Chung đãvào cưú công chúa thoát khỏi giàn thiêu và hai người đã lênh đênh trên sóng

nước tận hưởng hạnh phúc lứa đôi Nhưng truyện ngắn Sóng vỗ mạn thuyền

của Trần Thị Trường lại cho ta một cái nhìn khác về nhân vật lịch sử này.Huyền Trân từ lạ lẫm đã yêu tha thiết Chế Mân Nàng cảm thấy bị thu hút bởivăn hoá xứ Chiêm Thành: ngạc nhiên trước những ngôi tháp cổ, nàng muốnđược mặc những trang phục phô bày cái đẹp tự nhiên của hình thể như ngườiphụ nữ ở đây, muốn được tắm trong ang, trong tiếng nhạc Apxara Chế Mânchết, nàng đã ngất đi tỉnh lại biết bao nhiêu lần Nàng bình thản và sẵn sàngchờ đợi giàn hoả thiêu Chỉ khi nghĩ đến đứa con trai Đa Đa, nàng mới sửasoạn xiêm áo, gạt nước mắt bái quỳ trước thi hài chồng để từ biệt Bộ ba

truyện ngắn Vàng lửa, Kiếm sắc, Phẩm tiết của Nguyễn Huy Thiệp cho ta một

nhân vật vua Gia Long lọc lõi, thực dụng đến tàn nhẫn, chấp nhận đóng mộtvai kịch trong vở diễn chính trị mặc dù ông nhận ra “sứ mệnh đế vương thậtlà sứ mệnh khốn nạn, chỉ được quyền cao cả, không được quyền đê tiện”.Ngôn ngữ của Gia Long là thứ ngôn ngữ thẳng thắn đến trần trụi thậm chí phachất chợ búa: “Thằng mặt xanh kia, kề miệng lỗ còn dê ư? Ta sẽ cho cắt dái

mày Ta cho mày ăn cứt” Nhưng Nguyễn Ánh trong truyện ngắn Sóng nhồi

vào sóng của Trần Thị Trường lại là một con người trầm mặc, uyên thâm về

chính trị ngoại giao, tinh tế và khéo léo Ông ôn hoà nhã nhặn nhưng cũngđầy dứt khoát từ chối việc nhường cho nước Pháp cửa Đà Nẵng và đảo CônLôn Ông lăn lưng mình trên cát ướt để tận hưởng cái sung sướng của một

Trang 39

người tự do: giữa bao la, không phẩm phục, không thưa gửi, không xét đoán.Ông khẳng định lòng yêu nước và ý thức tự tôn của một đấng quân vương

“Của ta, của ta, của ta Một tấc đất của ta, của tổ tiên ta sao ta lại nhường chochúng bay Đừng bắt ép ta, cái lúc cùng đường ai mà chẳng nhắm mắt mượnngựa [65, tr.177] Nguyễn Ánh biết ơn những người vợ, những cận thần đồngcam cộng khổ Đồng cảm và ngưỡng mộ Ngọc Hân công chúa và vừa căm tứcvừa sợ vừa kính nể Nguyễn Huệ Thương xót Ngọc Hân, Nguyễn Ánh nghĩđến Nguyễn Huệ: “Thoả mãn đấy mà sợ đấy Căm tức đấy mà kính trọng đấy.Thoả mãn vì tưởng đã mất mà nay giang sơn về trong tay mình Nhưng nỗi sợvẫn còn kinh hoàng dù giờ đây Nguyễn Huệ đã ở nơi chín suối Không cămlàm sao được khi dòng dõi ta đây đường đường ngôi trời Thiên tử mà phảinếm mật nằm gai hết Côn Lôn lại dạt Thổ Chu Nhưng không kính sao đượckhi chẳng dòng dõi, chẳng mệnh trời, chẳng con nhà rèn giũa học hành ông tachỉ xuất thân áo vải mà nhận ra nghĩa lớn Cái nghĩa lớn không chỉ ở con mắtthấy dân lầm than cơ cực mà cái óc biết nỗi vinh nhục mất nước mất nhà Giámà ông ta cầm quân cho mình, giá mà ông ta giơ tay cho ta nắm” [65, tr.180].Nhân vật Nguyễn Thị Lộ trong truyện ngắn cùng tên của Nguyễn Huy Thiệpđược miêu tả như một người phụ nữ “không xúng xính bởi học vấn hoặcphẩm hạnh, cũng không cứng nhắc bởi đồ lót mình Nàng trinh bạch, điềmtĩnh và cương nghị” Bà biết rõ giá trị con người Nguyễn Trãi, quý trọng, yêuthương ông, nhạy cảm và sẻ chia với ông như một tri âm Trần Thị Trườngcũng khắc hoạ một Nguyễn Thị Lộ như một hình mẫu điển hình về người phụnữ mẫu mực trong xã hội phong kiến: Yêu chồng đến hết lòng, thuỷ chungchống lại những cám dỗ của vị vua trẻ để giữ trọn phẩm hạnh, đớn đau và dằnvặt đến tận cùng khi nhận ra vì mình mà cả Nguyễn Trãi và họ hàng con cháuphải chết Bà cũng là người thông minh, cương trực và có tầm văn hoá lớn khinó với vua những điều về phép trị nước an dân, giữ vững cương thường:

Trang 40

“Thưa Bệ hạ! lễ nhạc lấy xã hội làm gốc, lấy chính khí làm nền tảng, lẽthường nếu tiểu nhân được tin dùng thì quân tử phải ở ẩn” “Hài hoà làrường cột của sức mạnh, nhưng chỉ chú trọng hài hoà mà không đặt thêm mộtdấu ấn thì gà không biết gáy sáng, vận khí trở nên tù đọng Đất trời rộng lớn,đã thành biểu tưởng thì muôn đời tồn tại ” [70].

Trở về Lệ Chi viên của Nguyễn Thuý Ái lại cho người đọc thấy một

phương diện khác của Nguyễn Thị Lộ Nhạy cảm và khôn sớm, biết mình đẹpvà hiểu rằng đó là sức mạnh, cô thôn nữ tìm cách xâm nhập thế giới quyềnquý để đổi đời Cuộc tao ngộ giữa cô và Nguyễn Trãi cũng là một sắp đặt nằmtrong mưu tính của Thị Lộ Không những thế, đây còn là một con ngườiphong tình Khi ông chồng già không còn đáp ứng được nhu cầu tình dục, ThịLộ luôn kề cận bên mình rồng, một vị vua trai trẻ, để được thoả mãn Cảnhthằng Hề bắt gặp trong Lệ Chi viên giữa đêm khuya là: “Mình rồng đang ởtrần trùng trục, phủ lên thân thể ngọc ngà của Thị Lộ, cũng không một mảnhvải che thân Cả hai người đang ra sức tận hưởng lạc thú với tiếng kêu phát ra

từ Thị Lộ như tiếng mèo cái lúc động đực” Trong Thế trận linh xà của Trần

Hạ Tháp, người đọc cảm nhận về một Nguyễn Huệ hết sức “quen thuộc”:

“Mặt chữ điền, mắt sáng mày xếch, ngược như cánh đại bàng đang bay, giọngnói âm vang lồng lộng” võ nghệ siêu quần, ý chí và khát vọng cao cả, cáchthu phục nhân tâm diệu dụng khôn lường Ngôn ngữ của Nguyễn Huệ là ngônngữ của một bậc đế vương mang chí lớn dù chính ông đang ở thời kì ban đầuẩn danh mưu đồ sự nghiệp: “Nghe đây, ta chẳng phải quan binh, cũng khônghề là giặc cướp đón đường mãi lộ Xét các ngươi đều là võ sĩ, không ngờ chỉbiết đem công phu tổ truyền để mưu cầu hai chữ “lợi”, “an” riêng lấy nhàmình Đâu rồi? Những lời thề lúc bái tổ nhập môn Vì nước quên thân, anhhùng thượng võ? Các ngươi vốn là chỗ nương nhờ của đân Nay lúc cần, quaylưng miễn yên ổn gia cơ là xong đấy phỏng ” Vua Quang Trung trong

Ngày đăng: 22/12/2013, 13:12

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Kì Anh (2009), “Người lấy hai vua”, Văn nghệ, (26) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người lấy hai vua”, "Văn nghệ
Tác giả: Dương Kì Anh
Năm: 2009
2. Minh Đức Triều Tâm Ảnh (2008), “Đôi bạn”, Văn nghệ, (16) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đôi bạn”, "Văn nghệ
Tác giả: Minh Đức Triều Tâm Ảnh
Năm: 2008
3. Nguyễn Thuý Ái, “Trở về Lệ chi viên”, http: / / www .Viet_sudies.in fo 4. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại Học Quốc Gia,Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trở về Lệ chi viên”, http: / / www .Viet_sudies.in fo 4. Lại Nguyên Ân (2003), "150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Nguyễn Thuý Ái, “Trở về Lệ chi viên”, http: / / www .Viet_sudies.in fo 4. Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia
Năm: 2003
5. Lại Nguyên Ân, “Tiểu thuyết và lịch sử”, http: // www.Vnn.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết và lịch sử
6. M.Bakhtin (1998), Lí luận và thi pháp tiểu thuyết, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M.Bakhtin
Nhà XB: Nxb Hội Nhà Văn
Năm: 1998
7. Phan Quý Bích (2008), “Về nhân vật lịch sử trong văn chương hiện đại”, Văn nghệ, (36), tr8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về nhân vật lịch sử trong văn chương hiện đại”, "Văn nghệ, (
Tác giả: Phan Quý Bích
Năm: 2008
8. Trần Chiến (2008), “Sư đồ”, Văn nghệ, (39) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sư đồ”, "Văn nghệ
Tác giả: Trần Chiến
Năm: 2008
9. Văn Chinh (2005), “Trái tim bốc khói”, Văn nghệ, (41) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trái tim bốc khói”, "Văn nghệ
Tác giả: Văn Chinh
Năm: 2005
10. Nam Dao, “Về tiểu thuyết lịch sử”, http: //amvc.fe e.fr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiểu thuyết lịch sử
11. Trương Thái Du (2005), “Con rồng chữ”, Văn nghệ, (Phụ bản tết Ất Dậu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Con rồng chữ”, "Văn nghệ
Tác giả: Trương Thái Du
Năm: 2005
12. Triêu Dương (1978), “Bàn về cách hư cấu trong một số truyện lịch sử gần đây”, Tạp chí Văn học, (5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bàn về cách hư cấu trong một số truyện lịch sử gần đây”, "Tạp chí Văn học
Tác giả: Triêu Dương
Năm: 1978
13. Lê Văn Dương (2006), Phê bình văn học thế kỉ XX, Tập bài giảng dành cho cao học thạc sĩ, Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phê bình văn học thế kỉ XX
Tác giả: Lê Văn Dương
Năm: 2006
14. Thái Đào (2005), “Tiếng an dân”, Truyện ngắn hay 5 năm (2000-2004), Văn nghệ (Phụ bản tết Ất Dậu) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng an dân”, "Truyện ngắn hay 5 năm (2000-2004), Văn nghệ
Tác giả: Thái Đào
Năm: 2005
15. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo Dục
Năm: 2004
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (Đồng chủ biên, 1999), Từ điển thuật ngữ văn học, Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển thuật ngữ văn học
Nhà XB: Nxb Đại Học Quốc Gia Hà Nội
17. Võ Thị Hảo (2005), Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm, Nxb Phụ Nữ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những truyện không nên đọc lúc nửa đêm
Tác giả: Võ Thị Hảo
Nhà XB: Nxb Phụ Nữ
Năm: 2005
18. Hoàng Thị Thuý Hoà (2007), Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh (Qua hai tác phẩm Hồ Quý Li và Mẫu Thượng Ngàn), Luận văn Thạc sĩ văn học, Đại Học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đặc điểm tiểu thuyết lịch sử Nguyễn Xuân Khánh (Qua hai tác phẩm Hồ Quý Li và Mẫu Thượng Ngàn)
Tác giả: Hoàng Thị Thuý Hoà
Năm: 2007
19. Nam Trung Hiếu (2004), “Sông vẫn chảy cuối trời”, Văn nghệ, Phụ bản, (47) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sông vẫn chảy cuối trời”, "Văn nghệ
Tác giả: Nam Trung Hiếu
Năm: 2004
20. Nguyễn Thanh Hiện (2008), “Vũ khúc Vijaya”, Văn nghệ, (1, 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vũ khúc Vijaya”, "Văn nghệ
Tác giả: Nguyễn Thanh Hiện
Năm: 2008
21. Nguyễn Vi Khanh, “Về tiểu thuyết lịch sử”, http: //honque.com Sách, tạp chí
Tiêu đề: Về tiểu thuyết lịch sử

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w