Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án - Ý nghĩa lý luận: Luận án làm sáng rõ một số vấn đề thuộc về lý luận thể loại, về những đặc điểm khu biệt và tính kí hiệu của tác phẩm
Trang 1VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2Công trình được hoàn thành tại:
Học viện Khoa học Xã hội Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học: 1 PGS TS.LƯU KHÁNH THƠ
2 PGS.TS.NGUYỄN THỊ BÍCH THU
Phản biện 1: PGS.TS Mai Thị Hương
Phản biện 2: PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện
Phản biện 3: PGS.TS Lý Hoài Thu
Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện họp tại ……… vào hồi …giờ …phút ngày…tháng…… năm……
Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Học viện khoa học xã hội
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Năm 1986 được xem là một dấu mốc quan trọng của lịch sử văn học dân tộc Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước đã thổi một luồng gió mới vào đời sống văn học Việt, làm “bứt rễ” cả những điều tưởng
đã trở thành bất biến của nền văn học cũ Chính trong không khí đó, sự xuất hiện đông đảo của các cây bút nữ, đã làm nên một “hiện tượng” đặc biệt của nền văn chương đương đại Sự góp mặt của họ không chỉ
ấn tượng về con số mà quan trọng hơn còn là những cá tính và bản lĩnh nghệ thuật dường như chưa được khai phóng đúng mức ở các giai đoạn trước Dấu ấn tài năng của họ được thể hiện trong nhiều thể loại nhưng đậm nét nhất có lẽ là trong truyện ngắn Đó dường như là một sự lựa chọn mang tính tự giác, đầy chủ ý của các nữ văn sĩ Việc lý giải cho
sự gắn kết gần như duyên nợ ấy sẽ góp phần “phát lộ” những đặc trưng riêng của người viết nữ trên những trang văn, để làm nên cái người ta
vẫn gọi là “văn học mang gương mặt nữ” Vì những lý do trên, chúng
tôi lựa chọn đề tài: Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
2.1 Mục đích: Luận án làm sáng rõ những đặc trưng của lối viết
nữ thông qua việc nghiên cứu truyện ngắn của một số tác giả nữ tiêu biểu Đồng thời, qua đó khẳng định vị trí và tài năng của các cây bút nữ trong dòng chảy của văn học Việt Nam đương đại
2.2 Nhiệm vụ: Luận án đặt truyện ngắn nữ trong bối cảnh đổi
mới và hội nhập để nhìn thấy được sự phát triển của hiện tượng này không chỉ là sự vận động tất yếu của đời sống văn học mà còn là quá trình cộng hưởng từ nhiều yếu tố của lịch sử, xã hội,văn hóa và tư tưởng Sau đó, luận án làm sáng tỏ đặc trưng của lối viết nữ qua một số
Trang 4phương diện cơ bản như mô hình giao tiếp, không gian thời gian nghệ thuật và những diễn ngôn mang đặc trưng giới
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Chúng tôi xác định đối tượng nghiên cứu của luận án là truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay trên các phương diện cụ thể như mô hình giao tiếp, không gian, thời gian nghệ thuật và diễn ngôn của giới
4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu cơ bản sau: Phương pháp cấu trúc – kí hiệu học, Phương pháp hệ thống, Phương pháp loại hình, Phương pháp so sánh và tiếp cận theo hướng thi pháp học, tự sự học
5 Đóng góp mới về khoa học của luận án
Luận án là công trình chuyên biệt nghiên cứu một cách hệ thống các phương diện đặc trưng làm nên bản sắc của lối viết nữ Trong
đó, đặc biệt là cách tiếp cận truyện ngắn nữ dưới góc độ cấu trúc, kí hiệu học, xem sáng tác của các nhà văn nữ như một hình thức giao tiếp của các nữ văn sĩ với con người, cuộc đời và với chính mình Lựa chọn
Trang 5giai đoạn từ 1986 đến nay, luận án cũng hướng đến việc khẳng định truyện ngắn nữ không chỉ là một bộ phận mà còn là bộ phân tiêu biểu làm nên sự phong phú, đặc sắc của văn học Việt Nam đương đại
6 Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Ý nghĩa lý luận: Luận án làm sáng rõ một số vấn đề thuộc về
lý luận thể loại, về những đặc điểm khu biệt và tính kí hiệu của tác phẩm qua việc khảo sát truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay
- Ý nghĩa thực tiễn: Luận án sẽ là tài liệu tham khảo cho cán bộ, sinh viên ngành Ngữ văn ở các trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông cũng như các độc giả quan tâm, nghiên cứu về truyện ngắn đương đại Việt Nam đặc biệt là truyện ngắn của các cây bút nữ
7 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, luận án gồm 4 chương cụ thể như sau:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay trong bối cảnh đổi mới và hội nhập
- Chương 3: Những mô hình giao tiếp trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay
- Chương 4: Những dạng thái biểu hiện trong truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay
Trang 6CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Qua việc tổng hợp các công trình và bài viết về văn xuôi nữ nói chung và truyện ngắn nữ nói riêng, chúng tôi khái quát được 4 hướng nghiên cứu chính về truyện ngắn nữ Việt Nam (có thể lồng ghép trong
văn xuôi nữ) từ 1986 đến nay cụ thể như sau:
1.1.1 Tổng kết, đánh giá thành tựu của các cây bút nữ
Phần lớn các bài viết theo xu hướng này đều khẳng định thành tựu cũng như đóng góp của các nhà văn nữ trên văn đàn.Tiêu biểu như các bài viết của Bùi Việt Thắng, Hà Minh Đức, Trần Thục, Phạm Xuân Nguyên, Nguyễn Bích Thu, Lê Thị Hường…Bằng những trang viết của mình, các chị đã góp phần “nâng cao tính thẩm mỹ của thể loại” và đặc biệt vẫn “giữ được “bình đẳng” với đồng nghiệp nam giới về hiệu quả
và chất lượng nghệ thuật” (Nguyễn Bích Thu) Bên cạnh đó, dù không nhiều nhưng cũng phải kể đến một số ý kiến thể hiện quan điểm không tin tưởng hay có thái độ hoài nghi đối với sự phát triển đối của văn học
nữ như bài viết Các nhà văn nữ và sự khủng hoảng trong văn học Việt
Nam hiện đại của tác giả Nguyễn Thanh Sơn.
1.1.2 Tiếp cận từ tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại
Hướng nghiên cứu này tập trung chủ yếu ở một số công trình
luận án đã bảo vệ trong thời gian vừa qua tiêu biểu như: Những đặc
điểm cơ bản của truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 1975 – 1995 của tác
giả Lê Thị Hường (Luận án phó tiến sỹ khoa học Ngữ Văn – Đại học
Khoa học xã hội và nhân văn – Năm 1995), Truyện ngắn Việt Nam từ
1986 đến nay (Nhìn từ góc độ thể loại) của tác giả Lê Thị Hương Thủy
(Luấn án Tiến sĩ văn học – Học viện khoa học xã hội – Năm 2013),
Truyện ngắn Việt Nam sau 1975 – nhìn từ góc độ thể loại của tác giả
Trang 7Nguyễn Thị Năm Hoàng (Luận án tiến sĩ văn học – Đại học Khoa học
xã hội và nhân văn – Năm 2015) và đặc biệt là luận án Truyện ngắn các
nhà văn nữ đương đại – Tư duy nghệ thuật và đặc trưng thể loại của tác
giả Phạm Thị Thanh Phượng Các công trình đã từng bước làm sáng rõ đặc trưng của truyện ngắn nói chung và truyện ngắn nữ nói riêng Điểm chung trong sáng tác của các cây bút nữ chính là sự thể hiện một thiên tính nữ in đậm trong tư duy nghệ thuật dẫn đến sự chi phối về đặc trưng
thể loại Dường như đặc trưng thể loại truyện ngắn và tư duy nghệ thuật
của các nhà văn nữ có khá nhiều điểm tương đồng, góp phần tạo nên sự
“thăng hoa” của thể loại lẫn chủ thể sáng tạo
1.1.3 Nghiên cứu về những tác giả nữ cụ thể
Đây là hướng nghiên cứu thu hút được nhiều nhất sự quan tâm của các nhà phê bình, nghiên cứu hay cả công chúng bạn đọc Rất nhiều bình diện trong sáng tác của các cây bút nữ được lật mở trong đó nhiều nhất là những bài viết giới thiệu về các tác phẩm hay phong cách nhà văn Vì thế, trong phạm vi này, chúng tôi chỉ điểm qua những bài viết góp phần làm nổi bật đặc trưng, phong cách của một số tác giả trong phạm vi nghiên cứu của luận án như Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Ngọc Tư…
1.1.4 Tiếp cận truyện ngắn nữ từ góc độ vận dụng lý thuyết 1.1.4.1 Lý thuyết phê bình nữ quyền
Hướng nghiên cứu này cũng nhận được sự quan tâm của các nhà khoa học Tiêu biểu như các bài viết về văn học nữ quyền của Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Thị Bình, Trần Huyền Sâm, Hồ Thị
Khánh Vân và hai công trình luận án Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam đương đại (Qua sáng tác của một số nhà văn nữ tiêu biểu) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Xuân và Tinh thần
Trang 8nữ quyền trong văn xuôi Việt Nam sau 1986 của tác giả Mai Thị Thu
Thông qua đó có thể thấy dù vô thức hay tự giác nhưng sáng tác của các cây bút nữ là biểu hiện rõ nét nhất về ý thức nữ quyền hay tinh thần nữ quyền trong văn học Nghiên cứu văn học nữ, không thể không nhìn thấy sự tác động của nữ quyền luận trong sáng tác của các cây bút nữ bởi đó là chiếc chìa khóa mở ra những chân trời tiếp nhận của văn chương giới nữ
1.1.4.2 Lý thuyết phê bình phân tâm học
Có thể điểm qua một số bài nghiên cứu theo xu hướng này của các tác giả như Hồ Thế Hà, Nguyễn Ánh Vân, Hoàng Đăng Khoa
nhưng đáng chú ý có lẽ là công trình luận án Truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam đương đại từ góc nhìn phân tâm học của tác giả
Nguyễn Trọng Hiếu Trong muôn nẻo đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn, phê bình phân tâm học là một nét phong cách và thi pháp vừa gần gũi, vừa bất ngờ, vừa mới lạ góp phần khám phá những “con người thật sự và sự thật về con người” trong truyện ngắn của các nữ văn sĩ
1.2 Tình hình nghiên cứu ở ngoài nước
Trong phạm vi tài liệu bao quát được (chủ yếu là những công trình đã được dịch sang tiếng Việt), chúng tôi nhận thấy các tài liệu nước ngoài nghiên cứu về truyện ngắn đặc biệt là truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại dường như còn khá ít ỏi Phần lớn là những bài viết của các học giả nước ngoài về một số tác giả hay tác phẩm tiêu biểu, tạo được sự chú ý cho dư luận như Nguyễn Huy Thiệp, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Tư Đáng kể nhất theo hướng nghiên cứu này là công
trình Ngôn ngữ trần thuật trong truyện ngắn Việt Nam sau 1975 (Trên
tư liệu truyện ngắn ba nhà văn nữ) của PGS Hoàng Dĩ Đình – một nữ
chuyên gia tiếng Việt và Việt Nam học của Đại học Ngoại Ngữ - Ngoại
thương Quảng Đông (Trung Quốc)
Trang 91.3 Nhận xét tình hình nghiên cứu và hướng nghiên cứu của đề tài
1.3.1 Nhận xét tình hình nghiên cứu
Các nhà nghiên cứu hầu như đều “gặp gỡ” nhau trong việc nhận diện một số vấn đề cơ bản của truyện ngắn nữ như cảm hứng, đề tài, hình tượng nhân vật nữ hay những đổi mới về thi pháp thể loại Ngoài các công trình khẳng định giá trị cũng như sự đóng góp của văn xuôi nữ nói chung và truyện ngắn nữ Việt Nam nói riêng, chủ yếu là hướng nghiên cứu trong việc tìm kiếm, xác lập những vấn đề chung về tư duy nghệ thuật hay đặc trưng thể loại góp phần làm nên cái gọi là “lối viết nữ” Trong các hướng nghiên cứu về truyện ngắn nữ hay văn học nữ, hướng nghiên cứu nữ quyền hay phái tính được đặc biệt chú ý với số lượng các công trình hay bài viết nghiên cứu là khá lớn
1.3.2 Hướng nghiên cứu của đề tài
1 Đặt truyện ngắn nữ trong bối cảnh lịch sử, xã hội văn hóa của thời đại và đặc biệt là trong mối quan hệ nội tại với các nhà văn để nhìn thấy những tiền đề xã hội và thẩm mỹ dẫn đến sự hình thành và lớn mạnh của truyện ngắn nữ
2 Để tránh đi vào những con đường đã trở nên cũ và quen thuộc, chúng tôi bước đầu nghiên cứu truyện ngắn nữ từ góc độ kí hiệu
3 Lựa chọn không gian, thời gian nghệ thuật và những diễn ngôn mang đặc trưng về giới trong truyện ngắn nữ chúng tôi muốn phát
lộ rõ hơn bản chất của văn chương nữ cũng như thái độ của những người viết nữ trong việc phản ánh.Sự lựa chọn của họ ở những cách tổ chức không thời gian hay kiến tạo những diễn ngôn riêng của giới mình
là sự lựa chọn mang tính tự giác nhằm chuyển tài thông điệp cuộc sống theo cách của chính họ và quan trọng hơn đây cũng là một trong những điểm làm nên sự khác biệt giữa cây bút nữ với các tác giả nam cùng thời
Trang 10Chương 2 TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY TRONG BỔI CẢNH ĐỔI MỚI VÀ HỘI NHẬP
2.1.Những tác động “ngoại sinh”
2.1.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội và môi trường văn hóa thẩm mỹ
Sự thay đổi của bối cảnh lịch sử xã hội cũng như những tiền đề văn hóa thẩm mỹ đã tác động mạnh mẽ đến mọi phương diện đời sống trong đó có văn học, đặc biệt là văn học nữ Trong sự bức phá chung của hiện thực đời sống sau Đổi mới, các cây bút nữ đã có điều kiện để nhập cuộc một cách tích cực vào đời sống xã hội cũng như cất lên tiếng nói của riêng mình trong sáng tạo văn chương
2.1.2 Ảnh hưởng của lý thuyết nữ quyền và khuynh hướng văn học nữ quyền trên thế giới
2.1.2.1 Lý thuyết nữ quyền và tư tưởng nữ quyền trên thế giới
Nhìn lại lịch sử văn học dân tộc, các nhà nghiên cứu đều thống nhất, văn hóa Mẫu hệ là nền tảng tư tưởng của ý thức phái tính và âm hưởng nữ quyền trong văn học Việt Nó là dòng chảy liên tục từ văn học dân gian đến văn học hiện đại, nhưng phải đến thế kỷ XX, khi chủ nghĩa nữ quyền trên thế giới tác động đến nước ta, tiếng nói nữ quyền
và những nghiên cứu nữ quyền mới chính thức bắt đầu Tuy nhiên, do
sự tác động của hoàn cảnh lịch sử và yêu cầu của thời đại, tinh thần nữ quyền trong văn học có những biểu hiện và đặc trưng với mức độ đậm nhạt khác nhau, để đến năm 1986 khi bắt gặp những điều kiện thuận lợi của bối cảnh lịch sử và xã hội, tiếng nói nữ quyền hay dòng văn học nữ lưu mới thực sự phát triển mạnh mẽ, làm nên dấu ấn của nền văn học
đương đại
2.1.2.2 Khuynh hướng văn học nữ quyền thế giới
Trang 11Văn học nữ đương đại Việt Nam không phải là hiện tượng chuyên biệt mang đặc thù riêng của một quốc gia, dân tộc mà là sự hòa nhịp chung với văn chương nữ thế giới Những thành tựu của văn học
nữ Việt Nam đương đại vừa nằm trong mạch vận động chung của văn chương nữ thế giới vừa nhận được sự hậu thuẫn của nó, đồng thời góp phần làm nên diện mạo của văn chương nữ thế giới đương đại Những tác động “ngoại sinh” tuy không phải là nhân tố chính nhưng hết sức quan trọng trong sự “đột khởi” của những người viết nữ ở Việt Nam cũng như sự phát triển của văn học nữ nói chung và truyện ngắn nữ nói riêng trên văn đàn Việt
2.2 Những vận động “nội tại”
2.2.1 Sự “lên ngôi” của thể loại truyện ngắn
Từ sau năm 1986, truyện ngắn có nhiều thành tựu nổi bật nhờ vào công cuộc Đổi mới xã hội và văn chương Người ta nhìn thấy ở thể loại này sự bùng nổ về cả số lượng, lẫn chất lượng Sự lên ngôi của thể loại này xuất phát từ đặc điểm của thời đại và ưu thế của thể loại Đặc trưng thẩm mỹ của truyện ngắn phù hợp với sự chuyển đổi của cuộc sống đa chiều kích thời hiện đại, thời của hiện thực thậm phồn và của sự
va đạp các dạng thức diễn ngôn, thời của tiểu tự sự và phi trung tâm Từ một thể loại được quan niệm là nhỏ/thấp, có thể khẳng định, sau 1986 truyện ngắn đã trở thành thể loại trụ cột của văn chương thời đại mới
2.2.2 Sự lớn mạnh về lực lượng đội ngũ nhà văn nữ
Từ 1986 “cán cân” lực lượng đội ngũ sáng tác đã có sự thay đổi đáng kể dành cho người viết nữ Những cái tên tác giả nữ không còn
“bấm trên đầu ngón tay” mà là sự “đổ bộ” với số lượng đông đảo Từ những lớp nhà văn đã thành danh trong giai đoạn chống Mỹ như Nguyễn Thị Ngọc Tú, Nguyễn Thị Như Trang, Lê Minh Khuê, Ngô Thị Kim Cúc, Phạm Thị Minh Thư, Dạ Ngân, Đoàn Lê, Lý Lan đến những
Trang 12thế hệ xuất hiện ngay và sau cao trào đổi mới như: Phạm Thị Hoài, Y Ban, Võ Thị Hảo, Võ Thị Xuân Hà, Trần Thùy Mai, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, …Từ những lớp nhà văn thế hệ 7x như Nguyễn Ngọc Tư, Đỗ Hoàng Diệu, Đỗ Bích Thúy, Di Li, đến những thế
hệ 8x Phan Hồn Nhiên, Dương Thụy,Từ Nữ Triệu Vương, Lynh Bacardi, Nguyễn Thúy Hằng, Ngọc Cầm Dương, Nguyễn Quỳnh Trang…đã khẳng định sự vượt trội của những người viết nữ Không phải tất cả những cây bút đều tạo được tiếng vang, đều đem lại thành tựu đáng kể cho nền văn học nhưng sự xuất hiện của họ đã thể hiện tính chất dân chủ và đa dạng của nền văn học mới
2.2.3 Sự trỗi dậy từ ý thức của chủ thể sáng tạo: “Phụ nữ chúng tôi phải viết”
Có thể thấy, người phụ nữ viết văn xuất phát từ chính nhu cầu,
ý thức nội tại của cá nhân, là “hành vi xác tín bản ngã” của người nghệ
sĩ Văn chương đối với các nữ văn sĩ trước hết là sự ghi dấu ấn vân tay của mình trên trang viết Những người đàn bà viết văn thời hiện đại chọn viết văn “để sống một cuộc sống khác” (Xuân Quỳnh) và họ đã viết bằng thái độ kiêu hãnh, tự tin khác hẳn Họ không ao ước “Ví đây đổi phận làm trai được” như Hồ Xuân Hương một thời, mà chủ động xác lập quyền bình đẳng ở nơi cá tính đã trở thành giá trị tự thân của ngưới sáng tác
2.3 Truyện ngắn nữ - “phần tinh túy làm nên bản lai diện mục” của nền văn học Việt Nam đương đại
2.3.1 Giới nữ và truyện ngắn – sự lựa chọn tự giác mang đặc trưng về giới
Sau 1986, người ta chứng kiến sự hưng thịnh của thể loại truyện ngắn mà chủ nhân của nó lại là của những người viết nữ Điều này bắt nguồn trước hết từ sự chuyển dịch các giá trị về văn hóa và con
Trang 13người của cuộc sống hậu chiến Phụ nữ dường như “bắt mạnh với thời đại nhanh hơn nam giới” (Vương Trí Nhàn) Mặt khác, là “hình thức tự
sự cỡ nhỏ” truyện ngắn dường như phù hợp với thể tạng, “sức rướn” cũng như ưu thế của nữ giới
2.3.2 Truyện ngắn nữ - sự kiến tạo những giá trị độc đáo riêng biệt
Viết như một hành vi xác tin bản ngã, truyện ngắn nữ trước hết
là sự bộc lộ cái tôi - nhân vị sâu sắc và toàn vẹn của người đàn bà Vì vậy, lần đầu tiên, người ta buộc phải nhìn nhận sự khác biệt về giới trong cách nhìn và cách cảm về hiện thực cuộc sống Đặc biệt, truyện ngắn nữ có thể xem chính là sự kiến tạo tri thức và quyền năng về diễn ngôn của giới nữ Tiếng nói, có thể là một vấn đề bình thường, hiển nhiên đối với đàn ông như đối với phụ nữ nó như “một thân phận và như một hành động” (Trần Thiện Khanh)
Chương 3 NHỮNG MÔ HÌNH GIAO TIẾP TRONG
TRUYỆN NGẮN NỮ VIỆT NAM TỪ 1986 ĐẾN NAY
Với mong muốn đem lại một hướng tiếp cận mới trong việc luận giải những vấn đề của văn học nữ, chúng tôi cũng bước đầu đặt truyện ngắn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay dưới góc độ kí hiệu học, xem xét truyện ngắn nữ như một hình thức giao tiếp đặc biệt của những người phụ nữ viết văn với con người và cuộc đời.Từ đó, nhận diện đặc trưng của lối viết nữ thông qua những mô hình giao tiếp và cách thức
giao tiếp của họ trong văn
3.1 Mô hình giao tiếp với thiên nhiên
3.1.1.Thiên nhiên và dấu ấn văn hóa
Với tư duy nội cảm, những cây bút nữ dường như có thiên hướng mạnh hơn các tác giả nam trong việc quay về với những gì bình