1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số vấn đề nổi bật của truyện ngắn các nhà văn nữ việt nam từ 1986 đến nay

95 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Vấn Đề Nổi Bật Của Truyện Ngắn Các Nhà Văn Nữ Việt Nam Từ 1986 Đến Nay
Tác giả Nguyễn Thị Thu Hương
Người hướng dẫn Tiến Sỹ Đinh Trí Dũng
Trường học Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại luận văn
Năm xuất bản 2004
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 95
Dung lượng 848,73 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

-“ Thi pháp truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”, Báo văn nghệ số Trong số các bài viết trên, chúng tôi chú ý đến những ý kiến sau: Tác giả Bùi Việt Thắng trong bài “Tản mạn về truyện ng

Trang 1

Lời Cảm Ơn

Để hoàn thành luận văn này, chúng tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của Tiến sỹ Đinh Trí Dũng, các Giáo sư, Tiến

sỹ ở Viện Văn học; sự góp ý chân tình của các thầy cô giáo trong Khoa Ngữ văn, Đại học Vinh; sự giúp đỡ, động viên khích lệ của bạn

bè và người thân

Chúng tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc đối với tất cả các thầy cô giáo và tất cả các bạn

Vinh, tháng 12 năm 2004

Tác giả

Nguyễn Thị Thu

Hương

Trang 2

MỤC LỤC

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 6

CHƯƠNG 1 TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ TRONG BỐI CẢNH

CHUNG CỦA TRUYỆN NGẮN SAU 1975 8

1.1 Bối cảnh lịch sử và sự thay đổi tư duy, cảm

1.1.1 Bối cảnh lịch sử - xã hội 8 1.1.2 Sự chuyển đổi tư duy, cảm hứng trong văn

CHƯƠNG 2 NHỮNG CHỦ ĐỀ ĐƯỢC QUAN TÂM ĐẶC BIỆT TRONG

TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ TỪ 1986 ĐẾN NAY 25

2.1.1 Vài nét về chủ đề đạo đức thế sự, đời tư

2.1.2 Chủ đề đạo đức thế sự, đời tư trong truyện

ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay

28

2.2 Bi kịch của con người trong đời sống - trước

2.2.2 Bi kịch tình yêu, hôn nhân gia đình 48

CHƯƠNG 3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NGHÊ THUẬT NỔI BẬT TRONG

TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ TỪ 1986 ĐẾN NAY 56

Trang 4

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Văn học Việt Nam từ 1945 - 1975 đậm đà chất sử thi, phù hợp với thời

đại lịch sử hào hùng “cả nước có chung tâm hồn, cùng chung khuôn mặt” (thơ Chế Lan Viên) Từ sau 1975, cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc, lịch sử dân tộc ta đã bước sang trang mới Theo đó, văn học từ 1975 đến nay cũng có nhiều sự đổi mới, cách tân và đã có nhiều thành tựu được khẳng định Văn xuôi sau 1975 chuyển từ duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết và theo đó là sự thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người

Từ 1986 trở lại đây, văn xuôi nước nhà (đặc biệt là truyện ngắn) đang thực sự chuyển mình, “thay da đổi thịt” với sự xuất hiện của hàng loạt các cây bút trẻ đầy triển vọng Trong số đó, một hiện tượng độc đáo đang gây được nhiều sự quan tâm của giới nghiên cứu và phê bình đó là sự “lên ngôi” của các cây bút nữ: Lê Minh Khuê, Phạm Thị Hoài, Y Ban, Nguyễn Thị Ấm, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Trần Thị Trường

Họ là những cây bút viết khỏe, giàu nội lực, tinh tế và đằm thắm Có thể nói rằng, sự “lên hương” của các cây bút truyện ngắn nữ đã làm cho văn học nước nhà có nhiều đổi thay, khởi sắc “Phái đẹp” đang mạnh lên và không thể hình dung đầy đủ đời sống văn học hôm nay nếu không nhắc tới tên tuổi và tác phẩm của họ Các nữ văn sĩ ấy là gương mặt sáng giá của “thể loại nhỏ” và làm cho văn học giàu nữ tính hơn, mềm mại hơn Họ đã gây được ấn tượng cho người đọc nhờ cách trình bày cuộc sống theo hình thức “lạ hoá” đối t-ượng - Cái khả năng, chỉ có thể có ở những người cầm bút mà cách nhìn cuộc

Trang 5

sống thật phóng túng, giàu sức tưởng tượng, uyển chuyển, linh hoạt mặc dù mỗi người một vẻ, không ai giống ai.

1.2 Như đã trình bày ở trên, truyện ngắn của các nhà văn nữ đang ngày một

mới mẻ, đậm “chất đời” hơn Vì thế, nó đang được bạn đọc đón nhận rất nhiệt tình Thế nhưng, dường như giới phê bình, nghiên cứu chưa quan tâm đến họ một cách đúng mức Vẫn thiếu những công trình có tính chuyên sâu, có tầm khái quát về đặc điểm và đóng góp của các nhà văn nữ Luận văn này muốn góp một phần nhỏ đi vào đề tài có ý nghĩa nhưng cũng rất khó khăn này

1.3 Gắn với tên tuổi của các nhà văn nữ hiện nay là số lượng tác phẩm đồ sộ

Với phạm vi của một luận văn thạc sĩ, chúng tôi không có đủ điều kiện về thời gian và tài liệu để tìm hiểu hết Vì thế, với sự chọn lọc, chúng tôi muốn đưa ra cách nhìn nhận về sự đóng góp của các cây bút nữ theo dòng thời gian với một số tác giả tiêu biểu: Lê Minh Khuê, Trần Thị Trường, YBan, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo Dẫu biết sự “phác vẽ” này là ch-

ưa đầy đủ, nhưng dẫu sao cũng đã có thể qua họ để nhận ra gương mặt chung của các cây bút truyện ngắn nữ Hơn nữa, những nhà văn này đang gây được

sự chú ý và sáng tác của họ đang dần hình thành phong cách Từ đó, thấy ược những đặc điểm chung của truyện ngắn nữ từ 1986 đến nay trong dòng chảy liên tục của văn học sau 1975

đ-1.4 Nghiên cứu truyện ngắn nữ từ 1986 đến nay cũng giúp ta thấy được sự

phong phú, đa dạng của văn học sau 1975 để góp phần vào việc giảng dạy, học tập phần văn học Việt Nam sau 1975 được tốt hơn, trước hết là với bản thân tác giả

Đó là những lý do khiến chúng tôi chọn đề tài: “Một số đặc điểm nổi bật của truyện ngắn các nhà văn nữ Việt Nam từ 1986 đến nay”

Trang 6

2 Lịch sử vấn đề

Truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay với nhiều điều mới

mẻ mà vẫn rất đỗi quen thuộc với cuộc sống Chúng đã gây được nhiều chú ý đối với độc giả và giới nghiên cứu Tuy nhiên, do nhiều lẽ, những bài nghiên cứu, bình luận về truyện ngắn của các nhà văn nữ cũng chưa thật nhiều Có thể kể tên một số công trình, bài viết sau đây:

- “Tứ tử trình làng”, bài giới thiệu cuốn “Truyện ngắn bốn cây bút nữ”

của Bùi Việt Thắng

- “Các nhà văn nữ và sự khủng khoảng trong văn học Việt Nam” - Trích trong cuốn “Phê bình văn học cảm tính” của Nguyễn Thanh Sơn, NXB

Hà Nội 2001

- “Có phải các nhà văn nữ viết hay hơn các quý ông?” - Nguyễn Linh

Trường, Báo An ninh thế giới, số 35, 5/2004

- “Những quý “bà” giải nhất văn chương”, Nguyễn Vĩnh - Báo An ninh

-“Ghi nhận về thế giới nghệ thuật Phan Thị Vàng Anh”, Báo văn nghệ

trẻ số1.1995 - Huỳnh Phan Anh

Trang 7

-“Phan Thị Vàng Anh - Đâu rồi bầu trời màu xanh !”, Báo an ninh thế

giới số 32, tháng 2 - 2004, Hoàng Thị Loan

-“ Thi pháp truyện ngắn của Nguyễn Thị Thu Huệ”, Báo văn nghệ số

Trong số các bài viết trên, chúng tôi chú ý đến những ý kiến sau:

Tác giả Bùi Việt Thắng trong bài “Tản mạn về truyện ngắn của những

cây bút nữ trẻ” (Báo văn nghệ số 43 năm 1993 ) đã khẳng định: “Truyện

ngắn hôm nay đang khởi sắc nhờ sự đóng góp không nhỏ của những cây bút nữ trẻ” Tiếp đó, tác giả Bùi Việt Thắng đã đưa ra những nét khái quát chung nhất về đặc điểm của những cây bút nữ này Theo ông: “Làm nên đặc trưng của những cây bút nữ trẻ là cái nhu cầu đến như là say mê được tham dự, được hoà nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hy vọng của con người ( ) “Nữ tính” của những cây bút trẻ phát lộ rất rõ trong sự quyết liệt đấu tranh giành, giữ tình yêu và sự bình quyền trong tình cảm” Về nghệ thuật thể hiện thì tác giả bài viết này đã rất tinh ý, nhạy bén khi phát hiện ra đặc điểm chung của các cây bút nữ là lối viết “phá cách” rất tự do, khoáng đạt và uyển chuyển linh hoạt”

Trên báo An ninh thế giới số 34 (5/2004) có bài “Có phải các nhà văn nữ

viết hay hơn các quý ông ?”, tác giả Nguyễn Văn Trường đã nhắc đến hiện tượng “âm thịnh dương suy” (chữ của GS Hoàng Ngọc Hiến) trong đời sống

Trang 8

văn học Theo cuộc thăm dò dư luận thì các “quý bà” đã thực sự dành được số phiếu cao hơn Điều đó đã nói lên rằng “người đọc đã thực sự tin tưởng và yêu mến những trang văn của các nhà văn nữ hơn rất nhiều những gì do quý ông viết ra” Tác giả bài viết đã mạnh dạn đưa ra một “dự báo” đáng chú ý:

“Chúng ta chưa trả lời được rõ ràng câu hỏi rằng liệu các nhà văn nữ có viết văn hay hơn các quý ông không? Nhưng chúng ta có thể khẳng định rằng những giọng văn của các nhà văn nữ cuồng nhiệt hơn, ấm nóng hơn, trung thực hơn những trang văn của một số quý ông”

Ngoài những bài viết đánh giá cao những thành tựu của truyện ngắn nữ thì vẫn còn tác giả hoài nghi, muốn nhìn nhận lại việc đánh giá những

thành tựu ấy Tác giả Nguyễn Thanh Sơn với bài viết “Các nhà văn nữ và

khủng hoảng trong văn học Việt Nam” cho rằng: Sở dĩ có sự bùng nổ của

các nữ văn sỹ là do “thời buổi kinh tế thị trường” Theo ông, “những nhà văn nữ Việt Nam có lẽ chẳng mang đến cái gì mới và còn lâu mới tự đổi mới được ” vì “họ luôn phải dựa dẫm vào hình ảnh một người đàn ông lý tưởng nào đó( ) họ lại quanh đi quẩn lại trong những bi kịch gia đình cũ rích mà kẻ chịu đựng bao giờ cũng là một cô bé hay cậu bé nào đó” Cuối cùng, bằng cái nhìn một chiều, sau khi đưa ra những lời “chê bai” các nhà văn nữ, Nguyễn Thanh Sơn đi đến kết luận: “Tất cả những cái đó: sự thiển cận về tư tưởng, nông cạn về tri thức, hời hợt về tình cảm đã trở thành một căn bệnh kinh niên không chỉ của riêng các nhà văn nữ, nó chỉ là một phần trong cuộc khủng hoảng sâu sắc của văn học Việt Nam hiện nay Có điều, bằng thái độ tự tin một cách khó hiểu, những nhà văn ấy cứ tiếp tục cho ra đời những tác phẩm không sức sống, những mẩu chuyện vụn vặt vô hồn

Họ đã đẩy sự tầm thường lên đến độ bất thường.”

Trang 9

Như một điều tất nhiên, dễ hiểu, một tác phẩm ra đời có người khen, kẻ chê Nhưng theo chúng tôi, việc nhìn nhận hiện tượng các nhà văn nữ như tác giả Nguyễn Thanh Sơn e là phiến diện, không công bằng Biết đâu, một số điểm mà Nguyễn Thanh Sơn chê lại là yếu tố làm nên nét đặc sắc riêng của các nhà văn nữ ?

Tuy nhiên, chúng tôi - những người làm đề tài này thấy rằng: Ngoài những bài viết mang tính khái quát về văn xuôi sau 1975 thì những bài viết, những ý kiến có liên quan đến truyện ngắn của các nhà văn nữ đều là những nguồn tư liệu quý giá cho chúng tôi trong việc nghiên cứu và học tập Tuy nhiên, do hạn chế bởi khuôn khổ bài viết, các tác giả chưa có điều kiện đề cập sâu sắc và cụ thể về các tác phẩm ấy

Chính vì vậy, trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc những ý kiến của các nhà nghiên cứu về truyện ngắn nữ sau 1986, chúng tôi sẽ đi sâu hơn, chỉ ra những nét mới mẻ, những đóng góp của các cây bút truyện ngắn nữ trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật

3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Chúng tôi khảo sát khoảng 60 truyện ngắn chọn lọc của 6 nhà văn nữ tiêu biểu: Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, Y Ban, Trần Thị Trường, Lê Minh Khuê, được rút ra rừ các tập:

- “37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ” ( NXB Hội Nhà Văn)

- “Truyện ngắn bốn cây bút nữ” ( NXB Văn học, Hà Nội 2001)

- “Hoa mưa” (Tập truyện ngắn của Trần Thị Trường) (NXB Hội Nhà Văn)

Trang 10

- “ Thời gian ngoảnh mặt” (Tập truyện ngắn của Trần Thị Trường) (NXB Hội Nhà Văn)

- “ Trong làn gió heo may” (Tập truyện ngắn của Lê Minh Khuê) (NXB Văn Học)

- “Truyện ngắn Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Trọng Nghĩa” (NXB Công

an nhân dân)

-“Truyện ngắn của các nhà văn nữ Việt Nam” (NXB Giáo dục)

- “Truyện ngắn năm cây bút nữ” (NXB Hội Nhà Văn)

- “Khi người ta trẻ” (Truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh) (NXB Hội Nhà Văn, 1994 )

- “Biển cứu rỗi” (Tập truyện ngắn của Võ Thị Hảo ) (NXB Hà Nội, 1993)

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

- Khái quát về bức tranh truyện ngắn Việt Nam sau 1975 nói chung và truyện ngắn nữ sau 1986 nói riêng

- Tìm hiểu những chủ đề được các nhà văn nữ Việt Nam đặc biệt quan tâm từ 1986 đến nay

- Tìm hiểu một số đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn kết hợp nhiều phơng pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh đối chiếu, phương pháp phân loại thống

5 Cấu trúc luận văn

Trang 11

Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Truyện ngắn của các nhà văn nữ trong bối cảnh chung của truyện ngắn sau 1975

Chương 2: Những chủ đề được quan tâm đặc biệt trong truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay

Chương 3: Một số đặc điểm nghệ thuật nổi bật trong truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay

tự do và thống nhất đất nước

Tháng 4 năm 1975, với chiến thắng của chiến dịch Hồ Chí Minh lịch

sử, nước nhà hoàn toàn thống nhất, Bắc - Nam từ đây sum họp một nhà Bài

Trang 12

ca khải hoàn ấy đã mở ra kỷ nguyên mới, vận hội mới, nhiều tiềm lực mới

đư-ợc phát hiện trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội Cuộc sống có nhiều biến động, nhiều đổi thay, những khó khăn lâu dài và trước mắt đang từng bước được khắc phục

Năm 1986, Đảng ta tiến hành Đại hội lần thứ VI Đây là Đại hội của thời kỳ mở cửa, thời kỳ đổi mới Tuy vậy, cái xấu, cái ác, tệ nạn xã hội vẫn đang tồn tại trong cuộc sống; mặt tiêu cực vẫn đang phát triển Làn gió đổi mới cùng với nền kinh tế thị trường, bên cạnh việc đưa nền kinh tế đất nước

đi lên thì cũng đồng thời bộc lộ những mặt trái của nó Những chuẩn mực đạo đức, đạo lý làm người đang có chiều hướng đi xuống cùng với nhiều hiện tượng băng hoại, tha hoá đạo đức Vì vậy, văn học phải có những đóng góp vào việc xác định những chuẩn mực, những giá trị chân chính trong xã hội, mặc dù nhận thức được “toàn diện khuôn mặt” của cuộc sống mới không phải

là điều dễ dàng Phát hiện ra các vấn đề trong việc tìm hiểu các xung đột, mâu thuẫn về tư tưởng, khẳng định sự thắng lợi của cái mới, đẩy lùi cái cũ - đó là trách nhiệm và niềm cảm hứng đầy sáng tạo của văn xuôi hôm nay

1.1.2 Sự chuyển đổi tư duy, cảm hứng trong văn học

Văn học 1945 - 1975 như ta đã biết, ra đời trong hoàn cảnh đặc biệt: đất nước ba mươi năm có chiến tranh liên tục Văn học lúc này phục vụ đắc lực cho sự nghiệp giải phóng dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất yếu thường nghiêng về phản ánh các sự kiện có ý nghĩa lịch sử và có tính cách toàn dân Những điều văn học đề cập đến lúc đó phải là những vấn đề trung tâm, cốt lõi, liên quan đến sự sống còn của cả dân tộc, đất nước Chính vì vậy, con người trong văn học 1945 - 1975 là con người sống với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, họ tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng

Trang 13

đồng Đời sống tập thể, không gian công cộng, đáng kể hơn đời sống riêng tư, khuôn viên gia đình

Từ thực tế đó, một điều rất dễ hiểu là các đề tài về đời tư, đời thường, thế sự đạo đức, số phận cá nhân giữ một vị trí thứ yếu, không đáng kể trong đời sống văn học 1945-1975 “Các đề tài này không đủ tư cách là một đề tài

độc lập, nó như một thứ văn học loại hai, không được khuyến khích (Đi bước

nữa của Nguyễn Thế Phương, Đêm không ngủ của Vũ Thư Hiên, Màu tím hoa sim của Nguyễn Hữu Loan )[31,182]

Sau 1975, với nhu cầu bức thiết của lịch sử, khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn trong văn học không còn phù hợp, không đáp ứng được thị hiếu thẩm mỹ của người tiếp nhận Nhu cầu cổ vũ, động viên, ngợi ca không còn là vấn đề bức xúc, cấp thiết nữa “Người đọc mới hôm qua còn mặn mà là thế bỗng dưng bây giờ quay lưng lại với anh”, cho nên văn học yêu cầu phải nhanh chóng có sự đổi mới

Sau 1975 và đặc biệt là những năm 80 do nhu cầu thẫm mỹ mới của bạn đọc và được sự khuyến khích, động viên của Đảng, văn học của chúng ta

đã có sự cách tân, đổi mới Đây là thời kỳ văn xuôi có sự chuyển mình, “trở dạ” Nghị quyết 05 về văn hoá Việt Nam đã mở ra trong đời sống văn nghệ một cơ chế quản lý, tạo điều kiện cho văn học nói chung và văn xuôi nói riêng phát triển mang những tố chất mới so với thời kỳ trớc đó - thời kỳ mà những tác phẩm hay nhất là những tác phẩm viết về đề tài chiến tranh, ở đó là thế giới của cái cao cả, cái đẹp đang vươn lên trên sự tàn phá, huỷ diệt của bom đạn, là thế giới của lòng dũng cảm, của tình người và lòng thuỷ chung Nhưng khi những biến động xã hội luôn tác động đến cuộc sống, số phận của con người đổi thay, những vấn đề thế sự và nhân sinh luôn đặt ra những câu hỏi

Trang 14

và dày vò lương tâm của mỗi con người thì người viết cũng phải suy nghĩ và

có thái độ thích hợp Nếu như trước đây con người là đối tượng hầu như chỉ

để ngợi ca hay phê phán thì giờ đây nó được nhà văn đi sâu vào thế giới nội tâm, đi vào số phận, tìm đến những vấn đề cụ thể, đời thường mà vẫn mang ý nghĩa nhân văn

Cái mới, cái cách tân trớc tiên có thể kể đến của văn học sau 1975 là bình diện tư duy nghệ thuật Văn xuôi nói chung và truyện ngắn nói riêng sau

1975 chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Hiện thực đời sống thay đổi khác trước rất nhiều, đòi hỏi các nhà văn cần phải có cách tiếp cận hiện thực phù hợp Văn học lúc này không chỉ chú trọng vào hai đề tài Tổ quốc và xã hội chủ nghĩa như trước đó Một mảng hiện thực lớn trước đây hầu như bị lãng quên, nay được đặc biệt chú ý: Đó là vấn đề đời tư, đời th-ường và thế sự đạo đức “Hình như có một quan niệm mới ở mỗi nhà văn sau năm 1975, mọi vấn đề của cuộc sống hay nói cách khác tất cả những gì liên quan đến con ngời đều được các nhà văn quan tâm và đưa vào văn học Từ những vấn đề lớn như lý tưởng sống, đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội, đến những vấn đề nhỏ nhặt trong cuộc sống đời thường đều được các nhà văn quan tâm Nếu như văn học trước đây quan tâm đến số phận, hạnh phúc chung của cả cộng đồng, của cả dân tộc thì nay các nhà văn quan tâm đến từng số phận cá nhân Cảm hứng sử thi thời kỳ năm 1945 -

1975 hướng ngòi bút của người nghệ sĩ vào việc khám phá và ca ngợi những con người tiên tiến, con người anh hùng Đó là những hình mẫu lý tưởng của một thời kỳ vinh quang và oanh liệt, những con người của một sự nghiệp chung, xả thân vì nghĩa lớn, vì tập thể “Mình vì mọi người, mọi người vì mình” là lẽ sống đạo đức của con người trong văn học sử thi Họ xuất hiện

Trang 15

trong các trang văn, vần thơ như là sự đại diện trọn vẹn cho đất nước, cho lý tưởng, lương tâm khí phách thời đại Họ đẹp một cách toàn diện, hoàn mĩ như những viên ngọc không tỳ vết”[31,183-184] Ngược lại, các tác phẩm sau năm

1975 viết về đời tư, đời thường và thế sự đạo đức thì lại hướng tới những con người đời thường, con người bình thường trong cuộc sống, những số phận cá nhân hết sức phức tạp Sự khác biệt giữa con người được đưa vào các tác phẩm qua hai thời kỳ là ở chỗ: Nếu như nhân vật trong văn học 1945-1975 là những con người mẫu mực, lý tưởng mà Đảng, cách mạng, nhà văn mong muốn để nêu gương cho mọi người noi theo, học tập thì đến văn học sau

1975, con người hiện lên vốn như trong cuộc sống Như vậy con người bình thường, đời thường trước đây (1945-1975 ) hầu như bị bỏ quên thì nay được các nhà văn đặc biệt chú ý khám phá và miêu tả sâu sắc Cách nhìn vào hiện thực và con người của các nhà văn đi vào các vấn đề đời tư, đời thường và thế

sự đạo đức, đa diện nhiều chiều và phức tạp hơn

Trước đây, với tư duy sử thi và cảm hứng lãng mạn, cách nhìn cuộc đời

và con người của các nhà văn chủ yếu là cách nhìn đơn giản, một chiều, phiến diện và hết sức rạch ròi thiện - ác, địch - ta, cao cả - thấp hèn, không hề

có sự pha trộn trong các lĩnh vực ấy Tâm hồn con người ít phức tạp, không

có sự giằng xé nội tâm trong việc giải quyết mâu thuẫn giữa cái chung và cái riêng, giữa nghĩa vụ và quyền lợi riêng tư Người đọc có cảm giác nắm bắt, hiểu được con người một cách dễ dàng Nhân vật được tạo ra từ khuôn mẫu

na ná giống nhau, thiếu cá tính

Tiếp xúc với những con người trong văn học sau 1975, người đọc có cảm nhận ngược lại, con người ở đây là một tiểu vũ trụ vô cùng phức tạp, chiều sâu tâm hồn khó nắm bắt Cái tốt, cái xấu đan xen một cách lẫn lộn, có

Trang 16

khi cái cao cả, cái thấp hèn cùng tồn tại trong một con người Các nhân vật trong sáng tác ở giai đoạn này thực sự là những cá tính không hề giống ai, nhưng lại hiện hữu trong muôn mặt của cuộc sống đời thường Nhiều khía cạnh mới trong tính cách của con nguời đời thường được các nhà văn sau

1975 khám phá, khai thác “Đó là những con người được nhìn nhận trong nhiều mối quan hệ phong phú và phức tạp: Quan hệ xã hội, quan hệ đời tư, quan hệ lịch sử , con người với những niềm vui và nỗi buồn, trong sự phấn khởi và nỗi khổ đau, trong niềm tin và sự hoài nghi chính đáng Họ đẹp trong chất thép và cả trong sự mềm yếu”[31,184-185] Bên cạnh đó, quan niệm nghệ thuật về con người đổi mới đã khiến người viết phải mở rộng chân trời tìm kiếm của mình đến những góc khuất và nhìn thấy ngoài cái “con người xã hội kinh điển còn có một loạt những con người trong cùng xã hội và ngay trong cùng một con người” Có thể nói đây là thời kỳ mà trong văn học con người được soi chiếu từ rất nhiều khía cạnh

Như vậy, văn xuôi nói chung và truyện ngắn sau 1975 nói riêng đã bổ sung một mảng hiện thực to lớn trong đời sống văn học 1945 -1975 trước đây hầu như bị bỏ quên Chính vì vậy, hiện thực cuộc sống trong các trang văn đầy đủ, phong phú hơn, gần với hiện thực vốn đang tồn tại Văn học lúc này

“thực hơn”, “đời hơn”

Cũng chính bởi thế, rất dễ hiểu khi bạn đọc hôm nay luôn nhiệt tình đón nhận các truyện ngắn Các cây bút truyện ngắn đã tỏ ra sắc sảo khi đi sâu vào cuộc sống của con người đời thường, đặc biệt là các vấn đề đạo đức thế

sự Sự nghiệp đổi mới đất nước cùng những nới mở trong cuộc sống văn học đem đến cho những cây bút truyện ngắn những cảm hứng và “sức chứa lớn”

Họ là Trần Thị Trường, Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Minh Dậu, Nguyễn Thị

Trang 17

Thu Huệ, Võ Thị Hảo Các tác phẩm của họ đã tiếp bước sự thay đổi, cách tân trong văn học sau 1975 Do vậy, những đứa con tinh thần ấy đã không những đề cập đến nhiều vấn đề của thời đại mà còn làm nên những vấn đề đặt

ra cho cả nền văn học cần nghiên cứu

1.2 VÀI NÉT VỀ THỂ LOẠI TRUYỆN NGẮN VÀ TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ SAU 1975

1.2.1 Truyện ngắn và ưu thế của thể loại

1.2.1.1 Truyện ngắn

Thuật ngữ truyện ngắn (tiếng Pháp: nouvell, tiếng Anh: short story, tiếng Trung Quốc: đoản thiên tiểu thuyết) hiện được dùng như một thói quen,

ít khi người ta đưa ra bàn luận, nhưng thực tế vấn đề không hề đơn giản Từ

“truyện ngắn” bao hàm một quy định chặt chẽ đối với thể loại này, đó là truyện chứ không phải là chuyện kể và tất nhiên phải ngắn

Có rất nhiều quan niệm về truyện ngắn Nguyễn Công Hoan - một cây bút truyện ngắn xuất sắc trên văn đàn Việt Nam quan niệm rằng: “Truyện ngắn và truyện dài phải khác nhau ở tính chất Truyện ngắn không phải là truyện mà là một vấn đề được xây dựng bằng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cất nhắc Muốn truyện ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong từng ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ xoay quanh chủ đề ấy” Còn Nguyên Ngọc thì cho rằng: Truyện ngắn mang rõ từng cái chất của người viết Nó là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung, vì thế “không nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều vẻ Có truyện viết

về cả đời người, có truyện chỉ ghi lại một giây phút thoáng qua” Mỗi người

cố tìm cho mình một định nghĩa, vì thế có hàng trăm khái niệm về truyện

Trang 18

ngắn TSêkhốp, A.Tônxtôi, Nguyễn Tuân, Tô Hoài và cả các nhà phê bình,

lý luận, bạn đọc đều thống nhất với quan điểm của Pautôpxki: “truyện ngắn

là một truyện viết ngắn gọn”

Xem ra, để đưa ra một định nghĩa thật đầy đủ về truyện ngắn không phải dễ dàng Có thể xem định nghĩa truyện ngắn trong “Từ điển thuật ngữ văn học”(NXB ĐHQG, 1998) là có tính hàn lâm và tương đối súc tích: “Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống, đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó

là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ Tuy nhiên, mức độ dài ngắn chưa phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn, nhưng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn như cổ tích, truyện cười, giai thoại lại càng không phải là truyện ngắn Truyện ngắn hiện đại là một kiểu tư duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thực xuất hiện tương đối muộn trong lịch sử văn học Khác với tiểu thuyết - thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn thường hướng tới việc khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn của con người Vì thế, trong truyện ngắn thường có ít nhân vật, ít sự kiện phức tạp Và nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn thường không nhắm tới việc khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong tương quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn thường là hiện

Trang 19

thân cho một quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ười

ng-Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một thời gian, không gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp tường thuật của truyện ngắn thường là chấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung lượng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu chưa nói hết

1.2.1.2 Ưu thế của thể loại truyện ngắn

Truyện ngắn nằm trong hệ thống chung của loại văn kể chuyện Nhà văn kể lại một trường hợp đặc biệt của một nhân vật hay một số nhân vật nào

đó Tuy có một số đặc điểm riêng biệt, nhưng truyện ngắn cũng có những đặc trưng chung của thể loại truyện Đó là: Có cốt truyện, có nhân vật, được thể hiện qua phương thức kể truyện có vai trò của người kể chuyện Lời kể, nhân vật, cốt truyện trong mỗi tác phẩm có mối tương quan khăng khít với nhau

Truyện ngắn hiện đại trong xã hội hiện đại có nhiều ưu thế riêng Nhà nghiên cứu M.Bakhtin đã chỉ rõ: "Mỗi thể loại thể hiện một thái độ thẩm mỹ đối với hiện thực, một cách cảm thụ, nhìn nhận, giải minh thế giới và con người Truyện ngắn cũng là một thể loại như thế, đặc biệt là trong xã hội hiện đại Vì thế, nó thu hút được sự quan tâm của người sáng tác, nghiên cứu, người đọc "[3,67]

Trang 20

Truyện ngắn là một thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động của xã hội và tái hiện được mọi biến thái dù rất tinh vi của đời sống con người Ngày nay, khi xã hội với sự phát triển như vũ bão của các ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ, con người luôn phải đứng trước nguy cơ tụt hậu, đòi hỏi mỗi người phải nỗ lực hết mình thì truyện ngắn là một thể loại có thể nhanh chóng nắm bắt và mô tả được những bước đi ấy của con người Người đọc không có nhiều thời gian để đọc những cuốn tiểu thuyết dài hàng trăm trang với những suy tư nữa mà thay vào đó, họ một mặt vẫn muốn tìm về những món ăn tinh thần có giá trị văn hoá cao nhưng mặt khác nó phải đảm bảo tính thời sự, ngắn gọn và súc tích Không thể có thể loại nào khác ngoài truyện ngắn có thể đáp ứng được yêu cầu đó của thời đại

Truyện ngắn là thể loại tự sự cỡ nhỏ nhưng nó lại có khả năng to lớn trong việc tái hiện cuộc sống của con người, vì nó là thể loại phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu Do vậy, dung lượng của truyện ngắn lại rất lớn Trong một cuộc trao đổi về truyện ngắn năm 1992, nhà văn Nguyên Ngọc nhấn mạnh: " Trong độ ba trang, mấy nghìn chữ mà rõ mặt cả một cuộc đời, một kiếp người, một thời đại Các truyện ngắn bây giờ rất nặng Dung lượng của nó là dung lượng của cả cuốn tiểu thuyết"

Với truyện ngắn từ sau năm 1975, nhất là trong thời kỳ đổi mới dường như lúc nào cũng đáp ứng được tâm lý, thị hiếu của độc giả không chỉ bởi sự nhỏ gọn của hình thức mà còn do sự chuyển tải nhanh nhậy những vấn đề bức xúc của đời sống xã hội hôm nay Vì thế, truyện ngắn đã và đang là trung tâm thu hút sức sáng tạo của các thế hệ cầm bút, là thể loại sở trường của nhiều nhà văn, người đến trước, kẻ đến sau, tập hợp thành một lực lượng hùng hậu

Trang 21

Đó là những cây bút lão thành: Tô Hoài, Bùi Hiển, Nguyễn Khải, Nguyễn Minh Châu, Ma Văn Kháng, Xuân Thiều rồi Lê Minh Khuê, Nguyễn Huy Thiệp, Chu Lai tiếp đến là sự xuất hiện của lớp trẻ dồi dào bút lực: Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh, YBan, Trần Thị Trường, Tạ Duy Anh Đội ngũ tác giả, sự tiếp nối các thế hệ cầm bút này đã góp phần không nhỏ trong việc kế thừa và cách tân thể loại làm cho truyện ngắn ngày càng mới mẻ và phong phú hơn Truyện ngắn của họ thực sự đã phát huy đ-ược ưu thế vốn có của thể loại Bằng các cách khác nhau, với những phương thức thể hiện đa dạng vừa truyền thống, vừa hiện đại, các sáng tác của họ đã thực hiện đầy đủ những chức năng xã hội thẩm mỹ

1.2.2 Nhìn chung về truyện ngắn của các nhà văn nữ sau năm 1975

1.2.2.1 Truyện ngắn nữ từ 1975 đến 1985

Năm 1975, nước nhà thống nhất, giang sơn thu về một mối Văn học

về cơ bản chuyển từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết song trên thực tế

những sáng tác sau 1975 một vài năm vẫn viết theo “quán tính” cũ, nghĩa là vẫn mang cảm hứng ngợi ca cuộc kháng chiến, ngợi ca con người xã hội

chủ nghĩa

Từ 1980 trở đi, nhìn một cách tổng thể thì giai đoạn này văn học thoát khỏi “quán tính”, chuẩn bị cho bước nhảy khi có thời cơ mới Truyện ngắn là một thể loại được nhiều người ưu ái lựa chọn trong khi sáng tạo Trong những năm này, truyện ngắn phát triển mạnh mẽ cả về chất lượng và số lượng Trư-

ớc hết, thành tựu truyện ngắn thể hiện qua các cuộc thi do tuần báo Văn nghệ

tổ chức(1978 – 1979 và 1983 – 1984), do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức (1982 và1983–1984) Một con số đưa ra để chứng minh cho sự nở rộ của truyện ngắn: Hai cuộc thi của tuần báo Văn nghệ, ban chấm giải nhận được

Trang 22

2901 truyện dự thi, đã in báo 203 truyện Qua các cuộc thi này một loạt cây bút mới xuất hiện và được khẳng định: Nguyễn Mạnh Tuấn, Nhật Tuấn, Hồ Quang Lập Thế hệ được coi là “già”như Nguyễn Kiên, Nguyễn Minh Châu,

Ma Văn Kháng, Xuân Thiều, Nguyễn Khải có sự đổi mới trong sáng tác,

“ngòi bút của họ lại có phần linh hoạt và sinh sắc hơn trước”[35,200]

Nằm trong dòng chảy chung này, truyện ngắn của các nhà văn nữ cũng bắt đầu có được nhiều thành tựu đáng khích lệ gắn liền với tên tuổi: Dương Thu Hương,Phạm Thị Minh Thư, Trần Thuỳ Mai, Dạ Ngân, Lê Minh Khuê Những sáng tác của họ đã được công chúng khẳng định cho sự tìm tòi

để đổi mới văn học, để tạo ra chất lượng cao của truyện ngắn Trong vòng mười năm này, có những tác giả viết khoẻ như Dương Thu Hương và Lê Minh Khuê đã in được 5 tập truyện ngắn

Nhìn chung, truyện ngắn nữ trong giai đoạn này chủ yếu tập trung nghiên cứu hiện trạng tinh thần xã hội sau chiến tranh - đó là hiện trạng phức tạp và đa dạng đan xen các mặt tích cực và tiêu cực Tính chất phức tạp của đời sống tinh thần xã hội là kết quả tất yếu của hậu quả chiến tranh, của đời sống kinh tế khó khăn, của sự xâm nhập các trào lưu tư tưởng từ bên ngoài vào Các nhà văn đã dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật, không né tránh và viết

về sự thật Nhà văn có thể viết tất cả mọi chuyện: Nỗi cô đơn, sự đau khổ về thể xác và tinh thần của con người, niềm vui và sự đắng cay của cuộc đời, sự trung thành và sự phản bội quay quắt Đặc biệt, truyện ngắn nữ đã nhìn sâu hơn vào các cảnh ngộ và số phận con người

Trong mười năm này, Dương Thu Hương có thể nói là cây bút nữ viết khoẻ và có nhiều tìm tòi trong sáng tạo truyện ngắn Năm 1981, cùng một lúc

hai tập truyện ngắn của chị ra đời - Những bông bần ly ( NXB Tác phẩm mới)

Trang 23

và Một bờ cây đỏ thắm ( NXB Hà Nội) Truyện ngắn Dương Thu Hương lôi

cuốn người đọc trước hết vì vấn đề đặt ra trong những trang viết của chị đều gần gũi với những vấn đề của đời sống – vừa mới mẻ lại vừa quen thuộc đối với mỗi người Tác phẩm của chị thường có những chủ đề nổi bật: Những vấn

đề của đời sống thường ngày và có những biến cố trọng đại, giàu tính thời sự (Câu chuyện về vùng đất phía Nam vừa giải phóng, vùng biên giới phía Bắc đánh quân Trung Quốc xâm lược )

Nếu như chiến tranh là hoàn cảnh thử thách phẩm giá con người trong những tình huống khắc nghiệt, căng thẳng thì cuộc sống thời bình cũng có những phức tạp riêng của nó Đó cũng là môi trường rèn luyện phẩm chất con người thầm lặng, mà dai dẳng và không kém phần dữ dội, gay gắt Tình yêu, hạnh phúc vốn là chuyện muôn thủa, nhưng trong bối cảnh của đời sống hôm nay, nó vẫn còn những cấn đọng riêng cũng như những vẻ đẹp còn che khuất

“Việc xác định một lý tưởng sống thường ngày, đối diện với lương tâm mình

là vấn đề nổi lên trong văn xuôi lúc bấy giờ mà Dương Thu Hương là một trong những tác giả đặt mũi khoan thăm dò đầu tiên vào “vỉa ngầm” hiện thực phức tạp và tinh vi này[21,114]

Những giá trị tinh thần, đạo đức thông qua tình yêu, hạnh phúc được đề cập khá nhiều trong sáng tác của các cây bút nữ thời gian này Trần Thuỳ Mai, Dạ Ngân, Phạm Thị Minh Thư tuy không sáng tác nhiều song truyện ngắn của các chị đã bắt đầu mang dáng dấp của phái nữ Đối với những cây bút này, sự nồng nhiệt trong say mê - yêu ghét và những nhạy cảm trong quan sát đã giúp cho ngòi bút đi đến cùng trong phạm vi mà tác giả muốn biểu hiện Tuy vậy, cảm nhận chung về truyện ngắn nữ trong giai đoạn này vẫn âm

ỷ một giọng buồn nhớ về quá khứ Họ viết về cái hôm nay song càng đi vào

Trang 24

sâu thì vẫn còn hơi lúng túng trong cách giải quyết các mâu thuẫn đang nảy sinh ngày càng nhiều trong cuộc sống Các cây bút nữ này, càng về sau, các sáng tác của họ càng đặc sắc hơn, xông xáo và nhạy cảm hơn trước hiện thực cuộc sống ngày càng phức tạp

Truyện ngắn 1975 – 1985 nói chung, truyện ngắn nữ nói riêng có xu hướng vươn tới sự khái quát, triết luận về đời sống, kể ít, tả nhiều và sử dụng nhiều hình thức khác nhau để tái tạo đời sống Truyện ngắn 1975 – 1985 đã tạo nên dòng chảy liên tục của truyện ngắn dân tộc, tạo nên “cú hích” mạnh

mẽ cho truyện ngắn giai đoạn sau với nhiều thành tựu rực rỡ

Họ thật sự đã làm cho truyện ngắn Việt Nam trở nên đa dạng hơn bao giờ hết

Trong mười năm trở lại đây, đời sống văn học liên tục chào mừng các nhà văn nữ Những tác phẩm mới mẻ của họ đã thổi một luồng gió mới vào không khí văn chương Họ sống quyết liệt, viết quyết liệt và do đó những ngôn từ trung thực của họ đã lay động được trái tim của độc giả xa gần – lớp già cũng như giới trẻ Những nhà văn nữ liên tục xuất hiện và tạo ra những

“cơn sốt” tinh khiết thực sự trong thẩm mĩ của công chúng Người phụ nữ với trái tim nhân hậu, đa cảm và nhạy bén nên họ đã bắt nhịp được sự thay đổi của đời sống trong từng chi tiết nhỏ nhặt nhất Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến gọi đây là hiện tượng “âm thịnh dương suy”, có nhà văn còn nói hình ảnh “ văn học đương đại Việt Nam mang gương mặt nữ” Quả thật, không thể hình dung

Trang 25

đầy đủ đời sống văn học hôm nay nếu không nhắc tới tên tuổi và tác phẩm của họ - những nhà văn nữ

Những cây bút nữ đến với văn học thật sự tự nhiên, càng viết càng say

mê Họ đã làm nên một dòng chảy liên tục của truyện ngắn với Lê Minh Khuê, Trần Thị Trường, Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh,

Võ Thị Hảo Các tác giả đã hiến dâng cho nhân vật của mình một phần kinh nghiệm sống từ những thử thách, trải nghiệm trong đời So với các nhà văn nam giới, các nhà văn nữ thường hướng ngòi bút của mình vào những hiện tượng đang diễn ra trước mắt Đề tài chiến tranh ít xuất hiện trong truyện ngắn của các chị (ngoài sáng tác của Dương Thu Hương, Lê Minh Khuê - tác giả đã nhiều năm lăn lộn ở chiến trường) Phần lớn, các tác giả nữ thường h-ướng ngòi bút của mình vào những đề tài thường nhật, xoay quanh những vấn

đề đang hàng ngày, hàng giờ gắn bó với con người hiện đại Điều đáng nói là trong khi đi sâu vào đời sống của con người, các chị càng bộc lộ rõ những nét tính nữ, nó vừa táo bạo, quyết liệt song vẫn mềm mại, trong sáng lạ thường

Làm nên đặc trưng của những cây bút nữ trẻ là cái nhu cầu đến như là say mê được tham dự, được hoà nhập vào những nỗi niềm đau khổ và hi vọng của con người Môôm (nhà viết truyện ngắn Anh nổi tiếng thế kỷ XX) đã từng nói: “Người ta không bao giờ biết hết mọi thứ cần biết về bản chất con người Người ta chỉ dám chắc là nó, cái bản chất ấy, sẽ không bao giờ thôi dành cho người khác một sự bất ngờ” Đọc truyện ngắn của các nhà văn nữ hiện nay rất thú vị vì nó hé mở tấm màn bí mật của tâm hồn con người trong cái đời sống vốn “đa sự” và “đa đoan” Chính đời sống “đa sự” ấy buộc các chị không yên lòng, hối thúc họ suy nghĩ, trăn trở về số phận con người

Trang 26

Có thể nói, con người hiện lên trong tác phẩm của các nhà văn nữ thật đa dạng Họ dường như không bỏ sót một mảng hiện thực nào Các nhà văn nữ thường quan tâm tới số phận, bi kịch của những người phụ nữ Viết

về phụ nữ, dường như họ “ rút ruột” ra để viết Đó là nỗi đau của cô gái

mới lớn chửa hoang (Thư gửi mẹ Âu Cơ - Y Ban), là nỗi lòng quay quắt, tê

tái của cô gái phải bán mình để mưu cầu cuộc sống( Vũ điệu địa ngục – Võ Thị Hảo, Nô tỳ được trang sức – Trần Thị Trường), là sự băn khoăn, trăn

trở của những người đàn bà “ ngũ thập tri thiên mệnh” trước bao ngọn gió

lay động của cuộc đời ( Sau chớp là giông bão, Gà ấp bóng – Y Ban, Tân

cảng - Nguyễn Thị Thu Huệ )

Nổi bật lên trên từng trang văn của các chị là hình ảnh những con người tất tả, ngược xuôi đi tìm tình yêu, hạnh phúc Tình yêu là đề tài, là dòng suối mát lành khơi mãi không bao giờ cạn của văn chương Song đến với truyện

ngắn nữ, chưa bao giờ vấn đề tình yêu, hôn nhân gia đình lại được quan tâm

sâu sắc như hiện nay Viết về tình yêu, ngòi bút của các nhà văn nữ dường như chảy mượt trên các trang văn Họ viết say mê, táo bạo, họ thành thật và dám thực hiện nỗi đam mê của mình Phan Thị Vàng Anh đã viết: “ Tôi thích mọi thứ không phải nhà mình, ăn cơm nhà khác, ngủ ở nhà khác, trèo lên một cây ổi nhà khác vặt quả đều thích hơn làm ở nhà mình, thích hơn bởi vì nó

lạ, và tôi chỉ cần lạ” ( Mười ngày) Cây bút nữ này “ biết cách lạ hoá những

điều quen thuộc, biết làm cho da diết những điều tưởng như nhạt nhẽo” ( Nhận xét của Huỳnh Như Phương) nên khi viết về tình yêu, chị thường nắm bắt nó ở những chi tiết nhỏ nhặt nhất song vẫn diễn đạt đợc hết ý tưởng của mình Nguyễn Thị Thu Huệ thì sắc lẻm song vẫn không dấu nổi sự mềm mại khi viết về tình yêu: “ Không có anh Ai dám phủi bụi ở quần tôi Ai dám đưa

Trang 27

đón tôi trên những con đường vắng hoa sấu rụng trắng li ti sau cơn mưa mùa

hạ ướt đẫm? Không có vui buồn, hồi hộp chờ mong giờ hò hẹn Cả đất trời bao la đầy ánh sáng này Không có anh sẽ thành vô nghĩa Có anh Trăng trở nên thần thánh, thiêng liêng Tôi cười và thì thầm với mình “ ôi, tôi yêu cuộc sống này, yêu đêm nay và yêu anh quá”[10,306]

Nét lạ khi viết về tình yêu của các nhà văn nữ thường gắn với nỗi đau

Họ luôn khát khao, chờ đợi nhưng chẳng bao giờ thực hiện được nên tình yêu trong sáng tác của họ thường dang dở, chia lìa, khó nắm giữ

Bên cạnh đó, cuộc sống gia đình cũng là một vấn đề được các nhà văn

nữ quan tâm, chú ý Lịch sử xã hội đổi thay kéo theo sự thay đổi trong tính cách con người và quan điểm sống của họ Gia đình trước kia được coi là khuôn mẫu để quy chiếu ra ngoài xã hội, ứng xử trong gia đình cũng theo tôn

ti ở ngoài xã hội Gia đình hôm nay, do sự biến đổi nhiều mặt trong xã hội, nhân tố cá nhân bắt đầu “cựa quậy” và “ xé rào” nên đã nảy sinh nhiều vấn

đề phức tạp trong quan hệ gia đình Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thị Trường là những người viết nhiều về đề tài này

Gắn liền với vấn đề cuộc sống gia đình là vấn đề đạo đức thế sự cũng được các chị chú ý khai thác Lê Minh Khuê, Võ Thị Hảo, Y Ban đặc biệt quan tâm đến sự băng hoại, xuống cấp của các chuẩn mực đạo đức, môi trường nhân tính đang có chiều giảm sút Vấn đề này không phải đến truyện ngắn nữ mới viết nhưng các chị đã tìm cho mình một lối đi riêng trong ph-ương thức thể hiện đó là khả năng “ lạ hoá” đối tượng nên dù ít dù nhiều nó vẫn mang màu sắc của phái nữ

Hiện thực đa dạng của cuộc sống những năm gần đây đã trở thành mảnh đất màu mỡ cho truyện ngắn phát triển không ngừng Đó chính là gư-

Trang 28

ơng mặt của xã hội đang chuyển mình trong thời kỳ đổi mới Các nhà văn

nữ với truyện ngắn của mình đã theo sát nhịp chuyển biến của thời đại, góp phần không nhỏ trong việc tôn tạo đầy đặn, vững chắc cho nền truyện ngắn Việt Nam

CHƯƠNG 2

Trang 29

NHỮNG CHỦ ĐỀ ĐƯỢC QUAN TÂM ĐẶC BIỆT TRONG

TRUYỆN NGẮN CỦA CÁC NHÀ VĂN NỮ TỪ 1986 ĐẾN NAY

2.1 ĐẠO ĐỨC THẾ SỰ, ĐỜI TƯ

2.1.1 Vài nét về chủ đề đạo đức thế sự, đời tư trong văn học sau 1975

Văn xuôi từ sau 1975 đến nay, đặc biệt là truyện ngắn đã có những khởi sắc và những "tín hiệu mới" Cuộc chiến lùi vào dĩ vãng, sau một quãng lùi lịch sử, sau một khoảng cách thời gian, chất sử thi "nhạt dần" Văn xuôi sau 1975 đã chuyển dần từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết Cảm hứng sáng tạo chuyển từ ngợi ca, tự hào, khâm phục đến chiêm nghiệm, lắng đọng, suy tư Thay vì cách nhìn đơn giản, rạch ròi, thiện - ác, bạn - thù, cao cả - thấp hèn là cách nhìn đa chiều, phức hợp về hiện thực và số phận con người Đề tài chiến tranh và cách mạng, lịch sử và dân tộc dần dần nhường chỗ cho đề tài thế sự và đời tư

Như chúng ta đã biết, do sự chi phối của quy luật chiến tranh, đặc điểm thi pháp của văn học giai đoạn 1945 - 1975 cũng chi phối cách nhìn nghệ thuật về con người giai đoạn này Con người trong truyện ngắn 1945 - 1975 là con người sống với cộng đồng, xả thân vì nghĩa lớn, tìm thấy ý nghĩa cuộc đời trong sự gắn bó với cộng đồng Đời sống tập thể, không gian cộng đồng đáng

kể hơn đời sống riêng tư, khuôn viên gia đình Con người sống trong quần thể, ít có dịp đối diện với bản thân, sống với chính mình Con người xã hội và con người riêng tư có lúc không trùng khít

Sau 1975, trong sáng tác văn học, con người cá nhân đã được điều chỉnh hợp lý, được nhìn nhận một cách đúng đắn và sâu sắc Các chủ thể đã khám phá và phát hiện quá trình hình thành nhân cách con người dưới tác

Trang 30

động và chi phối của các yếu tố xã hội phức tạp và cuộc sống đa chiều hôm nay Vấn đề mà họ quan tâm là bộ mặt tinh thần, đạo đức con người chứ không phải là bộ mặt xã hội của một thời kì nào đó Chưa bao giờ "con người với tất cả quan hệ xã hội của nó, thân phận và cuộc đời của nó" được phản ánh một cách sinh động và phong phú như trong giai đoạn hiện nay

Song con người cá thể trong văn học gần đây không phải là con người của chủ nghĩa cá nhân, của cái tôi cực đoan, coi thường mọi thiết chế đạo đức, không chịu sự chi phối của đời sống xã hội Ở đây, số phận cá nhân được giải quyết thoả đáng trong mối liên hệ mật thiết với xã hội, cộng đồng Đằng sau

số phận của mỗi cá thể là những vấn đề mang ý nghĩa nhân sinh của thời đại

Một mảng hiện thực lớn trước đây hầu như bị bỏ quên, số phận của từng cá nhân con người trước đây luôn được đặt trong mối quan hệ với tập thể thì nay đã khác Vấn đề đời tư, đời thường và thế sự đạo đức được đặc biệt chú ý đến Mọi vấn đề của cuộc sống hay nói cách khác, tất cả những gì liên quan đến con người đều được các nhà văn quan tâm và đưa vào văn học kể cả những vấn đề nhỏ nhặt nhất Có thể nói, trong truyện ngắn sau 1975, từng cá thể, từng mảnh đời riêng biệt âm thầm, lặng lẽ hay ồn ào, sôi động được nhìn nhận trong những môi trường đời sống bình thường, làm nên thế giới nhân vật

đa dạng và phức tạp Bằng nhiều cách khai thác và tiếp cận khác nhau, các nhà văn đã hướng vào thế giới nội cảm, khám phá chiều sâu tâm linh, thấy được ở mỗi cá nhân những cung bậc tình cảm: vui buồn, hạnh phúc, đau khổ, những hi vọng, khao khát, đam mê Ở giai đoạn lịch sử mới, người cầm bút có những chuyển hướng trong nhận thức, tư duy về bản thể người Con người xuất hiện trong các sáng tác ngắn là con người trần thế ở cõi nhân gian với tất

cả chất người tự nhiên của nó: tốt đẹp - xấu xa, thiện - ác, yêu - ghét, ánh sáng

Trang 31

- bóng tối, cao thượng - thấp hèn, hữu thức - vô thức Ở đó, con người đứng trên đường phân giới mỏng manh giữa hai cực đối lập vừa chối bỏ lại vừa chung sống với nhau Không gian mà con người tồn tại, sinh sống không phải

là những chiến hào, những hầm bí mật hay chiến trờng rộng lớn với tiếng súng, bom đạn mà là những khuôn viên gia đình, những góc sân, những gian bếp chật chội, tất cả có thể rất bé nhỏ, bị thu hẹp lại song vẫn đủ để bộc lộ tính cách, bản chất của từng con người

Có thể thấy rõ chủ đề đạo đức thế sự, đời tư chiếm một vị trí khá lớn trong các sáng tác của các cây bút sau 1975 Nằm trong dòng chảy chung ấy, truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay cũng dành sự ưu ái nhất định cho chủ đề này Xét đến cùng, đề cập đến các bi kịch của con người trong cuộc sống cũng là một khía cạnh quan trọng của chủ đề đạo đức thế sự, song người làm đề tài này vẫn mạo muội chia ra một phần riêng để thấy rõ hơn sự tinh tế trong cách nắm bắt và giải quyết vấn đề xung quanh cuộc sống của các nhà văn nữ hiện nay

Trong sáng tác của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay mà luận văn này quan tâm thì vấn đề đạo đức thế sự đời tư được quan tâm đặc biệt Với Phan

Thị Vàng Anh thì có thể chỉ là những chuyện xảy ra trong gia đình (Kịch

câm; Khi người ta trẻ ), Võ Thị Hảo lại có thể quan tâm đến những người tàn

tật, những người hát rong (Vầng trăng mồ côi; Người đàn ông duy nhất ), hay

là hồi chuông cảnh báo về sự tha hoá, xuống cấp của đạo đức làm người

(Thiếu phụ chưa chồng của Nguyễn Thị Thu Huệ, Cơn giông của Trần Thị Trường, Sân gôn, Làn nước dịu dàng, Làng xi măng, của Lê Minh Khuê),

đặc biệt các cây bút nữ rất nhạy cảm với những cảm xúc dẫu rất mong manh, với những cuộc đấu tranh với chính mình để giữ gìn hạnh phúc, giữ gìn nếp

Trang 32

sống gia phong trước bao cám dỗ của cuộc sống hàng ngày như Một cuộc vật

lộn (Trần Thị Trường), Sau chớp là giông bão (Y Ban),

Có thể thấy rằng, chủ đề đạo đức thế sự, đời thường đến văn xuôi sau

1975 nói chung và các tác giả nữ nói riêng được đặc biệt chú ý và khai thác một cách triệt để Do vậy, số lượng tác phẩm viết về đề tài này rất lớn, gắn liền với tên tuổi của các nhà văn nữ như Nguyễn Thị Thu Huệ, Lê Minh Khuê, Trần Thị Trường, Y Ban, Võ Thị Hảo, Phan Thị Vàng Anh Chính mảng đề tài này đã bổ sung vào những gì còn thiếu trong văn học giai đoạn trước và thể hiện giá trị nhân văn sâu sắc của các cây bút truyện ngắn hôm nay trong đó có các nhà văn nữ

2.1.2 Chủ đề đạo đức thế sự, đời tư trong các truyện ngắn của các nhà văn nữ từ 1986 đến nay

Với cách tiếp cận cuộc sống và con người như chúng tôi vừa trình bày

ở trên, truyện ngắn nữ sau 1986 hầu như không bỏ sót một mảng hiện thực nào của cuộc sống Một trong những mối quan tâm lớn của họ là "sự khắc khoải về sự hoàn thiện nhân cách, về sự xói mòn trong lối sống, trong đạo lý, trong ngõ ngách tận cùng của đời sống cá nhân, cả những băn khoăn không dứt về môi trường nhân tính đang có chiều giảm sút"

Thật vậy, nền kinh tế thị trường đã mang lại sự đầy đủ về vật chất của không ít người Thế nhưng, song song với điều ấy là sự đi xuống, sự phá vỡ những quy tắc đạo đức thông thường trong quan hệ gia đình, làng xã của người Việt Những mặt trái của đồng tiền cứ dần dần len lỏi rồi ngự trị trong từng suy nghĩ và hành động của con người Họ - những nạn nhân của những mặt trái ấy không hẳn là những con người của thị thành, của những lối ăn chơi phố phường quen thuộc Chúng ta quen nhìn người nông dân với vẻ chất phác

Trang 33

và hồn hậu vốn có, nó vẫn là hình ảnh đẹp trong bao trang văn, lời thơ! Thế

mà, trước cuộc sống đang từng ngày, từng giờ đổi thay, biến chuyển, những con người tưởng chừng như quanh năm chân lấm tay bùn ấy dường như chưa sẵn sàng, chưa bắt nhịp được với guồng quay của cuộc sống nên đã trở thành nạn nhân của chính việc mình làm

Hơn ai hết, các nhà văn nữ mạnh dạn lách ngòi bút của mình vào sâu trong từng gia đình, phóng tầm mắt vào từng sự việc cụ thể để thấy được sự muôn vẻ của từng con người Đối với Nguyễn Thị Thu Huệ - một nhà văn

nữ vẫn được xem là có tài "đi guốc trong bụng người ta" thì chị luôn dành sự quan tâm tới việc gìn giữ đạo đức, thuần phong mĩ tục của người phụ nữ,

nhất là những cô gái mới lớn My trong Thiếu phụ chưa chồng là một cô gái

nông dân khoẻ mạnh, xinh đẹp nhưng luôn khao khát cuộc sống nơi thị thành Nghĩ cho cùng, đấy cũng là ước mơ đẹp đẽ, đáng quý Song, để đạt được mơ ước ấy, My đã giẫm đạp lên tất cả Cô đang tay cướp chồng của chị như người ta "xé miếng vải" rồi tuyên bố với chị gái của mình là "không thích dùng chung" Với suy nghĩ ngắn ngủi của một cô gái mới lớn, choáng ngợp trước "mùi nước hoa ngoại" của anh rể, trước sự đủ đầy về vật chất của chị gái, My đã đi bằng con đường ngắn nhất nhưng cũng thô bạo nhất, bỉ ổi nhất để ngoi lên cuộc sống nơi chốn thị thành mà cô hằng ao ước Lẽ tất nhiên, cuối cùng My cũng phải trả giá bởi sự bất chấp đạo lý làm người của mình Mặc dù không vấp phải sự đối kháng mạnh mẽ của người chị song câu chuyện vẫn quyết liệt bởi sự lấn át một cách nhanh chóng của cái ác, của sự tha hoá đạo đức đến mức chóng mặt, đến mức nhiều khi người đọc hoảng hốt trước diễn biến của câu chuyện

Trang 34

Là một nhà văn nữ, khi viết về sự xuống cấp đạo đức của người phụ nữ trước cuộc sống, người viết tất yếu phải đau lòng, phải xót xa xa xót trước hiện thực quá phũ phàng ấy Có thể những trang văn mà Thu Huệ viết nên có phần mạnh bạo, nhất là những lời nói của nhân vật My với chị gái mình nh-ưng cũng dễ hiểu bởi cuộc sống nó là như vậy, không thể viết khác được! Viết

Thiếu phụ chưa chồng, Nguyễn Thị Thu Huệ muốn nói lên cái khốc liệt của

xã hội và điều mà tác giả day dứt hơn, trăn trở hơn lại là vấn đề đạo đức của con người trong xã hội ấy

Phải chăng, tác giả cảm thấy vấn tâm, lo âu trước sự xuống dốc, sự tha hoá của đạo lý làm người Thiết nghĩ, khi nhà văn cầm bút và viết những dòng chữ về cái xấu xa trên mặt giấy tức là nhà văn đã tin rằng cái xấu ít nhất cũng

bị vạch mặt

Cũng như Thu Huệ, Lê Minh Khuê với Làn nước dịu dàng, Sân gôn,

Làng xi măng cũng quan tâm đến mặt đạo đức trong cơn lốc của nền kinh tế

thị trường, quan tâm đến hậu quả của sự tác động của đồng tiền lên đạo lý tốt

đẹp của con người Nhân vật Thịnh trong Làn nước dịu dàng vốn là một

chàng trai 16 tuổi hiền lành, chất phác nhưng theo lời của người bố ruột thì

"cái dái tai của thằng Thịnh thẳng đuột, mỏng dẹt, đến nước đựng vào cũng phải trôi tuột xuống, nói gì đến mấy cái đồng xèng" Thế nên, vì cái tướng

"không giữ được của" ấy, Thịnh phải ra phố phụ bán bia cho bà chị cả Sinh hoạt trên phố mọi thứ đều khác với ở nhà, tất cả đối với Thịnh đều thật lạ lẫm Kinh khủng nhất đối với Thịnh là thói quen thiếu nước sạch, dùng nước hồ để rửa lòng lợn của bà chị cả Cái hồ đó là "nơi chứa nước thải của mấy nhà cao tầng Là chỗ để dân chúng quanh hồ bắc hố xí lộ thiên Sáng sáng mấy ông may ô quần đùi đi tập thể dục, ra cầu hành sự vất giấy trắng phớ cả bãi cỏ

Trang 35

Bên này người ta ị, cạnh đấy là chỗ giặt quần áo Trẻ con tập bơi la í ới dưới

hồ Bọn trẻ lặn xuống, ngoi lên, miệng ngậm nước phun nhau phì phì "[13,114-115] Nhưng sau dần quen đi, Thịnh cũng thấy bình thường! Trong "công cuộc" kiếm kế mưu sinh, con người dễ dàng bị trôi theo hoàn cảnh Thịnh cũng thế, chàng trai 16 tuổi này rốt cuộc cũng biết cách làm ăn, cách làm ra tiền từ nước cống, nước thải Truyện không có gì to tát, nhưng đọc lên cũng có cảm giác ghê ghê, gai cả người vì sự ô nhiễm môi trường xung quanh và kinh khủng nhất con người xem đó là chuyện bình thường

"mình ăn bẩn thế chứ bẩn nữa vẫn đẻ ra anh hùng dũng sỹ, vẫn cất cánh bay

lên" Đọc Làn nước dịu dàng, ta bắt gặp một giọng văn tưng tửng, thậm chí có

vẻ hơi "phớt đời" nhưng kì thực đó là sự day dứt về sự tha hoá bản chất tốt đẹp của con người trước sức mạnh đồng tiền của Lê Minh Khuê

Cơn giông (Trần Thị Trường) cũng nằm trong mạch cảm xúc chung

này Cũng vì phải vật lộn trong cuộc sống mưu sinh mà "cô vợ trẻ trung xinh đẹp, có học, có hành, có nghề truyền thống có tài quản lý giờ thì vừa phải quản lý, vừa nai lưng ra phục vụ nên xấu người kiêm luôn xấu thói"[37,6] Còn Hùng - một nhà báo liêm khiết với nghề, ngay đến tình thương đối với người nông dân trong bài phóng sự mà anh viết cũng bị bà vợ xem là "hão huyền", là đặt không đúng chỗ vì một lẽ đơn giản là bà ta bán bia thì ông trời càng thương bà thì cứ hạn hán dài dài! Câu chuyện không đao to búa lớn nh-ưng ý nghĩa vẫn thâm sâu vô cùng

Nói đến sự băng hoại, sự tha hoá, sự xuống cấp của những chuẩn mực đạo đức, các tác giả nữ không xem nó là bản chất của xã hội nhưng rõ ràng đó cũng không phải là hiện tượng hiếm thấy, ít có Do vậy, tình trạng ấy đáng rung chuông báo động, đáng phê phán, đáng đấu tranh để môi trường nhân

Trang 36

tính trong sáng hơn Đó cũng là lời cảnh tỉnh đầy tính nhân văn của những ngòi bút có tinh thần trách nhiệm trước cuộc sống sôi động hôm nay

Chủ đề đời tư, đạo đức thế sự đã được thể hiện qua những trang văn của các cây bút nữ vô cùng phong phú và đa dạng Thông qua cuộc đời thăng trầm của nhân vật trong cuộc mưu sinh, nhiều nhà văn đã thể hiện ở nhiều góc nhìn khác nhau những quy luật của cuộc sống, của những thân phận con ngư-

ời Người viết hôm nay không ngần ngại khi lách ngòi bút của mình vào từng

ngõ ngách của đời sống Võ Thị Hảo trong truyện ngắn Người đàn ông duy

nhất đã quan tâm đến số phận của những cô gái điếm và những con người tàn

tật trong xã hội Truyện là một bản tình ca được cất lên từ một kẻ dị dạng ưng lại tiềm ẩn bao giá trị tốt đẹp của con người Rân (nhân vật) bị tàn tật, chỉ

nh-có tiếng hát và cây đàn nhưng sẵn sàng hi sinh tất cả để che chở cho nàng - cô gái điếm, khỏi bàn tay của kẻ vũ phu Bằng sự nhạy cảm đặc biệt của người phụ nữ, tác giả đã nhìn thấy những mảnh vỡ lấp lánh trong tâm hồn của những con người dưới đáy xã hội Phải chứng kiến những sinh linh bé nhỏ trong những cảnh đời ngang trái ấy, người viết không khỏi trăn trở, nghĩ suy

về cuộc sống và bạn đọc cũng không thể dửng dưng trước nó Ẩn đằng sau những trang văn buồn xiết đó là trái tim biết “xúc động trước những nỗi đau của người xa lạ”, một biểu hiện chân chính của lòng nhân ái, của tính người Khơi gợi nhân tính, di dưỡng năng lực yêu thương đồng loại nơi con người là nhiệm vụ sống còn của nghệ thuật, trong đó vai trò của tác giả là rất to lớn Không phải là không có lý khi Becton Brech cảnh báo: ”Khi tính người đã mất thì nghệ thuật cũng không còn nữa ( ) Làm sao mà nghệ thuật có thể làm xúc động con người nếu như bản thân nó không xúc động trước số phận của con người!”

Trang 37

Với ý muốn quan tâm đến mọi chuyện, mọi sinh linh sống ở đời, các tác giả không những dành nhiều trang viết về những con người bé nhỏ, thậm chí tầm thường xung quanh ta mà họ còn luôn để ý, khai thác đến những giây phút mong manh, những câu chuyện có vẻ vặt vãnh trong cuộc sống

Trong số những nhà văn trẻ thì Phan Thị Vàng Anh là người có khả năng kỳ lạ khi nhận biết cuộc sống trong những chi tiết nhỏ nhặt ấy Dường như đối với nữ văn sỹ này, không có gì là không thể viết được Các tác phẩm của cô, đọc lên có cảm giác rất mơ hồ, khó hiểu, gần gũi mà khó lý giải vô

cùng! Nhân vật cô gái (Hoa muộn) luôn lơ đãng trước tình cảm của những

chàng trai trẻ Nhà cô có một vườn mai và mỗi năm phải dọn lá cho mai nở một lần Các chàng trai cứ đến tán tỉnh, giúp dọn lá rồi chờ đợi, rồi thất vọng, rồi ra đi Khi cô gái “tỉnh giấc” thì đã muộn Cô không còn trẻ nữa Cuối cùng cô chấp nhận lấy một người tầm thường và giấc mơ của cô cũng tầm thường như giấc mơ của bao nhiêu người đàn bà khác, cần gia đình chứ không cần tình yêu bởi “có mai rồi đấy, mà vẫn không thành Tết !” và “nắng chiều tắt dần, như một giải voan cũ vắt trên ngọn cây, nhợt nhạt ”

Rõ ràng, cốt truyện này rất ấn tượng và chỉ với chất nữ tính tiềm tàng trong bút lực của các nhà văn nữ trẻ mới viết được như thế ! Khi người

ta trẻ thì có thể nhìn nhận cuộc sống phóng túng hơn, rộng mở hơn và nhiều hoài bão, ước mơ hơn Thế nhưng, với các cây bút nữ này, ở họ dường như song song với niềm tin cuộc sống vẫn ngự trị một nỗi lo, nỗi buồn mơ hồ

phủ lên tác phẩm Đọc Kịch câm của Phan Thị Vàng Anh, chúng ta thấy rất

rõ điều này Đứa con gái trong câu chuyện đã bất ngờ tìm thấy một mẩu giấy ghi những bằng chứng cho việc ngoại tình vụng trộm của người cha Và thế

là giữa hai cha con, một cuộc chiến “tâm lý” diễn ra và phần thắng (một

Trang 38

cách ảo tưởng) bao giờ cũng nghiêng về đứa trẻ, “ nó đứng trước ông, điệu

bộ rất lễ phép, cũng lẳng lặng không nói một lời ., chỉ có cái cười nhẹ nhàng và đôi mắt ông bố hiểu ra, nó thoả mãn biết bao nhiêu, nó đã căm hờn ông biết bao lâu ”

Khi đi sâu vào đời sống riêng tư của con người, Phan Thị Vàng Anh thường không chủ đích miêu tả những gì rộng lớn, to tát ở cuộc sống mà con người đó tồn tại Mà với khả năng nắm bắt cái hồn của sự vật qua hiện tượng

bề ngoài, Vàng Anh đã làm được cái mà không phải ai cũng làm được: Bóc trần bản chất sự vật qua những hành động được dàn xếp như một “trò chơi”

Do vậy truyện ngắn của Phan Thị Vàng Anh nhiều lúc có vẻ như rất mạnh

mẽ, táo bạo nhưng ngẫm lại thì thấy rất mơ hồ bởi những “trò chơi” ấy rút cuộc cũng làm người trong cuộc mệt mỏi, chán chường và hiển nhiên là cuộc sống lại trở về đúng với bản chất vốn có của nó Đây là nét riêng trong văn phong của nhà văn nữ này, chỉ với sự mẫn cảm đặc biệt của nữ giới thì cuộc sống mới được nắm bắt một cách kỳ lạ, “không rõ ràng” đến như thế !

Với YBan, Trần Thị Trường hay Nguyễn Thị Thu Huệ cũng vậy Để chiếm lĩnh được con người trong cuộc sống vốn “đa sự” này họ phải đi vào

đời sống cá nhân bằng nhiều cách khác nhau nhưng châu tuần lại vẫn thể hiện nét “nữ tính”, mềm mại Trong từng trang truyện của Trần Thị Trường thường

không “đao to búa lớn”, không có ý miêu tả những pha giật gân, những quằn quại ngang ngửa mà tác giả biết khai thác nội tâm, những cảnh éo le đời thường một cách sâu sắc Cũng có lúc Trần Thị Trường phát hiện những điều thú vị từ những con sóng tình cảm “hai nhà hàng xóm”, những ranh giới cụ thể “không được phép vượt qua” nhưng cũng không ngăn nổi một cuộc “vượt

rào tinh thần” trong Bâng khuâng hay trong nỗi khắc khoải Bụi trên lá tường

Trang 39

vi để rồi ước đừng bao giờ thức dậy khỏi một cơn mơ đẹp hay là tình cảm

đáng quý, đáng trân trọng của một người đàn ông đối với cô hàng xóm của

mình trong Một cuộc vật lộn Nó thật đúng, thật có lý nhưng không phải bao

giờ và ai cũng hiểu, cũng thông cảm được Rõ ràng, khi viết về đời sống riêng

tư, cá nhân của con người các tác giả nữ đã luôn nhìn và đặt nhân vật của mình trong hoàn cảnh, trong không gian đời tư Đó là khoảng không gian xác thực mà con người luôn phải bộc lộ hết bản chất của mình, không có cơ hội lảng tránh trách nhiệm của cá nhân Tuy vậy, ở mỗi tác giả nữ lại có một cách xử lý riêng mặc dù làm nên đặc trưng chung ở họ là “cái nhu cầu đến như là say mê được tham dự, được hoà nhập vào những nỗi niềm đau khổ và

hy vọng của con người”

Không mơ hồ, triết lý kiểu “trẻ con” như Vàng Anh, ít đặt nhân vật vào tình huống éo le như Trần Thị Trường, YBan có một lối riêng khi đi vào tìm hiểu từng tâm trạng riêng tư của con người Nét nổi bật của YBan là người viết không triết lý suông, vụn vặt mà mọi ý tưởng đều được chắt lọc, thăng hoa từ những tình cảm của đời sống Dường như mọi thứ đều được chị quan tâm và đưa vào tác phẩm Nổi bật lên trên những điều ấy, YBan luôn dành sự quan tâm đặc biệt đến những giây phút riêng tư nhất, những trạng thái tâm hồn tinh vi nhất trong đời sống nội tâm của nhân vật, đặc biệt là người phụ

nữ Đó là tiếng nói da diết và mạnh mẽ, tưởng như chị “rút ruột” ra để viết Nếu không phải là phụ nữ, thì không thể hiểu, không có được độ nhạy sâu sắc

đến như YBan trong Gà ấp bóng, Sau chớp là giông bão Ai bảo phụ nữ có

chồng, có con rồi thì không thể xao xuyến, không thể “tim đập rộn ràng”

trư-ớc người đàn ông khác? Đứng trên góc độ tâm lý và cái quan trọng nhất là chân thực với chính từng cảm xúc vốn vẫn hiện hữu trong từng con người,

Trang 40

YBan đã không ngần ngại dấu diếm khi miêu tả từng biến thái dù là nhỏ nhất trong tâm hồn người phụ nữ đã vào độ tuổi “tri thiên mệnh” để rồi đi đến một kết luận vô cùng giản đơn nhưng không phải ai ai cũng biết: “Phụ nữ chúng tôi chẳng khác nào con gà ấp bóng kia, còn lại một tình yêu đích thực” Ta có cảm giác rằng, YBan rất có duyên khi viết về những xáo động trong tình cảm, nhưng đó không phải là sự xao xuyến của những cô gái chập chững bước vào yêu mà là sự mẫn cảm quá mức ở lứa tuổi hồi xuân của người phụ nữ trước sự quan tâm hay một ánh mắt của người khác giới Y học đã khẳng định rằng:

Nữ giới thường tư duy thiên về phía bán cầu não trái, tức là nghiêng về tình cảm, tư tưởng, hồi tưởng Cho nên họ rất dễ nhạy cảm, xúc động và do đó rất dễ hiểu khi các nhà văn nữ tuy thường viết về những chuyện tưởng như

là vặt vãnh nhưng họ lại rất giỏi, rất tinh tế khi nắm bắt được bản chất của sự vật Mà văn học lại được xây dựng từ những chi tiết rất nhỏ nhưng rất thực

ấy chứ không mơ mộng viển vông hay những câu chuyện được nặn ra từ sách vở của người khác!

Nói như thế không có nghĩa là các nhà văn nữ nhiệt thành ủng hộ chị

em khi có ai đó biết tách ra khỏi guồng quay chật hẹp của gia đình để chạy theo những mối tình không có đích! Hơn ai hết, là phụ nữ mà đặc biệt hơn là phụ nữ Việt Nam, từ xưa phải bó gọn trong “tam tòng tứ đức”, “công dung ngôn hạnh” Nên nhất là thời hiện đại, họ lại càng đặc biệt nhạy cảm với những gì liên quan đến nhân phẩm và sự tôn nghiêm đối với bản thân mình Nếu không hiểu, không có sự cảm thông sâu sắc của chính người phụ nữ thì

họ khó có thể viết nên những dòng như: “cùng với sự “xơ hoá” ở cảm xúc với chồng thì đêm về nàng hay có những giấc mơ kỳ lạ Một người đàn ông lạ mặt nhìn liếc nàng, hay động nhẹ vào nàng thôi là nàng cảm giác xao xuyến

Ngày đăng: 27/07/2021, 16:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1]. Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Trọng Nghĩa (1999), truyện ngắn, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: truyện ngắn
Tác giả: Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Trọng Nghĩa
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 1999
[2] Lại Nguyên Ân (Biên soạn) (1999), 150 thuật ngữ văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1999
[3] M.Bakhtin (1992), Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, Trường viết văn Nguyễn Du, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết
Tác giả: M. Bakhtin
Nhà XB: Trường viết văn Nguyễn Du
Năm: 1992
[4] Vũ Bão (5/2003), Hoa mưa - Cuốn sách của cây bút có bản lĩnh, Báo văn nghệ số 22 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoa mưa - Cuốn sách của cây bút có bản lĩnh
Tác giả: Vũ Bão
Nhà XB: Báo văn nghệ
Năm: 2003
[5] Võ Thị Xuân Hà (2002), Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Tác giả: Võ Thị Xuân Hà
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2002
[6] Trần Thị Hậu (2003), Đặc điểm truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ (qua tập "21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ"), Khóa luận tốt nghiệp Đại học, Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Trần Thị Hậu
Năm: 2003
[7] Phương Hoa (thực hiện) (9/2002), Nguyễn Thị Thu Huệ trả lời phỏng vấn: "Tôi không ép nhân vật của mình thế này hay thế khác", Báo thanh niên số 248 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Thị Thu Huệ trả lời phỏng vấn: "Tôi không ép nhân vật của mình thế này hay thế khác
Tác giả: Phương Hoa
Nhà XB: Báo thanh niên
Năm: 2002
[8] Nguyễn Thái Hòa (2000), Những vấn đề thi pháp truyện, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp truyện
Tác giả: Nguyễn Thái Hòa
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2000
[9] Nguyễn Thị Thu Huệ (2004), 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: 37 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2004
[10] Nguyễn Thị Thu Huệ (2001), 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: 21 truyện ngắn Nguyễn Thị Thu Huệ
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Huệ
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 2001
[11] Dương Thu Hương (1984), Ban mai yên ả (tập truyện ngắn), NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ban mai yên ả
Tác giả: Dương Thu Hương
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1984
[12] Nguyễn Khải (1984), Gặp gỡ cuối năm, NXB Tác phẩm mới Sách, tạp chí
Tiêu đề: Gặp gỡ cuối năm
Tác giả: Nguyễn Khải
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1984
[13] Lê Minh Khuê (1999), Trong làn gió heo may (tập truyện ngắn), NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trong làn gió heo may
Tác giả: Lê Minh Khuê
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 1999
[14] M. Khrapchencô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, NXB Tác phẩm mới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học
Tác giả: M. Khrapchencô
Nhà XB: NXB Tác phẩm mới
Năm: 1978
[15] Phong Lê (1994), Văn học và công cuộc đổi mới, NXB Hội nhà văn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học và công cuộc đổi mới
Tác giả: Phong Lê
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1994
[16] Hoàng Thị Loan (3/2003), Phan Thị Vàng Anh - Đâu rồi bầu trời màu xanh!, Báo an ninh thế giới cuối tháng, số 32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phan Thị Vàng Anh - Đâu rồi bầu trời màu xanh
[17] Đàm Quỳnh Ngọc (1997), Chuyện tình cuối thế kỷ (tập truyện ngắn), NXB Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyện tình cuối thế kỷ
Tác giả: Đàm Quỳnh Ngọc
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 1997
[18] Vương Trí Nhàn (1998), Sổ tay truyện ngắn, NXB Hội nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay truyện ngắn
Tác giả: Vương Trí Nhàn
Nhà XB: NXB Hội nhà văn
Năm: 1998
[19] Nhiều tác giả (2002), Lý luận văn học (2 tập), NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2002
[20] Nhiều tác giả (2002), Lý luận văn học (3 tập), NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn học
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2002

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w