Đã có một số nhà phê bình, nghiên cứu truyện ngắn Anh Đức nhng nhìnchung các bài viết, nghiên cứu về tác giả phần lớn đợc đề cập đến dới góc độ phêbình văn học hơn là dới góc độ ngôn ngữ
Trang 1Trờng đại học vinh Khoa ngữ văn
tóm tắt khoá luận tốt nghiệp
đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Anh Đức
chuyên ngành: ngôn ngữ học
Giáo viên hớng dẫn : TS Hoàng Trọng Canh Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Diệp Anh Lớp : 43E 4 - Ngữ Văn
Vinh, 2007
Trang 2Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Tác phẩm là một hệ thống ký hiệu, có tính chất riêng hay một bộ phận
cấu trúc ở dạng chỉnh thể Trong văn xuôi nói chung và trong truyện ngắn nóiriêng, ngôn ngữ tác phẩm là ngôn ngữ đa thanh Đi vào tìm hiểu truyện ngắn củamột tác giả, chúng ta có thể thấy đợc phong cách tác giả thông qua phơng tiệnngôn ngữ Hớng nghiên cứu tác phẩm văn học dới góc độ ngôn ngữ đang đợcquan tâm, là hớng nghiên cứu tác phẩm văn học cho kết quả mang tính khoa học
1.2 Nghiên cứu truyện ngắn dới góc độ ngôn ngữ đợc chú ý nhiều gần đây,
thế nhng trong những năm qua việc nghiên cứu truyện ngắn của Anh Đức vẫn còn
bỏ ngỏ Đã có một số nhà phê bình, nghiên cứu truyện ngắn Anh Đức nhng nhìnchung các bài viết, nghiên cứu về tác giả phần lớn đợc đề cập đến dới góc độ phêbình văn học hơn là dới góc độ ngôn ngữ học Có thể nói truyện ngắn Anh Đứcnhìn chung cha đợc nghiên cứu dới góc độ ngôn ngữ học
1.3 Anh Đức là nhà văn thuộc thế hệ nhà văn trởng thành cùng thời đại cách
mạng, giữa hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ Ông cũng
là nhà văn tài năng, tâm huyết với đời, với ngời, với nghề và có ý thức rất cao vềtrách nhiệm của ngời cầm bút Ông nói "Tôi cũng ý thức đợc sáng tác văn học làrất quý nhng cũng rất hệ trọng Mỗi dòng, mỗi chữ viết ra sẽ có ích hoặc có hạicho ngời đọc, sẽ gây ảnh hởng tốt hoặc rất tốt hoặc rất xấu'' Anh Đức đã có nhiều
đóng góp cho nền văn học nớc nhà với những tác phẩm có giá trị Anh Đức cómột vị trí chắc chắn và xứng đáng trong nền văn học Việt Nam hiên đại.Cho nênviệc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ của nhà văn dới góc độ ngôn ngữ là rất cầnthiết
1.4 Anh Đức cũng là tác giả đợc đa tác phẩm vào giảng dạy trong nhà trờng.
Cho nên việc nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn của Anh Đức sẽ giúpchúng ta có thêm cứ liệu, t liệu về tác phẩm phục vụ cho việc học tập, giảng dạy
tốt hơn Với lí do nh vậy chúng tôi lựa chọn đề tài: "Đặc điểm ngôn ngữ truyện
ngắn Anh Đức" với hi vọng góp thêm tiếng nói vào công việc hữu ích đó.
2 Lịch sử vấn đề
Anh Đức (Bùi Đức ái) đợc giới nghiên cứu chú ý vào đầu năm 1950 với tậptruyện "Biển động" (gồm tám truyện ngắn) đợc tặng ba "Giải thởng văn nghệ CửuLong'' Nhng ông thực sự thu hút đợc giới nghiên cứu phê bình văn học là vào thời
Trang 3kì năm 1950 đến những năm đầu của thập kỉ 60 Đó là thời kì nở rộ những thànhcông trong sáng tác của Anh Đức trên nhiều thể loại Năm 1959, Anh Đức cho ra
mắt tác phẩm "Một chuyện chép ở bệnh viện" (lấy tên thật của tác giả là Bùi Đức
ái) Tác phẩm này đợc dịch ra một số thứ tiếng trên thế giới và hai năm sau khi ra
đời nó đợc chuyển tải thành phim Với tác phẩm này giới phê bình đã tình thấymột giọng điệu một tiếng nói nghệ thuật mới trong văn xuôi đơng thời Họ đã viếtmột loạt bài giới thiệu về tác giả, tác phẩm trên các tạp chí, báo văn học (các bàiviết của Phan Cự Đệ, Thiếu Mai, Nguyễn Viết Lãm ) Tác phẩm "Hòn Đất"(1965) và một loạt truyện ngắn đặc sắc ra đời Kể từ đó đến nay đã có hàng trămcông trình nghiên cứu về tác phẩm Anh Đức với những quy mô, mức độ, hìnhthức khác nhau: sách, tiểu luận khoa học, các bài báo, giáo trình, luận văn tốtnghiệp trong các trờng đại học
Rất nhiều nhà nghiên cứu phê bình đã nghiên cứu tác phẩm của Anh Đức
- Hoài Thanh: "Hòn đất - hòn ngọc" [24, tr.117]
- Thành Duy: "Về cách thể hiện một nhân vật trong "Hòn đất"" [24, tr.139]
- Nguyễn Trung Thu: "Tính cách dân tộc trong sáng tác của Anh Đức" [24,tr.226]
- Phan Cự Đệ: "Phong cách lãng mạn của Anh Đức" (Tiểu thuyết Việt Namhiện đại, tập 1) [8]
- Xuân Trờng: "Đọc bức th Cà Mau của Anh Đức" [24, tr.61]
- Chu Nga: Phong cách trữ tình trong sáng tác của Anh Đức" [24, tr.199]
- Chu Nga: "Anh Đức với bút kí và truyện ngắn của anh" [21, tr.27]
- Phạm Văn Sĩ: "Anh Đức - vài cảm nghĩ" [24, tr.156]
- Vũ Quốc Anh; "Truyện ngắn "Đất" - Anh Đức" [24, tr.150]
- Vũ Tiến Quỳnh: "Phê bình và lí luận văn học" - (Anh Đức - Nguyễn QuangSáng - Sơn Nam) [20]
- Lê Lu Oanh: "Ông lão vờn chim của Anh Đức" [24, tr.191]
- Hải Hà: "Con chị Lộc một truyện ngắn đặc sắc" [24, tr.177]
Trang 4- Hoài Anh: "Anh Đức với con ngời và cảnh sắc thiên nhiên trong tác phẩm"[24, tr.276].
Hữu Đạt: "Vị trí của "Đất" Anh Đức trong nền văn học cách mạng miềnNam" [24, tr.134]
Có thể nói các chuyên luận, khóa luận tốt nghiệp về các tác phẩm của Anh
Đức mà chúng tôi điểm qua ở trên chủ yếu nghiên cứu các tác phẩm của ông dớigóc độ văn học
Trong các nghiên cứu dẫn ra ở trên, thì hai công trình của Phạm Văn Sĩ vàDiệp Minh Tuyền đã đánh giá khá toàn diện tác phẩm ở các thể loại và bớc đầu
quan tâm đến ngôn ngữ trong truyện ngắn Anh Đức Diệp Minh Tuyền trong Anh
Đức và những truyện ngắn và những bút kí xuất sắc của anh tác giả viết: "Ngôn
ngữ của Anh Đức trong sáng, chính xác, chứng tỏ rằng nó đã đợc trau chuốt cẩnthận Đó là điều mà mỗi nhà văn, nhất là những nhà văn trẻ nh anh phải bền bỉthực hiện một cách nghiêm túc Đặc biệt Anh Đức đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ
địa phơng Nam Bộ, những từ trong ngôn ngữ địa phơng Nam Bộ trong tác phẩmcủa anh đợc dùng ở mức độ cần thiết và những từ ấy thờng là những từ mà khôngthể có từ nào khác diễn đạt một cách thành công cái điều nhà văn muốn nói" [ 24,tr.251]
Còn Phạm Văn Sĩ: trong Anh Đức - vài cảm nghĩ, viết "Ngôn ngữ của Anh
Đức phản ánh lời ăn tiếng nói và cách điệu của ngời Nam Bộ ( ) nhiều lúc chínhchúng ta đọc văn anh cũng vậy, chúng ta thấy nh những câu nói từ ngữ, hình ảnhcủa tác giả nh đang "động cựa" dới mắt ta" "Lối viết của Anh Đức không gò bó
mà phóng khoáng, tuy vậy từ ngữ mà anh dùng có sự tìm tòi chọn lọc Đọc truyệncủa Anh Đức ta có thể gặp nhiều những từ ngữ hay mang dáng vẻ riêng của cách
ăn nói Nam Bộ"[24, tr 253] Ngoài ra còn có một số bài viết khác có đề cập đến
Trang 5đặc điểm ngôn ngữ trong một số tác phẩm ở một thể loại cụ thể nhất định, nhngmới chỉ dừng lại ở những nhận xét rất chung Cho đến nay vẫn cha có một côngtrình nào đi vào khảo sát và nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong sáng tác củaAnh Đức dới góc độ ngôn ngữ đặc biệt là ở thể loại truyện ngắn, một thể loại đợc
xem là thành công hơn cả trong sự nghiệp sáng tác của tác giả
Với những lí do đó, cùng với lòng yêu quý truyện ngắn Anh Đức và lòngmến mộ tài năng nhà văn Anh Đức, khóa luận này sẽ kế thừa các nghiên cứu củacác nhà nghiên cứu, phê bình đi trớc vừa cố gắng tiếp cận truyện ngắn của Anh
Đức tìm các phát hiện và hệ thống lại toàn bộ đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn của
ông Qua đó, khẳng định vị trí, vai trò và những đóng góp đặc sắc của Anh Đức
về ngôn ngữ truyện ngắn - chất liệu làm nên thành công truyện ngắn của ông
3 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tợng nghiên cứu
Luận văn đi vào khảo sát truyện ngắn Anh Đức trong cả hai thời kì sáng tác.Bao gồm 26 truyện ngắn đợc in trong tập: "Tuyển tập Anh Đức", tập 1,2,(NXB Hà Nội, 1997) Cụ thể là các truyện sau:
1 Chuyến lới máu
Trang 6Nh vậy đối tợng của khóa luận này gồm 26 truyện ngắn đợc in thành sách
"Tuyển tập Anh Đức" Ngoài ra, trong quá trình phân tích, chúng tôi cũng đề cập
đến một số tác phẩm thuộc thể loại khác của ông và tác phẩm của một số tác giảkhác dới hình thức so sánh để làm nổi bật phong cách ngôn ngữ truyện ngắn củanhà văn này
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Khóa luận này có ba nhiệm vụ chính:
- Thu thập cứ liệu ngôn ngữ là phơng tiện mà nhà văn lựa chọn để làm cơ sở
đánh giá
- Tìm hiểu giá trị nội dung truyện ngắn của ông đợc biểu hiện thông qua cácphơng tiện biểu đạt có tính đặc thù là ngôn ngữ Cụ thể là: phân tích miêu tả rút racác đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn của ông
- Phân tích so sánh và rút ra những nét sắc thái phong cách nhà văn thể hiệntrong sáng tác truyện ngắn
Chơng 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chơng 2: Đặc điểm hình thức ngôn ngữ truyện ngắn Anh Đức
Chơng 3: Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa truyện ngắn Anh Đức
Chơng 1
Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Khái niệm truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
Trang 71.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Truyện ngắn là thể loại rất nhạy cảm trong phản ánh với những biến đổi của
đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp nhịp vận độngcủa xã hội và tái hiện đợc mọi biến thái trong đời sống vật chất cũng nh tinh thầncủa con ngời Truyện ngắn đã đợc khẳng định những tên tuổi lừng danh thế giới,
nh T Sêkhốp, O Henrry, O Môpatxăng, K Pautôpxki, Hêmingway và ở ViệtNam, những nhà văn nh: Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam cũng đãgóp phần đa truyện ngắn lên một vị trí trang trọng trong nền văn học Việt Nam.Truyện ngắn đã thu hút đợc sự quan tâm của ngời đọc, ngời sáng tác, nhànghiên cứu, chính vì vậy mà khái niệm truyện ngắn đợc rất nhiều ngời bàn đếnvới cách nhìn đa dạng từ nhiều chiều khác nhau
Bàn về truyện ngắn, giáo s văn học ngời Pháp D.Gronốpiki viết: "Truyệnngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ biến đổi không cùng Nó là một vật biếnhóa nh quả chanh của Lọ Lem Biến hóa về khuôn khổ: Ba dòng hoặc ba mơitrang Biến hóa về kiểu loại tính chất: trào phúng, kỳ ảo, hớng về biến cố thật haytởng tợng, hiện thực hoặc phóng túng Biến hóa về nội dung, thay đổi vô cùng tận.Muốn có chất liệu để kể cần có một cái gì đó xảy ra, dù đó chỉ là một sự thay đổichút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong truyện ngắn, cái gì cũngthành biến cố Thậm chí sự thiếu vắng tình tiết, diễn biến cũng gây hiệu quả vì nólàm cho sự chờ đợi bị hẫng hụt" [22, tr.11]
Pautôpxki Nhà văn Nga thì cho rằng: "Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩrằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó có cái không bình thờnghiện ra nh một cái bình thờng và cái gì bình thờng hiện ra nh một cái gì khôngbình thờng" [22, tr.12]
ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích về khái niệm truyệnngắn nh sau:
"Trớc hết ta nên phân biệt thế nào là truyện ngắn, thế nào là truyện dài Loạitruyện viết theo nghệ thuật Âu Tây là loại mới có trong văn học Việt Nam, từngày ta chịu ảnh hởng của văn học Pháp Ngày xa, ta chỉ có truyện kể bằng miệnghoặc viết bằng văn vần Những truyện "Muỗi nhà" "Muỗi đồng", "Hai ông phậtcãi nhau" trong "Thánh Tông di thảo" là viết theo nghệ thuật á đông "Hoàng Lênhất thống chí" là lịch sử ký sự, chứ không phải là lịch sử tiểu thuyết Cho nênloại truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây ta theo Trung Quốc mà gọi là tiểu thuyết,
và cái nào viết vài trang gọi là đoản thiên, cái nào viết hàng trăm trang gọi là ờng thiên - tiểu thuyết Năm 1932, báo "Phong hóa" dịch đoản thiên tiểu thuyết ra
Trang 8tr-tiếng ta gọi là truyện ngắn Rồi từ đó, trờng thiên tiểu thuyết gọi là truyện dài vàtrung thiên tiểu thuyết gọi là truyện vừa" [14, tr.165]
Trong 'Từ điển văn học" mục từ "truyện ngắn" là: "Hình thức tự sự loại nhỏ.
Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lợng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnhcủa cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đócủa đời sống nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Cốttruyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế Kết cấu củatruyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn đợc viết ra
để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn
là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật t tởng, chủ đề, khắc họa nét tính cách nhânvật, truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, biết mạnh dạn gọt tỉa và dồn nén Do
đó, trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công có thể biểu hiện
đ-ợc những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn" [15, tr.197]
Theo Từ điển thuật ngữ văn học [12] mục truyện ngắn xem là "Tác phẩm tự
sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm hầu hết các phơng diệncủa đời sống: đời t, thế sự hay sử thi nhng cái độc đáo của nó là ngắn Truyệnngắn đợc viết ra để tiếp thu một mạch, đọc một hơi không nghỉ" [12, tr.314].Tuy nhiên mức độ dài ngắn cha phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyệnngắn với các tác phẩm tự sự khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rấtngắn nhng thực chất là truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời Trung đại cũngngắn nhng rất gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn
nh cổ tích, truyện cời, giai thoại lại càng không phải là truyện ngắn
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t duy mới, một cách nhìn vấn đề, một cáchnắm bắt đời sống riêng mang tính chất thể loại Cho nên truyện ngắn đích thựcxuất hiện tơng đối muộn trong lịch sử văn học
Khác với tiểu thuyết là loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ sự đầy đặntrọn vẹn của nó, truyện ngắn thờng hớng tới việc khắc họa một hiện tợng, pháthiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay trong đời sống tâm hồn conngời Với đặc trng của thể loại, truyện ngắn không cho phép có một hệ thống,nhân vật đồ sộ, một khoảng thời gian dài, một không gian rộng lớn nh trong tiểuthuyết Truyện ngắn có khi lấy một khoảnh khắc trong cuộc đời con ngời màdựng nên Có khi nhân vật đặt trớc một vấn đề phải băn khoăn, suy nghĩ, lựachọn, quyết định Có khi chỉ là một cách sống, làm việc bình thờng, trong đó
Trang 9nhân vật biểu lộ tình cảm ý chí của mình Có khi có những hành động mãnh liệt,những tình cảnh éo le Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi băn khoăn hay một ýtình vừa chớm nở Nhng phải lựa chọn những khoảnh khắc nào mà nhân vật thểhiện mình đầy đủ nhất trong các khía cạnh cần thể hiện Tuy vậy, chỉ riêng từng
ấy sẽ không bao giờ làm nên giá trị trờng tồn cho tác phẩm truyện ngắn Mộttruyện ngắn muốn giữ vị trí dài lâu trong xã hội, muốn thúc đẩy con ngời, muốnnâng cao con ngời nó phải đặt ra một vấn đề triết lý nhân sinh, về cuộc đời
Nếu mỗi nhân vật trong tiểu thuyết là một thế giới thì nhân vật trong truyệnngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn không nhằm vào việc khắchọa những tính cách điển hình, đầy đặn, nhiều mặt trong tơng quan với hoàncảnh Nhân vật của truyện ngắn thờng là hiện thân cho một quan hệ xã hội, ý thứcxã hội hoặc trạng thái phụ thuộc của con ngời
Cốt truyện của truyện ngắn thờng diễn ra trong một không gian, thời gianhạn chế, chức năng nói chung của nó là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc
đời và tình ngời
Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thờng
đợc xây dựng theo nguyên tắc tơng phản hoặc liên tởng Bút pháp trần thuật củatruyện ngắn thờng là chấm phá
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dunglợng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩn nhiều chiều sâu chanói hết Vì vậy mà mỗi nhà văn khi cầm bút viết truyện ngắn, phải có sự cânnhắc, lựa chọn từng chi tiết, để có những trang văn có giá trị nghệ thuật cao
Trong "150 thuật ngữ văn học", truyện ngắn đợc, tác giả xác định "Truyện
ngắn là một thể loại của tác phẩm tự sự cỡ nhỏ, thờng đợc viết bằng văn xuôi, đềcập hầu hết các phơng diện của đời sống con ngời và xã hội Nét nổi bật của
Trang 10truyện ngắn là sự giới hạn về dung lợng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với ngờitiếp nhận (độc giả) đọc nó liền một mạch không nghỉ" [2, tr.345]
Nh vậy, từ các định nghĩa trên, những cách hiểu trên về truyện ngắn chochúng ta một cái nhìn tơng đối toàn cục về thể loại truyện ngắn trên các phơngdiện: Dung lợng nhân vật, kết cấu, sức khái quát hiện thực Từ đó ta có thể rút ranhững điểm chính về thể loại truyện ngắn nh sau:
Truyện ngắn là một thể tài tự sự cỡ nhỏ (nhỏ ở đây đồng nghĩa với ngắn gọn,hàm súc, tinh lọc và hay) Truyện ngắn tập trung vào một mặt nào đó của đờisống, xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trung hay một không gian, thờigian nhất định Kết cấu truyện ngắn chặt chẽ và là kết cấu đơn tuyến Nhân vậttruyện ngắn thờng thể hiện một tâm thế của con ngời trong thời đại
1.1.2 Ngôn ngữ truyện ngắn
Trong "Lý luận và thi pháp tiểu thuyết" [3], M.Bakhtin đã viết khá rõ về đặc
điểm của ngôn ngữ văn xuôi ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến đặc điểm của ngônngữ văn xuôi trong sự đối lập với ngôn ngữ thơ ca
ở ngôn ngữ thơ, theo Bakhtin Thơ là bộc bạch của nhà thơ chứa đựng tất cảtâm hồn, tâm linh nhà thơ, thơ chỉ có một giọng, giọng của nhà thơ, dù là giọng
ấy có nhiều điệu, nhiều sắc thái; ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ bên trong
Nhà thơ ấn định bởi ý tởng về một ngôn ngữ thống nhất và duy nhất về lờiphát biểu thống nhất và đóng kín theo lối độc thoại Nhà thơ một mình làm chủngôn ngữ của mình, chịu trách nhiệm đồng đều về mọi thành tố của nó, bắt nóphục vụ những chủ ý của mình và chỉ của mình mà thôi Mỗi từ ngữ phải thể hiệntrực tiếp và trực diện ý đồ của nhà thơ, không có một khoảng cách nào giữa nhàthơ với lời của anh ta Nhà thơ chắt lọc từ ngữ khỏi ý chỉ của ngời khác, chỉ dùngnhững từ và hình thức từ nào và dùng chúng nh thế nào để chúng không còn giữ
đợc mối quan hệ với một số tầng ý chỉ nhất định và một số ngữ cảnh nhất định
Do việc gạn lọc mọi thành tố ngôn ngữ khỏi những ý chỉ và giọng điệu của ng ờikhác, xóa bỏ mọi vết tích bất đồng trong tiếng nói và ngôn ngữ mà ở các tácphẩm thơ ca đợc tạo ra đợc tạo ra một sự thống nhất ngôn ngữ đầy căng thẳng
Trang 11Còn đối với văn xuôi, ngời viết văn xuôi lại đi một con đờng khác hoàn toànmột sự lựa chọn ngôn ngữ khác biệt với ngôn ngữ thơ ca Nhà văn tiếp thu vào tácphẩm của mình những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau trong ngôn ngữ văn học
và phi văn học, nhng không làm chúng suy yếu đi mà thậm chí còn khơi độngthêm chúng Nhà văn xây dựng phong cách của mình trên sự phân hóa ngôn ngữ
ấy, trên nền những tiếng nói, thậm chí những ngôn ngữ khác nhau ấy mà vẫn giữ
đợc tính thống nhất của cái tôi sáng tạo của mình và tính thống nhất của phongcách mình
Nhà văn không tẩy sạch những từ ngữ những ý chỉ và giọng điệu của ngờikhác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm ẩn trongchúng, không gạt bỏ những khôn mặt ngôn ngữ và cung cách nói năng lấp ló đằngsau những từ ngữ và hình thức ngôn ngữ Ngời viết văn xuôi sử dụng những từngữ đã chứa đựng những ý tứ xã hội khác và bắt chúng phải phục vụ những ý chỉcủa mình Những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau đợc đa vào tác phẩm và ở đóchúng đợc tổ chức thành một hệ thống nghệ thuật hoàn chỉnh
Có thể nói cụ thể hơn về ngôn ngữ truyện ngắn, ngôn ngữ truyện ngắn làngôn ngữ mang đặc điểm chung của ngôn ngữ văn xuôi vừa mang những nét đặctrng, đặc thù của nó
Ngôn ngữ truyện ngắn trớc hết là ngôn ngữ miêu tả và đối thoại Ngôn ngữtruyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói Những phong cách nóxen lẫn nhau, hòa hợp, tranh luận, cãi vã và đối chọi nhau ti tiện nh "Một đứa conlai", nó khỏe đẹp và đầy sức sống
Mỗi từ, mỗi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải đẹp Ngônngữ tự đối thoại, tự tranh cãi, hay nói cách khác ngôn ngữ lỡng lự nớc đôi khiếncho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của những khả năng
Nhà văn Nguyên Ngọc khi nói về truyện ngắn đã phát biểu: "Truyện ngắnnào của T Sêkhốp cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta vì chúng đánh thức ở
ta ý thức ham muốn "giác ngộ" về sự phân vân đắn đo hoặc nói nh các nhà hiềntriết Phơng Đông - biết tìm cái có trong cái không, cái không trong cái có"
Mỗi truyện ngắn hay thờng không tự nó đem cho ta một kết luận khẳng địnhhay bác bỏ, dứt khoát, áp đặt Nó đặt ra trớc ngôn ngữ sự lựa chọn hay nói nh M.Bakhtin là "trớc sự liên minh của lỡng lự"
Nhà văn Nga M Gorki nói: "Muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn bởiviết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô
đọng" Còn nhà văn Ma Văn Kháng thì bộc bạch: "Câu chữ tiêu dùng cho truyệnngắn là cả một nổ lực và yếu tố quyết định cho sự thành bại của một truyện ngắn
Trang 12Truyện ngắn hay ở câu văn" Nguyễn Đình Thi cũng từng khẳng định: "Chữ trongvăn xuôi cần có men câu chữ trong truyện ngắn nói riêng là men, nó tỏa hơng,
nó rủ rê, nó quyến rũ ta, nó là cái hồn của câu chuyện"
Mỗi nhà văn khi cầm bút viết truyện ngắn đều có sự lựa chọn về ngôn ngữkhác nhau Và quả thực với sự lựa chọn riêng của mình về ngôn ngữ thì mỗi nhàvăn đã hình thành đợc cho mình một cách sử dụng ngôn ngữ riêng mang mộtphong cách riêng Vì vậy đứng trớc một thực tế sáng tác giống nhau, nhng vớimỗi nhà văn với tài năng và tính cách khác nhau thì sẽ có cách sử dụng từ ngữ,cách điều khiển "đạo quân chữ" khác nhau Chính vì thế trên văn đàn có rất nhiềutên tuổi viết truyện ngắn nổi tiếng, nhng ở họ không ngời nào viết giống ngời nào,mỗi ngời có một phong cách riêng, văn phong mang dấu ấn ngôn ngữ riêng
Anh Đức là một nhà văn tài năng, tâm huyết với đời, với nghề, là ngời có ýthức trách nhiệm rất cao trớc ngòi bút của mình Ông nói "Tôi cũng ý thức đợcsáng tác văn học là rất quý, nhng cũng rất hệ trọng Mỗi dòng chữ, mỗi chữ viết
ra sẽ có ích hoặc có hại cho ngời đọc, sẽ gây ảnh hởng tốt hoặc rất xấu, trong đóbao gồm mối quan hệ hữu cơ giữa t tởng, tình cảm thờng xuyên qua cá tính thẫm
mĩ của văn, cấu trúc chuyện, câu và chữ" [24, tr.15] Điều đó cho thấy rằng trớckhi cầm bút viết một tác phẩm, nhà văn Anh Đức vẫn luôn trăn trở cân nhắc và có
sự lựa chọn ngôn ngữ để viết Truyện ngắn là một thể loại đợc xem là thành cônghơn cả trong những thể loại mà nhà văn Anh Đức đã sáng tác Đọc truyện ngắncủa ông đợc giới phê bình đánh giá cao, đặc biệt là phong cách sử dụng ngôn ngữcủa ông Anh Đức vẫn luôn đợc ngời ta nhớ đến còn bởi những điều nh thế
1.2 Anh Đức và truyện ngắn của ông
1.2.1 Cuộc đời và sự nghiệp
1.2.1.1 Cuộc đời
Anh Đức tên thật là Bùi Đức ái, sinh ngày 5 tháng 5 năm 1935 tại xã BìnhHòa, huyện Châu Thành, tỉnh An Giang Hồi nhỏ học ở trờng làng Làng ông nhỏnhng rất trù phú, nằm bên sông Cửu Long, cách thị xã Long Xuyên chừng 10 km.Mảnh đất nơi ông sinh ra cũng chính là cái nôi hình thành nên tâm hồn, tài năngcủa nhà văn Anh Đức sau này
Anh Đức từ nhỏ đã rất đam mê, yêu thích văn chơng, từ hồi nhỏ đi học trờnglàng ông đã đọc hầu nh toàn bộ Tự Lực văn đoàn, đọc "Phổ thông bán nguyệtsan", yêu thích nhiều nhà văn Anh Đức sinh ra lớn lên trong một gia đình cótruyền thống cách mạng - năm 1945 cha, mẹ, anh, chị đều tham gia khởi nghĩa c-
ớp chính quyền Anh trai chiến đấu hi sinh trong cuộc kháng chiến Nam Bộ
Trang 13Cuối 1947 Anh Đức bỏ học vào Khu, công tác văn phòng ở ty thông tinkháng chiến tỉnh Rạch Giá Sau đó ít lâu cơ quan cho ông đi học tiếp tại trờngtrung học kháng chiến Nguyễn Văn Tố, hai năm sau ông trở về công tác tại cơquan cũ Ông công tác ở vùng Cần Thơ, Rạch Giá, Cà Mau ở môi trờng này, đãtrau dồi cho ngòi bút Bùi Đức ái nhanh chóng trởng thành Từ một ngời thiếuniên qua tôi luyện trong chiến tranh, Anh Đức đã trởng thành, trở thành ngờichiến sĩ cách mạng thực thụ, trở thành một nhà văn đợc nhiều ngời biết đến ởtuổi 17, Anh Đức đã viết những phóng sự và những truyện ngắn đầu tiên Với támtruyện ngắn đầu tiên viết vào năm 1952 lấy tên là "biển động", Anh Đức đã vinh
dự nhận đợc giải thởng mang tên "Cửu Long" một giải thởng do Chi hội văn nghệNam Bộ và ủy an kháng chiến hành chính Nam Bộ tổ chức
Năm 1954, Anh Đức tập kết ra miền Bắc làm biên tập ở phòng văn nghệ Đàitiếng nói Việt Nam, đến năm 1957 về công tác tại hội nhà văn Việt Nam Côngcuộc xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc là đề tài, chất liệu mới cho sáng táccủa các văn nghệ sĩ thời kì này Anh Đức cũng say sa sáng tác ca ngợi nhữngthành quả đạt đợc trong cuộc cải tạo xã hội ở miền Bắc nớc ta
Năm 1962 do yêu cầu nhiệm vụ, Anh Đức đợc phân công vào Nam công tác.Vợt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, thiếu thốn của những ngày chiến tranh ácliệt, Anh Đức trở về với quê hơng Nam Bộ Nhng vào tới địa đầu Nam Bộ ông bịsốt rét ác tính nặng Sau khi đã khỏi bệnh, Anh Đức lại hăng hái tham gia hoạt
động cách mạng và sáng tác văn học
Là một ngời con của quê hơng miền Nam gan góc, dạn dày, có truyền thốnghơn một trăm năm đánh giặc, với một tâm hồn say mê chiến đấu, với đôi chânyêu bớc đờng đời, Anh Đức đã có mặt trên hầu khắp các chiến trờng Nam Bộ, khithì "tham dự tiêu diệt Khu Cái Nớc", lúc thì "đặt chân lên một cồn cát, cồn cát cóbốt giặc nằm sóng soài giữa Cửu Long Giang" với "khẩu P.18 nắm chắc trongtay", khi thì vào sát ngoại ô Sài Gòn Với cuộc sống "chẳng có lơng thớng gì cả,mỗi tháng chỉ lãnh bốn chục đồng bạc mua xà bông, mua thuốc hút giản dị nhhồi kháng chiến thứ nhất", thế nhng Anh Đức vẫn sống, chiến đấu và sáng tạo rấtnhiều tác phẩm xuất sắc trong thời kì này
Năm 1966, Anh Đức xây dựng gia đình, vợ ông là Trần Phúc Mộng Loan,một chiến sĩ vợt Trờng Sơn vào Nam Bộ để chiến đấu Từ đó đến nay nhà văn vẫnluôn sống chiến đấu và lao động nghệ thuật đầy nhiệt huyết và cho ra đời nhiềutác phẩm xuất sắc
Có thể nói rằng, Anh Đức là nhà văn - chiến sĩ Anh Đức đã để lại những dấu
ấn đó trên từng trang viết Đặc biệt những trang viết ở chiến trờng giữa làn bom
Trang 14đạn dữ dội, truyện của ông giàu chất hiện thực Nó nh những cuốn sử biên niênsớm nhất, sinh động nhất về những giai đoạn ác liệt nhất, hào hùng nhất về cuộcchiến tranh giải phóng, về con ngời Nam Bộ đặc biệt nhân hậu, thủy chung, bấtkhuất kiên cờng Truyện của Anh Đức giàu xúc cảm, giàu tính nhân văn sâu sắc,
nó tạo đợc sự rung động mạnh mẽ trong trái tim ngời đọc Anh Đức thực sự làmột nhà văn tài năng, tìm hiểu về cuộc đời ông sẽ góp phần vào lí giải văn ông
1.2.1.2 Sự nghiệp
Anh Đức thuộc thế hệ nhà văn trởng thành cùng thời đại cách mạng, sựnghiệp văn học năm trọn giữa hai cuộc kháng chiến ba mơi năm chống thực dânPháp và đế quốc Mỹ Năm 1947 ông tham gia cách mạng Ông khởi đầu sự
nghiệp văn học ở tuổi 17, năm 1952, truyện ngắn đầu tay: "Chuyến lới máu" ra
đời Cũng từ đó cái "nghiệp văn", cái "duyên văn" gắn bó với ông suốt đời
Bớc vào văn nghiệp cũng có thể là một sự mạo hiểm, phiêu lu và gian khổnhng Anh Đức đã chấp nhận, đã dấn thân, đã nhập cuộc Trong năm 1952 đángnhớ ấy, Anh Đức đã viết đợc tám truyện ngắn in thành tập "Biển động" - trong đóhầu hết viết về đề tài chiến tranh du kích ở quê hơng mình Cuối năm 1952, tậptruyện đợc tặng giải ba giải thởng Cửu Long (Một cuộc thi do ủy ban khángchiến Hành chính và Chi hội Văn nghệ Nam Bộ tổ chức)
- Cuối năm 1954 Anh Đức tập kết ra Bắc, năm 1956 công tác tại phòng Vănnghệ Đài tiếng nói Việt Nam, ông tiếp tục sáng tác truyện ngắn in trên tuần báo
"Văn học" và Tạp chí văn nghệ Xuất bản tập truyện ngắn "Lão anh hùng dới hầm
bí mật" chủ yếu lấy từ đề tài cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
- Năm 1957: Anh Đức (Bùi Đức ái) cho ra đời tiểu thuyết "Một truyện chép
ở bệnh viện" Với tác phẩm này Anh Đức đã thu hút đợc sự chú ý của giới nghiêncứu, phê bình văn học đơng thời Nhìn chung các nhà phê bình đều đánh giá caonhững đóng góp của Bùi Đức ái với tiểu thuyết này
- Năm 1958: Anh Đức đi thực tế sáng tác với nhà văn Nguyên Hồng ở nhiềunơi Sau chuyến đi này Anh Đức cho in một số truyện ngắn Đặc biệt ông đã vinh
dự nhận giải thởng giải nhất cuộc thi truyện ngắn 1958 - 1959 do Tạp chí văn
nghệ tổ chức (với truyện ngắn Con cá song)
- Năm 1959 - 1960: Anh Đức tiếp tục đi thực tế sáng tác tám tháng Trong
năm 1960, tác giả cho in tập "Biển xa" - đề tài vẫn là quê hơng miền Nam yêu
dấu, anh hùng và đau thơng Tuy nhiên ở tập truyện ngắn này tác giả đã phần nàotái hiện đợc hình ảnh cuộc sống lao động, xây dựng cuộc sống mới ở miền Bắc xãhội chủ nghĩa (Con cá song, Ngời gác đèn biển, Chuyện riêng )
Trang 15- Năm 1961: Nhà văn viết kịch bản phim "Chị T Hậu" dựa theo tiểu thuyết
"Một truyện chép ở bệnh viện" theo đề nghị của xởng phim Việt Nam
- Giữa năm 1962: Bùi Đức ái trở lại chiến trờng miền Nam (và lấy bút danhAnh Đức) và công tác ở Hội văn nghệ giải phóng mới thành lập
- Đầu năm 1963: Anh Đức viết tác phẩm đầu tiên của ông khi trở lại chiến ờng miền Nam là bút ký "Bức th Cà Mau" (Th giử Nguyễn Tuân, viết 11 - 1963).Cũng trong thời gian trở lại chiến trờng miền Nam, Anh Đức đã sáng tác đợc rấtnhiều tác phẩm (với hơn 10 bút ký, và truyện ngắn)
tr Năm 1964: Xuất bản truyện ký "Bức th Cà Mau"
- Năm 1965: Xuất bản tiểu thuyết "Hòn Đất"
- Hai tác phẩm "Bức th Cà Mau" và "Hòn Đất" đợc giải thởng chính thứcGiải thởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu 1965
- Từ năm 1966 đến sau 1975: Anh Đức tiếp tục sáng tác truyện ký tiểuthuyết và một số truyện ngắn
Năm 1969: Xuất bản tập truyện ký "Giấc mơ ông lão vờn chim".
- Sau năm 1975: - Xuất bản tiểu thuyết "Đứa con của đất" (1976)
- Xuất bản tập truyện ngắn "Miền sóng vỗ" (1985)
- Xuất bản "Anh Đức hai mơi truyện ngắn" (1990)
- Xuất bản "Anh Đức, tuyển tập tác phẩm" (1997)
- Xuất bản "Anh Đức - truyện ngắn và bút ký" (2002)
Nhìn chung Anh Đức sáng tác trên nhiều thể loại, ở thể loại nào ông cũngthu đợc những thành công nhất định, có thể kể đến 4 thể loại mà Anh Đức đãsáng tác các tác phẩm: tiểu thuyết, truyện ngắn, bút ký, kịch bản điện ảnh Có thể
kể tên một số tác phẩm tiêu biển ở từng thể loại:
Tiểu thuyết: Một truyện chép ở bệnh viện (1959)
Giấc mơ ông lão vờn chim (1996)Truyện viết cho thiếu nhi: Thuyền sắp đắm (1959)
Trang 16Ký ức tuổi thơ (1972)
Ông già về hu và những đứa trẻ (1995)Với những đóng góp xuất sắc của mình cho nền văn học cách mạng, năm
2000 Anh Đức đợc Đảng và Nhà nớc trao tặng giải thởng Hồ Chí Minh (đợt 2).Anh Đức là một trong những cây bút văn xuôi tiêu biểu nhất của nền văn họccách mạng Việt Nam từ sau cách mạng tháng tám 1945 Tác phẩm cũng nh cuộc
đời Anh Đức xứng đáng là một trang đẹp trong nền văn học Việt Nam hiện đại
1.2.2 Quá trình phát triển truyện ngắn Anh Đức
Anh Đức sáng tác nhiều thể loại nhng viết nhiều nhất và đạt đợc nhiều thànhtựu đáng kể là truyện ngắn Thể loại truyện ngắn dờng nh là thể loại Anh Đức viếtthành công hơn cả Hành trình sáng tạo truyện ngắn của nhà văn cũng là mộthành trình gian khổ của một ngời lao động nghệ thuật chân chính
"Biển động" (1952) là tập truyện ngắn đầu tay của Anh Đức hầu hết viết về
đề tài chiến tranh du kích ở quê hơng ông Ra mắt bạn đọc với t cách là một câybút văn xuôi Cuối năm 1952, tập truyện đợc tặng giải ba giải thởng Cửu Long(một cuộc thi lớn do ủy ba kháng chiến hành chính và chi hội văn nghệ Nam Bộ
tổ chức) Có thể nói là "vạn sự khởi đầu nan" vậy là cánh cửa văn chơng đã rộng
mở đón chào một nhân vật mới Tuy vậy với bản thân tác giả thì niềm vui và sựphấn khởi trớc giải thởng và tập truyện đó cũng không đợc lâu Tác giả tâm sự:
"Tập truyện đầu tay của tôi tuy đợc giải thật nhng thực ra còn rất mỏng yếu.Không có gì đáng chán cho bằng cứ theo thời gian, mình nhận ra các truyện nó cứmỏng yếu dần" Và từ khi tập truyện đầu tay ra đời cho đến những năm cuối cuộckháng chiến chống Pháp, Anh Đức không viết thêm truyện nào mà ông tập trungvào viết phóng sự, kí sự theo phân công của tòa soạn báo "Cứu quốc Nam Bộ" nơi
ông công tác
Không hài lòng với chính mình, Anh Đức luôn trăn trở, suy nghĩ làm sao đểcho ra đời những sáng tác tốt hơn buổi đầu Cuối năm 1954, Anh Đức tập kết ramiền Bắc, đợc phân công làm biên tập ở phòng văn nghệ Đài tiếng nói Việt Nam.Môi trờng công tác mới đã tạo điều kiện tác nghệp với nhà văn trẻ Anh Đức Vừalàm công việc chuyên môn ở đài, vừa tranh thủ tự học nghề văn Khi vốn sống đãdồi dào thêm, kĩ thuật viết văn đã đợc nâng lên, Anh Đức bắt tay vào viết truyện
ngắn "Con cá song" - Với truyện ngắn này nhà văn trẻ Bùi Đức ái đã đạt giải nhất cuộc thi truyện ngắn do "Tạp chí Văn nghệ" tổ chức (1958 - 1959), "Con cá
song" cho thấy tác giả của nó đã "có nghề" truyện ngắn coi trọng nhân vật và chi
tiết, ngôn ngữ trong sáng và đợc trau chuốt cẩn thận "Con cá song" viết về mộttruyện rất nhỏ trong gia đình đánh cá nhng làm bật lên vấn đề có ý nghĩa lớn: mỗi
Trang 17quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng, cái đợc và cái mất trong đời sống của con
ng-ời Tác phẩm để lại nhiều ấn tợng trong lòng bạn đọc Sau đó năm 1960, tập hợpmột số truyện ngắn của mình, tác giả cho in thành tập "Biển xa", đề tài vẫn là quêhơng miền Nam yêu dấu, anh hùng và đau thơng Tuy nhiên "Biển xa" sống độngthêm nhờ sự tái hiện hình ảnh sống động, lao động xây dựng cuộc sống mới trênmiền Bắc xã hội chủ nghĩa Với những tập truyện trên, Anh Đức đã thể hiện mộttiếng nói nghệ thuật mới trong văn xuôi đơng thời Các nhà phê bình đã viết mộtloạt bài giới thiệu tác giả, tác phẩm Anh Đức trên các tạp chí, báo
Viết truyện ngắn bằng cả niềm cảm hứng, sự hồi hộp, lòng say mê, nhng vớiAnh Đức bao giờ cũng viết với ý thức của nhà văn Ông luôn cân nhắc đến từngcâu chữ, từng chi tiết nh lời nhà văn tâm sự sau này "Viết truyện ngắn tôi luôn
có nguồn cảm hứng mới, sự hồi hộp mới Thể loại này thực đắc dụng, cha bao giờ
nó gây cho tôi sự tẻ nhạt, nhàm chán, và cũng cha khi nào tôi giám chủ quan trớcmột truyện ngắn, nhng nếu chuẩn bị không đầy đủ, vẫn có thể bị sảy tay" (từnhững trang viết) Quả thực với ý thức, trách nhiệm cao của ngời cầm bút, sự tâmhuyết với nghề, các sáng tác của Anh Đức nói chung, thể loại truyện ngắn của
ông theo thời gian lại có thêm những thành công mới Có thể nói truyện ngắn củaAnh Đức viết trong thời kỳ trở lại miền Nam (1962) cho đến năm 1975 đợc tập
hợp lại trong hai tập "Bức th Cà Mau" (1964) và "Giấc mơ ông lão vờn chim"
(1969), một lần nữa khẳng định bản sắc riêng biệt của Anh Đức trong thể loạitruyện ngắn Truyện ngắn của nhà văn - chiến sĩ Anh Đức thời kì này thực sự là
những tác phẩm "ròng ròng sự sống" Với những truyện ngắn trong hai tập "Bức
th Cà Mau" (1964) và "Giấc mơ ông lão vờn chim" (1969), Anh Đức đã vạch ra
trớc mắt ngời đọc những bản cáo trạng đanh thép về tội ác của Mỹ, Ngụy Mặtkhác ông cũng thể hiện đợc trong tác phẩm của mình hình ảnh con ngời miềnNam gan góc, dạn dày, có lòng yêu nớc căm thù giặc, đồng thời nó cũng lột tả
đựơc vẻ đẹp thiên nhiên, vẻ đẹp tâm hồn của con ngời Nam Bộ
Kể từ sau năm 1975 trở đi, Anh Đức vẫn dành tâm huyết sáng tác truyện
ngắn, thể loại văn học mà nhà văn yêu thích Tập truyện ngắn "Miền sóng vỗ"
(1985) tập hợp những sáng tác trong khoảng mời năm thời hòa bình (1975) nhàvăn gọi đó là những trang hậu chiến Phần lớn những tác phẩm trong tập truyệnnày khai thác từ đời thờng, những câu chuyện thế sự nhng vẫn còn d âm của chiếntranh Đến tập truyện này ngòi bút của Anh Đức tỏ ra nhuận sắc hơn nữa Nếutruyện ngắn của Anh Đức trớc 1975 khá hoàn chỉnh vì kịch tính của tình huống vì
sự hấp dẫn của cốt truyện và tình tiết, chi tiết, thì sau 1975, truyện ngắn Anh Đức
đợc gia tăng tính triết luận về đời sống, triết luận nhng không rơi vào luận đề
Trang 18thuần túy, mà thông qua hình tợng, qua chất trữ tình thấm đậm trong hình ảnh,câu chữ Với tập truyện này một lần nữa tài năng, ngòi bút Anh Đức đợc khẳng
định
Tiểu kết: Trong chơng 1 này chúng tôi đề cập đến những vấn đề liên quan
đến đề tài: Khái niệm truyện ngắn, ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ truyệnngắn Đồng thời đã đa ra một cách khái quát về cuộc đời và sự nghệp của nhàvăn này cũng nh vị trí của Anh Đức trong nền văn học nớc nhà
Chơng 2
Đặc điểm hình thức ngôn ngữ truyện ngắn Anh Đức
2.1 Tiêu đề truyện ngắn Anh Đức
2.1.1 Tiêu đề và mối quan hệ giữa tiêu đề và nội dung tác phẩm
Tiêu đề còn gọi là đầu đề, nhan đề, tựa đề là tên gọi của văn bản Khôngchỉ có văn bản mới có tên gọi, nhiều sự vật, hiện tợng trong xã hội thông quanhận thức, tìm hiểu của con ngời đều có tên gọi Khái niệm "tên gọi" đợc dùngvới nhiều thuật ngữ không giống nhau tùy thuộc vào đối tợng (đối tợng là ngờihay sự vật thì đó là "tên", với cửa hiệu, nhà cửa, đờng phố là "biển hiệu", đối vớisản phẩm là "nhãn hiệu", đối với ấn phẩm thì đó là "tiêu đề", "đầu đề" ) Tùytheo đối tợng đợc gọi tên, giữa các tên gọi khác nhau mấy điểm: tên, biển hiệu lànhững tín hiệu có tính võ đoán tách rời độc lập, đại diện cho các sự vật nằm ngoàibản thân nó Còn tiêu đề văn bản là một tín hiệu có lí do, mang tính biểu trng Màtính biểu trng, theo F Saussure: "Có một đặc tính là không bao giờ hoàn toàn võ
đoán, không phải là một cái gì trống rỗng" Tiêu đề đợc ngời viết đặt ra để gọi têntác phẩm của mình lại là một tín hiệu đại diện cho văn bản, là một thứ "siêu tínhiệu" Vì thế mà giữa phần tiêu đề với phần nội dung văn bản có mối quan hệ chặtchẽ và tất yếu, hầu nh ít mang tính ngẫu nhiên, võ đoán nh khởi thủy của các têngọi khác
Tiêu đề có vai trò rất quan trọng đối với văn bản Nhiều nhà nghiên cứu vănhọc rất quan tâm chú ý đến tiêu đề, họ nhận thức đợc vai trò của tiêu đề quantrọng và cần thiết đối với văn bản Có thể dẫn ra một số ý kiến, chẳng hạn: "Tiêu
đề cái đẻ ra văn bản" (Kim Thánh Thán) "Toàn bộ thực chất ( ) nằm ngay trongtiêu đề của cuốn sách" (Chekhov) "Tiêu đề cũng là miếng mồi ngon để quyến rũ
độc giả"
Trang 19Tiêu đề vừa là tên gọi của văn bản - tức mang chức năng định danh, lại vừachứa đựng một nội dung khái quát, vừa đại diện, vừa là đờng viền của nội dungvăn bản Nhiều văn bản tiêu đề chính là nội dung cơ đúc, nén kín: "Tên gọi đặt racho chuyện không phải là vô ích Nó chứa đựng trong văn bản thân nó chủ đềquan trọng nhất Nó định ra toàn bộ cơ cấu truyện kể" [6, tr.85]
Tiêu đề văn bản là một tín hiệu vừa mang tính khách quan vừa mang tính chủquan: tùy thuộc vào ý đồ, sở thích, thị hiếu thầm mĩ của ngời viết Đặt tiêu đề làcả một quá trình suy nghĩ, thậm chí là cả sự lựa chọn, cân nhắc công phu, là cảmột nghệ thuật Raxun Gamatôp từng viết: "Nếu đi tìm hiểu tiêu đề, thì anh cầnxuất phát từ nội dung mà anh muốn đặt vào trong cuốn sách cần xuất phát từ mụctiêu mà anh đã đặt cho mình Hãy chọn mũ theo đầu chứ không phải là ngợc lại,chiều dài của sợ dây đàn tùy thuộc vào chiều dài của cây đàn" [11, tr.45] Nhàvăn Nga Pautôpxki thú nhận: "Ôi những cuộc tìm kiếm đầu đề cực nhọc thờngxuyên Nghĩ ra đầu đề là cả một cái tài năng Có những ngời viết hay nhng lạikhông biết đặt tên cho tác phẩm của mình và ngợc lại" [6, tr.89]
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, mối quan hệ gắn bó tơng ứng giữa đầu đề vớinội dung văn bản là tùy thuộc vào từng thể lọai văn bản Sự gắn bó khăng khítgiữa tiêu đề với văn bản không có nghĩa tiêu đề là một tấm biển cố định Một vănbản có thể có nhiều cách đặt tiêu đề, lựa chọn tiêu đề Vì vậy có nhiều văn bản cóthể thay đổi tiêu đề, (nh "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao ban đầu có tên là "Cái
lò gạch cũ", "Đôi lứa xứng đôi" Hay "Thân phận tình yêu" của Bảo Ninh ban
đầu có tên là "Nỗi buồn chiến tranh")
Với ngời viết, qua tiêu đề các tác phẩm của họ có thể thấy đợc những vùngquen thuộc, những sở trờng của họ ra sao Chẳng hạn qua truyện ngắn Thạch Lam(Đói, Chân quê, Hai đứa trẻ, Ngời lính cũ ), có thể thấy rằng "xúc cảm của nhàvăn thờng bắt nguồn nảy nở từ những chân cảm đối với những ngời dân nghèo ởthành thị và thôn quê" (Nguyễn Tuân) Với Nguyễn Bính "Nếu ta lấy tiêu đề củathi nhân xếp lại ta sẽ đợc một thứ chìa khóa nào đấy để hiểu đợc động lực sángtạo của nhà thơ" (Đỗ Lai Thúy) [6, tr.87]
Cũng giống nh đặt tên cho đứa con yêu quý của mình, ngời viết có thể gửigắm nhiều ý tởng thông qua tiêu đề của văn bản Đồng thời cũng thấy rằng têntuổi của nhà thơ, nhà văn lớn thờng gắn liền với các tác phẩm suốt cả một đời ludanh hậu thế
Nh vậy, tiêu đề văn bản là một trong những dấu hiệu ngôn ngữ thể hiện sựlựa chọn của nhà văn Do vậy tìm hiểu tiêu đề truyện ngắn Anh Đức có thể giúp
ta hiểu thêm đợc một nét phong cách ngôn ngữ truyện ngắn của ông
Trang 202.1.2 Tiêu đề truyện ngắn Anh Đức
Là một ngời nghệ sĩ tài năng tâm huyết với nghề và có ý thức trách nhiệmcao trớc ngòi bút của mình, Anh Đức cũng luôn trăn trở với tác phẩm của mình
Ông cũng không đặt ra cho những tác phẩm của mình cái tên ngẫu nhiên, nhữngcái tên "trống rỗng" Đi sâu vào tìm hiểu tiêu đề các truyện ngắn của ông, ta sẽthấy đợc ở mỗi tiêu đề truyện ngắn Anh Đức chứa đựng một t tởng, một niềm xúccảm, một tấm lòng Đặt biệt qua sự soi chiếu dới góc độ ngôn ngữ, chúng ta cóthể tìm thấy một sự lựa chọn độc đáo đầy sáng tạo trong sáng tác nghệ thuật củanhà văn: sự lựa chọn bắt đầu từ cách đặt tiêu đề
2.1.2.1 Về cấu tạo
Trớc hết cần thấy đợc tiêu đề đợc đánh dấu bằng vị trí luôn đứng đầu vănbản, đợc tách biệt với hình thức, cỡ chữ, màu sắc riêng biệt Tiêu đề văn bản làmột thứ "nhãn hiệu" của văn bản Tiêu đề thờng gặp nhất là ngăn cách với phầncòn lại của văn bản một khoảng trống để ngời thụ ngôn dễ phân biệt
Về cấu tạo, tiêu đề có thể rút gọn đến mức tối đa, chỉ còn một từ, một cụm từnhng cũng có khi là một câu Khảo sát 26 truyện ngắn Anh Đức chúng tôi đãthống kê và phân loại tiêu đề nh sau:
- Tiêu đề có cấu tạo một từ: + Khói
+ Đất
- Tiêu đề có cấu tạo một cụm từ: + Mùa gió
+ Chuyến lới máu
Trang 21+ Chuyến xe về làng
+ Bức tranh để lại
+ Ngời gác đèn biển
+ Ngời chơi đại hồ cầm
+ Ngời khách đến thăm vờn nhà tôi
+ Ngời về hu
- Tiêu đề có cấu tạo một câu là: + Cái bàn còn bỏ trống
Qua thống kê chúng tôi thấy tiêu đề truyện ngắn Anh Đức có cấu tạo là mộtcụm từ chiếm tỉ lệ lớn 88,4% (23/26 truyện), còn tiêu đề có cấu tạo là từ chiếm tỉ
lệ rất nhỏ 7,7% (2/26 truyện), tiêu đề chiếm tỉ lệ là câu có 3,84% (1/26 truyện).Với số liệu này cho ta thấy nhà văn Anh Đức a lựa chọn tiêu đề là cụm từ Đặcbiệt loại tiêu đề cụm danh từ có kết cấu C - P, có 24 cụm từ thì có đến 22 cụmdanh từ, chỉ có 1 cụm tính từ và 1 cụm động từ, đây là một nét độc đáo trong cáchlựa chọn và sử dụng tiêu đề của tác giả Loại tiêu đề cụm danh từ giúp định danh
và gọi tên sự vật một cách cụ thể Nó phù hợp với ngôn ngữ truyện ngắn Anh Đức
- truyện ngắn miêu tả hiện thực đặc sắc Điều này cũng giống với một tác giảcùng thời là Nguyễn Thi, cũng a sử dụng loại tiêu đề là cụm từ Khảo sát trên 18truyện ngắn của ông cho thấy có 12 tiêu đề là cụm từ chiếm 66,67%
2.1.2.2 Về nội dung ý nghĩa
Mỗi nhà văn khi đặt tiêu đề cho tác phẩm của mình đều gửi gắm vào đónhững ý đồ sáng tạo nghệ thuật khác nhau Và trong mỗi truyện gắn với một tiêu
đề là một nội dung, ý nghĩa khác nhau Việc phân chia tiêu đề truyện ngắn Anh
Đức theo nội dung, ý nghĩa không phải là việc dễ dàng Mỗi tên gọi ấp ủ nhiều ýtởng vì thế sự sắp xếp sau đây của chúng tôi chỉ mang tính tơng đối
Khảo sát truyện ngắn Anh Đức, chúng tôi nhận thấy Anh Đức a sử dụngnhững loại tiêu đề sau:
a) Tiêu đề - cảm hứng
Tiêu đề cảm hứng là loại tiêu đề không bao bọc ôm gọn nội dung tác phẩm
mà nh là một điểm tựa, một niềm cảm hứng, niềm khơi gợi cho nhà văn Anh Đứccũng đã khéo léo sử dụng loại tiêu đề này để gửi gắm trong đó niềm cảm hứng để
ông viết nên tác phẩm của mình Trong toàn bộ "Tuyển tập Anh Đức", gồm 26truyện ngắn, chúng tôi đã khảo sát tiêu đề và nhận thấy rằng trong phần lớn tácphẩm của mình Anh Đức a sử dụng loại tiêu đề cảm hứng Có 10/26 truyện đợc
đặt theo loại tiêu đề này: "Bức tranh để lại"; "Khói"; "Đất"; "Xôn xao đồng nớc";
"Dòng sông trớc mặt"; "Mùa gió"; "Giấc mơ giữa buổi bình yên"; "Tiếng nói";Miền sóng vỗ"; "Về mảnh vờn xa".
Trang 22Thực tế phong phú của cuộc chiến đấu vĩ đại của nhân dân miền Nam chính
là nguồn cảm hứng lớn lao để nhiều nhà văn viết nên tác phẩm có giá trị trongcuộc đời sáng tác Anh Đức là một trong số những nhà văn nh vậy Là nhà vănchiến sĩ từng lăn lộn trong cuộc chiến đấu gian khổ ở miền Nam, Anh Đức đã tậnmắt chứng kiến những ngày đen tối nhất ở miền Nam dới bàn tay tàn bạo khátmáu nhất của Mĩ - Diệm Ông đã dự các chiến dịch lớn nhỏ trong trận chống càn,
ông đợc sống với những con ngời bình thờng nhng thật vĩ đại - Những con ngờibình dị, kiên cờng yêu nớc, yêu cách mạng nh cuộc sống của mình Và hơn thếnhững con ngời ấy không ngần ngại chịu đau đớn, chịu hi sinh tính mạng củamình để bảo vệ cách mạng Tất cả những điều đó đã tạo thành nguồn cảm hứng
để Anh Đức viết nên nhiều trang viết có giá trị tạo đợc sự rung động mạnh mẽtrong lòng ngời đọc
Truyện ngắn "Đất" là một tác phẩm xuất sắc của nền văn học chống Mĩ Làtác phẩm đợc nhận giải thởng Nguyễn Đình Chiểu năm 1965, nó thuộc vào loạikhông thật nhiều lắm những tác phẩm còn gây đợc ấn tợng và xúc động sâu sắctrong lòng ngời đọc Bằng tất cả lòng yêu mến, kính trọng và cảm phục của mình
đối với những ngời miền Nam gan góc, dũng cảm, điển hình với những nét truyềnthống, những bản sắc riêng của ngời nông dân Nam bộ Trong số họ, ông Tám làngời tiêu biểu nhất Ông đã quỳ trớc bàn thờ mà nói về đất:
"Tha ông bà, cha mẹ, tha các hơng hồn liệt sĩ, nhà của đất đai đây là của ông
bà, cha mẹ và cách mạng đã tạo lập cho con Bữa nay ngời ta tới ép buộc con phải
bỏ đi Con không thể phụ bạc công ơn cha mẹ công ơn cách mạng Vậy con xinchết cho cha mẹ và các vị liệt sĩ ngó thấy" Ông Tám một mực không rời bỏ mảnh
đất thân yêu bao đời truyền lại cho ông, ông thà nhận cái chết, để ông đợc chếttrên mảnh đất đã gắn bó máu thịt của cuộc đời mình Ông yêu quê hơng dũngcảm quyết tâm bám đất giữ làng Hành động quyết tâm giữ đất, nghĩa khí, ý chísắt son, lòng yêu chuộng tự do, không chịu áp bức của ông Tám chính là nguồncảm hứng để Anh Đức đặt tên cho tác phẩm là "Đất", tiêu đề đất cũng chính là lờikhẳng định sự trờng tồn của quê hơng đất nớc dù bất kì hoàn cảnh nào, ngời ViệtNam vẫn luôn một lòng yêu nớc và bảo vệ đất nớc, giữ gìn nền độc lập
Trang 23ở truyện ngắn "Khói" tác phẩm đợc viết vào năm 1963 - khi tác giả trở lạiquê hơng miền Nam để chiến đấu và sáng tác Cảm hứng nghệ thuật bắt nguồn từcâu chuyện kể của chiến sĩ trẻ tên là Hựu, trung đội phó mới hai mơi ba tuổi kể vềcuộc chiến đấu của nhân dân miền Nam đang tiến hành là một cuộc chiến tranhtoàn dân Ngoài sự tham gia trực tiếp của những con ngời cầm súng, còn có sự
đóng góp tích cực của "đội quân dự bị thứ hai" ở xóm làng, những ngời dân đã đốt
đồng hun lên "một áng khói thần kì" để che chở cho bộ đội tránh đợc sự oanh tạccủa không quân địch Hình ảnh cô gái đi đốt đồng, hình ảnh khói đợc nhắc lạinhiều lần trong tác phẩm nh một ám ảnh nghệ thuật, làm nên mạch cảm xúc củatác giả
b) Tiêu đề nhân vật
Tiêu đề nhân vật là loại tiêu đề lấy tên nhân vật để đặt tên cho tác phẩm củamình nhằm hớng ngời đọc đến một sự cảm nhận đúng đắn Đó là sự tập trung vềnhững điều mà tác giả muốn gửi gắm ý đồ nghệ thuật Đó là câu chuyện về nhânvật chính trong tác phẩm, qua nhân vật ta thấy đợc chủ đề t tởng mà nhà văn đãgói gém, đã kí thác, khảo sát trong 26 truyện ngắn Anh Đức có 7 tiêu đề lấy tên
nhân vật để đặt tên cho tác phẩm của mình Bao gồm: "Ngời đào hát"; "Ngời gác
đèn biển"; "Đứa con"; "Ngời chơi đại hồ cầm"; "Con chị Lộc"; "Ngời khách đến thăm vờn nhà tôi"; "Ngời về hu".
Truyện ngắn Anh Đức thiên về miêu tả hiện thực đời sống Những tiêu đềtheo kiểu này cũng đã phần nào thể hiện đợc sự khái quát hiện thực trong nó, giúpcho ngời đọc có sự cảm nhận đúng đắn hơn, chân thực hơn, trọn vẹn hơn
Đúng nh tiêu đề truyện "Ngời đào hát" là câu chuyện kể về cuộc đời đắngcay tủi nhục của những ngời đào hát điển hình là đào Bảy Phi Câu chuyện cảm
động của Bảy Phi cũng là câu chuyện của những ngời đào hát trong thời kì đen tốicủa miền Nam
Trang 24Câu chuyện "Ngời gác đèn biển" ta bắt gặp hình ảnh một ông lão gác đèn
biển - ông cụ Sáu Ông là ngời hi sinh thầm lặng vì cách mạng, là ngời nông dânnghèo khổ Ông yêu quê hơng nhng ông tự nguyện ra khơi xa nơi tháp đèn HoaLăng gác đèn biển Ông không có vợ, không có con, sống một mình với cái chòinhỏ không một bóng ngời, cuộc đời của ông, việc làm của ông thầm lặng nh tên
của tiêu đề gợi ra "Ngời gác đèn biển"
Câu chuyện "Đứa con" là câu chuyện kể về đứa con của hai vợ chồng thím
Ba, chú Ba (thằng Trung - đứa con duy nhất) Vợ chồng chú thím nhờ công ơncách mạng cứu sống mà có đợc một đứa con, nuôi đợc đứa con đến khi lớn dùcha đủ tuổi công dân Nhng vợ chồng chú Ba và thím Ba đã dâng đứa con trai độcnhất của mình cho cách mạng Đứa con là nơi thể hiện tình yêu thơng nhất củacha mẹ và cũng là nơi gửi gắm niềm tin cho cách mạng Một cái tên ngắn gọn mà
chứa bao nhiêu ý nghĩ sâu sắc về tình nhà nghĩa nớc "Đứa con" và gia đình chú
thím Ba cũng là câu chuyện của rất nhiều gia đình nông dân Việt Nam thời kìchiến tranh các liệt này
c) Tiêu đề giới hạn
Trong 26 truyện ngắn Anh Đức còn có những tiêu đề có chức năng xác địnhphạm vi, khuôn khổ, làm thành đờng viền "đai" xung quanh tác phẩm Nó nh mộttấm biển chỉ đờng giúp cho ngời đọc khi tiếp nhận không vợt qua giới hạn đó Và
từ đó có cái nhìn đồng điệu với cách cảm, cách nghĩ của ngời sáng tạo Đó là tiêu
đề các truyện ngắn: "Cứu thuyền"; "Kí ức tuổi thơ"; "Giấc mơ ông lão vờn chim";
"Đêm cuối năm trên một hải đăng đảo"; "Con cá song".
ở truyện "Cứu thuyền", toàn bộ nội dung câu chuyện đợc triển khai xoayquanh công việc đi cứu thuyền của ngời dân Ng Thủy cùng với một đội lới baogồm cả ngời miền Nam và ngời miền Bắc Toàn bộ tính cách, t tởng hành độngcũng nh tình cảm của những ngời dân và tình cảm Bắc -Nam đều thể hiện quaviệc đi cứu chiếc thuyền bị đắm này Cho nên, tên truyện nh là một thông báo cốt
lõi nhất, khái quát nhất vào nội dung của truyện Truyện "Cứu thuyền" là một dịp
Trang 25để những con ngời thuộc hai chiến tuyến đối lập bộc lộ mình: một bên là lực lợngtiến bộ và một bên là lực lợng phản động (tiêu biểu là lão cha xứ và tên trùm tr-ởng).
Còn truyện "Kí ức tuổi thơ" đúng nh tiêu đề là câu chuyện kể về kí ức của
một đứa bé lên chín tuổi tên là Hà Trong giờ học chính tả, khi cô giáo đọc bài vềlịch sử trờng em" bé hà đã khóc, kí ức đau thơng trong tâm trí em hiện về Bé Hà
đã kể lại nỗi khủng khiếp trong em về cái chết của ba em và chú Sáu ngay chínhmảnh đất mà giờ đây mẹ và em còn ở đó Hình ảnh về chiến tranh tàn khốc, sựgiã man của giặc Mĩ đối với ngời dân vô tội đã đợc kể lại dới cái nhìn của một
đứa trẻ hiện thực đợc thể hiện qua kí ức tuổi thơ nên nó chân thực, sống động
Điều đặc biệt, "đờng viền" của kí ức tuổi thơ trong tâm trí bé Hà cũng chính là kí
ức của biết bao đứa trẻ phải sống trong thời kì đen tối của cách mạng miền Nam.Câu chuyện "Kí ức tuổi thơ" toát lên chất hiện thực về mảnh đất thành đồng tổquốc với bao đau thơng mất mát trong chiến tranh
Câu chuyện về "Giấc mơ ông lão vờn chim" kể về ông lão vờn chim ở U
Minh Hạ từ thủơ Ông T vờn chim yêu quý và gắn bó sâu nặng với vờn chim này
đã bốn mơi năm Vờn chim là nhân chứng thăng trầm của cuộc đời ông lão Trênmảnh đất này cuộc đời ông lão đã trải qua biết bao đau thơng tang tóc, ngời contrai duy nhất của ông đã chiến đấu hinh sinh để bảo vệ mảnh đất này và ngời condâu vì giúp đỡ cách mạng cũng bị chết thê thảm ở chốn này Ông lão đã mất đi tấtcả chỉ còn lại vờn chim là bầu bạn của ông, ông yêu quý chúng bằng tình yêumáu thịt Thế nhng giặc Mĩ tràn đến chúng bỏ bom dầu âm mu đốt cháy vờn chimcủa ông Ông cùng với ngời dân ra sức chiến đấu để bảo vệ rừng tràm, bảo vệ vờnchim nơi thờng xuyên che chở nuôi nấng bộ đội Và trong cuộc chiến đấu này
ông đã bị thơng, nhiều vết bỏng rất nặng của bom dầu Ông thiếp đi "Lần này
ông lão mơ thấy cảnh cha bao giờ ông hằng mơ thấy Cả rừng tràm bừng lên mộtsức sống mãnh liệt Lá tràm cha có lúc nào xanh tơi đến thế Bông tràm rụngtrắng cả mặt kinh Vờn chim của ông thì lạ lùng hết chỗ nói, tổ chim cứ đong đaken sát nhau đến nỗi khó mà nhìn thấy trời Ngoài cò diệc còn có nhiều loại chimlạ lũ lợt bay về hàng đàn, con nào con nấy lông cánh sặc sỡ muôn màu" Giấc mơcảu ông lão cũng chỉ có mơ về sức sống của vờn chim, qua đó nhà văn thể hiện rõnét tình yêu quê hơng đất nớc Tên truyện giản dị, ớc mơ cũng giản dị chân chấtnhng tình yêu quê hơng đó thì vô cùng sâu sắc
d) Tiêu đề hàm ẩn
Bao gồm: "Chuyến lới máu"; "Cái bàn còn bỏ trống"; "Chuyến tàu đêm".
Trang 26ở ngời viết, cái ý nghĩa luôn tranh cãi nhau trên từng trang, từng chữ một.
Và tác phẩm - đứa con tinh thần đợc tác giả mang nặng đẻ đau luôn chứa đựngtrong nó t tởng, tình cảm tài năng tâm huyết của ngời viết Loại tiêu đè này rấtquan trọng trong việc đề cập với ngời đọc điều mà tác giả gửi gắm, kí thác Trongtruyện ngắn Anh Đức loại tiêu đề này đa đến cho ngời đọc sự cảm nhận đúng đắn
về cuộc đời con ngời trong tác phẩm của ông
Chẳng hạn, "Chuyến lới máu" kể về sự vất vả, khổ cực của những ngời đi
đánh cá thuê cho nhà lão T Hng, tiêu biểu là thằng Vọi một thằng bé mặt mũi
"ngây ngô" chừng mời sáu tuổi, đi ở làm việc cho nhà lão T Hng Trong mộtchuyến đi lới ngoài đảo xa, thằng Vọi và những ngời đi mớn lới cho nhà lão TừHng đánh bắt đợc rất nhiều cá, khi cho ghe cá vào gần bờ, có gió thổi mạnh làmcho hai ghe sáp lại "Thằng Vọi nâng cáng lới đứng dậy sửa soạn trao sang Khi
nó với tay tới, bỗng chân trái của nó trợt khỏi ghe" Nó cha kịp rút chân lên, thì làngió đẩy dạt ghe xô rập vào kẹp lấy chân thằng Vọi vào giữa "Gió thổi vù vù, tay
nó vẫn ghì cáng lới không giám buông" vì sợ cá trong lới sẽ tuột ra hết Nó kêuvan lão Từ Hng nhng lão vờ nh không nghe thấy "Miệng lão còn đang nhai sò,huyết sò cha chín ứ ra mép lão nh máu ngời, lão ta gằn từng tiếng: - Không đợcbuông cáng!" Thằng Vọi sợ không giám buông lới, máu chân nó chảy tuôn nhxối Lão T mừng hún, lè lỡi liếm máu sò bên mép, trố mắt nhìn từng vạt lới khéolên Sau chuyến lới này, thằng Vọi cụt hẳn một chân Nhng cuộc đời nó đâu đợcbuông tha khỏi những cáng lới Với cái chân què nó lại phải ra khơi đánh cá cholão T Hng Hình ảnh "máu" xuất hiện trong tác phẩm chín lần Máu ở đây chính
là máu của những ngời làm thuê phải đổ ra cho những kẻ mất hết tính ngời nh lão
T Hng Không chỉ một mình thằng Vọi phải đổ máu vì một chuyến lới cá mà cònrất nhiều những ngời làm thuê khác phải chịu đựng nỗi khổ ấy điều đó có nghĩa
sẽ có rất nhiều chuyến lới nhuộm màu máu của ngời dân Tên gọi nh một tâm
điểm, một ám ảnh tác động làm cho ngời đọc suy ngẫm về nó
Chuyện "Cái bàn còn bỏ trống" là câu chuyện kể về chị Ninh, ngời phụ nữ
làm việc ở một cơ quan đặc biệt "lãnh đạo hết thảy nhà văn, nhà thơ" Là mộtnhân viên phục vụ, nhng chị Ninh đã sống và làm việc nh một tấm gơng mẫumực, tận tụy và hi sinh Chị cũng là ngời mẹ anh hùng, tiễn con trai ra trận, rồi
đứa con ấy hi sinh ở chiến trờng Trên hai mơi sáu năm thầm lặng hi sinh vì côngviệc tập thể, ở tuổi năm lăm, chị vẫn muốn đợc tiếp tục phục vụ, cống hiến vì lợiích chung của đồng bào, đồng chí Nhng căn bệnh hiểm nghèo đã cớp đi sự sốngcủa chị Trong phòng làm việc cái bàn bỏ trống không thể tìm ngời khác ngồi vào
đó Tiêu đề "Cáibàn còn bỏ trống" chính là điều tác giả muốn gửi gắm tình cảm,
Trang 27sự tiếc nhớ về mọt ngời phụ nữ tuyệt vời, hiếm có, đã âm thầm tận tâm với côngviệc vì lợi ích chung của cả xã hội.
Nh vậy, qua sự khảo sát và phân tích trên, chúng ta thấy đợc đặc điểm củatiêu đề truyện ngắn Anh Đức dới góc độ ngôn ngữ Tuy nhiên việc sử dụng nhữngloại tiêu đề này không phải riêng nhà văn Anh Đức, nét độc đáo những nét riêng.Vậy, điều độc đáo về ngôn ngữ của nhà văn Anh Đức trong việc sử dụng tiêu đề
định hớng nhân vật đợc tác giả sử dụng nhiều lần:
- Loại tiêu đề chủ đề: Gồm tiêu đề ôm trọn nội dung của tác phẩm, gồm:
"Làm việc"; Lao động quang vinh", và các tiêu đề khong trực tiếp bộc lộ chủ đề
mà nó có tính chất hàm ẩn, nó gợi mở cho ngời đọc sự cảm nhận đúng đắn về chủ
đề, về con ngời trong tác phẩm: gồm có các tiêu đề: "Quê hơng"; "Về Nam";
"Xuống núi"; "Tự do"; "Mặt trận"; "Ngày về".
- Loại hình tiêu đề định hớng nhân vật: "Cậu Huân"; "Đôi bạn"; "Hai cha
con ngời chính ủy"; "Những đứa con trong gia đình".
Nguyễn Thi sử dụng nhiều hai loại tiêu đề này vì truyện ngắn của NguyễnThi chủ yếu là những câu chuyện tâm tình không rõ cốt truyện, không rõ chủ đề.Loại tiêu đề này sẽ giúp ngời đọc định hớng đúng, cảm nhận đúng nội dung t t-ởng của tác phẩm
Khác với Nguyễn Thi, trong 26 truyện ngắn của Anh Đức, ta thấy loại tiêu
đề chủ đề ôm gọn nội dung tác phẩm và tiêu đề hàm ẩn ít đợc nhà văn sử dụng,
mà nổi rõ nhất sự tập trung lựa chọn của tác giả là loại tiêu đề cảm hứng và tiêu
đề nhân vật Hai loại tiêu đề này tác giả sử dụng nhiều trong truyện ngắn củamình là bởi vì: Truyện ngắn Anh Đức không thuộc lọai truyện không có truyện,
mà ngợc lại nó khẳng định một truyện ngắn chứa đầy chất sống, căng chật nhữngnội dung, một loại truyện không phải trữ tình pha màu lãng mạn, mà hiện thực
Trang 28hoàn toàn, hiện thực nh bản thân cuộc sống Là loại truyện ngắn giàu chất hiệnthực Vì vậy khi nhà văn sử dụng hai loại tiêu đề trên sẽ góp phần giúp Anh Đứcbiểu hiện hiện thực một cách đặc sắc hơn Đồng thời đó cũng là cách Anh Đứcnhấn mạnh với ngời đọc những yếu tố đã làm nên chủ đề, t tởng tác phẩm đó là:nhân vật và cảm hứng, giúp ngời đọc có đợc cách cảm nhận đúng đắn hơn về tácphẩm của ông Sự lựa chọn trong cách đặt tiêu đề này đã góp phần làm nên phongcách ngôn ngữ riêng của Anh Đức.
Ngôn ngữ là chất liệu là phơng tiện mang tính đặc trng của văn học Mỗi nhàvăn đều sử dụng ngôn ngữ theo cách riêng của mình để diễn đạt những gì mìnhmuốn chuyển tải đến cho ngời đọc Là một cây bút tài năng, sáng tạo, Anh Đức
đã khéo léo sử dụng tiêu đề nh một phơng tiện tu từ, dù nó không phải là phơngtiện duy nhất để gửi gắm vào đó tâm hồn tình cảm, tài năng của mình
2.2 Đặc điểm từ ngữ trong truyện ngắn Anh Đức
Ta biết rằng trong lao động nghệ thuật, mỗi nhà văn có cách tích lũy ngônngữ và tiến hành sáng tác không ai giống ai Với bất cứ một ngời nghệ sĩ nàomuốn sáng tác đợc những tác phẩm đích thực đều phải trải qua một quá trìnhnghiền ngẫm, ấp ủ, một ý đồ sáng tạo, lựa chọn, trăn trở để thể hiện lên trang viết.Nói nh Maiacôpxki:
"Phải phí tốn ngàn cân quặng chữ
Mới thu về một chữ mà thôiNhững chữ ấy làm cho rung độngTriệu trái tim trong hàng triệu năm dài"
Để có từng chữ nh thế ở trong tác phẩm, rõ ràng lao động của ngời nghệ sĩngôn từ là hết sức công phu, đòi hỏi tài năng và tâm huyết thực sự Anh Đức làmột cây bút tài năng, tâm huyết với đời, với nghề, có trách nhiệm cao trớc ngòibút của mình Mặc dù viết truyện ngắn đối với ông là cả một niềm đam mê, ôngtừng tâm sự: "Viết truyện ngắn tôi luôn có nguồn cảm hứng mới, sự hồi hộp mới.Thể loại này thật đắc dụng, cha khi nào nó gây cho tôi sự tẻ nhạt, nhàm chán" nh-
ng cha bao giờ ông giám chủ quan trớc một truyện ngắn Bởi nếu chuẩn bị không
Trang 29đầy đủ vẫn có thể bị "sảy tay" Ông nhận thức đợc rằng "sáng tác văn học là rấtquý, nhng cũng rất hệ trọng Mỗi dòng, mỗi chữ viết ra sẽ có ích hoặc có hại chongời đọc, sẽ gây ảnh hởng rất tốt hoặc rất xấu, trong đó bao gồm mối quan hệ hữucơ giữa t tởng, tình cảm thờng xuyên qua cá tính, thẫm mĩ của nhà văn, cấu trúccủa truyện, câu và chữ" Chính vì những sự ý thức đó mà trong truyện ngắn củamình, Anh Đức đã cân nhắc, trau chuốt cẩn thận và thể hiện một vốn ngôn ngữphong phú, sinh động và giàu giá trị nghệ thuật Bằng tài năng của mình Anh Đức
đã khéo léo sử dụng vốn từ đa dạng của tiếng Việt để chuyển tải nội dung cầndiễn đạt Ngời đọc nhận thấy trong truyện ngắn Anh Đức cả vốn từ láy phongphú, vốn từ địa phơng đa dạng, từ chỉ màu sắc, từ chỉ nghề nghệp, thành ngữ Qua vốn từ ngữ của ông, ta thấy đợc sự kế thừa ngôn ngữ dân gian truyềnthống đặc biệt là ngôn ngữ địa phơng Nam Bộ và đồng thời có sự cách tân mộtcách hiện đại Khảo sát 26 truyện ngắn của Anh Đức chúng tôi nhận thấy rằngngòi bút Anh Đức có sự lựa chọn các phơng tiện ngôn ngữ rất độc đáo, vì thế màlàm nên phong cách ngôn ngữ của ông Dấu "vân tay" của nhà văn để lại rõ nétnhất qua lớp từ láy và từ địa phơng Và từ địa phơng trong tác phẩm của Anh Đức
đợc xem là dấu hiệu nổi bật thể hiện sự lựa chọn từ ngữ của nhà văn này Đó cũngchính là hai phơng tiện chính về từ vựng mà chúng tôi đi sâu nghiên cứu trong đặc
điểm truyện ngắn Anh Đức
2.2.1 Từ Láy
2.2.1.1 Khái niệm về từ láy
Láy là một hiện tợng phong phú và đa dạng nhng cũng đầy phức tạp Xungquanh khái niệm và tên gọi từ láy, trớc đây có nhiều quan niệm khác nhau Về tên
gọi: từ lấp láy, từ láy âm, từ trùng điệp, từ ngữ kép phân thức Về cơ chế cấu tạo,
có ba hớng quan niệm chính về từ láy
a) Coi láy là phụ tố
Đại diện cho quan niệm này là L Bloomfield trong công trình mang tên
"Language" (1933), tác giả cho rằng láy là phụ tố biểu hiện ở hình thái cơ sở đ ợclặp lại trong từ láy
ở Việt Nam, Lê văn Lý (1972), tuân theo quan điểm này, ông gọi là "từ ngữkép phân thức" Trong cuốn "Sơ thảo ngữ pháp Việt Nam", ông viết: "Láy là từngữ đợc lặp đi lặp lại trong những yếu tố thành phần của chúng"
b) Coi láy là ghép
Nguyễn Tài Cẩn (1975) cho rằng: "Từ láy là loại từ ghép trong đó các yếu tốthành tố trực tiếp kết hợp với nhau chủ yếu theo quan hệ ngữ âm" Cùng quanniệm này còn có các tác giả nh Trơng Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê Nguyễn Văn
Trang 30Tu (1976) cũng gọi chung những từ láy âm là từ ghép vì thực chất chúng đ ợc tạo
ra bởi một từ tố với bản thân nó
c) Coi láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trng hóa.
Các nhà nghiên cứu: Trần Trọng Kim (1953); Đinh Trọng Lạc (1964) đềucho rằng: "Láy là sự hòa phối ngữ âm", trong hiện tợng có sự chi phối của luật
"hài thanh" và "hài âm"
Hoàng Tuệ (1978) cũng quan niệm: "Nếu hiểu rằng láy là phơng thức cấu tạonhững từ mà trong đó có một sự tơng quan âm nghĩa nhất định Tơng quan ấy cótính chất tự nhiên, trực tiếp nhng tơng quan ấy tinh tế hơn nhiều và có thể nói là
đã đợc cách điệu hóa Sự cách điệu ấy chính là sự biểu trng hóa ngữ âm - mỗi
t-ơng quan này tạo ra sắc thái biểu cảm, giá trị của từ láy" Và cũng hởng ứng quanniệm này giáo s Hoàng Văn Hành [13] - ngời đã có công lớn nghiên cứu từ láymột cách toàn diện theo hớng này, ông xem: "Láy là sự hòa phối ngữ âm có giátrị biểu trng hóa" Đây cũng là xu hớng chung phổ biến hiện nay của giới Việtngữ khi nghiên cứu hiện tợng láy của tiếng Việt
Khi thừa nhận láy là sự hòa phối ngữ âm có giá trị biểu trng hóa nh vậy cũng
có nghĩa là chúng ta đã coi láy là một cơ chế Theo giáo s Hoàng Văn Hành thì
"Cơ trình cấu tạo từ láy tiếng Việt chịu sự chi phối của xu hớng hòa phối ngữ
âm" Sự phối hợp ngữ âm trong từ láy biểu hiện ở quy tắc điệp và đối Quy trìnhcấu tạo từ láy bằng cách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định sao chomỗi quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối, hài hòa với nhau về âm, vềnghĩa lại có giá trị biểu trng hóa
Cũng theo Hoàng Văn Hành, hình vị cơ sở để nhân đôi gọi là tiếng gốc, còntiếng đợc tạo ra trong quá trình láy là tiếng láy Hệ quả của quá trình nhân đôi làtạo đợc thế điệp giữa hai tiếng Đồng thời với quá trình nhân đôi khi tạo ra tiếngláy cũng diễn ra quá trình biến đổi và tiếp hợp ở những bộ phận nhất định trongtiếng láy, nhờ đó mà có thế đối bên cạnh thế điệp Với quan niệm nh vậy giáo sHoàng Văn Hành kết luận: "Với t cách là một phơng thức cấu tạo từ, cơ chế láy làmột quá trình diễn ra những sự hoạt động của một hệ thống những quy tắc ngữ
âm, ngữ nghĩa chi phối việc tạo ra những từ mà các tiếng của chúng vừa nằmtrong thế điệp vừa nằm trong thế đối, nằm trong sự hòa phối giữa ngữ âm vànghĩa, có giá trị biểu trng hóa "
Đi theo quan niệm thứ ba, chúng tôi rút ra các quy luật cơ bản của cấu tạo từláy nh sau:
1) Láy tuân theo quy tắc điệp và đối một cách triệt để, nhất quán
Trang 312) Xét ở góc độ sử dụng thì từ láy có tính chất gợi tả, giá trị biểu cảm và giátrị phong cách.
Từ láy thiên về biểu cảm, gợi cảm, gợi hình, gợi tâm trạng hơn là biểu thị sựvật mặc dù nó chứa đựng đầy đủ các nét biểu vật, biểu niệm Nó giúp con ngời tduy hình tợng và xây dựng hình tợng ngôn ngữ
3) Từ láy là sự hòa phối ngữ âm có tính chất biểu trng hóa ngữ âm của từ
Có thể thấy 3 cấp độ biểu trng hóa ngữ âm trong vốn từ láy:
- Từ láy biểu trng hóa ngữ âm giản đơn: chính là ngôn ngữ láy mà chúng taquen gọi là từ tợng thanh, đó là những từ trực tiếp mô phỏng âm thanh tự nhiên
Ví dụ: Lộp bộp, róc rách, kinh cong, ầm ầm
- Từ láy biểu trng hóa ngữ âm cách điệu (có tiếng, hình vị gốc): đây là những
từ quen gọi là từ tợng hình, là những từ mà nghĩa của yếu tố gốc thờng đã mờ
nghĩa Ví dụ: tần ngần, thớt tha, đủng đỉnh
- Từ láy vừa biểu trng hóa ngữ âm vừa chuyên biệt hóa về nghĩa, đây lànhững từ mà nghĩa của yếu tố gốc và cấu tạo của khuôn vần chi phối tác động tạo
ra nghĩa của từ láy (quen gọi là những từ láy biến thái) Ví dụ: Tròn trặn, vuông
vắn, vừa vặn
Nh vậy, qua tìm hiểu đặc điểm của từ láy ở trên chúng ta nhận thấy rằng, từláy là một công cụ tạo hình đắc lực, hữu hiệu trong tác phẩm ngôn từ Mỗi tácphẩm thơ ca là một mảnh đất, trên đó từ láy đã tỏ rõ sức sống và vẻ đẹp muônmàu của mình Điều đó giải thích tại sao từ láy đợc dùng với tần số rất cao trongtác phẩm văn học
Hiểu đợc giá trị nhiều mặt của từ láy nhà văn Anh Đức đã rất có ý thức trongviệc sử dụng từ láy và sự dụng từ láy một cách khéo léo, có hiệu quả để diễn tảnhững nội dung cảm xúc tinh tế, chính xác
2.2.1.2 Từ láy trong truyện ngắn Anh Đức
Khảo sát 26 truyện ngắn của Anh Đức chúng tôi đã thống kê đợc số lần xuấthiện của từ láy, kết quả thể hiện qua bảng sau:
TT Tên tác phẩm Số lần xuất hiện Tỉ lệ số từ láy/
Trang 32Đi sâu tìm hiểu đặc điểm từ láy trong truyện ngắn Anh Đức trên hai phợngdiện cấu tạo và tính chất biểu trng, chúng ta có thể thấy rõ hơn dấu ấn về sự lựachọn ngôn ngữ của tác giả.
a) Từ láy đợc Anh Đức sử dụng trong truyện ngắn (xét về cấu tạo)
Căn cứ vào mức độ thành phần âm thanh đợc láy lại, có thể chia từ láy ra làmhai loại: từ láy hoàn toàn và từ láy bộ phận
* Từ láy hoàn toàn
Trang 33Qua khảo sát 2066 lợt từ láy xuất hiện trong 26 truyện ngắn của Anh Đức,chúng tôi thu đợc kết quả có 563 lợt từ láy hoàn toàn đợc tác giả sử dụng, trong
đó có thể chia làm hai dạng:
- Láy hoàn toàn điệp vần, điệp thanh: Tức là điệp phụ âm đầu, vần, thanh
điệu: Ví dụ: xanh xanh, nhao nhao, xa xa, đăm đăm, rng rng, ầm ầm, lù lù, mờ
mờ, nheo nheo, nghiêng nghiêng, chép chép, rung rung, run run, cộp cộp, ùn ùn, bịch bịch, đùng đùng, chớp chớp, chằm chằm, mò mò, rờ rờ, mó mó, chốc chốc, thòm thòm
Ta gặp rất nhiều những từ láy nh thế trong nhiều trang viết của truyện ngắnAnh Đức Có 200 lợt xuất hiện loại từ láy hoàn toàn điệp vần trong 26 truyệnngắn của Anh Đức:
Chẳng hạn: "Ngời nào cũng muốn đặt chân lâu lâu trên đất Bởi vì họ hiểu rằng chẳng mấy chốc nữa họ sẽ xa đất thật lâu có thể là mãi mãi".
(Con chị Lộc, tr.222)
+ "Tàu xình xình lớt đi trên mặt sông Sài Gòn Chị Lộc cắn chặt môi giữ
cho mình khỏi khóc Bị tra tấn chị không hề ứa một nớc mắt Vậy mà bây giờ chị
muốn khóc làm sao, chị rng rng nhớ tuổi nhỏ, nhớ má chị, nhớ tình yêu hé ra
trong những ngày đen tối"
(Con chị Lộc, tr230)
+ "Chị đăm đăm nhìn Hai Long không nháy mắt" (Ngời Đào hát; tr.45) + "Xa xa ngoài sông vắng lặng chỉ có mấy cánh buồm trắng chạy veo veo
trong gió chớng" (Ngời đào hát, tr.42)
+ "Tiếng gáy pho pho của gã đã bắt đầu trỗi dậy hòa với tiếng cọ khe khẽ của các hũ rợu Lão Hạc nhìn Hai Nhỏ đăm đăm" (Chuyến xe về làng, tr.55) + "Trời ơi, hai đứa nhỏ nhà tôi ông Hai Hồ la lên run run trao chiếc ống nhòm cho tôi Tôi nhìn nó mơ hồ hình dung ra khuôn mặt ngời mẹ hẳn cũng hao hao nh thế " (Đêm cuối năm trên một hải đăng đảo, tr.534).
+ "Tôi lại đi trên con đờng xa, giữa ngày đầu thu hiu hiu gió thổi"
(Cái bàn còn bỏ trống, tr.519)
+ " Con ngời từ trại cải tạo mới ra đó chợt ngó sững tôi, mắt chớp chớp, ơn
ớt sau làn kính Anh ngồi im, lâu sau mới nói, giọng run run"