Có thể nói, các nhà văn nữ đã chiếm lĩnh văn đàn bằng truyện ngắn với các tên tuổi tiêu biểu như Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin trân trọng cám ơn các thầy cô tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, Trường đại học Vinh đã nhiệt tình giảng dạy và gợi mở cho tôi nhiều ý kiến quý báu trong quá trình học tập và thực hiện luận văn
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến T.S Nguyễn Hoài Nguyên, người đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn thành luận văn
Xin cảm ơn những người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã giúp đỡ, động viên tôi trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn
Vinh, tháng 12 năm 2011
Mai Thị Hải
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 5
1 Lí do chọn đề tài 6
2 Lịch sử vấn đề 7
3 Đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu 8
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Đóng góp của đề tài 8
6 Cấu trúc luận văn 9
Chương 1: Một số giới thuyết liên qua đến đề tài 1.1 Các khái niệm cơ sở của đề tài 10
1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật 10
1.1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật 10
1.1.1.2 Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật 12
1.1.2 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn 13
1.1.2.1 Thể loại truyện ngắn 13
1.1.2.2 Ngôn ngữ truyện ngắn 17
1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm 20
1.2.1 Vài nét về Võ Thị Xuân Hà 20
1.2.2 Những nét đặc sắc trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 24
1.3 Tiểu kết chương 1 30
Chương 2 Từ ngữ và một số biện pháp tu từ trong truyện ngắn
Võ Thị Xuân Hà
Trang 42.1 Các lớp từ nổi bật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà 31
2.1.1 Một số vấn đề chung 31
2.1.1.1 Khái niệm từ
2.1.1.2 Vai trò của từ trong văn bản nghệ thuật 31
Trang 5
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Trong nền văn xuôi đương đại, thể loại truyện ngắn đã được các cây bút nữ tạo thành một sự kiện văn học nổi bật Các nhà văn nữ hiện nay tỏ ra sung sức, bền bỉ trong sáng tạo nghệ thuật Có thể nói, các nhà văn nữ đã chiếm lĩnh văn đàn bằng truyện ngắn với các tên tuổi tiêu biểu như Y Ban, Nguyễn Thị Thu Huệ, Trần Thùy Mai, Dạ Ngân, Lý Lan, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Xuân Hà… Có lẽ, truyện ngắn phản ánh nhanh, dễ tiếp cận với từng khía cạnh của cuộc sống nên thích hợp với phụ nữ chăng? Hay như suy nghĩ của Võ Thị Xuân
Hà: Truyện ngắn là một lát cắt của cuộc sống, nên các nhà văn nữ có lợi thế là thể hiện được sự tinh tế, nhạy cảm của mình trong khuôn khổ nhỏ hẹp, xinh xắn của truyện
1.2 Tác phẩm văn học là một hệ thống ký hiệu có tổ chức riêng, một kiểu tổ chức đặc biệt Vì thế, để tìm hiểu nó, người nghiên cứu phải nắm được các thông tin thẫm mỹ thông qua các phương tiện hành chức ngôn ngữ: từ ngữ, câu văn, các phương tiện và biện pháp tu từ…
Nghiên cứu truyện ngắn nói chung, truyện ngắn của một nhà văn nói riêng dưới góc độ ngôn ngữ hiện nay đang là hướng nghiên cứu được nhiều người quan tâm
1.3 Trong các nhà văn nữ viết truyện ngắn thành công, Võ Thị Xuân Hà là một trong những gương mặt khá tiêu biểu Văn chị không nền nã, ngọt ngào như Trần Thùy Mai; không nóng bỏng, bề bộn như Nguyễn Thị Thu Huệ; cũng không sắc sảo, quyết liệt như Phan Thị Vàng Anh,… Mỗi người một vẻ, không
Trang 6ai giống ai trong bút pháp thể hiện, nhưng họ lại có điểm chung ở lối viết “phá cách”, tự do, khoáng đạt và uyển chuyển, linh hoạt Văn của Võ Thị Xuân Hà luôn tựa như hai dòng nước: có khi đối lưu, có khi hòa lẫn, có khi hỗn mang, lại
có khi êm ả Hay nói cách khác, văn chị có cái thâm trầm bình thản như dòng Hương quê chị Nhưng cũng có cái bạo liệt bất ngờ của sông Hồng mùa lũ Điều
đó cũng có nghĩa là, ngôn ngữ truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà có nhiều nét riêng, độc đáo, thực sự có cá tính Từ những lý do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài
Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà làm luận văn tốt nghiệp
1 Lịch sử vấn đề
Các nhà phê bình, nghiên cứu đã có những đánh giá, nhận định đa chiều về truyện ngắn nữ Việt Nam đương đại Nhưng cho đến nay, những nghiên cứu về tác giả Võ Thị Xuân Hà, trong đó có truyện ngắn là chưa nhiều
Tác giả Hiền Hoà trong bài Võ Thị Xuân Hà: Viết để đỡ đau đớn hơn khi
nhìn thực tế có nhận định: Đôi mắt to với cái nhìn vừa cay nghiệt vừa dịu dàng, vừa trần trụi vừa mơ mộng, Võ Thị Xuân Hà biến ảo và khó nắm bắt như màu sắc một hạt cườm dưới ánh mặt trời Những trang viết của chị cũng lóng lánh y hệt một thứ nhà gương mà người ta có thể nhận diện đủ loại gương mặt của mình, để rồi lúc thì bật cười, lúc lại sợ hãi Hay: Những người đàn bà của Võ Thị Xuân Hà dù ngoan ngoãn hay vụng trộm, phá phách cũng đều có một đặc điểm giống nhau: mặc kệ cuộc sống nghèo khó hay sung túc,
họ luôn bị trộn lẫn giữa thực tại và mộng tưởng Họ xáo trộn giữa cái tốt và cái xấu, đầy lòng vị tha nhưng cũng ích kỷ, rất tự tin nhưng cũng dễ bị cám
dỗ Bởi họ bị ám ảnh bởi một quá khứ mông lung, một tương lai đầy bất trắc
//http/vnexpress.net, ngày 9/ 8/ 2003/
Tác giả Nguyên Anh nhận xét trong bài Người con của các dòng sông:
Người phụ nữ trong truyện ngắn của chị có một đời sống nội tâm phong phú,
Trang 7khát sống và yêu, như ngọn lửa âm thầm nhưng không bao giờ tắt, như dòng sông không bao giờ cạn kiệt /http/ vietbao.vn, ngày 10/8/2005/
Trong bài Võ Thị Xuân Hà – người sống trên đất lặng lẽ, tác giả Hàn Thủy
Giang chia sẻ: Nghĩ về chị, tôi cứ hình dung ra sống trên đất mà cứ như đi trên dây, tất nhiên không phải đang làm xiếc Nếu đứng lại nhìn ngó xung quanh sẽ lộn cổ Bởi vậy, chị cứ đi, cứ phải đi một cách đầy chủ quan, vì nếu chị khách quan – đó sẽ là một cú ngã Và có lẽ tôi yêu mến chị, yêu văn chị bởi nét chủ quan ấy /http/ vietbao.vn, ngày 21/8/2008/
Tác giả Đỗ Hạnh, trong bài viết Đằng sau trang viết đã khẳng định: Đọc
những trang văn tinh tế, thâm trầm của Võ Thị Xuân Hà, nhiều người sẽ nghĩ chị viết khó khăn vì câu chữ rất kỹ Thực ra, Xuân Hà là một trong những tác giả hiếm hoi có thể viết văn theo lối của một nhà báo /http/ phongdiep.net, ngày
20/7/2009/
Tác giả Cao Việt Dũng nhận xét: Đặc trưng cho cách viết của Võ Thị Xuân
Hà là một giọng văn điềm đạm, nhiều nhận xét, ít tình cảm, đậm nét cay đắng Trong bài Nhà văn Võ Thị Xuân Hà và truyện ngắn "Đàn sẻ - ri bay ngang
rừng"/http://tapchinhavan.vn, ngày 19/09/2011/
Có thể kể thêm một số bài viết của đồng nghiệp như Phan Thị Thanh Nhàn,
Võ Thị Hảo, Y Ban,… viết về những sáng tác của Võ Thị Xuân Hà đăng trên báo hàng ngày Như vậy, chưa có một bài viết nào đặt vấn đề khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà Luận văn chúng tôi mạnh dạn chọn khảo sát ngôn ngữ truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà nhằm làm nổi bật những nét đặc sắc
làm nên vẻ riêng về ngôn ngữ của tác giả Đề tài Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà là công trình độc lập đầu tiên nghiên cứu về truyện ngắn
Võ Thị Xuân Hà từ góc độ ngôn ngữ
2 Đối tƣợng và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Trang 8Ở đề tài này, chúng tôi chọn ba tập truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà:
Chuyện của con gái người hát rong(2006), Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí (2007), Thế giới tối đen (2009) để làm đối tượng nghiên cứu
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận văn nhằm tập trung giải quyết hai nhiệm vụ chính:
- Tìm hiểu một số lớp từ và biện pháp tu từ trong ngôn ngữ truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
- Tìm hiểu đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng các phương pháp và thủ pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp thống kê, phân loại
Dùng phương pháp thống kê, phân loại ngôn ngữ học để thu thập và xác lập tư liệu, định lượng tư liệu khảo sát
- Các thủ pháp phân tích, miêu tả và tổng hợp
Trên cơ sở kết quả thống kê, dùng phương pháp phân tích, miêu tả để xử lý
tư liệu, thực hiện mục đích và nhiệm vụ đề ra Kết quả thống kê, phân loại, miêu
tả mới chỉ dừng lại ở các sự kiện riêng lẻ, dàn trải Vì vậy, chúng tôi sử dụng thủ pháp tổng hợp để khái quát các vấn đề thành các quy luật mang tính chung, điển hình
- Phương pháp so sánh đối chiếu
Chúng tôi vận dụng phương pháp này để tiến hành so sánh về ngữ liệu và kết quả phân tích, tổng hợp giữa đối tượng nghiên cứu với một số tác giả khác có liên quan nhằm khẳng định nét riêng của phong cách ngôn ngữ truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
5 Đóng góp của đề tài
Lần đầu tiên ngôn ngữ truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà được khảo sát một cách
Trang 9cá tính ngôn ngữ Võ Thị Xuân Hà trong thể loại truyện ngắn, thấy được đóng góp của tác giả trong sự đổi mới ngôn ngữ truyện ngắn Việt Nam đương đại
Các kết quả của luận văn, ở một mức độ nhất định có thể làm tài liệu tham khảo trong việc giảng dạy phần văn xuôi Việt Nam đương đại ở trường phổ thông
và đại học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung của luận văn gồm ba chương:
Chương 1: Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
Chương 2: Từ ngữ và một số biện pháp tu từ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân
Hà
Chương 3: Câu văn trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Trang 10Chương 1 Một số giới thuyết liên quan đến đề tài
1.1 Các khái niệm cơ sở của đề tài
1.1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật
1.1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật
Văn học được gọi là loại hình nghệ thuật ngôn từ Bởi ngôn ngữ là dụng
cụ, chất liệu cơ bản của văn học Ngôn ngữ nghệ thuật được bắt nguồn từ ngôn ngữ toàn dân, được gọt dũa, chọn lọc qua lao động nghệ thuật của người nghệ sĩ
và chính ngôn ngữ nghệ thuật lại làm phong phú thêm cho ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện ở cá tính sáng tạo, ở phong cách và tài năng của người nghệ sĩ
Căn cứ để phân biệt ngôn ngữ nghệ thuật với các loại hình ngôn ngữ khác
là ở chỗ ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ mang ý nghĩa thẩm mỹ Thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật chính là tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm Thuộc tính bản chất nhất xuyên suốt, quy định mọi thuộc tính khác trong ngôn ngữ nghệ thuật là tính hình tượng
Vậy ngôn ngữ nghệ thuật được hiểu như thế nào? Tác giả IU.M Lốt man,
nhà nghiên cứu văn học Nga, cho rằng: Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ ngôn ngữ được xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với tư cách là hệ thống thứ hai [34, 49] Theo ông, ngôn ngữ nghệ thuật được hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên, nhưng giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ tự
nhiên có sự khác biệt về đặc trưng: Trong văn bản có tính nghệ thuật ngôn từ thì không chỉ ranh giới giữa các ký hiệu là khác nhau, mà bản thân khái niệm ký hiệu cũng khác nhau [34, 49] Cũng theo tác giả, ngôn ngữ tự nhiên được nhắc
đến ở đây là các ký hiệu - những đơn vị ổn định và bất biến của văn bản - và các quy tắc cú đoạn học được lẩy ra tương đối dễ dàng [34, 49]
Trang 11Tác giả Đinh Trọng Lạc cũng cho rằng: Ngôn ngữ nghệ thuật - tức ngôn ngữ, trong các tác phẩm nghệ thuật ngôn từ - là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (ngôn ngữ tự nhiên) [28, 140] Có thể thấy rằng,
sự sinh thành và tồn tại của ngôn ngữ nghệ thuật dựa vào ngôn ngữ tự nhiên Nếu như ngôn ngữ tự nhiên là hệ thống tín hiệu thứ nhất thì ngôn ngữ nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ hai Để hiểu rõ hơn về bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật ta đặt
nó bên cạnh ngôn ngữ tự nhiên để tìm ra sự tương đồng và khác biệt của hai hệ
thống này Tác giả Đinh Trọng Lạc cho rằng, thuật ngữ ngôn ngữ tự nhiên được hiểu trùng với ngôn ngữ phi nghệ thuật - bao gồm lời nói sinh hoạt hàng ngày và
các loại văn bản thuộc phong cách hành chính, phong cách chính luận, phong
cách khoa học Ngôn ngữ phi nghệ thuật có thể được xác định như là một mã chung, phổ biến nhất, tức một hệ thống tín hiệu đầu tiên và quy tắc sử dụng tín hiệu đó, mà con người dùng để vật chất hoá những ý nghĩa, tình cảm của mình, tức để diễn đạt những ý nghĩa tình cảm này trong một hình thức được tri giác một cách cảm tính: từ ngữ phát ngôn [28, 136]
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ phi nghệ thuật và ngôn ngữ nghệ thuật là quan
hệ nguồn gốc và thứ sinh vừa là quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Là mối quan
hệ đa chiều cho nên có hiện tượng ngôn ngữ của một tác phẩm nghệ thuật tham gia vào ngôn ngữ toàn dân làm giàu thêm cho ngôn ngữ dân tộc Và chính các nhà văn đã làm phong phú thêm chất liệu mình sử dụng đó chính là quá trình sáng tạo đặc biệt, nhà văn tái tạo thế giới trong tác phẩm của mình, cho nên, tác phẩm văn học mang đậm dấu ấn cá nhân, ngôn ngữ cũng mang những giá trị mới
Như vậy, ngôn ngữ nghệ thuật vừa là công cụ tư duy vừa là phương tiện chuyển tải hỡnh tượng nghệ thuật chủ quan của người nghệ sỹ Nó bao giờ cũng
là thứ tín hiệu giàu phẩm chất tâm lý xó hội, vừa giàu tính truyền thống, vừa giàu tính hiện đại Ngôn ngữ nghệ thuật là thứ ngôn ngữ được chọn lọc từ ngôn ngữ toàn dân, là biểu hiện đầy đủ nhất, nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hoá
Trang 121.1.1.2 Đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật
Ngôn ngữ nghệ thuật là một mã phức tạp được cấu tạo nên từ hệ thống tín hiệu thứ nhất (từ ngôn ngữ tự nhiên)
Trong ngôn ngữ của văn bản nghệ thuật thì chức năng thẩm mỹ xuất hiện
ở bình diện thứ nhất, nó đẩy chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai Chức năng thẩm mỹ được hiểu khác về chất: chức năng nghệ thuật - hình tượng Chức năng thẫm mỹ của ngôn ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật là ở chỗ tín hiệu ngôn ngữ là yếu tố tạo thành hình tượng
Ngôn ngữ nghệ thuật là biểu hiện đầy đủ nhất và nổi bật nhất của ngôn ngữ văn hoá, ngôn ngữ toàn dân Ngôn ngữ nghệ thuật bao gồm cả phương tiện ngôn ngữ không có trong ngôn ngữ hiện tại, cũng chưa có trong lịch sử của nó tức là những tân từ hiểu theo nghĩa rộng hoặc những từ ngẫu hợp - kết hợp một cách ngẫu nhiên Ngôn ngữ nghệ thuật, trong những phạm vi nhất định, sử dụng cả những phương tiện ngôn ngữ ngoài ngôn ngữ văn hoá, như những từ địa phương, những từ của tiếng lóng, những từ tục Ngôn ngữ nghệ thuật hiểu theo một nghĩa nào đó là giàu hơn ngôn ngữ toàn dân
Ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng của nhà văn Mỗi nhà văn lớn bao giờ cũng là tấm gương sáng về mặt hiểu biết ngôn ngữ của quần chúng nhân dân lao động, họ luôn cần cù trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác Ngôn ngữ nghệ thuật bao giờ cũng mang ý nghĩa thẩm mĩ, nó phân biệt với ngôn ngữ khác ở tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu cảm Ngoài ra, còn một đặc điểm nữa không thể thiếu trong ngôn ngữ nghệ thuật, đó là tính cá thể Tính cá thể của ngôn ngữ nghệ thuật biểu hiện ở đặc trưng
sử dụng ngôn ngữ và những sáng tạo trong việc dùng từ ở mỗi nhà văn
Ngôn ngữ nghệ thuật có hai bình diện nghĩa Nó có khả năng, một mặt, hướng vào hệ thống ngôn ngữ văn hoá với những ý nghĩa của các từ, của các hình
Trang 13thuật, cái hệ thống vốn thông báo cho những thành tố ngôn ngữ cái giá trị ngữ cảnh, cái giá trị hình tượng - thẩm mỹ Một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ không đơn giản là sự lắp ghép từ ngữ cho độc đáo mà thực sự phải ẩn chứa trong đó tầm của tác giả về nhận thức, sự am hiểu cuộc sống trong mối quan hệ với văn hoá dân tộc Chính sự đa dạng phức tạp của bình diện nghĩa mà đã tạo sự hấp dẫn cho tác phẩm nghệ thuật ngôn từ
1.1.2 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
1.1.2.1 Thể loại truyện ngắn
Thể loại là một trong những phạm trù cơ bản nhất của sáng tác và nghiên cứu, phê bình, giảng dạy văn học Không một sáng tác nào lại không nằm về một loại dưới dạng một thể nhất định nào đó Người sáng tác khi đứng trước một hiện tượng của đời sống, muốn chiếm lĩnh nó, tất yếu phải lựa chọn một phương thức, một cách thức với một dạng thức cấu trúc, tổ chức ngôn từ nhất định Nó là dạng thức tồn tại và chỉnh thể của tác phẩm Đó là dạng thức ngôn ngữ được tổ chức thành những hình thức nghệ thuật riêng biệt, thể hiện nhận thức và cách cảm nhận của con người về các hiện tượng của đời sống, thể hiện quan niệm thẩm mỹ của nhà văn đối với hiện thực
Các nhà văn trong quá trình sáng tác thường tìm cho mình một phương thức chiếm lĩnh đời sống khác nhau, thể hiện những quan hệ thẩm mỹ khác nhau đối với hiện thực Có những cách thức xây dựng hình tượng không giống nhau, các phương thức ấy ứng với những hoạt động nhận thức khác nhau của con người – hoặc trầm tư chiêm nghiệm, hoặc qua biến cố liên tục, hoặc qua xung đột, làm cho tác phẩm văn học bao giờ cũng có sự thống nhất, quy định lẫn nhau về loại
đề tài, cảm hứng, hình thức nhân vật, hình thức kết cấu và hình thức lời văn Chẳng hạn, đối với kịch bao gồm nhân vật kịch, kết cấu kịch, hành động kịch với lời văn kịch; đối với thơ trữ tình sẽ là nhân vật trữ tình, kết cấu thơ trữ tình với lời thơ, luật thơ
Trang 14Trong lý luận văn học, các nhà nghiên cứu dựa vào các yếu tố ổn định để chia tác phẩm văn học thành các loại và các thể (hoặc thể loại, hoặc thể tài) Loại rộng hơn thể, thể nằm trong loại Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có 3 loại: tự sự, trữ tình và kịch Mỗi loại trên bao gồm một số thể Chẳng hạn, ở loại tự sự có tiểu thuyết, truyện vừa, truyện ngắn, anh hùng ca, ngụ ngôn
Truyện ngắn là một thể nằm trong loại tự sự Truyện ngắn thu hút được mối quan tâm của người nghiên cứu người đọc, với các công trình nghiên đáng
kể như: Vương Trí Nhàn (1980) với Sổ tay truyện ngắn; Nguyễn Thái Hoà (2000) với Những vấn đề thi pháp của truyện và nhiều bài nghiên cứu, công
trình tiểu luận khác Các nhà nghiên cứu đã đưa ra nhiều định nghĩa và những quan niệm khác nhau về thể loại truyện ngắn như sau:
K Pautốpxki - nhà văn Nga, xác định: Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình thường hiện ra như một cái gì bình thường, và cái gì bình thường hiện ra như một cái gì không bình thường [Dẫn theo 34, 121] Ở đây, K Pautốpxki rất quan tâm đến tính sự kiện trong truyện ngắn, ông nhấn mạnh sự đan xen giữa cái bình thường và cái không bình thường - cái lôgic cuộc sống này thì truyện ngắn đã thực sự có chỗ đứng trong lòng người đọc
Tác giả A Tônxtôi viết: Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất Trong các tác phẩm thể tài lớn, chúng ta có thể dọn cho độc giả no nê với những món sang đại loại hoặc như miêu tả cho thật sinh động, đối thoại cho thật sâu sắc còn như trong truyện ngắn, tất cả như trong bàn tay anh Anh phải thông minh như anh đã phải hiểu biết Bởi lẽ hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao [Dẫn theo 34, 124] Có thể thấy A Tônxtôi đã trả lời câu hỏi truyện ngắn là gì
Nguyễn Công Hoan cho rằng: Truyện ngắn không phải là truyện, mà là
Trang 15với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc Muốn truyện ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ đề ấy thôi [24, 321-322] Trong quan niệm về truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan chú ý hơn đến tính chủ đề - chỉ là "một vấn đề", một lớp truyện
Nhà văn Nguyên Ngọc thì xác nhận: Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung.Vì thế: không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều vẻ Có truyện viết về cả một đời người, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua [40, 28] Ở đây, nhà văn chỉ rõ sức ôm chứa và khả năng khái quát hiện thực của truyện ngắn
Từ điển thuật ngữ văn học xác định mục truyện ngắn: Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các phương diện của đời sống: đời tư, thế sự hay sử thi, nhưng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn được viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ [17, 370]
Những ý kiến về truyện ngắn đã trình bày ở trên cho chúng ta một cách nhìn toàn diện về thể loại này Truyện ngắn không phải là truyện dài thu nhỏ, nó
là một thể có hệ thống thi pháp riêng Các ý kiến về truyện ngắn rất đa dạng, nhưng nhìn chung đều xoay quanh những khía cạnh chính: dung lượng, kết cấu,
độ dồn nén, sức khái quát hiện thực, hình thức biểu đạt
Đó là một thể loại tự sự cỡ nhỏ Truyện ngắn tập trung vào một mặt nào
đó của đời sống, xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định Chi tiết và lời văn là yếu tố đóng vai trò quan trọng, đặc biệt, ở chi tiết, nó có tính chất biểu tượng Nhân vật truyện ngắn thường thể hiện một tâm thế con người trong thời đại
Truyện ngắn, tuy là thể loại có dung lượng nhỏ nhưng lại có cách phát hiện nghệ thuật đời sống theo chiều sâu cho nên sức chứa của truyện ngắn vẫn rất lớn
Nó có thể trở thành toà lâu đài chứa đựng tinh thần của thời đại Nhiều truyện
Trang 16ngắn của các nhà văn bậc thầy như A.Tsêkhôp, Gôgôn, Lỗ Tấn, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao đều là những tác phẩm có sức chứa nội tại lớn lao, có thể bao quát toàn bộ đời sống và có được tác dụng nghệ thuật chẳng khác gì một sáng tác
đồ sộ khác
Cốt truyện của truyện ngắn thường nói về một sự kiện, một biến cố, một đoạn đời, một mảnh tình nào đó, diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế Truyện ngắn thường ít nhân vật nhưng nhân vật trong truyện ngắn thường rất đa dạng: đa dạng về nghề nghiệp, xuất thân, gia cảnh, bạn bè Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắc tương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường là những nét chấm phá Đặc trưng tiêu biểu của truyện ngắn là ngắn gọn, hàm súc nên chi tiết phải cô đọng và mang nhiều ẩn ý, tạo chiều sâu cho tác phẩm Người viết truyện ngắn phải biết gạt bỏ những chi tiết rườm rà, xoáy sâu vào những chi tiết đắt giá Ngôn ngữ truyện ngắn là phải gọn và sắc Truyện ngắn vốn là thể loại rất nhạy cảm với những biến đổi của đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp những vận động của xã hội Truyện ngắn
có thể soi rõ những biểu hiện âm thầm cũng như những dữ dội của cuộc sống
Truyện ngắn thường là những truyện được kể bằng văn xuôi, ngắn gọn súc tích và hàm nghĩa tiểu thuyết Truyện ngắn có thể được xác định trên hai bình diện là sự ngắn gọn về dung lượng và sự cô đọng, súc tích trong miêu tả Vì thế,
ở truyện ngắn, tình huống truyện được xem là vấn đề hết sức quan trọng của nghệ
thuật truyện ngắn Đúng như Tô Hoài nhận xét truyện ngắn là cưa lấy một khúc của đời sống Hay Bùi Hiển cho rằng truyện ngắn lấy một khoảnh khắc trong cuộc đời một con người mà dựng nên Tuy nhiên, cũng có một số truyện ngắn không chỉ miêu tả một khoảnh khắc mà miêu tả cả một đời người như Chí Phèo của Nam Cao, Nhà mẹ Lê của Thạch Lam Truyện ngắn thường chỉ tập trung
Trang 17vào một tình huống, một chủ đề nhất định, trong khi tiểu thuyết lại chứa nhiều vấn đề, phủ một diện rộng của đời sống
Ở Việt Nam, truyện ngắn ra đời từ thế kỷ XV – XVI dưới hình thức những câu chuyện truyền kỳ Trải qua nhiều giai đoạn phát triển của văn học, truyện ngắn luôn là thể loại chiếm ưu thế và đạt nhiều thành tựu quan trọng Vào những năm đầu thế kỷ XX, truyện ngắn Việt Nam đã đạt đến trình độ rực rỡ và để lại nhiều dấu ấn với sự xuất hiện của hàng loạt tên tuổi nhà văn như: Phạm Duy Tốn, Nam Cao, Thạch Lam, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nguyên Hồng, Tô Hoài, Từ thời kỳ đổi mới, thể loại truyện ngắn Việt Nam lại nổi lên với những tên tuổi như: Nguyễn Huy Thiệp, Ma Văn Kháng, Chu Lai, Hồ Anh Thái, Tạ Duy Anh, Phạm Thị Hoài, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ Thị Hảo, Trần Thuỳ Mai, Võ Thị Xuân Hà, Phan Thị Vàng Anh Không chỉ tăng nhanh về số lượng tác giả, truyện ngắn còn đổi mới từ nội dung phản ánh đến hình thức thể hiện Trong thời
đại bùng nổ thông tin như hiện nay, thể loại truyện ngắn luôn đóng vai trò xung kích Nó trở thành thể loại gần gũi với đời sống hàng ngày, ngắn gọn, súc tích, dễ
đọc lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó, có tác dụng ảnh hưởng kịp thời trong đời sống của con người Bởi vậy, truyện ngắn rất có sức hút đối với người đọc
nó Tô Hoài viết: Mỗi chữ đều soi bóng hoàn cảnh và tình hình xã hội lúc chữ ấy
ra đời Người viết văn khong thể ngồi bóp óc nghĩ cách trau dồi câu chữ mà phải
đi vào thực tế đời sống mới bồi bổ được chữ nghĩa cho ngồi bút [24, 14]
Trang 18Truyện ngắn bao gồm những câu chuyện trong đời sống thường nhật Do
đó, ngôn ngữ truyện ngắn trước hết là ngôn ngữ đời sống, bắt nguồn từ đời sống Ngôn ngữ truyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói xen lẫn nhau, hoà hợp nhau, tranh luận nhau và cả đối chọi nhau Nó mạnh mẽ, khoẻ khoắn và đầy sức sống Nếu ngôn ngữ thơ thường bay bổng, có nhịp điệu, đậm tính nhạc thì ngôn ngữ truyện ngắn ở dạng phản ánh bản chất cuộc sống con
người Mặt khác, là những lát cắt cuộc đời nên truyện mang mọi sắc điệu, cung
bậc của cuộc sống Vì thế, ngôn ngữ trong truyện ngắn có khi du dương ngân nga, có khi lại thô ráp trần trụi
Bên cạnh những đặc điểm chung của văn xuôi tự sự, ngôn ngữ truyện ngắn
có những đặc thù của nó Những nét đặc thù này được làm nên bởi tính chất riêng của từng loại thể Truyện ngắn khác truyện vừa và tiểu thuyết ở tính cô đúc và độ kết tinh Chính sự cô nén nhân vật, sự kiện, thời gian, không gian như vậy buộc
truyện ngắn phải tìm đến hình thức ngôn ngữ phù hợp M.Gorky cho rằng muốn hoạc viết phải bắt đầu từ truyện ngắn, bởi truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô đọng [Dẫn theo 34, 16]
Ngôn ngữ trong truyện ngắn nhiều khi tự đối thoại, tự tranh cãi Cho nên,
nó có tính chất nước đôi Ngôn ngữ đối thoại truyện ngắn khiến cho truyện ngắn
là một trong những hình thức nghệ thuật có khả năng mở rất lớn Đây là một nét độc đáo đặc trưng của truyện ngắn hiện đại – truyện ngắn của những khả năng, bởi tự nó không đem đến cho ta một kết luận khẳng định hay bác bỏ, dứt khoát,
áp đặt Nó đặt ta trước ngưỡng sự lựa chọn
Tìm hiểu phong cách nghệ thuật chính là đi vào nhận diện cách sử dụng ngôn ngữ trong tác phẩm của nhà văn Mỗi nhà văn cầm bút viết truyện ngắn với những phong cách khác nhau thì có sự lựa chọn ngôn ngữ khác nhau Một nhà văn đích thực phải ý thức về mình như một nhà ngôn ngữ Và ngôn ngữ là yếu tố
Trang 19giao tiếp với bạn đọc Đối với văn chương, ngôn ngữ không chỉ là cái vỏ của tư duy mà còn biểu hiện tài năng, cá tính và quan điểm nghệ thuật của người sáng tạo Vì vậy, đứng trước một thực tế sáng tác, một hiện thực cuộc sống khác nhau, nhưng mỗi nhà văn, bằng trí tuệ, tài năng và phong cách, quan điểm của mình sẽ
có những cách sử dụng vốn từ ngữ, cách kết hợp vốn từ ngữ ấy khác nhau Từ đó đưa lại những hiệu quả nghệ thuật riêng Phong cách nhà văn chịu sự chi phối của các yếu tố như thế giới khách quan, tâm lý, khí chất và cá tính của mỗi người Đó
là nhân tố quyết định sự hình thành phong cách của nhà văn Khi phong cách của mỗi nhà văn đã hình thành rồi thì thường có tính bền vững và tương đối ổn định Tuy nhiên, phong cách nhà văn vẫn có sự thay đổi, phát triển trong từng điều kiện nhất định Ngôn ngữ truyện ngắn là nơi nhà văn có thể thử nghiệm phong cách và sử dụng ngôn ngữ vừa là tài năng vừa là cá tính sáng tạo, vừa là hiệu quả thể hiện của mỗi một nhà văn để làm nên phong cách của riêng mình Đối với truyện ngắn, có những truyện hấp dẫn người đọc bởi cốt truyện li kì, đầy kịch tính, lại có những truyện bỏ cốt truyện, ưu tiên cho việc giải bày cảm xúc, liên tưởng đầy tính chủ quan của người viết Có những truyện sắp xếp rất bài bản từng lớp ngôn từ (lời kể chuyện, lời đối thoại, lời độc thoại), lại có những truyện, ngôn ngữ miên man như một giấc mộng, không phân biệt đâu là lời kể, đâu là lời thoại Nhưng loại truyện nào cũng có ngôn ngữ riêng của nó Vì vậy, mới có thể nhận diện, chẳng hạn, ngôn ngữ truyện ngắn trào phúng Nguyễn Công Hoan với ngôn ngữ truyện ngắn tâm tình của Thạch Lam
Ngôn ngữ truyện ngắn, trước hết là ngôn ngữ của văn xuôi tự sự Có thể nhận thấy ở truyện ngắn lời nhân vật kể chuyện, lời đối thoại hoặc độc thoại của nhân vật Và dù lời trần thuật hay lời đối thoại, ngôn ngữ truyện ngắn cũng hướng tới tính tự nhiên như ngôn ngữ đời sống Ngôn ngữ nghệ thuật là ngôn ngữ của phong cách gọt giũa Tuy nhiên, đối với một cây bút văn chương, sự trau chuốt, gọt giũa thể hiện bằng nhiều phương cách khác nhau Có thể cầu kỳ, chải
Trang 20chuốt như Nguyễn Tuân, có thể mộc mạc, giản dị như Nam Cao, cũng có thể thô ráp góc cạnh như Vũ Trọng Phụng Nhưng những sự khác biệt đó không loại trừ nhau, ngược lại, chúng càng làm phong phú, đa dạng thêm bức tranh phong cách văn học
Như vậy, khi nghiên cứu phong cách nhà văn, chúng ta nhất thiết phải tìm
ra nét riêng của nhà văn đó Phải tìm xem nhà văn đó đã kế thừa những gì ở truyền thống văn học dân tộc và họ đã có những đổi mới phát triển, đóng góp nào cho kho tàng văn học dân tộc Để làm được điều đó, chúng ta cần phải khảo sát trên nhiều tác phẩm của một tác giả có sự lặp đi lặp lại nhiều lần những yếu tố nghệ thuật Trong tiến trình lịch sử văn học dân tộc, có những cây bút trẻ đã tạo cho mình phong cách ngôn ngữ riêng Võ Thị Xuân Hà là một trong những người như thế
1.2 Vài nét về tác giả và tác phẩm
1.2.1 Vài nét về Võ Thị Xuân Hà
Võ Thị Xuân Hà sinh ngày 20 tháng 04 năm 1959 tại Hà Nội Quê gốc là Vĩ
Dạ, thành phố Huế Chị tốt nghiệp Cao đẳng sư phạm toán – lý, học Tổng hợp văn tại chức, tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du khóa 4 (1989-1992) đỗ thủ khoa, tốt nghiệp khóa chính trị cao cấp tại chức, Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (1998-2001) loại giỏi
Sinh ra và lớn lên ở Hà Nội, quê hương thành phố Huế, Võ Thị Xuân Hà mang trong mình đậm đà hai dòng văn hóa của hai vùng đất văn hiến Một Hà Nội – Thăng Long nghìn năm văn vật, một Huế - cố đô trung tâm Phật giáo, thành trì cuối cùng của chế độ phong kiến Việt Nam Điều này ảnh hưởng rõ ràng trong văn chương Võ Thị Xuân Hà Chị ăn và uống nước sông Hồng, nhưng vẫn ngấm sâu trong từng mao mạch sự dịu dàng bí ẩn của dòng Hương Giang Đó là một ưu thế mà người đọc dễ dàng nhận thấy trong văn chương của chị
Trang 21Gia đình dòng tộc Võ Thị Xuân Hà là một danh gia vọng tộc ở Huế Gia tộc
Võ Thị Xuân Hà rất đặc biệt Ông Võ Công Đồng – ông nội chị là ông chủ tiệm vàng Tài Nguyên nổi tiếng và giàu nhất nhì Huế thời Pháp thuộc Giàu sang phú quý có thừa, vậy mà sau Cách mạng tháng Tám, bố Võ Thị Xuân Hà - anh con trai cả cụ Đồng là Võ Công Đẩu, chưa đầy hai mươi tuổi dứt bỏ giàu sang lên chiến khu hoạt động cách mạng Ông là đảng viên từ năm 1946, rồi cả gia đình,
vợ và ba con gái đều là đảng viên, từng giữ trọng trách Phó chủ nhiệm Bộ tư lệnh Thông tin đoàn 559 Do hoàn cảnh chiến tranh nên thuở thiếu thời chị em Võ Thị Xuân Hà luôn phải đi sơ tán, theo mẹ đến nhiều vùng đất khác nhau như Quảng Ninh, Vĩnh Phúc, Hà Tây… Chị em Võ Thị Xuân Hà luôn được sống trong mối quan tâm của đồng nghiệp, đồng đội của một gia đình cách mạng Những bối cảnh, tình cảm trong những ngày tháng đó sau này trở thành văn mạch ngầm chảy trong văn chương Võ Thị Xuân Hà Một gia đình có cha mẹ đi theo cách mạng, là cán bộ đảng viên kỳ cựu, với Võ Thị Xuân Hà đó là một niềm tự hào Nhưng ba người chú và ba người cậu lại phải làm việc và cầm súng cho chính quyền Sài Gòn, ông nội bị lạc đạn của lính cộng hòa bắn chết hồi Tết Mậu Thân ở Huế Khi được hỏi về gia đình và sự liên hệ với nội dung sáng tác, Võ Thị Xuân Hà tâm sự: “Giải phóng đất nước, một nửa ở lại Việt Nam xây dựng cuộc sống, một nửa lang thang phiêu bạt nơi quê người vì vĩnh viễn mang trong lòng sự hoài nghi, mặc cảm Thỉnh thoảng, họ gặp nhau nơi quê nhà, bàn chuyện đời, chuyện Phật Nhưng chẳng ai dám nhắc tới quá khứ đau lòng, vì biết đâu đã có lần anh và em hướng họng súng vào nhau mà không biết Nếu bảo rằng tôi không bị ảnh hưởng hoặc không đau đớn vì cuộc chiến tranh mình không trực tiếp tham gia, thì
đó chỉ là một cách cố che giấu đi những mất mát của mình mà thôi" Trong nội tâm của người nghệ sĩ vốn đã phức tạp, hoàn cảnh gia tộc mâu thuẫn thế kia, Võ Thị Xuân Hà tránh sao khỏi những đa mang trên những trang viết day dứt về
Trang 22chiến tranh, dù rằng truyện của chị như bao người nhận thấy không hề đã động đến chiến tranh
Cuộc đời riêng đầy sóng gió và sự nghiệp của chị vốn không hề bình yên Chị học Cao đẳng sư phạm toán – lý, ra trường đi dạy được vài năm Đang yên lành với một cô giáo dạy học tự nhiên thì bỏ dạy quay ra học Tổng hợp văn bởi yêu nghiệp viết, vừa học vừa làm phóng viên cho nhiều tờ báo khác nhau Nhưng hình như chỉ những bài báo, những phóng sự thôi thì sẽ không đủ để chị vùng vẫy, để cháy hết mình với văn chương nghệ thuật nên gần có bằng Tổng hợp văn chị lại bỏ và thi vào trường viết văn Nguyễn Du Và bắt đầu từ đấy, chúng ta biết
về Võ Thị Xuân Hà – một nhà văn… Bỏ nghề giáo, Xuân Hà làm nhiều công việc khác nhau để mưu sinh: biên tập viên, làm báo, làm xuất bản ở lần lượt nhiều cơ quan, cơ quan nào gắn bó nhất cũng chỉ đến 5 năm Trong những ngày tháng đó, chị còn điêu đứng bởi hạnh phúc gia đình đỗ vỡ Nhà chồng khinh miệt, quay lưng, một mình cùng hai con nhỏ bơ vơ giữa Hà Nội không nhà không cửa, không anh em, bà con …Nỗi đau riêng, nỗi đau chung, thương tổn tinh thần thiếu thốn vật chất…Cụ thân sinh ra chị thấy thế sốt ruột không hiểu đứa con bề ngoài thì dịu dàng, điềm tĩnh mà bên trong lại dữ dội, quyết liệt lúc nào mới chịu
“an cư”? Cuộc sống đời thường đến với chị quá cay nghiệt và gian nan Nhà thơ
Trần Đăng Khoa có lúc đã thở dài chia sẻ: Cuộc sống cho “thím” cũng nhiều mà lấy đi của “thím” cũng nhiều quá Trong thâm tâm không phải Xuân Hà cố tình
tìm cảm giác lạ ở những công việc khác nhau, chỉ là vì việc mưu sinh để nuôi hai đứa con ăn học buộc chị phải tự xoay sở và thích nghi Nhưng có một phần nữa,
đó là phần như tất yếu trong mỗi nhà văn yêu nghiệp viết là chị giống như nhiều người viết văn khác, con người chị sinh ra đã mang lấy định mệnh làm người đàn
bà viết mất rồi Nghệ thuật là một nghề cần đến lòng đam mê, đam mê chị có thừa nhưng nghệ thuật không kham nổi cuộc sống áo cơm cũng như gia đình của
Trang 23cửa hàng cà phê – trà – Gallery tranh nghệ thuật mang tên A-la-băng Và rồi sau quày bar, bà chủ quán – nhà văn lại gõ máy như “ nhập đồng” để cho ra đời những đứa con tinh thần đến với bạn đọc Một người phụ nữ oằn mình ra để viết lại có được những trang văn gần như không có những tủn mủn của áo cơm, điều
đó quả là không dễ chút nào Được mất của văn chương không thể tách bạch rõ ràng, nhưng những người “đã mang lấy nghiệp vào thân” đều cảm thấy mình đã
có những hạnh phúc riêng mà người khác không thể có được Võ Thị Xuân Hà thừa nhận, “không có văn chương đời tôi còn bất hạnh hơn”, nghề viết là niềm đam mê khó bỏ Đến nay, chúng ta mừng cho chị, trên con đường đó chị đã có người đồng hành, con cái đã trưởng thành, chị hạnh phúc và chăm lo nghiệp viết Con đường đến với nghệ thuật đối với nhà văn không giống nhau, nhưng chung quy văn học là nơi họ dựa dẫm, nơi gửi gắm tâm hồn mình Người thì bảo rằng “Viết văn là để trả nợ ân tình với cuộc đời”; Có người lấy văn chương làm điểm tựa “Có những phút ngã lòng/Tôi vịn câu thơ mà đứng dậy” (Phùng Quán)
Võ Thị Xuân Hà trước hết là vì yêu văn song hành mưu sinh cơm áo, nhưng sâu thẳm trong lòng chị luôn day dứt “Viết để đỡ đau hơn khi nhìn thực tế”
Với văn chương nghệ thuật, trước hết để sáng tác Võ Thị Xuân Hà luôn khẳng định ý chí quyết tâm không để mình nghèo nàn khổ sở Và chị cũng chưa
bao giờ thấy mình khổ Bởi vì, với chị, nếu không tươi tỉnh sáng láng thì không thể ngồi vào bàn viết Chị quan niệm: Không bao giờ viết truyện giải trí Viết là phải có cảm hứng, có tư tưởng hành động Muốn viết khỏe, văn tươi sáng trước hết phải sống khỏe mạnh, sống vui tươi Dù có những lúc chị cũng đã viết trong
nhiều khoảnh khắc: nhọc nhằn, xa xót, vui sướng và hân hoan Chị luôn cảm thấy viết là sự thôi thúc của trách nhiệm và lôi cuốn của đam mê
Thiên hướng, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn là làm đúng thiên chức Về chuyên được mất trong văn chương, chị quan niệm rất giản dị, không lên gân nhưng toát lên trong tâm hồn chị một con người nhân hậu, vị tha: “Có thể không
Trang 24phải đánh đổi gì hết, mà chỉ có được Đó là cái đích mà những người cầm bút như tôi cố gắng đạt tới, không chỉ cho mình, mà còn cho cả nhân loại Còn có thể xác suất may mắn không rơi vào tôi, thì bình thản đón nhận mọi điều Tôi không đỗ lỗi cho văn chương” Và điều quan trọng hơn là phải nói thẳng, nói thật, dù sao chị đã bao nhiêu năm lăn lộn trong nghề báo, cũng như nghề văn Vì “Nếu bắt nhà văn ném đi thiên chức mô tả cái “nghiệt ngã tận cùng”, nghĩa là bảo họ thôi đừng viết nữa” Thế nên, thiên hướng, quan điểm thẩm mỹ của nhà văn là làm đúng thiên chức của một người cầm bút
Quan niệm về yếu tố sex trong văn chương Võ Thị Xuân Hà không phản đối Bởi vì, yếu tố sex là bản năng tự nhiên của nhân vật Theo chị, nếu rạch ròi
ra, sex trong đời sống có hai mặt, tốt và xấu Người Việt mình hiểu sex là một chữ bẩn, thiên về hướng tiêu cực hơn tích cực…Sex là bản năng tự nhiên của nhân vật, nếu tước đi bản năng tự nhiên của nhân vật thì không còn là truyện, là tiểu thuyết nữa Chuyện tình dục của con người, ranh giới giữa dung tục và thánh thiện là rất mong manh, nhích một tí là thay đổi rồi Thế nên, khi viết về những vấn đề liên quan sex trong sáng tác chị “hay dành những dòng đẹp, thậm chí thánh thiện hóa nó lên” Và tùy từng chỗ, từng lúc Có lúc chị dùng nó với mục đích tả thực; có khi lại để thể hiện mạch ngầm dữ dội của nội tâm nhân vật
Những truyện ngắn Xóm đồi hoa, Bay lên miền xa thẳm, Cõi người …nằm trong
văn mạch ấy
1.2.2 Những nét đặc sắc trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Từ 1992 đến nay chị đã xuất bản được khá nhiều, tiêu biểu:
- Tập truyện ngắn Chuyện của con gái người hát rong, Nhà xuất bản Hội
nhà văn (2004, 2006);
- Tập truyện ngắn Đàn sẻ ri bay ngang rừng, Nhà xuất bản Quân đội, 2005
- Tập truyện ngắn Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí, Nhà xuất bản
Trang 25- Tập truyện ngắn Thế giới tối đen, Nhà xuất bản Phụ nữ (2009);
- Truyện dài Chiếc hộp gia bảo, Nhà xuất bản Kim Đồng, 1998; 2005;
2010
- Truyện dài Chuyện ở rừng Sồi, Nhà xuất bản Trẻ, 1998; 1999;2005;2010
- Tiểu thuyết Tường thành, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2004; 2005; 2006
- Tiểu thuyết Trong nước giá lạnh, Nhà xuất bản Hà Nội, 2004; 2008
- Kịch bản phim Chiếc hộp gia bảo
- Kịch bản phim Chuyện ở rừng Sồi
Chị đã gặt hái được một số thành công đáng kể như: Giải thưởng sách hay Nxb Hội Nhà văn 1998; Giải nhất truyện ngắn báo Thiếu niên tiền phong năm 2001; Giải thưởng tiểu thuyết Hội Nhà văn Việt Nam 2005; Giải nhất cuộc thi viết truyện và kí về “Người chiến sĩ Công an Hà Nội vì Thủ đô bình yên, vì nhân
dân phục vụ” nhân dịp Một nghìn năm Thăng Long, 2010 với truyện ngắn Mặt
trời ở lại; Giải C kịch bản điện ảnh Chiếc hộp gia bảo (Hãng phim truyện Việt Nam, 1997); Giải khuyến khích kịch bản Trăng nơi đáy giếng (Cục Điện ảnh,
2003)…
Xu hướng chung của truyện ngắn Việt Nam thời đổi mới đó là hướng ngòi bút mình vào cuộc sống thường nhật Truyện ngắn hướng ngòi bút vào đời tư của con người là lẽ tất yếu của lịch sử, đến nay không chỉ hướng vào cuộc sống mưu sinh mà xoáy sâu vào tận cùng mọi ngõ ngách tinh thần con người trước vòng xoáy lốc của nền kinh tế thị trường hội nhập toàn cầu Võ Thị Xuân Hà cũng không nằm ngoài luồng đó, nhưng tác phẩm của chị xoáy sâu vào nhiều mặt của đời sống Chị cũng không ngại ngần những phần nhạy cảm nhất của văn học Đó
là những phận người nhỏ bé bị đày đọa, sống dúm dó bên rìa của cộng đồng, với cuộc đời vá víu; là tri thức hay trí thức nửa vời; là những tâm hồn hoài nghi với cuộc đời, không lí tưởng, không quê hương xứ sở - di chứng của cuộc chiến tranh
đã đi qua gần bốn thập kỷ nay… Bằng tất cả tài năng của người sáng tạo ngôn từ,
Trang 26chị tung con chữ của mình xoáy sâu vào bằng hết những nội dung trên Thế nên, truyện ngắn của chị, nếu người đọc chú ý sẽ không dễ dàng lĩnh hội được thông điệp nhà văn muốn gửi gắm ngay trên bề mặt câu chuyện Có nhiều truyện của
chị đọc thật sự khó hiểu, khó nắm bắt, khó tìm ra được ý đồ thực sự của nó Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí là một ví dụ tiêu biểu Tuy nhiên, sự kì diệu
của ngôn từ được Võ Thị Xuân Hà tận dụng một cách sáng tạo, với lối kể chuyện độc đáo khiến người đọc bị thu hút bởi truyện ngắn của chị Đọc truyện của chị, chúng ta dường như không bị áp lực mà từ giọng kể chuyện, khi tưng tửng lạnh lùng, khi điềm đạm sâu lắng, khi nhẹ nhàng tình tứ làm cho người đọc mải mê, đọc suốt một mạch cho đến lúc kết thúc rồi mới vỡ òa bởi nội dung cốt truyện Điều đặc biệt là trong hàng chục câu truyện của chị là mỗi người mỗi phận đời khác nhau, người đọc vẫn ít nhiều cảm nhận được mình trong đó, như thấy mình trong đó
Mỗi người viết truyện ngắn thường có một lối nẻo riêng Với Võ Thị Xuân
Hà, việc tìm câu chuyện để kể và tài biến hóa một câu chuyện giản dị bình thường bay lên thành ước mơ hi vọng, từ nhiều điểm nhìn tạo ra khối không gian
đa chiều là “nẻo riêng” có ý nghĩa nhất với chị Cách tạo tình huống kết hợp với lối kể chuyện miên man theo dòng suy nghĩ của nhân vật, nhà văn nhìn sâu vào thế giới tâm linh của nhân vật, của những thế lực vô hình đeo bám đời sống con người Thế giới tâm linh, cho đến nay chưa bao giờ là điều dễ dàng lí giải Chính điểm này làm cho truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, từ những truyện lạ, ma quái như
Cái vạc vàng có đòn khiêng bằng kim khí đến những truyện có vẻ bề ngoài rất
bình thường, rất đời sống, người đọc vẫn mang một cảm giác đâu đó không khí liêu trai, kỳ ảo Không khí hư ảo, ẩn sau những suy tư triết lí tạo nên tính chất bí hiểm trong văn chị Những yếu tố đó, với sự linh hoạt của giọng kể chuyện bằng ngôi trần thuật, ngôn từ kể chuyện và ngôn từ đối thoại, sử dụng ca từ, cách gọi
Trang 27đan xen giữa sự xô bồ của cuộc sống hiện đại và sự thanh tịnh, li kỳ của thế giới
ảo Đó là cái lõi làm nên sức hấp dẫn riêng của truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà trong số những ngòi bút tiêu biểu đang lên
Văn học đương đại là thời của các nhà văn nữ; họ xung kích, ra trận, ào ạt, mạnh mẽ chưa từng có Những Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Dạ Ngân, Y Ban, Nguyễn Thị Ấm, Lý Lan, Võ Thị Xuân Hà,… Mỗi người mang một gương mặt khác nhau, nhưng họ đều lên tiếng bảo vệ con người, tiếng nói của họ là tiếng nói rất nhân bản, đại diện cho các gương mặt nữ Thế giới nhân vật trong sáng tác của họ chủ yếu là thân phận của những người phụ
nữ Điều đó cũng không có gì ngạc nhiên, bởi vì, các nhà văn nữ thì tiếng nói nghiêng về thiên tính nữ là điều đương nhiên Võ Thị Xuân Hà ngoài việc thể hiện một cách xuất sắc thiên tính nữ, chị còn đặc biệt dựng lên được một bức tranh thế giới nhân vật với đủ loại người, tạo nên được những hình tượng đặc biệt trong cái thế giới đông đảo ấy Từ nông dân cho đến trí thức, lẫn trí thức nửa vời;
từ thầy cúng, sư sãi, cha đạo đến hạng mạt cùng của xã hội như giang hồ, đĩ điếm, lưu manh, từ nghệ sĩ đủ các loại cho đến doanh nhân , nhân vật Võ Thị Xuân Hà, dù ở kiểu nào cũng chứa đựng và truyền tải được nội dung tư tưởng, quan điểm thẫm mỹ của nhà văn Tác giả không lấy thước đo nào làm tiêu chuẩn thẩm mỹ cho nhân vật lý tưởng của mình Bởi vì, nhân vật của Võ Thị Xuân Hà bất kể là trí thức hay gái điếm nếu làm được chức năng cứu rỗi, thể hiện được quan niệm nhân sinh thì đó là lí tưởng, theo chị Thế giới nhân vật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà rất “người” Kiểu nhân vật của chị không tốt hoặc xấu
hoàn toàn như: Hưng trong Một ngày muôn đời, Quản trong Cà phê yêu dấu, Thủy, Trường trong Căn bệnh, …; có bản năng, có lí trí như San trong Sương mù trên thành phố, Thủy trong Bay lên miền xa thẳm ; thiên thần lẫn ác quỷ, Sương Vân trong Trôi trong sương mù, người Nếu thế giới nhân vật trong truyện ngắn
Nguyễn Huy Thiệp, Nguyễn Bình Phương, Hồ Anh Thái thường là biến dạng
Trang 28méo mó về cả thể xác lẫn tâm hồn, thế giới nhân vật trong sáng tác của các tác giả nữ như Võ Thị Hảo thì lại có nét dị dạng ở vẻ bề ngoài nhưng mang trong mình vẻ đẹp tâm hồn thánh thiện giàu lòng vị tha và đức hi sinh thì nhân vật của
Võ Thị Xuân Hà dù ở loại nào cũng đều mang trong mình di căn ẩn tiềm thiên thần và ác quỷ Bản chất của con người khi sinh ra là tinh hoa của trời đất hội tụ với tình yêu của con người kết thành Dưới sự tác động của nhiều yếu tố trong đời sống xã hội và lốc xoáy nền kinh tế thị trường, con người trở thành rất nhiều phiên bản khác nhau Nhiều cuộc đời, nhiều kiếp người ngay sau đó được tạo ra
mà không có cuộc đời nào giống cuộc đời nào cả Chính và thế, nhà văn sống hết mình với nhân vật cũng chính là nhà văn được sống nhiều cuộc đời, nhiều kiếp người khác nhau Võ Thị Xuân Hà đặc biệt quan tâm đến những số phận thoi thóp sống ngoài rìa xã hội Đó là giang hồ, đĩ điếm, lang thang, cơ nhỡ…Và ở những số phận đó, bao giờ chị cũng tìm thấy vẻ đẹp tâm hồn trong trẻo còn sót lại sau những thăng trầm nơi họ Nhà văn không lạc quan hóa, không ảo tưởng hay biện giải gì cho những con người ít nhiều đã lầm lạc Nhưng chị nhận thấy rằng,
họ vẫn mong một công việc chân chính (Con đường vô tận), một mái ấm gia đình (Thiên thần nhỏ), một người con nối dõi (Cõi người) Và đó, ít nhất, đều là
những ước mơ hướng thiện Chị quan tâm đến họ như một người đồng cảm sẽ chia chứ không phải tình cảm của kẻ ban phát Viết về người phụ nữ, ngòi bút Võ Thị Xuân Hà dường như lạnh lùng, chưng hửng, song đằng sau đó là thân phận người phụ nữ được cảm thông, chia sẻ nhiều khi đau đớn đến quặn thắt Trong đó
có bao nhiêu nỗi niềm của hàng triệu người phụ nữ đang sống trên đất nước Việt Nam trộn lẫn nỗi niềm khao khát hạnh phúc riêng chung của Võ Thị Xuân Hà thẫm đẫm lên trang văn của chị quằn quại những cuộc đời gieo neo Đọc truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, người đọc như cảm nhận được tác giả đã thực sự nhập cuộc với nhân vật Người đọc băn khoăn không biết đó chính là trang sách hay
Trang 29hóa thân vào nhân vật, biến cái tôi của mình hòa quyện cùng cái tôi của nhân vật khiến của thế giới tinh thần của người phụ nữ thêm phức tạp, giằng xé Điều đó
đã thể hiện được mục đích của truyện ngắn Xuân Hà là nhấn mạnh vào nỗi khổ tinh thần của họ Các cây bút nữ hiện nay viết về phái của mình đều có những cách thể hiện riêng Người phụ nữ của Võ Thị Hảo nhẫn nại, cam chịu trước số phận Muốn khẳng định mình với tính cách bướng bỉnh, thích khuấy động xung quanh là người phụ nữ của Phan Thị Vàng Anh Người phụ nữ trong sáng tác của Nguyễn Thị Thu Huệ mạnh mẽ, bạo liệt sẵn sàng đánh đổi tất cả để có được hạnh phúc Võ Thị Xuân Hà tái hiện nhân vật nữ của mình không chỉ bằng cảm và hiểu
mà đó là nỗi ám ảnh bám riết lấy chị bằng tiếng gọi nữ tính mãnh liệt, da diết Người phụ nữ trong sáng tác của chị rất đa dạng, nhiều hoàn cảnh, nhiều cuộc đời nhưng đều có thế giới nội tâm phong phú, tính cách trầm lặng biết hi sinh và nhiều lúc bị chìm vào quên lãng của đời thường Đặc biệt nhiều nhân vật nữ trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà có đời sống riêng rất phức tạp Thế giới đàn bà của
Hà là một thế giới riêng, không lẫn vào ai Những người đàn bà của chị hình như cũng là sự xáo trộn giữa cái tốt và cái xấu, đầy lòng vị tha nhưng cũng ích kỷ, rất
tự tin nhưng cũng dễ bị cám dỗ, sống yên phận nhưng lại không chịu yên với số phận đã an bài Nhưng tận cùng của những tâm hồn ấy, lấp lánh niềm khao khát được sống và được yêu
Là một người tích cực lao động, miệt mài, say mê sáng tạo, luôn nhìn ra điểm tốt của mọi người hơn điểm xấu, nên sáng tác của chị là thông điệp của yêu thương Truyện ngắn của chị là minh chứng hết sức thuyết phục cho quan niệm của chị với nghề viết Chị yêu hết thảy Trong tác phẩm của chị, có những con người đáng thương chứ không đáng ghét Những lỗi lầm trong cuộc đời để người
ta “ngộ” ra vị trí của mình, tìm lại chính mình Chị luôn dành một nẻo về cho nhân vật Nhân vật trong sáng tác của Võ Thị Xuân Hà, dù sa đọa đến mức nào
Trang 30vẫn còn sót lại nhỏ nhoi một vẻ đẹp thánh thiện, dù họ chỉ là con người bình thường
1.3 Tiểu kết chương 1
Trong chương này, chúng tôi đã đề cập đến một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như: ngôn ngữ nghệ thuật, thể loại truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
Cũng trong chương này, chúng tôi khái quát những đặc điểm chung về nhà văn Võ Thị Xuân Hà, nhà văn đã khẳng định được mình qua một số tác phẩm Võ Thị Xuân Hà là một nhà văn có sức sáng tạo dồi dào; truyện ngắn của chị đã thể hiện tài năng, cá tính luôn thể hiện sự tìm tòi khám phá riêng ở các khía cạnh như khai thác đề tài, xây dựng hình tượng nghệ thuật, sử dụng ngôn ngữ nghệ thuật Ngôn ngữ truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà vừa trữ tình vừa dữ dội, lối nhận xét tinh
tế, sắc sảo, thâm trầm nhưng đậm triết lí; giọng điệu trữ tình, mỉa mai pha chút hài hước dí dỏm; không gian đa chiều; tình huống đơn giản nhẹ nhàng nhưng ẩn chứa nội dung sâu sắc, là những tâm sự day dứt khôn nguôi về số phận con người, về cuộc đời Cách dùng từ, đặt câu, cách sử dụng các biện pháp tu tu sáng tạo, độc đáo và mới lạ Truyện ngắn của chị nổi lên, đi theo một hướng riêng, không lẫn lộn với bao nhiêu tác giả nổi bật của thời các nhà văn nữ đang “lên ngôi” này Ở các chương tiếp sau, chúng tôi tập trung khảo sát những nét đặc sắc trong ngôn ngữ truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà
Trang 31Từ có vai trò quan trọng đối với đời sống của ngôn ngữ và đời sống của con người Các nhà ngôn ngữ học đã đưa ra nhiều định nghĩa về từ; chúng tôi chọn định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu làm cơ sở nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu từ ngữ truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: Từ của tiếng Việt là một hoặc một số âm tiết cố định, bất biến, có một ý nghĩa nhất định, nằm trong một phương thức cấu tạo (hoặc kiểu cấu tạo) nhất định, tân theo những kiểu đặc điểm ngữ pháp nhất định, lớn nhất trong
từ vựng và nhỏ nhất để cấu tạo câu [8, 336]
Như vậy, theo định nghĩa từ có những đặc điểm sau:
a Có hình thức ngữ âm và ý nghĩa nhỏ nhất
b Có cấu tạo theo một kiểu phương thức ngữ pháp nhất định
c Có chức năng cấu tạo câu
2.1.1.2 Vai trò của từ trong văn bản nghệ thuật
Trong nghệ thuật, không có hình tượng nghệ thuật chung chung mà chỉ có các hình tượng nghệ thuật gắn liền với một chất liệu cụ thể: hình tượng hội họa, hình
Trang 32tượng âm nhạc, hình tượng sân khấu, hình tượng văn học… Tính chất, đặc trưng của một loại hình nghệ thuật gắn liền với đặc điểm và khả năng nghệ thuật của chất liệu được dùng làm cơ sở cho nghệ thuật đó Chính vì vậy, sẽ không hiểu được đặc trưng củavăn bản nghệ thuật nếu bỏ qua đặc điểm thể hiện nghệ thuật của ngôn từ
Ngôn từ là lời nói được sử dụng với tất cả phẩm chất thẩm mĩ và khả năng nghệ thuật của nó Bất kỳ một văn bản nghệ thuật nào cũng đều phản ánh cuộc sống, con người thông qua hình thức ngôn ngữ Dĩ nhiên, so với lời nói hàng ngày thì ngôn ngữ trong văn bản nghệ thuật (ngôn ngữ nghệ thuật) không còn là hình tượng ngôn ngữ mang chức năng giao tiếp thông thường mà đã được đưa vào một hệ thống giao tiếp khác, mang chức năng khác
Từ ngữ trong văn bản nghệ thuật có một vai trò rất quan trọng và từ trong các
văn bản nghệ thuật không sống đơn độc, tự nó Có thể nói, một yếu tố ngôn ngữ chỉ có
ý được ý nghĩa thẩm mĩ khi nằm trong tác phẩm nghệ thuật Chính là trên cái nền văn bản phù hợp mà từ ngữ có thể thay đổi ý nghĩa cũ kĩ hay mới mẻ, dịu dàng hay thâm độc, trang trọng hay hài hước Một từ trong văn bản nghệ thuật không thể được coi ngang bằng như từ của ngôn ngữ thực hành, vì trong văn bản nghệ thuật, từ thi ca có hai bình diện theo khuynh hướng nghĩa của mình, có mối tương quan đồng thời cả với những từ của ngôn ngữ văn hóa nói chung, cả với những yếu tố của cấu trúc ngôn từ của văn bản nghệ thuật nói riêng
Có thể nói, từ ngữ có vai trò quan trọng trong văn bản nghệ thuật, trước hết, nó là yếu tố để tạo nên hình hài của tác phẩm, tạo nên sự sống cho hình tựơng trong tác phẩm Đọc bất cứ văn bản nghệ thuật nào ta cũng bắt gặp một văn bản ngôn từ - đó là lớp lời văn của tác phẩm tạo thành khách thể tiếp nhận trực tiếp của người đọc Đặc điểm của lớp từ này là trực tiếp chịu sự quy định của quy luật ngôn ngữ như: ngữ âm, ngữ pháp, từ vựng, phong cách học đồng thời lại chịu sự chi phối của quy luật thơ văn, thể loại
Trang 33Từ ngữ còn là chất liệu để nhà văn xây dựng các hình tượng trong tác phẩm của mình Xuyên qua lớp ngôn từ, ta bắt gặp các chi tiết tạo hình, các tình tiết sự kiện và từ đó hiện lên các sự vật, phong cảnh, con người, quan hệ xã hội, thế giới, những hình tượng vừa lạ vừa quen, vừa giống vừa không giống Trong truyện
ngắn Võ Thị Xuân Hà, các từ ngữ rất phong phú nhưng nổi bật nhất là vốn từ
khẩu ngữ và từ láy
2.1.2 Các lớp từ nổi bật trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
2.1.2.1 Từ khẩu ngữ
Theo Từ điển tiếng Việt của viện ngôn ngữ học do Nhà xuất bản Đà nẵng ấn
hành năm 2004, khái niệm khẩu ngữ được hiểu như là “ngôn ngữ nói thông thường, dùng trong cuộc sống hàng ngày, có đặc điểm phong cách đối lập với phong cách viết [47, 496]
Từ khẩu ngữ là những từ được dùng đặc biệt ở lời nói miệng trong sinh hoạt hàng ngày, nhất là trong đối thoại Khái niệm từ khẩu ngữ mà chúng tôi dùng ở
đây bao gồm: từ thông tục (như: đếch, bỏ mẹ…), từ hội thoại (như: nghe lỏm, lọt thỏm…)
Từ khẩu ngữ giàu màu sắc biểu cảm, xúc cảm, trợ giúp đắc lực cho người nói, người viết bày tỏ tức khắc những phản ứng ít nhiều ở dạng cảm tính của mình trong sự tiếp xúc trực tiếp với mọi mặt cụ thể sinh động của cuộc sống Trong sáng tác văn học, từ khẩu ngữ được nhà văn sử dụng như một công cụ lợi hại nhất để miêu tả, tái tạo cuộc sống thực, làm phương tiện tu từ, làm nổi bật đặc trưng lời nói và tính cách của nhân vật Trong văn chính luận, tiểu phẩm báo chí, phóng sự, từ khẩu ngữ làm giàu màu sắc tu từ nên được sử dụng khá nhiều nhằm diễn đạt một cách rõ ràng, giản dị, dễ hiểu, đồng thời bày tỏ tình cảm, thái độ của người viết một cách mạnh mẽ
Trong truyện ngắn của mình, Võ Thị Xuân Hà đã dụng công khai thác lớp từ này như một công cụ hữu dụng thể hiện cái phần bản chất, cái phần đời thường
Trang 34trong mỗi con người, nó thô mộc nhưng không thô tục Nó hé mở cho chúng ta nắm bắt cái hỗn tạp của âm thanh và hình ảnh của cuộc sống, của bức tranh đời thường trong từng con người, từng khu xóm
a Từ hội thoại
a1 Khái niệm
Theo tác giả Đinh Trọng Lạc: Từ hội thoại là những từ dược dùng đặc biệt trong lời nói hàng ngày, nhất là trong đối thoại [27, 22]
a2 Từ hội thoại trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Khảo sát 47 truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà chúng tôi đã thống kê được bảng
số liệu sau:
Số trang
Số lượt/
truyện
Tần số/ tran
Trang 35Quê nhà không có bệnh phấn hoa
Mùa xuân nghiêng
Xin lỗi em
Chân trời ửng hồng
Kachi đậu trên mái nhà
Cà phê yêu dấu
Một ngày muôn đời
Đi qua mùa đông giá lạnh
Nơi dòng sông chảy qua
Sang sông bạt gió
Bay lên miền xa thẳm
Trang 36Ngôi sao chiếu mệnh
Chuyện của người con gái hát rong –
phẩm văn học thì đây là một tỉ lệ không nhỏ Trong số từ hội thoại có 719 lượt từ
xuất hiện (chiếm 95,9%) và 31 lượt tổ hợp từ xuất hiện (chiếm 4,1%) hội thoại) Đọc các truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà, chúng ta dễ dàng nhận thấy lớp từ nôm na, dân dã được sử dụng một cách tự nhiên sinh động tạo cảm giác tác giả như đang trò chuyện trực tiếp với người đọc Lớp từ đó được sử dụng khá phổ biến, đa dạng nhưng có chọn lọc, phù hợp với từng đối tượng cụ thể, gắn với những ngữ cảnh nhất định
Đó là những từ dùng để xưng hô: thằng, con, mụ, ả, thằng cu, lũ bay …và xưng gọi: thằng Tùng, thằng Vương, thằng Lam “ăn rau má”, thằng Bình Sứt, thàng Vinh keo, con Thuận, con Hoa, con làm vé, con móc túi, con vợ, con điếm, gã lùn, mụ Thanh, mệ hoàng phi cung phi… một cách suồng sã, bổ bã nhưng gần gũi thân mật
Trang 37trò để mở đầu câu chuyện một cách suồng sã, bổ bã những gần gũi, thân mật Võ Thị Xuân Hà đã dựng lên một bức chân dung hồn nhiên trong sáng của tuổi học
trò để mở đầu câu chuyện như chính mình là người trong cuộc: Thằng Phướn có hai cây sáo làm bằng trúc a sao nó đem tới lớp để khoe.Giờ ra chơi, ba bốn thằng lục đục giành nhau làm một cây bị toác miệng, thổi vào nghe bẹt bẹt chua chua Phước bực giơ cây sáo vỡ giáng bốp lên đầu thằng Song Thằng Song đau quá khóc toáng lên giữa sân trường [14, 142]
Đó là những từ như: ném toẹt, nhổ toẹt, chổng mông, chưởi, moi, (cười) sằng sặc, (cười) ha hả, (cười) khoái trá,(cười) ô hô, (cười) hê hê, (cười) hô hố, (cười) khà khà, (cười) he he, (cười) hề hề hề, (cười) hỉ hả, (cười) khanh khách, (cười) toe toét, chí chóe, liến thoắng, gớm ghiếc, tươi rói, xinh xẻo Chẳng hạn:
Con móc túi nhìn thằng Lam như muốn ăn tươi nuốt sống con này tao biết từ đợt lên lạng Nó mà hỏng việc, nó dám xổ toẹt mấy cái chiêu của cánh mình Rồi
là mệt với lũ đượi ấy [16, 30] Cách dùng từ Con móc túi, thằng Lam, ăn tươi nuốt sống, xổ toẹt, lũ đượi hết sức sinh động, có vị trí và sức sống mới trong câu
văn, chứng tỏ Võ Thị Xuân Hà đã biết khai thác những khả năng tiềm tàng của ngôn ngữ dân gian Chẳng hạn:
Thuỷ nằm thiêm thiếp trên giường bệnh, khuôn mặt xanh lét như từ cõi xa
xăm nào hiện hình thỉnh thoảng một người y tá bước vào hết sờ trán lại tiêm một
mũi vào cánh tay trắng bệch, thõng thượt của cô [14, 82]. các từ xanh lét, trắng bệch, thõng thượt trong đoạn văn trên đã phát huy tối đa khả năng tượng hình mà
nó vốn có nên có sức ám gợi cho người đọc, giúp người đọc hình dung ra một người đàn bà thiếu sinh lực đang cận kề với cái chết Hay:
Bốp! một cái tát trời giáng vô mặt thằng Vinh keo nó đưa tay ôm mặt, chưởi thằng nào gây tau, thằng ấy chết Tui chưa kịp hoàn hồn, ngồi phệt xống
cỏ, nước mắt trào ra” [14, 247] Đó là một cách nói tự nhiên tạo được không khí
Trang 38gần gũi thân mật, xem người đọc như người bạn thân thiết đang trò chuyện với mình
Đó là những tổ hợp từ như: oai hơn cóc, tu một hớp, nhổ phì phì, nhảy vào xơi, tác oai tác qoái, đập nát bét, bổ một nhát, đập cho một nhát, lẳng một phát, cắn rơm cắn cỏ, hứa với chả hẹn, ăn tươi nuốt sống, hứa với chả hẹn, đui què mẻ sứt, há hốc mồm, hỉ hả hít hít ngửi ngửi, mớ ba mớ bảy, xì xà xì xèo, con gái con nứa Chẳng hạn: Tôi lấy rượu ra, chưa kịp rót thì cô ta đã dốc ngược chai rượu
tu một hớp, xúc xúc rồi nhổ toẹt ra cửa Với cách miêu tả tự nhiên, sinh động
như vậy, tác giả đã mỉa mai phê phán đúng phong cách cũng như bản chất của người đàn bà chuyên đội lốt thần thánh để đi làm cái nghề lừa gạt người đời
Võ Thị Xuân Hà đã rất linh hoạt trong việc sử dụng lớp từ khẩu ngữ nhằm tái hiện nên những câu chuyện khi đau khổ xót xa, khi ngậm ngùi cay đắng, lúc mỉa mai hài hước, lúc yêu thương sẻ chia về những mảnh đời, những con người khác nhau hiện lên một cách rõ nét
b2 Từ thông tục trong truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà
Qua khảo sát 747 trang truyện ngắn võ Thị Xuân Hà, chúng tôi thu được 105 lượt dùng từ thông tục Trong đó, chúng tôi thấy từ thông tục chủ yếu xuất hiện
trong các truyện ngắn: Con đường vô tận, với 20 lượt từ, Bên cạnh căn gác nhỏ nửa đêm với 15 lượt từ, Mùa phim trường, với 12 lượt từ, …
Trang 39Đọc truyện ngắn Võ Thị Xuân Hà, dễ dàng nhận thấy tác giả sử dụng nhiều
từ thông tục, nhờ đó ta nhận ra cái khẩu khí đặc biệt của nhà văn Những từ ngữ vỉa hè bặm trợn, bẩn thỉu, thậm chí tục tĩu xuất hiện khá nhiều nhưng đọc không thấy tục mà rất tự nhiên, rất thực Đây là cách nói chuyện rất vô duyên của một
nữ nhà báo: Nếu nói có thực tế sống động nhất, chụp được nhiều ảnh nóng nhất ở cái báo lá cà đấy phải là tao Nhưng cha mẹ tao sinh ra tao là không có khiếu viết lách như mấy con đĩ đượi tóc xoăn, trên dưới chỗ nào cũng xoăn, cười nói ỏn
ẻn ra vẻ đài các với đủ hạng đực ở cái tờ lá cà của tao [16, 217] Đó là biệt tài của Võ Thị Xuân Hà, nét đặc biệt trong khẩu văn của bà Trong truyện ngắn của mình, Võ Thị Xuân Hà đưa lớp từ này vào nhằm thể hiện dụng ý nghệ thuật riêng Nó có tác dụng làm chân thực hoá đối tượng miêu tả, làm cho đối tượng trở nên sinh động hơn, đời hơn Trong truyện ngắn của Võ Thị Xuân Hà, ta bắt
gặp những từ rất tục như đái ỉa, đ cần, đ mẹ, đ gì, mặt bướm, đ mẹ, mó đít, cứt, đống cứt, cứt chó, ăn cứt sốt, l mày, cặc, Bà dùng từ thông tục như tự sự với
đời, muốn làm người trong cuộc mượn cái tục để chuyển tải những vấn đề bức xúc rất thực, rất đời Từ thông tục Võ Thị Xuân Hà dùng đúng chỗ, đặt đúng việc nên đọc không thấy tục mà lại thanh hóa, thành tín hiệu thẫm mỹ Cái tục được
sử dụng không phải để tạo cảm giác, gây ấn tượng mà chủ ý của tác giả là tạo cảm xúc thẫm mỹ, gợi cho người đọc những suy nghĩ, triết lý sâu sắc về phận người, kiếp người trong cuộc mưu sinh dâu bể Bà có ý thức dùng ngôn ngữ của người bình dân bổ bã, thô lỗ
Đây là sự trút xả nỗi bực bội, tức tối của một bà già đã từng làm nghề “bán
trôn nuôi miệng”: Bà chửi nó thậm tệ bằng tất cả những ngôn từ bẩn thỉu nhất
mà loài người có thể nghĩ ra Con Thằng Đĩ Cái Đĩ Đực Sâu Mọt Nước Bọt Máu Thiu Thịt Thối Xác Ươn… [16, 114]
Còn đây là ngôn ngữ của bà chủ nhà chứa: Con kia, mày định đợi bà đi ra
ngoài nhà hàng thì mày chui vào buồng thay bà mày đấy hả Đừng tưởng thằng
Trang 40chó nhà bà sướng mày nhé ngàn đời vẫn là giống đực gặp giống đĩ nhé Nó có đái ỉa vào mày dăm bảy bận thì bà mày đây cũng không ghen đâu con nhé nhưng mày mà kiếm cớ để mê hoặc nó thì tao dần l mày ra rắc lên mộ tổ nhà mày con
nhé ” [16, 240, 241] Đoạn văn trên dùng nhiều từ rất tục, thể hiện tính cách của người phát ngôn - rất điêu ngoa và trơ tráo Hay:
Con bé khốn kiếp Lẽ ra tao được chết trong tiếng sấm, được ướp trong
hương hoa lan Một bà bói bảo tao mà được chết như thế, kiếp sau sẽ trở thành
một bà hoàng tuyệt đẹp Đúng là đồ khốn kiếp [16, 112] Thật trái với lẽ tự
nhiên, nhưng lại rất hợp lý trong hoàn cảnh này Lẽ ra cô gái phải được bà già cảm ơn khi cô cứu sống bà, nhưng thay vào đó cô lại bị bà chửi Lời chửi thể hiện thái độ tức giận đến cùng cực của một bà già đang tha thiết muốn được chết và sắp được chết thì cô gái lại cứu sống bà
Bên cạnh hệ thống từ ngữ thông tục được Võ Thị Xuân Hà sử dụng thì nhà văn còn có ý thức sáng tạo từ ngữ chuyên biệt để làm giàu cho kho từ vựng của
mình Đó là từ lũ đượi trong truyện ngắn Con đường vô tận: Mẹ chúng mày Cả chiều nay chúng mày không thấy chúng nó vô tích sự à? Cho ăn lương chỉ để làm mỗi cái việc cò mồi Thằng Lam “ăn rau má” suýt nữa để lộ Trúng ba trăm sáu mươi ngàn xong thì rút cái con mẹ nó đi, lại còn muốn đứng lại xem đám móc túi Con móc túi nhìn thằng Lam như muốn ăn tươi nuốt sống Con này tao biết nó từ đợt lên Lạng Nó mà hỏng việc, nó dám xổ toẹt máy cái chiêu của cánh mình Rồi
là mệt với lũ đượi ấy [16, 30].
Từ lũ đượi không có trong Từ điển tiếng Việt Tạo ra từ này, nhà văn cho ta
thấy được tính cách của một loại người không ra gì Từ lũ đượi này, chúng ta
cũng còn thấy Võ Thị Xuân Hà sử dụng trong truyện Xóm đồi hoa:
Một ngày đẹp trời bà già bảo cô gái:
“Ngày trước tao bán trôn nuôi miệng”