Trong văn xuôi nói chung và trong truyện ngắn nói riêng, văn bản là ngôn ngữ đa thanh, là lời dẫn của tác giả, là tiếng nói của ng-ời kể chuyện, tiếng nói của nhân vật mà mỗi nhân vật lạ
Trang 1Tr-ờng Đại Học Vinh Khoa Ngữ Văn
Đặc Điểm Ngôn Ngữ Truyện Ngắn Nguyễn
Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
Khoá luận tốt nghiệp đại học
Chuyên ngành : Ngôn ngữ học
Giáo Viên h-ớng dẫn : TS Hoàng Trọng Canh
Sinh viên thực hiện : Phan Thị Nga Lớp : 43A1 - Ngữ Văn
Vinh , 2006
Trang 2Tuy nhiên do trình độ có hạn, thiếu tài liệu nghiên cứu cùng một số tác
động khách quan nên khoá luận cũng không tránh khỏi những thiếu sót Em rất mong nhận đ-ợc sự góp ý chân thành của Hội đồng khoa học, của các thầy giaó, cô giáo và các bạn sinh viên để khoá luận đ-ợc hoàn thiện hơn
Vinh, tháng 05/ 2006
Sinh viên:
Phan Thị Nga
Trang 3Ch-ơng I- Một số giới thuyết xung quanh đề tài 10
I - Khái niệm truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn 10
II - Tác giả Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi và truyện ngắn của ông17
1 Tác giả Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 17
2 Quá trình phát triển truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 22 Ch-ơng II - Đặc điểm hình thức ngôn ngữ truyện ngắn
I – Tiêu đề truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 25
1 Tiêu đề và mối quan hệ giữa tiêu đề với nội dung tác phẩm 25
2 Tiêu đề truyện ngán Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 27
2.2 Về nội dung ý nghĩa 28
II - Đặc điểm từ ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 34
1.2 Từ láy trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 39
Trang 42.1 Khái niệm từ địa ph-ơng 49 2.2 Từ địa ph-ơng trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn
III - Đặc điểm câu văn truỵên ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 56
1.1 Thống kê và phân loại 61 1.2 Các kiểu cấu trúc của câu ngắn 62 1.3 Giá trị biểu đạt của câu ngắn 65
2.1 Thống kê và phân loại 69 2.2 Các kiểu cấu trúc của câu dài 69 2.3 Giá trị biểu đạt của câu dài 72
3 Phối hợp câu ngắn, câu dài 76 Ch-ơng III - Đặc điểm về nội dung ngữ nghĩa TRONG
truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi 78
I - Đặc điểm về nội dung ngữ nghĩa 80
1 Ngôn ngữ đa thanh phức điệu 84
2 Ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nh-ng giàu cảm xúc, giàu hình ảnh 86
III - Đặc điểm ngữ nghĩa qua một số hình t-ợng tiêu biểu
1 Khái niệm hình t-ợng nghệ thuật 86
2 Những hình t-ợng tiêu biểu trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn -
2.1 Hình t-ợng Miền Nam 88 2.2 Hình t-ợng ng-ời phụ nữ 93
Trang 5Mở ĐầU
I Lý do chọn đề tài
1.Tác phẩm văn học là một hệ thống kí hiệu, có tính chất riêng hay một bộ cấu trúc ở dạng chỉnh thể Vì thế, để đi vào tìm hiểu nó ng-ời nghiên cứu phải nắm đ-ợc bản chất của vấn đề thông qua ph-ơng tiện hành chức ngôn ngữ Trong văn xuôi nói chung và trong truyện ngắn nói riêng, văn bản là ngôn ngữ
đa thanh, là lời dẫn của tác giả, là tiếng nói của ng-ời kể chuyện, tiếng nói của nhân vật mà mỗi nhân vật lại là một thế giới với những sắc thái riêng Đi vào tìm hiểu truyện ngắn của một tác giả, chúng ta có thể thấy đ-ợc phong cách tác giả thông qua các ph-ơng tiện ngôn ngữ: từ ngữ, câu văn, biện pháp tu từ H-ớng nghiên cứu này làm cho đối t-ợng nghiên cứu ngôn ngữ học ngày càng phong phú hơn, hoàn thiện hơn
Ngôn ngữ - đó chính là chất liệu, là ph-ơng tiện biểu hiện mang tính
đặc tr-ng của văn học Không có ngôn ngữ thì không thể có tác phẩm văn học, bởi chính ngôn ngữ chứ không phải cái gì khác đã cụ thể hoá và vật chất hoá
sự biểu hiện của chủ đề và t- t-ởng, tính cách và cốt truyện Ngôn ngữ là yếu
tố đầu tiên mà nhà văn sử dụngtrong quá trình chuẩn bị và sáng tạo tác phẩm,
nó cũng là yếu tố xuất hiện đầu tiên trong sự tiếp xúc của ng-ời đọc đối với tác phẩm Nh- Macxim Gorki đ± túng viễt: ‚yễu tỗ đầu tiên cùa văn hóc l¯ ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và - cùng với các sự kiện, các hiện t-ợng của cuộc sống - l¯ chất liếu cùa văn hóc ‛[8; 148] Cho nên nghiên cửu t²c phẩm văn học nói chung, truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi d-ới góc độ ngôn ngữ là một yêu cầu cần thiết
2 Nghiên cứu truyện ngắn d-ới góc độ ngôn ngữ đã đ-ợc khá nhiều tác giả chú ý đến trong các công trình nghiên cứu của mình, thế nh-ng trong những năm qua việc nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi vẫn còn bỏ ngỏ Một số bài nghiên cứu khảo sát truyện ngắn, tiếp cận tác phẩm của ông trong đó, đã đề ra đ-ợc những ph-ơng tiện ngôn ngữ nh-ng mới
Trang 6dừng lại ở mức độ là những ý kiến, nhận xét chung về một số đặc điểm của tác phẩm d-ới góc độ phê bình văn học chứ ch-a nói đến d-ới góc độ ngôn ngữ học Truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi nhìn chung ch-a đ-ợc nghiên cứu đầy đủ d-ới góc độ ngôn ngữ học
3 Nguyễn Ngọc Tấn- Nguyễn Thi là một cây bút độc đáo của nền văn học cách m³ng Miẹn Nam ‚Nguyển Thi ng± xuỗng, nhiẹu lỡp trÍ ph°i tập hớp l³i mỡi đửng đầy kho°ng c²ch dưỡi chân anh vúa bị bà trỗng ‛[ 5; 86] Không riêng gì Nhị Ca nhận xét nh- vậy mà giới phê bình nghiên cứu cũng nh- đông
đảo bạn đọc nồng nhiệt quan tâm đã dành cho ông sự cảm phục và lòng mến
Đăng M³nh ) Bời lẻ ‚Nguyển Thi cho đến bây giờ và có lẽ còn lâu về sau đối vỡi chủng ta vẫn cử mỡi mÍ v¯ quen thuốc như thễ ‛(Phong Lê ) Đặc biết, nh¯ văn này sáng tác ở hai thời kỳ khác nhau, điều đó cũng là lý do để ng-ời nghiên cứu tìm hiểu phong cách ngôn ngữ chung và nét riêng của nhà văn này Với đóng góp lớn và mới mẻ của gia tài văn học Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi đối với văn học và ngôn ngữ, đã đến lúc giới nghiên cứu cần nhìn lại một cách khái quát, toàn diện những đóng góp đặc sắc của ông Công việc đó là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trên cả hai ph-ơng diện lý luận và thực tiễn
Về lý luận, việc nghiên cứu một cách toàn diện những đóng góp của một tác giả d-ới ánh sáng của quá trình đổi mới văn học, cùng với việc vận dụng những thành tựu về ngôn ngữ học giúp chúng ta khẳng định một cách có sức thuyết phục hơn những thành quả sáng tạo của ng-ời nghệ sĩ và phong cách của nhà văn
Trang 7Về thực tiễn, Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi là nhà văn có nhiều tác phẩm đ-ợc giảng dạy trong nhà tr-ờng cho nên nghiên cứu tác phẩm của ông
là có thêm những cứ liệu, t- liệu về tác phẩm phục vụ cho học tập, giảng dạy
về tác giả này trong nhà tr-ờng sinh động hơn, tốt hơn Do vậy lựa chọn đề tài này chúng tôi hi vọng góp thêm tiếng nói vào công việc hữu ích đó
II Lịch sử vấn đề
Nguyễn Ngọc Tấn bắt đầu đ-ợc giới nghiên cứu chú ý vào đầu những năm 60 vỡi hai tập truyến ngãn ‚Trăng s²ng‛ v¯ ‚Đôi b³n‛, nhưng ông thữc sữ thu hủt nhừng cây bủt phê bệnh văn hóc kề tú khi cho ra mãt t²c phẩm ‚Ngưội
mé cầm sủng‛ dưỡi bủt danh Nguyển Thi Tú đõ đễn nay đã có hàng trăm công trình với những quy mô khác nhau: sách, tiểu luận khoa học, các bài báo, luận văn thạc sĩ và luận văn tốt nghiệp trong các tr-ờng đại học Tuy nhiên, các nghiên cứu về tác phẩm Nguyễn Thi đã đ-ợc công bố đều d-ới góc độ văn học Ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi ch-a đ-ợc nghiên cứu nh- một vấn đề độc lập từ góc độ phong cách ngôn ngữ
Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi có tuổi đời và tuổi nghề không dài, nh-ng vị trí của ông trong nền văn học cách mạng Miền Nam nói riêng và nền văn học Việt Nam nói chung đ-ợc nghiên cứu khá nhiều và đ-ợc đánh giá rất cao Theo thời gian, những bài nghiên cứu về ông cũng càng dày thêm Có thể
- Phong Lê, Nguyễn Thi qua truyện và ký (Tạp chí văn nghệ số 2, 1975)
- Nguyễn Đăng Mạnh: Sức sống của ngòi bút Nguyễn Thi, Nhà văn t- t-ởng và phong cách ( Nhà xuất bản tác phẩm mới, Hà Nội 1975 )
- Nhị Ca: G-ơng mặt còn lại - Nguyễn Thi, nhà xuất bản tác phẩm mới
1983
Trang 8- Lê Phát: Nhớ Nguyễn Thi, nhà văn cầm súng ( Tuần báo văn nghệ số
Trong các công trình nghiên cứu dẫn ra ở trên thì hai công trình của Nhị
Ca và của Nguyễn Chí Hoà đã đánh giá về Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi khá toàn diện ở các thể loại và b-ớc đầu quan tâm đến ngôn ngữ trong truyện ngãn cùa ông Nhị Ca trong ‚Gương mặt còn l³i - Nguyển Thi ‛ khi đ²nh gi²
về truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn đã từng nhận xét về khía cạnh ngôn ngữ:
‚Chì trong ph³m vi tập truyến ngãn màng n¯y, nễu chịu khõ lập mốt b°n tú vựng về ngôn ngữ của tác giả, tôi e nó cũng không mỏng hơn bản thân tác phẩm bao nhiêu Ngoài giọng điệu riêng của tác giả th-ờng chỉ là những đoạn dẫn dắt, gối đệm cho câu truyện, thật không quá đáng nếu nói chuyện có bao nhiêu nhân vật thệ cõ bấy nhiêu kiều nõi kh²c nhau ‛ [5, 167]
Còn Nguyễn Chí Hoà, khi đánh giá về truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Thi cũng đã có những nhận xét đáng chú ý về ngôn ngữ Nguyễn Thi,
đó là ngôn ngữ phức điệu và đa thanh Tuy nhiên, ông chỉ mới đánh giá vấn
đề này chủ yếu ở thể loại tiểu thuyết, còn ở thể loại truyện ngắn thì tác giả chỉ mỡi đi sâu nghiên cửu ờ truyến ‚Nhừng đửa con trong gia đệnh ‛
Gần đây nhất có kho² luận tỗt nghiếp cùa Ngô Thanh Mai: ‚Đặc điềm ngôn ngừ nhân vật trÍ em trong truyến ngãn Nguyển Thi ‛ Ph°i nõi r´ng, đây
có lẽ là nghiên cứu đầu tiên về ngôn ngữ Nguyễn Thi có tính chất độc lập, tuy nhiên do đối t-ợng phạm vi khảo sát khoá luận này chỉ mới dừng lại ở một
Trang 9ph-ơng diện cụ thể là ngôn ngữ nhân vật trẻ em và dừng lại ở việc khảo sát 11 truyện chứ ch-a phải nghiên cứu toàn bộ các ph-ơng diện ngôn ngữ và trong tất cả các truyện ngắn của ông
Nh- vậy, Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi là tác giả có đóng góp quan trọng cho một giai đoạn văn học cần có những khảo sát, những cái nhìn toàn diện và hệ thống hơn về di sản nghệ thuật truyện ngắn của ông d-ới góc độ ngôn ngữ
Với những lý do đó cùng với lòng yêu quý truyện ngắn và lòng mến mộ tài năng nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi, luận văn này sẽ thừa kế các thành tựu của các nhà nghiên cứu, phê bình đi tr-ớc vừa cố gắng tìm cách phát hiện và hệ thống lại toàn bộ đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn của ông Qua đó khẳng định vị trí, vai trò và những đóng góp đặc sắc của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi về ngôn ngữ truyện ngắn - chất liệu làm nên thành công truyện ngắn của ông
III Đối t-ợng và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Đối t-ợng nghiên cứu:
Luận văn khảo sát truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi trong cả hai thời kỳ sáng tác (ở Miền Bắc và ở Miền Nam )
Bao gọm 7 truyến ngãn trong tập ‚Trăng s²ng‛( In lần đầu 1960 ):
1 Mặt trận
2 Đôi bạn
Trang 10và tác phẩm của một số tác giả khác để giúp làm nỗi bật phong cách ngôn ngữ truyện ngắn của nhà văn này
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn này h-ớng đến 3 nhiệm vụ chính:
- Thấy đ-ợc sự lựa chọn của nhà văn trong việc sử dụng từ ngữ, trong việc tổ chức câu văn
- Tìm hiểu giá trị nội dung truyện ngắn của ông đ-ợc biểu hiện thông qua các ph-ơng tiện biểu đạt có tính đặc thù là ngôn ngữ
- Đ-a ra những nhận xét khái quát về đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
Đ-a ra những nhận xét khái quát về đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
IV Ph-ơng pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài này, chúng tôi sử dụng đồng thời các ph-ơng pháp nh- sau:
Trang 11Ch-ơng I: Một số giới thuyết xung quanh đề tài
Ch-ơng II: Đặc điểm hình thức ngôn ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
Ch-ơng III: Đặc điểm nội dung ngữ nghĩa truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
Trang 12Nội Dung
Ch-ơng I: Một số giới thuyết xung quanh đề tài
1 Khái niệm truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
1.1 Khái niệm truyện ngắn
‚Văn hóc l¯ nhân hóc ‛( Gor ki ) Đõ l¯ kim chì nam cho văn hóc mói thời kỳ, mọi thể loại văn học Truỵện ngắn cũng nh- các thể loại văn học khác
là câu chuyện đời ng-ời, về nhân con ng-ời, sinh ra để làm đẹp cho con ng-ời, giúp con ng-ời, hiểu rõ chính mình Mỗi nhà văn khi cầm bút đều muốn gửi gắm một vấn đề xã hội, con ng-ời, đến với cuộc đời Truyện ngắn đã từng khẳng định những tên tuổi lừng danh thế giới nh-: T.Sêkhốp, O.Môpatxăng, K.Pautopxki, Heminway, Lỗ Tấn và ở Việt Nam những nhà văn nh-: Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam cũng đã góp phần đ-a truyện ngắn lên một vị trí trang trọng trong nền văn học Việt Nam
Truyện ngắn có một sức hấp dẫn lạ lùng đối với cả ng-ời viết, ng-ời
đọc, ng-ời nghe, ng-ời nghiên cứu, ng-ời phê bình Phải chăng, vì vậy mà khái niệm truyện ngắn đ-ợc rất nhiều ng-ời bàn đến, với những cách nhìn đa dạng từ nhiều góc độ khác nhau
Bàn về truyện ngắn, giáo s- văn học ng-ời Pháp O.Grôpxki định nghĩa:
‚Truyến ngãn l¯ mốt thề lo³i muôn hệnh muôn vÍ biễn đồi khôn cợng Nõ l¯ một vật biến hoá nh- quả chanh của Lọ Lem Biến hoá về khuôn khổ: ba dòng hoặc ba m-ơi trang Biến hoá về kiểu loại tính chất: trào phúng, kì ảo, h-ớng về biến cố thật hay t-ởng t-ợng hiện thực hoặc phóng túng Biến hoá về nội dung, thay đổi vô cùng vô tận Muốn có chất liệu kể cần có một cái gì đó xảy ra, dù đó chỉ là sự thay đổi chút xíu về sự cân bằng, về các mối quan hệ Trong truyện ngắn cái gì cũng thành biến cố thậm chí sự thiếu vắng tình tiết, diễn biến cũng gây hiểu quả vì nó làm cho sự chờ đợi bị hẫng hũt ‛[ Dẫn theo 16; 7 ]
Trang 13Còn Pautôpxki Nh¯ văn Nga thệ x²c định: ‚Thữc chất truyến ngãn l¯ gệ
? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình th-ờng hiện ra nh- một cái gì bình th-ờng và cái gì bình th-ờng hịên ra như mốt c²i gệ không bệnh thưộng ‛ [ 16; 7]
ở Việt Nam, Nguyễn Công Hoan đã giải thích truyện ngắn nh- sau:
‚Truyến ngãn không ph°i l¯ truyến, m¯ l¯ mốt vấn đẹ đước xây dững b´ng chi tiết với sự bố trí chặt chẽ và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có câu nhắc Muốn truyện ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong ngàn ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chì đẹ ấy thôi ‛ [ 11; 160] Mặt kh²c, Nguyển Công Hoan còn đi sâu hơn nữa về khái niệm truyến ngãn Ông viễt: ‚Trưỡc hễt ta cần phân biết thễ nào là truyện ngắn, thế nào là truyện dài Loại truyện viết theo truyện ngắn Âu Tây là loại mới có trong văn học Việt Nam, từ ngày ta chịu ảnh h-ởng của văn học Pháp Ngày x-a, ta chỉ có truyện kể bằng miệng hoặc viết bằng văn vần Nhừng truyến ‚Muổi nh¯ ‛, ‚Muổi đọng‛, ‚Hai ông phật c±i nhau‛, trong
‚Th²nh Tông di th°o‛ l¯ viễt theo nghế thuật á Đông ‚Ho¯ng lê nhất thỗng chí ‛ l¯ lịch sụ ký sữ chử không ph°i l¯ lịch sụ tiều thuyễt Cho nên, lo³i truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây, ta theo Trung Quốc mà gọi là tiểu thuyết,
và cái nào viết trong vài trang gọi là đoản thiên, cái nào viết hàng trăm trang gói l¯ Trưộng thiên tiều thuyễt Năm 1932, b²o ‚Phong ho²‛ dịch đo°n thiên tiểu thuyết ra tiếng ta gọi là truyện ngắn Rồi từ đó tr-ờng thiên tiểu thuyết gọi l¯ truyến d¯i v¯ trung thiên tiều thuyễt gói l¯ truyến vúa ‛[ 12;165]
Trong ‚Tú điền thuật ngừ văn hóc‛ truyến ngãn đước xem l¯ ‚T²c phẩm
tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các ph-ơng diện của đời sống: đời t-, thế sự hay sử thi, nh-ng cái độc đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đ-ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghì ‛.[ 10 ; 303]
Mức độ dài ngắn ch-a phải là đặc điểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các tác phẩm tự sự loại khác Trong văn học hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn nh-ng thực chất là những truyện dài viết ngắn lại Truyện ngắn thời
Trang 14trung đại cũng ngắn nh-ng gần với truyện vừa Các hình thức truyện kể dân gian rất ngắn gọn nh- cổ tích, truyện c-ời, giai thoại lại càng không phải là truyện ngắn Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t- duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng, mang tính chất thể loại Cho nên, truyện ngắn đích thực xuất hiện t-ơng đối muộn trong lịch sử văn học
Khác với tiểu thuyết là thể loại chiếm lĩnh đời sống trong toàn bộ đầy
đặn và toàn vẹn của nó, truyện ngắn th-ờng h-ớng tới việc khắc hoạ một hiện t-ợng, phát hiện một nét bản chất trong quan hệ nhân sinh hay trong đời sống tâm hồn của con ng-ời Với đặc tr-ng thể loại của mình, truyện ngắn không cho phép có một hệ thống, nhân vật đồ sộ, một khoảng thời gian dài, một không gian rộng lớn nh- trong tiểu thuyết Truyện ngắn có khi lấy trong một khoảng khắc trong cuộc đời con ng-ời mà dựng nên Có khi nhân vật đặt tr-ớc một vấn đề phải băn khoăn, phải suy nghĩ, lựa chọn, quyết định Có khi chỉ là một cách sống, làm việc bình th-ờng, trong đó nhân vật biểu lộ tình cảm ý chí của mình Có khi có những hành động mãnh liệt, những tình cảnh éo le Có khi chỉ là một tâm trạng, một nỗi băn khoăn hay một ý vừa chớm nở Nh-ng phải lựa chọn những khoảnh khắc nào mà nhân vật thể hiện mình đầy đủ nhất trong khía cạnh cần thể hiện Tuy vậy, chỉ riêng từng ấy sẽ không bao giờ làm nên giá trị tr-ờng tồn cho tác phẩm Một truyện ngắn muốn giữ vị trí dài lâu trong xã hội, muốn thúc đẩy con ng-ời, nâng cao con ng-ời nó phải đặt ra một vấn đề triết lý về con ng-ời, về cuộc đời - triết lý nhân sinh
Nếu mỗi nhân vật của tiểu thuyết là một thế giới, thì nhân vật của truyện ngắn là một mảnh nhỏ của thế giới ấy Truyện ngắn th-ờng không khắc hoạ những tính cách điển hình đầy đặn, nhiều mặt trong t-ơng quan với hoàn cảnh Nhân vật của truyện ngắn th-ờng là hiện thân cho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con ng-ời Có những truyện ngắn hay trong mấy trang mà nói đ-ợc cả cuộc đời, hoặc chỉ dựng lại một vài khung cảnh chính, thông qua đó biết đ-ợc, đoán đ-ợc ít nhiều toàn bộ cuộc đời nhân vật tr-ớc kia nh- thế nào và số phận sau này sẽ ra sao ? Qua tính cách và hành động các nhân vật đại diện cho một cách suy nghĩ, xử sự,
Trang 15một thái độ sống mà tác giả biểu d-ơng hay phê phán Nhân vật phải tự nhiên, phải là những con ng-ời sống, chớ nên gò công để xây đắp những điển hình quá trọn vẹn, đầy đủ Từ nguyên mẫu đến nhân vật có những sự tái tạo của nhà văn, hình t-ợng nhân vật dần dần dậy lên một đời sống riêng Nó thu gồm những nét trong thực tế, đồng thời lại óng ánh những sắc thái mới, khiến cho
nó toàn vẹn hơn, đẹp đẽ hơn, thân thiết hơn
Nếu tiểu thuyết là một đoạn của dòng đời thì truyện ngắn là mặt cắt của dòng đời Vì vậy, cốt truyện của truyện ngắn th-ờng diễn ra trong một không gian, một thời gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc về cuộc đời và tình ng-ời Kết cấu của truyện ngắn không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà th-ờng đ-ợc xây dựng theo nguyên tắc t-ơng phản hoặc liên t-ợng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn th-ờng là chấm phá
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc, có dung l-ợng lớn và có hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu ch-a nói hết Vì vậy, mỗi nhà văn cầm bút viết truyện ngắn đối diện với trang sách, trang đời phải có tài năng lựa chọn, không đ-ợc ôm đồm, tham lam Với một nỗi lòng, một cảnh ngộ, một sự việc đều phải thấm đ-ợm trong trí tuệ của anh ta, đều phải chứa và bổ sung cho một vấn đề quan trọng mà anh
ta muỗn đỗi tho³i vỡi b³n đóc: vấn đẹ nhân sinh ‚Hệnh như đõ l¯ nhừng ngưội cầm bút có biệt tài có thể lựa chọn trong cái dòng đời xuôi chảy một khoảnh khắc thời gian mà ở đó cuộc sống đậm đặc nhất, chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất, một khoảnh khắc của cuộc sống với một vài diễn biến sơ sài và cũng bình th-ờng nh-ng bắt buộc con ng-ời ở vào tình thế phải bộc lộ ra cái phần tâm can nhất Cái phần ẩn náu và sâu kín nhất có khi còn là khoảnh khắc của c° mốt đội ngưội, mốt đội nhân lo³i‛( ‚ Kinh nghiếm viễt truyến ngãn ‛- Nguyễn Minh Châu)
Những định nghĩa, những cách hiểu truyện ngắn ở trên ch-a phải là tất cả nh-ng cũng phần nào đ-a đến cho ng-ời đọc cái nhìn toàn cục về truyện ngắn trên các ph-ơng diện: dung l-ợng, đề tài, kết cấu, nhân vật Dù hiểu
Trang 16nh- thế nào, hiểu theo cách nào thì cũng cần phải thấy đ-ợc giá trị của truyện ngắn nh- Phạm Văn Đồng đã từng nhận xét:
‚Đừng t-ởng một chút nào rằng về t- t-ởng, về trình độ nghệ thuật, thể loại truyện ngắn là thuộc loại thấp Đâu có phải dài mới là tốt, là hay Đứng tr-ớc cuộc chiến đấu đang diễn ra ở n-ớc ta, anh làm sao nhìn thấy, ghi đ-ợc, truyền lại cho nhanh chóng bằng tác phẩm ngắn, nhỏ nh-ng thật có giá trị Tôi nghĩ không nên coi nhẹ tác phẩm ngắn Không nhất thiết là một tr-ờng ca anh hợng thệ mỡi cõ gi² trị cao ‛ [20 ; 86 ]
1.2 Ngôn ngữ truyện ngắn
Trong ‚Lý luận v¯ thi ph²p tiều thuyễt ‛ M.Bakhtin đ± viễt kh² rõ về
đặc điểm của ngôn ngữ văn xuôi ở đây chúng tôi chỉ đề cập đến đặc điểm của ngôn ngữ văn xuôi trong sự đối lập với ngôn ngữ thơ ca
Chúng ta biết rằng, ngôn từ, theo t- duy phong cách học truyền thống, chỉ biết có mình (tức là ngữ cảnh của mình), đối t-ơng của mình, sắc thái biểu cảm của mình và ngôn ngữ thống nhất, duy nhất của mình Một ngôn từ khác nằm ngoài ngữ cảnh của nó chỉ đ-ợc biết đến nh- một hiện t-ợng ngôn ngữ trung tính, một lời không của ai cả, một khả năng phát ngôn đơn thuần Khi ý thức ngôn ngữ, ý thức t- t-ởng xã hội trở nên chủ động về mặt sáng tạo tức là trở thành ý thức văn học chủ động thì nó nhận ra mình đ-ợc bao quanh bởi muôn vàn tiếng nói khác nhau chứ tuyệt nhiên không phải là một ngôn ngữ thống nhất và duy nhất, không phải tranh luận và không thể phản bác Nó luôn luôn đứng tr-ớc sự tất yếu phải lựa chọn ngôn ngữ Bằng từng hành vi văn ch-ơng- ngôn từ của mình, nó chủ động định h-ớng giữa những tiếng nói khác biệt, xác dịnh lập tr-ờng, chọn lựa ngôn ngữ Vì thế, ngôn ngữ thơ ca và ngôn ngữ văn xuôi có những sự lựa chọn khác nhau
Nhà thơ đ-ợc ấn định bởi ý t-ởng về một ngôn ngữ thống nhất và duy nhất và về lời phát biểu thống nhất và đóng kín theo kiểu độc thoại Những ý t-ởng và những thể loại thơ ca mà nhà thơ sử dụng quy định những ph-ơng cách nhà thơ định h-ớng mình giữa những tiếng nói khác nhau trong thực tế
Trang 17Nhà thơ phải một mình làm chủ toàn bộ ngôn ngữ mình, chịu trách nhiệm
đồng đều về mọi thành tố của nó, bắt nó phục vụ những chủ ý của mình và chỉ của mình mà thôi Mỗi từ ngữ phải thể hiện trực tiếp và trực diện ý đồ của nhà thơ, không thể có một khoảng cách nào giữa nhà thơ và lời của anh ta Nhà thơ chất lọc từ ngữ khỏi những ý chỉ của ng-ời khác, chỉ dùng những từ và hình thức từ nào và dùng chúng nh- thế nào để chúng không còn giữ đ-ợc mối quan hệ với một số tầng ý chỉ nhất định và một số ngữ cảnh nhất định Do việc gạn lọc mọi thnàh tố ngôn ngữ khỏi những ý chỉ và giọng điệu của ng-ời khác, xoá bỏ mọi vết tích bất đồng trong tiếng nói và ngôn ngữ mà ở tác phẩm thơ ca đ-ợc tạo ra một sự thống nhất ngôn ngữ đầy căng thẳng
Là nhà thơ thì phải xử lý nh- thế Còn ng-ời viết văn xuôi thì sao? Họ lại đi một con đ-ờng khác hoàn toàn, một sự lựa chọn ngôn ngữ khác biệt với ngôn ngữ thơ ca Nhà văn tiếp thu vào trong tác phẩm của mình những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau trong ngôn ngữ văn học và phi văn học, nh-ng không làm chúng suy yếu đi, mà thậm chí còn khơi động thêm chúng Nhà văn xây dựng phong cách của mình trên sự phân hoá ngôn ngữ ấy, trên nền những tiếng nói và thậm chí những ngôn ngữ khác nhau ấy mà vẫn giữ đ-ợc tính thống nhất của cái tôi sáng tạo của mình và tính thống nhất của phong cách mình
Nhà văn xuôi không tẩy sạch khỏi từ ngữ những ý chỉ và giọng điệu của ng-ời khác, không bóp chết những mầm mống ngôn từ xã hội khác biệt tiềm
ẩn trong chúng, không gạt bỏ những khuôn mặt ngôn ngữ và cung cách nói năng lấp ló đằng sau các từ ngữ và hình thức ngôn ngữ Ng-ời viết văn xuôi sử dụng những từ ngữ đã chứa đựng những ý tứ xã hội khác và bắt chúng phục vụ những ý chỉ mới của mình Những tiếng nói và ngôn ngữ khác nhau đ-ợc đ-a vào tác phẩm và ở đó chúng đ-ợc tổ chức thành một hệ thống nghệ thuật hoàn chỉnh
Còn ngôn ngữ truyện ngắn thì sao ?
Ngôn ngữ truyện ngắn vừa mang đặc điểm chung của ngôn ngữ văn xuôi vừa mang những nét đặc tr-ng, đặc thù Ngôn ngữ truyện ngắn tr-ớc hết
Trang 18là sự mô tả và đối thoại ( nội tại ) Ngôn ngữ truyện ngắn chứa đựng nhiều phong cách, nhiều giọng nói, những phong cách xen lẫn nhau, hoà hợp, tranh luận, cải vã, đối chọi Nó mạnh mẽ, khoẻ khoắn, và đầy sức sống Nhà văn Nguyên Ngóc khi nõi vẹ ngôn ngừ truyến ngãn đ± ph²t biều: ‚ Truyến ngãn nào của T.Sêkhôp cũng làm giàu đời sống tinh thần của ta và chúng đánh thức dậy ở ta ý thức ham muốn giác ngộ về sự phân vân, đắn đo hoặc nói nh- các nhà hiền triết ph-ơng Đông - biết tìm cái có trong cái không, cái không trong c²i cõ ‛
Mỗi truyện ngắn hay th-ờng không tự nó đem đến cho chúng ta một kết luận khẳng định hay bác bỏ, dứt khoát, áp đặt Nó đặt ra tr-ớc ngôn ngữ sự lựa chọn hay nói như M.Bakhtin ‚trưỡc liên minh cùa lưởng lữ ‛ Mổi tú, mổi câu trong truyện ngắn phải tự mô tả lấy mình, phải đẹp Ngôn ngữ tự đối thoại, tự tranh cãi, hay nói cách khác ngôn ngữ l-ỡng lự n-ớc đôi khiến cho truyện ngắn hiện đại là truyện ngắn của những khả năng
Mỗi nhà văn cầm bút viết truyện ngắn với phong cách khác nhau, có sự lựa chọn về ngôn ngữ khác nhau và đến l-ợt mình, chính sự lựa chọn ngôn ngữ đó lại tạo nên các phong cách khác nhau cho mỗi nhà văn Macxim Gorki từng nói: Muốn học viết phải bắt đầu từ truyện ngắn, bởi viết truyện ngắn nó luyện cho tác giả biết tiết kiệm từ ngữ, biết cách viết cô đọng Còn nhà văn
Ma Văn Kh²ng thệ bốc b³ch: ‚Câu chừ tiêu dợng cho truyến ngãn l¯ c° mốt sữ
nổ lực lớn và nó nh- là yếu tố quyết định cho sự thành bại của một truyện ngãn ‛ Nguyển Đệnh Thi cðng túng khàng định: ‚Chừ trong văn xuôi cần cõ men Câu chữ trong truyện ngắn nói riêng là men, nó toả h-ơng, nó rủ rê, nó quyễn rð ta, nõ l¯ c²i họn cùa câu chuyến ‛
Nh- vậy, với sự lựa chọn riêng của mình về ngôn ngữ thì mỗi nhà văn hình thành đ-ợc cho mình một cách sử dụng ngôn ngữ riêng Đứng tr-ớc một thực tế sáng tác giống nhau, nh-ng mỗi nhà văn với tài năng, tính cách khác nhau thệ cõ c²ch sụ dũng vỗn tú ngừ, c²ch điẹu khiền ‚đ³o quân chừ‛ kh²c nhau Chính vì thế mà trên văn đàn có rất nhiều những tên tuổi viết truyện ngắn nổi tiếng mà mỗi tác giả lại có văn phong riêng, dấu ấn ngôn ngữ riêng
Trang 19hay chính là có sự lựa chọn ngôn ngữ riêng Chẳng hạn, trên văn đàn Việt Nam bên cạnh Nam Cao, còn có Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng , bên cạnh Nguyễn Quang Sáng, Anh Đức, còn có Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc mà mỗi tác giả lại có phong cách ngôn ngữ riêng
II Tác giả Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi và truyện ngắn của ông
1 Cuộc đời và sự nghiệp
1.1 Cuộc đời
Nguyễn Ngọc Tấn tên thật là Nguyễn Hoàng Ca, sinh ngày15 tháng 05 năm 1928, tại xã Quần Ph-ơng th-ợng, nay là xã Hải Anh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định Nguyễn Hoàng Ca mới chính là tên thật, ghi trên giấy khai sinh và lúc đi học, nh-ng gia đình không thích cái tên Ca nên gọi là Nguyễn Ngọc Tấn Đây cũng là tên khi đi bộ đội, lúc viết văn Tới tháng 5 - 1962 Nguyễn Ngọc Tấn đi công tác B, ông lại lấy tên con trai là Nguyễn Thi làm bút danh
Bố của ông là Nguyễn Bội Quỳnh, một nhà giáo có tinh thần yêu n-ớc
Mẹ là bà Thành Thị Du, một phụ nữ tài sắc lại có học Cả hai quen nhau trong hoạt động cách mạng, gia đình họ là cơ sở liên lạc, nuôi giấu cán bộ Họ sống nay đây mai đó vì kế sinh nhai và vì yêu cầu công tác Những ngày vui vẻ, sung túc thật là hiếm hoi và thoáng nhanh nh- ảo ảnh, tr-ờng kỳ trong đời sống gia đình đôi vợ chồng cách mạng trẻ là đói nghèo và bệnh tật, vì đói nghèo mà bệnh tật kéo dài Nỗi buồn của một gia đình tan nát ám ảnh suốt những ngày thơ ấu của ông Cha mất sớm Mẹ đi b-ớc nữa Chín tuổi - ông đã bắt đầu phải sống cuộc đời l-u lạc, tủi khổ Từ đó, Nguyễn Ngọc Tấn rơi vào những năm tháng sống nhờ ng-ời thân sơ của hai bên nội ngoại, hết ở với anh con bà cả lại đến ở với chú, mẹ cả ; lúc lên Hà Thành, khi về Nam Định Sau những năm tháng sống dật dờ, tủi nhục, năm 14 tuổi Nguyễn Ngọc Tấn gia nhập g²nh h²t ‚Đọng ấu Nam Hoa ‛ do Phi Sơn H°i lập ra v¯ tiễp tũc cuốc đội nay đây mai đó tự kiếm sống Một năm đi hát, gia đình tìm đến và Nguyễn
Trang 20Ngọc Tấn trở về Năm 1943, ng-ời anh cùng cha khác mẹ đ-a Nguyễn Ngọc Tấn vào Sài Gòn cho em ăn học Nh-ng đời sống khó khăn, không muốn làm gánh nặng cho gia đình nên ông vừa làm vừa đi học Rồi cách mạng tháng Tám đến nh- là trong mơ -ớc của một thanh niên nghèo khổ nh- ông Ông tham gia mọi công việc đ-ợc giao với tất cả hăng say, nồng nhiệt, tận tuỵ và sau đó đ-ợc sung vào lực l-ợng vũ trang chiến đấu chống thực dân Pháp Nguyễn Ngọc Tấn đ-ợc kết nạp Đảng chính thức năm 1947 và từ đó con
đ-ờng đời đ-ợc xác định dứt khoát, triệt để Thời gian này, Nguyễn Ngọc Tấn vừa say s-a chiến đấu, vừa hăng hái hoạt động văn nghệ Là một chiến sĩ đa tài ông vừa làm thơ, sáng tác tranh vừa soạn bài hát, điệu múa năm 1951 Nguyễn Ngọc Tấn đ-ợc nhận giải th-ởng Văn nghệ Cửu Long cho những sáng tác nhiều loại ấy
Nguyễn Ngọc Tấn xây dựng gia đình với chị Bình Trang - một cô gái Sài Gòn thoát ly ra vùng kháng chiến vào một ngày giáp Tết năm 1954 Hoà bình lập lại, theo hiệp định Giơnevơ, Nguyễn Ngọc Tấn theo đơn vị tập kết ra Bắc khi ch-a kịp nhìn mặt cô con gái Trang Thu và để lại ng-ời vợ trẻ phải chống chọi một mình giữa vòng vây của địch
Ra Bắc, sau một thời gian làm cán bộ tuyên truyền ở tiểu đoàn 302, rồi làm trở lý văn nghệ s- đoàn 302, tháng 12 - 1956 Nguyễn Ngọc Tấn đ-ợc
điều về Tạp chí Văn nghệ Quân đội Từ đấy, Nguyễn Ngọc Tấn mới thực sự chuyên tâm làm công tác mà ông hằng yêu thích Sống và làm việc ở Miền Bắc - quê h-ơng ông, đ-ợc gặp lại những ng-ời thân ruột thịt nh-ng càng ngày Nguyễn Ngọc Tấn càng cảm thấy sâu sắc sự gắn bó máu thịt với Miền Nam
Từ 1960, khi Miền Nam sôi sục trong phong trào Đồng khởi, khi một số cán bộ Miền Nam tập kết ở Bắc lại trở về quê h-ơng chiến đấu, Nguyễn Ngọc Tấn không thể yên lòng đứng nhìn cuộc chiến đấu từ xa Một lần nữa, ông từ biệt quê h-ơng, từ biệt ng-ời thân, từ biệt ng-ời vợ trẻ và đứa con trai 6 tháng, trở lại Miền Nam - nơi đã nuôi ông thành ng-ời lính, mảnh đất đã vun d-ỡng
ông thành ng-ời nghệ sĩ Từ đây ông lấy bút danh là Nguyễn Thi - tên đứa con
Trang 21trai ông gửi lại ngoài Bắc - lại tiếp tục cầm súng và cầm bút Trong 6 năm công tác và chiến đấu, Nguyễn Thi đã có mặt hầu hết các chiến tr-ờng lớn ở vành đai thép Củ Chi, Bến Tre - quê h-ơng Đồng khởi Và tháng 5 – 1968, trong một trận đánh lớn ở Sài Gòn, Nguyễn Thi đã cùng đồng đội đánh lùi nhiều cuộc phản công của địch, Với khẩu A.K trong tay, ông đã bắn đến viên
đạn cuối cùng, bị th-ơng vì một mảnh rốckét găm vào ngực, Nguyễn Thi chỉ kịp nói lại tên mình và tên đơn vị, gửi lại chiếc bồng Nguyễn Thi đã anh dũng
hi sinh khi vừa tròn 40 tuổi Hôm đó là ngày 09 - 05 - 1968
Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi hi sinh vào đúng cái tuổi 40, cái tuổi
đang lúc giữa tr-a ánh nắng chói chang, rực rỡ, cái tuổi tạm gom đủ từng trải
đ-ờng đời và kinh nghiệm nghề nghiệp, đang d- thừa sức lực và nhiệt tình để sáng tạo, để làm ra các sản phẩm tinh thần phong phú cả về số l-ợng lẫn chất l-ợng Sự sống quý nhất ở thế gian này, Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi đã hiến dâng cho tổ quốc, cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc:
‚C²i chễt anh dðng cùa nh¯ văn trong tư thễ cầm súng ở cửa ngõ thành phố mang tên Bác, cùng với thời gian, hiện lên nh- một biểu tr-ng giàu ý nghĩa, nói với hậu thế về vị trí nhà văn trong cuộc chiến đấu giành độc lập của dân tộc, về đóng góp của ng-ời nghệ sĩ trong cuộc kháng chiến và tầm vóc của những nhà văn - chiễn sĩ thội đ³i chủng ta‛ [ 20; 32]
Cuộc đời nhiều bất hạnh, hoàn cảnh riêng đầy éo le đã tạo nên ở Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi một tâm hồn giàu suy t-, hiểu đời, hiểu ng-ời Từ hơn 40 năm tr-ớc, trong đêm giao thừa sang nửa phần sau thế kỷ, Nguyển Ngóc Tấn túng nghĩ vẹ cuốc đội mệnh: ‚ Đội tôi tú lòng thương mé, trình độ học thức, ngày vui s-ớng, cuộc tình duyên, cho tới sự nghiệp cách m³ng v¯ tương lai ng¯y mai, văn nghế, tất c° đẹu lận đận v¯ lở dở ‛ (Nhật ký ngày 30 -12 - 1950) Nhưng ‚Vỡi con ngưội yêu đội, yêu cuốc sỗng dưộng ấy, với sức lao động nghệ thuật mạnh mẽ nh- vậy thì sống đến tuổi nào mới đ-ợc coi là không dở dang Nếu mỗi cuộc đời là không dở dang thì dòng chảy của văn hóc c²ch m³ng l¯ liên tũc ‛[ 5 ; 320 ] Vệ vậy, theo dõi con đ-ờng sáng tác của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi ta không chỉ đ-ợc tiếp cận với một
Trang 22hành trình đầy khổ hạnh và gian truân mà điều quan trọng hơn ta còn thấy
đ-ợc hành trình t- t-ởng nghệ thuật của ông, một hành trình tiêu biểu cho con
đ-ờng đi đến cả một thế hệ nhà văn: nhà văn - chiến sĩ
Là một nhà văn – chiến sỹ vừa cầm bút sáng tác lai vừa cầm súng chiến đấu, Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi đã để lại dấu ấn đó trên từng trang viết Đặc biệt, những trang viết ở chiến tr-ờng, giữa làn bom đạn giữ dội của ông vẫn giàu xúc cảm, giàu giá trị hiện thực và vẫn thể hiện đ-ợc một tài năng nghệ thuật đich thực
1.2 Sự nghiệp
‚Im lặng l¯ mốt nẽt đặc biết cua Nguyển Thi: Im lặng m¯ viễt, im lặng
đọc sách, im lặng mà quan sát, im lặng mà suy nghĩ, im lặng để rất ít nói về mệnh‛ Nhưng t²c phẩm, chì cõ t²c phẩm mỡi biến minh đước cho ông, mỡi cho chúng ta hiểu đ-ợc con ng-ời thật của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
Và sự nghiệp sáng tác của ông đã giãi bày tất cả, nó có sức giá trị hơn nhiều những trang giấy phê bình, trang viết về ông
Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi khởi nghiệp bằng việc bén duyên với thơ ca trong kháng chiến chống Pháp Đến đầu những năm 50, ông đã có cả mốt tập thơ mang tữa đẹ ‚Hương đọng nối‛ Tuy nhiên, tập thơ n¯y không đề lại ấn t-ợng n¯o đ²ng kề Sau ‚Hương đọng nối‛, Nguyển Ngóc Tấn còn xuất bản một tập thơ tiếp theo còn lại hơn 40 bài Trang bìa và nhiều trang trong tập thơ đã nát nên không biết tên tập thơ là gì?
Thể loại đánh dấu b-ớc tr-ởng thành trong sáng tác cua Nguyễn Ngọc Tấn l¯ truyến ngãn Hai tập ‚Trăng s²ng ‚ v¯ ‘Đôi b³n‛ l¯ nhừng t²c phẩm
đầu tay của ông và ông trở thành nhà văn đ-ợc chú ý đến từ hai tập truyện ngắn này
‚Trăng s²ng‛ in lần đầu tiên năm 1960, gọm 7 truyến:
1 Quê h-ơng
2 Làm việc
3 Xuống núi
Trang 234 Lao động quang vinh
Đó là những tác phẩm đ-ợc nhà văn sáng tác trong thời kì tập kết ra Bắc với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn Nó đã dự báo con đ-ờng đi tới của một nhà văn, hé mở sự tiếp tục và hoàn thiện hơn cho những sáng tác khi nhà văn trở lại chiến tr-ờng Nam Bộ
Về lại với mảnh đất Miền Nam thân yêu, sau khi đi tìm hiểu thực tế, nhà văn vừa chiến đấu vừa tranh thủ sáng tác Đêm đêm, Nguyễn Thi thức viết rất miệt mài: ‛Cử thễ anh ngọi viễt, thửc viễt đễn khuya tỡi mốt hai giộ s²ng ‛ [3;98] Thời gian này ông lấy bút danh là Nguyễn Thi, sáng tác gồm cả ký, truyện ngắn, truyện ký và tiểu thuyết So với các nhà văn chống Mỹ Nguyễn Thi viết không nhiều, nh-ng chỉ khoảng dăm năm mà có đ-ợc l-ợng tác phẩm nh- vậy là điều đáng phục Nh-ng đáng phục đến bất ngờ là chất l-ợng Có thể thấy đ-ợc sáng tác của Nguyên Thi ở các thể loại nh- sau:
- Tuỳ bút: Dòng kinh quê h-ơng, Đại hội anh hùng, Những câu nói ghi trong đại hội
- Truyện ký: Ng-ời mẹ cầm súng, Ước mơ của đất
Trang 24- Ghi chép: Cô gái đất Ba Dừa, Những sự tích ở đất thép
- Truyện ngắn: Chuyện xóm tôi, Mùa xuân, Mẹ vắng nhà, Những đứa con trong gia đình
- Tiểu thuyết và truyện dài: ở xã Trung Nghĩa, Sen trong đồng
Nguyễn Ngọc Tấn-Nguyễn Thi là một cây bút văn xuôi độc đáo đầu những năm 60 ở Miền Bắc và sau dó là một cây bút xuất sắc của nền văn nghệ giải phóng miền Nam Các tác phẩm của ông còn laị nh- một t-ợng đài đẹp về chiến công bất tử của nhân dân ta trong sự nghiệp chông Mỹ cứu n-ớc d-ới sự lãnh đạo tài tình của Đảng Tác phẩm cũng nh- cuộc đời Nguyễn Ngọc Tấn-Nguyễn Thi xứng đáng là một trang đẹp trong nền Văn học Việt Nam hiện
đại
2 Quá trình phát triển truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn –Nguyễn Thi
Nguyễn Ngọc Tấn –Nguyễn Thi thử bút với nhiều thể loại nh-ng viết nhiều nhất và đạt đ-ợc những thành tựu đáng kể là truyện ngắn Hành trình sáng tạo truỵên ngắn của nhà văn là một hành trình gian khổ của một ng-ời lao động nghệ thuật chân chính
‚Trăng s²ng‛ l¯ tập truyến ra mãt của Nguyễn Ngọc Tấn với t- cách là một cây bút văn xuôi Nổi lên tất cả, bàng bạc suốt tập truyện ngắn là tấm lòng th-ơng nhớ miền Nam Nỗi nhớ da diết, quánh đặc, dằn vặt Mỗi truyện ngắn gồm các mẩu chuyện nhỏ viết lại, góp lại, nh-ng cả cái truyện không giống chút gì với truyện kể Vì các cột truyện ở đây th-ờng lỏng lẻo Truyện
đứng đ-ợc còn lại đ-ợc không phải nhờ vào cái đó, mà các giá trị chủ yéu ở các chi tiết quan sát, ở vốn ngôn ngữ trau dồi Thành công của Nguyễn Ngọc Tấn không phải ở tự nhiên nó đến, nhờ năng khiếu bẩm sinh mà rõ ràng là một
sự chuẩn bị kỹ càng Kết cấu truyện th-ờng xuôi theo dòng thời gian nh-ng
đôi khi cũng ng-ợc về với những kỷ niệm, với hồi t-ởng nh- một thủ pháp phục hiện điện ảnh Cái hiện tình bây giờ, cái điều đang xảy ra tr-ớc mắt dù bình th-òng hay đột ngột, đ-ợc giải thích bằng cách truy nguyên dựng lại diễn biến đã qua Việc và ng-ời xuất hiện nh- một câu hỏi , rồi dần dần câu chuyện
Trang 25tự mở ra, nhân vật tự bộc lộ T- t-ởng, chủ đề câu chuyện nhờ đó đ-ợc giấu kín đến dòng cuỗi cợng mỡi phô b¯y trón vén, tữ nhiên, nhuần nhị ‚Nõi như T.Sêkhôp, tác giả chui tọt vào nhân vật mà nói năng, xử sự, nhìn đời cho nên khãc hóa rất nhanh, tỗn rất ít câu chừ m¯ gới đước nhiẹu ‛[5;167]
Sau ‚Trăng s²ng‛, tỡi tập ‚Đôi b³n ‚(1962), một lần nữa Nguyễn Ngọc Tấn lại khẳng định bản sắc khá riêng biệt của mình trong thể loại truyện ngắn Tập truyện là tiếng hát ca ngợi tình yêu giữa trai gái, cha con, bạn bè, đồng chí, quê h-ơng, tổ quốc Thực ra rất khó tóm tắt cốt truyện cũng nh- t- t-ởng, chủ đề của tác phẩm Lúc đọc, chúng ta có cảm giác nh- trôi nổi trên sóng n-ớc mù s-ơng, cảnh đôi bờ khi ẩn, khi hiện, vừa rõ ràng mà lại rất xa xôi Không khí đó toát ra từ những tình tiết h- h- thực thực, những nhân vật rất ít hành động nh-ng rất nhiều tâm tình, những câu văn tả tình hơn diễn ý Chủ
đề th-ờng ẩn náu kín đằng sau những hình t-ợng gợi cảm, tác giả không bao giờ miêu tả đến cạn lời, cạn ý, hoặc bộc lộ trọn vẹn tâm tình một cách rõ ràng,
do đó tác phẩm vẫn để chừa ra một khoảng trống trong tâm trí ng-ời đọc, khiến họ có thể tiếp tục xúc cảm, suy nghĩ về sau
Hiển nhiên, đây ch-a phải là thời kì sung sức nhất của Nguyễn Ngọc Tấn Nh-ng với hai tập truyện ngắn trên, ông đã tạo dựng một vị trí riêng trong thế hệ mình Ông đã nhanh chóng nhập đ-ợc vào dòng chủ l-u của văn hóc thội kệ bấy giộ ‚Truyến cùa Tấn đóc xong biễt câu chuyến rọi vẫn đóc l³i
đ-ợc nhiều lần, xúc cảm có thể giảm đi, nh-ng vẫn không kém thích thú tr-ớc năng khiếu quan sát của anh - một cách nhìn kĩ, nhìn gần, tinh ranh mà nhân
từ - vẹ câu vẹ chừ kễt tinh tú mốt khỗi quặng ngôn ngừ ‚[4;165]
Viết văn mỗi lần là một hành trình, một cuộc thám hiểm, từ bỏ những c²i biễt rọi, quen thuốc v¯ yên ấm đề đễn nhừng chân trội xa l³ ‚Viễt vẹ chiễn tranh, viết về miền Nam, có hàng trăm, hàng ngàn ng-ời đã và đang viết Nh-ng Nguyễn Thi viết không giống ai Mình anh một cách nhìn, nhất là cách nõi‛[5;244] Vâng - Nguyễn Ngọc Tấn trở lại miền Nam sáng tác với bút danh Nguyễn Thi, đã tìm cho mình một cách viết riêng, một giọng điệu riêng
và một phong cách riêng Ngòi bút ấy vốn đã có tài năng, có tâm huyết cộng
Trang 26với hiện thực chiến tranh ở miền Nam đã có thêm một sức sống mới Vỡi bỗn truyến ngãn in trong ‚Truyến v¯ kí ‛, Nguyển Thi đ± thề hiến sữ ph²t
triển trong hành trình sáng tác truyện ngắn của mình Đó là những truyện rất
giàu chất hiện thực, thậm chí hiện thực đến nghiêm ngặt Truyện nào cũng
chật ních những chi tiết tiêu biểu cho một thời kì chiến đấu của nhân dân miền
Nam Đọc Nguyễn Thi, ta sẵn sàng đọc đi đọc lại, vì tích truyện biết rồi vẫn
có thể tiếp tục th-ởng thức các chi tiết lột tả đúng nét riêng một bộ mặt, một
tình huống, một địa ph-ơng Đó không chỉ là kết quả của một sự quan sát
thông minh, công phu, mà tr-ớc hết là sự tinh tuý của một cuộc đời, một chiến
sĩ sẵn sàng hi sinh tất cả vì cách mạng, của một tấm lòng chứa chan tình cảm
yêu th-ơng trong sáng và căm thù mãnh liệt
Tiểu kết: Trong ch-ơng 1 này chúng tôi đề cập đến những vấn đề liên quan
đến đề tài: Khái niệm truyện ngắn, ngôn ngữ văn xuôi, ngôn ngữ truyện
ngắn Đồng thời đã đ-a ra một cách khái quát về cuộc đời và sự nghiệp của
nhà văn này cũng nh- vị trí của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi trong nền
văn học n-ớc nhà
Trang 27Ch-ơng II
đặc điểm hình thức ngôn ngữ truyện ngắn
Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
I Tiêu đề truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
1 Tiêu đề và nối quan hệ giữa tiêu đề với nội dung tác phẩm
Tiêu đề còn gọi là đầu đề, nhan đề, tựa đề là tên gọi của văn bản, là một bộ phận hợp thành của văn bản Không chỉ có văn bản mới có tên gọi, nhiều sự vật, hiện t-ợng trong tự nhiên xã hội thông qua nhận thức, tìm hiểu cùa con ngưội đẹu cõ tên gói Kh²i niếm ‚tên gói‛ đước dợng vỡi nhiẹu thuật ngữ không giống nhau tuỳ thuộc vào đối t-ợng ( đối t-ợng là ng-ời hay sự vật thệ đõ l¯ ‚tên‛, vỡi cụa hiếu, nh¯ cụa, đưộng phỗ l¯ ‚biền hiếu‛, đỗi vỡi s°n phẩm l¯ ‚nh±n hiếu‛, đỗi vỡi c²c ấn phẩm thệ đõ l¯ ‚tiêu đẹ‛, ‚đầu
đẹ‛ ) Tuứ theo đỗi tướng đước gói tên, giừa c²c tên gói kh²c nhau mấy
điểm: tên, biển hiệu là những tín hiệu có tính võ đoán, tách rời độc lập, đại diên cho các sự vật nằm ngoài bản thân nó Còn tiêu đề văn bản là một tín hiệu có lý do, mang tính biểu tr-ng Mà tính biểu tr-ng theo F.Sausssure:
‚cõ mốt đặc tính l¯ không bao giộ ho¯n to¯n võ đoán, không phải là một cái
gệ trỗng rổng ‛.Tiêu đẹ đước ngưội viễt đặt ra đề gói tên t²c phẩm cùa mệnh - l³i l¯ mốt tín hiếu đ³i diến cho văn b°n, l¯ mốt thử ‚siêu tín hiếu‛ Vệ thễ m¯ giữa phần tiêu đề với phần nội dung văn bản có mối quan hệ chặt chẽ và tất yếu, hầu nh- ít mang tính ngẫu nhiên, võ đoán nh- khởi thuỷ của các tên gọi khác
Tiêu đề vừa là tên gọi của văn bản – tức mang chức năng định danh, lại vừa chứa đựng một nội dung khái quát, vừa đại diện, vừa là đ-ờng viền của nội dung văn bản Nhiều văn bản, tiêu đề chính là nội dung cô đúc, nén kín: ‚Tên gói đặt ra cho chuyến không ph°i l¯ vô ích Nõ chửa đững trong
Trang 28b°n thân nõ chù đẹ quan tróng nhất Nõ định ra to¯n bố cơ cấu chuyến kề’’[4; 85]
Tiêu đề văn bản là một tín hiệu vừa mang tính khách quan, phụ thuộc liên đối trực tiếp vào nội dung văn bản, vừa mang tính chủ quan: tuỳ thuộc vào ý đồ, sở thích, thị hiếu thẩm mĩ của ng-ời viết Đặt tiêu đề là cả một quá trình suy nghĩ, thậm chí cả sự lựa chọn, cân nhắc công phu, là cả một nghệ thuật Raxun-Gamzatop túng viễt: ‚Nễu đi tệm hiều tiêu đẹ thệ anh cần xuất phát từ nội dung mà muốn đặt vào trong cuốn sách, cần xuất phát từ mục tiêu
mà anh đã tự đặt cho mình Hãy chọn mũ theo đầu chứ không phải làm ng-ợc lại, chiều dài của sợi dây đàn tuỳ thuốc v¯o chiẹu d¯i dây đ¯n ‛[9;45] Còn nh¯ văn Nga Pautôpxki thệ thủ nhận: ‚Ôi nhừng cuốc tệnh kiễm đầu đẹ cữc nhọc th-ờng xuyên Nghĩ ra đầu đề là cả một cái tài năng riêng Có những ng-ời viết hay nh-ng lại không biết đặt tên cho tác phảm của mình và ng-ợc l³i ‛ [4;89]
Nh-ng cũng cần thấy rằng, mối quan hệ gắn bó t-ơng ứng giữa đầu đề với nội dung văn bản là tuỳ thuộc vào từng thể loại văn bản Sự gắn bó khăng khít giữa tiêu đề với văn bản không có nghĩa tiêu đề là một tấm biển cố định Một văn bản có thể có nhiều cách đặt tiêu đề, lựa chọn tiêu đề Vì vậy có nhiẹu văn b°n cõ thề thay đồi tiêu đẹ như ‚Chí phèo‛ cùa Nam Cao ( ban đầu
cõ tên l¯ ‚C²i lò g³ch cð‛, ‚Đôi lửa xửng đôi‛), hay ‚Thân phận tệnh yêu‛ cùa B°o Ninh ( ban đầu cõ tên l¯ ‚Nổi buọn chiễn tranh‛)
Với ng-ời viết, qua tiêu đề các tác phẩm của họ có thể thấy đ-ợc những vùng quen thuộc, những sở tr-ờng của họ ra sao Chẳng hạn, qua truyện ngắn của Thạch Lam (Đói, Chân quê, Hai đứa trẻ, Ng-ời lính cũ ) Có thể thấy r´ng: ‚Xủc c°m cùa nh¯ văn th-ờng bắt nguồn và nảy nở từ những chân cảm
đỗi vỡi ngưội dân nghèo ờ th¯nh thị v¯ thôn quê ‛(Nguyển Tuân) Vỡi Nguyển Bính ‚Nễu ta thụ lấy tiêu đẹ cùa thi nhân xễp l³i, ta sẻ đước mốt thử chệa kho² n¯o đấy đề hiều đước đống lữc s²ng t³o cùa nh¯ thơ ‛(Đỗ Lai Thuý)[4;87]
Cũng giống nh- đặt tên cho đứa con yêu quý của mình, ng-ời viết có thể gửi gắm nhiều ý t-ởng thông qua tiêu đề của văn bản Đồng thời cũng thấy
Trang 29rằng tên tuổi của nhà thơ, nhà văn lớn th-ờng gắn liền với các tác phẩm của họ suốt cả một đời và l-u danh hậu thế
Nh- vậy, tiêu đề văn bản là một trong những dấu hiệu ngôn ngữ thể hiện sự lựa chọn của nhà văn Cho nên tìm hiểu tiêu đề văn bản truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi có thể giúp chúng ta hiểu thêm một nét phong cách ngôn ngữ truyện ngắn của ông
2 Tiêu đề truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
Là một ng-ời nghệ sĩ luôn trăn trở với tác phẩm của mình, Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi cũng không đặt cho những tác phẩm mà mình sáng tạo ra những cái tên ngẫu nhiên, những cái tên ‚trỗng rổng ‛ M¯ nễu đi sâu tìm hiểu ta thấy ở tiêu đề của các truyện ngắn đều chứa đựng một t- t-ởng, một nỗi niềm, một xúc cảm, một tấm lòng Đặc biệt qua sự soi chiếu d-ới góc
độ ngôn ngữ, chúng ta có thể tìm thấy một sự lựa chọn độc đáo trong sáng tác nghệ thuật của nhà văn: sự lựa chọn bắt đầu từ cách đặt tiêu đề
2.1 Về cấu tạo
Tr-ớc hết cần thấy đ-ợc tiêu đề đ-ợc đánh dấu bằng vị trí luôn đứng
đầu văn bản, đ-ợc tách biệt với hình thức cỡ chữ, màu sắc riêng biệt
Về cấu tạo, tiêu đề có thể rút gọn đến mức tối đa, chỉ còn một từ, một cụm từ nh-ng cũng có khi là một câu Khảo sát 18 truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi chúng tôi đã thống kê và phân loại tiêu đề nh- sau:
- Tiêu đề có cấu tạo là một từ: + Quê h-ơng
+ Mặt trận
+ Tự do + Làm việc
- Tiêu đề có cấu tạo là một cụm từ: + Đôi bạn
+ Mùa xuân
+ Cậu Huân + Món quà Tết + Một chuyến về phép
Trang 30+ Hai cha con ng-ời chính uỷ + Những đứa con trong gia đình + Chuyện xóm tôi
+ Xuống núi + Về Nam + Lao động quang vinh + Ngày về
- Tiêu đề có cấu tạo là một câu: + Trăng sáng
+ Mẹ vắng nhà Qua thống kê chúng tôi thấy tiêu đề truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi có cấu tạo là cụm từ chiếm tỉ lệ lớn 12/18 truyện (66,67%) còn tiêu đề có cấu tạo là câu chiếm tỉ lệ rất nhỏ 2/18 truyện (11,10%), còn tiêu đề
có cấu tạo là từ cũng chiếm số l-ợng không lớn 4/18 truyện (22,22%)
2.2 Về nội dung ý nghĩa
Sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi có thể d-ợc chia làm hai giai đoạn: giai đoạn sáng tác ở Miền Bắc với bút danh Nguyễn Ngọc Tấn và giai đoạn sáng tác ở Miền Nam với bút danh Nguyễn Thi Truyện ngắn của ông trong hai thời kỳ cũng mang những nét khác biệt về chủ
đề, t- t-ởng, nội dung Điều đó cũng tạo nên sự khác biệt trong cách đặt tiêu
đề cho các truyện ngắn của ông Tuy nhiên, việc phân chia tiêu đề truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi theo nội dung ý nghĩa không phải là việc dễ dàng Mỗi tên gọi d-ờng nh- ấp ủ nhiều ý t-ởng Và cũng tại vì thế mà sự sắp xếp sau đây của chúng tôi cũng chỉ mang tính t-ơng đối
2.2.1 Loại tiêu đề - chủ đề
Chia làm hai loại nhỏ:
a Tiêu đề ôm gọn nội dung chủ chốt của tác phẩm
Bao gồm tiêu đề các truyện: - Làm việc
- Lao động quang vinh
Trang 31ở truyến ngãn ‚L¯m viếc ‛ ta gặp Cần - một tiểu đội tr-ởng bộ binh,
đúng nh- cái tên của anh, rất chăm chỉ học làm giáo án, làm động tác, làm chỉ huy, rất có ý thức trách nhiệm và cầu tiến Rồi các chiến sĩ: Hàm chín chắn,
Đ-ờng sôi nỗi, Vẽ xốc vác Những mẫu ng-ời trẻ măng, luôn hài lòng về cuộc
đội, nên rất dể yêu mệnh v¯ yêu tất c° chung quanh, yêu ‚²nh nãng chiễu trong mãt bò õng ²nh‛ v¯ ‚khi xung phong quê hương cðng đi theo.‛ V¯ tất c°
đều toát lên một tinh thần làm việc hăng say, nhiệt tình, sục sôi bầu nhiệt huyết
sự cảm nhận đúng đắn về cuộc đời, về con ng-ời trong tác phẩm của ông
Chàng h³n, ‚Quê hương ‛ kề vẹ sữ gặp gở cùa hai ngưội phũ nữ và nhân vật ‚tôi‛ trên cợng mốt chuyễn xe Hai ngưội phũ nừ kề cho nhau nghe chuyến chồng, chuyện con - toàn những chuyện riêng t- Nh-ng bao trùm lên tất cả là câu chuyện về quê h-ơng, họ gặp gỡ ở tình yêu quê h-ơng đất n-ớc khi còn giặc giã, còn chiến tranh Ba con ng-ời, ba cuộc đời khác nhau nh-ng ba tâm hồn ấy đều h-ớng về quê h-ơng Quê h-ơng không còn là quê riêng của mỗi ng-ời, là Hải Phòng hay Miền Trung xa xôi nữa mà là quê h-ơng Việt Nam:
Trang 32‚Đỗi vỡi quê hương, chị vẫn chưa hiều rỏ mặt mði cùa nó hình chữ S và dài hơn 2000 cây số nh- cô giáo xinh đẹp ngây thơ kia, nh- tôi biết, trong con ng-ời chị đang có rất nhiều những cái gì thân thuộc về quê h-ơng, những cái
gệ đấy m¯ tôi chưa hiều, chưa cõ dịp hiều ‛[ 21; T 45]
Nh- vậy, qua hai loại tiêu đề này ta có thể thấy đ-ợc cảm hứng chủ đạo trong mỗi truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi Đặc biệt, đối với những truyện có chủ đề không rõ ràng, rành mạch thì loại tiêu đề này giúp ng-ời đọc tiếp nhận đúng với ý t-ởng chính mà tác giả gửi gắm Điều đó cũng giủp cho ‚đố chênh ‛ vỗn cõ giừa ngưội s²ng t³o v¯ ngưội tiễp nhận đước giảm thiểu, đ-ợc rút ngắn
2.2.2 Loại tiêu đề - cảm ứng
Đây là loại tiêu đề không bao bọc ôm gọn nội dung tác phẩm mà là nh- một điểm tựa một niềm cảm hứng, niềm khơi gợi cho nhà văn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi cũng đã khéo léo sử dụng loại tiêu đề này để gửi gắm trong
đó niềm cảm hứng để ông viết nên tác phẩm của mình Có ba tiêu đề đ-ợc đặt theo loại này: Trăng sáng, Món quà Tết, Mùa xuân
‚Trăng s²ng ‛ l¯ mốt truyến tâm tình đầy chất thơ Một truyện không có chuyện, một bài thơ viết bằng ngôn từ, tập quán, phong cách của ng-ời và đất quê biển, rất đậm vị muối của tâm tình và tiềm thức, réo rắt nh- một câu hát
đồng quê D-ờng nh- con sông đã chia làng, chia xã thành bên ni, bên tê, nh-ng tình cảm của các nhân vật dành cho nhau vẫn dạt dào và vầng trâng sáng vẫn là của chung ánh trăng sáng trở đi trở lại trong tác phẩm nh- một
ám ảnh nghệ thuật, nh- một niềm cảm hứng làm nên mạch cảm xúc của tác phẩm:
-‚Trăng lên cao Mây trắng nh- có đọng n-ớc biển: cũng óng ánh, -ớt
át Tất cả không gian nh- là n-ớc, là biển, một mặt biển lớn lao hơn cả mặt biển bình th-ờng, con ng-ời đang bơi l-ợn trong ấy, nh- cá, quanh những sợi n-ớc trong vắt, thoải mái, vấn vít trên không trung Cả vòm trời chung có gì
Trang 33đâu là cách biệt ? Mặt biển cũng chung, ánh bụi bàng bạc từ Bắc về Nam
Đêm nay như mói đêm kh²c, c° xõm ch¯i đang ngọi nhện vẹ Nam ‛[ 21; 169]
Trong truyến ngãn ‚Mợa xuân‛ viễt năm 1966 – khi tác giả đã vào Nam chiến đấu và sáng tác, cảm hứng nghệ thuật đ-ợc bắt nguồn từ câu chuyện đi tòng quân của cô gái Chỉnh, lúc cả xóm cô đang chuẩn bị ăn Tết
Tổ du kích của cô ghi tên đi tòng quân đã lâu lắm rồi, nh-ng đến Tết năm ấy cô mới có tên trong danh sách lên đ-ờng chiến đấu Giữa lúc mùa xuân đang
đến gần, giữa lúc cái Tết sắp gõ cửa, cô vẫn lên đ-ờng Mùa xuân nh- gợi cho tác giả một cảm hứng, cảm hứng về niềm tin chiến thắng và một mùa xuân vui t-ơi tháng lợi
2.2.3 Loại tiêu đề - giới hạn
Trong 18 truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi còn có những tiêu đề có chức năng xác định phạm vi, khuôn khổ, làm thành đ-ờng viẹn, ‚đai‛ xung quanh t²c phẩm nõ như mốt tấm biền chì đưộng giủp cho ng-ời đọc khi tiếp nhận không v-ợt qua giới hạn đó Và từ đó có cái nhìn
đồng điệu hơn với cách cảm, cách nghĩ của ng-ời sáng tạo Đó là tiêu đề truyện ngắn: Một chuyến về phép, Chuyện xóm tôi, Mẹ vắng nhà
ở truyến ‚Mốt chuyễn vẹ phẽp‛, to¯n bố nối dung cùa nõ đước triền khai và xoay quanh chuyến về phép của cô gái ánh Tính cách, t- t-ởng, hành
động cũng nh- tình cảm của nhân vật chính đều đ-ợc thể hiện qua chuyến về phép của cô gái này Đó là một anh Kên – huênh hoang, ích kỉ, tuy không gây nguy hiểm gì đến xã hội nh-ng th-ờng vẫn làm hại đến cuộc sống bình th-ờng của những ng-ời xung quanh Đó là anh Ngô - thật thà chân thực, sẫn sàng quên mình giúp ng-ời khác , rất vô t- Chuyến về phép chỉ là một thời
đoạn để cho hai tính cách ấy đ-ợc thể hiện và đối lập nhau
Còn ‚Chuyến xõm tôi‛ l¯ chuyến gệ ? Đõ l¯ câu chuyến cùa c° xõm vúa
đánh giặc vừa chuẩn bị đón Tết, của hai chú bé mới 5 tuổi còn đái dầm và nói ngọng ; của cô gái Chỉnh càng lớn càng xinh và càng đánh giặc giỏi Điều
đặc biết l¯ đưộng viẹn cùa ‚Chuyến xõm tôi‛ đ± đước mờ rống trờ th¯nh
Trang 34chuyện của nhiều xóm, chuyện của cả Miền Nam Truyện toát lên chất hiện thực về Miền Nam thành đồng tổ quốc, căm thù giặc sâu sắc và yêu n-ớc nồng nàn
2.2.4 Loại tiêu đề nhân vật
Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi còn lấy nhân vật để đặt cho tên tác phẩm của mình Đó là các truyện: Cậu Huân, Đôi bạn, Hai cha con ng-ời chính uỷ, Những đứa con trong gia đình
Lấy tên nhân vật để đặt tên cho tác phẩm là nhà văn h-ớng ng-ời đọc một sự cảm nhận đúng đắn Đó là sự tập trung về những điều mà tác giả muốn gửi gắm Đó là câu chuyện về những nhân vật chính trong tác phẩm, qua nhân vật ta thấy đ-ợc chủ đề t- t-ởng mà nhà văn đã gói ghém, đã kí thác Tuy nhiên sự khái quát hiện thực trong các tiêu đề này đã giúp cho ng-ời đọc có
đ-ợc cảm nhận đúng đắn hơn, chân thực hơn, trọn vẹn hơn Câu chuyện của
‚Cậu Huân ‛ cðng l¯ câu chuyến cùa nhừng ngưội chiễn sĩ c²ch m³ng ho³t
đống bí mật Chuyến cùa ‚Hai cha con ngưội chính uự‛ l¯ câu chuyến vẹ tệnh gắn bó thân thiết nh- cha và con của Miền Nam và Miền Bắc
Nh- vậy, qua sự phân loại nh- trên, chúng ta đã thấy đ-ợc đặc điểm của tiêu đè truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi d-ới góc độ ngôn ngữ Nh-ng đâu chỉ riêng mình nhà văn này sử dụng những loại tiêu đề đó Điều
độc đáo về ngôn ngữ của tài năng Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi ở đây là gì?
Qua khảo sát, phân tích chúng tôi nhận thấy rằng nếu sắp xếp các tiêu
đề lại với nhau thì thấy đ-ợc một nội dung nghệ thuật nhất định: Quê h-ơng, Xuống núi, Về Nam, Ngày về, Một chuyến về phép Nó h-ớng ng-ời đọc
đến một sự trở về Nếu nh- Đỗ Lai Thuý đẫ từng đánh giá về tiêu đề thơ Nguyển Bính:‛ Nễu ta thụ lấy tiêu đẹ cùa thi nhân xễp l³i, ta sẻ mốt thử chệa kho² n¯o đấy đề hiều đước đống lữc s²ng t³o cùa nh¯ thơ‛ Thệ ta cðng ho¯n toàn có thể nói rằng: Nếu lấy tiêu đề truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi xếp lại ta sẽ thấy đ-ợc một chìa khoá - một chìa khoá mở ra một tâm hồn,
Trang 35một trái tim, một nguồn cảm hứng sáng tạo Đó là tâm hồn Nguyễn Ngọc Tấn
- Nguyễn Thi, là trái tim của một ng-ời chiến sĩ - nhà văn luôn h-ớng về Miềm Nam đang chìm trong tang tóc, đau th-ơng Điều này có lẽ không mới với các nhà văn, nhà thơ tập kết nh-ng nó có sức áp ảnh, một sức lay động lớn
đối với Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi Có cảm giác trong khi viết về những
sự kiện xảy ra ở miền Bắc, nhà văn này vẫn đang bị một lực hút hết sức mạnh
mẽ và đầy bí ẩn của một miền đất khác Miền đất ấy cố nhiên là Nam Bộ đang từng ngày từng giờ vẫy gọi ông về Bởi mảnh đất ấy có ng-ời vợ nguời con gái năm ngóng tháng chờ Bởi miền đất ấy đã nuôi d-ỡng tâm hồn ông thành một nhà văn, thành một ng-ời chiến sĩ Chỉ cần đọc và cảm nghĩ các tiêu đề truyện nhãn cùa ông cðng thấy đước điẹu đõ.‛ Quê hương ‛ l¯ mốt biều hiến cùa mốt sửc hủt,‛ Xuỗng nủi ‛ l¯ mốt kiều trờ vẹ,‛ Trăng s²ng ‛ l¯ trờ vẹ trong họi t-ởng và hoài niệm về ánh trăng trên bến Tha La ngày nào, ‚ L¯m viếc‛ hay ‚ Lao đống quang vinh‛ cðng l¯ vệ Miẹn nam, mong cõ ng¯y trờ vẹ ‚ Bên kia sông ‛ ruốt thịt ‚ Đôi b³n‛ cðng gặp gở nhau trong ng¯y trờ vẹ quê ăn Tễt, rọi sữ trờ vẹ đốt ngốt cùa‛ Cậu Huân ‛, cùa anh b³n cợng ‚ Mõn qu¯ Tễt ‚ Đõ không chỉ là tâm trạng của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi mà là của tất cả những ng-ời đang tập kết ở Bắc, đã từng sống và chiến đấu trên mảnh đất Miền Nam thành đồng Tổ Quốc
Để thấy đ-ợc sự lựa chọn ngôn ngữ độc đáo của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi trong việc đặt tiêu đề, chúng ta có thể so sánh với truyện ngắn của Anh Đức – một tác giả sống và sáng tác cùng thời với ông Không riêng gì Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi mà Anh Đức cũng đã khéo léo sử dụng tiêu
đề nh- một ph-ơng tiện tu từ diễn đạt những nội dung, ý nghĩa nhất định Trong 26 truyến ngãn (‚Tuyền tập Anh Đửc ‛, Tập 2, NXB Văn hóc, H.1997 )
đã khảo sát, chúng tôi nhận thấy: trong truyện ngắn của Anh Đức loại tiêu đề nhân vật và tiêu đề cảm hứng đ-ợc tác giả sử dụng rất nhiều lần:
- Loại tiêu đề nhân vật: Ng-ời đào hát, Ng-ời gác đèn biển, Đứa con, Con chị Lộc, Ng-ơì chơi đại hồ cầm, Ng-ời khách đến thăm v-ờn nhà tôi, Ng-ời về h-u.(7/26 truyện)
Trang 36- Loại tiêu đề cảm hứng: Bức tranh để lại, Khói, Đất, Xôn xao đồng n-ớc, Dòng sông tr-ớc mặt, Mùa gió, Giấc mơ giữa buổi bình yên, Tiếng nói, Miền sóng vỗ, Về mảnh v-ờn x-a (10/26 truyện)
Sở dĩ Anh Đức sử dụng nhiều hai loại tiêu đề này tr-ớc hết vì nó phù hợp với nội dung của mỗi truyện ngắn Truyện của Anh Đức giàu chất hiện thực, cốt truyện rõ ràng, rành mạch, cụ thể nên không cần thiết phải đặt tiêu
đề là loại ôm gọn chủ đề tác phẩm Qua những tiêu đề này Anh Đức chỉ muốn nhấn mạnh ng-ời đọc về những yếu tố đã làm nên chủ đề, t- t-ởng của tác phẩm: nhân vật, cảm hứng Đến l-ợt nó, cách đặt tiêu đề này lại trở thành một dấu ấn ngôn ngữ cho phong cách tác giả
Khác với Anh Đức, trong 18 truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi ta nhận thấy loại tiêu đề cảm hứng không nhiều mà nổi rõ nhất là sức tập trung lựa chọn của tác giả ở loại tiêu đề gợi mở chủ đề họăc định h-ớng nhân vật Sở dĩ có điều đó là vì truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi chủ yếu là những câu chuỵen tâm tình, không rõ cốt truyện, không rõ chủ đề Vì vậy loại tiêu đề trên giúp ng-ời đọc định h-ớng đúng, cảm nhận đúng nội dung t- t-ởng của tác phẩm Sự lựa chọn đó cũng góp phần làm nên phong cách ngôn ngữ riêng của Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
Ngôn ngữ là chất liệu, là ph-ong tiện mang tính đặc tr-ng của văn học Mỗi nhà văn đều sử dụng ngôn ngữ theo cách riêng của mình để diễn đạt những gì mình muốn chuyển tải đến cho ng-ơì đọc Là một cây bút tài năng Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyển Thi đ± khẽo lẽo dợng ‚tiêu đẹ‛ như mốt phương tiện tu từ dù không phải là ph-ơng tiện duy nhất để gửi gắm vào đó tâm hồn, tình cảm tài năng của mình
II Đặc điểm về từ ngữ
Ta biết rằng trong lao động nghệ thuật, mỗi nhà văn có cách tích luỹ ngôn ngữ và tiến hành sáng tác không ai giống ai Và bất cứ ng-ời nghệ sĩ nào muốn sáng tác đ-ợc những tác phẩm đích thực đều phải trải qua một quá trình nghiền ngẫm, ấp ủ ý đồ sáng tạo lựa chọn, trăn trở để thể hiện lên trang viết Nói nh- Maiacôpxki:
Trang 37‚Ph°i phí tỗn ng¯n cân quặng chừ
Mới thu về một chữ mà thôi
Những chữ ấy làm cho rung động
Triếu tr²i tim trong h¯ng triếu năm d¯i‛
Đề cõ túng ‚chừ‛ như thễ trong t²c phẩm rỏ r¯ng lao đống cùa ngưội nghệ sĩ ngôn từ là hết sức công phu, đòi hỏi tài năng, và tâm huyết thực sự
Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi là một cây bút tài năng có tâm huyết
và có trách nhiệm cao với ngòi bút của mình Trong các tác phẩm truyện ngắn,
ông đã thể hiện một vốn ngôn ngữ phong phú, sinh động và giàu giá trị nghệ thuật Chính sữ nhân thửc ‚ tợ ngừ l¯ nhừng hiếp sĩ trong đ³o quân không thề thay thễ đước‛ v¯ ‚ mổi tú đẹu cõ kh± năng ph²t đống mốt truộng liên tường rống lỡn‛ nên b´ng t¯i năng cùa mệnh ông đẫ khẽo lẽo sụ dũng vỗn tú vững đa dạng của tiếng việt để chuyển tải nội dung cần diễn đạt Ng-ời đọc nhận thấy trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi cả vốn từ láy phong phú, vốn
từ địa ph-ơng đa dạng, từ chỉ màu sắc, từ chỉ nghề nghiệp, thành ngữ Trong vốn
từ vựng của ông ta thấy đ-ợc có sự kế thừa ngôn ngữ dân gian truyền thống, ngôn ngữ truyền thống của nhân dân đồng bằng Nam Bộ và đồng thời có sự cách tân sáng tạo một cách hiện đại Khảo sát 18 truyện ngắn của ông chúng tôi nhận thấy rằng ngòi bút Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi có sự lựa chọn từ ngũ độc
đáo, từ đó là nên phong cách ngôn ngữ của mình Dấu vân tay của nhà văn để lại
rõ nét nhất qua hai lớp từ là từ láy và từ địa ph-ơng Hai lớp từ này đ-ợc xem
là dấu hiệu nổi bật thể hiện sự lựa chọn từ ngữ của nhà văn này Đó cũng chính là hai ph-ơng diện chính về từ vựng mà chúng tôi đi sâu nghiên cứu trong đặc điểm từ ngữ truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn - Nguyễn Thi
1 Từ láy
1.1 Khái niệm từ láy
Láy là một hiện t-ợng phong phú và đa dạng nh-ng cũng đầy phúc tạp Nghiên cứu hiện tựơng này quả là khó khăn nh-ng cũng đầy thú vị Từ láy tiếng Việt là đơn vị càng ngày càng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiền
Trang 38ng-ời Nó không những đ-ợc các nhà ngôn ngữ Việt Nam quan tâm mà còn
đ-ợc nhiều nhà ngôn ngữ trên thế giới bàn đến và đi sâu nghiên cứu trong một thời gian rất dài
Xung quang khái niệm và tên gọi từ láy, tr-ớc đây có nhiều quan niệm khác nhau Về tên gọi: Từ lấp láy, từ láy âm, từ trùng điệp, từ ngữ kép phân phức Còn về cơ chế cấu tạo có ba h-ớng quan niêm chính về từ láy:
a/ Coi láy là phụ tố:
Tiêu biểu cho quan niệm này là L Bloomfield trong công trình mang tên ‚Language‛ (1933): T²c gi° cho l²y l¯ phũ tỗ biều hiến ờ hệnh th²i cơ sờ
đ-ợc lặp lại trong từ láy
ở Việt Nam, Lê Văn Lý(1972) tuân theo quan điểm này, ông gọi từ láy l¯‛ tú ngừ kẽp phân phửc‛ Trong cuỗn ‚Sơ th°o ngừ ph²p Viết Nam‛, ông viêt: ‚l²y l¯ tú ngừ đước lặp đi lặp lại trong những yếu tố thành phần của chủng‛
b/ Coi láy là ghép:
Nguyển T¯i Cẩn(1975) cho r´ng: ‛tú lấy âm l¯ lo³i tú ghẽp trong đõ c²c yễu tỗ th¯nh tỗ trữc tiễp kễt hớp vỡi nhau chù yễu l¯ theo quan hế ngừ âm‛ Cùng quan niệm này còn có các tác giả nh- Tr-ơng Văn Chình, Nguyễn Hiến Lê Còn Nguyễn Văn Tu (1976) gọi chung những từ láy âm là từ ghép vì thực chất chúng đ-ợc tạo ra bởi một từ tố với bản thân nó
c/ Coi láy là sự hoà phối ngữ âm có giá trị biểu tr-ng hoá
Các nhà nghiên cứu: Trần Trọng Kim (1953), Đinh Trọng lạc (1964)
đẹu cho r´ng: ‚l²y l¯ sữ ho¯ phỗi ngừ âm ‚, trong hiến tướng l²y cõ sữ chi phỗi cùa ‚luật h¯i âm‛ v¯ ‚h¯i thanh‛
Ho¯ng Tuế (1978):‛ Nễu hiều r´ng l²y l¯ phương thửc cấu t³o nhừng tú
mà trong đó có một sự t-ơng quan âm nghĩa nhất định T-ơng quan ấy có tính chất tự nhiên, trực tiếp nh-ng t-ơng quan ấy tinh tế hơn nhiều và có thể nói là
đã đ-ợc cách điệu hoá Sự cách điệu ấy chính là sự biểu tr-ng hoá ngữ âm –
Trang 39mối t-ơng quan này tạo ra sắc thái biểu cảm, giá trị cùa tú l²y‛ V¯ cuỗi cợng cũng h-ởng ứng quan niệm: Láy là sự hoá phối ngữ âm có giá trị biểu tr-ng hoá Đây cũng là xu h-ớng chung phổ biến hiện nay của giới VIệt ngữ khi nghiên c-ú hiện tựơng láy của tiếng Việt
Khi thừ nhận nh- vậy cũng có nghĩa là chúng ta đã coi láy là một cơ chễ Theo gi²o sư Ho¯ng Văn H¯nh thệ ‚cơ trệnh cấu t³o tú l²y tiễng Viết chịu sữ chi phỗi cùa xu hưỡng ho¯ phỗi ngừ âm‛ Sữ phỗi hớp ngừ âm trong tú láy biểu hiện ở quy tắc điệp và đối Quy trình cấu tạo từ láy bằng cách nhân
đôi tiếng gốc th-o những quy tắc nhất định sao cho quan hệ giữa các tiếng trong từ vừa điệp vừa đối, hài hoà với nhau về âm, về ngữ, lại có giá trị biểu tr-ng hoá
Cũng theo Hoàng Văn Hành, hình vị cơ sở để nhân đôi gọi là tiếng gốc, còn tiếng mới xuất hiện trong quá trình ấy là tiếng láy Hệ quả của quá trình nhân đôi là tạo ra đ-ợc thế điệp giữa hai tiếng, hiêụ quả giữa sự biến đổi hoặc kết hợp ở tiếng lấy tạo ra thế đối Đồng thời với quá trình nhân đôi khi tạo ra tiếng láy cũng diễn ra qúa trình biến đổi và kết hợp ở những bộ phận nhất định trong tiếng láy, nhờ đó mà có thế đối bên cạnh thế điệp Với quan niệm nh- vậy gi²o sư Ho¯ng Văn H¯nh đ± kễt luận: ‚ Vỡi tư c²ch l¯ mốt phương thửc cấu tạo từ, cơ chế láy là một quá trình diễn ra nh-ng sự hoạt động của một hệ những quy tắc ngữ âm, ngữ nghĩa chi phối việc tạo ra những từ mà các tiếng của chúng vừa nằm trong thế điệp vừa nằm trong thế đối, nằm trong sự hoà phỗi ngừ âm v¯ nghia, cõ gi² trị biều trưng ho²’’
Đi theo quan niệm thứ ba, chúng tôi rút ra các kết luận nh- sau:
(1) Láy tuân theo quy tắc điệp và đối một cách triệt để, nhất quán:
- Nếu đã điệp âm đầu, vần, thanh điệu thì sẽ đối trọng âm
Ví dụ: xinh xinh, xanh xanh
- Nếu đã điệp âm đầu, vần thì có thể đối thanh:
Ví dụ: trăng trắng, đo đỏ
- Nếu đã điệp khuôn vần,thanh điệu thì có thể đối âm đầu:
Ví dụ: lơ ngơ, lúng túng
Trang 40- Nếu đã điệp âm đầu thì có thể đối vần và thanh điệu:
(3) Từ láy là sự hoà phối ngữ âm, có tính chất biểu tr-ng hoá ngữ âm của từ
Có thể thấy 3 cấp độ biểu tr-ng hoá ngữ âm trong vốn từ láy:
-Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm giản đơn: chính là ngôn ngữ láy mà chúng
ta quen gọi là từ t-ợng thanh, đó là những từ trực tiếp mô phỏng âm thanh tự nhiên
- Từ láy biểu tr-ng hoá ngữ âm cách điệu (có tiếng, hình vị gốc): đây là những từ quen gọi là từ t-ợng hình
- Từ láy vừa biểu tr-ng hoá ngữ âm vừa chuyên việt hoá về nghĩa: đây là những từ mà nghiã của nó có thể giải thích đ-ợc nhờ nghĩa của yếu tố gốc và cấu tạo của khuôn vần ( quen gọi là từ láy biểu thái)
Nh- vậy, qua tìm hiểu đặc điểm của từ láy ở trên chúng ta nhận thấy rằng, từ láy là một công cụ tạo hình đắc lực, hữu hiệu trong tác phẩm ngôn từ Mỗi tác phẩm thơ văn là một mảnh đất, trên đó từ láy đã tỏ rõ sức sống và vẻ
đẹp muôn màu của mình điều đó giải thích tại sao từ láy đ-ợc dùng với tần số rất cao trong tác phẩm văn học
Hiểu đ-ợc giá trị nhiều mặt của từ láy Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi đã rất có ý thức trong việc sử dụng từ láy và cũng đã khéo léo sử dụng từ láy một cách có hiệu quảđể diển tải những nội dung cảm xúc nhất định
1.2 Từ láy trong truyện ngắn Nguyễn Ngọc Tấn – Nguyễn Thi
Khảo sát 18 truyện ngắn của ông chúng tôi đã thống kê đ-ợc số lần xuất hiện của từ láy qua bảng sau: