Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Về "Một truyện chép ở bệnh viện" và "Biển xa" của Bùi Đức Ái của Thiếu Mai, Anh Đức với những truyện ngắn và bút ký xuất sắc của
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Trờng đại học vinh
phạm thị minh
Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ nổi bật
trong truyện ngắn Anh Đức
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám hiệu, Khoa sau Đại học Trường Đại học Vinh và các thầy cô giáo đã trực tiếng giảng dạy, hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy lớp Cao học Ngôn ngữ khóa 17 tại Trường Đại học Vinh.
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Thầy giáo hướng dẫn
PGS TS Hoàng Trọng Canh, người thầy đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ
tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Mặc dù có nhiều cố gắng nhưng luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Mong nhận được các ý kiến phê bình, góp ý của Hội đồng chấm luận văn tại Đại học Vinh, các thầy cô giáo và đồng nghiệp để công trình nghiên cứu được hoàn chỉnh hơn.
Vinh, tháng 12 năm 2011
Tác giả
Phạm Thị Minh
Trang 3MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Đối tượng nghiên cứu 4
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cái mới của đề tài 5
7 Cấu trúc luận văn 6
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỆN NGẮN VÀ TRUYỆN NGẮN ANH ĐỨC 7
1.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn 7
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn 7
1.1.2 Ngôn ngữ truyện ngắn 10
1 2 Vài nét giới thiệu về Anh Đức và truyện ngắn Anh Đức 16
1.2.1 Nhà văn Anh Đức 16
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác 17
1.2.3 Truyện ngắn Anh Đức 20
1.3 Tiểu kết chương 1 21
Chương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT VỀ TỪ NGỮ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ TRONG TRUYỆN NGẮN ANH ĐỨC .23
2.1 Từ ngữ trong truyện ngắn Anh Đức 23
2.1.1 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật và các hướng tiếp cận 23
2.1.2 Những đặc điểm nổi bật của từ ngữ trong truyện ngắn Anh Đức .26
Trang 42.1.2.1 Lớp từ láy 27 2.1.2.2 Lớp từ địa phương 32
Trang 52.1.2.3 Trường từ vựng chỉ không gian Nam Bộ trong truyện ngắn
Anh Đức 37
2.2 So sánh - một biện pháp tu từ nổi bật trong truyện ngắn Anh Đức .42
2.2.1 Khái niệm so sánh tu từ 42
2.3 Tiểu kết 50
Chương 3 ĐẶC ĐIỂM CÂU VĂN TRONG TRUYỆN NGẮN ANH ĐỨC .51
3.1 Khái niệm câu và đặc điểm của câu 51
3.1.1 Khái niệm câu 51
3.1.2 Đặc điểm của câu 52
3.1.3 Phân loại câu 52
3.2 Những đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa của câu văn trong truyện ngắn Anh Đức 53
3.2.1 Đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa của câu văn trong lời trần thuật .54
3.2.1.1 Đặc điểm cấu tạo của câu văn trong lời trần thuật của truyện ngắn Anh Đức 55
3.2.1.2 Đặc điểm ngữ nghĩa của câu văn trong lời trần thuật của truyện ngắn Anh Đức 63
3.2.2 Đặc điểm cấu tạo - ngữ nghĩa của câu văn trong lời thoại của truyện ngắn Anh Đức 67
3.3 Tiểu kết chương 3 73
KẾT LUẬN 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 77
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tăi
1.1 Văn học lă nghệ thuật ngôn từ - đó lă điều hiển nhiín, bất tất phảibăn cêi Do vậy, khi nghiín cứu câc hiện tượng văn học, người nghiín cứukhông thể không quan tđm đến mặt ngôn từ của tâc phẩm Qua hệ thống từngữ, cú phâp, biện phâp tu từ được sử dụng có tính lặp lại như một biểu hiệncủa tính lựa chọn trong hăng loạt tâc phẩm, ta có thể nhận ra đặc điểm phongcâch nghệ thuật của tâc giả đó Chính vì vậy, trong những năm gần đđy, việcnghiín cứu tâc phẩm văn học từ góc nhìn ngôn ngữ học căng ngăy căng thểhiện tính ưu việt của nó Đê có khâ nhiều công trình nghiín cứu về tâc phẩmvăn học nói chung, truyện ngắn nói riíng đi theo hướng nghiín cứu năy
1.3 Cùng thế hệ với Nguyễn Thi, Nguyễn Sâng, Nguyễn Trung Thănh,Anh Đức cũng lă một trong những nhă văn tiíu biểu thuộc thế hệ nhă văntrưởng thănh trong khâng chiến Sự nghiệp văn học của ông nằm trọn giữa haicuộc khâng chiến chống thực dđn Phâp vă đế quốc Mỹ Lă nhă văn có tđmhuyết, có ý thức rất cao về trâch nhiệm của người cầm bút, Anh Đức đê dănhhết cả tđm tư, tình cảm, tự nguyện đem sức lực, trí tuệ vă tăi năng của mình
để phụng sự nhđn dđn vă đất nước Vă minh chứng rõ nhất cho điều năy lẵng đê đóng góp cho nền văn học nước nhă nhiều tâc phẩm văn học có giâ trịnghệ thuật cao Cho đến nay, nhă văn Anh Đức vă tâc phẩm của ông đê giữmột vị trí quan trọng trong nền văn học Việt Nam hiện đại Đê có nhiều côngtrình nghiín cứu quan tđm đến câc tâc phẩm của ông Tuy nhiín, câc băi viết,câc công trình nghiín cứu về tâc phẩm của Anh Đức nói chung, truyện ngắncủa Anh Đức nói riíng phần lớn mới chỉ được đề cập dưới góc độ phí bình vă
lý luận văn học Do đó, chúng tôi thực hiện đề tăi năy với mong muốn gópthím một tiếng nói, một câch nhìn từ hướng nghiín cứu ngôn ngữ học để có
Trang 8cơ sở nhận biết, đánh giá những đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong truyện ngắnAnh Đức, qua đó, nhận diện phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Anh Đứcmột cách toàn diện hơn.
1.3 Trong những năm gần đây, truyện ngắn của Anh Đức đã được đưavào giảng dạy trong nhà trường Do vậy, qua nghiên cứu những đặc điểm nổibật trong truyện ngắn Anh Đức, chúng tôi mong muốn sẽ đóng góp thêmnguồn tư liệu phục vụ cho việc giảng dạy và học tập
Đó chính là những lí do cơ bản để chúng tôi lựa chọn đề tài: “Khảo sát đặc điểm ngôn ngữ nổi bật trong truyện ngắn Anh Đức”.
2 Lịch sử vấn đề
Anh Đức (tên thật là Bùi Đức Ái) được giới nghiên cứu chú ý từ năm
1952 với truyện ngắn đầu tay Chuyến lưới máu in cùng với 8 truyện ngắn khác trong tập Biển Động Trong đó, hầu hết các truyện đều viết về đề tài
chiến tranh du kích ở quê hương ông Tập truyện đã được tặng giải ba "Giảithưởng Cửu Long” Nhưng ông thực sự được giới nghiên cứu phê bình vănhọc đánh giá cao vào thời gian từ năm 1959 đến những năm đầu của thập kỷsáu mươi, đó là thời kỳ sáng tác của Anh Đức nở rộ thành công trên nhiềuphương diện ở nhiều thể loại khác nhau
Năm 1959, Anh Đức cho ra mắt độc giả tác phẩm Một truyện chép ở
bệnh viện với bút danh là tên thật của ông Đây là một bước đột phá trong
sáng tác của nhà văn Tác phẩm được dịch ra nhiều thứ tiếng trên thế giới:tiếng Nhật, tiếng Hungary, tiếng Ucraina … Và hai năm sau khi ra đời, tiểu
thuyết này được chuyển tải thành phim Chị Tư Hậu Qua tác phẩm này, Anh
Đức đã đưa đến cho văn xuôi đương thời một giọng điệu, một tiếng nói nghệthuật mới
Đầu năm 1962, Bùi Đức Ái lên đường trở về quê hương miền Nam
Từ đây nhà văn lấy bút danh là Anh Đức Thời gian này, nhà văn đã sáng tác
Trang 9nhiều tác phẩm nổi bật như Hòn đất (1965) và một loạt truyện ngắn đặc sắc
khác Cũng từ đó đến nay đã có hàng trăm công trình nghiên cứu về tácphẩm Anh Đức với quy mô, mức độ, hình thức khác nhau: sách, tiểu luậnkhoa học, các bài báo, giáo trình, luận văn tốt nghiệp trong các trường đại
học Có thể kể đến một số công trình nghiên cứu tiêu biểu như: Về "Một
truyện chép ở bệnh viện" và "Biển xa" của Bùi Đức Ái của Thiếu Mai, Anh Đức với những truyện ngắn và bút ký xuất sắc của anh của Diệp Minh Tuyền,
"Hòn đất" - một bức tranh chân thật về giai đoạn đầu chống Mĩ ở miền Nam
của Phan Nhân, Đọc "Bức thư Cà Mau" của Anh Đức của Xuân Trường, "Hòn
Đất" của Anh Đức của Hà Minh Đức, Hình tượng người phụ nữ Miền Nam trong tiểu thuyết "Hòn đất" của Anh Đức của Phan Cự Đệ, Một bức tranh chân thật về giai đoạn đầu chống Mỹ cứu nước ở Miền Nam của Phan Nhân, Hòn đất Hòn Ngọc của Hoài Thanh, Anh Đức - vài cảm nghĩ của Phạm Văn
Sĩ, Phong cách trữ tình trong sáng tác của Anh Đức của Chu Nga,… Ngoài
ra, còn có khá nhiều các công trình luận văn của sinh viên, học viên cao học
nghiên cứu về tác phẩm của Anh Đức như Những đặc điểm cơ bản trong
truyện ngắn Anh Đức của Lương Thị Thu Thuỷ (khóa luận tốt nghiệp, Đại
học Vinh, 2000); Cảm hứng sử thi trong sáng tác của Anh Đức của Nguyễn Đình Cơ (khóa luận tốt nghiệp, Đại học Vinh, 2002), Nhân vật phản diện
trong sáng tác của Anh Đức của Hoàng Thị Hiền (khóa luận tốt nghiệp, Đại
học Vinh, 2005)
Có thể nói, các chuyên luận, khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu về các tácphẩm của Anh Đức mà chúng tôi điểm qua ở trên chủ yếu nghiên cứu các tácphẩm của ông dưới góc nhìn lý luận và phê bình văn học Chỉ có hai côngtrình của Phạm Văn Sĩ và Diệp Minh Tuyền đã có những đánh giá khá toàndiện về tác phẩm của Anh Đức ở nhiều thể loại và bước đầu quan tâm đếnngôn ngữ trong truyện ngắn Anh Đức
Trang 10Diệp Minh Tuyền đã có nhận xét rất đích đáng về ngôn ngữ truyện
ngắn Anh Đức: Ngôn ngữ của Anh Đức trong sáng chính xác, chứng tỏ
rằng nó đã được chau chuốt cẩn thận, đó là điều mà mỗi nhà văn, nhất là những nhà văn trẻ như anh phải bền bỉ thực hiện một cách nghiêm túc Đặc biệt, Anh Đức đã khéo léo sử dụng ngôn ngữ địa phương Nam Bộ, những từ trong ngôn ngữ địa phương nam bộ trong tác phẩm của anh được dùng ở mức độ cần thiết và những từ ấy thường là những từ mà không thể có từ nào khác diễn đạt một cách thành công cái điều mà anh muốn nói [38 ; 251].
Phạm Văn Sĩ trong Anh Đức - vài cảm nghĩ cũng có những phát hiện tinh tế về cách sử dụng ngôn ngữ của Anh Đức: Anh Đức nói chuyện thời sự
vào nói có duyên, hấp dẫn Trong nhiều bài ký anh tận dụng lối kể chuyện kết hợp với mô tả, kết hợp với những phát biểu chính luận, với những liên hệ trữ tình, sự kết hợp đó làm cho những câu chuyện và hình ảnh con người trong ký của Anh Đức trở nên sinh động trước mắt người đọc [ 38; 257].
Ngoài ra, còn có một số bài viết khác cũng đề cập đến đặc điểm ngônngữ trong một số tác phẩm của Anh Đức nhưng chỉ mới dừng lại ở nhữngnhận xét rất chung chung Truyện ngắn được xem là thể loại mang lại nhiềuthành công cho Anh Đức Nhưng cho đến nay, vẫn chưa có công trình nào đisâu nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ trong các sáng tác của Anh Đức nói chung
và ở thể loại truyện ngắn của ông nói riêng Với những lý do trên, cùng vớilòng yêu mến Anh Đức và tài năng của ông, chúng tôi chọn đề tài này nhằmđưa đến một cách tiếp cận truyện ngắn Anh Đức mới mẻ hơn, qua đó thấyđược những đóng góp của ông cho thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại
3 Đối tượng nghiên cứu
Anh Đức không chỉ sáng tác truyện ngắn mà còn tiểu thuyết, truyện ký
ở thể loại nào Anh Đức cũng khẳng định được vị trí của mình Trong luận văn
Trang 11này chúng tôi chỉ đi vào nghiên cứu thể loại truyện ngắn của Anh Đức bao
gồm 26 truyện ngắn trong cả hai thời kỳ sáng tác được in trong Tuyển tập
Anh Đức (2 tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997).
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện đề tài này, chúng tôi đặt ra nhiệm vụ khảo sát, thống kê cứliệu ngôn ngữ là phương tiện mà nhà văn lựa chọn, qua đó, tìm hiểu giá trị nộidung truyện ngắn của ông được biểu hiện thông qua các phương tiện biểu đạttiêu biểu nhất Phân tích, miêu tả những phương tiện này nhằm rút ra các đặcđiểm ngôn ngữ nổi bật trong truyện ngắn của ông Đồng thời phân tích sosánh và rút ra đặc điểm phong cách nhà văn được thể hiện qua các truyệnngắn của ông
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng các phương pháp, thủ phápnghiên cứu:
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp miêu tả
- Thủ pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
6 Cái mới của đề tài
Đây là đề tài đầu tiên tìm hiểu một cách tương đối toàn diện và sâusắc các đặc trưng ngôn ngữ nổi bật trong truyện ngắn Anh Đức, từ đó nhậndiện đặc điểm phong cách của tác giả và góp phần xác lập những căn cứ đểđánh giá những đóng góp của Anh Đức cho thể loại truyện ngắn Việt Namhiện đại
Trang 127 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và thư mục tài liệu tham khảo, luận vănđược triển khai qua ba chương:
Chương 1 Giới thuyết chung về vấn đề truyện ngắn và truyện ngắn
của Anh ĐứcChương 2 Những đặc điểm nổi bật về từ ngữ và biện pháp tu từ trong
truyện ngắn Anh ĐứcChương 3 Đặc điểm câu văn trong truyện ngắn Anh Đức
Trang 13Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ GIỚI THUYẾT CHUNG VỀ TRUYỆN NGẮN
VÀ TRUYỆN NGẮN ANH ĐỨC
1.1 Truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm truyện ngắn
Cho đến nay, ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài, xung quanh khái
niệm truyện ngắn vẫn còn có nhiều quan niệm khác nhau Nhưng tựu chung
lại, các ý kiến tranh luận cũng đều nhằm mục đích làm rõ khái niệm truyệnngắn và chỉ ra những đặc điểm nổi bật nhất của thể loại này Là một thể loại
có số lượng tác phẩm hết sức đa dạng và phong phú, truyện ngắn nhận đượcrất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, người phê bình Do đó, truyệnngắn được rất nhiều người nghiên cứu với những cách tiếp cận từ nhiều góc
độ khác nhau
Bàn về truyện ngắn, Giáo sư văn học người Pháp D.Gronopxki viết:
"Truyện ngắn là một thể loại muôn hình muôn vẻ và biến đổi khôn cùng Nó
là một vật biến hóa như quả chanh của lọ lem Biến hóa về khuôn khổ: badòng hoặc ba mươi trang biến hóa về kiểu loại tính chất: Trào phúng, kỳ ảo,hướng về biến cố thật hay tưởng tượng hiện thực hoặc phóng túng Biến hóa
về nội dung: thay đổi vô cùng vô tận, muốn có chất liệu để kể cần có một cái
gì đó xảy ra, dù đó là một sự thay đổi thiết yếu về sự cân bằng về các mốiquan hệ Trong thế giới của truyện ngắn, cái gì cũng thành biến cố Thậm chíchịu sự thiếu vắng tình tiết diễn biến cũng gây hậu quả vì nó làm cho sự chờđợi bị hụt hẫng" [27 ; 11-12]
Pautotxky, một nhà văn Nga cho rằng: "Thực chất truyện ngắn là gì ?Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó có cái khôngbình thường hiện ra như một cái bình thường và cái gì bình thường hiện ra
như một cái gì không bình thường" [27 ; 12].
Trang 14Ở Việt Nam, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã giải thích khái niệmtruyện ngắn như sau: "Trước hết ta nên phân biệt thế nào là truyện ngắn thếnào là truyện dài, loại viết theo nghệ thuật Âu Tây là loại mới có trong vănhọc Việt Nam, từ ngày ta chịu sự ảnh hưởng của văn học Pháp Ngày xưa ta
chỉ có truyện kể bằng miệng hoặc viết bằng văn vần Những truyện Muỗi nhà,
Muỗi đồng; Hai ông phật cãi nhau trong Thánh tông di thảo là viết theo nghệ
thuật Á Đông Hoàng lê nhất thống chí là lịch sử ký sự, chứ không phải là
lịch sử tiểu thuyết Cho nên loại truyện viết theo nghệ thuật Âu Tây ta theoTrung Quốc gọi là Tiểu Thuyết, và cái nào viết vài trang gọi là đoản thiên, cáinào viết hàng trăm trang gọi là trường thiên tiểu thuyết Năm 1932, báo
"Phong hóa” dịch đoản thiên tiểu thuyết ra tiếng ta gọi là truyện ngắn Rồi từ
đó, trường thiên tiểu thuyết gọi là truyện dài và trung thiên tiểu thuyết gọi làtruyện vừa" [27 ; 12]
Trong Từ điển văn học, khái niệm truyện ngắn được giải thích là: hình
thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung lượng nhỏ hơn,tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy
ra trong giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó củatính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Cốt truyệnthường diễn ra trong một không gian thời gian hạn chế Kết cấu của truyệnngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn được viết ra đểtiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn
là tính ngắn gọn Để thể hiện nổi bật tư tưởng, chủ đề, khắc họa nét tính cáchnhân vật Viết truyện ngắn phải có trình độ điêu luyện, viết mạnh dạn gọt tỉa vàdồn nén Do đó, trong khuôn khổ ngắn gọn, những truyện ngắn thành công cóthể biểu hiện được những vấn đề xã hội có tầm khái quát rộng lớn
Trong 150 thuật ngữ văn học, khái niệm truyện ngắn cũng được giải
thích tương tự như trên: "truyện ngắn là một thể loại của tác phẩm tự sự cỡ
Trang 15nhỏ, thường được viết bằng văn xuôi, đề cập hầu hết các phương diện của đờisống con người và xã hội Nét nổi bật của truyện ngắn là sự giới hạn về dunglượng, tác phẩm truyện ngắn thích hợp với người tiếp nhận (độc giả) đọc nóliền một mạch không nghỉ" [1; 345].
Tuy nhiên, cần phải thấy được rằng, mức độ dài ngắn chưa phải là đặcđiểm chủ yếu phân biệt truyện ngắn với các hình thức tự sự khác Trong vănhọc hiện đại có nhiều tác phẩm rất ngắn nhưng thực chất là những truyện dàiviết ngắn lại Truyện ngắn thời trung đại cũng ngắn nhưng cũng rất gần vớitruyện vừa Các hình thức truyện kể về dân gian rất ngắn gọn như cổ tích,truyện cười, giai thoại… lại càng không phải là truyện ngắn Truyện ngắnhiện đại thể hiện một kiểu tư duy mới, một cách nhìn vấn đề, một cách nắmbắt đời sống rất riêng mang tính chất đặc thù Do vậy, khái niệm truyện ngắnđược hiểu theo đúng nghĩa của nó xuất hiện tương đối muộn trong lịch sửvăn học
Cốt truyện của truyện ngắn thường diễn ra trong một không gian, thờigian hạn chế, chức năng của nó thường là giúp người đọc nhận ra một điều gì
đó sâu sắc về cuộc đời và tình người Kết cấu của truyện ngắn không chiathành nhiều tầng, nhiều tuyến mà thường được xây dựng theo nguyên tắctương phản hoặc liên tưởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn thường làchấm phá Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết côđúc, có ý nghĩa hàm súc, có khả năng lay động mạnh mẽ đến người đọc và lốihành văn mang nhiều ẩn ý tạo cho tác phẩm nhiều chiều sâu chưa nói hết Vìvậy mà mỗi nhà văn khi cầm bút viết truyện ngắn phải có sự cân nhắc, lựachọn từng chi tiết để có những trang văn giàu giá trị nghệ thuật
Với tư cách là một thể tài tự sự, truyện ngắn hiện đại cũng như truyệnvừa, truyện dài, hiện đại đều ít nhiều mang đặc tính của tư duy tiểu thuyết (sựtiếp nhận cái thực tại đương thành; vai trò của hư cấu tự do; các kinh nghiệm
Trang 16sống trực tiếp của tác giả) Tuy vậy, khác với truyện vừa và truyện dài - vốn
là những thể tài mà quy mô cho phép chiếm lĩnh đời sống trong sự toàn vẹnđầy đặn của nó - truyện ngắn thường nhằm khắc họa một hiện tượng, một đặctính trong quan hệ con người hay đời sống tâm hồn con người Truyện ngắnthường ít nhân vật, ít sự kiện chồng chéo Nhân vật truyện ngắn ít khi trởthành một thế giới hoàn chỉnh, một tính cách đầy đặn, thường khi là hiện thâncho một trạng thái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái phụ thuộc vàocon người Chi tiết và lời văn là những yếu tố quan trọng cho nghệ thuật viếttruyện ngắn Người viết truyện ngắn cũng đặc biệt chú ý khai thác và xử lýcách kể chuyện nhằm mang lại hiệu quả cao nhất có thể
Từ những định nghĩa và phân tích ở trên, chúng tôi rút ra những đặcđiểm chính của thể loại truyện ngắn như sau:
Thứ nhất, truyện ngắn là một thể tài tự sự cỡ nhỏ Nhỏ ở đây có nghĩa
là ngắn gọn, cô đọng, hàm súc, tinh lọc Dung lượng của một truyện ngắnthường là vài trang hoặc vài chục trang, một câu chuyện phải được kể nghệthuật nhưng không được phép kể dài dòng Câu chuyện có sức ám ảnh, tạo ranhững ấn tượng mạnh mẽ và sự liên tưởng thú vị ở người đọc
Thứ hai, tính quy định về dung lượng và cốt truyện làm cho truyệnngắn chỉ tập trung vào một vài biến cố, mặt nào đó của đời sống, các sự kiệntập trung trong một không gian thời gian nhất định
Thứ ba, nhân vật truyện ngắn thường được thể hiện một trạng thái tinhthần nhất định của con người thời đại
Thứ tư, chi tiết và lời văn là những yếu tố đóng vai trò đặc biệt quantrọng, nhất là những chi tiết mang tính biểu tượng
1.1.2 Ngôn ngữ truyện ngắn
Một nhà văn đích thực là nhà văn luôn phải ý thức về mình như mộtnhà ngôn ngữ bởi ngôn ngữ là chất liệu để sáng tác, là phương tiện bắt buộc
Trang 17để họ giao tiếp với bạn đọc Đối với văn chương, ngôn ngữ không chỉ là công
cụ của tư duy mà còn là nơi bộc lộ tài năng, cá tính và quan điểm nghệ thuật,phong cách nghệ thuật của nhà văn Thông qua lăng kính ngôn ngữ, nhà vănbộc lộ cảm xúc, tư tưởng, tài năng và sức sáng tạo của mình Ngôn ngữ vănhọc thể hiện đặc điểm tư duy nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của nhàvăn, vừa có tính trực giác, tính cá thể, vì vậy M.Gorki (1868-1936) đã gọingôn ngữ là yếu tố thứ nhất của văn học
Cũng giống như tiểu thuyết, truyện ngắn hướng đến tái hiện cuộc sốngđương thời Nội dung thể loại truyện ngắn hết sức đa dạng: đời tư, thế sự, hay
sử thi, Cái độc đáo của truyện ngắn không phải là vì "truyện" của nó
"ngắn" mà vì cách nắm bắt cuộc sống của thể loại Tác giả truyện ngắnthường hướng tới khắc hoạ một hiện tượng, phát hiện một nét bản chất trongquan hệ nhân sinh hay đời sống tâm hồn một con người
Là một thể loại tự sự có dung lượng nhỏ, truyện ngắn đòi hỏi người
sáng tác phải lựa chọn nghiêm ngặt chất liệu ngôn ngữ Trong Sổ tay ngôn
ngữ, Vương Trí Nhàn đã khẳng định: "truyện ngắn là nơi ta có thể tìm phong
cách cho mình Truyện ngắn đòi hỏi hoàn thiện Ở đây, ta được rèn luyện đến
từng dấu phẩy" K Pauxtopxki cũng đã từng có ý kiến nhận định tương tự
như vậy: "Mỗi nhà văn, kể cả những người muốn viết truyện ngắn một cáchhoàn toàn thoải mái, đều không khỏi có lúc phải nghĩ về những nguyên tắc sắt
đá, những "qui luật vàng” được viết trong các sách giáo khoa văn học Nhữngqui luật đó cố nhiên rất hay Chúng buộc những ý tưởng còn lờ mờ trong đầu
óc nhà văn phải cập bến những ý đồ chính xác và sau đó, nhịp nhàng đi tớinhững khâu cuối cùng, tới sự hoàn thiện của tác phẩm, cũng như con sông
mang nước của mình tới biển” [Dẫn theo Đỗ Ngọc Thạch, Truyện ngắn - đặc
trưng thể loại, vandanviet.net] Ở truyện ngắn, mỗi câu chữ, mỗi dấu chấm
phẩy đều phải được chọn lọc tới mức tinh xảo, hoàn mỹ Ngôn ngữ của truyện
Trang 18ngắn phải là thứ ngôn ngữ kim cương tuân theo những "Quy luật vàng” khắc
nghiệt Cho nên ta sẽ dễ dàng tìm thấy không ít những ý kiến về đặc trưng củathể loại truyện ngắn gần với quan niệm trên Chẳng hạn như: "Trong các thểloại văn chương, truyện ngắn đóng vai trò hổ báo trong đại gia đình các loàivật Ở loài thú dữ này, không được có chút mỡ thừa dính vào mọi cơ bắp, nếukhông chúng không thể săn mồi được Ngắn gọn là qui luật của việc cấu tạotruyện ngắn Nhờ có khả năng phản ánh hành động một cách ngắn gọn, truyệnngắn có khi còn có thể đạt tới trình độ anh hùng ca và đó là cả một bí mật của
nó” (Hoan Bốtsơ nhà văn Đức) [Dẫn theo Đỗ Ngọc Thạch, Truyện ngắn
-đặc trưng thể loại, vandanviet.net] Nhà văn khi sáng tác truyện ngắn phải lựa
chọn ngôn từ một cách công phu để lột tả được tính cách của nhân vật, bảnchất của hiện tượng đời sống được nói tới Đồng thời, với dung lượng ngắnnhư vậy, việc lựa chọn ngôn từ cũng là công việc rất quan trọng để nhà vănbộc lộ những dấu ấn riêng trong tác phẩm của mình
Như chúng ta đã biết, truyện ngắn thường không nhằm tới việc khắchoạ những tính cách điển hình có cá tính đầy đặn và nhiều mặt trong tươngquan với hoàn cảnh Nhân vật truyện ngắn thường là hiện thân cho một trạngthái quan hệ xã hội, ý thức xã hội hoặc trạng thái tồn tại của con người Do
đó, truyện ngắn có thể mở rộng diện nắm bắt các kiểu loại nhân vật đa dạngcủa cuộc sống Để miêu tả thật chân xác các nhân vật này, nhà văn thườngphải có sự am tường về ngôn ngữ của con người thuộc các thành phần xuấtthân khác nhau với các kiểu tính cách khác nhau để nhân vật của mình đượcnói lên tiếng nói của chính nó Chính vì vậy, truyện ngắn có thể dung nạptrong nó nhiều loại ngôn ngữ, từ ngôn ngữ văn chương, bác học đến thứ ngônngữ sinh hoạt, ngôn ngữ chợ búa, tiếng lóng, tiếng chửi, Có thể nói, truyệnngắn là thể loại cho phép dung chứa nhiều phong cách ngôn ngữ khác nhau,nhiều giọng điệu khác nhau
Trang 19Với truyện ngắn, cách kể truyện, cách trần thuật có ý nghĩa rất quantrọng Trần thuật trong truyện ngắn phải khắc phục được dung lượng ngôn từhạn chế của thể loại Nhà văn khi viết truyện ngắn không chỉ phải nghĩ đếnmình cần viết cái gì mà quan trọng hơn là viết như thế nào Trong khuôn khổhạn định của câu chữ, nhà văn phải không ngừng sáng tạo để tìm tòi các hìnhthức, các biện pháp trần thuật để chứng tỏ tài năng của mình Do đó, ngônngữ trần thuật của truyện ngắn thể hiện khá rõ những đặc điểm phong cáchcủa nhà văn.
Cũng do dung lượng ngắn nên câu văn và từ ngữ trong truyện ngắnthường gọn gàng, giản dị, sáng rõ, "ít trang sức và độ "đục mờ" làm cho tiết
độ trần thuật nói chung "nhanh" hơn tiểu thuyết" [34 ; 199]
Hướng đến khắc hoạ một hiện tượng trong đời sống, một lát cắt củacuộc đời con người nên ngôn ngữ truyện ngắn gần gũi với ngôn ngữ của đờisống hàng ngày Trong lịch sử văn học Việt Nam, đầu thế kỉ XX, có khánhiều những truyện ngắn được viết bởi những câu văn biền ngẫu réo rắt, dudương, nhịp nhàng như truyện ngắn của Phạm Duy Tốn, Nguyễn ThiệnThuật, Hoàng Ngọc Phách, Tuy nhiên, những tác phẩm truyện ngắn viếttheo phong cách này ít nhiều đều bị lãng quên theo thời gian Rất ít truyệnngắn viết theo phong cách này để lại được dấu ấn trong lịch sử văn học Ngay
cả trong những năm kháng chiến chống Pháp và chống Mĩ, cảm hứng chínhtrong văn học là cảm hứng sử thi lãng mạn thì ngôn ngữ truyện ngắn vẫn gầngũi với ngôn ngữ thường ngày Trong những năm gần đây, cảm hứng thế sựtrở thành cảm hứng chính trong đời sống văn học, nó đòi hỏi nhà văn phải tìmđến thứ ngôn ngữ góc cạnh nhiều sắc thái đời thường Khát vọng diễn đạt cáiđời thường chân chất của cuộc sống phức tạp, đa chiều - nơi con người lànhững cá nhân riêng biệt không ngừng tiếp diễn, đòi hỏi ở nhà văn một nhãnquan ngôn ngữ mới Tất nhiên, sắc thái đời thường trong ngôn ngữ trong mỗi
Trang 20giai đoạn văn học được thể hiện một cách khác nhau, với độ đậm nhạt khác
nhau Trong bài viết Thời hiện tại chưa hoàn thành của truyện ngắn, tác giả
Lê Lưu Oanh đã nhận xét: ""Ngôn ngữ đời thường" là kết quả của việc "tiếpxúc trực tiếp" với hiện thực", góp phần giải phóng truyện khỏi tất cả những gì
"ước lệ, khô cứng (Bakhtin)" [33 ; 377]
So với ngôn ngữ thơ, ngôn ngữ văn xuôi nói chung, ngôn ngữ truyệnngắn nói riêng có nhiều điểm khác biệt Nếu ngôn ngữ văn xuôi được nhà văn
tổ chức một cách đầy đặn để diễn đạt đúng nội dung mà họ hướng tới thì ngônngữ thơ lại được nhà thơ tổ chức một cách ngắn gọn để đạt được độ hàm súc,gợi mở cao Theo Jakobson, “ngôn ngữ nói chung và văn xuôi nói riêng nhằmphục vụ một đối tượng trong đời sống hàng ngày Thơ trái lại là một ngôn ngữ
tự lấy mình làm đối tượng” [40; 16] Tác giả Nguyễn Phan Cảnh trong cuốn
Ngôn ngữ thơ (Nxb Văn hóa thông tin, 2000) cũng đã phân biệt ngôn ngữ thơ
và ngôn ngữ tác phẩm tự sự, trong đó có truyện ngắn ở cách nhà thơ tư duytrên chất liệu ngôn ngữ: “Nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ một cách kháđặc thù: hình thành các hệ hình…, từ hệ hình xây dựng các phương trình…,
rồi biến phương trình thành các triết đoạn"’ [55] Do cách tư duy đặc biệt ấy
nên ngôn ngữ thơ và ngôn ngữ văn xuôi có sự khác biệt Tác giả viết: “Để cóthể giao tế, chúng ta không được để xuất hiện ở những thời điểm sát nhaunhững định vị trong cùng một hệ hình… Đấy chính là nguyên lí làm việc củavăn xuôi” [51], tức là trong văn xuôi, lặp lại là điều tối kị và phương trình
không được dùng để xây dựng các thông báo” Nhưng “chính cái điều mà văn
xuôi rất kị ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính tương đươngcủa các đơn vị ngôn ngữ lại được dùng để xây dựng các thông báo [52] Nhưvậy, sự khác biệt của ngôn ngữ văn xuôi (trong đó có truyện ngắn) và ngônngữ thơ được thể hiện ngay qua cách nhà thơ tư duy trên chất liệu ngôn ngữ
Trang 21Như chúng ta đã biết, trong hoạt động hành chức, ngôn ngữ có rấtnhiều cách tổ chức Mô hình kết hợp và kiểu kết cấu ngữ pháp của nó vì thếcũng rất đa dạng Tuy nhiên, trong sự đa dạng ấy, ở bất kì ngôn ngữ nàochúng ta cũng có thể tìm thấy những hình thức tổ chức phổ biến, quen thuộc
và những hình thức tổ chức không phổ biến, có phần mới lạ, độc đáo Trong
đó, nếu ngôn ngữ thơ thường khai thác những kết hợp độc đáo, bất ngờ,những cách tổ chức ngôn từ mới lạ thì ngôn ngữ giao tiếp thông thường vàngôn ngữ trong tác phẩm tự sự, trong đó có truyện ngắn thường sử dụngnhững mô hình tổ chức thông dụng phổ biến Mặc dù trong văn học nghệthuật, khi lấy ngôn ngữ làm chất liệu để sáng tác, người cầm bút bao giờ cũng
cố gắng tạo ra tính thẩm mĩ, giá trị nghệ thuật cho ngôn từ nhưng so với tácphẩm tự sự, tác phẩm thơ bao giờ cũng là lĩnh vực dung chứa nhiều hơn cảnhững kết hợp lạ, những hình thức cú pháp độc đáo Sở dĩ có hiện tượng này
là vì trong tác phẩm tự sự, nhà văn luôn hướng đến “viết câu chuyện” chứkhông phải là “kể câu chuyện”, họ không lấy ngôn từ làm cứu cánh Nếukhông tạo được nét độc đáo trong cách sử dụng ngôn từ thì nhà vẫn có thể tạo
ấn tượng thẩm mĩ cho người đọc bằng cách tạo nên sự hấp dẫn trong cách tổchức câu chuyện, tình huống truyện, các chi tiết nghệ thuật…Trong khi đó,thơ là loại hình lấy ngôn ngữ làm phương tiện và cũng là cứu cánh nên nhàthơ thường chú ý sử dụng các cách tổ chức ngôn từ độc đáo để khai thác tối
đa giá trị thẩm mĩ của ngôn từ khiến cho người đọc không bị “trượt” qua câuthơ, bài thơ một cách “hờ hững”
Trong tác phẩm thơ, dường như chỉ có một loại ngôn ngữ duy nhất - đó
là ngôn ngữ của nhân vật trữ tình, trái lại, đối với truyện ngắn, ngôn ngữ chứađựng nhiều tiếng nói Chen với tiếng nói của tác giả là tiếng nói của người kểtruyện, tiếng nói của nhà văn Do vậy, trong ngôn ngữ văn xuôi, đặc biệt là ởtruyện ngắn, tính đa thanh, đa giọng điệu hiện lên rất rõ nét
Trang 22Tóm lại, qua tìm hiểu về truyện ngắn và ngôn ngữ truyện ngắn, chúngtôi thấy, truyện ngắn là thể loại tự sự có dung lượng nhỏ, tập trung mô tả mộtmảnh của cuộc sống, một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong giai đoạnnào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhânvật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội Ngôn ngữ truyện ngắnthường được lựa chọn một cách nghiêm ngặt, được tổ chức một cách đầy đặn,gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, mang tính đa thanh, đa giọng điệu mộtcách rõ nét.
1 2 Vài nét giới thiệu về Anh Đức và truyện ngắn Anh Đức
1.2.1 Nhà văn Anh Đức
Nhà văn Anh Đức tên thật là Bùi Đức Ái, sinh ngày 5 tháng 5 năm
1935 tại xã Bình Hòa, tỉnh An Giang
Anh Đức sinh ra lớn lên trong một gia đình có truyền thống cách mạng.Năm 1945 cha, mẹ, anh chị đều tham gia khởi nghĩa cướp chính quyền Anhtrai chiến đấu hy sinh trong cuộc kháng chiến Nam Bộ Bản thân ông cũngtham gia kháng chiến chống Pháp từ lúc còn nhỏ Năm 1947, phần lớn ônglàm việc trong các cơ quan tuyên truyền, báo chí, văn nghệ Chính nơi đây đãgiúp ngòi bút Anh Đức nhanh chóng trưởng thành Từ một người thiếu niên,được tôi luyện trong chiến tranh, Anh Đức đã trở thành người chiến sĩ cáchmạng thực thụ, đồng thời, cũng trở thành một nhà văn được nhiều người biết
đến Năm 1952, với tám truyện ngắn đầu tiên lấy tên là Biển động, Anh Đức
đã vinh dự nhận được giải thưởng "Cửu Long" - giải thưởng do ủy ban khángchiến hành chính và chi hội văn nghệ Nam Bộ tổ chức
Năm 1954, Anh Đức tập kết ra Miền Bắc làm biên tập ở phòng văn nghệđài tiếng nói Việt Nam Đến năm 1957 về công tác tại hội nhà văn Việt Nam.Ông cũng là một trong những hội viên đầu tiên của Hội nhà văn Việt Nam.Công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Miền Bắc là đề tài, chất liệu mới cho
Trang 23sáng tác của các văn nghệ sĩ thời kỳ này Trong giai đoạn này, Anh Đức cũngbắt nhịp kịp thời với môi trường mới, cuộc sống mới Môi trường công tác mớiquả đã tạo điều kiện tác nghiệp với nhà văn trẻ Anh Đức Nói cách khác, MiềnBắc xã hội chủ nghĩa là cái “ bệ phóng ” có sức đẩy nhà văn trẻ Bùi Đức Ái -Anh Đức từ nay bay cao, bay xa vào trận mới Về điều này, Anh Đức đã từngchia sẻ: “Trong khoảng tám năm trên đất Bắc, phần lớn thời gian tôi công tác ởHội nhà văn Việt Nam Nhờ sống trong bầu khí sáng tác lúc nào cũng đượchâm nóng, nhờ ở giữa các anh chị em cầm bút viết trước mình mấy mươi nămtôi đã học hỏi và rút ra được nhiều điều bổ ích ” [38; 20 - 21].
Năm 1962, do yêu cầu nhiệm vụ, Anh Đức được phân công vào namcông tác, vượt qua bao nhiêu khó khăn gian khổ, thiếu thốn của những ngàychiến tranh ác liệt, Anh Đức trở về quê hương Nam Bộ, hăng hái tham giahoạt động cách mạng và sáng tác văn học
Sau 1975, Anh Đức trở về với cuộc sống đời thường và tiếp tục sáng tác
1.2.2 Sự nghiệp sáng tác
Anh Đức thuộc thế hệ nhà văn trưởng thành cùng thời đại cách mạng
Sự nghiệp văn học nằm trọn giữa hai cuộc kháng chiến ba mươi năm chốngthực dân Pháp và đế quốc Mỹ Từ năm 1947 ông tham gia cách mạng Ôngkhởi đầu sự nghiệp văn học ở tuổi mười bảy, năm 1952, truyện ngắn đầu tay
Chuyến lưới máu ra đời, đánh dấu sự xuất hiện của nhà văn Anh Đức trong
nền văn học Việt Nam
Là một nhà văn có ý thức cao với nghề nghiệp, Anh Đức đã từng khẳngđịnh: “ Tôi cũng ý thức được sáng tác văn học là rất quý, nhưng cũng rất hệtrọng Mỗi dòng chữ, mỗi chữ viết ra sẽ có ích hoặc có hại cho người đọc, sẽgây ảnh hưởng rất tốt hoặc rất xấu trong đó bao gồm mối quan hệ hữu cơ giữa
tư tưởng, tình cảm thường xuyên qua cá tính, thẩm mỹ của văn, cấu trúc câutruyện, câu và chữ ” [38; 23]
Trang 24Ý thức về trách nhiệm ngoài bút là điều tất yếu phải có đối với nhữngnhà văn chân chính Nhưng chỉ có ý thức trách nhiệm thôi thì chưa đủ Mộtnhà văn, một người nghệ sĩ không chỉ cần có ý thức nghề nghiệp mà cònphải có tài năng và niềm say mê sáng tạo, đó là điều kiện cần và đủ quyếtđịnh sự thành công của họ Ở Anh Đức, ngay từ đầu, nhà văn đã có đủnhững yếu tố đó
Năm 1952 là mốc đáng ghi nhớ trong sự nghiệp văn học của Anh Đức
Thời gian này, ông đã viết được tám truyện ngắn, in thành tập Biển động.
Trong đó, hầu hết các truyện ngắn đều viết về đề tài chiến tranh du kích ở quêhương ông Cuối năm 1952, tập truyện được tặng giải ba giải thưởng CửuLong (một cuộc thi lớn do ủy ban kháng chiến hành chính và chi hội văn nghệNam Bộ tổ chức) Giọng kể truyện trong văn Anh Đức được định hình từnhững truyện ngắn đầu tay đó Đó là giọng văn điềm đạm nhưng vẫn thanhthoát, sâu lắng
Cuối năm 1954, Anh Đức tập kết ra miền bắc, công tác tại phòng vănnghệ đài tiếng nói Việt Nam Ông tiếp tục sáng tác truyện ngắn in trên tuần
báo Văn học và Tạp chí văn nghệ Cũng trong thời gian này, nhà văn đã xuất bản tập truyện ngắn Lão anh hùng dưới hầm bí mật Tập truyện chủ yếu lấy
đề tài từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp
Năm 1957 là bước chuyển quan trọng trong văn nghiệp của Anh Đức
Trong cuộc thi truyện ngắn do Tạp chí văn nghệ tổ chức, Anh Đức đã đạt giải nhất với truyện ngắn Con cá song Tác phẩm không chỉ có nội dung tư tưởng
sâu sắc mà còn thể hiện khá rõ phong cách nghệ thuật của Anh Đức - một nhàvăn cách mạng đầy nhiệt huyết, luôn trăn trở về cuộc sống, về con người nơiđạn lửa, luôn muốn lật ngược tất cả mọi vấn đề để thấy được bản chất đíchthực của cuộc sống và con người
Năm 1959 Anh Đức đã có bước đột phá trong sáng tác khi ông bước
đầu thử sức với thể loại tiểu thuyết trong tác phẩm Một chuyện chép ở bệnh
Trang 25viện Với tác phẩm này, Anh Đức đã thu hút được sự chú ý của giới nghiên
cứu, phê bình văn học đương thời Tác phẩm được dịch sang nhiều thứ tiếng
Năm 1961, tiểu thuyết này được nhà văn chuyển thể thành kịch bản phim Chị
Tư Hậu theo đề nghị của xưởng phim Việt Nam.
Giữa năm 1962 Bùi Đức Ái trở lại chiến trường Miền Nam (lấy bút danhAnh Đức) và công tác tại hội văn nghệ giải phóng mới thành lập Đầu năm
1963, Anh Đức viết tác phẩm đầu tiên khi trở lại chiến trường miền Nam là bút
ký Bức thư Cà Mau Cũng trong thời gian này Anh Đức viết được hơn mười bút ký và rất nhiều truyện ngắn tiêu biểu như: Đất, Khói, Con chị Lộc… Năm
1965, tiểu thuyết Hòn Đất được xuất bản, đánh dấu sự thành công nổi bật nhất
của Anh Đức trong sự nghiệp sáng tác Đây cũng là cuốn tiểu thuyết gắn liềnvới tên tuổi của nhà văn, bởi nhắc đến Anh Đức, người ta nhớ ngay đến tác
phẩm này Sau sự thành công vang dội của tiểu thuyết Hòn Đất, Anh Đức tiếp tục sáng tác và cho xuất bản tập truyện kí Giấc mơ ông lão vườn chim (1969).
Hoà bình lập lại, Anh Đức vẫn sống với niềm đam mê của mình Ông liên tục
cho xuất bản các tác phẩm mới như tiểu thuyết Đứa con của đất (1976), tập truyện ngắn Miền sóng vỗ (1985) Năm 1997, Tuyển tập tác phẩm Anh Đức
được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành Từ đó đến nay, tác phẩm của AnhĐức luôn nhận được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình và độc giả
trong cả nước Các tác phẩm Giấc mơ ông lão vườn chim, Bức thư Cà Mau và
Hòn đất (đoạn trích) lần lượt được đưa vào giảng dạy trong trường phổ thông.
Anh Đức đã lần lượt nhận được nhiều giải thưởng cao quý ghi nhậnnhững đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà như Giải nhất truyệnngắn của Tạp chí Văn nghệ (1958), Giải thưởng Nguyễn Đình Chiểu (1965)
Như vậy, có thể thấy, là một trong những nhà văn tiêu biểu của văn họccách mạng thời kỳ chiến tranh vệ quốc của dân tộc, trong gần nửa thế kỷ cầm
Trang 26súng và cầm bút, Anh Đức đã đóng góp vào văn học nước nhà những tácphẩm có giá trị Ông có một vị trí quan trọng và xứng đáng trong nền văn họchiện đại Việt Nam.
1.2.3 Truyện ngắn Anh Đức
Nhìn chung, trong sự nghiệp văn học của mình, Anh Đức đã thử nghiệmnhiều thể loại như tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản, bút kí,… Ở thể loại nàoông cũng thu được những thành công nhất định Tuy nhiên, thể loại được AnhĐức viết nhiều nhất và đạt được thành tựu đáng kể là thể loại truyện ngắn Cóthể nói, Anh Đức có sở trường về truyện ngắn Anh Đức cũng từng chia sẻ vớimọi người: “Viết truyện ngắn tôi luôn có nguồn cảm hứng mới sự hồi hộp mới,thể loại này thật đắc dụng, chưa khi nào nó gây cho tôi sự tẻ nhạt, nhàm chán,
và cũng chưa khi nào tôi giám chủ quan trước một truyện ngắn Nhưng nếuchuẩn bị không đầy đủ, vẫn có thể bị sẩy tay Trong đời sáng tác của mình,mảng truyện ngắn tôi viết trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ chiếm một vị tríquan trọng, kể đến ngày hòa bình, nó vẫn quan trọng” [37; 24-25]
Hành trình sáng tạo của truyện của nhà văn cũng là một hành trình giankhổ của một người lao động sáng tạo nghệ thuật chân chính Những truyện
ngắn đầu tay in trong tập Biển động (1952) của Anh Đức hầu hết viết về đề tài
chiến tranh du kích trên quê hương ông Cuối năm 1952, tập truyện được tặnggiải ba giải thưởng Cửu Long Có thể nói, từ đây, cánh cửa văn chương đãrộng mở đón chào một nhà văn mới của nền văn học Việt Nam Tuy được giảithưởng nhưng Anh Đức vẫn chưa bằng lòng với chính mình, ông từng tâm sự:
“Tập truyện đầu tay ấy của tôi tuy được giải thật, nhưng thực ra còn rất mỏngyếu Không có gì đáng chán cho bằng, cứ theo thời gian, mình nhận ra cáctruyện nó cứ mỏng yếu dần” [38; 16-17]
Không hài lòng với chính mình, ông luôn trăn trở tìm tòi hướng đi mới
để làm sao cho ra đời những tác phẩm tốt hơn buổi ban đầu Từ khi tập truyện
Trang 27đầu tay ra đời cho đến những năm cuối cuộc kháng chiến chống Pháp, AnhĐức không viết thêm truyện nào mà tập trung vào viết phóng sự, ký sự theo
phân công của tòa soạn báo Cứu quốc Nam Bộ nơi ông công tác Có thể coi
đây là quãng thời gian để Anh Đức lắng lại, suy nghĩ và tích luỹ vốn kinhnghiệm, vốn sống cho thời gian tiếp theo Năm 1957, khi vốn sống đã đượctích luỹ, khi kinh nghiệm viết văn đã được nâng lên, tác giả cho ra đời truyện
ngắn Con cá song Tác phẩm để lại nhiều ấn tượng trong lòng bạn đọc Sau
truyện ngắn này, đến năm 1960, nhà văn tập hợp một số truyện ngắn của
mình, cho in thành tập Biển xa.
Sau năm 1975, Anh Đức vẫn dành tâm huyết sáng tác truyện ngắn Tập
truyện ngắn Miền sóng vỗ (1985) tập hợp những sáng tác trong khoảng 10
năm thời kỳ hòa bình Những truyện đó, nhà văn gọi là truyện thời hậu chiến
Có thể nói, dù sáng tác trong hoàn cảnh nào, truyện ngắn của Anh Đứccũng luôn thể hiện phong cách nghệ thuật của ông, đó là phong cách giản dị,điềm đạm và sâu sắc Dù ở nơi bom rơi đạn lạc hay giữa cuộc sống thườngnhật, Anh Đức cũng luôn tìm đến khám phá vẻ đẹp của con người Truyệnngắn Anh Đức không có những cốt truyện gay cấn, đặc sắc, nhưng nhờ cách
sử dụng ngôn ngữ vô cùng mộc mạc giản dị, cách xây dựng chi tiết nghệ thuậttinh tế, tình huống hấp dẫn nên tác phẩm của nhà văn luôn tạo ấn tượng sâusắc với người đọc
Trang 28thường được lựa chọn một cách nghiêm ngặt, được tổ chức một cách đầy đặn,gần gũi với lời ăn tiếng nói hàng ngày, mang tính đa thanh, đa giọng điệu mộtcách rõ nét.
Trong nền văn học Việt Nam, Anh Đức là một trong những nhà văntiêu biểu của văn học cách mạng thời kỳ chiến tranh vệ quốc Trong gần nửathế kỷ cầm súng, cầm bút, Anh Đức đã đóng góp vào văn học nước nhànhững tác phẩm có giá trị Trong sự nghiệp sáng tác của mình, Anh Đức đãthử nghiệm trên nhiều thể loại, và truyện ngắn là một trong những thể loạiđem lại nhiều thành công cho nhà văn Truyện ngắn Anh Đức không cónhững cốt truyện gay cấn, nhưng nhờ cách xây dựng tình huống truyện và cácchi tiết nghệ thuật, nhờ cách sử dụng ngôn ngữ hết sức mộc mạc, giản dị, AnhĐức đã thực sự để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả
Trang 29Chương 2 NHỮNG ĐẶC ĐIỂM NỔI BẬT VỀ TỪ NGỮ VÀ BIỆN PHÁP TU TỪ
TRONG TRUYỆN NGẮN ANH ĐỨC
2.1 Từ ngữ trong truyện ngắn Anh Đức
2.1.1 Từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật và các hướng tiếp cận
Từ là đơn vị hết sức quan trọng, là viên gạch nền để xây dựng lên tòalâu đài ngôn ngữ Khi tìm hiểu một tác phẩm nghệ thuật ngôn từ, đơn vị đầutiên người nghiên cứu phải xem xét là từ ngữ
Theo Đỗ Hữu Châu, từ của tiếng việt là "một hoặc một số âm tiết cốđịnh, bất biến, mang những đặc điểm ngữ pháp nhất định, nằm trong nhữngkiểu cấu tạo nhất định, tất cả ứng với một kiểu ý nghĩa lớn nhất trong tiếngViệt và nhỏ nhất để tạo câu" [5; 16]
Từ ngữ trong tác phẩm văn học nghệ thuật không phải là thứ sản phẩm
gì xa lạ Đó vẫn là những từ ngữ được rút ra từ vốn ngôn ngữ toàn dân, có ýnghĩa riêng, được sử dụng trong nhiều ngữ cảnh khác nhau với nhiều người sửdụng khác nhau Tuy nhiên, bằng sức sáng tạo của mình, trải qua một quátrình nghiền ngẫm lâu dài, nhà văn đã làm mới những từ ngữ ấy bằng nhữnghình thức tổ chức khác nhau, khiến cho những từ ngữ ấy không chỉ là những
kí hiệu mang nội dung ngữ nghĩa thuần tuý mà còn chứa đựng giá trị thẩm mĩriêng, thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn
Cũng do quy định của thể loại, từ ngữ trong tác phẩm văn học được lựachọn dưới nhiều áp lực: cảm hứng đề tài, chủ đề, cá tính sáng tạo của cá nhânnhà thơ… Để phản ánh hiện thực bề bộn của đời sống và sự phức tạp của conngười, ngôn ngữ tự sự, trong đó có ngôn ngữ truyện ngắn chấp nhận mọi lớp
từ trong vốn từ toàn dân, miễn sao chúng thể hiện được dụng ý nghệ thuật củangười viết Tuy nhiên, không phải lớp từ nào cũng được các nhà văn sử dụng
Trang 30Việc lựa chọn lớp từ nào đó hoàn toàn phụ thuộc vào vốn sống, sự am hiểu vềngôn ngữ dân tộc và vốn từ của nhà văn.
Do những đặc trưng nêu trên, từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật trởthành vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm Tuy nhiên, ở mỗi ngànhkhoa học khác nhau, từ ngữ trong tác phẩm văn học lại thường được các nhànghiên cứu tiếp cận ở những góc độ khác nhau Nhà từ vựng học thống kêvốn từ của nhà văn, nhà thơ, khảo sát những lớp từ nổi bật (từ Hán Việt, từđịa phương, tiếng “lóng”,…), đặt những từ này trong tương quan với các lớp
từ khác trong vốn từ toàn dân để rút ra hiệu quả nghệ thuật mà lớp từ đó manglại cho tác phẩm cũng như thấy được dấu ấn riêng của người sáng tác trongcách sử dụng lớp từ đó Nhà ngữ pháp học quan tâm đến đặc điểm cấu tạo của
từ ngữ mà nhà văn thường sử dụng Người làm phong cách xem xét từ ngữtrong tác phẩm dưới góc độ phong cách chức năng và sự lựa chọn từ ngữ củangười nghệ sĩ Nhà thi pháp học thống kê tần số sử dụng của một số lớp từ nổibật, qua đó, rút ra quan niệm nghệ thuật của nhà văn, nhà thơ… Như vậy, từngữ trong tác phẩm nghệ thuật được tiếp cận dưới rất nhiều góc độ Trongluận văn này, chúng tôi chỉ đưa ra hai hướng tiếp cận mà chúng tôi cho là cóhiệu quả nghệ thuật hơn cả, đó là hướng tiếp cận từ góc độ phong cách học vàhướng tiếp cận từ góc độ thi pháp học
Trong những nét chung nhất, phong cách học được hiểu là khoa họcnghiên cứu sự vận dụng ngôn ngữ, nói khác đi, đó là khoa học về các quy luậtnói và viết có hiệu lực cao Theo đó, một trong những đối tượng nghiên cứu
cơ bản của phong cách học đó là nguyên tắc lựa chọn, sử dụng các phươngtiện ngôn ngữ, trong đó có từ ngữ
Mỗi từ được nhà văn, nhà thơ lựa chọn đều có giá trị biểu cảm bởi khisáng tác họ không thể bỏ qua một thao tác quan trọng, đó là lựa chọn và sửdụng từ ngữ Cảm xúc mà từ ngữ trong tác phẩm văn học đưa lại, xét cho
Trang 31cùng, chính là do sự lựa chọn cách biểu đạt có giá trị tạo nên Và do đó,phong cách học nghiên cứu từ ngữ trong tác phẩm nghệ thuật bằng cách khảosát và phân tích các kiểu lựa chọn ấy Như vậy, khi tìm hiểu từ ngữ, ngườilàm phong cách chú ý đến mặt biểu cảm của từ ngữ được lựa chọn, đối lập nóvới các kiểu lựa chọn khác có giá trị ngữ nghĩa tương đương Đồng thời khảosát những từ ngữ thuộc cùng một kiểu lựa chọn của tác giả Nếu những từ ngữthuộc kiểu lựa chọn đó có mặt trong tác phẩm với một tần số cao thì đó là dấuhiệu để nhận ra phong cách của nhà thơ.
Bên cạnh việc nghiên cứu từ ngữ trong tác phẩm văn học từ góc độphong cách học, nhiều nhà nghiên cứu còn hướng đến tiếp cận từ ngữ trong
tác phẩm văn học từ góc độ thi pháp học Theo Từ điển thuật ngữ văn học (Lê
Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên), thi pháp học là
“khoa học nghiên cứu thi pháp, tức hệ thống phương thức, phương tiện biểuhiện đời sống bằng hình tượng nghệ thuật trong sáng tác văn học Mục đíchcủa thi pháp là chia tách và hệ thống hóa các yếu tố của văn bản nghệ thuậttham gia vào sự hình thành thế giới nghệ thuật, ấn tượng thẩm mĩ, chiều sâu
phản ánh của sáng tác nghệ thuật” [15; 206]
Với mục đích chia tách và hệ thống hóa tất cả các yếu tố của văn bảnnghệ thuật trong tính chỉnh thể của nó, thi pháp học quan tâm tới tất cả cácphương tiện biểu hiện của tác phẩm như thể loại, phong cách, kết cấu, khônggian - thời gian nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ Theo đó, người nghiên cứutác phẩm văn học từ phương diện thi pháp sẽ miêu tả đặc điểm hình thức củacác yếu tố nói trên một cách có hệ thống, qua đó, phát hiện những yếu tố lặp
đi lặp lại trong tác phẩm một cách có quy luật để xác định tính chỉnh thể của
hệ thống thi pháp, đồng thời nhận ra nét độc đáo của một tác giả, một thể loại,thậm chí là một trào lưu, một trường phái văn học Khi tiếp cận từ ngữ từ gócnhìn thi pháp học, người nghiên cứu vận dụng các lí thuyết cụ thể của thi
Trang 32pháp học để soi chiếu vào tác phẩm, nhận ra những từ ngữ xuất hiện nhiềutrong tác phẩm một cách có quy luật, thể hiện sự lựa chọn của tác giả để tìm
ra điểm độc đáo của tác phẩm Đồng thời, qua đó, chỉ ra quan niệm nghệ thuậtcủa tác giả thể hiện qua hình thức lặp lại ấy Bởi theo quan điểm của thi pháphọc, bất cứ hình thức nào trong tác phẩm được nhà thơ, nhà văn tập trung xâydựng có hệ thống cũng là hình thức mang tính quan niệm
Như chúng tôi đã khẳng định, có rất nhiều hướng tiếp cận từ ngữ trongtác phẩm nghệ thuật Trên đây chỉ là một số hướng nghiên cứu cơ bản màtrong quá trình tìm hiểu từ ngữ trong truyện ngắn của Anh Đức chúng tôi có
sử dụng Có thể hướng nghiên cứu ấy không bao quát được hết toàn bộ nhữngđặc điểm nổi bật của từ ngữ nhưng hy vọng lại cho thấy một số dấu hiệu đặctrưng về phong cách sử dụng từ ngữ trong truyện ngắn Anh Đức
2.1.2 Những đặc điểm nổi bật của từ ngữ trong truyện ngắn Anh Đức
Đối với Anh Đức, sự lựa chọn từ ngữ trong quá trình sáng tạo là hết sứcquan trọng Ông cho rằng: "Sáng tác văn học là rất quí, nhưng cũng rất hệtrọng Mỗi dòng mỗi chữ viết ra sẽ có ích hoặc có hại cho người đọc, sẽ gâyảnh hưởng rất tốt hoặc rất xấu Trong đó bao gồm mối quan hệ hữu cơ, giữa
tư tưởng, tình cảm thường xuyên qua cá tính thẫm mĩ của văn, cấu trúc câuchuyện, câu và chữ” [38; 15] Chính vì vậy, trong truyện ngắn của mình, AnhĐức đã cân nhắc, trau chuốt cẩn thận để lựa chọn từ ngữ Qua mỗi tác phẩm,bằng việc sử dụng từ ngữ, Anh Đức đã thể hiện một vốn ngôn ngữ phong phú,sinh động và giàu giá trị nghệ thuật Bằng tài năng của mình Anh Đức đãkhéo léo sử dụng vốn từ đa dạng của tiếng Việt để chuyển tải nội dung cầndiễn đạt Qua khảo sát và thống kê, chúng tôi thấy, trong các truyện ngắn củamình, Anh Đức sử dụng đa dạng các lớp từ xét cả ở phương diện ngữ nghĩa,phương diện phong cách và phạm vi sử dụng Tuy nhiên, ở luận văn này,chúng tôi chỉ phân tích những lớp từ nổi bật nhất, đó là lớp từ địa phương, lớp
từ láy, và trường từ vựng chỉ không gian Nam Bộ trong chiến tranh
Trang 332.1.2.1 Lớp từ láy
Láy là một hiện tượng độc đáo và phức tạp của tiếng Việt Từ trước đếnnay, có nhiều quan niệm khác nhau về hiện tượng láy và từ láy Tuy nhiên,cho đến nay, láy được hiểu một cách tương đối thống nhất là "sự hòa phối ngữ
âm có giá trị biểu trưng hóa" [16; 25]
Theo tác giả Hoàng Văn Hành, từ láy có giá trị gợi tả, giá trị biểu cảm
và giá trị phong cách
Nói tới giá trị gợi tả của từ láy là nói tới "khả năng làm cho người đọc,người nghe cảm thụ và hình dung được một cách cụ thể, tinh tế, và sống độngmàu sắc, âm thanh hình ảnh của sự vật mà từ biểu thị" [16; 150]
Giá trị biểu cảm của từ là "khả năng diễn đạt thái độ đánh giá, tìnhcảm của người nói đối với sự vật, hay thuộc tính do từ biểu thị, và cũng làkhả năng khơi dậy ở người nghe một thái độ đánh giá, một tình cảm tươngứng" [16; 155]
Cuối cùng, theo tác giả, nói tới giá trị phong cách của từ láy là nói tới
"cái phạm vi quen dùng hay sự thích ứng của một từ trong một phong cáchnào đó, đã được định hình như một đặc trưng, một màu sắc riêng của từ trong
có khoảng 21 từ với 79 lượt sử dụng
Như vậy, có thể thấy, từ láy trong truyện ngắn Anh Đức hết sức phongphú và đa dạng Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở số lượng thì chưa thể nói lên
Trang 34điều gì Điều quan trọng hơn nhiều, đó là nghiên cứu xem cách dùng và vaitrò, hiệu quả của lớp từ láy đó trong tác phẩm của ông như thế nào.
Qua tìm hiểu từ láy trong truyện ngắn của Anh Đức, chúng tôi thấy,
trong các truyện ngắn, từ láy xuất hiện cả trong lời trần thuật cũng như lời
thoại của nhân vật Điều đáng chú ý là, từ láy xuất hiện trong lời trần thuật của người kể truyện thường là những từ láy toàn dân, đã quen thuộc với người đọc như: dịu dàng, đẫy đà, rục rịch, sột soạt, đăm đăm, bồn chồn, đi
đi, về về, dần dần, run rẩy, thỉnh thoảng, lù mù, xót xa, xốn xang, xuýt xoa, lịch phịch, hốt hoảng, rung rung, mới mẻ, giật giật, rón rén, đêm đêm, thùm thụp, hồ hởi, mường tượng, lẳng lặng, ngỡ ngàng, áy náy, khao khát, lẳng lặng, ha hả),…
Ví dụ:
- Gã đã ngủ rụi Tiếng ngáy pho pho của gã đã bắt đầu trỗi dậy hoà
với tiếng cọ khe khẽ của các hũ rượu Lão Hạc ngó Hai Nhỏ đăm đăm Lão nhìn gã bằng đôi mắt sầu não Vừa nhìn lão vừa vò râu và gậm gậm ống vố Lòng lão đang rất đỗi xốn xang.
(Chuyến xe về làng) [10; 55].
- Ở giữa biển, cái nhà đèn Hoa đăng trông thật trơ vơ, cô độc Về mép
trái còn có những rặng núi, những hòn đảo nhỏ xanh lam của Vịnh Hạ Long
nhô ra, kì dư chung quanh chỉ có biển cả mênh mông Mỏm đá dưới chân đèn cũng là màu xám nốt, coi như bị lên mốc, sóng cứ vỗ bì bõm mãi không thôi Trên mái nhà lợp tôn nghiêng nghiêng, thấy có cái ống khói thiếc nhỏ đang chậm rãi nhả ra một làn khói trắng mềm mại, nhỏ như sợi chỉ
(Người gác đèn biển) [10; 113]
Trong lời hội thoại của nhân vật, hầu hết các từ láy đều là những từ
mang đậm bản sắc vùng miền như tuốt luốt, ráo nạo, se sua, xà xẩu, chộn
rộn, lựng khựng, lấp xấp, xồn xộn, tùm lum, xấn xả, rún rún, …
Trang 35Ví dụ:
- Em không chạy vô rừng mà chạy ra một bầu nước lấp xấp ở giữa
trảng Cái bầu đó khá rộng, mọc đầy lau sậy Đến chừng tụi Mĩ đổ xuống,
chúng bắn tùm lum nhưng không dám nhảy xuống bàu Em trầm mình chém
vè ở trỏng, thấy có mấy thằng Mĩ mới lội xồn xộn đã bị đỉa đeo, la ré chạy
vội trở lên.)
(Dòng sông trước mặt) [10; 343]
- Anh ngó thấy chưa, nó đương vò cát đó! Vò đã đời rồi để sóng đánh
tuốt luốt hết Nè, vậy mà khó nắm bắt được nó lắm nghe.
(Chuyến lưới máu) [10; 10]
- Té ra cô hỏi mượn tiền Rủi quá, kì này tiền quỹ đâu có sẵn Còn mấy
ngàn đồng du hí ráo nạo rồi.
(Người đào hát) [10; 38]
Sở dĩ, trong lời trần thuật, các từ láy được sử dụng trong phạm vi toàndân thường xuất hiện, còn trong lời hội thoại, các từ láy lại mang đậm màusắc địa phương là bởi trong lời trần thuật, nhà văn phải sử dụng từ toàn dân đểtác phẩm của mình gần gũi hơn với người đọc, để tách được ngôn ngữ nhânvật ra khỏi ngôn ngữ tác giả Ngược lại, khi xây dựng nhân vật, nhà văn phải
để nhân vật nói tiếng nói của riêng mình Nói cách khác, thông qua ngôn ngữ,nhà văn điển hình hoá, xây dựng cá tính riêng của nhân vật Trong truyệnngắn Anh Đức, hầu hết các nhân vật là người dân Nam Bộ, những từ láy đượcnhân vật sử dụng để giao tiếp vì thế cũng mang đậm bản sắc vùng miền
Trong truyện ngắn Anh Đức, dù nằm ở lời trần thuật hay lời thoại nhânvật, từ láy cũng giữ vị trí khá quan trọng trong phát ngôn, thường là vị trí của
vị ngữ Khi đảm nhiệm vị trí này, từ láy có vai trò quan trọng trong việc miêu
tả cảnh vật cũng như khắc hoạ chân dung nhân vật Trong lời trần thuật, nếunhững từ ngữ đi trước có tác dụng phác hoạ cảnh vật, chân dung nhân vật thì
Trang 36từ láy thường xuất hiện như một điểm nhấn tạo nên thần thái cho bức tranh
được phác hoạ Chẳng hạn, trong truyện ngắn Chuyến lưới máu, để khắc hoạ cái dữ dội của biển cả lúc thuỷ triều lên, Anh Đức viết:
Sóng đánh ào ào, mấy chiếc ghe cắm ngoài kia bồng bềnh muốn dạt
đi, nhưng không hề dạt được Xa hơn đó nữa, đảo Phú Quốc như một tảng đá màu thạch lục, nổi cố định trên mặt biển [10; 13].
Hoặc, trong truyện ngắn Người đào hát, để khắc hoạ sự sợ hãi của nhân
vật Đào Bảy Phi khi bị bầu Thanh Long sàm sỡ, Anh Đức đã sử dụng liên tiếpnhiều từ láy:
Hơi thở của Bảy Phi vẫn còn hổn hển, và lồng ngực chị rung rung Chị cảm thấy có sự bất an vừa lướt qua, còn lất quất đâu đây Sự thể vừa rồi làm chị đến hốt hoảng [10; 24].
Cũng có những lúc, từ láy được Anh Đức tổ chức thành một trườngnghĩa riêng biệt để biểu hiện một khía cạnh nội dung của tác phẩm Trong
truyện ngắn Con cá song, bằng việc sử dụng liên tiếp các từ láy lặng lẽ, hậm
hực, lầm lì, não nuột, lảm nhảm, nhột nhạt, nức nở, lo lắng, trừng trừng, im lìm, đều đều, phăng phắc, nặng nề, khọt khẹt,… Anh Đức đã thực sự dẫn dụ
người đọc vào không khí nặng nề, căng thẳng, ngột ngạt của hai gia đình nhỏtrên chiếc thuyền lưới Nếu như trong các tác phẩm văn học của các nhà văncùng thời, sự hoà nhập giữa con người cá nhân với tập thể trong những buổiđầu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc diễn ra một cách tự nhiên, giản dịthì ở đây, Anh Đức thực sự đã lột tả được nét tâm lí, sự đấu tranh nội tâm củanhững người dân trong việc hi sinh lợi ích riêng để đem lại lợi ích cho cảcộng đồng Có thể thấy, Anh Đức không thi vị hoá, lãng mạn hoá cuộc sốngcủa đất nước mà để tất cả diễn ra một cách tự nhiên, chân thực Và chính điều
đó làm cho tác phẩm của ông để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc
Hoặc để thể hiện tâm trạng của nhân vật Tám Hân khi trở về với mảnhvườn xưa - nơi mối tình đầu của anh đơm hoa kết trái, Anh Đức sử dụng một
Trang 37loạt từ láy thình lình (cái sự cố bất thình lình xảy đến với tôi), thảng thốt (tôi
vụt kêu lên thảng thốt), bủn rủn (bước theo chân ông lão, chân tôi tự nhiên
bủn rủn), sửng sốt (khi nhìn thấy gương mặt cô ta, tôi sửng sốt bật kêu lên),
đột ngột, bàng hoàng (sự việc xảy ra quá đột ngột khiến tôi bàng hoàng, bán tín bán nghi), nghẹn ngào (đến đó, tôi nghẹn ngào không nói được gì nữa),…
Qua những từ láy này, người đọc cảm nhận được rõ nét hơn tâm trạng hồihộp, bất ngờ, xúc động của nhân vật Tám Hân khi bỗng dưng gặp lại đứa congái thân yêu của mình mà bấy lâu nay ông không hề biết đến
Một điều đáng lưu ý nữa là xét về nội dung ngữ nghĩa, trong truyệnngắn Anh Đức, xuất hiện cả ba loại là từ láy biểu trưng hoá ngữ âm giản đơn,
từ láy biểu trưng hoá ngữ âm cách điệu và từ láy vừa biểu trưng hoá ngữ âmvừa chuyên biệt về nghĩa Trong đó, số lượng từ láy vừa biểu trưng hoá ngữ
âm, vừa chuyên biệt về nghĩa có số lượng cao nhất Đây là những từ láy ngoài
tác dụng gợi tả còn có sắc thái biểu cảm, bình giá rõ nét như các từ xanh xao,
vàng vọt, gầy guộc, thẫn thờ, nhợt nhạt, là ngà, loã lồ, xám xịt, lạch bạch, trùi trụi, lố nhố, leo lét,… Theo kết quả khảo sát của chúng tôi, loại từ láy này
có 746 từ (chiếm 54%) Đây là những từ láy mà nghĩa của nó có thể giải thíchđược không chỉ nhờ vào nghĩa của tiếng gốc mà còn nhờ vào giá trị ngữ nghĩađược tạo lập do sự hoà phối ngữ âm giữa các âm tiết Nếu như những từ láy
biểu trưng hoá ngữ âm giản đơn như u u, rì rào, âm âm, róc rách, phì phì,
pho pho, rào rào,… được dùng để lột tả cảnh sắc thiên nhiên và những âm
thanh do con người tạo ra thì từ láy vừa biểu trưng hoá ngữ âm, vừa chuyênbiệt về nghĩa được sử dụng chủ yếu để khắc hoạ trạng thái của con người
Ví dụ:
- Anh coi, một phụ nữ vừa ở tù ra, còn ốm yếu xanh xao như vậy mà
phải bắt tay vào việc lo toan cho một cái phường gần hai chục ngàn dân đủ điều phức tạp.
(Chuyến tàu đêm) [10; 43]
Trang 38- Ông bõ người gày guộc đen xạm, còn anh trùm trường thì đẫy đà béo
tốt lắm.
(Cứu thuyền)[10; 493]
Như vậy, có thể thấy, trong truyện ngắn Anh Đức, từ láy xuất hiện khánhiều, cả trong lời trần thuật cũng như lời thoại nhân vật Trong đó, khi xuấthiện ở lời trần thuật, từ láy thường là những từ được sử dụng trong phạm vitoàn dân, ngược lại, khi xuất hiện ở lời trần thuật, từ láy thường mang đậmmàu sắc địa phương Nam Bộ Dù xuất hiện trong lời trần thuật hay trong lờithoại, từ láy trong truyện ngắn Anh Đức cũng có vai trò quan trọng trong việckhắc hoạ tính cách, tâm trạng của con người và trạng thái của cảnh vật
2.1.2.2 Lớp từ địa phương
Hiện nay, trong nghiên cứu ngôn ngữ học, vẫn còn có nhiều quan niệmkhác nhau về từ địa phương
Trong công trình Từ vựng học tiếng Việt hiện đại, tác giả Nguyễn Văn
Tu cho rằng: "Từ địa phương không ở trong ngôn ngữ văn học mà thuộc vềtiếng nói của một vùng nhất định Chúng mang sắc thái địa phương Ngườiđịa phương này không hiểu những từ của địa phương kia" [129]
Đỗ Hữu Châu trong công trình Từ vựng - ngữ nghĩa tiếng Việt định
nghĩa: "Những đơn vị từ địa phương là những đơn vị từ vựng có ý nghĩa khácnhau nhiều hay ít kèm theo sự khác nhau nhiều hay ít nhưng không nằm trongnhững sai dị ngữ âm đều đặn" [6; 241]
Nguyễn Thiện Giáp trong Từ vựng học tiếng Việt lại có một cách định
nghĩa khác, nhấn mạnh thêm đặc điểm và vai trò sử dụng của lớp từ này; ôngviết: "Từ địa phương là những từ được dùng hạn chế ở một hoặc một vài địaphương Nói chung, từ địa phương là bộ phận từ vựng của ngôn ngữ nói hàngngày của bộ phận nào đó của dân tộc, chứ không phải là từ vựng của ngônngữ văn học Khi dùng vào sách báo nghệ thuật, các từ địa phương thường
Trang 39mang sắc thái tu từ: diễn tả lại đặc điểm của địa phương, đặc điểm của nhânvật" [11; 292 - 293].
Như vậy, các định nghĩa về từ địa phương của các nhà nghiên cứu ngônngữ có sự khác biệt tương đối rõ Tuy nhiên, trên những nét chung nhất, từ địaphương được hiểu là lớp từ có phạm vi sử dụng trong một hoặc một vài địaphương, ít nhiều có sự khác biệt về ngữ âm hoặc ngữ nghĩa với từ toàn dân,được người địa phương đó sử dụng một cách quen thuộc, tự nhiên
Đối với nhà thơ, nhà văn, ngôn ngữ là kho chất liệu vô tận, không chỉ
có từ ngữ thuộc tiếng nói chung của mọi miền trên đất Việt mà còn cả nhữngtiếng nói mang đậm bản sắc địa phương ở các vùng miền khác nhau Do đó,việc sử dụng từ địa phương trong tác phẩm văn học là điều tất yếu Mặc dùvậy, việc sử dụng từ ngữ địa phương đậm hay nhạt còn tuỳ thuộc vào loạihình của tác phẩm và phong cách của từng nhà văn, nhà thơ Truyện ngắnthuộc loại hình tác phẩm tự sự So với thơ, truyện ngắn là mảnh đất rộng rãihơn rất nhiều để mọi thứ ngôn từ có thể cùng được tụ hội Từ địa phương vìvậy mà cũng được sử dụng nhiều hơn ở thể loại này
Trong lịch sử văn học, từ địa phương Nam Bộ đã được rất nhiều nhàvăn như Hồ Biểu Chánh, Nguyễn Thi, Nguyễn Quang Sáng, Đoàn Giỏi, SơnNam, Nguyễn Ngọc Tư,… sử dụng để sáng tác Anh Đức cũng không phải làtrường hợp ngoại lệ
Qua khảo sát, chúng tôi thấy, từ địa phương xuất hiện khá nhiều trongtruyện ngắn Anh Đức (919 từ với 1859 lượt sử dụng) Trong đó, số từ địaphương Nam Bộ là 813 từ, số ít còn lại là từ địa phương Bắc Bộ và Trung Bộxuất hiện trong một số truyện ngắn viết về miền Bắc xã hội chủ nghĩa
Trong truyện ngắn Anh Đức, từ địa phương xuất hiện cả trong lời trầnthuật cũng như lời thoại của nhân vật Tuy nhiên, mức độ xuất hiện của từ địaphương nhiều hay ít trong lời trần thuật và lời thoại nhân vật lại bị chi phốibởi vai người kể chuyện
Trang 40Trong truyện ngắn Anh Đức, ngôi trần thuật được thay đổi rất linh hoạt.Người kể chuyện trong truyện ngắn Anh Đức có thể là một nhân vật hàm ẩnđứng bên ngoài quan sát toàn bộ câu chuyện hoặc một nhân vật tường minhtham gia trực tiếp vào câu chuyện Tuỳ vào từng vai kể chuyện mà mức độ sửdụng từ địa phương và tỉ lệ sử dụng từ địa phương trong lời trần thuật so vớilời thoại của nhân vật cũng mang tính chất đậm nhạt khác nhau
Trong 26 truyện ngắn của Anh Đức, có 10 truyện ngắn được kể bằngngười kể chuyện hàm ẩn Trong 10 truyện ngắn này, có 323 từ địa phương với
721 lượt sử dụng, trong đó, số từ địa phương trong lời trần thuật là 137 từ với
305 lượt sử dụng, chiếm tỉ lệ 42,5% Số từ địa phương xuất hiện trong lời hộithoại là 186 từ với 416 lượt sử dụng, chiếm tỉ lệ 57,5%
Trong 16 truyện được kể bằng người kể chuyện tường minh còn lại,chúng tôi khảo sát được có 596 từ địa phương với 1138 lượt sử dụng, trong
đó, số từ địa phương trong lời trần thuật của nhân vật kể chuyện là 397 từ với
758 lượt sử dụng, chiếm tỉ lệ 66,7% Số từ địa phương xuất hiện trong lời hộithoại là 199 từ với 380 lượt sử dụng, chiếm tỉ lệ 33,3%
Như vậy, có thể thấy, trong truyện ngắn Anh Đức, đối với nhữngtruyện ngắn được kể bằng người kể chuyện hàm ẩn thì tỉ lệ sử dụng từ địaphương trong lời trần thuật ít hơn so với tỉ lệ từ địa phương trong lời thoại.Ngược lại, đối với những truyện ngắn mà người kể chuyện là một nhân vậttường minh, từ địa phương trong lời trần thuật của người kể chuyện lại có tỉ lệcao hơn hẳn so với từ địa phương trong lời hội thoại Sở dĩ có hiện tượng nêutrên là bởi lời kể của người trần thuật hàm ẩn là lời kể của một nhân vật đứngngoài câu chuyện, anh ta có cái nhìn hết sức khách quan, đồng thời, bản thânanh ta cũng không có một lí lịch rõ ràng, không phải là người của một vùngmiền địa phương nào nhất định nên việc sử dụng từ địa phương có sự hạn chếhơn hẳn Trong khi đó, trong những truyện ngắn được kể bằng người kể