Luận văn, khóa luận, tiểu luận, báo cáo, đề tài
Trang 1Trang
Mở đầu 3
I Lý do chọn đề tài 3
II Lịch sử vấn đề 4
III Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu 5
IV Phơng pháp nghiên cứu 6
V Đóng góp của luận văn 6
VI Cấu trúc của luận văn 6
Ch ơng I Những vấn đề chung 7
1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ 7
1.1.1 Khái niệm thơ 7
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ 9
1.1.3 Đặc trng ngôn ngữ thơ 11
1.1.4 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ 18
1.2 Lê Anh Xuân - Cuộc đời và thơ văn 19
1.2.1 Cuộc đời Lê Anh Xuân 19
1.2.2 Thơ và sáng tác của Lê Anh Xuân 21
Ch ơng II Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân xét về phơng diện hình thức 23
2.1 Đặc điểm về các thể thơ 23
2.1.1 Thể thơ 5 chữ 24
2.1.2 Thể thơ 7, 8 chữ 26
2.1.3 Thể thơ lục bát 27
2.1.4 Thể thơ tự do 30
2.2 Đặc điểm về ngữ âm trong thơ Lê Anh Xuân 34
2.2.1 Âm điệu 34
2.2.2 Vần điệu 38
2.2.3 Nhịp điệu 47
2.3 Đặc điểm về cách tổ chức bài thơ trong thơ Lê Anh Xuân 52
2.3.1 Đặc điểm về tiêu đề 53
2.3.2 Đặc điểm về dòng thơ, câu thơ 53
2.3.3 Đặc điểm về khổ thơ, đoạn thơ 55
2.3.4 Một số kiểu mở đầu và kết thúc bài thơ 57
2.4 Các biện pháp tu từ đặc sắc trong thơ Lê Anh Xuân 59
2.4.1 Phép so sánh 60
2.4.2 Phép điệp ngữ 64
Trang 2Tiểu kết 69
Ch ơng III Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân xét về phơng diện ngữ nghĩa 70
3.1 Đặc điểm về các lớp từ ngữ trong thơ Lê Anh Xuân 70
3.1.1 Lớp từ chỉ địa danh 70
3.1.2 Lớp từ chỉ kháng chiến 75
3.1.3 Lớp từ chỉ Tổ quốc, quê hơng 79
3.1.4 Lớp từ chỉ màu sắc 81
3.2 Một số hình tợng tiêu biểu trong thơ Lê Anh Xuân 83
3.2.1 Khái niệm hình tợng thơ 83
3.2.2 Những hình tợng tiêu biểu trong thơ Lê Anh Xuân 85
Tiểu kết 96
Kết luận 98
Tài liệu tham khảo 100
Mở đầu
I Lý do chọn đề tài
1 Cuộc kháng chiến chống Mỹ giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc
là một trong những cuộc kháng chiến vĩ đại nhất trong lịch sử đấu tranh giữ
n-ớc của dân tộc ta Nh một lẽ tất yếu trong truyền thống văn học của dân tộc, thơ đã trở thành vũ khí tinh thần, thành sức mạnh tham gia vào cuộc chiến
đấu gắn bó với vận mệnh của dân tộc, nhân dân Có thể nói cha bao giờ thơ lại phát triển rực rỡ nh thời kỳ này Có rất nhiều nhà thơ, nhà văn thuộc các tầng lớp, các thế hệ khác nhau, trong và ngoài quân đội đã viết về cuộc sống của con ngời trong chiến tranh Lớp nhà văn, nhà thơ, chiến sỹ, đặc biệt là các tác giả quê miền Nam thờng có trong thơ trữ tình thiết tha rất riêng, trong đó có nhà thơ - chiến sĩ Lê Anh Xuân Nghiên cứu thơ chống Mỹ đặc biệt là thơ của các nhà thơ chiến sỹ nh Lê Anh Xuân luôn là một đòi hỏi của bạn đọc
2 Sáng tác của Lê Anh Xuân không nhiều Trong cuộc đời ngắn ngủi của mình (1940-1968) Lê Anh Xuân để lại cho chúng ta 2 tập thơ, 1 tập trờng ca và 1
Trang 3tập văn xuôi Tuy nhiên tác giả đã đóng góp vào dòng thơ chống Mĩ một phongcách riêng Thơ Lê Anh Xuân là tiếng nói của ngời con Bến Tre, miền Nam anhdũng Giọng thơ Lê Anh Xuân chân thành, trong sáng, hồn nhiên mà đằm thắm,chan chứa tình yêu quê hơng, đất nớc, khao khát đợc dâng hiến tuổi trẻ cho cuộc
đấu tranh thống nhất đất nớc Là nhà thơ chiến sỹ đã cống hiến tuổi xuân cho đấtnớc, tìm hiểu thơ anh không chỉ có ý nghĩa về khoa học mà đó còn là một tìnhcảm biết ơn
3 Cho đến nay đã có nhiều bài viết về tác phẩm và tác giả Lê AnhXuân đăng trên các tuần báo văn nghệ, văn học, tạp chí văn học hoặc các bàiviết trong một số giáo trình, sách tham khảo về văn học giai đoạn 45-75 Hầuhết các bài viết đó mới đi vào tìm hiểu thơ Lê Anh Xuân trên phơng diện nộidung, còn về phơng diện hình thức, cụ thể là vấn đề ngôn ngữ thơ Lê AnhXuân cha đợc quan tâm, phong cách ngôn ngữ của thơ anh cha đợc khảo sátmiêu tả, khái quát
4 Ngay từ khi mới ra đời thơ Lê Anh Xuân đã đợc chọn vào giảng dạytrong nhà trờng ở các cấp học, đặc biệt ở chơng trình Tiếng Việt bậc tiểu học(giới thiệu các bài thơ ngắn hoặc trích tuyển một số đoạn thơ với dung lợngphù hợp) Cho nên nghiên cứu thơ Lê Anh Xuân cũng góp phần vào việc dạyhọc thơ Lê Anh Xuân của giáo viên và học sinh tốt hơn
Trên đây là những lý do thúc đẩy chúng tôi lựa chọn và thực hiện đề tài:
Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân Mong rằng luận văn sẽ giúp chúng tahiểu đầy đủ hơn về một nhà thơ - chiến sĩ đã sống tuổi thanh xuân vô cùngtrong sáng và đầy ý nghĩa, đã chiến đấu và hy sinh cho lý tởng cao đẹp: giảiphóng miền Nam, thống nhất đất nớc
II Lịch sử vấn đề
Các nhà nghiên cứu, phê bình văn học trớc đây đã có nhiều quan tâmnghiên cứu về con ngời và thơ Lê Anh Xuân, các bài viết đợc đăng chủ yếu lànghiên cứu dới góc độ nghiên cứu văn học Trong đó, có nhiều bài đợc chọn lọcvào in chung trong một cuốn sách, một số bài đợc in trong giáo trình văn họcgiai đoạn 45-75 Cụ thể:
- Trong cuốn sách viết về các nhà thơ trong nhà trờng, "Lê Anh Xuân "
của tác giả Hải Hà (NXBGD, 2003) đã tuyển chọn và giới thiệu một số bài thơtiêu biểu của Lê Anh Xuân cùng các bài viết, bình về Lê Anh Xuân của cáctác giả sau:
+ Hoài Thanh với bài: "Tiếng gà gáy" của Ca Lê Hiến hay tâm sựcủa một ngời thanh niên miền Nam tập viết
+ Huỳnh Lý với bài: " Thơ Lê Anh Xuân"
Trang 4+ Trang Nghị: "Thơ Lê Anh Xuân với tập thơ Hoa dừa và trờng caNguyễn Văn Trỗi"
+ Bích Thu: Lê Anh Xuân
Các bài viết của các tác giả trên chủ yếu nói về nội dung thơ Lê Anh Xuân
- Trong tuyển tập "Thơ Lê Anh Xuân" (NXB VH, H.1981) ở lời giớithiệu NXB VH đã viết:
"Ngay từ những bài thơ đầu tiên ngời ta đã nhận ra một phong cách riêng: chân thành, hồn nhiên mà trữ tình, đằm thắm, giản dị, trong sáng nhng không kém phần tinh tế sâu lắng".[41; 7]
- Trong "Tiến trình thơ Việt Nam hiện đại", tác giả Mã Giang Lân cũng
"Thơ Lê Anh Xuân là tiếng ca trong trẻo, mê say của một tâm hồn hồ hởi tha thiết tin yêu trớc cuộc đời" [32:407]
- Hiện nay trên các báo điện tử cũng đăng một số bài viết của các nhànghiên cứu về thơ Lê Anh Xuân nh: Xuân Lê, Nguyễn Hậu,
Từ các bài viết trên, một điều khá dễ nhận ra là thơ Lê Anh Xuân chủyếu đợc nghiên cứu về nội dung và thờng nghiên cứu riêng lẻ từng tập thơhoặc tác phẩm cụ thể Cho đến nay vẫn cha có một công trình cũng nh cha cómột chuyên luận nào đi sâu khảo sát đặc điểm thơ Lê Anh Xuân một cáchhoàn chỉnh, toàn diện về cả nội dung lẫn hình thức để đem đến cho chúng tamột cái nhìn tổng quát thơ Lê Anh Xuân
III Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu
1 Đối tợng nghiên cứu:
Luận văn này tập trung khảo sát các tác phẩm thơ của Lê Anh Xuân, cụthể là hai tập thơ "Tiếng gà gáy" và "Hoa dừa" gồm 60 bài, in trong tuyển tập
"Thơ Lê Anh Xuân" (NXB văn học, H 1981)
2 Nhiệm vụ nghiên cứu:
Luận văn đi vào giải quyết những nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu dặc điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân về phơng diện hìnhthức: về thể thơ, về ngữ âm, về cách tổ chức bài thơ và một số biện pháp tu từ
đặc sắc
- Nghiên cứu đặc điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân về phơng diện ngữnghĩa, ngữ pháp: các lớp từ và các hình tợng nghệ thuật tiêu biểu
Trang 5IV Phơng pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng những phơng pháp chủ yếu sau:
- Phơng pháp thống kê - phân loại: dùng khi khảo sát nguồn t liệu theotừng vấn đề cụ thể
- Phơng pháp phân tích - tổng hợp: làm sáng tỏ từng luận điểm, kháiquát thành các đặc điểm cơ bản
- Phơng pháp so sánh - đối chiếu: So sánh đối chiếu với các nhà thơmiền Nam về sử dụng ngôn ngữ để làm rõ những đặc điểm riêng về phongcách ngôn ngữ Lê Anh Xuân
V Đóng góp của luận văn
Có thể nói đây là luận văn đầu tiên đi vào tìm hiểu, nghiên cứu đặc
điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân một cách toàn diện cả phơng diện nội dunglẫn phơng diện hình thức
VI Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, phần nội dung của luận văn gồm 3 chơng:Chơng I: Những vấn đề chung
Chơng II: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân xét về phơng diện hình thứcChơng III: Đặc điểm ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân xét về phơng diện ngữ nghĩa
Chơng I Những vấn đề chung
1.1 Khái niệm thơ và ngôn ngữ thơ
1.1.1 Khái niệm thơ
Trong sự phát triển của văn học nhân loại, thơ là loại thể ra đời sớm hơncả và liên tục phát triển mãi cho tới ngày nay ở nhiều dân tộc trong một thờigian tơng đối dài, các tác phẩm văn học đều đợc viết bằng thơ Vì thế, tronglịch sử văn học của nhiều dân tộc từ thế kỷ XVII trở về trớc, nói đến thơ ca lànói đến văn học
Vậy thơ là gì? Đã có rất nhiều ý kiến, nhiều quan niệm, nhiều địnhnghĩa đợc đa ra để trả lời cho câu hỏi đó nhng hầu nh các định nghĩa cha đi
đến thống nhất và cha có một tiếng nói chung Điều này khá dễ hiểu vì hình
nh mỗi nhà thơ hay mỗi nhà nghiên cứu phê bình về thơ đều có một cách định
Trang 6nghĩa riêng Tuy nhiên cũng có nhà thơ bất lực trớc vấn đề này Nhà thơ
Bungari Blaga Đimitrova viết trong "Ngày phán xử cuối cùng" : "Ôi, nếu tôi biết thơ là gì thì cả đời tôi, tôi chẳng đau khổ thế này" [17;15]
Trớc hết chúng ta điểm qua các quan niệm về thơ của các tác giả thời
trung đại Lý luận thơ xa đã nhấn mạnh "thi dĩ ngôn chí" nh một đặc điểm của thể loại này Phan Phu Tiên trong "Việt âm thi tập Tân San" đã viết :"Trong lòng có điều gì, tất hình thành ở lời; cho nên thơ để nói chí vậy" Nguyễn Bỉnh
Khiêm khi viết tựa tập thơ "Bạch Vân am" của mình đã nói rõ hơn nội dung
của chí: "có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự
ẩn dật" Nguyễn Trãi lại nói đến chí của mình trong thời kỳ ông tham gia
kháng chiến chống quân minh là ở sự nghiệp cứu nớc … Có thể nói nguyên Có thể nói nguyên
tắc "thi ngôn chí" (Thơ nói chí) là nguyên tắc mỹ học cổ đại mang chức năng
giáo hoá Nhng ở mỗi hoàn cảnh lịch sử, mỗi giai đoạn mà chức năng của thơ
có thể thay đổi, thơ có thể mang chức năng phản ánh nhận thức, thơ phản ánhchí hớng, tình cảm, con ngời, cuộc sống… Có thể nói nguyên
Đầu thế kỷ XX đời sống xã hội có nhiều biến đổi sâu sắc Từ đây xuất
hiện một lớp ngời mới với cuộc sống mới, suy nghĩ mới và tình cảm mới Bắt
đầu từ Tản Đà rồi tiếp đến là các nhà Thơ Mới (1932 - 1945) đã đem đến mộtluồng sinh khí mới với những đổi mới, cách tân táo bạo làm thay đổi diện mạo
và làm nên thành công rực rỡ của nền thơ ca nớc nhà, hoàn tất quá trình hiện
đại hoá thơ ca về nội dung Tất nhiên nhiều định nghĩa về thơ cũng sẽ xuấthiện
Thế Lữ cho rằng: "Thơ, riêng nó phải có sức gợi cảm bất cứ trờng hợp nào" Lu Trọng L thì cho "Thơ sở dĩ là thơ, bởi vì nó súc tích, gọn gàng, lời ít
mà ý nhiều và nếu cần, phải tối nghĩa, mà tối nghĩa chỉ vì thi nhân không xuất hiện nột cách trực tiếp, lời nói của thi nhân phải là hình ảnh" Cực đoan hơn
là ý kiến của Hàn Mặc Tử " Làm thơ tức là điên" Có thể thấy trong thời kì
này các định nghĩa về thơ phần nào đó có những yếu tố rất cơ bản từ nhữngquan niệm của trờng phái thơ tợng trng và siêu thực ở Pháp vào cuối thế kỉXIX đầu thế kỉ XX Họ thờng lí tởng hoá hoặc đối lập một cách cực đoan giữa
thơ ca và hiện thực cuộc sống Kiểu nh: "Thơ là sự hiện thân cho những gì thầm kín nhất và cho những hình ảnh tơi đẹp nhất, âm thanh huyền diệu nhất trong thiên nhiên" (La Martin).
Sau Cách mạng Tháng 8 nhất là sau 1954 chúng ta lại có điều kiện tiếpxúc với nhiều ý kiến và quan niệm về thơ Trớc hết thơ là tiếng nói tâm hồn, làsợi dây tình cảm ràng buộc con ngời với con ngời, là hành trình ngắn nhất đi
tới con tim Quan niệm này đợc thể hiện rõ trong những định nghĩa sau: "Thơ
là một tâm hồn đi tìm những tâm hồn đồng điệu", "Thơ là tiếng nói tri âm"
Trang 7(Tố Hữu) Hoặc quan niệm thơ cải thiện cuộc sống, hoàn thiện con ngời "Thơ biểu hiện cuộc sống một cách cao đẹp" (Sóng Hồng), "Thơ là sự sống tập trung cao độ, là cốt lõi của cuộc sống" (Lu Trọng L).
Tiêu biểu cho các định nghĩa về thơ trong giai đoạn này có thể thấy là
định nghĩa của giáo s Phan Ngọc Trong bài viết "Thơ là gì" tác giả đã nêu
lên: "Thơ là một cách tổ chức ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt ngời tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc do hình thức ngôn ngữ này" [33; 23] Đây là cách định
nghĩa khá lạ so với thông thờng, một cách định nghĩa theo hớng cấu trúc ngôn
ngữ ý kiến này đối lập hẳn thơ với cuộc sống hằng ngày và với cả văn xuôi
Nói rằng hình thức ngôn ngữ thơ hết sức quái đản là nói rằng trongngôn ngữ giao tiếp không ai tổ chức nh thế Ngôn ngữ hàng ngày không tổchức theo âm tiết, vần, nhịp… Có thể nói nguyên
Định nghĩa trên của GS Phan Ngọc phần nào gặp gỡ quan niệm của tác
giả R Jakobson (1896-1982) Jakobson đã xác định và chứng minh rằng:"Mỗi chữ trong thơ đều đã bị biến tính, biến dạng, tức là bị "bóp méo" đi, so với ngôn ngữ hàng ngày" Làm thơ là tạo ra một cấu trúc ngôn ngữ đặc dị, trái
khoáy, khác thờng Và chính ở sự khác thờng biến dạng đó, nó mới gây "bấtngờ"
Trên đây là những quan niệm, định nghĩa về thơ của các tác giả từ thờikì trung đại đến hiện đại Cuối cùng trong luận văn này này chúng tôi xin nêu
ra một định nghĩa để tham khảo khi nghiên cứu về thơ, đó là định nghĩa củanhóm các nhà nghiên cứu phê bình văn học gồm Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi: "Thơ là hình thức sáng tạo văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu" [15; 254].
Định nghĩa này đã nêu rõ thơ thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc, cô
đọng Đặc biệt định nghĩa cũng đã khu biệt đợc đặc trng cơ bản của thơ "sáng tác văn học bằng ngôn ngữ có nhịp điệu" Đây chính là điểm khác biệt rõ nhất
thơ với văn xuôi Nhịp điệu chính là linh hồn của thơ, có thể nói thơ là văn bản
đợc tổ chức bằng nhịp điệu
1.1.2 Khái niệm ngôn ngữ thơ
Thơ ca là hiện tợng độc đáo của văn học ở cơ chế vận hành bộ máyngôn ngữ của nó Thơ ca khác với văn xuôi ở chổ nó là thể loại chỉ dùng mộtlợng hữu hạn các đơn vị ngôn ngữ để biểu hiện cái vô hạn của cuộc sống baogồm các sự kiện tự nhiên và xã hội cũng nh tâm t, tình cảm của cá nhân con
ngời Do đó, thơ ca nh GS Phan Ngọc đã nhận xét "là một thể loại có hình thức ngôn ngữ quái đản" Rõ ràng ngôn ngữ thơ khác với lời nói thờng và
Trang 8khác với cả ngôn ngữ văn xuôi ở cấu trúc của nó, lời thơ ít nhng cảm xúc và ýnghĩa rất phong phú có sức gợi cảm lớn.
Ngôn ngữ thơ mang tính hình tợng rất rõ nét Chẳng hạn nếu viết: "Tôi viết bài thơ xuân năm một ngàn chín trăm sáu mốt" thì sẽ đa ra một câu nói,
một thông báo bình thờng Nhng nếu viết:
Tôi viết bài thơ XuânNghìn chín trăm sáu mốt (Tố Hữu)thì đã là thơ Vì ở đây đã có sự xuất hiện của nhịp điệu, sự đối lập hài hoà âmvực và thanh điệu thành nhịp của lời, cũng là hình tợng âm thanh mang cảmxúc của tác giả
Do đó sự láy đi láy lại một bộ phận hay toàn bộ lời nói (hệ hình nhịp,dòng, vần,… Có thể nói nguyên) là đặc trng của ngôn ngữ thơ mà làm cho thơ có một diện mạo
đặc thù Từ đó nó có sức gợi hình ảnh, gợi sự liên tởng đồng thời gây ấn tợngmạnh, có khả năng lu giữ, dễ nhớ, dễ truyền đạt
Trong một công trình về ngôn ngữ thơ, tác giả Nguyễn Phan Cảnh cònkhảo sát cấu trúc thơ trên hai trục: ẩn dụ (trục lựa chọn) và hoán dụ (trục kết
hợp) dựa vào sức liên tởng của ngời đọc "nhằm sử dụng một cách mỹ học chiều dày của chất liệu ngôn ngữ thơ" [5; 92].
Từ đó tác giả đa ra hai thao tác cơ bản của hoạt động ngôn ngữ đó làthao tác lựa chọn và thao tác kết hợp Thao tác lựa chọn dựa trên một khả năng
của ngôn ngữ là "các đơn vị ngôn ngữ có thể luân phiên cho nhau nhờ vào tính tơng đồng giữa chúng" [5; 16] Thao tác kết hợp lại dựa trên khả năng khác của hoạt động ngôn ngữ là "các yếu tố ngôn ngữ có thể đặt bên cạnh nhau nhờ vào mối quan hệ tơng cận giữa chúng" [5; 24] Cũng theo tác giả
nếu nh văn xuôi làm việc trớc hết bằng thao tác kết hợp và trong văn xuôi lặp
lại là một điều tối kỵ thì ngợc lại "chính cái điều văn xuôi rất tối kỵ ấy lại là thủ pháp làm việc của thơ: trong thơ, tính tơng đồng của các đơn vị ngôn ngữ lại đợc dùng để xây dựng các thông báo".
Nếu nh thao tác lựa chọn cho phép nhà thơ chọn một đơn vị trong mộtloạt đơn vị có giá trị tơng đơng với nhau có thể thay thế cho nhau trên trụcdọc Thì thao tác kết hợp lại cho phép nhà nghệ sỹ, sau khi đã lựa chọn có thểtạo ra những kết hợp bất ngờ, sáng tạo dựa trên những tiền đề vật chất màngôn ngữ dân tộc cho phép Ngời nghệ sĩ khi sáng tác phải biết chọn lấy một
đơn vị nào đó thật phù hợp, có khả năng diễn tả đợc cảm xúc , sự đánh giá củamình trớc đối tợng
R.Jakobsơn cũng đã nói rằng: " Cái từ đợc chọn sẽ kết hợp với nhau thành chuỗi Việc tuyển lựa đợc tiến hành trên cơ sở tơng đơng nghĩa là trên
Trang 9cơ sở của sự tơng đồng hay bất tơng đồng, tính đồng nghĩa hay phản nghĩa trong sự kết hợp, tức sự xây dựng chuỗi ngôn ngữ thì căn cứ vào sự tiếp cận Chức năng của thi ca đem nguyên lý tơng đơng của trục tuyển lựa chiếu trên trục kết hợp" [10; 83].
Cuối cùng, có thể rút ra kết luận: xét ở phạm vi thể loại, ngôn ngữ thơ làmột chùm đặc trng về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp nhằm biểu trng hoá, kháiquát hoá hiện thực khách quan theo một cách tổ chức riêng của thi ca
1.1.3 Đặc trng ngôn ngữ thơ
a Về ngữ âm
Đặc điểm nổi bật về ngữ âm của thơ (so với văn xuôi) là ở tính nhạc
Đặc điểm về tính nhạc là đặc điểm có tính phổ biến trong hầu hết các ngônngữ thơ trên thế giới Tuy nhiên đặc điểm này đợc thể hiện ra một cách khácnhau tuỳ vào cơ cấu, cách cấu tạo và cách tổ chức khác nhau của mỗi ngôn
ngữ Tôma Sepxki đã nhận xét: "mỗi một dân tộc, mỗi một ngôn ngữ đều có cách hoà âm của riêng mình Cách thức đó dựa theo truyền thống từng dân tộc và hình thức của từng ngôn ngữ cụ thể" [10; 202] Sở dĩ chúng ta thờng
nhấn mạnh tính nhạc trong thơ là vì ngôn ngữ của thơ ca giàu nhịp điệu, ngữ
điệu, quãng cách và hoà âm so với văn xuôi Ngôn ngữ thơ Việt Nam nóiriêng có một dáng vẻ riêng độc đáo là nhờ vào đặc tính giàu có về thanh điệu,nguyên âm và phụ âm Bởi vậy nghiên cứu đặc điểm tính nhạc trong ngôn ngữthơ không thể không chú ý tới những yếu tố quan trọng đó
Vì thế khi khai thác tính nhạc trong thơ chúng ta cần chú ý vào những
đối lập sau
- Sự đối lập về trầm - bổng, khép - mở của các nguyên âm
- Sự đối lập về vang - tắc giữa hai dãy phụ âm mũi và phụ âm tắc, vôthanh trong các phụ âm cuối
- Bên cạnh đó còn có sự đối lập giữa cao - thấp, bằng - trắc của cácthanh điệu
Ngoài ra hai yếu tố quan trọng góp phần tạo tính nhạc cho ngôn ngữ thơ ca là vần và nhịp Những yếu tố ngữ âm này là cơ sở và cũng là chất liệu cho sự hoà âm của ngôn ngữ thơ ca tạo nên âm hởng trầm bổng, diệu kỳ
Nh vậy hơn bất cứ thể loại nào khác, ngôn ngữ thơ với tính cách là mộtthứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hoà âm, tiết tấu, giàu từ láy
âm, tợng hình… Có thể nói nguyên chính là thứ ngôn ngữ đầy tính nhạc Bởi vậy từ ngày xanhiều hình thức ca hát dân gian đã lấy ngay thơ dân gian làm chất liệu sángtác âm nhạc Nhiều điệu hò, nhiều bài đồng dao tồn tại cho đến tận hôm naychính là một minh chứng đầy thuyết phục Trong ca nhạc hiện đại nhiều bàithơ đợc lấy làm chất liệu để các nhạc sĩ sáng tác cho bài hát của mình, nh
Trang 10Mùa xuân nho nhỏ (Thanh Hải), Dáng đứng Việt Nam (Lê Anh Xuân), Em đi chùa Hơng (Nguyễn Nhợc Pháp)… Có thể nói nguyên
Nhạc thơ đợc tạo thành bởi các yếu tố chính sau: Âm điệu Nhịp điệu Vần điệu
-* Âm điệu
Có thể hiểu âm điệu là sự hoà âm đợc tạo ra từ sự luân phiên xuất hiệncủa các đơn vị âm thanh (tiếng), có những phẩm chất ngữ âm tơng đồng và dị
biệt trên trục tuyến tính.
Trong tiếng Việt, nhờ tính đối lập mà âm tiết là đơn vị tạo nên âm điệutrong thơ cách luật Việt Nam Ngữ âm tiếng Việt là sự tổng hoà các mặt: cao
độ, cờng độ, trờng độ, âm sắc Do hoàn cảnh phát ngôn hay do âm lợng củanguyên âm mà dẫn tới sự khác nhau giữa âm tiết này với âm tiết khác về trờng
độ Nếu một âm tiết kết thúc bằng nguyên âm hay bán nguyên âm thì có độvang và khả năng kéo dài trờng độ lớn hơn âm tiết kết thúc bằng phụ âm tắcvô thanh
Bên cạnh âm đầu, vần trong âm tiết tiếng Việt, thanh điệu là yếu tố thứhai thể hiện tập trung nhất phẩm chất của thi phẩm Khi nói đến cách hoà âmtrong thơ Việt Nam là nói đến cách hoà phối các thanh điệu, các cách kết hợp
âm thanh theo một kiểu nhất định nào đó… Có thể nói nguyên Thanh điệu là sự nâng cao hay hạthấp giọng nói trong mọi âm tiết có tác dụng cấu tạo và khu biệt vỏ âm thanhcủa từ và hình vị Cho nên nếu ngữ điệu là đặc trng của âm, trọng âm là đặc tr-
ng của từ thì thanh điệu là đặc trng của âm tiết Trong tiếng Việt, thanh điệu
là yếu tố siêu đoạn bao trùm toàn bộ âm tiết và là yếu tố cơ bản để tạo ra sựkhác biệt về phẩm chất ngữ âm giữa âm tiết này với âm tiết khác cho nên nó là
đối tợng của âm điệu
Thanh điệu phân biệt với nhau theo 2 đặc trng chủ yếu: độ cao và đờngnét vận động Dựa vào đó chúng ta có thể phân loại các thanh điệu theo haicách:
Nh vậy chính sự khác nhau về cách kết hợp các nguyên âm, phụ âm vớinguyên âm trong từng âm tiết (trong thế đối lập đóng - mở, vang - không
Trang 11vang) cũng nh cách kết hợp các âm tiết để tạo thành các câu thơ … Có thể nói nguyêncùng với sựkhác nhau về âm vực về đờng nét các thanh điệu … Có thể nói nguyênsẽ tạo nên sự khác nhau vềcao độ, trờng độ của nốt nhạc hay nói cách khác sẽ tạo nên nhạc tính trongthơ.
* Vần điệu:
Vần trong thơ có một vị trí rất quan trọng cả trong sáng tác lẫn nghiên
cứu lý luận "Vần là sự hoà âm, sự cộng hởng nhau theo những quy luật ngữ
âm nhất định giữa hai từ hoặc hai âm tiết ở trong hay cuối dòng thơ, gợi tả, nhấn mạnh sự ngừng nhịp" [7; 12].
Là một hiện tợng hoà âm vần trớc hết có chức năng tổ chức, cấu tạo.Trong thơ, vần là những chiếc cầu bắc qua các dòng thơ, gắn kết các dòng thơ
lại thành từng đoạn, khổ và từng bài hoàn chỉnh "ở các khổ thơ, bài thơ có vần, với chức năng tổ chức vần nh sợi dây ràng buộc các dòng thơ lại với nhau do đó giúp cho việc đọc thuận miệng, nghe đợc thuận tai và làm cho ng-
ời đọc, ngời nghe dễ thuộc, dễ nhớ" [7; 22] Đó chính là chức năng liên kết
của vần thơ
Vần thơ Việt Nam khác với vần thơ của các ngôn ngữ khác không cùngloại hình là ở đơn vị hiệp vần Trong tiếng Việt đơn vị hiệp vần là âm tiết.Trong thơ ca Việt Nam, với ý thức của ngời Việt, không bao giờ ta chấp nhậnmột từ đa tiết có thể hiệp vần với một từ đơn tiết hay một từ đa tiết khác mà
chỉ chấp nhận "sự hiệp vần giữa tiếng (âm tiết) này với tiếng (âm tiết) khác mà thôi" Trong các vần thơ bao giờ cũng có sự "cộng hởng", sự hoà xớng với
nhau của hai âm tiết có vần Để tạo sự hoà âm cho các cặp vần đồng thời cótác dụng hoà phối, kết hợp, tơng hổ của các yếu tố cấu tạo âm tiết (chẳng hạn
nh sự hoà phối âm tiết cuối và thanh điệu, âm chính với âm cuối … Có thể nói nguyên) còn phải
kể đến sự hoà xớng, đối lập nhau giữa các yếu tố tơng ứng giữa hai âm tiếthiệp vần Đó là sự hoà âm giữa thanh điệu của âm tiết này với thanh điệu của
âm tiết kia, giữa âm chính, âm cuối của âm tiết này với âm chính, âm cuối của
âm tiết kia Cho nên chúng ta thấy rất rõ âm tiết tiếng Việt có vai trò lớn trongviệc tạo lập các vần thơ Việt Nam Tất cả các yếu tố cấu tạo âm tiếng Việt đềutham gia vào việc tạo nên sự khác biệt của vần thơ Việt Nam để tránh lặp vần.Trong đó thanh điệu và âm chính, âm cuối là những yếu tố chính tham gia vàoviệc tạo nên sự hoà âm cho các vần thơ
Vần trong thơ là một kiểu lặp lại theo một quy định ngữ âm bất định.Hình thức lặp lại này là dấu hiệu của sự hô ứng, liên kết gọi nhau của nhữngyếu tố từ ngữ, tạo nên kết cấu đặc biệt trong thơ Tính nhạc của thơ cũng bắt
đầu từ đó và nó đã tạo nên khả năng mĩ cảm đặc biệt
* Nhịp điệu:
Trang 12Vần tuy là yếu tố quan trọng nhng không bắt buộc phải có trong mộtbài thơ, nhất là thơ tự do Ngợc lại sự tồn tại của nhịp - một yếu tố có mối liên
hệ khăng khít với vần - lại mang tính tất yếu phổ quát "Một cách khái quát có thể nói nhịp thơ là cái đợc nhận thức thông qua toàn bộ sự lặp lại có tính chất chu kỳ, cách quãng hoặc luân phiên theo thời gian của những chổ ngừng, chổ ngắt và của những đơn vị văn bản nh câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, thậm chí
đoạn thơ" [8; 64] Yếu tố tạo nên nhịp điệu quan trọng nhất là những chổ
ngừng, chổ ngắt trong sự phân bố mau, tha hay đa dạng của chúng là độ dài,ngắn khác nhau của các quãng nghỉ hơi sau các khổ thơ, dòng thơ Cho đếnnay có thể có hai loại ngắt nhịp trong thơ: Ngắt nhịp cú pháp và ngắt nhịp tâm
lý, hai loại nhịp này có khi tách bạch có khi hoà quyện vào nhau tuỳ vào cấutrúc ngôn ngữ của dòng thơ, khổ thơ và cảm hứng
Để khảo sát hình thức nhịp điệu của một bài thơ chúng ta có thể dựavào nhiều đơn vị tổ chức văn bản nh câu thơ (dòng thơ), khổ thơ, đoạn thơ,… Có thể nói nguyêntrong đó câu thơ (dòng thơ) vẫn là đơn vị cơ bản nhất vì trong câu thơ tậptrung một mật độ dày đặc về cú pháp, âm điệu (âm điệu của từ, đoạn), về sựhoà âm (hoà âm nhờ luân phiên thanh điệu hay bố trí xen kẻ âm tiết có trọng
âm với âm tiết không có trọng âm… Có thể nói nguyên)
b Về ngữ nghĩa
ở những phần trớc chúng ta đã thấy rõ vai trò của nhạc trong thơ hiểunhạc theo nhiều phơng tiện - có ý nghĩa quan trọng nh thế nào Tính nhạc làtính đặc thù đầu tiên, quan trọng nhất, thiếu nó thơ không tồn tại Lẽ dĩ nhiên,chỉ riêng nhạc thôi cha đủ, cha thể làm thơ Dấu hiệu thứ hai tạo nên sức ngânvang của thơ đứng ở bình diện ngôn từ Bên cạnh ngữ âm thì ngữ nghĩa cũng
là một yếu tố cấu thành tác phẩm thi ca Ngữ nghĩa trong thơ khác với ngữnghĩa của ngôn ngữ giao tiếp đời thờng và khác với ngữ nghĩa trong văn xuôi
Trang 13Ngữ nghĩa trong văn xuôi chủ yếu là nghĩa miêu tả, tờng thuật, kể chuyện còn
ở thơ mỗi từ, ngữ khi đa vào sử dụng đều rất linh hoạt, phong phú, đa dạng.Ngữ nghĩa trong thơ ngoài giá trị biểu hiện nó còn có nhiều giá trị khác Khi
đi vào thơ, do áp lực của cấu trúc mà ngữ nghĩa của ngôn từ không dừng lại ởnghĩa đen, nghĩa gốc, nghĩa ban đầu của nó mà có những nghĩa mới tinh tế
hơn, đa dạng hơn tạo nên tính "nhoè về nghĩa" (chữ của Nguyễn Phan Cảnh)
của thơ Chính đặc tính này đã tạo nên màu sắc lung linh, đa nghĩa của hình ợng ngôn ngữ thơ ca Nói rõ hơn đó là tính chất nói bóng và các hình thứcchuyển nghĩa đã đợc sử dụng một cách đậm đặc ở thể loại này bằng nhữnghình thức ẩn dụ, so sánh, hoán dụ, tợng trng, nhân hoá, phúng dụ, nói ngợc… Có thể nói nguyên
t-đã làm cho nội dung ngữ nghĩa của thơ trở nên mơ hồ, nhiều khi không xác
định, phải lựa chọn, liên tởng, tởng tợng mới có thể giải mã và cảm thụ hết
đ-ợc vẻ đẹp tối đa của nó Chính tính "nhoè về nghĩa" trong thơ cho phép ngôn
ngữ thơ dung nạp những kiểu cấu trúc đặc biệt, có khi là bất bình thờng Đó là
sự tỉnh lợc thiếu vắng những thành phần ngữ pháp, kể cả những thành phầnchính của câu nh chủ ngữ, vị ngữ… Có thể nói nguyên Chính sự thiếu vắng trong thơ tạo nên tínhnhoè, mập mờ về nghĩa và điều đó đa lại nhiều cảm thụ khác nhau làm nên
tính đa nghĩa, hàm súc, "ý tại ngôn ngoại" trong thơ Đó còn là những hình
thức sử dụng các từ phiếm chỉ, những trờng hợp đảo từ, đảo ngữ, đảo cú phápkhông tuân theo sự kết hợp từ bình thờng Và đó còn là những cách ngắt câukhác lạ không cho phép trong cấu trúc câu văn xuôi Ngoài ra còn rất nhiềuhình thức nh tả cảnh ngụ tình, lấy mây vẽ trăng, lấy động tả tĩnh, dùng khôngnói có, dùng thời gian diễn tả không gian, lấy không gian biểu hiện thờigian… Có thể nói nguyên Có thể nói rất nhiều biểu hiện của tính nhoè về nghĩa ở trong thơ Tấtnhiên không nên hiểu "nhoè" chỉ với ý nghĩa là nhiều nghĩa, đa nghĩa, hàmnghĩa, mập mờ, không rõ, khó xác định Ngời ta nói ngôn ngữ thơ là một thứngôn ngữ bí hiểm là theo nghĩa ấy Chính tính chất này giúp thơ có khả năngnói ít gợi nhiều với nhiều màu sắc biểu cảm phong phú trong đó chủ thể nhậpvào khách thể, tính chất hoà vào hiện tợng, hành động hoà vào màu sắc, âmthanh… Có thể nói nguyên tạo nên cái ý nghĩa bóng bẩy, lung linh, tinh tế… Có thể nói nguyên của ngôn ngữ thơ
ca Và cũng vì những đặc điểm đó mà khi phân tích thơ chúng ta không thểchỉ đi tìm cái nội dung logic của nghĩa đen từ đó diễn ý với một nội dung rõràng, minh bạch 1, 2, 3 Điều đó không phù hợp với đặc trng thể loại này Cáichính là ở chỗ lật văn bản ngôn từ để cảm thụ cái ý nghĩa chìm ẩn, để lĩnh hội
cái "ý tại ngôn ngoại", để thởng thức cái duyên ngầm, cái âm hởng và tứ thơ
toả ra từ những lớp ngữ nghĩa của ngôn từ ở giữa những dòng chữ, nhữngkhoảng trống, giữa những từ, ở sự im lặng, ở những dấu chấm hỏi, chấm lửng,chấm than… Có thể nói nguyên
Trang 14c Về ngữ pháp
Bình diện ngữ pháp trong thơ thể hiện ở những điểm nh: sự phân chiacác dòng thơ, câu thơ, những kiểu câu và ở cách sắp xếp tổ chức từ ngữ trongthơ… Có thể nói nguyên
Trớc hết từ sự phân chia các dòng thơ có ngời quan niệm dòng thơ tơngứng với câu thơ.Tuy nhiên trong thực tế ranh giới giữa câu thơ và dòng thơ cókhi không hoàn toàn trùng nhau Có những câu thơ bao gồm nhiều dòng thơ,
có khi một câu thơ là cả một đoạn thơ dài trong đó mỗi dòng thơ là một bộphận của câu… Có thể nói nguyên
Về cách sắp xếp từ ngữ trong thơ cũng khác so với văn xuôi ở chổ cókhi các thành phần trong dòng, trong câu hay bị đảo lộn trật tự Các từ nhiềulúc không sắp xếp theo lôgic bình thờng, nhất là ở hiện tợng câu thơ vắt dòng
Về mặt cấu trúc câu trong thơ cũng khác với văn xuôi, ở chỗ nó khônghoàn toàn tuân theo qui tắc bắt buộc và chặt chẽ Nhà thơ có thể sáng tạo và sửdụng những kiểu câu "bất bình thờng", những kiểu câu "quái đản" nh đảo ngữ,câu vắt dòng, câu tách biệt, câu trùng điệp và không ảnh hỏng đến quá trìnhtiếp nhận ngữ nghĩa của văn bản Ngợc lại chính sự kết hợp bất thờng đó đã
mở ra những giá trị mới, ý nghĩa mới cho ngôn ngữ thơ ca giúp nhà thơ diễn
đạt đợc những tầng ý nghĩa phức tạp tinh tế vô cùng của sự vật trong hữu hạncủa câu chữ thể loại và đồng thời tạo nên phong cách phong phú riêng của mỗinhà thơ
1.1.4 Mối quan hệ giữa nội dung và hình thức trong thơ
Nội dung và hình thức là hai phơng diện cơ bản thống nhất không thểtách rời của tác phẩm văn học Đối với từng tác phẩm nội dung và hình thức làphạm vi chủ yếu thể hiện giá trị t tởng và nghệ thuật của nó
"Nội dung tác phẩm là hiện thực cuộc sống đợc phản ánh trong sự cảm nhận, suy ngẫm và đánh giá của nhà văn Đó là một hệ thống gồm nhiều yếu
tố khách quan và chủ quan xuyên thấm vào nhau" [15; 202] Nội dung trong thơ theo nhà thơ Mai Thánh Du đời tống (Trung Quốc), chính là cái mà "tác giả cảm thụ trong lòng, ngời xem hiểu ngầm bằng ý cơ hồ rất khó nói ra bằng lời" Thơ phải nói bằng nỗi niềm đợc cảm nhận rõ rệt nhng không dễ dàng làm
sống lại đợc, truyền đạt đợc bằng ngôn từ Có khi trong cuộc sống xuất hiện
những nỗi niềm "không bút nào tả xiết" Ngời nghệ sỹ chính là ngời vợt qua
giới hạn đó để đa nỗi niềm kia vào thơ Cũng theo quan niệm của các tác giả
trong Từ điển thuật ngữ văn học: "hình thức tác phẩm là cấu tạo gồm nhiều yếu tố phụ thuộc lẫn nhau và phụ thuộc vào nội dung tác phẩm" [15; 203] Đó
là những yếu tố nh văn bản ngôn từ, kết cấu, thể loại… Có thể nói nguyên Hình thức nghệ thuậtcủa tác phẩm là hiện tợng độc đáo, hoàn toàn không phải là số cộng giản đơn
Trang 15của các thủ pháp và phơng tiện nghệ thuật Trong tính chỉnh thể, hình thứcnghệ thuật có nghĩa là hình thái cảm nhận đời sống, là cách tự bộc lộ của nộidung tác phẩm.
Một tác phẩm văn học chứa đựng giá trị mỹ học phải dựa trên sự thống
nhất có tính nguyên tắc giữa nội dung và hình thức "không thể có tác phẩm văn học nào chỉ tồn tại với nội dung của nó mà không có sự tham gia của hình thức" Về mối quan hệ này nhà phê bình Nga Bêlinxki đã diễn đạt khá rõ ràng
"trong tác phẩm nghệ thuật, t tởng và hình thức phải hoà hợp với nhau một cách hữu cơ nh là tâm hồn và thể xác, nếu huỷ diệt hình thức thì có nghĩa là huỷ diệt t tởng và ngợc lại cũng vậy" [30; 256].
Lý luận văn học mac xit cũng khẳng định mối quan hệ thống nhất đó là
"hình thức biểu hiện nội dung, hình thức phù hợp với nội dung" ở đây nội
dung đi đầu và có vai trò quyết định Chức năng hình thức là làm định hình vàbiểu hiện nội dung đó Nội dung quyết định việc lựa chọn hình thức thể loại,ngôn ngữ, chi tiết, nhân vật, cốt truyện, kết cấu Nội dung làm nảy sinh rahình thức phù hợp để biểu hiện nó Hình thức phù hợp nội dung trở thành tiêuchuẩn để sáng tạo, đánh giá hình thức và làm nên giá trị tác phẩm
Thơ là một thể loại văn học đặc thù nên mối quan hệ giữa nội dung vàhình thức lại thể hiện đặc biệt hơn Vai trò của hình thức thơ có vị trí quantrọng so với các thể loại khác, nó có tính năng động và trong một số trờng hợp
nó có xu hớng tách khỏi nội dung hoặc lấn át nội dung Các nhà hình thức chủnghĩa trong nghiên cứu thờng bỏ qua phơng diện nội dung chỉ nghiên cứu tácphẩm nh một thủ pháp, nh một ngôn ngữ, một sự kết hợp các phạm trù ngữpháp, cũng có trờng hợp các nhà sáng tác loay hoay tỉa tót hình thức tân kỳ đểche đậy nội dung nghèo nàn
Ngợc lại là lối phân tích máy móc tầm thờng chỉ thấy trong tác phẩm
một nội dung "tơng đơng xã hội học" bỏ qua hình thức độc đáo của tác phẩm.
ở khía cạnh này Bêlinxki cũng đã viết "khi hình thức là biểu hiện của nội
dung thì nó gắn chặt với nội dung tới mức là nó tách khỏi nội dung có nghĩa
là huỷ diệt bản thân nội dung và ngợc lại tách nội dung khỏi hình thức có nghĩa là huỷ diệt hình thức" [30; 256]
Nh vậy nội dung và hình thức có sự chuyển hoá vào nhau Hê Ghen đã
nói "nội dung chẳng phải là cái gì khác mà chính là chuyển hoá của hình thức vào nội dung và hình thức cũng chẳng gì khác hơn là sự chuyển hoá của nội dung vào hình thức [15; 257] Chúng ta sẽ thấy rõ hơn mối quan hệ này qua
việc tìm hiểu ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân trên cả hai phơng diện nội dung vàhình thức
1.2 Lê Anh Xuân - Cuộc đời và thơ văn
Trang 161.2.1 Cuộc đời Lê Anh Xuân
ở nửa sau thế kỷ XX lắm sóng gió, nhiều biến động gắn liền với haicuộc kháng chiến vĩ đại chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ của dân tộc ta,các thế hệ nhà thơ đã trởng thành Trong số đó không ít ngời đã anh dũng ngãxuống trên chiến trờng giữa lúc tuổi đời còn rất trẻ Lê Anh Xuân là một trong
số những ngời con nh vậy
Nhà thơ Lê Anh Xuân tên khai sinh là Ca Lê Hiến, sinh ngày 5 tháng 6năm 1940 tại xã An Hội, thị xã Bến Tre Anh chào đời đúng vào những ngàyNam Kỳ khởi nghĩa trên mảnh đất giàu truyền thống cách mạng mà nh saunày anh đã viết trong một bài thơ:
Tiếng khóc đầu tiên tôi chào đất nớcNăm bốn mơi cờ đỏ rợp Nam Kỳ (Lên Bắc Sơn)
Lê Anh Xuân lớn lên trong một gia đình trí thức yêu nớc Thân sinh nhàthơ là GS Ca Văn Thỉnh - ngời đã từng đợc Bác Hồ giao cho giữ chức vụquyền Bộ trởng Bộ giáo dục của chính phủ kháng chiến Lê Anh Xuân từ nhỏ
đã đợc sự dạy dỗ ân cần của ngời cha mẫu mực và đợc sống trong không khí
đầm ấm của một gia đình văn nghệ Quả không sai khi có ngời đã nói gia đình
của Lê Anh Xuân là một cái hội "Liên hiệp văn học nghệ thuật thu nhỏ" Các
anh, em của Lê Anh Xuân đều hoạt động văn nghệ tuy mỗi ngời có một hớng
đi riêng: Ca Lê Thuần theo ngành nhạc (Ông là ngời đã phổ nhạc bài thơ
Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân), Ca Lê Hiến làm thơ, Ca Lê Hồng
làm sân khấu, còn Ca Lê Thắng hồi đó còn nhỏ nhng cũng đã có năng khiếuhội hoạ
Hồi nhỏ Lê Anh Xuân học ở trờng tiểu học Đà Lạt vì lúc đó mẹ Lê AnhXuân bị giặc Pháp bắt, đa lên quản thúc ở Đà Lạt, rồi Phi Giăng (trên đờng điBuôn Ma Thuột) Ca Lê Hiến đợc đa lên Đà Lạt sống gần mẹ, sau đó đi PhiGiăng thăm và ở với mẹ Do ở đây không có trờng nên mẹ Hiến khuyên connên về Đà Lạt để học tập Năm 1950 (lúc này Hiến 10 tuổi) Hiến đợc ngờithân đa vào khu 9 (vùng kháng chiến miền Tây Nam Bộ) và sống với cha mẹ.Hiến học ở trờng Trần Quốc Toản, do ngời của ta ở chiến khu lập ra, vì giặcoanh tạc nên việc học rất khó khăn
Cuối 1952, Lê Anh Xuân vào làm việc ở nhà in Trịnh Đình Trọng của
Sở giáo dục Nam Bộ, tập làm công nhân xếp chữ vào máy in Lúc ấy Hiến mới
12 tuổi Đây cũng là thời điểm Hiến bắt đầu tập làm thơ, viết báo tờng cho nhàin
Năm 1954, Lê Anh Xuân theo gia đình tập kết ra Bắc, học tập ở trờnghọc sinh miền Nam ở Hải Phòng, ở Hà Đông Khi lên cấp III phổ thông Lê
Trang 17Anh Xuân học ở trờng Nguyễn Trãi, Hà Nội đợc gần gũi cha mẹ Khoảng năm
1961, 1962 Lê Anh Xuân trở thành sinh viên khoa sử trờng Đại học Tổng hợp
Hà Nội Tốt nghiệp đại học anh đợc giữ lại làm phụ giảng một thời gian ngắnrồi đợc cử đi học tập nghiên cứu tại Liên Xô Những năm này Hiến làm bài
thơ Nhớ ma quê hơng và đạt giải nhì trong cuộc thi thơ do Tạp chí văn nghệ tổ
chức Điều này đã cho chúng ta thấy rằng suốt những năm theo gia đình tập
kết ra Bắc, quê hơng Bến Tre luôn là nỗi ám ảnh trong anh Tập thơ "Tiếng gà gáy" xuất bản 1965 là tiếng vọng của ký ức, trong đó khắc khoải nỗi nhớ quê,
một vùng quê Nam Bộ mù mịt bom đạn của kẻ thù Anh khát khao đợc trở vềquê hơng cầm súng chiến đấu nh một ngời lính đi giữa đoàn quân cùng bạn
bè Có lẽ vì thế mà Lê Anh Xuân đã từ chối đi nớc ngoài và nh nhiều thanhniên thời bấy giờ anh chỉ xin ra chiến trờng Cuối 1964 Lê Anh Xuân tìnhnguyện trở về quê hơng miền Nam, trong đoàn cán bộ giáo dục, công tác ởtiểu ban Giáo dục thuộc Ban tuyên huấn Trung ơng Cục, rồi chuyển sang côngtác ở Ngành Văn, (Hội văn nghệ giải phóng) vào tháng 7 năm 1965 Rồi từchiến khu, anh lại xin có mặt ở trọng điểm của cuộc chiến đấu vào thời kỳkhốc liệt nhất trong cuộc tổng tấn công mùa xuân năm 1968 Lê Anh Xuân đãbám trụ nh một ngời lính dũng cảm và đã anh dũng hy sinh ngày 24 tháng 5năm 1968 trong trận giặc Mỹ đổ quân bằng trực thăng xuống cánh đồng ấpPhớc Quảng - xã Phớc Lợi - huyện Cần Đớc - tỉnh Long An (vùng ven SàiGòn)
Để khép lại trang viết về cuộc đời Lê Anh Xuân chúng tôi xin đa lời
nhận xét thật chân xác của nhà thơ Hoài Anh viết về Ca Lê Hiến: "Sống học
sử chết đi vào sử" Cuộc đời của Lê Anh Xuân đã trở thành một tấm gơng cao
đẹp về nhà thơ - chiến sỹ, về ý thức trách nhiệm của ngời cầm bút
1.2.2 Thơ và sáng tác của Lê Anh Xuân
Tác phẩm chính của Lê Anh Xuân bao gồm 2 tập thơ "Tiếng gà gáy
"(1965), "Hoa dừa" (1969), 1 tập trờng ca Nguyễn Văn Trỗi (1969) Ngoài ra
ông còn có tập văn xuôi Giữ đất (1966).
Tập thơ Tiếng gà gáy là sự phản ánh cuộc sống xây dựng chủ nghĩa xã
hội ở bớc đầu trên miền Bắc với những phấn khởi và trìu mến sâu sắc Lê AnhXuân đã phần nào gợi lên đợc nhịp sống khẩn trơng, náo nức trong khí thế lao
động xây dựng, với những phong trào thi đua sản xuất vì miền Nam ruột thịt
sôi nổi khắp công trờng, ruộng đồng, xởng máy Đó là Đêm Uông Bí tng bừng
ánh điện công trờng, là Con đờng cũ nay thênh thang rộng mở, là Mời năm, Một ngày trên quê hơng kết nghĩa … Có thể nói nguyên Tiếng gà gáy" còn là tâm sự của một ng- "
ời thanh niên miền Nam tập kết Bởi thế ta dễ nhận ra trong những bài thơ nói
về nhịp sống khẩn trơng, náo nức ấy là những tình cảm của nhà thơ đối với
Trang 18quê hơng miền Nam còn trong nớc sôi lửa bỏng "Tiếng gà gáy" có thể nói là
tiếng nói của một tình yêu quê hơng mãnh liệt
Với tập thơ "Hoa dừa", tập thơ thứ hai của Lê Anh Xuân, ngời đọc vẫn
gặp lại những âm điệu trữ tình quen thuộc nh trong tập thơ đầu Chỉ khác một
điều là từ những ao ớc đợc trở về quê hơng trong hoài niệm xa cách, Lê AnhXuân đã thực sự tắm mình trong không khí chiến đấu của quê nhà Nguồn
mạch quê hơng đợc khơi dậy trong "Tiếng gà gáy" đến đây càng chảy xiết
hơn, mạnh mẽ hơn Tình yêu quê hơng lúc này đã hoà thấm một cách tự nhiênvới lý tởng cách mạng đồng thời cái nhìn của nhà thơ lúc này cũng đã khác, đã
mở rộng và có chiều sâu hơn về không gian đất nớc, về con ngời, về lịch sử
"Hoa dừa" mang hình ảnh của nhiều mảnh đất, nhiều con ngời, mang dấu ấn
của những chuyến đi, những lần gặp của nhà thơ trẻ giàu nhiệt huyết đang say
sa, hoà nhập và sáng tạo
Luận văn đi vào tìm hiểu ngôn ngữ thơ Lê Anh Xuân qua hai tập thơ
"Tiếng gà gáy" và "Hoa dừa" Tập "Trờng ca Nguyễn Văn Trỗi" mặc dù chúng tôi cha có điều kiện khảo sát và tìm hiểu nhng có thể thấy rằng Trờng
ca Nguyễn Văn Trỗi của Lê Anh Xuân cũng là biểu hiện cố gắng của nhà thơ
trong cái hớng ngợi ca những anh hùng trên mảnh đất thành đồng Bản trờng
ca với 2.200 câu lục bát đã góp phần làm phong phú, đa dạng hơn về tinh thầndân tộc với vấn đề tiếp thu truyền thống và tính sáng tạo của thơ anh
đặc điểm hình thức đợc thể hiện trong thơ Lê Anh Xuân để phần nào thấy rõhơn những tìm tòi, phát hiện trong quá trình sáng tạo của nhà thơ đồng thờiqua đó thấy rõ hơn phong cách, giọng điệu riêng của thơ Lê Anh Xuân trongthơ ca nói chung và thơ Việt Nam hiện đại nói riêng
Khi xem xét thơ Lê Anh Xuân về mặt hình thức chúng tôi đi vào tìmhiểu ở các khía cạnh khác nhau: đặc điểm về các thể thơ, đặc điểm về ngữ âm,
đặc điểm về cách tổ chức bài thơ và những biện pháp tu từ nghệ thuật đặc sắctrong thơ Lê Anh Xuân
2.1 Đặc điểm về các thể thơ
Trang 19Các thể thơ cũng nh thể văn hình thành dần dần định hình, rồi biến thể.Một số hình thức thơ có nguồn gốc từ văn học dân gian phát triển lên màthành Một số hình thức thơ khác lại từ nớc ngoài nhập vào, rồi Việt hoá chophù hợp với qui luật ngôn ngữ và tính cách, tâm hồn ngời Việt Mặc dù mỗithể thơ có một nguồn gốc khác nhau nhng hình thức nào cũng là thành quảcủa những ngời đi trớc trong quá trình lâu dài đã tìm tòi thể nghiệm và sáng
tạo ở những bài thành công các hình thức đó đều chan chứa”tâm hồn và tính cách của ngời Việt Nam".
Để phân loại các thể thơ ngời ta thờng lấy số âm tiết và vần làm căn cứphân loại
Căn cứ vào số âm tiết trong dòng thơ: thơ 2 chữ, thơ 3 chữ, thơ 4 chữ,thơ 5 chữ, thơ 7 chữ, thơ 8 chữ, thơ lục bát (tổ hợp 6 chữ và 8 chữ), thơ tự do(số âm tiết trong mỗi dòng thơ không đều nhau)
Căn cứ vào vần luật có hai loại:
- Thơ cách luật (thơ có qui tắc và luật lệ ổn định): thơ đờng luật,lục bát, song thất lục bát
- Thơ không cách luật (thơ không hạn chế về số tiếng, số câu) cóthơ tự do
Trong quá trình khảo sát chúng tôi thấy nhà thơ Lê Anh Xuân đã sửdụng khá nhiều thể thơ Trong số 60 bài có: thơ 5 chữ (5 bài), thơ 6 chữ (1bài), thơ 7, 8 chữ (24 bài), thơ lục bát (11 bài), song thất lục bát (1 bài) và thơ
tự do (18 bài) Nhìn chung, nhà thơ sử dụng chủ yếu các thể thơ: 5 chữ; 7,8chữ; lục bát và tự do cho nên chúng tôi chỉ đi sâu vào tìm hiểu các thể thơ này 2.1.1 Thơ 5 chữ
Thơ 5 chữ là loại thơ theo thể hát giặm, có nhịp 3/2 là phổ biến (khácvới thơ ngụ ngôn ở Trung Quốc có nhịp 2/3) và vần thơ thay đổi, không nhấtthiết là vần liên tiếp, số câu cũng không hạn định Đây là thể thơ phổ biếntrong tục ngữ và hát giặm Nghệ Tĩnh Riêng trong thơ, mãi sau này ngời tamới dùng (vào khoảng đầu thế kỉ XX)
Thơ Lê Anh Xuân có 5 bài làm theo thể thơ này (8, 3%) Các bài thơ 5chữ của Lê Anh Xuân thờng là những bài thơ dài, tất cả đều có trên 20 dòng,
thậm chí có bài dài trên 40 dòng, 60 dòng nh Gặp nhau, Lão du kích.
Thơ 5 chữ của Lê Anh Xuân thờng trải dài theo mạch cảm xúc, nghiêng
về kể chuyện, giải bày tâm trạng Đó là những câu chuyện kể về con ngời, vềmột đêm ma ở quê hơng, về mảnh vờn bị giặc phá… Có thể nói nguyênNhịp thơ, nhịp kể rất mộcmạc, tự nhiên
Trang 20Trong bài Gặp nhau nhà thơ kể về một lần gặp nhau giữa hai đoàn quân
và cũng chính là lần gặp nhau rất tình cờ giữa chàng trai - nhân vật "tôi"- và
cô gái
Gặp nhau mừng biết mấyKhe khẽ tiếng nói cời
Có bóng ngời con gái
Đi qua sát bên tôi
Lần gặp ấy chỉ diễn ra trong thoáng chốc rồi "Đoàn tôi xuôi Đồng Tháp
- Đoàn em ngợc miền Đông" Nhà thơ của chúng ta không thấy rõ mặt ngời
con gái cũng không biết tên em, chỉ nhớ hai chi tiết khá thú vị và rất ấn tợng
Chỉ thấy em mang súng
Em mặc áo màu đen Vậy mà nhà thơ đã có một đoạn kết thật bất ngờ
Có cái gì kì diệu Giữa lòng tôi đang nhen
(Gặp nhau)
ở một bài thơ khác chúng ta lại đợc chứng kiến cảnh nhà thơ ngồi nghelão du kích kể chuyện về cuộc đời của lão Bài thơ kể về một con ngời mà nhcuốn phim quay chậm về sự vận động của lịch sử qua nhiều thời kì Lần này tathấy ở Lê Anh Xuân một lối kể chuyện tự nhiên, bình dị với giọng thơ lúctrầm, lúc bỗng, lúc vui tơi lúc chùng lại, ngậm ngùi theo lời kể của ông lão
Đây là lão đầy tớ của những năm cả đất nớc đang chìm trong thời kì áp bức,nô lệ
Lão nh chiếc lá khô
Hai mơi năm ở đợ kháng chiến chống Pháp chín năm nổ ra lão trở thành ông lão dân quân "tựvệ"
Dạo đánh Pháp chín năm Lão vô chân "tự vệ"
và đây là lão du kích đánh Mỹ cùng con cháu
Rồi lão kể tôi ngheChuyện đánh ong vò vẽMặt thằng Mỹ sng vù Giọng lão cời rất khoẻNhững lúc không đi đánh giặc lão trở về với cuộc sống đời thờng, ta lại
đợc thấy hình ảnh một ông lão Nam Bộ rất đáng yêu, đáng quí ngồi vót những
"mũi chông bén ngọt" bình tĩnh, vững vàng, oai phong, lẫm liệt
Lỡi mác loé trời xa
Trang 21Râu dài tung trắng xoá
Có thể nói Lão du kích là một bài thơ rất hay, rất đẹp về ông lão ở thế kỉ
XX, qua cách thể hiện, miêu tả sinh động, tài tình của Lê Anh Xuân đã làmcho hình ảnh ấy, dáng dấp ấy lung linh trong ánh lửa sử thi
2.1.2 Thơ 7, 8 chữ
Đây là thể thơ đợc nhà thơ sử dụng nhiều nhất Số lợng các bài thơ làmtheo thể thơ này là 24 bài (40%) ở thể này Lê Anh Xuân không sáng tác
thuần nhất 7 chữ hoặc 8 chữ trong một bài Bởi vậy ngoài bài Nắng chiều có
số chữ ổn định là 8 chữ và bài Không ở đâu nh ở miền Nam có số chữ ổn định
là 7 chữ còn lại tất cả những bài thơ ở thể này có số chữ ở các dòng khácnhau (7- 10 chữ) Để phân loại chúng tôi tạm thời căn cứ vào mức độ ổn địnhcủa số tiếng trong một dòng Nhiều bài tuy có số dòng 9, 10 tiếng xen kẽ vàonhng số dòng đó trong bài thơ không nhiều, mức độ ổn định nhất chỉ dừng lại
ở 7 tiếng hoặc 8 tiếng nên chúng tôi xếp vào thành thể thơ 7, 8 chữ Và chúngtôi cũng thấy rằng mặc dù các bài thơ hoặc sử dụng ở dạng nguyên thể hoặc
có tháo gỡ, bồi đắp chút ít nhng vẫn mang đậm âm hởng của thể thơ 7 chữ , 8chữ trang trọng, sôi nổi, thiết tha
Bài thơ 7, 8 chữ của Lê Anh Xuân cũng có nhiều bài rất dài Bên cạnhnhững bài chỉ có 1 khổ (4 dòng) hay 2 khổ (8 dòng) có rất nhiều bài dài trên
50, 60 dòng nh Những khẩu pháo màu xanh, Những dòng sông anh hùng, Gặp những anh hùng …
Nội dung ở thể thơ này khá phong phú, đa dạng.ở một số bài nhà thơ kể
chuyện về những cuộc đời, con ngời, những địa danh mà anh đã từng gặp,từng đi qua Một số bài khác anh ca ngợi về những anh hùng, những tập thểanh hùng đã lập nhiều chiến công, và trong một số bài anh lại ca ngợi cuộcsống lao động sản xuất hăng hái, hồ hởi của nhân dân miền Bắc trong thời kì
đổi mới
Đôi khi cảm xúc của nhà thơ thăng hoa chỉ trong một hoàn cảnh rấtbình thờng, đó là câu chuyện đi gặt lúa ở Vĩnh Phúc - nơi quê hơng kết nghĩa.Anh cùng tham gia gặt lúa với một gia đình, đặc biệt là với cô con gái Ban
đầu thì "tôi cha quen em bó giúp tôi" nhng đến buổi chiều thì nhà thơ cũng biết làm "tôi đã quen Bó lúa đã tròn" Câu chuyện diễn ra thế thôi, rất giản
dị, giản dị nh trong bữa cơm mọi ngời nhờng cá cho anh, giản dị trong từng
câu chuyện bố cô gái hỏi anh từ "chuyện cây dừa" đến chuyện " bắn rơi thằng
đại tá", giản dị nh ngời con gái trong bữa cơm chỉ cời và "cúi đầu nhai nhỏ nhẻ"…Thế nhng tất cả những " điều giản dị" ấy đã làm ấm lòng nhà thơ , ấm
lòng một ngời con xa quê đã lâu Bởi thế tất cả đều đọng lại vào kí ức nhà thơ
nh "tiếng hát xa còn ngân mãi "
Trang 22Em cời bớc vội dáng thon thon Bơi về đâu mấy chú vịt con
Những khẩu pháo màu xanh với một cảm hứng ngợi ca, tự hào Trong chiến
tranh những khẩu pháo đợc ví nh những anh hùng, đó là những anh hùng đãgóp phần to lớn làm nên những chiến công chiến thắng giặc Mỹ Những khẩupháo màu xanh và cũng chính là màu của mùa xuân, màu mang lại hoà bình
Trăm cây súng tuôn trăm dòng sông lửaGóp phù sa cho đôi bến Hiền Lơng Quê hơng ơi! Có mừng vui lệ ứa
Ta gửi lòng ta trong tiếng pháo gầm rung
( Những khẩu pháo màu xanh ) 2.1.3.Thơ lục bát
Lục bát là một thể thơ dân tộc đã đợc thử thách theo thời gian trở nênquen thuộc với con ngời và tâm hồn Việt Nam Đây là thể thơ rất phổ biếntrong tục ngữ, ca dao, dân ca và các làn điệu chèo, tuồng, trong các bài vè dài,
các tập diễn ca (nh Nhị thập tứ hiếu -Lý Vân Phúc ), các truyện thơ (Thạch Sanh , Lục Vân Tiên , Truyện Kiều… Có thể nói nguyên) Sau này thể lục bát đợc dùng vào thểthơ mới và ngày nay trong thơ ca hiện đại, lục bát vẫn chiếm một địa vị quantrọng , đợc nhiều nhà thơ sử dụng và quần chúng yêu thích Lục bát có hìnhthức là một thể tổ hợp giữa câu 6 và câu 8, số câu không hạn định, ít thì gồm 2câu gọi là cặp đến 4 câu và nhiều câu … Có thể nói nguyênvới niêm luật khá giản dị
Thơ lục bát của Lê Anh Xuân có 11 bài (18,3%) Nhìn chung các bàithơ mang âm hởng nhẹ nhàng uyển chuyển, đó là những dòng thơ gợi mở, ẩnchứa nhiều tâm sự cảm xúc của tác giả về con ngời, quê hơng, về cảnh sắcthiên nhiên trong những năm cả nớc đấu tranh dành độc lập dân tộc và xây
dựng đất nớc Nhiều bài thơ rất đỗi tha thiết, dịu dàng nh Rừng xuân, Em gái
đa đò, Qua cầu …Cũng nh ở thể 5 chữ và 7, 8 chữ thể thơ lục bát của Lê Anh
Trang 23Xuân không bị hạn chế, gò bó về độ dài ngắn của tác phẩm Độ dài của bàithơ thờng diễn biến theo tâm trạng, nơng theo cảm xúc của nhà thơ
Bài Nhớ anh là tình cảm của nhà thơ đối với một ngời anh- ngời Đảng
viên cộng sản đã đa tác giả xuống ở miền U Minh ngày còn bé và nhiều lần
đ-ợc cùng anh xuôi ngđ-ợc dòng kênh trong những năm kháng chiến chống Pháp.Nhà thơ nhớ đến câu chuyện ngời anh đã kể cho mình nghe về cuộc đời của
anh, nhớ giọng kể "khi buồn khi vui", nhớ phẩm chất cao quí của một ngời
luôn vững vàng, bình tĩnh trong chiến đấu Những tình cảm cao quí ấy, nhữngcông ơn ấy dần dần thành một cung bậc cảm xúc mới trong nhà thơ ngay cảkhi nhà thơ đã đi xa, đó là lòng cảm phục Nhà thơ không bao giờ quên vànguyện lấy gơng ngời cộng sản làm phơng hớng suốt đời cho mình
Dù đi trăm chốn nghìn nơi Đờng anh đã vạch suốt đời em theo
Dù khi vợt suối băng đèo Lòng em có cả nhịp chèo anh đa
(Nhớ anh)Một niềm yêu kính nhờng ấy đối với một đồng chí Đảng viên cộng sảnkhông dễ ở ai cũng có và cũng phải ở thời đại ta mới có những thanh niên tríthức nh thế Từ đó để thấy đợc rằng Lê Anh Xuân là ngời dễ cảm xúc, hay suynghĩ mà lại suy nghĩ đúng, cảm xúc sâu vì cảm xúc và suy nghĩ đều bắt đầu từmột lòng yêu nớc thiết tha
ở một bài khác Lê Anh Xuân mang lại cho chúng ta một hình ảnh rất
đẹp, đó là câu chuyện về một "em gái đa đò"
Em nghe đạn rít trên đầu
Mà em vẫn đứng bóng cao giữa trời
Mái chèo giặc bắn gãy đôi
Buông chèo thoăn thoắt em bơi bằng dầm
(Em gái đa đò)
Em gái đa đò 18 tuổi trên sông An Hoá cũng nh những anh hùng kháccủa miền Nam anh dũng đã cho chúng ta thấy một hình ảnh thật đẹp, thật xúc
động, thật cảm phục biết bao
Cảm hứng ngợi ca về những ngời con gái, về ngời vợ, ngời chị, ngời emcủa anh bộ đội nh trên xuất hiện rất nhiều trong thơ Lê Anh Xuân Đất nớclâm nguy tất cả đều trở thành chiến sĩ, đó là cô giao liên, cô dân quân, cô xã
đội, cô thanh niên xung phong… Có thể nói nguyên tất cả đều trở thành "nàng tiên của đất nớc" Qua cầu cũng là một bài thơ viết về đề tài trên Đây là một bài thơ rất hay về
tình, về tứ Bản thân câu chuyện mời hai cô gái Bến Tre lấy thân mình làmthành những nhịp cầu đỡ cho bộ đội qua sông đã thành một tứ thơ cảm động
Trang 24Lê Anh Xuân đã nắm bắt đợc hình ảnh rất xúc động ấy, bởi nó hợp cùng tâmhồn tuổi trẻ thiết tha, cảm mến của anh
Dới sông ngực đập bồi hồiMời hai cô gái, mời hai nhịp cầuMặt sông ánh một trời sao Mắt em lấp lánh sao nào đẹp hơn
(Qua cầu)
Chính nhà thơ đang "bồi hồi " hay ngực của mời hai nhịp cầu sống
đang bồi hồi? ánh mắt nhà thơ đã bắt gặp những ánh mắt lấp lánh ớc mong vàtin tởng trong đêm trời đầy sao sáng Có lẽ không có lời nào nói đợc bằng lờicủa đôi mắt Mời hai cô gái với mời hai cặp mắt sáng song song ngớc lên giữasao trời, sao nớc Sao trời - sao ngời - sao nớc đã hoà quyện vào nhau toả sángcho anh bộ đội của họ bớc qua những khó khăn Đó cũng chính là thứ ánhsáng mang niềm tin yêu và mong ớc vô hạn, lại lẫn một chút nhức nhối, mộtchút tự hào Hình ảnh đó cùng với những xúc cảm, rung động không hề có tr-
ớc, có lẽ chỉ có ở những nhà thơ chiến đấu trực tiếp giữa lòng dân Lê AnhXuân là một nhà thơ - chiến sĩ, nếu không đợc chiến đấu cùng nhân dân,không có cái cảm xúc nồng nàn và một tâm hồn lãng mạn, trong sáng thì có lẽkhó lòng viết nổi những vần thơ đẹp đến thế, thấu đọng lòng ngời đến thế
Nhiều nhận xét thơ lục bát những năm kháng chiến chống Mỹ bớt đi cáimợt mà, dàn trải, tăng chất trẻ trung -có lẽ không đúng với trờng hợp lục bátcủa Lê Anh Xuân Lục bát của anh không những trẻ trung, khoẻ khoắn đầycảm hứng ngợi ca mà còn rất mợt mà êm ái với những xúc cảm rất mãnh liệt
Đặc biệt lục bát của anh còn có hiện tợng câu kết dừng lại ở câu lục(câu 6) Thống kê cho thấy, những kiểu kết thúc nh thế có trong 4 bài (36,4%)
nh Nhớ anh, Về Bến Tre, Em gái đa đò, á nh lửa trên sông
Lối kết nh vậy không những nhấn mạnh ý của toàn bài mà còn mở ranhững ý mới cho cảm xúc thơ mà ngời đọc từ đó có thể cảm nhận đợc, có thểsuy t, có thể liên tởng, có thể phán đoán … Có thể nói nguyêntheo sự liên tởng, tởng tợng và cảmxúc của mình Đó cũng là kiểu kết thúc mà âm hởng của nó còn ngân vangmãi, tạo d ba trong lòng ngời đọc
Những đêm liên lạc dầm ma … Có thể nói nguyên (Nhớ anh)Vẫy vùng một chuyến đò ngang (Em gái đa đò)Sáng ngời ánh lửa trên sông (ánh lửa trên sông) 2.1.4 Thơ tự do
Sau Cách mạng Tháng 8 nhất là sau những năm kháng chiến chốngPháp, chống Mỹ thơ tự do phát triển mạnh mẽ và phong phú Khái niệm thơ tự
do nhằm vào những bài thơ không bị ràng buộc vào những quy phạm nh niêm,
Trang 25luật, nhịp, vần, lợng câu chữ nh ở các thể thơ cổ điển Đó là loại thơ phá vỡcác quy phạm cổ điển để hình thành một quy phạm mới, quy phạm ngôn ngữphải tuân theo mạch cảm xúc, gạt bỏ những gì cản trở mạch cảm xúc.
Hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ đã làm biến đổi cuộcsống, t tởng, tình cảm của con ngời, dân tộc Việt Nam Điều này cũng gópphần quyết định đến sự phát triển của thơ ca Việt Nam hiện đại cả về nội dunglẫn hình thức biểu hiện Bên cạnh những đổi mới ở các thể thơ dân tộc, thơ tự
do cũng phát triển mạnh mẽ đáp ứng nhu cầu đòi hỏi thơ ca đi sát cuộc sống
và thể hiện những cách nhìn nghệ thuật mới của nhà thơ
Chính vì những đặc điểm trên mà số lợng thơ tự do của Lê Anh Xuâncũng khá nhiều, bao gồm 18 bài (30,2%) Trong thơ tự do của Lê Anh Xuâncâu thơ, khổ thơ có sự co giãn, thu hẹp hoặc nới rộng rất đa dạng để phù hợpvới nội dung đợc phản ánh
Dòng thơ tự do có thể là 2, 3, 4, 5 chữ hoặc có lúc kéo dài… Có thể nói nguyên
Đạn đã hếtVòng vây giặc càng siết chặt hơn
Đội du kích chỉ còn lại những chiếc xuồng con
Và trái tim mạnh hơn sắt thép
(Anh đứng giữa Tháp Mời)Khảo sát 941 dòng thơ tự do của Lê Anh Xuân chúng tôi thấy có 169dòng thơ gồm 5 từ trở xuống (18%), còn lại 772 dòng dài hơn 5 từ (82%) Câuthơ, dòng thơ chen phối dài ngắn đợc đặt cạnh nhau làm cho bài thơ trở nênlinh hoạt phù hợp với nội dung đợc nhắc tới
Có lúc lời thơ mang tâm sự của một thanh niên miền Nam tập kết, gởitấm lòng hớng tới quê hơng đang sống trong cảnh chiến tranh
Quê nội ơiMấy năm trời xa cách
Đêm nay ta nằm nghe ma rơi … Có thể nói nguyênNghe tiếng trời gầm xa lắc
Cớ sao lòng thấy nhớ thơng
Và sau khi nhà thơ để ký ức lang thang trong những kỷ niệm ở quê
h-ơng, đó là những cơn ma với những trò chơi thủa bé, có tấm mo cau làmthuyền cho nhà thơ đùa nghịch Con thuyền mo cau ấy giờ chỉ còn trong ký ứcvì nhà thơ đang ở rất xa Bởi thế nếu nh cảm xúc giây phút đầu mới về quê h-
ơng là nỗi nhớ thơng thì đến cuối cùng nhà thơ lại xót đau và muốn đợc trở vềquê hơng thơng nhớ
Ta muốn trở về quê nội
Ta muốn trở lại tuổi thơ
Trang 26Ta muốn nằm trên mảnh đất ông chaNghe ma đập cành tre, nghe ma rơi tàu lá
(Nhớ ma quê hơng)Trong một bài thơ khác nhà thơ lại kể về anh hùng Huỳnh Việt Thanh
"ngời cha có bảy đứa con thơ" nhng vẫn chiến đấu rất anh dũng để bảo vệ xóm làng Giữa lúc bốn bên giặc bao vây, siết chặt anh đã "lao ra hút địch" để
cả đội du kích rút thoát Nhà thơ đã khắc dựng lên t thế hy sinh của ngời độitrởng du kích anh hùng trên nền đất đai sông nớc quê hơng Tháp Mời vừa dữ
dội vừa dịu hiền "bốn mùa lộng gió" Bài thơ đã thể hiện rõ tính khái quát,
cảm hứng ngợi ca và chất giọng sử thi nhng cũng đầy âm hởng nhẹ nhàng, đầytình cảm mến yêu
Tháng t sen nảy lá xanhBông sen trắng, bông sen hồng thơm ngátDẫu những năm ngủ hầm thân gần bùn đấtAnh là hơng sen chẳng lẫn với mùi bùn
và bởi thế nên
Gió thổi tên anh vào lịch sửAnh đứng giữa Tháp Mời
(Anh đứng giữa Tháp Mời)
Cùng với cách dựng tứ thơ ấy Lê Anh Xuân viết Dáng đứng Việt Nam -
bài thơ cuối cùng trong cuộc đời nhà thơ - chiến sỹ cao đẹp của mình Bài thơ viết theo thể tự do, toàn bài 20 dòng với sức khái quát lớn hình tợng anh giải phóng quân chiến đấu nh một thiên thần
Anh ngã xuống trên đờng băng Tân Sơn Nhứt Nhng anh gợng đứng lên tỳ súng trên xác trực thăng
Và anh chết trong khi đang đứng bắn Máu anh phun trên lửa đạn cầu vồng
Từ t thế hy sinh hiên ngang của ngời chiến sỹ giải phóng quân trên ờng băng Tân Sơn Nhất (vào đợt tổng tấn công mùa Xuân Mậu Thân 1968) Lê
đ-Anh Xuân liên tởng khái quát lên thành một "Dáng đứng Việt Nam" tạc vào
thế kỷ Và
Từ dáng đứng của anh trên đờng băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân (Dáng đứng Việt Nam)
Thơ tự do có hai phân nhánh, đó là thơ tổng hợp nhiều thể loại (hợp thể)
và thơ bậc thang Trong thơ Lê Anh Xuân thơ tự do đợc sáng tác ở dạng hợpthể nghĩa là thơ anh thờng tổng hợp nhiều thể loại, chủ yếu vẫn tự do nhng đanxen các thể khác nh 7 chữ, lục bát … Có thể nói nguyên Chẳng hạn trong bài Chào các anh
Trang 27những ngời chiến thắng ngời đọc rất dễ nhận ra ngay ở những câu thơ mở đầu
có sự xuất hiện của thể lục bát
Ôi các anh giải phóng quân!
Các anh đã đi mấy mùa xuânLơng khô cơm vắt súng cầm trong tayChân qua vạn dặm đờng dàiTrờng Sơn đã trải, Đồng Nai đã từng
Và kết thúc lại là 3 khổ thơ của thể 7, 8 chữ
Ôi những năm chìm trong lửa bỏngChỉ có căm thù mang nặng hai vaiNay các anh đứng lên nh Phù Đổng
Đạp trên đầu thù bay tới tơng lai (Chào các anh những ngời chiến thắng)Thơ tự do của Lê Anh Xuân có sự mở rộng hay co giãn của câu chữ,dòng thơ nhng chủ yếu vẫn bảo đảm đợc tính nhịp nhàng của nhịp điệu Đặc
điểm này góp phần chuyển tải những hình ảnh, những con ngời, những sự kiệnthời sự nóng hổi, những suy nghĩ mạnh mẽ, cảm xúc ào ạt Cùng với cách gieovần ngắt nhịp trong câu thơ, dòng thơ một cách linh hoạt nhà thơ đã tạo nênnhững bài thơ hay, giàu cảm xúc, phản ánh đợc thực tế chiến tranh phong phú,
bề bộn Có lẽ thơ tự do chính là sự thể hiện khá rõ rệt quy luật nội dung thốngnhất, gắn bó với hình thức, hình thức phù hợp với nội dung mà chúng tôi đã đềcập ở phần lý thuyết Thơ tự do có u thế, khả năng phản ánh rộng rãi hơn bất
kỳ một thể thơ nào khác và nhờ vậy nó rất gần với cuộc sống trong thời hiện
đại nhất là trong điều kiện chống Mỹ cứu nớc và xây dựng chủ nghĩa xã hội(CNXH) Thực tế đất nớc không ngừng biến đổi, những chiến công vang dộicủa cả hai miền, những con ngời mới mang phẩm chất anh hùng, những nếpsống và t tởng mới đã tác động đến nội dung và hình thức thơ
2.2 Đặc điểm về ngữ âm trong thơ Lê Anh Xuân
Hơn bất cứ ngôn ngữ ở thể loại nào khác, ngôn ngữ thơ với t cách làmột thứ ngôn ngữ giàu nhịp điệu, phong phú về cách hoà âm, tiết tấu, giàu từláy âm, tợng hình… Có thể nói nguyên chính là một thứ ngôn ngữ có cơ cấu để làm chỗ dựa chocác phơng pháp diễn đạt âm nhạc
2.2.1 Âm điệu
Âm điệu là một khái niệm khá rộng và cho đến nay nó vẫn cha thực sự
ổn định Trong nhiều trờng hợp khác nhau ngời ta có thể sử dụng khái niệmnày nh âm điệu bài ca, âm điệu khúc hát, âm điệu làng quê … Có thể nói nguyên Trong phạm vicủa luận văn này chúng ta có thể hiểu âm điệu là một cái gì đó thuộc về giai
điệu của âm thanh
Trang 28Thơ Lê Anh Xuân có nội dung rất phong phú Anh vừa viết về côngcuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc vừa viết về công cuộc kháng chiến chống
Mỹ, về những con ngời, những sự kiện xảy ra ở cả hai miền Thơ anh không vìnhững bề bộn, ngổn ngang của chiến trờng và lao động sản xuất mà mất đi vẻlãng mạn Ngợc lại hầu hết những bài thơ của anh đậm đà tình cảm, chứa chanchất men nồng, nhiệt huyết của tuổi trẻ Trong khung cảnh ác liệt, dữ dội củachiến tranh ta vẫn thấy vang lên đâu đó một tiếng gà gáy, vọng lên đâu đó lời
ca câu hò của những cô gái đa đò, những em liên lạc, những ngời chiến sỹ.Chính những chất liệu rất đỗi bình thờng của cuộc sống và con ngời trongchiến tranh, lửa đạn nh tiếng gà gáy xa hay một nụ cời, một tiếng hát hoặc chỉ
đơn giản là hình ảnh một dấu chân in trên phù sa … Có thể nói nguyên cũng làm cho nhà thơ rngrng cảm xúc Thơ anh vì vậy khi thì mang âm điệu du dơng, êm ả nh nhữnglàn điệu dân ca, khi thì mênh mang nh đất trời vào xuân, khi mang âm điệuhối hả, rạo rực của cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc lúc lại mang nhịp gấpgáp của những trận đánh, những đợt tấn công, những đêm phá đờng … Có thể nói nguyên
Trong những năm sống trên đất Bắc nhà thơ luôn hoài niệm về quê
h-ơng miền Nam, nơi lu giữ bao nhiêu kỷ niệm thời thơ ấu Nhớ ma quê hh-ơng là
một bài thơ anh viết về quê hơng, nơi nhà thơ đã sống một tuổi thơ thanh bình,dịu ngọt Đặc biệt nhớ về quê hơng nhà thơ luôn nhớ về cơn ma nơi quê nhà,
đó là cơn ma kỷ niệm
Ôi cơn ma quê hơng
Ma là khúc nhạc của bài ca êm mátNhững đêm nằm nghe ma hát ma rơiNghe ma đập cành tre, nghe ma rơi tàu lá
(Nhớ ma quê hơng)Những dòng thơ nh những nốt nhạc trên bản nhạc ma Lê Anh Xuân t-ởng tợng từng giọt ma rơi xuống nh là ma đang hát Một bài hát mang âm điệu
du dơng, man mác Bài hát ấy đã đa nhà thơ về với kỷ niệm Đối với anh, quêhơng không phải là một danh từ trừu tợng, quê hơng là tre, dừa, là làng xóm,
là những tấm mo cau, là những chiếc thuyền và là những cơn ma "chở những
kỉ niệm xa chìm lắng bốn phơng trời" Có lẽ vì quê hơng gắn với những gì rất
cụ thể nên nó in sâu vào ký ức nhà thơ và dù xa quê thì anh vẫn luôn sống vớicái cảm giác nh mình đang ở tại quê hơng, đợc ngụp lặn giữa dòng sông ma và
đợc nghe ma rơi, ma hát, nghe ma đập cành tre, nghe ma rơi tàu lá Tiếng ma
rơi thờng gợi niềm xa vắng, cô đơn thế nhng với Lê Anh Xuân "ma là khúc nhạc của bài ca êm mát" Khúc nhạc ấy đa anh trở về với "tàu chuối", với "bẹ dừa", với "những mảnh chòi nhỏ bé" Những kỷ niệm ấy cứ "thì thầm, rào rạt vang xa" … Có thể nói nguyên
Trang 29ở những bài thơ khác Lê Anh Xuân lại đa độc giả trở về sống cùng nhịpsống hối hả, hăng say, vội vã của không khí lao động sản xuất xây dựngCNXH trên đất Bắc Anh đã phản ánh cái không khí ấy với một niềm phấn
khởi và đầy tự hào ở bài Mời năm ta nh đợc chứng kiến sự thay da đổi thịt
của miền Bắc sau chiến thắng Điện Biên
Tôi đứng giữa bốn bề ánh điệnNhìn mênh mông nh đứng giữa ban ngàyHải Phòng, Hòn Gai, Uông Bí
Một vùng công nghiệp của ta
(Mời năm)Hoặc có khi ta bắt gặp một tâm hồn thơ lãng mạn, một giọng thơ nhẹnhàng, dìu dặt khi nhà thơ đang say sa ngắm nhìn thiên nhiên nơi bản Mờng
đang đổi mới từng ngày Cái cảm giác ấy nh bâng khuâng, lâng lâng của mộtbuổi chiều nơi xứ rừng miền Bắc
Bản Mờng ơi chiều xuống rồi nhẹ nắng
Mà lúa vàng trĩu nặng của lòng ta
Đàn bò mộng đờng về ngang suối vắngSuối bỗng vàng nh chở nắng chiều xa
(Nắng chiều)Trở về miền Nam trực tiếp chiến đấu cùng nhân dân, Lê Anh Xuân lại
đem vào trong thơ mình một hơi thở mới với một tấm lòng phơi phới rộn ràng,không hề đắn đo, suy tính Bản thân anh đã lặn lội khắp nơi trên chiến trờngNam Bộ, giữa khói lửa của chiến tranh anh vẫn nhận ra đâu đó đọn mạ xanh
trên cánh đồng ấp Bắc trong veo, có "liếp mía vàng" và bông súng d“bông súng d ới ao nở xoè cánh quạt” rồi Đồng Tháp Mời với những khóm tràm“bông súng d ”, những hàng“bông súng d
binh bát”, rồi Sài Gòn - cái vầng sáng bồn chồn biết bao thơng nhớ với những
phố hè, với những hàng me và cả những con ngời gian lao mà anh dũng Tấtcả đã đi vào thơ anh với một không khí mới, một giọng thơ mới không bi lụy,không đau thơng mà tràn đầy tin yêu, lạc quan, hy vọng với một cảm hứngchủ đạo bao trùm: cảm hứng ngợi ca Cuộc chiến vẫn cha kết thúc, sẽ còn baomất mát hy sinh thế nhng điều ấy không làm tắt đi niềm tin của Lê Anh Xuântrớc thời cuộc Vì vậy, ta vẫn thấy thơ anh lúc đằm thắm, thiết tha lúc lại réorắt, sôi nổi, gấp gáp Nhiều bài thơ ở giai đoạn này vẫn dìu dặt nh những khúchát ru của mẹ
Đây rồi đoạn đờng xaNơi ta vẫn thờng đi trong mộngKẽo kẹt nhà ai tiếng võng đa
ầu ơ… Có thể nói nguyên ơng nhớ lắmth
Trang 30(Trở về quê nội)
Đó là giây phút anh đợc trở về nơi quê hơng yêu dấu, nơi chứa chan kỷ
niệm và đặc biệt có đoạn đ“bông súng d ờng xa” mà anh từng trăn trở trong suốt những năm sống trên đất Bắc Anh gặp lại đoạn đ“bông súng d ờng xa” ấy mà nh gặp lại ngời
thân Anh vồ vập, hân hoan nh đứa trẻ lâu ngày đi xa nay đợc trở về bên mẹ,
đợc sà vào lòng mẹ để đợc tận hởng cái cảm giác mát lành, ấm áp, bình yên
Đặc biệt ở bài thơ Dáng đứng Việt Nam ngời đọc lại đợc sống cùng âm
hởng hùng tráng, tự hào của một khúc tráng ca về sự bất tử của anh giải phóngquân trong thời đại Hồ Chí Minh Bài thơ đợc nhạc sỹ Ca Lê Thuần phổ nhạc
và qua giọng hát truyền cảm của ca sỹ Quang Lý đã làm đọng lại trong ngời
đọc, ngời nghe những ấn tợng sâu sắc khó quên Đó là bài ca hào hùng về anh
giải phóng quân - ngời đã làm nên một Dáng đứng Việt Nam “bông súng d ” tạc vào thế kỉ
Anh tên gì hỡi anh yêu quýAnh vẫn đứng lặng im nh bức thành đồng
Nh đôi dép dới chân anh giẫm lên bao xác Mỹ
Mà vẫn một màu giản dị sáng trongKết thúc bài thơ, cảm xúc của nhà thơ bị dồn nén để dâng trào thành lời
ca bất tận
Tên anh đã thành tên đất nớc
Ôi anh giải phóng quân!
Từ dáng đứng của anh giữa đờng băng Tân Sơn Nhứt
Tổ quốc bay lên bát ngát mùa xuân
(Dáng đứng Việt Nam) 2.2.2 Vần điệu
Dựa vào những tiêu chí khác nhau ngời ta có các cách phân loại vầnkhác nhau ở Việt Nam xa nay vẫn thờng phân loại theo 3 cách:
- Phân loại dựa vào vị trí của tiếng gieo vần ở trong mỗi dòng thơ, khổthơ (thành các vần lng, vần chân, vần chân liền nhau, vần chân ôm nhau, vầnchân đan chéo nhau)
- Phân loại dựa vào mức độ hoà âm giữa hai âm tiết bắt vần với nhau(thành các vần chính, vần thông, vần ép)
- Phân loại dựa vào đờng nét biến thiên của thanh điệu ở âm tiết mangvần (thành vần bằng, vần trắc)
Luận văn này đi vào trình bày đặc điểm về vần điệu trong thơ Lê AnhXuân qua 2 cách phân loại
2.2.2.1 Vần trong thơ Lê Anh Xuân xét ở vị trí gieo vần
Xét về vị trí gieo vần trong dòng thơ, các vần thơ Việt Nam thờng đợcphân chia một cách truyền thống thành hai loại vần chân và vần lng
Trang 31a Vần chân
Vần chân còn gọi là yêu vận, tức là loại vần đợc gieo vào cuối dòng thơnhằm đánh dấu sự kết thúc dòng thơ và tạo nên mối liên kết giữa các dòngthơ
Thơ Lê Anh Xuân chủ yếu đợc gieo vần chân Số lợng bài đợc gieo theoloại vần này là 48 bài ( 80,6% )
Vần chân trong thơ Lê Anh Xuân rất phong phú, đa dạng, bao gồmnhiều dạng nh vần liền, vần gián cách, vần ôm
*Vần liền: Loại vần mà các âm tiết hiệp vần liên tiếp nhau giữa cácdòng thơ Qua khảo sát 1991 cặp vần chân chúng tôi thấy có 348 cặp vần liền
Vần liền đợc sử dụng với nhiều trờng hợp khác nhau, có khi theo kiểu
Có phải mắt em là sông là nớc Những đêm trăng thuyền xuôi thuyền ngợc
Có phải tóc em xanh những bờ tre
Ôi làng quê mát rợi tra hè.
(Ta yêu em)Vần liền xuất hiện nhiều trong thơ đem lại hiệu quả cao cho thơ ở cáckhổ thơ, dòng thơ có mặt vần liền đều cho chúng ta thấy rõ một sự liền mạch,gắn bó, ý này nối tiếp ý kia, dòng này kéo theo dòng kia tởng chừng khôngthể dứt
* Vần cách: Vần cách hay còn gọi là vần gián cách, vần giao nhau Đây
là loại vần chiếm số lợng nhiều nhất trong thơ Lê Anh Xuân với 371 cặp vần.Vần cách là loại vần trong đó hai âm tiết cuối của dòng lẻ bắt vần với nhau vàhai âm tiết cuối của hai dòng chẵn bắt vần với nhau, các âm tiết hiệp vần xen
kẽ nhau liên tục tạo thành thế gián cách, kiểu AB AB Trong nhiều bài thơ ởthể 7,8 chữ hoặc 5 chữ và một số bài thơ tự do có khổ bao gồm 4 vần, nghĩa là
ở dòng nào cũng có vần Với khổ 4 vần, sự phân bố của nó nh sau:
Bến Tre ơi dừa xanh soi bóng
Thuyền tuổi thơ rẽ sóng năm nào
Trang 32Nay nghe đã căng buồm giải phóng
Cờ mít tinh lồng lộng trên cao.
(Những dòng sông anh hùng)Tuy nhiên cũng có nhiều bài thơ trong đó chỉ có hai vần ở hai dòng bắtvần với nhau
Em yêu hỡi đêm nay trong ấy
Em nhìn sao có thấy sáng hơn không?
Trời quê hơng cha bừng ánh điện
Nhng đêm đen đã loé sắc hồng
(Đêm Uông Bí)Mặc dù hình thức đan chéo, gián cách nhau nhng trong những bài thơ,khổ thơ sử dụng vần này lại mang trong nó một sự hoà quyện chặt chẽ giữa ý
và lời Câu thơ, dòng thơ không những cân xứng, hài hoà mà còn mang lạimột lợng thông tin, ngữ nghĩa tơng ứng với nó
* Vần ôm: Vần ôm xuất hiện trong thơ Lê Anh Xuân không nhiều, chỉ
có 44 cặp vần tuy vậy hiệu quả mà nó mang lại không phải là nhỏ ở vần ôm,
sự phân bố của nó nh sau:
Âm tiết cuối của dòng thứ nhất bắt vần với âm tiết cuối của dòng cuối,
âm tiết cuối của hai dòng giữa bắt vần với nhau, kiểu ABBA
Em đừng quên con đờng tới trờng làng
Có hàng mì xanh và dòng kênh đỏ
Đừng quên ngấn bùn trên chân em thủa nhỏ
Đừng quên đất mẹ miền Nam
(Đất miền Nam)Hoặc có trờng hợp âm tiết cuối của dòng thứ hai bắt vần với âm tiếtcuối của dòng thứ ba, lúc này vần của dòng thứ t trở nên tự do, không bị ràngbuộc, gò bó bởi vần của các dòng trớc hay sau nó:
Trên núi cao dân công đổ xuống
Dới vực sâu bộ đội tràn lên Ngời nối ngời rầm rập ngày đêm
Đờng chiến dịch tởng nh dài vô tận
Trang 33thể là nếu hai âm tiết bắt vần có vần mang thanh B thì hai âm tiết cuối củadòng còn lại sẽ mang thanh T
Ví dụ:
Và anh thấy bóng em cùng bà con trong ấy
Mật hiệu trao nhau tay vẩy khăn rằn
Gà gáy canh năm em chít lại vành khăn
Chuẩn bị sáng này chống giặc
(Tiếng gà gáy)Mặc dù ở 4 dòng thơ trên chỉ có hai âm tiết ở hai dòng giữa hiệp vần với
nhau nhng ở hai âm tiết còn lại là ấy “bông súng d – giặc” có đặc điểm là cùng mangthanh T cho nên ta thấy giữa các dòng vần có một sợi dây liên kết với nhaulàm cho câu thơ trở nên liền mạch
b Vần lng
Vần lng còn gọi là yêu vận Đây là loại vần đợc gieo vào giữa dòng thơ.Vần lng là một hiện tợng đặc sắc của luật vần Việt Nam, tạo nên tính chấtgiàu nhạc điệu của tiếng Việt và câu thơ Việt
Trong thơ Lê Anh Xuân vần lng xuất hiện ở nhiều bài nhng chiếm tần
số cao lại chỉ có trong lục bát và song thất lục bát cho nên chúng tôi đi vào tìmhiểu vần lng ở hai thể này
*Vần lng trong thể lục bát
Đặc trng, tiêu chí của loại vần này là âm tiết cuối của vế trên (câu lục)bắt vần với âm tiết nằm ở quảng giữa của vế dới (câu bát) Thơ lục bát của LêAnh Xuân có 267 cặp vần lng Vần lng ở thể lục bát trong thơ Lê Anh Xuân
đợc gieo khá đa dạng, có khi gieo ở âm tiết thứ 6 câu lục và thứ 2 câu bát
Chị ta chúng khảo chúng tra
Em ta chết tuổi mới vừa đôi mơi
( Về Bến Tre)
Có khi lại đợc gieo ở âm tiết thứ 6 câu lục và thứ 4 câu bát
Thôi em ở lại anh đi Giết xong giặc Mỹ anh về thăm em
(ánh lửa trên sông)
Và phổ biến nhất vẫn là kiểu gieo vần ở âm tiết thứ 6 câu lục và thứ 6 câu bát
Rừng xa vọng tiếng chim gù Ngân nga tiếng suối vi vu gió ngàn Mùa xuân đậm lá ngụy trang
Đờng xa tiền tuyến nở vàng hoa mai
(Rừng xuân)
Trang 34Sự vận động trong việc gieo vần của thể lục bát đã đa lại cho bài thơ sự
nhịp nhàng, uyển chuyển, linh hoạt ở câu thơ trên 2 âm tiết gù - vù“bông súng d ” hiệpvần với nhau đa lại hiệu quả rất lớn Đọc lên ta không thấy bóng chim nhng d-ờng nh vẫn nghe rõ những âm thanh của sự sống sinh sôi vọng lại từ nhữngtiếng chim Câu thơ miêu tả âm thanh nhng nhng hoá ra lại đem đến một hiệuquả cao hơn, đó là sức gợi hình Có thể ngời đọc sẽ hình dung một tổ ấm trong
đó chim mẹ đang che chở, ôm ấp những cái trứng bé bỏng, chờ đợi đàn con sẽ
ra đời Đó là âm thanh của niềm hi vọng, của niềm hạnh phúc hân hoan Bên
cạnh đó còn có sự cộng hởng của tiếng suối ngân nga“bông súng d ” nh tiếng đàn bất tận
của thiên nhiên hoà trong tiếng vi vu“bông súng d ” của gió ngàn đã đem đến cho tâm hồn
ta một luồng sinh khí trong lành của rừng xuân “bông súng d ” Bởi thế cho nên mặc dù
đang ở giữa cuộc chiến tranh đầy mất mát, hi sinh chúng ta vẫn cảm thấy mộtniềm lạc quan, tin tởng Quả thật chính nhờ những vần lng níu nhau trực tiếptrong từng câu thơ đã gợi lên những âm điệu đặc biệt và góp phần tăng sức gợicảm cho tứ thơ
*Vần lng trong thể song thất lục bát
Lê Anh Xuân chỉ làm một bài thơ ở thể này, đó là bài Bông trang đỏ tuy
nhiên đây là một bài thơ rất hay về hình ảnh ngời mẹ Đó là một ngời mẹ cảmột đời nuôi giấu bộ đội, nuôi giấu những cán bộ, một sự hi sinh thầm lặng
mà cao cả, kiên cờng Bài thơ mở đầu và kết thúc bằng hai khổ thơ song thấtlục bát lặp lại
Dừa Bến Tre bốn mùa xanh mát Sông Hàm Luông ca hát sớm chiều
Hát rằng hỡi mẹ kính yêu Cuộc đời mẹ đẹp nh màu bông trang.
Bài thơ bao gồm 35 khổ thơ song thất lục bát (140 dòng) ở mỗi khổthơ có sự xen kẽ, phối hợp nhịp nhàng giữa vần chân và vần lng đặc biệt là sựxuất hiện của 4 vần lng liên tiếp nhau Ta thấy rằng ở dạng cổ điển và phổbiến nhất, vần trong thể song thất lục bát có mô hình nh sau:
Hát rằng hỡi mẹ kính yêu
Trang 35Cuộc đời mẹ đẹp nh màu bông trang
2.2.2.2 Vần trong thơ Lê Anh Xuân xét ở mức độ hòa âm
Âm tiết tiếng Việt là đơn vị hiệp vần của thơ ca Việt Nam Vì vậy trong
các vần thơ bao giờ cũng có sự cộng h“bông súng d ởng”, sự hoà xớng với nhau của các
âm tiết hiệp vần Để tạo ra sự hoà âm cho các cặp vần đồng thời với tác dụnghoà phối, kết hợp tơng hỗ của các yếu tố cấu tạo còn phải kể đến sự hoà xớng,
đối chọi nhau của các yếu tố tơng ứng của hai âm tiết hiệp vần Đó là sự hoà
âm giữa thanh điệu, giữa âm chính, âm cuối của âm tiết này với thanh điệu,
âm chính, âm cuối của âm tiết khác… Có thể nói nguyên.Trong những yếu tố trên thanh điệu, âmchính và âm cuối là những yếu tố chính tham gia vào việc tạo ra sự hoà âmcho các vần thơ Việt Nam Sự kết hợp chặt chẽ giữa 3 yếu tố đó đã làm cho cảkhối có vai trò quyết định âm hởng chung cho toàn âm tiết và do đó quyết
định đến sự hoà âm của các âm tiết hiệp vần Chính vì vậy mà khi phân loạivần thơ thành vần chính, vần thông, vần ép ngời ta đã căn cứ vào 3 yếu tố này
a Vần chính
Xét về mặt hoà âm thì vần chính là vần đạt hiệu quả cao nhất so với cácvần còn lại, do vậy nó đòi hỏi hai âm tiết hiệp vần với nhau phải có sự đồngnhất ở phần cơ bản của âm tiết, tức là đồng nhất ở thành phần chủ yếu tạo ra
điệp vần, tối thiểu phải có sự khác nhau ở một trong ba thành phần: âm đầu,
âm đệm ( có/ không), thanh điệu ( trong phạm vi nhóm B hoặc nhóm T)
Dựa vào tiêu chí trên qua khảo sát 1485 cặp vần chúng tôi thấy trongthơ Lê Anh Xuân có đến 739 cặp vần chính (49,8%)
Kiểu 1: Khác nhau hoàn toàn ở âm đầu, thanh điệu có thể đồng nhấthoàn toàn hoặc chỉ đồng nhất ở đặc trng tuyền điệu, các thành phần khác đồngnhất hoàn toàn
Vẫn thấy thân yêu mặt trời toả nắng Cầm th Bác: chúng con cầm chiến thắng
(Mặt trời thân yêu)
Trang 36Kiểu 2: Khác nhau hoàn toàn ở âm đệm, thanh điệu đồng nhất hoàntoàn hoặc chỉ đồng nhất ở đặc trng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhấthoàn toàn.
Những vết chân thơ ấu buổi đầu tiên Mấy tấm mo cau là mấy chiếc thuyền
(Nhớ ma quê hơng)Kiểu 3: Khác nhau ở thanh điệu nhng vẫn trong phạm vi đồng nhất đặctrng cùng tuyền điệu, các thành phần khác đồng nhất hoàn toàn
Đã bao năm lòng ta bầm đỏ
Phía trời xa thành phố Sài Gòn
Cái vầng sáng bồn chồn thơng nhớ đó… Có thể nói nguyên
(Mùa xuân Sài Gòn, mùa xuân chiến thắng)Kiểu 4: Khác nhau hoàn toàn ở âm đầu và âm đệm, thanh điệu có thể
đồng nhất hoàn toàn hoặc chỉ đồng nhất ở đặc trng tuyền điệu, các phần khác
đồng nhất hoàn toàn
Ôi khẩu pháo – Ngời thơm hơng cuộc sống
Ngời đứng canh cho tổ quốc bình yên Màu xanh xanh nh hoa lá công viên… Có thể nói nguyên
(Những khẩu pháo màu xanh)
Nh vậy vần chính đã đem lại cho những dòng thơ sự nhịp nhàng cân đối
đồng thời tạo âm hởng nhẹ nhàng, êm ái cho bài thơ
Đêm quê hơng đang bừng đỏ rực
Giữa canh t đã thức dậy rồi
Náo nức lòng ta theo trống giục
“bông súng d Đi lên thị xã bà con ơi ”
(Gởi Bến Tre)
Trang 37ở khổ thơ trên có hai cặp âm tiết bắt vần với nhau Cặp thứ nhất rực -“bông súng d
giục” có sự hiệp vần giữa hai âm chính [w] và [u] đều là những nguyên âm
không tròn môi và độ mở hẹp vì vậy khi đọc ta không mở rộng đợc khoangmiệng và âm không kéo dài Bên cạnh đó là sự hiệp vần giữa 2 âm cuối là [k],
đây là phụ âm tắc vô thanh Nh vậy khi âm chính [w] và [u] kết hợp với âmcuối [k] tạo thành một cặp vần (c, uc) đã gợi lên một không khí ngột ngạt
đang diễn ra trên quê hơng cách mạng Cùng với không khí ấy ta nghe nhtiếng thúc dục, gấp gáp nữa nh căm hờn của những ngời dân Và ở cặp thứ 2
có sự hiệp vần giữa 2 âm tiết rồi- ơi “bông súng d ” Đó là sự hiệp vần giữa hai âm chính [ ]
và [ô] trong đó [ô] là nguyên âm tròn môi và [ ] nguyên âm không tròn môicùng có độ mở hẹp kết hợp với bán nguyên âm [-i] là nguyên âm cao thẳng và
là âm vang nên đã tạo đợc một âm hởng nhẹ nhàng hơn hai âm ở trên Cả 2cặp âm tiết nửa mở liên tiếp hiệp vần đã tạo nên một lời thúc dục kêu gọi bàcon đi theo tiếng trống để đấu tranh giành lại tự do cho quê hơng
Đặc biệt trong thơ Lê Anh Xuân có nhiều cặp vần trong đó có một âmtiết chứa nguyên âm [a] hiệp vần với nguyên âm khác nh [e], [ie], [u], [o]… Có thể nói nguyên
Đây là những cặp vần chứa 2 âm vị vừa không cùng loại âm sắc vừa khôngcùng bậc âm lợng và nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là những vần ép ví dụ:
Dới sông ngực đập bồi hồi Mời hai cô gái mời hai nhịp cầu
( Qua cầu)Trong hệ thống nguyên âm tiếng Việt, [a] là âm vị vừa có âm sắc trunghoà vừa có âm lợng lớn nhất Nó đứng ở vị trí đỉnh trong hình tam giácnguyên âm nghĩa là ở chổ giao điểm của 3 hàng nguyên âm Vì vậy khả năngbắt vần của [a] với tất cả các nguyên âm khác là rất lớn Nếu nh ở vần ép (ta sẽtìm hiểu sau) các nguyên âm ở 2 âm tiết hiệp vần với nhau không có gì ràngbuộc nhất định trực tiếp về mặt ngữ âm thì ở vần thông mối liên hệ đó biểuhiện rất rõ rệt Nguyên âm [a] vẫn có những mối liên hệ, những ràng buộcnhất định về mặt ngữ âm với tất cả các nguyên âm khác Bởi vậy ở những tr-ờng hợp này chúng tôi đồng tình với ý kiến của tác giả Võ Bình, Mai NgọcChừ, Phan Ngọc… Có thể nói nguyên cho rằng tất cả các trờng hợp hiệp vần có [a] tạo cặp vầnvới một nguyên âm khác đều là vần thông Tất nhiên đặc điểm này cũng sẽ đ-
ợc áp dụng với nguyên âm [ă] vì hai nguyên âm này chỉ khác nhau về trờng
Trang 38Vần ép là những trờng hợp trong đó các cặp vần hiệp vần theo nhữngtiêu chuẩn sau:
- Thanh điệu và âm cuối phải phân bố hoàn toàn giống nh ở vần thông,tức là hai yếu tố này hoặc đồng nhất hoàn toàn hoặc đồng nhất đặc trng ngữ
âm nhất định
- Nguyên âm làm âm chính ở hai âm tiết hiệp vần với nhau vừa không
đồng nhất đặc trng âm sắc vừa không đồng nhất đặc trng âm lợng, có nghĩa là
đi ra ngoài những ràng buộc về mặt ngữ âm vốn có ở loại vần thông
Trong thơ Lê Anh Xuân vần ép chiếm số lợng không nhiều, chỉ có 30cặp vần (2,0%) Tuy nhiên do có những nét đồng nhất về mặt ngữ âm ở thanh
điệu và âm cuối nên nó cũng đem lại hiệu quả nhất định trong việc tạo ra sựhoà âm cho vần thơ Ví dụ:
Miền Bắc nơi lòng tôi yêu quý
Nơi bừng lên chân lý : Bác Hồ Nơi đang dựng một thiên đờng hùng vĩ Nơi còn đây di chỉ của ngời xa.
(Gởi Miền Bắc) 2.2.3 Nhịp điệu trong thơ Lê Anh Xuân
"Nhịp, theo nghĩa khái quát nhất là sự phân biệt trong một chuỗi ngữ
l-u, đợc đánh dấu bằng chỗ ngừng, hoặc bằng điểm nhấn ngữ âm hay ngữ nghĩa, bắt buộc hay không bắt buộc" [18;163]
Thơ có nhịp của thơ, văn xuôi có nhịp của văn xuôi Nhịp của thơ thờng
có chu kì ngắn, láy đi láy lại liên tục, thể hiện ở hai bậc: nhịp dòng thơ và nhịptiết tấu trong dòng Biểu hiện nhịp trong thơ Lê Anh Xuân nh sau:
2.2.3.1 Nhịp trong thơ 5 chữ
Thơ 5 chữ của Lê Anh Xuân vừa có nhịp 3/2 vừa có nhịp 2/3 xen kẽnhau tạo nên sự nhịp nhàng, đều đặn cho khổ thơ, bài thơ Trong 181 dòng thơ
có 96 nhịp 3/2 (53%) và 83 nhịp 2/3 (46%), còn lại là một vài nhịp khác nh1/2/2… Có thể nói nguyên Nhịp 2/3 và 3/2 phối hợp luân phiên nhau làm cho bài thơ bớt đi chất
tự sự vốn có của thể thơ đồng thời tạo các bài thơ một âm điệu rất tự nhiên nhẹnhàng
ở bài thơ Đêm ma chính nhờ sự xuất hiện đồng thời hai nhịp này màcâu thơ, dòng thơ tởng chừng rất khô khan nh những phát ngôn hàng ngày trởnên đầy thi vị và gợi lên không khí thi đua hăng hái nhiệt tình trong đêm ma
Bỗng tôi / nghe tiếng hát
át hẳn / tiếng ma rơiNhanh chân / anh em ơi
Ma rơi /rồi ma tạnh
Trang 39áo ớt / rồi sẽ khô
Nhng nếu còn / quân giặc
Ta sẽ khổ / muôn đời
(Đêm ma)
Trong bài Lão du kích nhịp thơ đã làm cho nhịp kể của ông lão và nhịp
kể của nhà thơ trở nên linh hoạt Nhờ vậy những câu kể, tâm sự không còn tẻnhạt, đơn điệu mà mang âm hởng luyến láy khi trầm lúc bổng, khi sôi nổi, vuitơi, lúc thiết tha, trầm lắng Và cuộc đời ông lão nh những thớc phim quaychậm hiện lên trong trí nhớ ngời đọc
Đó là những lời kể trầm buồn về cuộc đời lão thủa đang còn nô lệ
Vợ chết / năm năm sauTrả cha xong / nợ cớiCuộc sống kiếp / ngựa trâuHận thù / cao hơn núi
Có khi là giọng vui tơi đùa nghịch dí dỏm
Lão nói / lão già rồiMỗi lần / đi đánh giặcLão chỉ cần / ít thôiRợu trắng / xin vài hớp
(Lão du kích)Trong một bài thơ có khi nhà thơ sử dụng xen kẻ hai nhịp 2/3 và 3/2
nh những ví dụ trên, có khi nhà thơ lại sử dụng một nhịp và thờng là một nhịp3/2 trong một khổ
Cây vờn xa / ngã xuống
Đã mọc dậy / rừng chông
Và lòng tôi / cháy bỏngNhững hạt giống / căm hờn
(Vờn xa)Nhịp 3/2 nh nhấn mạnh và làm sống dậy một khí thế chiến đấu khôngchịu khuất phục của bà con trong cuộc đấu tranh chống lại giặc Mỹ đồng thời
nói lên lòng căm thù của nhân vật Tôi“bông súng d ” trớc cảnh vờn xa bị tàn phá trở nên
điêu tàn
2.2.3.2.Nhịp trong thơ lục bát
Thơ lục bát của Lê Anh Xuân sử dụng rất nhiều nhịp nh: 2/2/2, 4/2, 2/4,3/3, 4/4, 3/5, 2/2/4, 4/2/2… Có thể nói nguyên Ngoài ý thức làm thơ dựa trên những nhịp điệu cơbản nh: 2/2/2, 2/2/2/2, 3/3, 4/4 để duy trì tạo nên cái nền của thể loại nhà thơcòn sử dụng nhiều nhịp điệu khác xen lẫn nhau cho câu thơ, dòng thơ lục bátvừa diễn tả đợc hết cái bộn bề, phong phú của hiện thực trong cuộc sống thời
Trang 40chiến vừa đảm bảo đợc âm hởng, giai điệu mợt mà duyên dáng vốn có ở thểthơ này.
- Biểu hiện nhịp trong câu lục
ở câu lục Lê Anh Xuân sử dụng các nhịp 3/3,2/4, 4/2, 2/2/2… Có thể nói nguyêntuy nhiênnhịp có tần số xuất hiện cao nhất vẫn là nhịp 2/4 và 4/2
Qua khảo sát 314 dòng thơ lục bát chúng tôi thấy trong thơ Lê Anh Xuân
có 95 dòng có nhịp 2/4 (30,3%) và 30 dòng có nhịp 4/2 (9,6%)
Nhịp 2/4
Đi đi/,anh cứ qua sông
Đừng lo cầu nối bồng bềnh, anh nghe
Đi đi/, anh cứ qua sông
… Có thể nói nguyênKịp giờ nổ súng, em mừng em vui
(Qua cầu)Nhịp 4/2
Em còn trẻ lắm,/ em ơiMới hai mơi tuổi mắt cời trong veo (Cô “bông súng dxã đội” )Nếu nh ở nhịp 4/2 câu thơ mang giọng điệu chậm rãi, tâm tình thì ngợclại hầu hết ở những câu thơ mang nhịp 2/4 giọng thơ trở nên nhanh hơn, gấpgáp hơn, có khi nh là lời động viên, thúc giục… Có thể nói nguyên
- Biểu hiện nhịp trong câu bát
Nhịp 4/4 là nhịp thơ xuất hiện với tần số cao nhất trong câu bát, baogồm 111 nhịp (35,4%)
Mắt em ngắm tai em ngheTừng cơn sóng cuộn / từng bè lá trôi
ở đây tàu Mĩ ngợc xuôiMáu ngời còn đấy, / xác ngời còn đây (ánh lửa trên sông)Nhịp 4/4 đã tạo sự liền mạch và cân xứng trong dòng thơ ở cả ý và lời.Ngoài nhịp 4/4 câu bát trong thơ Lê Anh Xuân còn sử dụng khá linhhoạt các nhịp khác nh 4/2/2, 2/2/4, 3/5, 5/3… Có thể nói nguyên
Nh vậy qua tìm hiểu nhịp trong thể lục bát chúng tôi thấy một đặc điểmnổi bật nhất là nhịp thơ thờng nhanh, mạnh phù hợp với nhịp điệu của cuộcsống hiện đại, cuộc sống của chiến đấu và xây dựng bảo vệ tổ quốc nhng vẫngiữ đợc cách diễn tả cảm xúc đa dạng, phong phú, giữ đợc những nét quenthuộc không những thế còn tạo nên dáng dấp mới cho ngôn ngữ thơ
2.2.3.3 Nhịp trong thơ 7, 8 chữ