1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

LA 0 đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai (biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)03699

102 953 5
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thuỳ Mai (biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)
Tác giả Nguyễn Thị Hải Yến
Người hướng dẫn GS. TS Đỗ Thị Kim Liên
Trường học Trường Đại học Vinh
Chuyên ngành Ngữ văn
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Vinh
Định dạng
Số trang 102
Dung lượng 535 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tác giả đã nhận xét về thế giới nhân vật truyện ngắn Trần Thuỳ Mai: “ngòi bút Trần Thuỳ Mai hớng tới phát hiện vẻ đẹp phẩm cách và lòng hớng thiện của những nhân vật trong truyện” và đặc

Trang 1

Nguyễn Thị Hải Yến

Đặc điểm ngôn ngữ

truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

(Biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)

Bộ giáo dục và đào tạo

Trờng Đại học Vinh

Nguyễn Thị Hải Yến

Đặc điểm ngôn ngữ

Trang 2

truyÖn ng¾n TrÇn Thuú Mai(BiÓu hiÖn qua tõ ng÷ vµ c©u v¨n)

Trang 3

Có thể tìm đọc luận văn tại th viện Trờng Đại học Vinh

Lời cảm ơn

Thực hiện đề tài này, chúng tôi nhận đợc sự hớng dẫn tận tình chu đáocủa giáo viên hớng dẫn GS TS Đỗ Thị Kim Liên Bên cạnh đó, chúng tôi cònnhận đợc những ý kiến góp ý chân thành của TS Trần Văn Minh, TS HoàngTrọng Canh và các thầy cô giáo trong tổ Ngôn ngữ, khoa Ngữ văn, Trờng Đạihọc Vinh Nhân dịp này, cho phép chúng tôi bày tỏ lòng biết ơn và gửi lời cảm

ơn sâu sắc đến các thầy, cô giáo

Vinh, tháng 12 năm 2006

Tác giả

Mục lục

Trang 4

Chơng 1: Những giới thuyết chung quanh đề tài 51.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn 5

Chơng 2: Đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ

trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

20

2.2 Sử dụng các lớp từ ngữ đặc sắc trong truyện ngắn

3.1.1 Thống kê và miêu tả các kiểu cấu trúc câu hội thoại

trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

67

3.1.2 Vai trò ngữ nghĩa câu hội thoại trong truyện ngắn Trần

Thuỳ Mai

73

3.2 Đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa câu trần thuật miêu tả trong

truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

84

3.2.1 Thống kê và miêu tả các kiểu cấu trúc câu trần thuật

miêu tả trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

84

3.2.2 Vai trò ngữ nghĩa câu trần thuật miêu tả với việc thể hiện

mạch cảm xúc trữ tình trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

Trang 5

qua tìm hiểu đặc điểm sử dụng ngôn ngữ là một hớng đi đã đợc khẳng định và

do dó ngôn ngữ truyện ngắn trở thành một đối tợng đợc đặc biệt quan tâmnghiên cứu bởi những đặc trng mang tính thể loại của nó Với truyện ngắn,dung lợng ngôn từ không lớn, nhng chúng phải phản ánh đợc một lát cắt, mộtvấn đề thể hiện bản chất của hiện thực cuộc sống Đi vào hệ thống ngôn ngữtruyện ngắn của một tác giả có thể khám phá đợc những điều thú vị, bởinhững tính thẩm mĩ, hình tợng gắn với đặc trng của thể loại và đặc biệt là tínhcá thể, những dấu ấn của cá tính sáng tạo, đóng góp của nhà văn đối với ngônngữ dân tộc Bởi lí do đó, tìm hiểu truyện ngắn Trần Thuỳ Mai, chúng tôi đã

đi từ phơng diện đặc điểm ngôn ngữ nghệ thuật

1.2 Trần Thuỳ Mai thuộc thế hệ nhà văn thời kỳ hậu chiến Chị bắt đầuviết từ năm 1983, nhng phải 5,6 năm lại đây, ngòi bút của chị mới thực sự đạt

đến độ sung mãn Năm tập truyện liên tiếp ra đời, tác phẩm của chị đã đợc

tặng nhiều giải thởng: giải thởng văn học Cố đô 1998 (Thị trấn hoa quì vàng),

giải thởng Hội nhà văn Việt Nam năm 2002, giải thởng văn học Cố đô năm

2004 (Quỷ trong trăng), Giải thởng của UB toàn quốc Liên hiệp các hội Văn học nghệ thuật Việt Nam năm 2006 (Thập tự hoa)

Trong những năm gần đây, văn đàn Việt Nam không còn bình lặng nh

tr-ớc Thời kỳ mở cửa, trong bầu không khí đổi mới về kinh tế và xã hội, nhà văn

đã có sự bứt phá, tìm tòi, sáng tạo ra những hớng đi mới Xung quanh vấn đềnày còn có nhiều ý kiến khác nhau, nhận chân giá trị cái mới cần phải có thờigian và thử thách Trong luồng không khí nóng hổi đó, truyện ngắn Trần ThuỳMai là suối nguồn trong trẻo, tinh khôi, đằm thắm, nhng cũng không ít sóngngầm Chị đã thể hiện cái nhìn rất riêng về con ngời và cuộc sống vào trongtác phẩm, bộc lộ sự từng trải, tính lãng mạn, chất nhân văn trên từng trangviết

Bởi những lí do trên chúng tôi đi vào tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn TrầnThuỳ Mai, do giới hạn của đề tài, chúng tôi chỉ dừng lại khảo sát đặc điểm cáclớp từ ngữ và đặc điểm cấu trúc - ngữ nghĩa câu văn

2 Đối tợng và nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Đối tợng nghiên cứu

ở đề tài này, chúng tôi không có điều kiện để khảo sát toàn bộ sáng tác

của nhà văn Trần Thuỳ Mai Chúng tôi chọn tập Đêm tái sinh (Nhà xuất bản

Trang 6

Thuận hoá, 2004) làm đối tợng nghiên cứu Đây là tuyển tập một giai đoạnsáng tác tiêu biểu của tác giả, bao gồm 45 truyện ngắn Chúng tôi nghiên cứutập truyện ngắn này trên bình diện từ vựng và ngữ pháp

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài hớng đến các nhiệm vụ sau:

a Tìm hiểu đặc điểm sử dụng từ ngữ trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

b Tìm hiểu đặc điểm cấu trúc và ngữ nghĩa câu văn trong truyện ngắnTrần Thuỳ Mai

c Đa ra những nhận định về những đóng góp của Trần Thuỳ Mai trongviệc sử dụng chất liệu ngôn từ trong truyện ngắn của mình

3 Lịch sử vấn đề

Về truyện ngắn Trần Thuỳ Mai, có nhiều bài báo, bài nghiên cứu khá đadạng nhng chủ yếu đứng ở bình diện lịch sử văn học, lí luận văn học, xã hộihọc Chúng tôi điểm qua một số đánh giá nh sau:

Tác giả Hoàng Nguyên Vũ có bài: Ngời đàn bà đi trong ma phùn [49], ở

bài viết này, tác giả cho rằng, nhà văn Trần Thuỳ Mai trong những năm gần

đây “có sức bật lớn trên văn đàn”, “về phơng diện viết khoẻ, nhiều nhà văn

lấy làm nể phục” Về nội dung, đề tài truyện ngắn Trần Thuỳ Mai đợc đánh

giá là khá rộng và sâu: “càng về sau văn chị đọc càng đời, càng đầy đủ mặn

ngọt đắng cay của những phận đời trong đó” Đặc biệt Trần Thuỳ Mai quan

tâm đến đề tài tình yêu nhng “Tình yêu chỉ là động lực cho bút lực, còn để có

những trang văn rất đời, rất Huế lại là chuyện khác” Tác giả cho rằng, một

trong những thành công của tác giả Trần Thuỳ Mai là thể hiện thế giới nhân

vật, “trang viết của chị chứa đựng những cuộc đời nho nhỏ, cuộc đời thoáng

qua, có cuộc đời gặp một lần rồi hun hút, có cuộc đời trong những giấc mơ triền miên”, nhân vật của chị chân thật, gần gũi: “Những nhân vật của chị cứ vậy, cựa quậy trong những ớc mơ, nửa nh thoát tục nửa nh thoát đời, nhng mà lại rất đời” Nhng, đằng sau cái dung dị, gần gũi đó là những thông điệp có ý

nghĩa sâu sắc về cuộc đời, rất nhiều nhân vật của chị “thoát khỏi những định

kiến, đấu tranh với lễ giáo, bứt phá với đất trời, với số kiếp để bay lên cùng tình yêu khát khao những hạnh phúc dẫu rất mỏng manh” [49, tr 3] Nhà văn

Trần Thùy Mai gắn bó với xứ Huế, đợc đánh giá là “giọng văn trẻ tiêu biểu”

cho mảnh đất này

Trang 7

Tác giả Minh Phơng trong bài giới thiệu tác phẩm Ma đời sau [37] có

những nhận định sâu sắc về nội dung, phong cách tác giả và tác phẩm TrầnThuỳ Mai Tác giả đã nhận xét về thế giới nhân vật truyện ngắn Trần Thuỳ

Mai: “ngòi bút Trần Thuỳ Mai hớng tới phát hiện vẻ đẹp phẩm cách và lòng

hớng thiện của những nhân vật trong truyện” và đặc biệt nhân vật của chị đợc

“khéo léo khắc hoạ diễn biến tâm lí với lối kết hợp tự nhiên, bất ngờ, lôi

cuốn” Tác giả cho rằng, Trần Thuỳ Mai đề cập đến những “vấn nạn trong xã hội” bằng cảm nhận riêng “phản ánh bằng cách cảm, cách nghĩ của nữ giới giàu lòng trắc ẩn, nhân hậu, vị tha” Theo tác giả, giọng văn Trần Thuỳ Mai

“tinh tế, thủ thỉ, thấm đẫm chất huyền thoại”, “những trang viết của chị nhuần

nhụy, lắng đọng và gần gũi” Và đặc biệt, tác giả phát hiện “cách kết cấu truyện hiện đại, lắp ghép kiểu điện ảnh, giàu kịch tính” nên nhiều truyện ngắn

của chị đợc chuyển thể thành kịch bản phim và đợc dựng thành phim

Tóm lại, điểm lại các bài viết về tác phẩm của Trần Thuỳ Mai, đa số các

ý kiến đánh giá cao những đóng góp của chị trên bình diện văn học, cha cócông trình nào tìm hiểu tác phẩm của Trần Thuỳ Mai từ phơng diện ngôn ngữhọc Vì vậy, đề tài của chúng tôi đã lựa chọn hớng tiếp cận còn bỏ ngỏ này

4 Phơng pháp nghiên cứu

Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng những phơng pháp nghiên cứusau:

3.1 Phơng pháp thống kê, phân loại

Chúng tôi sử dụng phơng pháp thống kê, phân loại các lớp từ ngữ cũng

nh các kiểu câu theo 2 tiêu chí cấu tạo và ý nghĩa

3.2 Phơng pháp phân tích và miêu tả

Trên cơ sở thống kê, phân loại, chúng tôi đã phân tích và miêu tả từngnhóm từ cụ thể và các kiểu câu về phơng diện cấu trúc- ý nghĩa

3.3 Phơng pháp tổng hợp

Kết quả thống kê, phân loại, miêu tả chỉ mới dừng lại ở các sự kiện riêng

lẻ, dàn trải Vì vậy, chúng tôi đã sử dụng thêm phơng pháp tổng hợp để khái quát các vấn đề thành các qui luật mang tính chung, điển hình

3.4 Phơng pháp so sánh đối chiếu

So sánh truyện ngắn Trần Thuỳ Mai với một số tác giả khác (nhất là tácgiả nữ cùng thời Nguyễn Thị Thu Huệ và tác giả Nguyễn Huy Thiệp) nhằm

Trang 8

mục đích làm nối bật đặc điểm riêng cũng nh những đóng góp của chị trênvăn đàn.

5 Cái mới của đề tài

Đây là đề tài đầu tiên tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn TrầnThuỳ Mai Đề tài bớc đầu có những nhận định về đóng góp của chị về phơngdiện sử dụng sáng tạo ngôn ngữ trong sáng tác truyện ngắn và khẳng định sự

đa dạng về phong cách của thể loại truyện ngắn Việt Nam hiện đại

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài Mở đầu và Kết luận, nội dung của luận văn gồm 3 chơng:

Chơng 1 Những giới thuyết xung quanh đề tài

Chơng 2 Đặc điểm sử dụng từ ngữ trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

Chơng 3 Đặc điểm câu văn truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

Chơng 1 Những giới thuyết xung quanh đề tài

1.1 Ngôn ngữ nghệ thuật và đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

1.1.1 Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật

Ngôn ngữ nghệ thuật đợc hiểu là ngôn ngữ đợc dùng trong sáng tạonghệ thuật Nhng bản chất của nó là gì, từ trớc đến nay có rất nhiều ý kiến

Trang 9

quan tâm Chúng tôi dựa vào quan niệm của tác giả IU M Lốt man, nhànghiên cứu văn học nổi tiếng ngời Nga để tìm hiểu vấn đề này Lốt man cho

rằng: “Văn học có tính nghệ thuật nói bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt, thứ

ngôn ngữ đợc xây chồng lên trên ngôn ngữ tự nhiên với t cách là hệ thống thứ hai” [26, tr 49] Theo tác giả, “ngôn ngữ tự nhiên” đợc nhắc đến ở đây chính

“là các kí hiệu - những đơn vị ổn định và bất biến của văn bản – và các quy và các quy tắc cú đoạn học đợc lẩy ra tơng đối dễ dàng”[26, tr 49] ông cho rằng ngôn

ngữ nghệ thuật đợc hình thành từ ngôn ngữ tự nhiên, nhng giữa hai hệ thống

này có sự khác biệt về đặc trng “Trong văn bản có tính nghệ thuật ngôn từ thì

không chỉ ranh giới giữa các kí hiệu là khác nhau, mà bản thân khái niệm kí hiệu cũng khác nhau” [26, tr 49].

Có thể hiểu sự sinh thành và tồn tại của ngôn ngữ nghệ thuật dựa vào

ngôn ngữ tự nhiên, nhng nó có tính độc lập với t cách là hệ thống thứ hai Để

hiểu rõ hơn về bản chất của ngôn ngữ nghệ thuật, ta đặt nó bên cạnh ngôn ngữ

tự nhiên, so sánh tìm ra sự tơng đồng và khác biệt của hai hệ thống này Theo

tác giả Đinh Trọng Lạc, “ngôn ngữ phi nghệ thuật” đợc hiểu trùng với thuật ngữ “ngôn ngữ tự nhiên”, nó bao gồm lời nói sinh hoạt hàng ngày, các loaị

văn bản thuộc phong cách hành chính, chính luận, khoa học Ngôn ngữ phi

nghệ thuật “ có thể đợc xác định nh là một mã chung, phổ biến nhất, tức một

hệ thống tín hiệu đầu tiên và qui tắc sử dụng tín hiệu đó, mà con ngời dùng để vật chất hoá những y nghĩ, tình cảm của mình, tức để diễn đạt những ý nghĩ tình cảm này trong một hình thức đợc tri giác một cách cảm tính: từ ngữ, phát ngôn ” [19, tr 123]

Trong tơng quan với ngôn ngữ phi nghệ thuật, khái niệm ngôn ngữ nghệthuật có ngoại diên hẹp hơn Nhng quan hệ giữa chúng vừa là quan hệ nguồngốc và thứ sinh vừa là quan hệ giữa bộ phận và toàn thể Đó là mối quan hệ đachiều cho nên có hiện tợng ngôn ngữ của một tác phẩm nghệ thuật trở lại thamgia vào ngôn ngữ toàn dân làm cho ngôn ngữ dân tộc giàu có lên rất nhiều bởikhông ai khác, các nhà văn tài năng làm phong phú thêm, làm đẹp hơn lên chochất liệu mình sử dụng, biến nó thành vật thể có hồn, tạo cho nó những nănglực mà nó cha từng có

Ngôn ngữ nghệ thuật đợc sinh ra từ ngôn ngữ phi nghệ thuật đảm nhậnchức năng tạo nên hệ thống mã ngôn ngữ thứ hai Đó chính là quá trình sáng

Trang 10

tạo đặc biệt, nhà văn tái tạo thế giới trong tác phẩm của mình, một thế giớihiện thực đợc h cấu nhờ tài năng, kinh nghiệm của nhà văn Tác phẩm văn họcmang đậm dấu ấn cá nhân, bởi vậy ngôn ngữ khi đi qua lăng kính cá nhân nhàvăn đã đợc cấp những thông hành để nó có giá trị mới.

Mọi sự khác biệt của ngôn ngữ nghệ thuật với ngôn ngữ phi nghệ thuật

đều xuất phát từ “mắt xích” này Nếu sản phẩm của nhà văn đợc tạo ra từ sự

dễ dãi, tuỳ tiện kém tính sáng tạo thì thì trớc hết nó không phải là một sảnphẩm nghệ thuật, và đơng nhiên nó cũng sẽ không khác gì hoặc thậm chí làmtồi đi, làm mất sự trong sáng của ngôn ngữ tự nhiên

Để thấy rõ sự khác biệt giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ phi nghệthuật chúng ta sẽ so sánh đối chiếu chúng từ các phơng diện: hệ thống tínhiệu, bình diện nghĩa, chức năng xã hội, tính hệ thống, và vai trò trong ngônngữ dân tộc Ngôn ngữ nghệ thuật có các biểu hiện:

- Xét về hệ thống tín hiệu:

Nhà văn sử dụng ngôn ngữ để tạo nên tác phẩm Và mỗi yếu tố ngônngữ trong tác phẩm văn học là một yếu tố của hệ thống nó góp phần xây dựngnên hình tợng nghệ thuật, tạo nên nội dung t tởng của tác phẩm Ngôn ngữnghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ hai, là hệ thống đợc mã hoá phức tạp Nếutách các yếu tố đó ra khỏi tác phẩm nó sẽ mất ý nghĩa, bởi vì lúc đó nó sẽkhông bị chí phối, chịu sức ép của quá trình mã hoá, nó trở về là một tín hiệungôn ngữ phi nghệ thuật, là hệ thống tín thiệu tự nhiên mang tính toàn dân, làmã chung, phổ biến nhất giúp con ngời diễn đạt suy nghĩ tình cảm, là công cụcủa quá trình giao tiếp và t duy

Ngôn ngữ phi nghệ thuật là hệ thống tín hiệu thứ nhất, ngôn ngữ nghệthuật là hệ thống tín hiệu thứ hai Mỗi hệ thống nh thế, các yếu tố có sự chiphối và qui định lẫn nhau, khi sử dụng yếu tố của hệ thống này vào một hệthống khác cần phải tạo ngữ cảnh thích hợp, tình huống hợp lí thể hiện dụng

ý của ngời phát ngôn, của ngời sáng tạo văn bản

Trang 11

ý, thâm thuý, vừa đơn giản vừa phức tạp về ý nghĩa nhng nó khác ngôn ngữ

nghệ thuật ở tính thông tin Chức năng chủ yếu, quan trọng nhất của ngôn ngữ

phi nghệ thuật là chức năng giao tiếp Thông tin là yếu tố quan trọng nhất của ngôn ngữ giao tiếp Nếu bị hiểu lệch, hiểu nhầm do nói bóng gió thì cuối cùng

nội dung thông tin vẫn phải đợc xác định Tính đa nghĩa chỉ là tạm thời Ngônngữ trong các văn bản phi nghệ thuật cũng có đặc trng này, nó mang thôngtin, thờng là dễ hiểu để đạt đợc mục đích giao tiếp nhanh và hiệu quả nhất,vốn là những vấn đề mang tính thời sự cần giải quyết trong cuộc sống

Ngôn ngữ phi nghệ thuật cần có phẩm chất thẩm mĩ nh bất cứ sản phẩmnào con ngời tạo ra, nhng trớc hết nó phải tải đợc thông tin cần thiết Phẩmchất thẩm mĩ nếu có thì cũng chỉ là vai trò thứ yếu Ngợc lại ngôn ngữ nghệthuật phẩm chất thẩm mĩ đợc nâng vai trò thành chức năng Hình tợng văn họcphải đạt đến sự hoàn thiện của cái biểu đạt và cái đợc biểu đạt, nghệ thuậtngôn từ tác động đến ngời cảm thụ từ xúc cảm trớc cái đẹp trong hình thức và

trong nội dung Ngôn ngữ của văn nghệ thuật chức năng thẩm mĩ ở bình diện

thứ nhất, chức năng giao tiếp xuống bình diện thứ hai

- Xét về bình diện ngữ nghĩa

Trong quá trình sáng tác của mỗi nhà văn, ngôn ngữ nghệ thuật là hệthống đợc mã hoá Đơng nhiên bớc vào thế giới nghệ thuật ta phải có nhữngkiến thức về giải mã Thẩm định một giá trị của một tác phẩm văn học là mộtquá trình đầy phức tạp, ngời ta phải tốn bao nhiêu là giấy mực và thậm chí cókhi đổ cả máu và nớc mắt, nhng theo qui luật của tự nhiên hoặc là thời gianhoặc là sự nỗ lực của con ngời sẽ minh định mọi giá trị

Câu ca dao sau là một ví dụ:

“ Gái thơng chồng đơng đông buổi chợ.

Trai thơng vợ nắng quái chiều hôm.”

Điều tác giả muốn gửi gắm ở đây là gì? Để hiểu đợc câu thơ trên chúng

ta không chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu cái đợc biểu đạt của tín hiệu ngôn ngữ,bởi nội dung câu thơ nằm ở tầng sâu ý nghĩa Cần phải đặt các yếu tố trongmối quan hệ với nhau và trong sự liên tởng phong tục, văn hoá dân tộc Tác

giả câu thơ vận dụng phép đối “vợ / chồng” “ ”, đ “ ơng đông buổi chợ” / “nắng

quái chiều hôm” Hai vế đối này tơng đồng và khác biệt ở chổ nào? Có ý kiến

nhấn mạnh sự tơng đồng và cho đó là nội dung nghĩa của câu thơ Có ý kiến

Trang 12

làm nổi bật sự khác biệt và lý giải đợc rằng đó là giá trị của tác phẩm, điềugiúp cho bài ca dao trờng tồn theo năm tháng Nhng một tác phẩm nghệ thuậtngôn từ không giản đơn là sự lắp ghép từ ngữ cho độc đáo, mà thực sự phải ẩnchứa trong đó tầm của tác giả về nhận thức, sự am hiểu cuộc sống trong mốiquan hệ với văn hoá dân tộc Hiểu đợc sâu sắc câu thơ trên không thể khôngxem xét đến quan niệm về con ngời, về đối nhân xử thế, quan niệm về giới củanhân dân lao động và diễn biến của nó trong lịch sử Chúng ta không thể lấy

hệ thống mã ngôn ngữ thứ nhất để giải mã cho hệ thống mã ngôn ngữ thứ hai

Đó là điều thú vị khi bớc vào thế giới nghệ thuật Chính bình diện nghĩa đadạng và phức tạp là một trong những lí do tạo sức lôi cuốn cho tác phẩm ngôn

từ

- Về tính hệ thống

Mỗi ngôn ngữ có một kết cấu nhất định, trong đó tất cả các yếu tố tạo

thành kết hợp với nhau tạo thành một hệ thống chặt chẽ” [22, tr 40] Quan hệ

của các yếu tố tạo nên hệ thống, trong ngôn ngữ nghệ thuật yếu tố đợc xác

định bởi vị trí và vai trò trong việc tạo nên hình tợng nghệ thuật Bởi vậy, tính

hệ thống trong ngôn ngữ nghệ thuật gắn với đặc trng hình tợng và chức năngthẩm mĩ Tính hệ thống ở đây đợc xây dựng theo những thông số thẩm mĩ,những thông số nghệ thuật của từ Hình tợng nghệ thuật là một chỉnh thểmang tính hệ thống thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn, phong cáchsáng tác, khuynh hớng và trờng phái

Khác với ngôn ngữ nghệ thuật, tính hệ thống của ngôn ngữ phi nghệthuật khác về chất, đó là tính hệ thống của cấu trúc bên trong ngôn ngữ (baogồm các cấp độ, các đơn vị ngôn ngữ ), cấu trúc của trạng thái hiện đại củangôn ngữ, sự khu biệt của xã hội

- Về vai trò trong ngôn ngữ dân tộc

Ngôn ngữ dân tộc giàu có lên, trong sáng hơn, ngày càng phong phú ,

đa dạng và giàu sức biểu đạt có sự đóng góp không nhỏ của các nhà văn có têntuổi Lịch sử văn học Việt Nam ghi nhận đóng góp lớn lao của Nguyễn Du,Nguyễn Khuyến, Nguyễn Tuân, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng Ngôn ngữ nghệthuật mang sắc thái của cá tính sáng tạo khi đạt đến mẫu mực sẽ có vai tròquan trọng trong ngôn ngữ dân tộc Ngôn từ xuất hiện trong tác phẩm văn học,khi trở lại với ngôn ngữ đời thờng mang sức sống mới, chất lợng mới

Trang 13

Trong thực tế có những sáng tác đợc xếp vào thể lọai phi nghệ thuật nhchính luận, văn tế (văn bản ngôn từ chức năng) cũng đạt đến giá trị nghệthuật Sự so sánh tìm ra sự khác biệt không phải tuyệt đối, bởi giữa chúng có

sự xâm nhập lẫn nhau, sử dụng những u thế của nhau nhằm đạt hiệu quả caonhất

1.1.2 Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn

1.1.2.1 Khái niệm truyện ngắn.

Cho đến nay, giới nghiên cứu văn học nớc ta hớng sự chú y đến thể loại

truyện ngắn với một số công trình đáng quan tâm, nh Trần Thanh Địch: “Tìm

hiểu truyện ngắn”(1987), Vơng Trí Nhàn: “Sổ tay truyện ngắn”(1980),

Nguyễn Thái Hoà: “Những vấn đề thi pháp của truyện”(2000), nhiều tác giả:

“Nghệ thuật viết truyện ngắn và kí”(2000), Phan Cự Đệ: “Truyện ngắn-Những

vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại”(2000) Lê Huy Bắc: “Truyện ngắn: lí luận tác gia và tác phẩm”(2004).Ngoài ra còn có những công trình, tiểu luận

của các nhà văn nh Tô Hoài, Nguyễn Công Hoan, Nguyễn Khải Việc xuấthiện một số công trình nghiên cứu truyện ngắn thời gian gần đây là dấu hiệucho thấy vị thế của truyện ngắn trong đời sống văn học đã thay đổi Trớc hết

là ghi nhận về số lợng, ngời ta thống kê trên các mặt báo mỗi ngày cho in trênchục truyện ngắn Thể loại truyện ngắn đợc xem nh là thể loại của thời đại,cha bao giờ tác giả viết truyện ngắn đông đảo nh lúc này Ta có thể kể đếnnhững tên tuổi thế hệ trớc, lại nổi lên trong thời gian gần đây nh: Ma VănKháng, Nguyễn Khải , một số tác giả truyện ngắn gây sóng gió trên văn đàn

nh Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài , những cây bút mới thuộc thời hậuchiến vẫn đằm sâu với truyền thống nh Lí Lan, Trần Thuỳ Mai, Nguyễn ThịThu Huệ, Phan Thị Vàng Anh

Từ sự lên ngôi của truyện ngắn so với thơ và tiểu thuyết có thể thấy đợctruyện ngắn có những u thế riêng chứ không phải là thể loại ăn theo nh quanniệm trớc đây Các nhà nghiên cứu đã đa ra nhiều định nghĩa và những quanniệm khác nhau về thể loại này Tác giả Vơng Trí Nhàn tập hợp các ý kiến về

vấn đề này trong cuốn “Sổ tay truyện ngắn” Qua tác phẩm này, chúng ta có

thể rút ra đặc trng thể loại truyện ngắn, song ngời đọc cũng nhận thấy rằng vớitruyện ngắn và chặng đờng cách tân hiện đại còn nhiều chỗ phải bàn

Trang 14

Nhà văn A.Tônxtôi khi trả lời câu hỏi truyện ngắn là gì, ông viết:

“Truyện ngắn là một hình thức nghệ thuật khó khăn bậc nhất Trong các tác

phẩm thể tài lớn, chúng ta có thể dọn cho độc giả no nê với những món“ ” “ ”

sang đại loại hoặc nh miêu tả cho thật sinh động, đối thoại cho thật sắc Còn nh trong truyện ngắn, tất cả nh trong bàn tay anh Anh phải thông minh

nh anh đã phải hiểu biết Bởi lẽ hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao” [32, tr 124].

Nhà văn Vũ Thị Thờng quan niệm về truyện ngắn trong thế so sánh với

tiểu thuyết: “Viết truyện dài nh làm một căn nhà đồ sộ, còn bắt tay viết truyện

ngắn là nhận lấy việc chạm trổ một cái khay, một tấm tranh khắc gỗ ở truyện dài, có thể có những chơng độn , nh“ ” ng ở truyện ngắn, chỉ cần viết một nửa trang lỏng lẻo là truyện đổ liền Những chi tiết hay đến mấy đi chăng nữa

mà không phục vụ chủ đề thì cũng trở nên vô ích”[32, tr.33].

Trên đây là những ý kiến, những quan niệm đợc rút ra từ kinh nghiệmthực tiễn sáng tác của các nhà văn, nó có thể giúp chúng ta hình dung về côngviệc sáng tác truyện ngắn với những đặc trng thể loại và những yêu cầunghiêm ngặt của nó Truyện ngắn không phải là truyện dài thu nhỏ nó là mộtthể có hệ thống thi pháp riêng

Từ điển thuật ngữ Văn học đã nêu một cách khái quát đặc trng thể loại

này: “Là tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung của thể loại truyện ngắn bao trùm

hầu hết các phơng diện của đời sống: đời t, thế sự hay sử thi, nhng cái độc

đáo là nó ngắn Truyện ngắn đợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ ”[16, tr.370]

1.1.2.2 Các đặc điểm của truyện ngắn

a Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn xét về mặt hình thức

Đi vào tìm hiểu đặc trng ngôn ngữ của một thể loại là nhằm làm nổi bậtnhững đặc điểm mang tính khái quát nhất Ngôn ngữ nói chung và ngôn ngữthể loại nói riêng không phải là phạm trù bất biến Một hệ thống tín hiệu ngônngữ biến đổi không chỉ về sự gia tăng số lợng mà cả cấu trúc bên trong, đó là

điều hợp qui luật Ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại khác nhiều so với ngôn ngữtruyện ngắn trung đại hay cận đại Để có cái nhìn tổng thể chúng ta cần theoquá trình diễn tiến của nó

Trang 15

Tìm hiểu tiến trình văn học có thể theo dấu vết thể loại Song với truyệnngắn, xác định thời điểm ra đời hiện còn nhiều quan điểm khác nhau

Có ý kiến cho rằng chỉ đến khi có ảnh hởng của Tây học thì lúc đó mới

có truyện ngắn, thực chất thể loại văn học này du nhập từ Châu Âu sang Bêncạnh đó nhiều nhà nghiên cứu khẳng định truyện ngắn Việt Nam ra đời rất

sớm khoảng thế kỷ XVI với tác phẩm đầu tiên: Truyền kỳ mạn lục của

Nguyễn Dữ Chúng tôi thống nhất với quan điểm thứ hai, thể loại truyện ngắnViệt Nam đã có từ thời Trung đại

Để có thể làm nổi bật đăc điểm ngôn ngữ truyện ngắn về mặt hình thứcchúng tôi tạm chia làm hai giai đoạn lớn: Truyện ngắn Trung đại, và truyệnngắn cận hiện đại (từ thế kỷ XX)

Những tác phẩm đợc xếp vào thể loại truyện ngắn truyện ngắn thời kỳ

đầu đợc hình thành từ thể loại truyền kỳ, hoặc là ảnh hởng của lối kể chuyệndân gian, hoặc có khi là lối văn chép sử có tính chất văn học (ở giai đoạnTrung đại có đặc điểm mang tính phổ quát là văn sử bất phân) Đặc điểm

truyện ngắn thời kỳ này “có lối kể chuyện chính xác, khách quan, không bình

luận, lời văn ngắn gọn, tinh giản Lối văn chép sử cũng nh lối kể chuyện dân gian cha cho phép tác giả dừng lại, đi sâu vận dụng miêu tả tinh tế tâm trạng con ngời hoặc lối độc thoại nội tâm phức tạp nh trong văn xuôi hiện đại Một

đặc điểm khác của truyện ngắn dân tộc thời kỳ đầu là giàu tính ớc lệ tợng ng” [13, tr 258].

tr-Bớc sang giai đoạn đầu thế kỷ XX truyện ngắn bứt ra khỏi hành vănTrung đại khuôn mẫu, biền ngẫu, và ngôn ngữ kể chuyện dân gian: trực tiếp,

đơn giản Những truyện ngắn mang tính chất chuyển giao thời đại ra đời:

Thầy Zalophiền (Trọng Quản), Sống chết mặc bay (Phạm Duy Tốn) Và sau

đó là sự nở rộ của hai xu hớng văn học lớn: xu hớng lãng mạn và hiện thực(giai đoạn 1930-1945) với những tên tuổi Nam Cao, Nguyễn Công Hoan,Thạch Lam Ngôn ngữ truyện ngắn thời kỳ này mang hơi thở cuộc sống, cácnhà văn đã đa vào tác phẩm lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân và đặcbiệt và câu văn linh hoạt về cấu trúc không bị ràng buộc về khuôn mẫu

Giai đoạn từ 1945 đến 1975, ngôn ngữ tuyện ngắn tiếp tục tự đổi mới đểbắt nhịp với cuộc sống mới hoàn chỉnh dần tính hiện đại của ngôn ngữ vănxuôi

Trang 16

Thời kỳ hậu chiến và nhất là sau đổi mới, ngôn ngữ truyện ngắn đã tiếnnhững bớc xa, các nhà văn với sức sáng tạo mang tính thời đại đã đem đếnmột diện mạo mới cho truyện ngắn nói riêng và văn học nói chung.

Nhà nghiên cứu văn học, ngôn ngữ học ngời Nga M.Bakhtin đã mở ra

hớng nghiên cứu mới về tiểu thuyết thông qua công trình có giá trị: Những

vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki Từ việc tìm hiểu tiểu thuyết đa thanh của

Đôxtôiepxki, M.Bakhtin đã đa ra hớng giải quyết những vấn đề của lí luận văn

học, thi pháp học và ngôn ngữ học, ông đã phát hiện ra “sự đa dạng vô cùng

của các loại hình và dạng thức lời văn” [1, tr.221] của Đôxtôiepxki mà trớc

đó ngời ta cho rằng nhà văn chỉ dùng một một thứ ngôn ngữ nh nhau, “sử

dụng ngôn ngữ một cách đơn điệu” [1, tr.190] Trong quá trình tìm hiểu về thể

loại truyện ngắn chúng ta có thể vận dụng những quan niệm về thi pháp tiểuthuyết, ngôn ngữ tiểu thuyết đợc xem nh là một thể loại tiêu biểu của văn xuôitrong việc nghiên cứu ngôn ngữ truyện ngắn

- Ngôn ngữ truyện ngắn theo Antônốp là không đợc d thừa: “Một vài

câu không đâu vào đâu, thậm chí vài trang trong cuốn tiểu thuyết, có thể bỏ qua, nhng ở tryện ngắn ngời ta không đợc phép”[32, tr 199] Truyện ngắn đợc

ví nh loài hổ báo trong đại gia đình các loài vật ở loài thú này chúng không

d-ợc có chút mỡ dính thừa ở mọi cơ bắp, nếu không chúng không săn mồi đd-ợc

Nhà văn Lep Tônxtôi từng nói đùa: “Nếu tôi là Nga hoàng, tôi sẽ ra một đạo

luật trong đó một nhà văn dùng một từ không rõ nghĩa, sẽ bị truất quyền và bị

xử phạt một trăm roi” Khác với thể loại tiểu thuyết, truyện ngắn có yêu cầu

nghiêm ngặt về sự chọn lựa ngôn từ, mọi yếu tố phải mang nghĩa, có giá trịbiểu đạt chủ đề t tởng, bởi một lí do đảm bảo đặc trng ngắn, gọn

- Nếu ngôn ngữ truyện ngắn trung đại mang tính ớc lệ qui thức thì ngônngữ truyện ngắn hiện đại gần gũi với ngôn ngữ đời thờng Đặc điểm này đòihỏi nhà văn phải xử lí một cách tài tình Ngôn ngữ tự nhiên khi đi vào tácphẩm phải đợc “lột xác” để nó là một tín hiệu của hệ thống mã ngôn ngữ nghệthuật Dù là tự nhiên, sần sùi, thô ráp, hay mợt mà bóng bẩy thì ngôn ngữnghệ thuật bao giờ cũng mang tính thẩm mĩ Chính bởi đặc điểm này mà ta dễdàng nhận thấy các nhà văn đã sử dụng mọi lớp từ ngữ tồn tại trong xã hộivào trong sáng tác, nh: lớp từ tình thái, từ ngoại lai (có thể là chuyển mã hoặctrộn mã), lớp từ địa phơng, lớp từ tôn giáo, thành ngữ, tục ngữ

Trang 17

- Đặc điểm câu văn truyện ngắn hiện đại phải nói là có những bớc độtphá so với Trung đại Những dấu hiệu đầu tiên chúng ta thấy ở Nam Cao khi

ông tỉnh lợc các thành phần câu tạo nên dòng chảy ngôn từ, dòng chảy củacuộc sống, dòng chảy của tâm trạng Dới ngòi bút của nhà văn hình thức câubiến hoá theo theo cách cảm nhận và ý đồ thể hiện cuộc sống của nhà văn

Những tác giả sau này, tiêu biểu là Nguyễn Huy Thiệp Nếu chỉ tínhriêng trong ngôn ngữ hội thoại câu tỉnh lợc chiếm tỉ lệ cao vựơt lên so với cáctác giả khác, đợc xem nh là một dấu hiệu nổi bật

b Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn xét về ngữ nghĩa

Truyện ngắn thời kỳ Trung đại có đợc hình thành từ nguồn t liệu dângian (có ngời cho là truyện ngụ ngôn) và truyện truyền kỳ Lối kể chuyện trựcdiện, dễ hiểu, ít hàm ý, vận dụng nhiều điển tích điển cố và hành văn biềnngẫu Nội dung ngữ nghĩa là những sự kiện sự việc đợc mô tả khách quan,không chú ý đến miêu tả nội tâm, truyện bao giờ cũng có cốt truyện rõ ràng,giọng văn ít có dấu ấn chủ quan bởi nó chịu ảnh hởng nhiều của văn học dângian

Văn học Việt Nam thế kỷ XX trong tiến trình hiện đại hoá có những

đóng góp không nhỏ của thể loại truyện ngắn Trong bớc phát triển định hìnhnhững đặc trng ngôn ngữ thể loại, bên cạnh đặc điểm về mặt hình thức ta phảinói đến đặc điểm về phơng diện ngữ nghĩa Ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại xét

về ngữ nghĩa, có những đặc điểm nh sau:

- Bởi có hình thức ngắn cho nên ngôn ngữ truyện ngắn phải hàm súchàm ẩn, đa nghĩa, vận dụng tối đa các biện pháp tu từ có tác dụng tăng tầngnghĩa cho ngôn từ, làm đậm đặc thêm quá trình mã hoá tín hiệu ngôn ngữnghệ thuật Ngôn ngữ truyện ngắn có ý nghĩa ngầm sâu, ngôn ngữ có nhiềutầng y nghĩa Khi gấp cuốn sách lại mọi suy tởng hầu nh mới bắt đầu, ngônngữ truyện ngắn có sức chứa ngữ nghĩa lớn lao có ngời ví nó nh gói “bộcphá”

- Mọi yếu tố trong một truyện ngắn không đựơc phép lơ là nhiệm vụ thểhiện chủ đề Mọi yếu tố nằm ngoài chủ đề đều đợc gạn lọc

- Cái hấp dẫn của truyện ngắn nhiều khi không phải là cốt truyện mà làngôn từ Có những truyện không có cốt truyện, cái dẫn dắt độc giả là câu văn,dẫn dụ và mê hoặc độc giả là ngôn từ Đơng nhiên dòng ngôn từ cuối cùng

Trang 18

cũng đi đến xây dựng hình tợng, bởi hình tợng nghệ thuật là giá trị của tácphẩm.

- Ngôn ngữ truyện ngắn hiện đại phản ánh muôn mặt cuộc sống cao ợng, thấp hèn, tích cực và tiêu cực, trần trụi và lãng mạn, đi sâu vào đời sốngtâm lí phức tạp của cuộc sống đang từng ngày từng giờ đấu tranh và pháttriển Ngôn ngữ giản dị nhng uyên bác, đầy tính triết lí

th-c Đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn với phong cách nhà văn

“Truyện ngắn là nơi ta có thể tìm phong cách cho mình Truyện ngắn

đòi hỏi hoàn thiện ở đây, ta đợc rèn luyện đến việc dùng dấu phẩy”[32, tr.9].

Bởi qui mô quá nhỏ và với những đặc điểm ngôn ngữ xét về mặt nội dung vàhình thức nh chúng tôi đã nêu ở phần trên, ngôn ngữ truyện ngắn ghi nhận dấu

ấn phong cách nhà văn rõ nét hơn bất cứ thể loại văn xuôi nào khác Đặc trngcủa ngôn ngữ nghệ thuật là mang tính cá nhân, ngôn ngữ tác phẩm gắn với y

đồ nghệ thuật và quan niệm thẩm mĩ của nhà văn ở thể loại truyện ngắn đặc

trng này thể hiện ở việc tuyển lựa nghiêm ngặt chất liệu ngôn ngữ và đặt câu

dùng tiếng có cân nhắc” (Nguyễn Công Hoan)[32, tr.15] Phong cách của nhà

văn là do tính cá thể, tính cá nhân của ngôn ngữ nghệ thuật tạo nên

Theo tác giả Cù Đình Tú, tìm hiểu phong cách tác giả của ngôn ngữ vănchơng phải căn cứ vào hai dấu hiệu cơ bản:

“- Khuynh hớng a thích và sở trờng sử dụng những loại phơng tiện ngôn

ngữ nào đó của tác giả.

- Sự đi lệch chuẩn mực của tác giả ”[48, tr.123].

Mỗi nhà văn bao giờ cũng phải tạo cho mình cái riêng không lẫn vàovới bất cứ ai, trớc hết là đặc điểm ngôn ngữ trong tác phẩm của họ NguyễnTuân cầu kỳ, nắn nót, mỗi câu chữ dờng nh có lí lịch của nó, ngôn ngữ NamCao gần với đời thờng nhng giàu triết lí và nhất là có thế mạnh trong miêu tảnội tâm nhân vật Gần đây truyện ngắn Nguyễn Huy Thiệp gây ấn tợng bởi cáingôn ngữ gai góc, xù xì, lạnh lùng nh nhát dao chém đá

Nhìn lại giai đoạn văn học thời chiến: Mảnh trăng cuối rừng Nguyễn Minh Châu, Lặng lẽ Sa Pa (Nguyễn Thành Long), Chiếc lợc ngà Nguyễn

Quang Sáng vẫn lấp lánh giá trị, vợt mọi không gian thời gian Sức sống tácphẩm đợc tạo nên bởi nhà văn đã tạo ra bức thông điệp không phải cho mộtthế hệ mà của muôn đời Giọng văn vừa thấm đẫm chất anh hùng ca của cuộc

Trang 19

chiến vĩ đại trong, tầng sâu ý nghĩa của nó vừa là tiếng lòng là tiếng nói của

trái tim tràn đầy tình yêu cuộc sống và sự nâng niu giá trị nhân bản Nhìn vấn

đề thời đại không phải từ góc nhìn nhỏ hẹp, thời đại chỉ là sự dọi chiếu để nhận chân giá trị con ngời, gợi cảm xúc thẩm mĩ cho độc giả, đó là những giá trị mà mọi tác phẩm văn học chân chính đều phải có

Trong thời bình, các mối quan hệ trở nên phức tạp hơn Con ngời trở vềvới những nhu cầu cá nhân, tâm lí sống hết mình vì mục đích cao cả đã mờdần đi Mọi chuẩn, giá trị đều phải thay đổi, xét theo hiện tợng thì chuẩn đánhgiá con ngời (giá trị tởng nh bất biến) cũng thay đổi Nhà văn bao giờ cũng làtầng lớp nhanh nhạy nhất trong nắm bắt thời cuộc Bớc vào thời kỳ đổi mớinhiều gơng mặt mới xuất hiện với những đột phá dữ dội, đó là hiện tợngNguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài Tác giả Nguyễn Huy Thiệp đổi mới vềnhiều phơng diện, trong đó đặc điểm khá nổi bật là tác giả đã đa khẩu ngữnguyên sơ không hề gọt giũa ( hiện tợng cha từng) có vào trang viết Còn tác

giả Phạm Thị Hoài thì có vẻ nh nhằm mục đích tạo ra những cuộc phiêu lu ngôn ngôn từ” [40a, tr 383] Lĩnh vực thơ cũng xuất hiện một tầng lớp tác giả

trẻ nồng nhiệt hớng tới cách tân tân đổi mới Có thể nói, quang cảnh nền vănhọc nớc nhà trong những năm gần đây nhộn nhịp và sôi động Sự đổi mới củanhà văn không chỉ về chủ đề, về bố cục mà sự tìm tòi tạo cái mới cho ngônngữ là hớng đi đáng chú ý nhất

Bên cạnh những phong cách ngôn ngữ mới lạ gây những chấn động vớinhững ý kiến khen chê trái ngợc nhau có một bộ phận tác giả ít tạo nhữngsóng gió trong d luận, nhng theo chúng tôi, họ có những đóng góp không nhỏtrong việc hoàn chỉnh bức tranh nền truyện ngắn nớc nhà Ngôn ngữ tác phẩmtạo nên giọng điệu và từ đó hình thành phong cách Ngôn ngữ truyện ngắn lànơi nhà văn có thể thử nghiệm phong cách, nhng sử dụng ngôn ngữ là tàinăng, là cá tính sáng tạo không phải mọi ngời đều theo một qui cách nh nhau

và điều cốt yếu là hiệu quả thể hiện Trong điều kiện khoa học kĩ thuật pháttriển với tốc độ chóng mặt, cuộc sống chuyển động với tốc độ ngày càngnhanh, nhà văn hơn ai hết phải tự đổi mới mình thì mới bắt nhịp đợc với thời

đại Nhng đổi mới trong văn học khác với các hình thái khác Bởi văn học lànhân học Văn học và tấm lòng nhà văn bao giờ cũng hớng đến phục vụ conngời, nâng cao đời sống tinh thần cho con ngời, đáp ứng nhu cầu thẩm mĩ cho

Trang 20

con ngời Mục đích của sáng tác văn học không thay đổi, những cách tân đổimới đều để phục vụ mục đích đó một cách hiệu quả hơn Trong lịch sử vănhọc những tác phẩm nói đợc tiếng lòng của con ngời, khơi dậy trong con ngờigiá trị nhân văn đều đợc độc giả trân trọng đón nhận, tác giả Trần Thuỳ Mai làmột cây bút nh thế.

1.2 Trần Thuỳ Mai - tác giả, tác phẩm

Trần Thuỳ Mai sinh năm 1954 ở Đà Nẵng, quê gốc ở Huế Chị vốn làgiáo viên văn Trờng Đại học S phạm Huế, từ năm 1987 là hội viên Hội Nhàvăn Việt Nam và chuyển sang công tác ở nhà xuất bản Thuận Hoá Chị cùngthế hệ với Lí Lan, Minh Ngọc, thế hệ nhà văn thời kỳ hậu chiến

Trần Thuỳ Mai là nhà văn chuyên viết truyện ngắn, viết đều đặn Cho

đến nay, chị đã có một khối lợng tác phẩm tơng đối lớn với 4 giải thởng vềvăn học

Điều đáng nói ở Trần Thuỳ Mai là phong cách ngôn ngữ Chị đã tạo đợc

cho mình tiếng nói riêng thấm đẫm chất Huế, vừa dung dị, gần gũi, đằm thắm,

đời thờng vừa gần với thơ và cũng giàu triết lí Triết lí của một quan niệmsống thấm đẫm ảnh hởng của Phật giáo Nếu nhận xét một cách khái quátnhất: ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thuỳ Mai là ngôn ngữ tự sự trữ tình

Trần Thuỳ Mai đã tạo cho mình phong cách ngôn ngữ riêng theo chúngtôi không lạ quá mà không cũ quá Một sự vận động từ trong nội tại để bắtnhịp đợc với cuộc sống đợc qui định bởi tầm nhận thức, khả năng khám phá

và tấm lòng của một nhà văn muốn gửi gắm cho Con Ngời những gì mình ấp ủnung nấu

Chị đề cập đến rất nhiều mảng đề tài khác nhau: tình yêu đôi lứa, tình

cảm vợ chồng, cuộc sống thờng nhật với hiểm hoạ của cái ác và sự huỷ hoạinhân phẩm Cuộc sống trong tác phẩm nếu nhìn bên ngoài rất đỗi bình thờng,

ít sự kiện, biến cố, chị xoáy sâu vào việc khắc hoạ đời sống nội tâm, nỗi đaunhân thế, những số phận éo le Nỗi đau của con ngời trong tác phẩm của chị lànỗi đau tinh thần âm thầm, đeo đẳng Lời văn có âm hởng êm dịu nhng khôngphải là câu chuyện lãng mạn Hơi thở nóng hổi của cuộc sống đơng đại hiểnhiện mồn một trên trang viết của chị sự đấu tranh giằng co giữa cái thiện vàcái ác, cái cao cả và cái thấp hèn có khi không phải là cuộc đấu tranh sống còn

mà ở đây hầu nh con ngời đấu tranh với chính mình, chính là sự giằng co

Trang 21

trong bản lĩnh làm ngời Khi bàn về truyện ngắn Thạch Lam, tác giả Bích Thu

có nhận xét: “Nhân vật không có cái méo mó, xộc xệch về hình thể mà có sự

tự thân vận động ở bên trong với những va chạm, cọ xát giữa cái thiện và cái

ác, cái cao cả - cái thấp hèn; giữa con ngời bình thờng và con ngời viết hoa Nhân vật Thạch Lam luôn có những biến động nội tâm: sự ăn năn về đạo đức,

sự nghiền ngẫm trong cách ứng xử, sự cắn rứt lơng tâm Và sau những biến

động ấy, con ngời trở về với bản ngã của mình, với con ngời ở trong con ời”[47, tr 510] Có thể so sánh nhân vật của Trần Thuỳ Mai với nhân vật của

ng-Thạch Lam, đó là thế giới nhân vật hớng thiện, đấu tranh với ngoại cảnh, đấutranh với chính mình, hớng về những giá trị nền tảng bất biến mang tính nhânvăn

Trần Thuỳ Mai là một ngời phụ nữ, một nhà văn có niềm tin thiết thacháy bỏng ở con ngời Tuy nhiên một sự thật là con ngời không phải là thánhnhân, không thể có sức mạnh vô biên, giới hạn vật chất là rất rõ bởi vậy câuchuyện của chị thờng rơi vào bi kịch Truyện của chị nuôi dỡng niềm tin nhng

đồng thời nhắc nhở con ngời hãy cảnh giác với cả chính mình Trang truyệncủa chị nhiều khi buồn, có cái buồn man mác lâng lâng xen lẫn hạnh phúc, hi

vọng (Thuốc ba màu, Phật ở Kyong Ju), có cái buồn xót xa thấm dần nghiền nát tâm can (Lửa của khoảnh khắc, Ngời bán linh hồn, Thể Cúc ), nhng bao

trùm lên tất cả là niềm tin mãnh liệt về một lập trờng một quan niệm sống ớng con ngời đến với cái thánh thiện Điều nhà văn đạt tới cũng chính là điều

h-nhà văn nổi tiếng của Mỹ Faulknet đã khẳng định: Con ngời bất tử không bởi vì con ngời là tạo vật duy nhất giữa muôn loài có một tiếng nói vô tận, mà bởi vì con ngời có một linh hồn, một tinh thần có khả năng trắc ẩn, hi sinh và chịu đựng Tiếng nói của nhà thơ cần phải không chỉ là thành tích của con ngời mà nó còn có thể là một trong những chỗ dựa tinh thần, là trụ cột để giúp con ngời chịu đựng và chiến thắng” Và chị cũng đã từ chối chấp nhận

sự tàn lụi của con ngời”

Vấn đề tiêu cực, những băng hoại về giá trị đạo đức của xã hội hôm nay

là vấn đề của một thời Trần Thuỳ Mai đã nhìn thực tại không né tránh nhngthế giới nghệ thuật của chị theo chúng tôi lại đợc dựng xây trên nền tảng vữngchắc là giá trị nhân bản của con ngời, vấn đề của muôn đời Cái níu giữ conngời mãi mãi là con ngời chính là nền tảng mang tính vĩnh cửu đó Trần Thuỳ

Trang 22

Mai đã chạm vào đợc giá trị vĩnh cửu đó chăng? Có thể nói đó là cái tạo nênsức lôi cuốn của truyện ngắn Trần Thuỳ Mai.

Nhân vật của chị là nhân vật đời t, thế sự ít thăng trầm biến cố, không lànhân vật nổi loạn, là tiêu điểm chú y và chị không chú ý khắc hoạ những nhânvật phản diện Nhân vật của chị bình dị, đi đứng nói cời nh chính cuộc sống

vốn có Thế giới nhân vật của truyện ngắn Trần Thuỳ Mai hầu hết là phụ nữ,

những số phận ngời phụ nữ bất trắc, đa đoan đồng hành với trang viết của chị

Lứa tuổi có thể khác nhau, tuổi mới lớn nh S Mi ( Gió thiên đờng), Tí (Lên

phố), Bim (Biển đời ngời); tuổi xế bóng nh bà Lài (Dòng suối cạn nguồn),

Ng-ời đứng tuổi nh cô Hạnh (Trăng nơi đáy giếng); tuổi khao khát tình yêu và hạnh phúc nh Hảo (Non nớc mùa đông), Quyên (Cánh cửa thứ chín) , ngời mẹ (Thập tự hoa), họ có thể khác nhau về nhiều mặt nhng gặp nhau ở một điểm

đó là đều phải nếm vị đắng của cuộc đời: Đàn ông khởi đầu một cách điên

cuồng rồi dịu đi trong hèn nhát, còn đàn bà càng lúc càng giam mình trong kỷ niệm, ngu dại và xót xa” [28, tr 316] Ngời phụ nữ không dễ gì có đợc hạnh

phúc, hạnh phúc của họ quá mỏng manh nhng nhân vật nữ của Trần Thuỳ Maitrong bất hạnh vẫn đầy bản lĩnh, niềm tin và nữ tính Từ cái nhìn đó của tácgiả, ta nhận ra đợc tình yêu của chị đối với nhân vật của mình

Giá trị truyện ngắn Trần Thuỳ Mai đợc kết tinh lên từ nhiều nhân tố: đó

là việc lựa chọn đề tài, chủ đề, là khả năng khám phá hiện thực và năng lực sửdụng ngôn ngữ nh những tín hiệu nghệ thuật mang đậm cá tính sáng tạo

Từ góc độ ngôn ngữ học, đề tài này hy vọng đa ra những nhận xét mangtính chất bớc đầu về ngôn ngữ truyện ngắn Trần Thuỳ Mai, một trong nhữngyếu tố tạo nên thành công của chị Chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát từ ngữ vàcâu văn để rút ra đặc điểm sử dụng thể hiện cá tính sáng tạo của tác giả

1.3 Tiểu kết chơng 1

Khái niệm ngôn ngữ nghệ thuật đã đợc lí giải trong sự so sánh với ngônngữ tự nhiên (phi nhệ thuật) Ngôn ngữ truyện ngắn là một loại hình quantrọng trong ngôn ngữ nghệ thuật, nó mang những đặc điểm dễ dàng nhận diện

ở mặt hình thức, ngữ nghĩa và vai trò trong việc hình thành phong cách nhàvăn

Nhà văn Trần Thuỳ Mai là một cây bút có sức sáng tạo dồi dào, chị đã

có những thành công trong thể lọai truyện ngắn thể hiện ở: khai thác đề tài, sử

Trang 23

dụng ngôn ngữ, xây dựng hình tợng nghệ thuật Ngôn ngữ truyện ngắn TrầnThuỳ Mai nhẹ nhàng, lãng mạn, trữ tình nhng ẩn chứa những nội dung ngữnghĩa sâu sắc và giàu tính triết lí về cuộc đời.

Chơng 2

Đặc điểm sử dụng các lớp từ ngữ

trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

2.1 Từ trong ngôn ngữ và trong sử dụng

2.1.1 Định nghĩa về từ

Các nhà ngôn ngữ học đã đa ra rất nhiều định nghĩa về đơn vị từ, theo

tác giả Đỗ Hữu Châu: “Từ là một đơn vị định danh của ngôn ngữ, nó cũng là

một hình thức ngữ pháp đợc các thành viên của một tập thể hiểu nh nhau trong quá trình trao đổi Từ có âm thanh và hình thức Tuy vậy âm thanh và

Trang 24

hình thức chỉ là những phơng tiện cấu tạo nên từ, bản thân chúng cha phải là

từ Chỉ khi nào gắn liền với một y nghĩa nào đấy thì chúng mới có khả năng biểu đạt t tởng” [50, tr 330-331] Nh vậy, nói đến từ là nói đến bốn đặc điểm:

Chúng tôi dựa vào định nghĩa của tác giả Đỗ Hữu Châu để phân định

đơn vị từ nhằm phục vụ cho việc tìm hiểu truyện ngắn Trần Thuỳ Mai qua tập

Đêm tái sinh

2.1.2 Từ trong ngôn ngữ và trong sử dụng

Tất cả các nhà nghiên cứu đều xác nhận từ là đơn vị có sẵn của ngônngữ, nhng xung quanh vấn đề ngữ nghĩa từ vựng có nhiều ý kiến khác nhau,

Quan niệm của tác giả Đỗ Hữu Châu trong cuốn “Cơ sở ngữ nghĩa học từ

vựng” về ý nghĩa của từ có sức thuyết phục bởi ông đã “thay tam giác nghĩa hình học phẳng bằng hình tháp nghĩa hình học không gian” [7, tr 101] với

các các quan hệ và các phơng diện khác nhau của từ : “Từ mối quan hệ giữa từ

và sự vật hình thành ý nghĩa biểu vật, từ mối quan hệ của từ với khái niệm sẽ hình thành các ý nghĩa biểu niệm, từ mối quan hệ với nhân tố ngời dùng hình thành các ý nghĩa phong cách và liên hội ” [7, tr 102]

Nh vậy, từ với t cách là một đơn vị của ngôn ngữ nó nằm trong từ điển ởdạng tách rời và có tính trừu tợng, nhng khi tham gia hành chức, nhất là dùng

để thể hiện hình tợng nghệ thuật, nó có tính linh hoạt, thể hiện các nét nghĩariêng đa dạng, mang dấu ấn của nhà văn Nhà văn đã cấp thêm những giá trịmới cho đơn vị từ vựng trong quá trình sáng tạo thế giới nghệ thuật Trong quátrình phát triển lịch sử văn học, quan niệm về đặc trng của ngôn ngữ nghệthuật có những thay đổi để phù hợp với thời đại Ngôn ngữ văn học hiện đại,

theo tác giả Đào Thản “Không bị ràng buộc, hạn chế bởi đặc trng phong cách,

ngôn ngữ nghệ thuật cho phép lựa chọn và sử dụng tất cả mọi yếu tố phơng tiện, huy động mọi khả năng, vốn liếng của tiếng nói dân tộc đến mức cao nhất cho mục đích thẩm mĩ của mình Văn xuôi hiện đại không phân biệt đối

Trang 25

xử đối với các phơng tiện thể hiện ở đây không có biện pháp nào đợc đánh giá là tốt hay xấu, trội hơn hay kém hiệu lực hơn, mà chỉ có thể đợc dùng, quen dùng hơn trong những thời kỳ, xu hớng hoặc tác giả nhất định” [42, tr.

202] ý kiến của Đào Thản giúp ta nhìn nhận rõ hơn đặc điểm phong phú, đa

đạng của ngôn ngữ văn xuôi hiện đại, chính phạm vi chọn lựa rộng rãi trongvốn từ mà nhà văn có chỗ để nhào nặn, gọt rũa, vận dụng một cách có hiệu

quả nhất vốn từ vựng đợc coi nh tài sản chung của dân tộc “ở nhiều tác giả,

ngôn ngữ cũng thật sự là cuộc trình diễn của cá tính nghệ sĩ” [41a tr 356].

Nh thế, việc lựa chọn phơng tiện ngôn ngữ cho tác phẩm thể hiện rõ dấu hiệucủa phong cách nhà văn Bởi thế tìm hiểu ngôn ngữ truyện ngắn của một tác

giả chúng tôi đi vào xem xét các lớp từ tác giả sử dụng Lớp từ là “tập hợp

các từ của một ngôn ngữ đợc phân chia theo những tiêu chí, những đặc điểm nhất định” [50, tr.136] Trong thực tiễn, nhà văn bao giờ cũng hớng đến xác

lập phong cách ngôn ngữ hay cụ thể hơn hình thành hệ thống ngôn ngữ, trong

đó lớp từ nh là một biểu hiện nổi trội mang đậm cá tính sáng tạo nhằm biểu

đạt thế giới nghệ thuật Nhà văn Nam Cao gây ấn tợng bởi lối sử dụng đại từ

nhân xng: y, hắn, gã, thị , Nguyễn Tuân sáng tạo trong việc dùng lớp từ chỉ

đồ vật và từ Hán Việt Mỗi tác giả, bằng cảm quan nghệ thuật của cá nhân có

sự chọn lựa ngôn ngữ riêng Việc lựa chọn những lớp từ nhất định nào đó đợcqui định bởi lối tiếp cận đời sống, t tởng thẩm mĩ, và vốn ngôn ngữ riêng củatác giả

2.2 Sử dụng các lớp từ ngữ đặc sắc trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai

2.2.1 Sử dụng lớp từ ngữ miêu tả tâm trạng, cảm xúc

Tác giả Vơng Trí Nhàn cho rằng: “Chủ nghĩa hiện thực cởi mở giờ đây

không bắt buộc phải dựng bức tranh xã hội, phải miêu tả điển hình Nó có thể chỉ dừng lại ở một vài trạng thái tâm lí mà con ngời thể nghiệm Điều quan trọng với nó, là dựng không khí, tạo ra đợc những ám ảnh đối với bạn đọc, mà trong việc này, thì cái cách đi sâu vào nội tâm là một con đờng đầy triển vọng”[47, tr 467] ở truyện ngắn Trần Thuỳ Mai chúng tôi nhận thấy lớp từ

ngữ miêu tả tâm trạng cảm xúc đợc dùng nhiều, có ấn tợng đặc bịêt Hiện thựccuộc sống trong tác phẩm Trần Thuỳ Mai khúc xạ vào thế giới nội tâm nhânvật Chị đã chọn lựa cho mình hớng đi mà theo tác giả Vơng Trí Nhàn đó là

Trang 26

một cách tiếp cận hiện thực mới, truyện của chị hoặc không có cốt truyệnhoặc là cốt truyện lỏng lẻo, đơn giản, tác giả dẫn dắt ngời đọc đi theo dòngchảy tâm trạng, những biến thái trong đời sống nội tâm con ngời Chúng tôikhảo sát trên một số trang truyện, tần số xuất hiện lớp từ miêu tả tâm trạng,cảm xúc nh sau: 14 lợt /trang 220, 18 lợt / trang 335, 15 lợt / trang 355, 20 lợt/trang 503, 10 lợt / 469 Lớp từ miêu tả tâm trạng cảm xúc trong truyện ngắnTrần Thuỳ Mai xuất hiện dày đặc, nhng điều quan trọng là tác giả đã sử dụngchúng nh một phơng tiện hữu hiệu để thực hiện ý đồ nghệ thuật của mình Lớp

từ này đợc sử dụng với tần số cao, số lợng lớn nhằm mục đích miêu tả, khắchoạ hình tợng nhân vật

2.2.1.1 Sử dụng hệ thống từ ngữ miêu tả quá trình diễn biến tâm trạng, cảm xúc

Đời sống nội tâm đợc miêu tả không phải một thời điểm hay trạng tháitĩnh mà là một quá trình với những biến thái phức tạp Lời văn thủ thỉ nhẹnhàng nhng luôn ở trạng thái biến đổi và luôn xoáy sâu vào việc thể hiện tinh

tế bên trong của con ngời Theo tác giả Phong Lê: “Nếu chỉ hớng tới đời sống

bên trong với những phân tích và cảm nhận về tâm hồn, tình cảm con ngời thì chỉ là một mặt và cũng cha dễ đem lại một sức hấp dẫn đặc biệt” [47, tr 449].

Khi miêu tả tâm trạng, cảm xúc nhân vật trong Đêm tái sinh, tác

giả phát hiện biến thái của nội tâm, tâm trạng theo qui luật nội tại có quá trìnhdiễn biến để khắc hoạ hình tợng nhân vật và hớng tới giá trị thẩm mĩ khơi gợixúc cảm độc giả

a Tâm trạng, cảm xúc nhân vật đợc miêu tả theo quá trình diễn biến a.1 Mạch tâm trạng, cảm xúc nhân vật có sự đan xen giữa quá khứ và hiện tại

Truyện của tác giả Trần Thuỳ Mai tập trung miêu tả đời sống nội tâmvới những tâm trạng, cảm xúc của nhân vật không phải một thời điểm, một

biểu hiện đơn lẻ mà là quá trình có sự diễn tiến của nó ở truyện ngắn Thị

trấn hoa quì vàng [28, tr 219] tác giả sử dụng kết cấu đặc biệt, kết cấu truyện

cũng chính là diến biến tâm trạng, cảm xúc của nhân vật Ng Câu truyện lôicuốn ngời đọc bởi dòng chảy miên man của cảm xúc, hiện tại và quá khứ đanxen với những cung bậc, sắc thái khác nhau có khi đối lập nhau nhng thốngnhất trong sự phát triển nội tâm tâm nhân vật

Trang 27

Sóng cuộn lên trong tầng sâu của lời văn thấm đẫm chất thơ, nỗi đau vìtình yêu của con ngời nhẹ nhàng mà thấm thía, hạnh phúc của đời ngời vừahữu hình vừa vô hình Cảm giác đó ngời đọc cảm nhận đợc qua lớp từ ngữmiêu tả tâm trạng dày đặc (99 đơn vị từ) với những sắc thái biểu cảm khácnhau và cách thức biểu hiện khác nhau: miêu tả trực tiếp và gián tiếp

Diễn biến tâm trạng phức tạp nhng theo lô gíc của nó, câu truyện kể vềlần cuối nhân vật Ng đến thị trấn Hoa quì vàng để gặp ngời yêu dấu, nhng saunhững suy ngẫm nàng đã chủ động tránh mặt ngời yêu để trở về tay không,theo nàng chỉ có nh thế nàng mới giữ lại đợc tất cả Ng đã đấu tranh để vợtlên chính mình

Trở lại chốn xa, điểm hẹn ớc của hai ngời: thị trấn hoa quì vàng Ng hồi

tởng về những xúc cảm ngọt ngào “chỉ một đêm thôi họ sống cho đủ ba trăm

sáu mơi lăm ngày, và chẳng bao giờ họ dám ở lại lâu hơn ”[28, tr 225] Chị

đến điểm hẹn với tâm trạng đầy mong chờ, dào dạt yêu thơng pha một chút lo

lâu về sự bất trắc: Biển, biển sôi trào và trái tim nàng cũng sôi nh biển; ngơ

ngác nhìn; rộn ràng; tiếc nuối; cảm giác say sóng; hơi bâng khuâng khi thấy hai bên vệ đờng vắng những bông quì vàng; đắm mình trong những hồi tởng dịu ngọt

Từ hiện tại nhân vật hồi tởng quá khứ, đó là một không gian chỉ có biển

và gió, cuộc sống nh dừng lại, nín thở để chứng kiến hạnh phúc của hai ngời,một tình yêu thánh thiện không vớng bận, không bị chi phối bởi bất cứ tác

động nào từ bên ngoài Ta có thể cảm nhận tình yêu của nhân vật qua tâm

quanh lng ngời đàn ông yêu dấu, nh thể anh sắp bị cuốn trôi cùng với doi đất

mỏng manh Nhân vật sống với chiều sâu nội tâm, những rung động nồng

nàn tha thiết, nỗi buồn chất nặng lên mối tình éo le bởi ngay cả khi đang ở bên

nhau nàng vẫn biết không thể giữ lại anh trong vòng tay vĩnh viễn: “lặng lẽ ra

đi ; giả vờ còn nh ngủ; những giọt mặn rơi xuống hai bên thái dơng nóng hổi, những giọt nớc mắt đẫm mùi gió biển, gió thổi vào mắt nàng cay nồng”.

Trang 28

Nhân vật của chị là những con ngời bình thờng, cũng khao khát yêu

đ-ơng, muốn tận hởng những giây phút hạnh phúc khi ở bên nhau Nhng lời hẹn,

sự gặp gỡ và những qui ớc kỳ lạ cho thấy đó là mối tình ngang trái Khác với

nhân vật trong truyện ngắn Một nửa cuộc đời [34, tr 236] của Nguyễn Thị Thu Huệ, hai nhân vật trong câu truyện Thị trấn hoa quì vàng có quan niệm

độc đáo về tình yêu, không pha tạp lối sống gấp đang thịnh hành của xã hội

hiện đại Họ cho rằng “tình yêu nh chiếc bánh thánh chỉ có thể kính cẩn đụng

môi đến trong ngày rớc lễ” và họ vừa đau đớn vừa hạnh phúc khi cố nén

những ham muốn bản năng nhất thời để nuôi giữ giá trị tinh thần vĩnh cửu.Trở lại nh đã hẹn, nhng lữ quán Hoa quì vàng đã đổi thay, không tìm ra dấuvết, linh cảm rằng thời gian đã để hằn in trên sắc mặt, Ng quyết định trở về

không gặp anh nữa Ng “lặng lẽ rời khỏi quán, đứng im, sững sờ bất động;

gục đầu; thất vọng” và câu truyện kết thúc bằng giấc mơ “Ng thanh thản mỉm cời và nép mình trong vòng tay ngời yêu dấu trong khi cả hai cùng với

ghềnh đá trôi theo một hành trình xa hút, xa hơn mọi nơi có ánh sáng mặt trời Bởi vì, chính mặt trời cũng không vĩnh cửu” Nhân vật của Trần Thuỳ

Mai đã tìm cho mình một lối đi riêng, nhân vật của chị hoàn hảo nhng khônggợng gạo bởi tác giả dẫn dắt ngời đọc dõi theo quá trình diến biến hợp lí tâmtrạng nhân vật Ngôn ngữ mang đậm chất trữ tình đã chuyển tải một câuchuyện tình lãng mạn gợi những xúc cảm đẹp, trong sáng về hạnh phúc vàtình yêu

Mỗi truyện của chị là một thế giới thu nhỏ từ đó có thể soi vào nhữngnội dung nhân bản Nhân vật của Trần Thuỳ Mai không đối đầu cọ xát vớinhững xung đột căng thẳng, nhân vật của chị thờng hớng tới sự tự hoàn thiệnmình, tự đấu tranh với chính bản thân mình Đây là cuộc đấu tranh khó khănnhất và cũng y nghĩa nhất Khi vợt qua đợc chính mình thì ngời ta có thể chiến

thắng tất cả Nhân vật ngời mẹ trong “ Thập tự hoa” [28, tr 313] đã trải qua

những biến động sâu sắc nội tâm nhng đợc tác giả thể hiện bằng ngôn từ nhỏ

nhẹ, hồn hậu, điềm tĩnh: “lặng lẽ, đằm thắm hơn, mặc những chiếc áo sẫm

màu hơn; trên khuôn mặt đã thấp thoáng vài nét hằn của thời gian là nét cời buồn trẻ thơ ; nằm ôm con, mắt nhìn lên cao, cời mãn nguyện; cố dấu mặt mình sau mùi thơm của những đoá hoa; (hôm nay tôi đang) từ trên núi cao đi xuống giữa phố; (đôi mắt nàng) long lanh ớt; đôi mắt nhắm nghiền nh mắt

Trang 29

những ngời đang cầu kinh trong thánh đờng Niềm tin của chị thật mãnh liệt,

chị nh ngọn lửa cháy hết mình, ngay cả khi hạnh phút đã tuột khỏi tay chị vẫngiữ mãi cảm giác của tình yêu, ôm ấp những kỷ niệm đã lùi xa vào dĩ vãng.Tình yêu, lòng thuỷ chung nh nhất đã trộn lẫn quá khứ và hiện tại, đến nỗi chịchỉ có thể bứt tung ràng buộc, thoát ra khỏi sự khép mình khi sống thời khắc

hiện tại bằng cảm giác của quá khứ: (nàng) đang ở trên những sóng cát; nâng

niu âu yếm phủi những hạt cát lấm lem tởng tợng trên ngời đàn ông đang cúi xuống; (đôi mắt) long lanh nhắm nghiền mê man hạnh phúc; bối rối; nghẹn không nói đợc.

Cả câu truyện nh một bài thơ, bản nhạc theo đợc tạo nên từ tiếng rungtinh tế của dây đàn tâm hồn nhân vật Dễ nhận thấy đó là những xúc cảm củanữ giới, tinh tế nhạy cảm, nhân hậu, bản lĩnh và ham muốn hi sinh cho tìnhyêu Nhân vật của chị lựa chọn (lặng lẽ, không ồn ào, sự lựa chọn của mộtnhân cách cao đẹp) sự thiệt thòi, chấp nhận hi sinh để nhận về danh dự, sựthanh thản với tâm hồn sáng trong thánh thiện Bởi thế, câu truyện không kếtthúc có hậu theo lẽ thờng đạt đến sự vẹn toàn đủ đầy mà con ngời thờng mong

ớc, mà nó gieo vào lòng độc giả một nỗi buồn dịu ngọt, nỗi buồn thanh

nh-ng có điểm chunh-ng là sự runh-ng độnh-ng mãnh liệt trớc tình yêu Tác giả sử dụnh-ng hai

hệ thống từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc mang sắc thái khác nhau cho hai nhânvật chị Hai và Hiệp Đây cũng là một truyện ngắn cốt truyện đơn giản, chính

hệ thống từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc đã dẫn dắt ngời đọc đi hết nội dungcâu truyện Tâm trạng, cảm xúc nhân vật không đợc cắt lẻ mà đợc miêu tảtrong quá trình với những diễn biến theo tình tự thời gian Tình cảm của Hiệp

đối với chị Hai cứ lớn dần lên mặc những chênh lệch về tuổi tác và hoàn cảnh.Diễn biến tâm trạng của Hiệp tự nhiên, mãnh liệt theo mạch: vô tình, cuồngnhiệt, thất vọng, hạnh phúc, oán hờn Từ thành phố trở về nhà, Hiệp đợc mẹ

thông báo cho biết chị Hai đến ở nhờ nhà mình, mới đầu Hiệp: ngạc nhiên;

phật lòng ; càu nhàu; chịu hết nổi Chỉ một thời gian ngắn Hiệp cảm nhận vẻ

Trang 30

đẹp mặn mà của Trúc và tính cách đáng quí ở chị, tình cảm lặng lẽ nảy nở:

ngợng ngùng cời; không hiểu sao không thể nào đứng dậy nổi; vội vàng, tôi phải bế nó đi; mắt tôi đỏ; đeo theo chị nh bóng với hình; mặt si dại; vừa nôn nao vừa dễ chịu; lặng thinh; vùng lên ôm đại lấy chị; giữ rịt; vùi đầu vào vai chị, hít mãi mùi cơ thể nồng mặn và ngọt ngào, mắt tôi nhắm lại mê man Trúc cha sẵn sàng đón nhận tình cảm của Hiệp nên kháng cự lại quyết

liệt, tâm trạng Hiệp đợc miêu tả: rã rời nh một cái thây ma, chỉ còn sức mạnh

gạt tay chị; tâm hồn tôi nặng trĩu, buồn rời rợi nh cơm nguội Ngọn lửa càng

dập càng cháy, Trúc không cỡng lại đợc sự nồng nhiệt của cậu chủ nhà, Hiệp

sống trong xúc cảm của ngời đang yêu: tơi nh cây khô gặp ma; hát vang; chỉ

thấy trời thật đẹp , tiếng ve thật du dơng, tôi ớc ao mùa hè dài vô tận; vừa ôm chị vừa nói nh rìu chém xuống đá Mối tình không thuận lẽ thờng đã kết thúc

đáng buồn, trong lòng Hiệp dâng lên nỗi buồn, nỗi buồn của một chàng trai

mới bớc vào đời, lần đầu vào vòng tình ái không đợc suôn sẻ: run run; sững

sờ ; muốn khóc mà không dám khóc; nghẹn ngào ra đi, đầu óc hoang mang ; nhớ mùa hè ngây dại của tuổi

hai mơi; nhắm mắt gọi thầm: chị Hai ơi! “ ”

Chị Hai mặc cảm về thân phận, khao khát tình yêu nhng tìm cách kìmnén Từ hệ thống từ này đủ để cảm nhận một tâm hồn, một nhân cách, mộthình tợng có tính thẩm mĩ cao Độc giả cảm thông và yêu nhân vật hơn bởi sự

đấu tranh nội tâm và bởi xúc cảm của nhân vật đợc miêu tả trong truyện Chịrơi vào hoàn cảnh éo le, đợc mẹ Hiệp cu mang, luôn mặc cảm vì làm phiền

ngời khác: nhẫn nhịn; nhìn biết ơn từ đôi mắt đen láy; ôm con ngồi trên bậc

cửa, mắt nhìn mông lung về phía xa Đang là thân phận ở nhờ, oái ăm thay

tình cảm của chị đối với Hiệp cứ lớn dần lên, cố nén nhng không sao cỡng lại

đợc: liếc nhìn tôi rồi nguyt một cái sắc nh nớc; rẫy ra nh đỉa phải vôi; hơi

run run ; hốt hoảng; không trả lời, răng vẫn nghiến chặt; vùng dậy, hoảng hốt, mếu máo

Trái tim tuổi trẻ khao khát yêu thơng của chị cất lên tiếng hát, chị đónnhận tình cảm trong sáng của Hiệp trong cái nhìn thiếu thiện chí của ngời

xung quanh: vóc dáng chị mợt mà hơn, mắt nhìn da diết hơn; má đỏ và mắt cứ

ớt long lanh ; không ngồi bậc cửa và trông xa vời về phía quê nhà nữa; nớc

Trang 31

mắt chị tuôn chảy trên vai tôi, nớc mắt hối tiếc, nghẹn ngào; mặt ánh lên niềm vui thơ dại.

Tác giả lựa chọn chi tiết đặc tả nhng rất tự nhiên theo tình tự diễn tiến

và ngôn ngữ đằm thắm giản dị sinh động đã khắc hoạ tâm trạng, xúc cảmnhân vật Trúc rõ nét

Chúng tôi có nhận xét truyện của chị dõi theo nhân vật với những buồnvui khóc cời và nhất là tác giả thể hiện thành công những biến động Cuộcsống luôn vận động, suy nghĩ con ngời không nằm ngoài qui luật đó Những

thay đổi (có thể là bớc ngoặt) trong Tháng t trở lại [28, tr 267] là một ví dụ.

Câu truyện đầy tính triết lí bởi tác giả giúp chúng ta nhận chân một qui luậtcủa tình cảm tơng tự nh y nghĩa rút ra từ một câu truyện ngụ ngôn: tình yêu

nh nắm cát trong tay, nắm càng chặt thì nó càng rơi đi hết Bà Hải đắc thắngtrừng phạt chồng nhng khi thấm thía nỗi cô đơn quay lại gia ân cho ngờichồng nghĩa tình thì phải chấp nhận cú xốc về tinh thần: con đờng trở về vớingời “phán quyết” không còn là mong muốn của “kẻ tội nhân” Tâm trạngcủa bà Hải khi đợc biết chồng lỡ có con với một ngời đàn bà khác là nỗi đaucủa một ngời vợ luôn tự cho mình là ngời khôn ngoan, quyết đoán hơn chồng:

nh sét nổ ngay trớc mặt ; ngã ngồi xuống bộ ván, trời đất tối sầm; lịm đi chứ không bất tỉnh ; tỉnh để mà đau đớn Mà chết điếng lặng câm; uất lên tận

cổ ; gào lên; không phải sự đau đớn; căm hận và kinh ngạc.

Giây phút bàng hoàng qua đi bà trở lại tâm trạng của một ngời luôn giữ

cho mình thế thắng ngay cả trong lĩnh vực tình cảm: bình thản nghiêm nghị;

liếc nhìn chồng và bỗng hả hê khi thấy ông cúi gầm mặt khổ sở; đi thẳng ra

đầu ngõ; cời khẩy buông sõng.

Nhân vật ngời chồng (ông Hải) tởng chừng nh rơi tỏm vào vực thẳm

không lối thoát: ánh mắt chợt cụp xuống; bấn loạn; lúng búng; khóc oà; đỏ

rừ , thiểu não chẳng khác gì thằng con trai bà thuở còn bé, mỗi bận ăn vụng bắt quả tang ; chẳng ngó ngàng chi tới đứa nhỏ, ngày nào cũng ra bến đò ngồi cù rũ nhìn nớc trôi Nhng thân phận cây kiểng của ông trong bàn tay

chăm bẵm của bà Hải khi trở về với thế giới tự do đã tìm ra nghĩa đích thực

của cuộc sống, ông: ngạc nhiên, vẻ mừng hiện ra trên mặt; nói cời ríu ran;

vui lên; mỉm cời, nụ cời bao dung, vô t; ái ngại; thanh thản và hiền hoà

Trang 32

Theo cảm nhận của ngời đọc câu chuyện có kết cục bất ngờ nhng tínhhợp lí của nó chính là ở lô gíc của sự phát triển tâm lí nhân vật

Trong truyện ngắn Một chút màu xanh [28, tr 495] hai nhân vật của chị

đã phải chia tay nhau một cách đáng tiếc phũ phàng Họ cần và kỳ vọng ở tìnhyêu nhng không biết tạo dỡng khí cho nó đợc sống, chút màu xanh ở cuối câutruyện cho thấy rằng nguyên nhân của sự đổ vỡ không phải do sự nghiệt ngãcủa cuộc sống vật chất mà vì họ cha biết hi sinh và xây đắp Có tình yêu là

điều khó, nhng làm cho nó đẹp lên, lung linh thêm và ở lại với chúng ta mãimãi còn khó hơn nhiều Đôi vợ chồng mới cới lên một vùng đất mới lậpnghiệp, họ đã đi qua những ngày hạnh phúc ngắn ngủi lúc nào không biết Từnhững biến thái rất nhỏ đã đi đến sự đổi thay khó lờng, diễn biến nội tâm nhânvật đã đa câu truyện đến một kết cục buồn: từ gần gũi đến xa cách, từ yêu th-

ơng đến oán giận Họ chia tay nhau trong lặng lẽ, nhng nỗi đau, sự hối hận vìthói ích kỷ, lơ đãng của con ngời còn đeo đẳng mãi Độc giả có thể cảm nhận

đợc nội dung trên qua hệ thống từ ngữ tác giả sử dụng, với những cung bậc

tình cảm khác nhau Nhân vật ngời vợ sau ngày cới: mỉm cời duyên dáng; đôi

mắt lấp lánh Ngoại cảnh với căn phòng chật hẹp và cái nắng dữ dội miền

Trung tác động làm cho chị có những xúc cảm bất thờng Ban đầu chỉ lànhững mâu thuẫn nho nhỏ, là sự giằng co trong tâm lí nhân vật giữa cái mongmuốn đợc lịch sự, ân cần, vui vẻ và sự bức xúc bởi sự thiếu thốn và cay nghiệt

của hoàn cảnh Trạng thái xúc cảm pha lẫn nhiều sắc thái : gắt lên; hay cáu

gắt ; uể oải phờ phạc; cằn nhằn; mơ hồ thấy buồn; xấu tính; nhăn nhó nh

bà già; ngợng; bực mình, chẳng hiểu tại sao; thở dài; mỉm cời Tiếp đến,

mâu thuẫn dờng nh đợc đẩy lên cao trào, chị cảm nhận đợc sự mất mát tìnhcảm không có cách gì cứu vãn nổi, chút ngọt ngào của tình nghĩa vợ chồng đã

bị dập vùi trong cái dữ dằn của cuộc sống Nhân vật rơi vào bế tắc, mọi hành

động đều biểu lộ sự căng thẳng Đó là sự bức bí không tìm đợc lối thoát trong

tâm trạng nhân vật, chị: vờ ngủ để nén giận; hất ra tàn nhẫn; nớc mắt ứa ra,

tủi thân ; khóc thú thít, khóc nho nhỏ, không dám nấc to; khóc thút thít rồi

úp mặt má xuống lồng ngực nhớp nháp mồ hôi của anh; im lặng ngột ngạt

nh trời trớc cơn giông ; cay xè hai mắt; cụp mặt xuống; thơng chồng; ngợng với chồng; rồi phát ức lên với chồng; se se lòng; nhếch mép cời; tiếc nuối; xao xuyến; lạnh lẽo; cúi đầu, im lặng Chấp nhận để cho anh ra đi, chị

Trang 33

chuyển sang một trạng thái khác, không phải là mâu thuẫn giữa vui và buồn,

yêu và giận mà là sự hối tiếc: Một cảm giác lạ lùng dâng lên trong tim chị,

không rõ là buồn hay vui, trống trải hay thanh thản; lúc trớc chị thấy nó chật chội , tù túng, còn bây giờ thì rộng rãi và nhạt nhẽo; run lên; nớc mắt giàn giụa

Diến biến tâm lí trong truyện ngắn Một chút màu xanh gần gũi với cuộc

sống đời thờng, đó là không khí ngột ngạt của một thời bao cấp với cuộc vậtlộn giữa đời sống vật chất và tinh thần khác với chất thơ thấm đẫm huyền

thoại trong Thị trấn Hoa quì vàng.

Truyện ngắn Trần Thuỳ Mai thể hiện thế giới nội tâm theo quá trìnhdiến biến qua đó thể hiện sự phát triển tính cách nhân vật, xây dựng hình tợngnhân vật, nhng quá trình đó phải là sự kết nối của những biến thái nội tâmphức tạp đợc miêu tả tinh tế có chiều sâu

b Miêu tả biến thái phức tạp của đời sống nội tâm

Khi miêu tả nội tâm nhân vật là nhà văn chấp nhận đi vào một thế giới

đầy biến ảo Việc nắm bắt đợc thần sắc của nó đòi hỏi phải có sự am hiểu dàydặn về cuộc sống, và thể hiện thành công trên trang viết lại đòi hỏi gắt gao về

khả năng nhào nặn ngôn ngữ Tác giả tập truyện Đêm tái sinh đã có những

thành công trong việc thể hiện biến thái phức tạp của tâm trạng, cảm xúc nhânvật, từ góc độ này ngời đọc có thể nhận thức hiện thực cuộc sống Quá trìnhphân tích tâm lí nhân vật đợc thực hiện từ nhiều chiều, sự biến đổi có khi theoquá trình thời gian, sự thay đổi nhiều khi trong chốc lát Tác giả Trần ThuỳMai đã thuyết phục ngời đọc bằng cách quán xuyến vốn từ ngữ của mình, sửdụng trùng điệp mà không trùng lặp luôn tạo nên nét độc đáo trong cách thểhiện

Truyện ngắn Truyện cũ quê nhà là câu truyện đầy cảm động về ngời

mẹ Kỷ niệm về mẹ gắn với làng quê ven bờ sông Hiếu “Tôi, đứa bé lên bốn,

nằm trên chiếc võng gai, lim dim mắt nhìn trời Một màu xanh chói chang, trong ngần, sáng loáng Nền trời ấy nh chao đi cùng nhịp võng, những ngọn tre nghiêng ngả dập dềnh theo lời ru, tất cả nh một con thuyền đa tôi vào giấc ngủ, bập bềnh trên sông nớc” [28, tr 300] Những đứa con lớn lên trong vòng

tay của bà nội, cha đi kháng chiến, mẹ tần tảo đi đò dọc buôn bán nuôi controng nhọc nhằn thiếu thốn Buổi chiều khi nhá nhem tối, những đứa trẻ dắt

Trang 34

nhau ra bến đò trông mẹ Ngời cha mất, gánh nặng mu sinh và nỗi đau tinhthần đè nặng lên đôi vai nhỏ bé của mẹ Hình ảnh ấy, không thể mờ phai vớinhững xúc cảm êm đềm dịu ngọt lẫn buồn thơng Nhng đặc sắc là khi tác giảdẫn dắt ngời đọc đến với một tình tiết éo le: ngời mẹ hoang thai Những biếnthái trong tâm trạng, cảm xúc của những ngời trong gia đình chính là ấn tợng

đặc biệt mà câu truyện đem đến cho độc giả

lặng ngời đi Khuôn mặt nhăn nheo co rúm lại: một nỗi đau lặng

lẽ, tê tái Tởng chừng nh cha tôi chết lần thứ hai Quả thật, suốt đời tôi chỉ thấy khuôn mặt bà co thắt nh thế vào cài ngày cha tôi mất.

Tôi sợ sệt thu mình lại, ngơ ngác Quay sang bên, tôi thấy anh Hải Anh đứng đấy tự bao giờ, môi mím lại, mắt trừng nhìn.

Một lát sau, bà tôi hỏi, run run:

Trong Non nớc mùa đông, nhịp điệu dồn dập của sự thay đổi trạng thái

tâm lí đợc tả giả miêu tả bằng sự trải nghiệm thông qua những số lợng từ ngữ

dồi dào, phong phú: “Hai chân tôi đột ngột run lên, tim đập thình thịch Hải

vùng dậy , tung chăn, hai mắt nhìn tôi, đỏ ngầu Cậu ta chỉ giả vờ ngủ Hoảng hốt tôi oà khóc rồi bỏ chạy”[28, tr 128].

ở truyện khác, khi con ngời không cỡng lại đợc sự tác động của hoàncảnh, sự giằng kéo của cuộc sống nghiệt ngã tâm trạng và xúc cảm có những

biến đổi bất thờng theo sự chi phối của bản năng: “Anh thơng vợ, nhng khi

phải chịu đựng những câu cáu bẳn ngang phè của cô anh không thể không nhăn mặt khó chịu , muốn đạp đi cho rảnh Còn chị mỗi lần cằn nhằn với

Trang 35

chồng xong, chị ngồi yên, mơ hồ thấy buồn: chị thấy mình đâm ra xấu tính nhăn nhó nh bà già , chị ngợng với chồng và Thật bực mình, chẳng hiểu tại sao” [28, tr 496].

Lờ mờ nhận ra bản chất của Cờng, trái tim nhân hậu của Khánh không

dễ gì rời bỏ tình yêu mà nàng nâng niu hơn cả sự sống của mình Trong côdiễn ra cuộc đấu tranh giữa lí trí và tình cảm và cuối cùng tiếng gọi của trái

tim đã chiến thắng mặc dù nó đem lại biết bao cay đắng khổ đau: “Khánh

dậm chân bỏ chạy Khánh cuối cùng đã quay lại, dang rộng cánh áo ma

đang mặc phủ qua ngời tôi Khánh khóc”[28, tr 97] Đó là hành động của tâm

trạng, lí trí không thể giải thích nổi

Trong Tháng t trở lại, bà Hải quyết đoán và mạnh mẽ thất bại khi vận

dụng sự áp đặt chủ quan gia trởng và háo thắng vào lĩnh vực tình yêu, tình

ng-ời: “Bà lại liếc nhìn ông, là lại hả hê thấy vẻ mặt hốt hoảng nh muốn cải

chính mà không sao thốt lên lời” “Chút thơng tâm ngậm ngùi vừa dấy lên, thì lòng hận thù đã nh nớc sôi dội xuống” [28, tr 274] “Mắt bà đang hằn lên những ý tởng uất hận, chợt nh mở to ngạc nhiên khi tình cờ thấy mảnh

giấy trên bàn Bà Hải ” “ lặng ngời đi” [28, tr 277].

Độ đậm nhạt tuy có khác nhau nhng điều có thể khẳng định đợc là lớp

từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc xuất hiện với tần số cao trong truyện ngắn TrầnThuỳ Mai, nó đã đợc sử dụng hữu hiệu để miêu tả quá trình diễn biến của tâmtrạng cảm xúc và chính lớp từ này có vai trò chi phối cốt truyện Sự vận động,biến đổi thế giới nội tâm của nhân vật có thể tinh tế khó nhận thấy, có thể rất

rõ ràng từ thái cực này sang thái cực khác nhng đều hợp lô gíc đời thờng, phùhợp với dòng chảy tâm trạng

2.2.1.2 Sử dụng từ ngữ miêu tả sự đa dạng của trạng thái tâm trạng, cảm xúc

Tác giả Trần Thuỳ Mai đã sử dụng lớp từ ngữ miêu tả tâm trạng cảmxúc khá đặc biệt, điều này không chỉ thể hiện ở số lợng mà còn là sự kết hợp,vận dụng trong hành văn một cách đa dạng độc đáo Để tìm sự tơng đồng vàkhác biệt giữa các tác giả chúng tôi dùng phơng pháp so sánh đối chiếu Khảosát một số truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp, chúng tôi nhận thấy tác giả ítdùng từ ngữ miêu tả tâm trạng cảm xúc Khi sử dụng lớp từ này Nguyễn Huy

Thiệp không sử dụng hàng loạt mà thờng là riêng lẻ từng từ: “Sinh khá ngỡ

Trang 36

ngàng với không khí tự do trong nhà”, ở trong nhà Sinh hãi nhất lão Kiền”,

“Lão Kiền suốt ngày cau có”, “Khảm rên rỉ”, “Cấn trừng mắt” (trong truyện ngắn Không có vua [45, tr 86]); “Tôi vẫn ngỡ ngàng khi cha tôi về”, Ông

bứt rứt”, “Cha tôi đăm chiêu”, “Cha tôi không nói năng gì”, Ông Bổng rất

ức”, Ông cầm tờ giấy mà run bắn ngời”, “Tôi khó chịu quay đi”, “Tôi cũng vui lây” (trong truyện ngắn Tớng về hu [45, tr 29])

Hiện tợng hai từ ngữ trở lên thuộc lớp từ miêu tả tâm trạng cảm xúc ítxuất hiện trong một phát ngôn hay những phát ngôn liên tiếp Chỉ có thể tìm

thấy một số ít loại câu này: “Kiêm tức nghẹn họng, sùi bọt mép”; “Cấn cời,

mắt ve vuốt” (Không có vua [45, tr 112]); Ông kinh hãi , đau đớn”; Ông vụ

phó thông gia cũng đâm hoảng hốt, luống cuống” (Tớng về hu [45, tr 29]).

Tóm lại, Nguyễn Huy Thiệp không quan tâm nhiều đến lớp từ miêu tảtâm trạng, cảm xúc nhân vật Ngôn ngữ có biểu hiện bề ngoài khách quan,lạnh lùng là một đặc điểm dễ nhận thấy Ngợc lại, tác giả Trần Thuỳ Mai sửdụng lớp từ này rất nhiều và đặc sắc trong miêu tả nhân vật

a Dùng hàng loạt từ ngữ để khắc sâu tâm trạng, cảm xúc nhân vật tại một thời điểm

a.1 Dùng những từ, ngữ cùng nghĩa, gần nghĩa đứng liên tiếp nhau

Tâm lí con ngời tồn tại ở dạng thức vô hình, khó có thể xác định mộtcách rành mạch các trạng thái xúc cảm Từ ngữ đồng nghĩa hoặc gần nghĩa cóthể miêu tả sự tinh tế, những biến thái không dễ nhận diện của đời sống nội

tâm: “Tôi lớn lên lòng bâng khuâng nh thiếu vắng một thứ gì, cứ mơ hồ nhớ

nhớ , thơng thơng”[28, tr 71]; “Dần dần tôi hiểu mùa đông, yêu mùa đông, biết thế nào là vẻ đẹp của gió của giá buốt và hơi ấm khi ở bên nhau ” [28 tr.

60] Tác giả sử dụng hàng loạt từ đồng nghĩa, gần nghĩa nhng không tạo cảmgiác lặp mà ngân mãi không dứt xúc cảm của nhân vật

a.2 Dùng nhiều từ ngữ giống nhau và khác nhau về trờng nghĩa trong một câu biểu đạt tính phức tạp đa chiều của đời sống nội tâm

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Với t cách là cái trừu tợng, các tr “ ờng”

đóng vai trò những cái khuôn, những mô hình ngữ nghĩa để hút về, tạo ra và“ ”

cải tạo lại (đối với các đơn vị vay mợn) y nghĩa của những từ cụ thể.”[7, tr.

254] Lớp từ miêu tả tâm trạng cảm xúc “thu hút” các từ ngữ ở các trờng

Trang 37

nghĩa khác nhau tham gia vào hệ thống Sự vận dụng hàng loạt từ ngữ này đãlàm tăng hiệu quả biểu đạt cho ngôn ngữ miêu tả

Khi miêu tả tâm trạng, tác giả Trần Thuỳ Mai kết hợp nhiều từ, ngữthuộc trờng nghĩa chỉ cảm giác, chỉ thái độ hay hành động để làm nổi rõtính cách nhân vật, hiện tợng này xuất hiện khá phổ biến trong các tác phẩm,

nó nối dài câu văn, tạo nhịp điệu cho lời văn và nhất là đời sống nội tâm đợcmiêu tả cụ thể, sống động Nội tâm nhân vật trong các truyện ngắn Trần ThuỳMai không đợc thể hiện với trạng thái đơn giản thuần nhất, hiện thực cuộcsống với tính đa chiều phức hợp đã phản chiếu vào lớp từ miêu tả tâm trạng,

cảm xúc: Trong truyện ngắn Chị Hai ơi, Trúc đã khóc bằng giọt “nớc mắt hối

tiếc, nghẹn ngào” [28 tr 10]; Akikô yêu cuồng nhiệt với niềm tin rằng tình

yêu có thể biến đổi cả vũ trụ, nên khi đối diện với thực tế nghiệt ngã tâm trạng

của nàng là sự đan xen giữa khát khao, hạnh phúc và đau đớn, “nàng bất chợt

hờn dỗi, nghi ngờ, xa lánh” và “nhắm mắt lại, đê mê và buồn tủi”[28 tr.

151]; Ngời phụ nữ trong Cánh cửa thứ chín lại có tâm trạng khác đó là tình

yêu cũng say đắm nhng dè dặt và kìm nén, nên nỗi đau vì tình yêu nh là một

sự đè nặng, bao quanh chị là “căn phòng lạnh, yên lặng đè lên tim tôi nh một

khối nặng trịch vô hình Sự yên lặng khắc khoải, đau nhói, âm thầm trong

lúc đi, đứng, nói cời, cố sống cuộc sống đời thờng” [28 tr 263]; Nhân vật

Thắng trong Thập tự hoa không dám quay lại nơi căn gác cũ “bởi một điều

day rứt khó tả, một điều gì đó làm anh nao lòng, và anh sợ phơi bày lần nữa

sự yếu đuối của mình” [28 tr 319]; Luân trong hai thời điểm với hai trạng

thái tâm lí trái ngợc nhau, ở thời điểm nào tác giả cũng dùng hàng loạt từ để

miêu tả: “Diụ dàng, say đắm, chìm ngập vẻ toại nguyện và hạnh phúc”[28.

tr 448] và “Bộ mặt Luân khi cúi xuống nhặt tôi lên, chắc không thể lạnh lẽo,

dửng dng xấc xợc nh tôi phải chứng kiến nhiều lần, trong mời năm” [28 tr.

452]; ở một trờng hợp khác lại là hình ảnh bên trong của nhân vật Trang:

“hiện nguyên hình là một ngời đàn bà cô đơn, tủi thân, nức nở khóc”[28 tr.

514]; Nhân vật ngời phụ nữ trong Huyền thoại về chim phợng sau bao thăng

trầm của cuộc đời với “một nụ cời nhẫn nhục và chua chát thoáng qua trên

môi”[28 tr 474] và cảm giác của ngời đàn ông đã từng dành cho chị mối tình

đầu: “Cảm giác trống rỗng rờn rợn nh tràn ngập lòng ông, cảm giác lạnh

buốt về thời gian, sức mạnh tàn phá và huỷ diệt” [28 tr 474]; Trong truyện

Trang 38

Chuyện ở phố hoa xoan những bức tợng cũng nh có tâm trạng trong cái nhìn

của con ngời nó mang tâm sự, nỗi niềm của con ngời “chúng tơi tỉnh, tròn

trịa , háo hức và toả sáng”[28 tr 113]; Tâm trạng của nhân vật của một cô

giáo dạy văn tha thiết với nghề trớc một cuốn sách: “Bất giác trong lòng cô

dấy lên niềm ao ớc mãnh liệt muốn có cuốn sách trong tay Dờng nh tim cô sống lại toàn vẹn với cảm giác nôn nao, thơng xót, rạo rực khi tiếp xúc với những con ngời trong tác phẩm: cái cảm giác nh mình chợt mới ra, sáng suốt

và bay bổng hơn, bao dung và thiết thực hơn”[28 tr 545]; nhân vật My ở

Phật ở Kyong Ju trong hành trình khám phá nền văn hoá đất nớc Hàn Quốc đã

gặp những khó khăn, ngời đàn ông tên là Kim khá đặc biệt đã khiến cô có lúcnhầm lẫn giữa cái xấu và cái tốt, giữa tình yêu, lòng vị tha bao la của con ngời

và thói vị kỉ: “Tôi nghe tiếng thét của mình nghẹn ngào, kinh hoảng và tuyệt

vọng”[28 tr 19], “Tôi đấm ngực, bứt tóc, tiếc rẻ và đau đớn” [28 tr.18]; đặc

biệt khi miêu tả nỗi đau tác giả tận dụng tối đa các yếu tố ngôn ngữ để diễn

đạt gợi cảm hình tợng nhân vật: “Hà không khóc, mặt tái mét, đầu và vai rũ

xuống Một vẻ chịu đựng tê tái làm khuôn mặt khác hẳn” [28 tr 492], “Cô trẻ hơn ngập ngừng cúi đầu, một cái nhìn tê dại, dờng nh trở thành vô cảm trớc nỗi nhục, nỗi đau”[28 tr 492], “Chị cũng nhìn anh, dờng nh trong mắt anh có một thoáng gì gớm ghiếc, bất mãn, đố kị”[28 tr 500].

a.3 Dùng những từ ngữ đối lập nhau về ngữ nghĩa kết hợp song hành thể hiện tính đa diện của nội tâm nhân vật

Đằng sau lớp từ này hình tợng nhân vật đợc khác hoạ rõ nét hơn: nỗi

đau của nhân vật Vũ đợc tác giả nói đến trong Thuốc ba màu là “một niềm

đau mà tôi cảm thấy rất rõ ràng, nhức buốt và êm dịu”[28 tr 147]; trong

hoàn cảnh chiến tranh đau thơng cô gái Cam pu chia tên là Thăn Cha sốngtrong sự giằng co của các trạng thái tình cảm, từ ngữ trái nghĩa tác giả sử

dụng thể hiện mâu thuẫn đó: “hận thù và yêu thơng, nồng nàn và kiêu

hãnh”[28 tr 255]; nhân vật Ng trong Thị trấn Hoa quì vàng để lại ấn tợng

cho độc giả bởi chị có đời sống nội tâm rất đặc biệt, đó chính là cái dữ dội của

sự đấu tranh giữa cái tầm thờng và khát vọng: “ Thực tại mỗi ngày tầm thờng,

bất lực , cay đắng và thực tại trong khát vọng huy hoàng rực rỡ” [28 tr.

225]; trong Đêm tái sinh tình cảm của con ngời không chỉ là sự minh bạch rõ

ràng, nó có thể sự trộn lẫn các cảm giác và nhiều khi là những trạng thái đối

Trang 39

lập nhau: “Vừa lo sợ vừa cả thấy thích thích, hồi hộp nh thể đi vào một cuộc

phiêu lu một thế giới khác”[28 tr 59]; nỗi lòng của ngời đàn bà quá nửa đời

ngời mới nhận ra hạnh phúc trong tay là ảo ảnh: “Suốt đêm bà Hải không ngủ

đợc, lắng nghe tâm t mình bà thấy hình nh không phải sự đau đớn, mà là nối căm hận và kinh ngạc”[28 tr 269]; “Bất chợt trong lòng Lài đau thắt, nôn nao, quằn quại Tất cả hoa lên, đảo lộn trớc mắt Lài Cô không còn nhớ, còn quên gì nữa”[28 tr 404]; Tâm trạng của cô gái mới lớn: “Tôi sung sớng, hổ thẹn , nhục nhã và tự dày vò mình sau những giấc mơ ấy” 28 tr 449]; sự thay

đổi tính tình không rõ nguyên nhân của ngời chồng vốn rất chuẩn mực: “Một

ngời chồng đang hoạt bát vui vẻ, ân cần dịu dàng, bỗng hoá ra bộ mặt khó

đăm đăm , lúc thì lạnh nhạt, lúc thì gắt gỏng, tình cảnh ấy làm Yến thắt ruột,

thắt gan” [28 tr 519]

Việc dùng kết hợp hàng loạt từ trong việc miêu tả một trạng thái tâmtrạng cảm xúc nhân vật thể hiện vốn từ dồi dào của tác giả Chính điều này đãlàm cho nhân vật của chị chân thật hơn, sống động hơn, gần gũi với cuộc đờihơn Điều này không phải nhà văn nào cũng có đợc

b Sử dụng đa dạng về từ ngữ trong việc miêu tả cùng một trạng thái tâm trạng, cảm xúc

Nhà văn có vai trò rất lớn trong việc làm giàu thêm ngôn ngữ dân tộc,việc sử dụng ngôn ngữ sáng tạo không lặp lại ngời khác và chính mình cũng làmột cách thể hiện năng lực của ngời cầm bút Không lặp lại nghĩa là tác giảphải huy động đợc một số lợng từ ngữ lớn và sử dụng một cách đa dạng có sựbiến hoá linh hoạt khi miêu tả cùng tâm trạng, cảm xúc nhân vật ở những ngữcảnh khác nhau Chính vì thế nhân vật đợc thể hiện có chiều sâu, có cá tính,các nhân vật không nhoè vào nhau, hình tợng nhân vật có đờng nét

Chúng ta đi vào một hiện tợng tâm lí đợc miêu tả: trạng thái tức giận để

thấy đợc sự đa dạng, linh hoạt của ngôn ngữ Cũng là trạng thái tâm lí này

nh-ng biểu hiện ở nh-ngời đàn bà bị thói ích kỷ đê tiện của đàn ônh-ng đẩy vào bớc

đ-ờng cùng là ở đôi mắt chết”:“ Ngời đàn bà nhìn em, đôi mắt chết, và rút ra

một mảnh vải” [28 tr 336]; ở Khánh, một cô gái trong sáng ngây thơ, khi

nhận ra sự đểu giả của Cờng: “Tôi có cảm giác tóc gáy nàng đang dựng

lên”[28 tr 96]; biểu hiện ở ngời mẹ khi không bằng lòng vì hành động của

con trai trong Chị Hai ơi: Mặt đanh lạ i, mắt long lên, nh dáng vẻ con

Trang 40

gà mái bảo vệ bầy con trớc nanh vuốt diều hâu”[28 tr 12]; Quắn tức giận

bởi sức mạnh và lẽ phải không thuộc về nó: Quắn biết tôi có võ thiếu lâm nên

đành chịu phép hậm hực chùi máu mũi nhìn theo, cái nhìn của con thú mất mồi” [28 tr 72]; biểu hiện tâm trạng này ở một bà cô khi biết đứa cháu theo

nghiệp tu hành vớng vào tục luy: “Tau mà gặp con ma nữ đó tau tớc từ dới tớc

lên” [28 tr 73]; Nỗi bực tức vô lí của ông Phơng khi biết ngời vợ cũ (cô

Hạnh) lấy chồng âm phủ: Giọng thầy Phơng vẫn từ tốn nh thờng lệ, nhng đôi

bàn tay liên tục gõ xuống bàn”[28 tr 77]; tính cách mạnh của nhân vật Hà

trong Ngôi đền sống tức giận khi bạn mình bị lừa gạt lại đợc thể hiện bằng

hành động: “bàn tay của Hà chộp lấy cổ áo tôi và lôi ra hành lang”[28 tr 95]; Cảm giác “lạnh gáy” của nhân vật Mi trong Gió thiên đờng chính là tâm

trạng ngạc nhiên căm giận khi biết đợc ngời mình yêu phản bội; phản ứng củamột ngời đàn ông nóng tính khi tức giận, trớc ngời vợ vừa yêu thơng, gần gũivừa xa cách vì bất đồng quan điểm thờng là không nói ra thành lời mà đợc thể

hiện thông qua những động từ kết hợp với tính từ miêu tả hành động: “Hoành

không nói, đá mạnh một cái Chiếc kệ gỗ mun đổ sập Trang bỏ đi ra

hiên”[28 tr 506]; cũng là tâm trạng này nhng ở một thanh niên mới lớn trớc

những việc ngang trái mà đối thủ quá mạnh: Từ đó tôi hiểu nỗi uất ức của

ngời câm, biết mà không nói đợc , tôi muốn ” “ nhảy ra quét một cái cho mỗi

đứa văng đi mỗi nơi”[28 tr 538]

Nhờ khả năng làm chủ trong sử dụng từ ngữ nên một trạng thái tâm línhng tác giả đã miêu tả với những biểu hiện khác nhau trong những tìnhhuống và những tính cách khác nhau Nhân vật của chị vì thế không hề có tínhkhuôn mẫu, đó là những số phận những cuộc đời với những hạnh phúc, khổ

đau rất riêng và chân thật

c Lớp từ miêu tả tâm trạng cảm xúc đa dạng về từ loại

Tham gia vào lớp từ miêu tả tâm trạng cảm xúc bao gồm các từ thuộcnhiều từ loại khác nhau, chúng tôi đã thống kê đợc 3 từ loại tiêu biểu đó làdanh từ, động từ và tính từ

Ngày đăng: 19/12/2013, 15:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. M. Baktin (1993), Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki (Trần Đình Sử dịch), NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề thi pháp Đôxtôiepxki
Tác giả: M. Baktin
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1993
2. Diệp Quang Ban (2004), Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt, Trờng Đại học Huế Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ pháp tiếng Việt
Tác giả: Diệp Quang Ban
Năm: 2004
4. Phan Mậu Cảnh (2002), Ngôn ngữ học văn bản, Trờng Đại học Vinh, Nghệ An Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học văn bản
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Năm: 2002
5. Phan Mậu Cảnh (2006), Ngữ pháp tiếng Việt các phát ngôn đơn phần, NXB Đại học S phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng Việt các phát ngôn đơn phần
Tác giả: Phan Mậu Cảnh
Nhà XB: NXB Đại học S phạm
Năm: 2006
6. Nguyễn Tài Cẩn (2004), Ngữ pháp tiếng việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngữ pháp tiếng việt
Tác giả: Nguyễn Tài Cẩn
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2004
7. Đỗ Hữu Châu (1998), Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa học từ vựng
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1998
8. Đỗ Hữu Châu (1999), Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
9. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cơng ngôn ngữ học, tập 1, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
10. Đỗ Hữu Châu (2003), Đại cơng ngôn ngữ học, tập 2, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cơng ngôn ngữ học
Tác giả: Đỗ Hữu Châu
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
11. Hoàng Thị Châu (2004), Phơng ngữ học tiếng Việt, NXB Đại học Quốc gia Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phơng ngữ học tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Thị Châu
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Néi
Năm: 2004
12. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến (2003), Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngôn ngữ "học và tiếng Việt
Tác giả: Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiến
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
13. Phan Cự Đệ (chủ biên, 2004), Văn học Việt Nam thế kỷ XX, NXB Giáo dục, Hà Néi Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỷ XX
Nhà XB: NXB Giáo dục
14. Hà Minh Đức (chủ biên, 2003), Lí luận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
15. Nguyễn Thiện Giáp (2003), Từ vựng học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ vựng học tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thiện Giáp
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
16. Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi (đồng chủ biên, 2004), Từ điển thuật ngữ văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển "thuật ngữ văn học
Nhà XB: NXB Giáo dục
17. Nguyễn Thái Hoà (2005), Từ điển tu từ-phong cách-thi pháp học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tu từ-phong cách-thi pháp học
Tác giả: Nguyễn Thái Hoà
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2005
18. Khrapchencô (1978), Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cá tính sáng tạo của nhà văn và sự phát triển văn học
Tác giả: Khrapchencô
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 1978
19. Đinh Trọng Lạc (1999), Phong cách học tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phong cách học tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1999
20. Đinh Trọng Lạc (2003), 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 99 phơng tiện và biện pháp tu từ tiếng Việt
Tác giả: Đinh Trọng Lạc
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2003
21. Nguyễn Lai (1996), Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học, NXB Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ với sáng tạo và tiếp nhận văn học
Tác giả: Nguyễn Lai
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 1996

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng thống kê phân loại lớp từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc  theo tiêu chí từ loại ở một số truyện ngắn của tác giả Trần Thuỳ Mai - LA 0 đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai (biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)03699
Bảng th ống kê phân loại lớp từ miêu tả tâm trạng, cảm xúc theo tiêu chí từ loại ở một số truyện ngắn của tác giả Trần Thuỳ Mai (Trang 41)
Bảng thống kê tần số sử dụng từ địa phơng trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai - LA 0 đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai (biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)03699
Bảng th ống kê tần số sử dụng từ địa phơng trong truyện ngắn Trần Thuỳ Mai (Trang 46)
Bảng thống kê câu đơn hội thoại theo tiêu chí phân loại: câu biệt lập,   câu tách biệt, câu tỉnh lợc ở một số truyện ngắn của ba tác giả - LA 0 đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai (biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)03699
Bảng th ống kê câu đơn hội thoại theo tiêu chí phân loại: câu biệt lập, câu tách biệt, câu tỉnh lợc ở một số truyện ngắn của ba tác giả (Trang 71)
Bảng thống kê câu đơn theo tiêu chí phân loại: câu có thành phần phụ và câu không có thành phần phụ ở một số truyện ngắn của ba tác giả - LA 0 đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai (biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)03699
Bảng th ống kê câu đơn theo tiêu chí phân loại: câu có thành phần phụ và câu không có thành phần phụ ở một số truyện ngắn của ba tác giả (Trang 73)
Bảng thống kê phân loại câu trần thuật  miêu tả theo cấu trúc - LA 0 đặc điểm ngôn ngữ truyện ngắn trần thuỳ mai (biểu hiện qua từ ngữ và câu văn)03699
Bảng th ống kê phân loại câu trần thuật miêu tả theo cấu trúc (Trang 87)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w