THANH TRA ĐẤT ĐAI
Những quy định chung về thanh tra
Thanh tra, có nguồn gốc từ tiếng Latin, mang ý nghĩa là kiểm tra và xem xét hoạt động của một số đối tượng nhất định từ bên ngoài.
Theo từ điển pháp luật Anh – Việt, thanh tra là sự kiểm soát, kiểm kê đối với đối tượng bị thanh tra
Theo từ điển tiếng Việt, thanh tra là sự kiểm soát, xem xét tại chỗ việc làm của địa phương, cơ quan, xí nghiệp
Như vậy, có thể hiểu, thanh tra bao hàm việc xem xét và phát hiện, ngăn chặn các hành vi trái với quy định của pháp luật
Thanh tra là hoạt động kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, pháp luật của nhà nước và thực hiện nhiệm vụ của các cơ quan, tổ chức, cá nhân Mục tiêu của thanh tra là nâng cao kỷ luật trong quản lý nhà nước, đảm bảo sự chấp hành đúng đắn trong các ngành và lĩnh vực.
Hoạt động thanh tra đóng vai trò quan trọng trong việc phát hiện sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách và pháp luật Qua đó, cơ quan quản lý nhà nước có thể đánh giá tính phù hợp của các quy định và quyết định quản lý với thực tiễn cuộc sống Việc nhận diện các khiếm khuyết và sai sót sẽ giúp kiến nghị các biện pháp khắc phục kịp thời, từ đó sửa đổi và bổ sung các quy định nhằm ngăn ngừa vi phạm.
Thanh tra là hoạt động thường xuyên của cơ quan quản lý nhà nước nhằm đảm bảo các quyết định quản lý được chấp hành và mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân tuân thủ quy định pháp luật Tính chất liên tục của thanh tra giúp phòng ngừa vi phạm pháp luật bằng cách chỉ ra những sai phạm cần chấn chỉnh, đồng thời phát hiện những dấu hiệu hoặc nguy cơ vi phạm trước khi chúng xảy ra.
Phát huy nhân tố tích cực trong quản lý nhà nước là cần thiết để nâng cao hiệu lực và hiệu quả hoạt động, bảo vệ lợi ích của Nhà nước cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và cá nhân Nhân tố tích cực được hiểu là những hành động mạnh dạn thể hiện tư duy và cách suy nghĩ mới, phù hợp với chủ trương cải cách toàn diện đất nước Hoạt động thanh tra đóng vai trò quan trọng trong quản lý, nhằm đạt được hiệu quả tối ưu trong quản lý nhà nước.
1.1.3 Hoạt động và hình thức:
Thanh tra bao gồm hai hoạt động chính là thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân, được phân định dựa trên chủ thể thực hiện thanh tra.
Thanh tra nhà nước là quá trình xem xét, đánh giá và xử lý theo quy định pháp luật của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhằm đảm bảo việc thực hiện chính sách, pháp luật, cũng như nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Thanh tra nhà nước bao gồm 2 loại hình hoạt động là thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành:
Thanh tra hành chính là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm kiểm tra việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc Mục tiêu của thanh tra hành chính là nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân và cải thiện hiệu quả làm việc của đội ngũ công chức.
Thanh tra chuyên ngành là hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện kiểm tra các cơ quan, tổ chức và cá nhân về việc tuân thủ pháp luật và quy định chuyên môn – kỹ thuật trong ngành Mục tiêu chính của thanh tra chuyên ngành là đảm bảo việc chấp hành nghiêm túc các quy định pháp luật, đặc biệt là những quy tắc quản lý chuyên ngành.
Thanh tra nhà nước thực hiện hoạt động với 3 hình thức:
Thanh tra theo kế hoạch là hình thức thanh tra được thực hiện dựa trên một kế hoạch đã được phê duyệt Hoạt động này mang tính chất chủ động và nhằm phục vụ cho yêu cầu quản lý hiệu quả.
- Thanh tra thường xuyên: được tiến hành trên cơ sở chức năng, nhiệm vụ của cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành
Thanh tra đột xuất được thực hiện khi có dấu hiệu vi phạm pháp luật từ cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, theo yêu cầu giải quyết khiếu nại, tố cáo, hoặc theo chỉ đạo của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền Đây là hình thức thanh tra không nằm trong kế hoạch trước đó và không được dự liệu.
Thanh tra nhân dân là phương thức giám sát của cộng đồng thông qua Ban thanh tra nhân dân, nhằm theo dõi việc thực hiện chính sách, pháp luật, giải quyết khiếu nại, tố cáo, và thực thi pháp luật về dân chủ tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm ở cấp xã, phường, thị trấn, cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập và doanh nghiệp nhà nước.
1.1.4 Nguyên tắc hoạt động thanh tra Điều 7, Luật Thanh tra 2010 quy định như sau:
Hoạt động thanh tra phải tuân thủ nghiêm ngặt pháp luật, thể hiện nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa trong công tác của cơ quan thanh tra Đây là biện pháp quan trọng của Nhà nước để bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong hệ thống nhà nước xã hội chủ nghĩa Do đó, mọi hoạt động thanh tra cần phải tôn trọng hiến pháp và các luật liên quan, bao gồm Luật thanh tra, Luật Khiếu nại, Luật tố cáo và các quy định pháp lý khác.
Thanh tra phải đảm bảo tính chính xác, khách quan, trung thực, công khai, dân chủ và kịp thời trong việc xem xét thực hiện các quy định pháp luật Qua đó, thanh tra đề ra các biện pháp nhằm tôn trọng và thực hiện các quy định này Mọi kết luận, kiến nghị hay quyết định trong hoạt động thanh tra đều có vai trò quan trọng, làm rõ tính đúng sai, tình hình, tính chất và hậu quả của sự việc, đồng thời xác định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân có sai phạm và yêu cầu họ thực hiện các biện pháp khắc phục Do đó, tính chính xác được coi là nguyên tắc hàng đầu trong hoạt động thanh tra.
Hoạt động thanh tra cần dựa trên căn cứ rõ ràng và chính xác theo quy định pháp luật Yêu cầu khách quan là rất quan trọng đối với các cơ quan và cán bộ thanh tra Kết luận, kiến nghị và quyết định phải xuất phát từ thực tiễn khách quan, không phải từ suy diễn chủ quan Để đảm bảo tính khách quan, cán bộ thanh tra cần có trình độ hiểu biết về chính trị, pháp luật và chuyên môn để thực hiện công việc một cách độc lập và khách quan.
Thanh tra đất đai
Thanh tra đất đai là hoạt động thanh tra chuyên ngành do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện, nhằm kiểm tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của các cơ quan, tổ chức và cá nhân Hoạt động này bao gồm việc đánh giá các quy định chuyên môn, kỹ thuật và quản lý liên quan đến lĩnh vực đất đai.
Cần phát hiện và kiến nghị với cơ quan quản lý đất đai để sửa chữa những thiếu sót trong quá trình quản lý, nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý và thực hiện đầy đủ các chế độ, thể lệ về quản lý và sử dụng đất đai Qua quá trình thanh tra, cơ quan nhà nước cấp trên sẽ tham gia kiểm tra việc thực hiện chức năng của các cơ quan quản lý nhà nước đối với đất đai cũng như việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.
Phát hiện và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật đất đai là cần thiết để đảm bảo thực hiện đúng các chính sách pháp luật liên quan Điều này không chỉ tăng cường trách nhiệm của cơ quan quản lý và sử dụng đất mà còn bảo vệ quyền lợi của nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu Đồng thời, việc này cũng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, góp phần duy trì trật tự, ổn định và đoàn kết trong cộng đồng.
1.2.3 Đối tượng: Đối tượng thanh tra đất đai bao gồm:
Các cơ quan, tổ chức và cá nhân hoạt động trong lĩnh vực tài nguyên đất đều nằm dưới sự quản lý trực tiếp của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về tài nguyên và môi trường.
Cơ quan, tổ chức, cá nhân trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, cùng với tổ chức và cá nhân nước ngoài, đều có thể tham gia vào các hoạt động liên quan đến lĩnh vực tài nguyên đất tại Việt Nam.
Thanh tra đất đai gồm 3 nội dung:
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của Ủy ban nhân dân các cấp
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của người sử dụng đất và của tổ chức, cá nhân khác có liên quan;
- Thanh tra việc chấp hành các quy định về chuyên môn, nghiệp vụ trong lĩnh vực đất đai
1.2.4.1 Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của Uỷ ban nhân dân (UBND) các cấp và quy định về chuyên môn nghiệp vụ trong lĩnh vực đất đai:
Cơ quan Tài nguyên và Môi trường trực thuộc UBND các cấp đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước về đất đai, với nhiệm vụ cụ thể được quy định trong Luật Đất đai năm 2013 Theo điều 22 của luật này, có 15 nội dung quản lý đất đai cần được thực hiện Việc thanh tra nhiệm vụ quản lý đất đai của UBND cấp tỉnh nhằm đảm bảo rằng các nội dung quản lý được thực hiện đúng theo thẩm quyền tại địa phương.
* Thanh tra kiểm tra việc ban hành các văn bản và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý sử dụng đất
Dựa trên các văn bản quy phạm pháp luật của Chính phủ và các cơ quan trung ương, UBND tỉnh sẽ cụ thể hóa các quy định này để phù hợp với tình hình và đặc điểm địa phương, tuy nhiên phải đảm bảo không trái với các quy định của Chính phủ và các cơ quan trung ương.
Thanh tra kiểm tra việc ban hành vả tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của UBND cấp tỉnh tập trung vào những nội dung:
- Thanh tra kết quả ban hành văn bản và rà soát các văn bản đã ban hành về:
Số lượng và loại văn bản trong quản lý và sử dụng đất đai, cùng với việc đo đạc bản đồ, đã tăng lên đáng kể theo thời gian Các nội dung văn bản này đóng vai trò quan trọng trong việc điều chỉnh và cải thiện quy trình quản lý đất đai, đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong công tác đo đạc.
+ Rà soát văn bản về số loại bỏ, hết hiệu lực, phải điều chỉnh, từ đó đưa ra những đánh giá cụ thể;
Đánh giá tính hợp pháp và sự phù hợp của các văn bản địa phương là rất quan trọng Cần xem xét việc tuân thủ các quy định về thể thức ban hành, thủ tục trình tự ban hành và thẩm quyền ban hành văn bản để đảm bảo tính hợp lệ và hiệu quả trong quản lý.
- Thanh tra kiểm tra việc tổ chức thực hiện các văn bản:
+ Đánh giá công tác tuyên truyền phổ biến văn bản của Ủy ban nhân dân các cấp tỉnh;
+ Đánh giá công tác kiểm tra việc thực hiện từng văn bản trong lĩnh vực quản lý và sử dụng đất và đo đạc bản đồ;
+ Đánh giá hiệu quả và kết quả thực hiện từng văn bản và quá trình điều chỉnh các văn bản đã ban hành;
+ Việc tuân thủ quy định của văn bản của từng tổ chức, hộ gia đình, cá nhân trong quá trình sử dụng đất đai
* Thanh tra việc xác dịnh địa giới hành chính, lập và quản lý hồ sơ địa giới hành chính và lập bản đồ hành chính các cấp
Thanh tra việc thực hiện nội dung này tại UBND cấp tỉnh nhằm đánh giá tính pháp lý của việc xác định địa giới hành chính ở các cấp tỉnh, huyện, xã theo quy định của pháp luật Cần xem xét những vấn đề tồn tại và những vi phạm pháp luật trong việc xác định địa giới hành chính, từ đó nhận diện những hạn chế trong công tác quản lý liên quan đến địa giới giữa các đơn vị Trên cơ sở đó, cần đề xuất các biện pháp khắc phục những tồn tại này để nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.
- Thanh tra việc tổ chức xác định địa giới hành chính và lập hồ sơ địa giới hành chính các cấp được lưu tại cấp tỉnh, thể hiện qua:
Tính đầy đủ của hồ sơ địa giới hành chính cấp đang thanh tra và hồ sơ cấp huyện được lưu tại cấp tỉnh được đánh giá qua mức độ đầy đủ của các loại tài liệu quy định Điều này bao gồm cả nội dung và giá trị pháp lý của từng tài liệu trong hồ sơ, cũng như xác nhận của UBND cấp trên.
Theo quy định hiện hành hồ sơ địa giới hành chính các cấp gồm các tài liệu:
Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền về việc thành lập đơn vị hành chính hoặc điều chỉnh địa giới hành chính;
Bản đồ địa giới hành chính;
Sơ đồ vị tri các mốc địa giới hành chính;
Bảng toạ độ các mốc địa giới hành chính;
Thống kê các yếu tố địa lý có liên quan đến địa giới hành chính;
Biên bản bản giao mốc địa giới hành chính;
Thống kê các tải liệu về địa giới hành chính của các đơn vị hành chính cấp dưới
Quản lý địa giới hành chính cấp tỉnh là một nhiệm vụ quan trọng, bao gồm việc giám sát mốc địa giới trên thực địa và xác định rõ ràng địa giới hành chính của các đơn vị trực thuộc.
Thanh tra việc quản lý lập bản đồ hành chính của các huyện do UBND cấp tỉnh thực hiện là cần thiết để đảm bảo tuân thủ các quy định về lập bản đồ hành chính và địa giới hành chính Việc này không chỉ giúp đánh giá mức độ tuân thủ quy định của ngành mà còn đảm bảo hình thức và nội dung của bản đồ hành chính được thực hiện đúng theo quy định hiện hành.
* Thanh tra việc khảo sát, đo đạc lập và quản lý bản đồ địa chính:
Công tác khảo sát, đo đạc và lập bản đồ địa chính là yếu tố then chốt trong quản lý nhà nước về đất đai, giúp xây dựng tài liệu thể hiện bề mặt đất, từ đó đảm bảo quản lý chặt chẽ từng thửa đất và chủ sử dụng Việc thực hiện đo đạc và lập bản đồ địa chính phải tuân thủ quy trình kỹ thuật thống nhất do Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành UBND cấp tỉnh có trách nhiệm chỉ đạo các cơ quan chuyên môn thực hiện nghiêm túc các quy trình này, đồng thời công tác thanh tra cần tập trung vào những nội dung cơ bản liên quan đến việc đo đạc và lập bản đồ địa chính.
- Thanh tra việc thực hiện kế hoạch đo đạc bản để do nhà nước giao của UBND cấp tỉnh, thể hiện qua:
Phương hướng, biện pháp chỉ đạo giám sát thực hiện kế hoạch đo đạc lập bản đồ;
Tổ chức triển khai theo dõi việc thực hiện kế hoạch;
Các biện pháp quản lý công tác đo đạc;
Công dân giám sát, theo dõi, đánh giá việc quản lý, sử dụng đất đai
Giám sát trong tiếng Việt được định nghĩa là việc theo dõi và đánh giá sự tuân thủ hoặc vi phạm các quy định đã đặt ra Hoạt động giám sát luôn liên quan đến một chủ thể cụ thể và một đối tượng nhất định, do đó cần xác định rõ ai là người giám sát và ai hoặc việc gì đang được giám sát Hơn nữa, quá trình giám sát phải dựa trên các quyền và nghĩa vụ của cả chủ thể giám sát và đối tượng bị giám sát.
Giám sát là quyền của công dân, cho phép họ tự thực hiện hoặc thông qua các tổ chức đại diện để theo dõi và phản ánh những sai phạm trong quản lý nhà nước.
Trong hoạt động giám sát, có hai loại hình chính: giám sát quyền lực nhà nước, bao gồm giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân và các cơ quan độc lập thông qua tố tụng, và giám sát không mang tính quyền lực nhà nước, bao gồm giám sát của Mặt trận Tổ quốc cùng quyền giám sát của công dân đối với bộ máy nhà nước Nội dung và tính chất của hoạt động giám sát rất đa dạng, phản ánh sự tương tác giữa các chủ thể và đối tượng giám sát.
Công dân giám sát việc quản lý và sử dụng đất đai là hoạt động mà công dân có quyền thực hiện giám sát và phản ánh các sai phạm trong công tác quản lý nhà nước về đất đai, có thể thực hiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức đại diện Việc này không chỉ giúp nâng cao trách nhiệm của cơ quan quản lý mà còn bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân trong lĩnh vực đất đai.
Để đảm bảo hoạt động quản lý nhà nước về đất đai diễn ra hiệu quả, các cơ quan quản lý nhà nước cần tuân thủ nghiêm ngặt quy trình và quy định của pháp luật đất đai, bao gồm thời gian, đối tượng và thẩm quyền liên quan.
- Kịp thời phát hiện vi phạm và kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền giải quyết
Nhiệm vụ và quyền hạn trong việc bảo vệ quyền sở hữu đất đai của nhà nước là rất quan trọng, đồng thời xác định quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất trong quá trình sử dụng tài nguyên này Việc này đảm bảo sự công bằng và minh bạch trong quản lý đất đai, góp phần phát triển bền vững và bảo vệ quyền lợi của cả nhà nước và người dân.
- Góp phần tích cực quản lý đất đai hiệu quả, tiết kiệm và bền vững
- Trực tiếp thực hiện quyền giám sát thông qua việc phản ánh, gửi đơn kiến nghị đến các cơ quan, người có thẩm quyền giải quyết
- Gửi đơn kiến nghị đến các tổ chức đại diện được pháp luật công nhận để các tổ chức này thực hiện việc giám sát
1.3.4 Nội dung giám sát của công dân trong quản lý và sử dụng đất đai
- Việc lập, điều chỉnh, công bố, thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
- Việc giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất
- Việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ và tái định cư
Đăng ký đất đai và tài sản gắn liền với đất là quy trình quan trọng, bao gồm việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác liên quan.
- Việc thu, miễn, giảm tiền sử dụng đất, tiền thuê đất, thuế liên quan đến đất đai; định giá đất
- Việc thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất.