1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng quản lý đất nông nghiệp bền vững

75 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bài Giảng Quản Lý Đất Nông Nghiệp Bền Vững
Người hướng dẫn Giảng Viên: Lê Đình Huy
Trường học Trường Đại Học Nông Lâm
Chuyên ngành Quản Lý Đất
Thể loại bài giảng
Năm xuất bản 2020
Thành phố Thừa Thiên Huế
Định dạng
Số trang 75
Dung lượng 3,32 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng; phát triển sản xuất hàng hóa có chất lượng và hiệu quả; gắn sản xuất với thị trườ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM Khoa Tài nguyên Đất và MTNN

BÀI GIẢNG QUẢN LÝ ĐẤT NÔNG NGHIỆP

BỀN VỮNG

Giảng viên: Lê Đình Huy Đơn vị: Bộ môn Quản lý Đất đai, Khoa Tài nguyên Đất và MTNN

Thừa Thiên Huế, ngày 09 tháng 09 năm 2020

Trang 2

CHƯƠNG 1 KHÁI NIỆM VỀ PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG NÔNG NGHIỆP BỀN VỮNG VÀ SỬ DỰNG ĐẤT BỀN VỮNG

1.1 Phát triển bền vững

1.1.1 Khái niệm, nguồn gốc và ý nghĩa

Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên xuất hiện vào những năm

1960 khi các nhà hoạt động môi trường bắt đầu tranh luận về tác động của tăng trưởng kinh tế đối với môi trường Kể từ đó, khái niệm này luôn được đề cập trên các phương tiện truyền thông đại chúng và cả trong đời sống hàng ngày Thế

để hoạch định chiến lược phù hợp nhất với quốc gia đó

Hiện nay, vẫn còn nhiều tranh luận dưới những góc độ khác nhau về khái

niệm “Phát triển bền vững“ Theo quan điểm của Tổ chức Bảo tồn Thiên nhiên

Quốc tế (IUCN) đưa ra năm 1980 thì: “Phát triển bền vững phải cân nhắc đến hiện trạng khai thác các nguồn tài nguyên tái tạo và không tái tạo, đến các điều kiện thuận lợi cũng như khó khăn trong việc tổ chức các kế hoạch hành động ngắn hạn và dài hạn đan xen nhau” Định nghĩa này chú trọng đến việc sử dụng các nguồn tài nguyên chứ chưa đưa ra một bức tranh toàn diện về phát triển bền vững Một định nghĩa khác được các nhà khoa học trên thế giới đề cập một cách tổng quát hơn, trong đó chú trọng đến trách nhiệm của mỗi một cá nhân trong xã hội: “Phát triển bền vững là các hoạt động phát triển của con người nhằm phát triển và duy trì trách nhiệm của cộng đồng đối với lịch sử hình thành và hoàn thiện các sự sống trên Trái đất” Tuy nhiên, khái niệm do Uỷ ban Liên hợp quốc

Trang 3

về Môi trường và Phát triển (UNCED) đưa ra năm 1987 được sử dụng rộng rãi hơn cả Theo UNCED,

“Phát triển bền vững thoả mãn những nhu cầu của hiện tại nhưng không làm giảm khả năng thoả mãn nhu cầu của các thế hệ tương lai”

Như vậy, nếu một hoạt động có tính bền vững, xét về mặt lý thuyết nó có thể được thực hiện mãi mãi

Tại sao phải phát triển bền vững

Ngày nay, với sự phát triển của nền kinh tế Thế Giới, nhiều thách thức đặt

ra với loài người như: biến đổi khí hậu, khan hiếm nước, bất bình đẳng và đói nghèo, Tất cả chỉ có thể được giải quyết ở cấp độ toàn cầu và bằng cách thúc đẩy phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường Cụ thể:

*) Phát triển bền vững đảm bảo tính bền vững về kinh tế

Sự phát triển bền vững giúp nền kinh tế tăng trưởng, phát triển nhanh nhưng vẫn đảm bảo tính an toàn Tức là sự tăng trưởng và phát triển nền kinh tế lành mạnh, vẫn đáp ứng được những nhu cầu của cuộc sống, nâng cao đời sống người dân nhưng lại tránh được sự suy thoái hoặc đình trệ kinh tế trong tương lai đặc biệt là gánh nặng nợ nần để không biến nó thành di chứng cho các thế hệ mai sau

*) Phát triển bền vững đảm bảo tính bền vững về xã hội

Ngoài tính bền vững về kinh tế, phát triển bền vững còn đảm bảo tính bền vững về xã hội thể hiện ở sự công bằng xã hội và phát triển con người thông qua thước đo là chỉ số HDI Theo đó, tính bền vững được thể hiện ở việc đảm bảo về sức khỏe, dinh dưỡng, học vấn, xóa đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng xã hội

và tạo cơ hội để mọi thành viên trong xã hội đều được bình đẳng ngang nhau Từ

đó làm giảm nguy cơ xung đột xã hội hay chiến tranh

*) Phát triển bền vững nhằm đảm bảo tính bền vững về môi trường

Môi trường đang là một trong những vấn đề “nóng” hiện nay, là vấn đề được sự quan tâm đặc biệt của xã hội Các nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng bị suy giảm, cạn kiệt cả về số lượng lẫn chất lượng Tình trạng rừng bị tàn

Trang 4

phá, kể cả rừng đầu nguồn, rừng phòng hộ nhằm khai thác gỗ hoặc lấy đất canh tác…hệ quả là thiên tai và nhân tai không ngừng xảy ra

Chính vì vậy, phát triển bền vững nhằm mục đích khai thác và sử dụng hợp

lí các nguồn tài nguyên thiên nhiên, không ngừng bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường sống theo hướng tích cực Đảm bảo cho con người sống trong môi trường xanh - sạch - đẹp, đảm bảo mối quan hệ hài hòa thật sự giữa con người,

xã hội và tự nhiên nhằm thỏa mãn nhu cầu sống của thế hệ hiện tại, nhưng không cản trở các thế hệ tương lai có cơ hội thỏa mãn nhu cầu của họ về tài nguyên và môi trường

Mục tiêu phát triển bền vững là gì?

Các mục tiêu Phát triển bền vững, còn được gọi là Mục tiêu Toàn cầu, là lời kêu gọi của Liên Hợp Quốc tới tất cả các nước trên thế giới để giải quyết những thách thức lớn mà nhân loại phải đối mặt và đảm bảo rằng tất cả mọi người đều có cơ hội sống tốt hơn Phát triển bền vững được chia thành 17 mục tiêu liên quan đến các vấn đề phổ biến nhất

17 Mục tiêu phát triển bền vững

Có thể được tóm tắt như sau:

Trang 5

- Xóa đói giảm nghèo, bảo đảm một cuộc sống khỏe mạnh

- Phổ cập tiếp cận các dịch vụ cơ bản như nước, cải thiện điều kiện vệ sinh

1.1.2 Nguyên tắc của phát triển bền vững

Để xây dựng một xã hội phát triển bền vững, cần thực hiện theo 9 nguyên tắc cơ bản sau đây:

- Tôn trọng và quan tâm đến cuộc sống cộng đồng

- Nâng cao chất lượng cuộc sống của con người

- Bảo vệ sức sống và tính đa dạng sinh học của Trái Đất

- Bảo vệ các nguồn tài nguyên không tái tạo

- Tôn trọng khả năng chịu đựng được của Trái đất

- Thay đổi thói quen và tập quán cá nhân

- Để cho các cộng đồng tự quản lý môi trường của mình

- Tạo ra một khuôn mẫu quốc gia thống nhất, thuận lợi cho phát triển bền vững

- Xây dựng một khối liên minh toàn cầu để bảo vệ môi trường

Trang 6

1.1.3 Chiến lược phát triển bền vững ở Việt Nam

Ở Việt Nam, Nhà nước đã ban hành Chiến lược phát triển bền vững giai

đoạn 2011 – 2020 nhằm mục tiêu tăng trưởng bền vững, hiệu quả, đi đôi với tiến

bộ và công bằng xã hội, bảo vệ tài nguyên và môi trường, giữ vững ổn định chính

trị – xã hội, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh

thổ quốc gia

Phát triển bền vững ở Việt Nam

Chiến lược phát triển bền vững giai đoạn 2011 – 2020 được cụ thể hóa

bằng những mục tiêu cơ bản sau:

*) Về kinh tế

Cần duy trì tăng trưởng kinh tế bền vững, từng bước thực hiện tăng

trưởng xanh, phát triển năng lượng sạch, năng lượng tái tạo; thực hiện sản xuất

và tiêu dùng bền vững; bảo đảm an ninh lương thực, phát triển nông nghiệp, nông

thôn bền vững; phát triển bền vững các vùng và địa phương

Nâng cao chất lượng tăng trưởng, bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, đặc biệt

là các chính sách tài chính, tiền tệ Chuyển đổi mô hình tăng trưởng chủ yếu theo

chiều rộng sang kết hợp hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu trên cơ sở khai thác,

sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên và các thành tựu khoa học và công nghệ

tiên tiến để tăng năng suất lao động và nâng cao sức cạnh tranh của các sản phẩm

hàng hóa và dịch vụ

Trang 7

Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và nông thôn theo hướng công nghiệp hóa, phát huy thế mạnh của từng vùng; phát triển sản xuất hàng hóa có chất lượng

và hiệu quả; gắn sản xuất với thị trường trong nước và thị trường quốc tế nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên (đất đai, nước, rừng, lao động và nguồn vốn);

*) Về xã hội

Nhà nước tập trung đẩy mạnh công tác xóa đói giảm nghèo theo hướng bền vững; tạo việc làm bền vững Cụ thể, ưu tiên nguồn lực để giảm nghèo và nâng cao điều kiện sống cho đồng bào ở những vùng khó khăn nhất Hỗ trợ, tạo điều kiện cho người nghèo, hộ nghèo có nhà ở, có tư liệu và phương tiện để sản xuất; phát triển kinh tế thông qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu cây trồng, vật nuôi

có giá trị kinh tế cao; phát triển sản xuất hàng hóa; trợ giúp việc học chữ, học nghề

Ổn định quy mô, cải thiện và nâng cao chất lượng dân số; phát triển văn hoá hài hoà với phát triển kinh tế, xây dựng và phát triển gia đình Việt Nam; xây dựng nông thôn mới, phân bố hợp lý dân cư và lao động theo vùng; nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo để nâng cao dân trí và trình độ nghề nghiệp thích hợp với yêu cầu của sự phát triển đất nước, vùng và địa phương…

*) Về tài nguyên và môi trường

Nhà nước tăng cường các biện pháp nhằm chống thoái hoá, sử dụng hiệu quả và bền vững tài nguyên đất; bảo vệ môi trường nước và sử dụng bền vững tài nguyên nước; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm, bền vững tài nguyên khoáng sản; bảo vệ môi trường biển, ven biển, hải đảo và phát triển tài nguyên biển; bảo

vệ và phát triển rừng; giảm ô nhiễm không khí và tiếng ồn ở các đô thị lớn và khu công nghiệp…

1.2 Nông nghiệp bền vững

1.2.1 Các khái niệm và định nghĩa

Theo một định nghĩa sinh thái học về nông nghiệp bền vững của giáo sư

Stephen R Gliessman tại Đại Học California Santa Cruz thì có nghĩa là “một hệ thống có liên quan và tác động tới quá trình sản xuất lương thực thực phẩm, nuôi trồng làm cân bằng tính ổn định của môi trường, tính phù hợp xã hội, và tính khả

Trang 8

thi về kinh tế giữa các nhân tố, cả về chiều rộng lẫn chiều dài (tức là nhiều đối tượng cùng tham gia và nhiều thế hệ cùng tham gia)”

Nông nghiệp bền vững được hiểu là một phương thức sản xuất nông nghiệp

áp dụng (theo đuổi) những kỹ thuật và công nghệ thích hợp nhất nhằm đạt được (xây dựng được) một nền nông nghiệp bền vững lâu dài, bảo vệ môi trường và an toàn trong tiêu thụ sản phẩm Điều này chỉ có thể đạt được thông qua những chiến lược quản lý, thứ có thể giúp nhà sản xuất tuyển chọn được những chủng, giống lai; phương thức trồng trọt bảo vệ đất; chế độ hoặc chương trình bảo vệ

độ phì nhiêu của đất và quản lý dịch hại Mục tiêu của nông nghiệp bền vững là làm giảm thiểu những tác động tiêu cực đến môi trường đồng thời mang lại lợi nhuận và năng suất (ở mức độ) bền vững Sự bảo tồn tài nguyên có giá trị là một phần không thể thiếu của phương cách để đạt được nông nghiệp bền vững (Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ - Natural Resource Conservation Service (NRCS) General Manual)

Rộng hơn nữa, hệ sinh thái nông nghiệp phát triển bền vững là khi chúng

ta duy trì được nền tảng tài nguyên thiên nhiên trong đó, phụ thuộc rất ít vào những sản phẩm nhân tạo đưa từ bên ngoài hệ sinh thái vào, quản lý dịch bệnh và sâu hại thông qua những cơ chế điều tiết nội bộ, và hệ sinh thái đó cần được hồi phục sau những xáo trộn (thậm chí tổn thương) gây ra bởi quá trình canh tác và thu hoạch

Nói một cách đơn giản, nông nghiệp bền vững là một chuỗi sản xuất lương thực, thực phẩm, cây trồng, vật nuôi trong đó người sản xuất sử dụng những kỹ thuật nông nghiệp giúp bảo vệ môi trường, sức khỏe cộng đồng, đồng thời đối xử tốt với vật nuôi

Nông nghiệp bền vững mang đến điều gì?

Nông nghiệp bền vững giúp chúng ta có nguồn thực phẩm tốt cho sức khỏe

mà không làm ảnh hưởng xấu đến những thế hệ sau này

Điều cốt lõi làm nên một nền nông nghiệp bền vững là tìm được sự cân bằng giữa nhu cầu sản xuất lương thực thực phẩm và việc bảo tồn hệ sinh thái môi trường Đồng thời cũng thúc đẩy ổn định kinh tế cho nông dân, giúp người nông dân có chất lượng cuộc sống tốt hơn Bởi vì nông nghiệp luôn đóng vai trò

Trang 9

quan trọng trong nền kinh tế thế giới, khi mà có tới hơn 40% dân số thế giới làm việc trong ngành này (FAOStat 2011), việc đảm bảo phát triển bền vững và an ninh lương thực luôn là vấn đề cấp thiết đối với mọi quốc gia

Nông nghiệp bền vững và nông nghiệp thương mại

Nông nghiệp bền vững khác với nông nghiệp thương mại ở chỗ nông nghiệp thương mại sử dụng những kỹ thuật công nghiệp để áp dụng vào việc nuôi trồng và sản xuất (cả lương thực, rau màu lẫn gia súc)

Nông nghiệp thương mại dựa nhiều vào các chế phẩm hóa học bảo vệ cây trồng, phân bón tăng trưởng, thức ăn gia súc, và nhiều loại hóa chất khác Bởi vì,

để đạt được năng suất lớn trên diện tích canh tác rộng, sẽ rất khó nếu chỉ sử dụng các phương pháp thiên nhiên thông thường

Trong khoảng 4-5 thập kỷ qua, chúng ta tiêu thụ nhiều những thực phẩm được canh tác theo phương pháp này, đặc biệt là tại các nước Âu Mỹ khi khoa học kỹ thuật phát triển mạnh Cuộc cách mạng Xanh vào những thập niên 1940-

1960 bên cạnh hiệu ứng về chuyển đổi nông nghiệp trên khắp thế giới, đã tạo cho những người làm trong lĩnh vực này lấy việc sử dụng các chế phẩm hóa học áp dụng vào canh tác để đạt hiệu quả năng suất cao nhất bất chấp việc những tồn dư

về kim loại nặng hay hóa chất trong thực phẩm ảnh hưởng xấu tới sức khỏe người tiêu dùng và tồn dư trong đất canh tác dẫn tới hệ lụy đối với đất đai ra sao

1.2.2 Nội dung của sự phát triển nông nghiệp bền vững

* Ở cấp độ nông trại, nội dung của phát triển nông nghiệp bền vững gồm:

- Luân canh cây trồng nhằm giảm thiểu cỏ dại, côn trùng và bệnh hại, và các vấn đề dịch hại khác; cung ứng nhiều (lựa chọn) nguồn đạm cho đất; giảm xói mòn đất; và giảm thiểu nguy cơ tích tụ các chất hoá học nông nghiệp (độc hại) trong nước

- Chiến lược quản lý dịch hại không tổn hại đến các hệ thống tự nhiên, người nông dân, láng giềng của họ, hoặc người tiêu thụ Chiến lược được sử dụng

là các kỹ thuật (phương cách) quản lý dịch hại tổng hợp, có tác dụng giảm thiểu nhu cầu sử dụng thuốc BVTV thông qua các hoạt động giám sát, sử dụng các giống kháng, bố trí thời vụ trồng, và kiểm soát dịch hại bằng thiên địch

Trang 10

- Tăng cường kiểm soát cỏ dại theo phương pháp cơ học và sinh học; tăng cường hoạt động bảo tồn đất và nước; sử dụng có chiến lược (có kế hoạch) phân chuồng và phân xanh

- Sử dụng các nguyên liệu đầu vào (tự nhiên và nhân tạo) theo một cách thức hướng đến không gây ra những tổn hại đáng kể cho con người, động vật, hoặc môi trường

Cách tiếp cận này xuyên suốt toàn bộ nông trại, nó phụ thuộc vào sự thành thạo các kỹ năng của người nông dân, kiến thức liên ngành chuyên sâu của các nhà khoa học, và các chuyên gia Paul F O’Connell (1992), "Sustainable

Agriculture, a Valid Alternative," Outlook on Agriculture

* Khi tiếp cận mang tính hệ thống, nông nghiệp bền vững bao hàm:

- Một mẫu hình tổ chức kinh tế xã hội dựa trên cơ sở tầm nhìn phát triển

có tính công bằng và có sự tham gia, trong đó môi trường và tài nguyên thiên nhiên được công nhận là nền móng của các hoạt động kinh tế Nông nghiệp chỉ bền vững khi nó phù hợp về mặt sinh thái, khả thi về mặt kinh tế, công bằng về mặt xã hội, phù hợp văn hoá và dựa trên cách tiếp cận khoa học, toàn diện

- Bảo tồn đa dạng sinh học, duy trì độ phì nhiêu của đất và sự tinh khiết của nước, bảo tồn thuộc tính hoá học, vật lý, sinh học của đất, tái chế tài nguyên thiên nhiên và bảo tồn năng lượng Nông nghiệp bền vững sản xuất, cung ứng một nguồn thực phẩm, chất xơ và thuốc đa dạng chủng loại

- NNBV sử dụng những nguồn tài nguyên tái tạo hiện hữu tại địa phương, những công nghệ thích hợp và khả thi, và hạn chế việc nhập nguyên liệu đầu vào

từ nơi khác, do đó sẽ làm tăng tính độc lập và sự đủ đầy của địa phương đó, và đảm bảo nguồn thu nhập ổn định cho cư dân, hộ gia đình, nông hộ nhỏ và cộng đồng nông thôn Điều này thúc đẩy người dân định cư tại địa phương, cộng đồng địa phương được củng cố và hoà nhập con người với môi trường

- NNBV tôn trọng nguyên tắc sinh thái về sự đa dạng và sự phụ thuộc lẫn nhau, và ứng dụng thành tựu của khoa học hiện đại để cải thiện thay vì thay thế những hiểu biết/kiến thức truyền thống được hình thành và tích luỹ hàng thế kỷ

bởi vô số người nông dân trên khắp thế giới (NGO Sustainable Agriculture Treaty Global Forum at Rio de Janeiro, June 1-15, 1992)

Trang 11

1.2.3 Phương hướng cơ bản phát triển nông nghiệp bền vững

Thách thức trong sản xuất nông nghiệp Quỹ đạo tăng trưởng trong sản xuất nông nghiệp hiện nay không bền vững vì những tác động tiêu cực đến tài nguyên và môi trường Một phần ba diện tích đất canh tác bị thoái hóa, 75 phần trăm đa dạng di truyền cây trồng bị mất và 22 phần trăm giống vật nuôi đang gặp nguy hiểm Hơn một nửa trữ lượng cá bị khai thác hết và trong thập kỷ qua, khoảng 13 triệu ha rừng mỗi năm đã được chuyển sang mục đích sử dụng đất khác

Những thách thức bao trùm mà thế giới đang phải đối mặt là nguồn tài nguyên thiên nhiên ngày càng khan hiếm và suy thoái nhanh trong thời điểm nhu cầu về lương thực, thực phẩm, chất xơ và hàng hóa, dịch vụ từ nông nghiệp (bao gồm cây trồng, vật nuôi, lâm nghiệp, thủy sản và nuôi trồng) ngày càng tăng nhanh Ở những khu vực có tỷ lệ tăng dân số nhanh nhất, người dân ở đó thường sống phụ thuộc vào nông nghiệp, vấn đề mất an ninh lương thực đã và đang trở nên nghiêm trọng Các yếu tố bổ sung – tương hỗ với nhau - làm phức tạp thêm tình hình:

 Cạnh tranh tài nguyên thiên nhiên sẽ tiếp tục gia tăng Điều này có thể đến từ việc đô thị hoá, cạnh tranh giữa các lĩnh vực nông nghiệp khác nhau, phá rừng để mở rộng sản xuất nông nghiệp, sử dụng nước phục vụ sản xuất công nghiệp hoặc sử dụng đất cho mục đích khu vui chơi giải trí Ở nhiều nơi, điều này dẫn đến việc loại trừ người dùng truyền thống khỏi quyền truy cập vào tài nguyên

và thị trường;

 Mặc dù nông nghiệp là thành tố chính gây biến đổi khí hậu, nhưng bản thân nông nghiệp cũng là nạn nhân của những tác động của BĐKH Biến đổi khí hậu làm giảm khả năng phục hồi của các hệ thống sản xuất và góp phần làm suy thoái tài nguyên thiên nhiên Sự nóng lên của trái đất, chế độ mưa thay đổi

và các hiện tượng thời tiết cực đoan dự kiến sẽ trở nên khắc nghiệt hơn đáng kể trong tương lai;

 Sự di chuyển ngày càng tăng của người và hàng hóa, thay đổi môi trường và thay đổi trong thực hành sản xuất làm phát sinh các mối đe dọa mới từ dịch bệnh (như cúm gia cầm độc lực cao) hoặc các loài xâm lấn (như ruồi đục

Trang 12

hiệu quả và tính bền vững của hệ thống sản xuất Các mối đe dọa kể trên nếu gắn liền với sự thiếu sót về chính sách và năng lực kỹ thuật, có thể khiến toàn bộ chuỗi thực phẩm gặp rủi ro;

 Các chính sách và cơ chế về vấn đề sản xuất và bảo tồn tài nguyên

đa phần không nhất quán Không có sự quản lý tổng hợp rõ ràng dành cho hệ sinh thái và/hoặc cảnh quan

Các nguyên tắc phát triển nông nghiệp bền vững?

Những thách thức nêu trên làm nảy sinh năm nguyên tắc chính để định hướng cho sự phát triển chiến lược của các phương pháp tiếp cận mới và quá trình chuyển đổi sang bền vững:

Nguyên tắc 1: Nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực là yếu tố quyết định đối với nông nghiệp bền vững;

Nguyên tắc 2: Tính bền vững đòi hỏi phải có hành động trực tiếp để bảo tồn, bảo vệ và nâng cao tài nguyên thiên nhiên;

Nguyên tắc 3: Nông nghiệp không bảo vệ và cải thiện sinh kế và phúc lợi

xã hội nông thôn thì không bền vững;

Nguyên tắc 4: Nông nghiệp bền vững phải nâng cao khả năng chống chịu (thích ứng) của người dân, cộng đồng và hệ sinh thái, đặc biệt là trước biến đổi khí hậu và biến động của thị trường;

Nguyên tắc 5: Quản trị tốt là điều cần thiết cho sự bền vững của cả hệ thống

tự nhiên và con người

Phương hướng phát triển nông nghiệp bền vững Để đối phó với tốc độ

thay đổi nhanh chóng và sự gia tăng tính không chắc chắn, tính bền vững phải được coi là một quá trình chứ không phải chỉ là một điểm cuối để đạt được Đổi lại, điều này đòi hỏi sự phát triển của kỹ thuật, chính sách, quản trị và tài chính

hỗ trợ người sản xuất nông nghiệp và các nhà quản lý tài nguyên tham gia vào một quá trình đổi mới năng động Đặc biệt:

 Cần có các chính sách và thể chế để tạo động lực cho việc áp dụng các thực hành bền vững, áp đặt các quy định và chi phí cho các hành động làm

Trang 13

cạn kiệt hoặc suy thoái tài nguyên thiên nhiên, và để tạo điều kiện tiếp cận với kiến thức và nguồn lực cần thiết;

 Thực hành nông nghiệp bền vững phải đồng thời vận dụng đầy đủ công nghệ, kết quả nghiên cứu và phát triển, vừa tích hợp kiến thức địa phương nhiều hơn so với trước đây Điều này sẽ đòi hỏi quan hệ đối tác mới và bền chặt hơn giữa các tổ chức định hướng đầu tư và kỹ thuật;

 Quy hoạch và quản lý ngành nông nghiệp dựa trên thực tế phát triển đòi hỏi phải có số liệu thống kê, thông tin không gian địa lý và bản đồ, thông tin

và kiến thức định tính Phân tích cần tập trung vào cả hệ thống sản xuất và các nguồn lực tự nhiên và kinh tế xã hội cơ bản;

 Những thách thức liên quan đến trữ lượng và tỷ lệ sử dụng tài nguyên thiên nhiên thường vượt qua ranh giới quốc gia Các cơ chế và quy trình quản trị quốc tế phải hỗ trợ tăng trưởng bền vững (và chia sẻ lợi ích công bằng) trong tất

cả các ngành nông nghiệp, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và không gây thiệt hại cho tài sản thế chấp (FAO, Sustainable Agriculture)

1.2.4 Phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam

Trước những áp lực mới trong bối cảnh biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và hội nhập quốc tế, mục tiêu đặt ra là PTNN, nông thôn toàn diện, theo hướng bền vững Nhận thức rõ điều này, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân”4

Như vậy, PTNN theo hướng bền vững theo tinh thần Đại hội XII của Đảng chính là quá trình nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sử dụng hợp lý các nguồn tài

Trang 14

nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái

Mục đích PTNN theo hướng bền vững được Đại hội XII xác định chính là kiến tạo một nền sản xuất nông nghiệp bền vững cả về mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn với bảo vệ môi trường; có tốc độ tăng trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao một cách vững chắc;

có mô hình sản xuất – kinh doanh bền vững, đáp ứng ổn định lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, xuất khẩu cả trước mắt

và lâu dài

Theo đó, đối tượng của PTNN theo hướng bền vững là toàn bộ cấu trúc của ngành Nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp) Nội dung PTNN theo hướng bền vững mà Đại hội XII đưa ra bao gồm các vấn đề cơ bản như:

Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững Đây

là quá trình chuyển dịch hợp lý, phù hợp với điều kiện của vùng, phát huy được lợi thế so sánh, bảo đảm nền nông nghiệp tăng trưởng nhanh và ổn định trong thời gian dài Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch bền vững không làm ảnh hưởng tới các yếu tố môi trường và xã hội, giúp đạt được hiệu quả nâng cao đời sống nhân dân nói chung

Hai là, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp

theo hướng bền vững Đây là quá trình bảo đảm tăng trưởng ổn định lâu dài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị và chất lượng sản phẩm, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia

Ba là, tăng trưởng nông nghiệp toàn diện gắn với bảo đảm công bằng xã

hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân Mục tiêu PTNN theo hướng bền vững là làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn Vì vậy, quá trình phát triển cần gắn liền với các yếu tố xã hội như: giải quyết việc làm, sử dụng lao động hợp lý, có chính sách gia tăng sản lượng và giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn Giảm khoảng cách giàu nghèo, ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân

Trang 15

Bốn là, tăng trưởng nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường bền vững; giảm

thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất nông nghiệp gây ra Có kế hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, duy trì độ màu mỡ của đất, giảm thiểu ô nhiễm không khí và nguồn nước…

Để thực hiện tốt những nội dung trên, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII cũng chỉ rõ định hướng: “Cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gắn với phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới”5; đồng thời, “xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu”6

Toàn ngành Nông nghiệp cần tập trung thực hiện mạnh mẽ việc cơ cấu lại,

tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị với quy mô lớn hơn và phù hợp hơn với lợi thế, nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, kết nối chặt chẽ với mạng lưới tiêu thụ toàn cầu; coi trọng ứng dụng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ cao, khuyến khích sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi hơn nữa cho phát triển doanh nghiệp, kinh

tế hợp tác…

Như vậy, cải cách chuyển đổi nền nông nghiệp, làm cho nông nghiệp trở nên hiệu quả và bền vững chính là chìa khóa để nâng cao tăng trưởng GDP cho Việt Nam, giúp Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao Sự chuyển đổi nông nghiệp theo hướng này đòi hỏi đổi mới chính sách như thúc đẩy sản xuất – chế biến – phân phối sản phẩm nông nghiệp trên nền tảng áp dụng công nghệ, thúc đẩy cạnh tranh trong chuỗi cung ứng nông nghiệp để giúp người nông dân đạt thu nhập cao hơn… Theo đó, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp lớn sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách pháp luật đồng bộ để tạo

môi trường, tạo động lực cho PTNN và nông thôn Trong đó, tạo điều kiện thuận lợi để người nông dân, doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn lực một cách bình đẳng, minh bạch, như đất đai, tài nguyên, nguồn vốn, khoa học – công nghệ… Đây là giải pháp rất quan trọng nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng trong nông nghiệp

Trang 16

Đẩy mạnh tái cơ cấu nền nông nghiệp, tập trung vào tái cơ cấu đầu tư công

và dịch vụ công trong nông nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho hình thành có hiệu quả và bền vững chuỗi giá trị nông sản dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương; nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ sản xuất và chế biến nông sản

Sử dụng tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, bao gồm: tăng chất lượng cây trồng, vật nuôi; chất lượng cây trồng, vật nuôi ổn định; tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm; tăng thu nhập ròng từ sản xuất nông nghiệp Tập trung phát triển sản phẩm có khả năng cạnh tranh và thị trường tiêu thụ; đa dạng hóa thị trường, cả thị trường trong nước và xuất khẩu

Thứ hai, tổ chức lại sản xuất, cơ chế hóa và hiện đại hóa nền sản xuất lớn,

đưa kỹ thuật số, tự động hóa, công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, gắn kết sản xuất và tiêu thụ giữa người sản xuất với người tiêu dùng Tập trung tháo

gỡ những điểm nghẽn, tạo động lực sản xuất cho các vùng chuyên canh lớn

Mở rộng và đẩy mạnh liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học Trong đó lấy doanh nghiệp hợp tác xã, chủ trang trại là trung tâm, là động lực cho quá trình phát triển, là người tổ chức sản xuất, là người cung cấp dịch vụ đầu vào và tiêu thụ sản phẩm trong một chuỗi giá trị; người nông dân đóng vai trò là người sản xuất và được hưởng lợi ích phân phối từ lao động của mình cũng như từ việc góp vốn của mình Có chính sách điều tiết, hỗ trợ những người nông dân còn khó khăn về đời sống

Thứ ba, rà soát, điều chỉnh lại chiến lược quy hoạch, kế hoạch ngành, các

lĩnh vực, các sản phẩm nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của quốc gia, của vùng, của địa phương Thực hiện quy hoạch nông nghiệp theo hướng dựa vào thị trường

mở, quy hoạch PTNN cả trong mục tiêu trung hạn và dài hạn (50 hoặc 100 năm)

để có chiến lược bảo tồn và sử dụng đất nông nghiệp trước khi thực hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp và đô thị

Đối với loại đất nông nghiệp, cần tạo điều kiện cho người sử dụng đất quyết định phương thức sử dụng từng loại đất phù hợp theo tín hiệu thị trường hơn là

cố định phương thức sử dụng cho từng loại đất Gắn quy hoạch với nhu cầu và diễn biến của thị trường, coi trọng thị trường trong nước nhưng phải lấy thị trường

Trang 17

khu vực và quốc tế làm mục tiêu để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, gắn quy hoạch với thích ứng biến đối khí hậu…

Thứ tư, kế hoạch hóa đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, phân

định rõ các nguồn vốn cho đầu tư hạ tầng Nguồn vốn của Nhà nước sử dụng đầu

tư hạ tầng chính, nguồn vốn của doanh nghiệp đầu tư cho hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phục vụ cho nông nghiệp, chế biến, các khu công nghệ cao Vốn của người dân tham gia vào quá trình sản xuất

Tổ chức lại sản xuất, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp theo hướng hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị Giảm bớt các khâu trung gian để hạ giá thành sản phẩm, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, đặc biệt là các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ hữu cơ… Xây dựng nền nông nghiệp có hệ thống các cơ sở sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật thân thiện với môi trường

Thứ năm, tăng cường xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam

Chương trình Thương hiệu quốc gia ngoài việc lựa chọn các thương hiệu dẫn đầu như hiện nay, cần lựa chọn, khai thác sản phẩm độc đáo, có chỉ dẫn địa lý ở các địa phương, tích hợp các giá trị, tri thức bản địa và thương mại hóa Mỗi ngành hàng nông sản cần đề ra một chiến lược phát triển thương hiệu của mình…

Dựa vào mô hình giá trị thương hiệu được đề xuất, các đơn vị/cá nhân một mặt đặt tên thương hiệu phù hợp cho sản phẩm, mặt khác đẩy mạnh quảng bá thương hiệu để tăng sự liên tưởng tích cực và tăng chất lượng cảm nhận về thương hiệu Xác định rõ nhóm khách hàng mục tiêu, khảo sát nhu cầu thật sự của nhóm này đối với nông sản, từ đó định vị thương hiệu dựa vào khách hàng và xây dựng thông điệp truyền thông phù hợp để nâng cao hiệu quả xây dựng thương hiệu

Tổ chức tốt thị trường, hệ thống và các kênh phân phối nông sản Việc tổ chức tốt lưu thông hàng hóa cần tập trung tạo ra những tiền đề bên trong cho sản xuất và phân công lao động trong nông nghiệp theo hướng mở rộng các ngành nghề chế biến dịch vụ bên cạnh sản xuất nông nghiệp, đồng thời tạo ra các tiền

đề bên ngoài (nhất là mở rộng thị trường xuất khẩu) để đưa sản xuất hàng hoá ở nông thôn lên quy mô lớn, tiếp cận với thị trường thế giới

Trang 18

Thứ sáu, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn Đầu tư vào

kinh tế nông nghiệp, nông thôn thường có nhiều rủi ro nên thiếu sự hấp dẫn và khó thu hút đầu tư FDI Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách kết hợp với các doanh nghiệp cung cấp quy trình sản xuất ổn định, đào tạo nâng cao trình độ, kỹ thuật tay nghề cho nông dân

Doanh nghiệp cần dẫn đầu giúp nông dân cập nhật khoa học kỹ thuật, nhất

là tìm ra giống cây, con mới năng suất cao để dần khẳng định thị trường đầu ra của sản phẩm nông nghiệp Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lực ngành nông nghiệp nói chung, đặc biệt là đào tạo, trang bị kiến thức cho người dân để người dân có đủ kiến thức, thông tin, nắm bắt được thị trường và tạo ra những sản phẩm

có năng suất, chất lượng, hiệu quả và tiêu thụ được

1.3 Sử dụng đất bền vững

1.3.1.Khái niệm

Liên hợp quốc định nghĩa quản lý sử dụng đất đai bền vững (SLM) là “việc

sử dụng tài nguyên đất, bao gồm đất, nước, động vật và thực vật, để sản xuất hàng hóa đáp ứng nhu cầu đang thay đổi của con người, đồng thời đảm bảo tiềm năng sản xuất lâu dài của những tài nguyên này và duy trì các chức năng môi trường của chúng ”

TerrAfrica (2011) định nghĩa SLM là “việc áp dụng các hệ thống sử dụng đất thông qua các hoạt động quản lý phù hợp cho phép người sử dụng đất tối đa hóa lợi ích kinh tế và xã hội từ đất đai trong khi duy trì hoặc nâng cao các chức năng hỗ trợ sinh thái của tài nguyên đất”

Năng suất và tính bền vững của hệ thống sử dụng đất được xác định bởi sự tương tác giữa tài nguyên đất, khí hậu và các hoạt động của con người Đặc biệt trong bối cảnh khí hậu biến đổi và đa dạng, việc lựa chọn mục đích sử dụng đất phù hợp với điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội nhất định và thực hiện quản lý

sử dụng đất bền vững, là điều cần thiết để giảm thiểu thoái hóa đất, phục hồi đất bạc màu, đảm bảo sử dụng bền vững tài nguyên đất (ví dụ: đất, nước và đa dạng sinh học) và tối đa hóa khả năng phục hồi

Quản lý và sử dụng đất bền vững (các hoạt động của con người) quyết định tính bền vững / khả năng phục hồi hoặc suy thoái / dễ bị tổn thương của tài nguyên

Trang 19

đất

1.3.2.Nhiệm vụ và nội dung của sử dụng đất bền vững

Quản lý/Sử dụng đất đai bền vững mang lại điều gì?

Quản lý đất đai bền vững bao gồm quản lý tài nguyên đất, nước, thảm thực vật và động vật Quản lý đất đai bền vững cũng bao gồm các khía cạnh sinh thái, kinh tế và văn hóa xã hội (Hurni, 1997) Ba yếu tố này không tách rời nhau, trên thực tế chúng được kết nối với nhau Chúng cũng được coi là “3 chữ E” của phát triển bền vững - Bình đẳng, Kinh tế và Sinh thái (UNESCO, 2006)

Về mặt sinh thái, công nghệ trong quản lý đất đai bền vững ngăn ngừa sự

suy thoái đất một cách hiệu quả Nhưng phần lớn đất nông nghiệp vẫn chưa được bảo vệ đầy đủ và quản lý đất đai bền vững cần phải lan rộng hơn nữa

Về mặt xã hội, quản lý đất đai bền vững giúp đảm bảo sinh kế bền vững

bằng cách duy trì hoặc tăng năng suất đất đai, do đó cải thiện an ninh lương thực

và xoá đói - giảm nghèo, cả ở cấp hộ gia đình và quốc gia

Trang 20

Về mặt kinh tế, quản lý đất đai bền vững hoàn trả các khoản đầu tư của

người sử dụng đất, cộng đồng hoặc chính phủ Sản xuất nông nghiệp được bảo

vệ và nâng cao để phục vụ nhu cầu sinh sống của tiểu nông và chủ trang trại, cũng như những người chăn nuôi Hơn nữa, những lợi ích ngoại vi đáng kể từ quản lý đất đai bền vững có thể được xem là một biện chứng kinh tế

Chiến lược quản lý/sử dụng đất đai một cách bền vững Quản lý/sử dụng

đất chỉ đạt được trạng thái bền vững khi các hoạt động có thể:

Tăng sức sản xuất của đất đai

Để tăng sức sản xuất của đất đai, việc sử dụng nước một cách hiệu quả cần được cải thiện Vấn đề này có thể đạt được bằng cách giảm lượng lớn nước bị thất thoát do dòng chảy mặt và bốc hơi nước từ đất không được che phủ, thu giữ nước, cải thiện sự thẩm thấu, tiết kiệm nước tối đa, nâng cấp hệ thống tưới tiêu

và quản lý nước dư Ưu tiên hàng đầu là nâng cao hiệu quả sử dụng nước trong nông nghiệp sử dụng nước mưa; đây là tiềm năng lớn nhất để cải thiện năng suất với tất cả các lợi ích liên quan Đối với nông nghiệp có tưới, vận chuyển và hiệu quả phân phối là các chiến lược chính để tiết kiệm nước

Cải thiện và nâng cao độ phì nhiêu của đất là điều kiện tiên quyết để nâng cao sức sản xuất của đất Các hoạt động cần thiết bao gồm cải thiện độ che phủ, luân canh cây trồng, cho đất nghĩ ngơi và xen canh, sử dụng phân chuồng, phân xanh và các loại phân hữu cơ khác, bổ sung thích hợp phân bón vô cơ và áp dụng

mô hình canh tác thích hợp

Bên cạnh đó, rất cần quan tâm đến vấn đề quản lý dịch hại, bố trí thời vụ

và chọn loại hình sử dụng đất phù hợp với điều kiện vi khí hậu của vùng sản xuất

Cải thiện sinh kế

Bất chấp những khó khăn và vướng mắc mà người sử dụng đất gặp phải,

họ sẵn sàng áp dụng các phương pháp quản lý đất đai bền vững nếu phương pháp này cung cấp lợi nhuận ròng cao hơn, rủi ro thấp hơn hoặc kết hợp cả hai Hiệu quả chi phí, bao gồm cả lợi ích ngắn hạn và dài hạn, là vấn đề chính để áp dụng quản lý đất đai bền vững Thực tế, người sử dụng đất mong muốn áp dụng các hoạt động mang lại khả năng hoàn vốn nhanh chóng và bền vững

Thân thiện với môi trường

Trang 21

Để quản lý, sử dụng đất đai thực sự bền vững, các hoạt động phải thân thiện với môi trường, giảm suy thoái đất đai, cải thiện đa dạng sinh học và tăng khả năng chống chịu với biến đổi khí hậu

Những nỗ lực chính cần phải giải quyết các vấn đề về khan hiếm nước, suy giảm độ phì nhiêu của đất, hàm lượng chất hữu cơ và giảm đa dạng sinh học Để đạt được mục đích thân thiện với môi trường, nên ưu tiên áp dụng các biện pháp nông học và cây trồng - đầu vào thấp, và chỉ xem xét việc áp dụng các biện pháp công trình khi thật sự cần thiết Sự kết hợp của các biện pháp quản lý tổng hợp

hệ thống đất - nước, cây trồng - vật nuôi, độ phì nhiêu - dịch hại hứa hẹn đem lại kết quả tốt nhất

Trọng tâm của quản lý dử dụng đất đai thân thiện với môi trường chính là bảo tồn đa dạng sinh học Sự đa dạng nguồn gen thực vật và động vật thực sự đem lại cuộc sống tốt cho con người, bên cạnh việc mang lại nguồn lương thực – thực phẩm chất lượng, sự đa dạng sinh học còn cung cấp nguồn sợi, gỗ và dược liệu cho con người

Điều quan trọng mà các phương pháp quản lý sử dụng đất bền vững mang lại là giúp thích ứng và giảm thiểu biến đổi khí hậu (BĐKH) Thích ứng với BĐKH có thể đạt được bằng cách áp dụng thành công các công nghệ chống chịu với BĐKH và thông qua các cách tiếp cận giúp tăng cường tính linh hoạt và khả năng đáp ứng với sự thay đổi Một số phương pháp thực hành làm tăng lượng mưa xâm nhập vào đất (ví dụ như phủ lớp phủ, cải thiện lớp phủ thực vật), cải thiện khả năng lưu trữ nước (ví dụ: tăng hàm lượng chất hữu cơ trong đất) - đồng thời giúp bảo vệ đất khỏi nhiệt độ khắc nghiệt và lượng mưa dữ dội Nếu các nguyên tắc quản lý sử dụng đất bền vững về cải thiện nguồn nước, độ phì nhiêu của đất và quản lý cây trồng và vi khí hậu được xem xét, đất đai sẽ được bảo vệ tốt hơn trước thiên tai và tăng khả năng chống chịu với sự biến đổi và thay đổi của khí hậu Đa dạng hóa sản xuất là một cách bổ sung để tăng khả năng phục hồi Người sử dụng đất cũng có thể đóng góp vào các nỗ lực toàn cầu trong giảm thiểu biến đổi khí hậu khi áp dụng quản lý sử dụng đất bền vững để cô lập cacbon khí quyển vào trong đất và trong thảm thực vật lâu năm Những công nghệ này bao gồm trồng rừng, nông lâm kết hợp, làm đất tối thiểu, cải thiện quản lý đất

Trang 22

chăn thả Khí thải nhà kính cũng có thể được giảm thiểu thông qua việc hạn chế phá rừng, quản lý vật nuôi và thực hành nông nghiệp tốt hơn

1.3.3.Các nhân tố ảnh hưởng

Động lực và mong muốn của người sử dụng đất - nghĩa là cam kết của

họ - đầu tư vào quản lý sử dụng đất đai bền vững phụ thuộc vào nhiều yếu tố bắt nguồn từ môi trường kinh tế, chính trị xã hội và sinh thái nơi họ sống và làm việc

Kiến thức của người sử dụng đất và nhận thức của cá nhân về tình trạng

tài nguyên đất, cũng như hiểu biết của họ về các quá trình cơ bản liên quan đến việc thay đổi các đặc điểm của tài nguyên đất là chìa khóa cho bất kỳ nỗ lực nào hướng tới quản lý đất bền vững Nói chung, đối với hầu hết người sử dụng đất,

sự suy thoái đất có thể không phải là mối quan tâm trừ khi nó ảnh hưởng xấu đến năng suất của họ (Stocking và Murnaghan 2001; Hurni và cs, 2010)

Năng khiếu - hoặc kỹ năng và khả năng học tập - Liên quan mật thiết đến

các khía cạnh dựa trên kiến thức của quản lý đất bền vững, năng khiếu - hoặc kỹ năng và khả năng học tập liên quan đến cải tiến kỹ thuật - cũng đóng một vai trò quan trọng Đào tạo và khuyến nông là những phương tiện hiệu quả để chuyển kiến thức thành các cách tiếp cận cụ thể nhằm điều chỉnh các biện pháp kỹ thuật phù hợp với bối cảnh thay đổi và cho phép mọi người thực hiện chúng một cách phù hợp

Tiềm lực và các ý định kinh tế của người sử dụng đất có ý nghĩa quyết

định khi đưa ra các thực hành quản lý đất bền vững Các phương tiện sau đây có liên quan thuận với việc áp dụng thực hành quản lý đất bền vững của những người

sử dụng đất: dự đoán sinh kế được đảm bảo, các cơ hội thu nhập thay thế, tăng năng suất lao động, khuyến khích tài chính, trợ cấp (bao gồm bồi thường cho các lợi ích bên ngoài của các biện pháp quản lý đất bền vững), khả năng tiếp cận tín dụng lãi suất thấp và khả năng lao động

Chính sách - chìa khóa cuối cùng để áp dụng quản lý đất đai bền vững là

tính hợp pháp của nó thông qua một môi trường chính trị xã hội thuận lợi Một mặt, môi trường thuận lợi bao gồm các vấn đề chính sách như các quy định của pháp luật và quản lý, quyền sử dụng đất, tiếp cận đất đai, cơ chế bồi thường và

cơ chế hòa giải xung đột tài nguyên Mặt khác, nó bao gồm khả năng chấp nhận

Trang 23

văn hóa và xã hội của các thực tiễn quản lý đất đai cụ thể, bên cạnh các khía cạnh

về sự tham gia của người dân, quyền lực, địa vị xã hội và việc ra quyết định

km2, và gần một phần tư diện tích đất sản xuất trên thế giới bị suy thoái (Sáng kiến ELD, 2014)

Quan trọng hơn, suy thoái đất hiện diện ở mọi khu vực trên thế giới, và theo "Bản tóm tắt dành cho các nhà hoạch định chính sách về đánh giá chuyên đề

về suy thoái và phục hồi đất" của IPBES 2018, nó ảnh hưởng đến đời sống của khoảng 3,2 tỷ người, dẫn đến mất an ninh lương thực và tài nguyên nước, và nghèo đói Suy thoái đất cũng dẫn đến gia tăng tính dễ bị tổn thương với biến đổi khí hậu của các khu vực bị ảnh hưởng và giữa các cộng đồng bị ảnh hưởng Hơn nữa, sự cạnh tranh về đất đai và tài nguyên nước vốn đã căng thẳng lại càng nghiêm trọng hơn do dân số thế giới ngày càng gia tăng Con người ngày càng giàu có, đô thị hoá càng mạnh mẽ, dẫn đến nhu cầu về thực phẩm tăng lên, đặc biệt là các sản phẩm từ động vật thứ thường để lại dấu chân sinh thái cao

Hậu quả của sự suy thoái đất đai là rất lớn, nó gây ra sự mất đa dạng sinh học và các chức năng của hệ sinh thái trên diện rộng Thiệt hại kinh tế toàn cầu hàng năm do mất rừng và suy thoái đất được ước tính vào khoảng 1,5 - 3,4 nghìn

tỷ euro vào năm 2008 (Sáng kiến ELD, 2014) Cần phải ngăn chặn sự suy thoái đang diễn ra tại các diện tích đất màu mỡ, để đất đai có thể tiếp tục cung cấp đầy

đủ các chức năng sinh thái đáp ứng với sự tăng trưởng của dân số thế giới

Trang 24

Quản lý sử dụng đất bền vững là giải pháp, là xu thế phát triển?

Duy trì các chức năng và ích lợi của hệ sinh thái, đồng thời hỗ trợ cuộc sống của con người, là những mục tiêu chính của quản lý sử dụng đất bền vững (SLM) SLM có tiềm năng lớn và khả năng thích ứng với bối cảnh địa phương, đồng thời có thể bảo tồn và nâng cao các chức năng và ích lợi của hệ sinh thái trong tất cả các hệ thống sử dụng đất

Suy thoái tài nguyên nước, đất và thảm thực vật, cũng như phát thải khí nhà kính (GHG) góp phần gây ra biến đổi khí hậu, đều có thể được giải quyết bằng các hoạt động SLM Bên cạnh đó, SLM đồng thời bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, giảm phát thải và lưu trữ carbon, cùng các lợi ích khác SLM bảo vệ và nâng cao nhiều ích lợi và chức năng được cung cấp bởi đất đai, được chia thành bốn loại riêng biệt:

* Chức năng cung cấp: cung cấp thực phẩm, thức ăn gia súc, chất xơ, nhiên

Trang 25

liệu và nước ngọt SLM giúp:

- Tăng cường an ninh lương thực, đặc biệt là cho nông dân sản xuất nhỏ

- Cung cấp năng lượng

- Cung cấp nước ngọt và sạch cho địa phương

- Hỗ trợ sinh kế

* Chức năng điều tiết: điều hòa khí hậu, chất lượng và số lượng nước, thụ

phấn và kiểm soát dịch bệnh SLM giúp:

- Cải thiện tính sẵn có và chất lượng nước

- Lưu trữ và cô lập carbon

- Giảm thiểu thiệt hại gây nên bởi các hiện tượng thời tiết khắc nghiệt hoặc thiên tai

- Kiểm soát sâu bệnh

* Chức năng hỗ trợ:

- Giảm thiểu suy thoái đất đai và tăng cường chất lượng, cấu trúc và chức năng của đất

- Kích hoạt vòng tuần hoàn dinh dưỡng và vòng tuần hoàn nước

- Nâng cao sức sản xuất của đất đai và thúc đẩy tuần hoàn dinh dưỡng

- Cung cấp môi trường sống cho các loài sinh vật, làm tăng sự đa dạng sinh học

* Chức năng văn hóa: lợi ích mang lại cho văn hóa và xã hội SLM giúp:

- Giữ cho văn hóa và cảnh quan thiên nhiên sống động và bảo vệ di sản văn hóa

- Bảo tồn kiến thức và phương pháp sản xuất bản địa

- Nâng cao trải nghiệm thẩm mỹ và cung cấp không gian để giải trí

Các nghiên cứu dự đoán sự suy thoái đất đai trong tương lai sẽ gây thất thoát một lượng chi phí khổng lồ và nhấn mạnh sự cần thiết phải đầu tư vào các biện pháp có thể tránh/giảm sự mất sức sản xuất của đất đai hoặc để khôi phục

Trang 26

IPBES, 2018), sẽ mang lại một hiệu quả kinh tế rất lớn và có thể tạo ra những lợi ích tích cực lâu dài (IPBES, 2018)

Ví dụ, giảm suy thoái đất thông qua các thực hành SLM chỉ tốn 20 USD /

ha (UNEP và cộng sự), và theo Sáng kiến ELD (2015), nếu SLM được áp dụng,

tỷ suất lợi nhuận kinh tế sẽ rất cao, với tỷ suất lợi nhuận tiềm năng khoảng 12 đến

40 phần trăm cho các dự án SLM ở Châu Phi, chẳng hạn như các hoạt động bảo tồn đất và nước, quản lý rừng hoặc cung cấp hệ thống tưới tiêu quy mô nhỏ

Khi SLM được coi là một khía cạnh không thể thiếu trong quy hoạch và chính sách sử dụng đất, SLM có thể mang lại nhiều lợi ích liên quan đến các mục tiêu phát triển quốc gia Sáng kiến ELD (2015) ước tính rằng việc áp dụng các thực hành và chính sách SLM có thể mang lại 1,4 nghìn tỷ USD từ sự tăng trưởng sản lượng cây trồng trên toàn thế giới Tăng cường áp dụng các thực hành SLM vào sản xuất cây trồng sẽ hỗ trợ các nhà hoạch định chính sách trong nỗ lực giảm

tỷ lệ nghèo của các quốc gia, cũng như cải thiện sức khỏe và phúc lợi của cộng đồng, đồng thời đảm bảo các thực hành quản lý đất đai có trách nhiệm với hệ sinh thái Ở cấp độ quốc tế, SLM là một cách tiếp cận quan trọng nhằm hỗ trợ đồng

thời việc đạt được cân bằng suy thoái đất (LDN), các mục tiêu của phát triển bền vững (SDG) và Công ước Rio

1.3.5 Nguyên tắc và quan điểm sử dụng đất nông nghiệp bền vững

Quản lý đất nông nghiệp bền vững (SALM) là một nhóm giải pháp

(phương pháp) giúp người nông dân thích ứng được với các tác động của biến đổi khí hậu và tăng cường khả năng chống chịu với môi trường ở các vùng khí hậu hoặc sinh thái nông nghiệp khác nhau

Thực hành SALM bao gồm 9 nhóm giải pháp:

- Quản lý chất dinh dưỡng

- Bảo tồn đất và nước

- Thực hành nông học

- Nông lâm kết hợp

- Quản lý việc làm đất và phụ phẩm nông nghiệp

- Phục hồi và cải tạo đất

Trang 27

- Quản lý vật nuôi tổng hợp

- Năng lượng bền vững

- Quản lý dịch hại tổng hợp

Tại sao thực hành SALM lại quan trọng?

Các hoạt động SALM là cần thiết cho:

- Đảm bảo năng suất nông nghiệp trong ngắn hạn và dài hạn Bảo tồn và nâng cao sức sản xuất của đất trồng trọt, đất rừng và đất chăn thả, bao gồm đất nương rẫy, đất dốc, đất bằng và đất bãi bồi

- Duy trì diện tích và trữ lượng của rừng sản xuất và rừng phòng hộ

- Duy trì tính toàn vẹn của các khu bảo tồn nước và các lưu vực để phục

vụ chức năng cung cấp nước và năng lượng từ thuỷ điện Duy trì khả năng của các tầng chứa nước để phục vụ các nhu cầu của sản xuất nông nghiệp và các hoạt động sản xuất liên quan khác

- Tiềm năng phục hồi suy thoái đất

Quản lý sử dụng đất nông nghiệp bền vững đòi hỏi việc thực hiện bốn nguyên tắc chung:

• Phương pháp tiếp cận phải dựa vào người sử dụng đất và có sự tham gia của người dân (PP tiếp cận bottom-up);

• Sử dụng tổng hợp các nguồn tài nguyên thiên nhiên trong hệ sinh thái và các cấp độ hệ thống canh tác;

• Có sự tham gia của tất cả các bên liên quan và các cấp độ quản lý;

• Các chính sách có mục tiêu và thể chế hỗ trợ, bao gồm phát triển các cơ chế khuyến khích thực hành SALM và tạo thu nhập cho người sử dụng đất ngay tại cấp độ địa phương

Các nguyên tắc này yêu cầu sự cộng tác và mối quan hệ đối tác giữa người

sử dụng đất, chuyên gia kỹ thuật và nhà hoạch định chính sách - để đảm bảo rằng các nguyên nhân của thoái hoá đất đai và các biện pháp khắc phục được xác định

rõ ràng, các chính sách và môi trường pháp lý đẩy mạnh việc áp dụng các biện pháp quản lý phù hợp nhất

Trang 28

1.3.6 Sử dụng đất nông nghiệp bền vững, hiệu quả là chiến lược phát triển bền vững và chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia

Thực hành nông nghiệp hiện tại đẩy nhanh tốc độ ô nhiễm đất với việc sử dụng quá nhiều phân bón, thuốc bảo vệ thực vật nhằm tăng năng suất, và tiêu diệt dịch hại Sự xâm nhập của các chất ô nhiễm trực tiếp (xả nước thải trên đất) hoặc gián tiếp (sử dụng nước ô nhiễm khi tưới tiêu cho cây trồng) đã được báo cáo là

sẽ gây ô nhiễm trên diện rộng tài nguyên đất và mạch nước ngầm, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp cũng như con người và sức khỏe động vật (Saha và cộng

sự, 2017) Đầu vào của sản xuất nông nghiệp như phân bón, thuốc trừ sâu, thuốc kháng sinh chứa trong phân chuồng hoặc những chất được sử dụng để phòng bệnh

và điều trị nhiễm trùng cho cây trồng là những chất ô nhiễm tiềm tàng chính trong đất nông nghiệp (GSP, 2017) Tăng cường sản xuất nông nghiệp để sản xuất đủ lương thực, chất xơ và nhiên liệu sinh học đã để lại hậu qủa là đất bị ô nhiễm Tại Trung Quốc, hàm lượng kim loại nặng đã tăng lên đáng kể trong 30 năm qua, với giá trị dao động từ 48 phần trăm đối với Zn đến hơn 250 phần trăm khi Cd được

so sánh với mức nền của nó vào năm 1990 (Zeng, Li và Mei, 2008)

Khi các chất ô nhiễm đạt đến hàm lượng cao trong đất, quá trình thoái hóa đất diễn ra, kéo theo năng suất cây trồng cũng bị ảnh hưởng Do đó, ngoài việc gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và môi trường, ô nhiễm đất cũng gây ra thiệt hại kinh tế N dư thừa trong đất đã được xác định là nguyên nhân chính gây chua đất và mặn hóa thông qua quá trình nitrat hóa và các quá trình chuyển hóa

N khác Đất hóa chua rất chậm trong các điều kiện tự nhiên trong hàng trăm đến hàng triệu năm (Guo và cộng sự, 2010), nhưng quá trình này được đẩy nhanh đáng kể nhờ các hoạt động nông nghiệp, chủ yếu là bón quá nhiều N, làm giảm trung bình 0,26 đơn vị pH ở các mục đích sử dụng đất khác nhau (Lucas và cộng

sự, 2011; Tian và cộng sự, 2015; Zhao và cộng sự, 2014a)

Axit hóa đất nông nghiệp có thể góp phần làm ô nhiễm đất nghiêm trọng hơn nữa, thông qua sự huy động của các kim loại nặng độc hại Nếu hàm lượng

N áp dụng cho đất nông nghiệp cao hơn yêu cầu của cây trồng, vi sinh vật nitrat hóa hoạt động sẽ dẫn đến sự tích tụ của nitrat (NO3-) có thể dễ dàng chuyển đến nước ngầm do tính hòa tan cao, gây ô nhiễm (Tian và cộng sự, 2015) Khi hàm lượng chất dinh dưỡng trong đất tăng lên, sinh khối và hoạt động của vi sinh vật

Trang 29

cũng tăng lên, nhưng sự đa dạng sinh học của vi sinh vật bị thay đổi, gây ra sự mất cân bằng trong chu trình dinh dưỡng (Lu và Tian, 2017) Rủi ro chính từ phân lân là khi được vận chuyển đến các vùng nước mặt, sẽ gây ra hiện tượng phú dưỡng (Stork và Lyons, 2012; Syers, Johnson và Curtin, 2008)

Theo FAO, 2017, lợi nhuận ròng của nông dân tăng lên khi họ sử dụng thuốc trừ sâu Tuy vậy, các tác động tiêu cực của thuốc trừ sâu đến sinh trưởng, phát triển các sinh vật đất và chức năng của đất cũng đã được báo cáo Ví dụ, một

số thuốc trừ sâu clo hữu cơ ngăn chặn sự cố định nitơ cộng sinh, dẫn đến năng suất cây trồng thấp hơn (Fabra, 1997; Fox và cộng sự, 2007; Santos và Flores, 1995) Nghiêm trọng hơn, các loại thuốc trừ sâu độc hại đã được đưa ra khỏi thị trường ở các nước có thu nhập cao do ảnh hưởng xấu nghiêm trọng đến sức khỏe con người và môi trường nhưng thường xuyên được đăng ký sử dụng tại các quốc gia có thu nhập trung bình và thấp (LMIC)

Việc bón phân chuồng chưa qua xử lý có thể dẫn đến ô nhiễm kim loại nặng, điều này không chỉ dẫn đến các tác động bất lợi đến các thông số khác nhau liên quan đến chất lượng và năng suất của nông sản, mà còn gây ra những thay đổi về kích thước, thành phần và hoạt động của quẩn xã vi sinh vật đất (Yao, Xu

và Huang, 2003) do đó ảnh hưởng đến chu trình dinh dưỡng và làm giảm hàm lượng chất dinh dưỡng dễ tiêu trong đất Bên cạnh đó, hàm lượng kháng sinh cao trong thức ăn gia súc ít bị đồng hóa trong ruột động vật và được bài tiết qua nước tiểu và phân Nếu lượng chất thải này chưa được xử lý đã bón trực tiếp vào đất sẽ gây ra tình trạng kháng kháng sinh của VSV trong đất Theo O’Neill, 2014, ước tính rằng VSV gây bệnh kháng thuốc kháng sinh có thể trở thành nguyên nhân hàng đầu của tử vong trên thế giới vào năm 2050 Hầu hết các mầm bệnh đường ruột phổ biến có trong đất và phân chuồng là vi rút Salmonella, Campylobacter

và Escherichia coli Số lượng VSV gây bệnh giảm mạnh khi phân chuồng được

ủ ở nhiệt độ cao trong một thời gian đủ dài trước khi bón vào đất (Garcia và cộng

sự, 2010)

Như vậy, có thể thấy quản lý, sử dụng đất nông nghiệp bền vững, với những lợi ích mà phương pháp này đã, đang và sẽ mang lại, sẽ là xu thế tất yếu phục vụ cho sự phát triển bền vững và chiến lược bảo vệ môi trường của các quốc gia hiện nay

Trang 31

CHƯƠNG 2 THOÁI HOÁ ĐẤT VÀ VẤN ĐỀ SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG

Thoái hóa đất đai là vấn đề toàn cầu quan trọng của thế kỷ 21 bởi vì tác động

có hại của nó đến khả năng sản xuất nông nghiệp, môi trường và ảnh hưởng của nó đến

an ninh lương thực và chất lượng cuộc sống Thoái hóa đất đai tác động đến khả năng sản xuất do sự suy giảm của chất lượng đất diễn ra ở nơi sự thoái hóa xuất hiện (ví dụ xói mòn) và mất đi ở nơi phù sa được bồi tụ Khả năng sản xuất của một số đất đai đã

bị giảm khoảng 50% do xói mòn đất và sa mạc hóa

Chỉ có khoảng 3% bề mặt đất đai toàn cầu có thể được coi là loại đất tốt nhất hoặc đất loại I, loại đất này không có ở vùng nhiệt đới 8% khác của đất đai thuộc loại

II và loại III Hiện nay, 11% này phải nuôi sống khoảng 6 tỷ và dự kiến khoảng 7,6 tỷ người vào năm 2020 Sự sa mạc hóa đã diễn ra trên 33% bề mặt đất toàn cầu và có ảnh hưởng đến hơn một tỷ người, một nửa trong số họ sống ở châu Phi

Thoái hóa đất đai, giảm chất lượng đất do các hoạt động của con người gây ra

đã trở thành một vấn đề nghiêm trọng có tính toàn cầu trong thế kỷ 20, sẽ vẫn tồn tại ở mức độ cao trong các chương trình nghị sự quốc tế của thế kỷ 21 Tầm quan trọng của

sự thoái hóa đất đai trong các vấn đề toàn cầu tăng lên do ảnh hưởng của nó đến sự an toàn lương thực của thế giới và chất lượng môi trường Mật độ dân số cao không nhất thiết liên quan đến sự thoái hóa đất mà là cái mà con người đã làm đối với đất quyết định mức độ thoái hóa Con người có thể làm đảo ngược xu hướng thoái hóa đất Vì vậy, họ cần phải được động viên cả về sức khỏe, chính trị và kinh tế để có thể quan tâm đến đất, sự nghèo đói và thất học có thể là các nguyên nhân quan trọng của thoái hóa đất đai và môi trường

2.1 Khái niệm thoái hoá đất

Thoái hóa đất đai có thể được xem là sự mất khả năng sản xuất hiện tại hoặc tiềm tàng của đất do tác động của các tác nhân tự nhiên hoặc con người; đó là sự giảm chất lượng đất hoặc giảm khả năng sản xuất của nó Các cơ chế của sự thoái hóa đất bao gồm các quá trình vật lý, hóa học và sinh học Một trong những quá trình vật lý quan trọng là sự suy giảm cấu trúc của đất có ảnh hưởng đến lớp vỏ trái đất, độ chặt, xói mòn, sa mạc hóa, sinh vật kỵ khí và việc sử dụng không bền vững các nguồn tài nguyên Các quá trình hóa học quan trọng bao gồm quá trình chua hóa, rửa trôi, mặn hóa, sự giảm khả năng giữ cation và sự suy giảm độ phì nhiêu Các quá trình sinh học bao gồm sự suy giảm tổng số các bon hữu cơ và sự giảm tính đa dạng sinh học Các quá trình sinh học cũng có mối liên quan chặt chẽ với sự phú dưỡng của nước mặt, sự ô

Trang 32

nhiễm của nước ngầm, và sự bay hơi cua một số khí (CO2, CH4, N2O, NOx) từ các hệ sinh thái sống trên cạn/sống dưới nước ra khí quyển

Thoái hoá đất đai là dấu hiệu chung của sự suy giảm nhất thời hoặc thường xuyên khả năng sản xuất của đất đai (UNEP, 1992) Hoặc có thể định nghĩa thoái hóa đất là những quá trình thay đổi các tính chất lý-hóa-sinh học của đất dẫn đến đất giảm ( hoặc mất ) khả năng thực hiện các chức năng của mình

Thoái hoá đất đai có ảnh hưởng ngay tại chỗ xảy ra thoái hoá (on-site effects)

và ảnh hưởng xa nơi xảy ra thoái hoá (off-site effects) Ảnh hưởng ngay tại chỗ xảy ra thoái hoá làm giảm khả năng sản xuất của đất đai, gây ra hoặc làm giảm đầu ra của sản xuất (năng suất cây trồng, vật nuôi) hoặc cần thiết phải tăng đầu vào cho sản xuất Ảnh hưởng xa của xói mòn do nước xuất hiện thông qua sự ô nhiễm đất và những thay đổi

về chế độ nước bao gồm sự giảm chất lượng nước, sự lắng đọng dưới đáy sông và hồ chứa nước Ảnh hưởng xa chủ yếu của xói mòn do gió là sử thổi bay và lắng đọng cát

2.2 Các nguyên nhân gây thoái hóa đất:

Các nguyên nhân thoái hoá đất có thể được chia thành các nguyên nhân tự nhiên

và tác động từ phía con người, bao gồm: các nguyên nhân trực tiếp và các nguyên nhân

cơ bản

Các nguyên nhân tự nhiên là những điều kiện môi trường tự nhiên dẫn đến tình trạng thoái hoá đất đai cao, ví dụ độ dốc cao là một nguyên nhân của xói mòn đất Các nguyên nhân trực tiếp bao gồm việc sử dụng đất đai không phù hợp và thực tiễn quản lý đất đai không thích hợp, ví dụ canh tác trên đất dốc không có các biện pháp bảo vệ đất Các nguyên nhân cơ bản là những lý do tại sao các cách sử dụng và quản lý đất đai không thích hợp mà vẫn được thực hiện; ví dụ, các đất dốc có độ dốc cao vẫn được canh tác bởi vì những người dân nghèo khổ không có ruộng đất, còn các biện pháp bảo vệ đất không được thực hiện bởi vì những người nông dân nghèo này không có sự bảo đảm quyền tiếp tục được thuê đất hoặc họ không có tiền để thực hiện

2.2.1 Các nguyên nhân thoái hoá đất tự nhiên

Các nguyên nhân gây thoái hoá đất tự nhiên bao gồm:

* Đối với xói mòn do nước:

+ lượng mưa lớn , cường độ mưa cao, sự phân bố mưa không đều, tập trung vào

một số thời điểm nhất định

+ Độ dốc cao ở đất vùng đồi, núi; độ dài sườn dốc lớn

Trang 33

+ Các loại đất có tính chống chịu kém đối với xói mòn do nước

+ Mật độ che phủ thấp

* Đối với hiện tượng sa mạc hóa: tác động của biến đổi khí hậu

* Đối với xói mòn do gió:

+ Khí hậu bán khô hạn đến khô hạn;

+ Các loại đất có tính chống chịu kém đối với xói mòn do gió (ví dụ đất cát) + Lớp phủ thực vật tự nhiên thưa

* Đối với sự suy giảm độ phì nhiêu của đất:

+ Sự rửa trôi dinh dưỡng và mùn diễn ra mạnh trong điều kiện khí hậu ẩm ướt;

+ Các đất có độ chua cao và/hoặc có độ phì nhiêu tự nhiên thấp

* Đối với sự úng nước: khả năng tiêu nước kém của các loại đất vùng đồng bằng

hoặc các vùng trũng ở sâu trong nội địa

* Đối với sự mặn hoá và sodic hóa:

+ Khí hậu từ bán khô hạn đến khô hạn với cường độ rửa trôi thấp;

+ Sự tiêu nước ngầm kém của các loại đất vùng đồng bằng hoặc các vùng trũng ở sâu trong nội địa

+ Sự xâm thực của nước biển

* Đối với sự hạ thấp của mực nước ngầm: Khí hậu vùng bán khô hạn đến

khô hạn có tốc độ phục hồi nước ngầm chậm

Trong một số trường hợp, các thoái hoá do nguyên nhân tự nhiên gây ra đủ mạnh đến mức làm cho đât mất khả năng sản xuất mà không cần có sự can thiệp của con người Ví dụ các đất mặn tự nhiên xuất hiện ở các đất trũng ở sâu trong nội địa của các vùng khí hậu khô hoặc các vùng bị xói mòn rãnh tự nhiên

2.2.2 Tác động của con người:

a) Các nguyên nhân trực tiếp:

+ Sự phá rừng: Sự phá rừng là một nguyên nhân chủ yếu của xói mòn do nước, đặc biệt trên các đất dốc của vùng khí hậu ẩm ướt Nó cũng là một nguyên nhân góp phần cho xói mòn do gió, sự suy giảm độ phì nhiêu và mặn hoá

Trang 34

Sự đốn cắt quá mức thảm thực vật: Người dân nông thôn thường đốn cắt các rừng tự nhiên, rừng trồng, rừng cây bụi để lấy gỗ, củi đốt và nhiều sản phẩm rừng khác Việc đốn cắt như vậy trở nên không thể chấp nhận được khi nó vượt quá tốc độ tái sinh

tự nhiên của rừng Tình trạng này xảy ra rộng khắp ở vùng khí hậu bán khô hạn, nơi sự thiếu củi đốt xảy ra rất nghiêm trọng Sự làm kiệt quệ thảm cây lấy gỗ và cây bụi là một yếu tố chủ yếu dẫn đến sự xói mòn do nước và xói mòn do gió

+ Luân canh, tăng vụ cây trồng không có thời gian bỏ hoá thích hợp: Trước đây,

là một hình thức sử dụng đất đai thích hợp do trong thời gian đó mật độ dân số thấp cho phép một thời gian bỏ hoang cho cây rừng đủ dài để hồi phục lại các đặc tính của đất

Sự tăng dân số và thời gian bỏ hoá buộc phải co ngắn lại đã làm cho nó trở nên không bền vững Canh tác kiểu luân canh ở các vùng đồi của phía bắc Ấn Độ là nguyên nhân của xói mòn do nước và suy giảm độ phì nhiêu của đất Hiện tượng trồng lúa 3 vụ/năm

ở một số tỉnh miền Trung Việt Nam làm cho đất bị kiệt quệ dinh dưỡng

+ Chăn thả quá mức Chăn thả quá mức là chăn thả súc vật trên các đồng cỏ tự nhiên vượt quá khả năng của chúng dẫn đến làm giảm trực tiếp số lượng và chất lượng của lớp cỏ che phủ Điều này là nguyên nhân dẫn đến không chỉ xói mòn do nước mà

cả xói mòn do gió ở các vùng đất khô Cả thoái hoá lớp phủ thực vật (cỏ) lẫn xói mòn dẫn đến sự suy giảm chất hữu cơ và các đặc tính vật lý và từ đó làm suy giảm tính chống chịu đối với xói mòn

+ Không thực hiện các biện pháp quản lý bảo vệ đất Các biện pháp quản lý bảo

vệ đất có thể được chia thành các nhóm:

- Các biện pháp sinh học: Duy trì một lớp phủ trên mặt đất bằng thực vật hoặc rơm rạ, băng chắn bằng thực vật bao gồm hàng cây hoặc dải cỏ theo đường đồng mức

và các hàng cây chắn gió, nông lâm kết hợp

- Các biện pháp công trình: làm ruộng bậc thang, đắp bờ, đào rãnh…

- Duy trì tính chống chịu của đất đối với xói mòn ( bồi dưỡng đất ): Chủ yếu

là duy trì chất hữu cơ và kết cấu của đất

Một ví dụ rất điển hình trong sản xuất chè ở vùng đất đồi của Sri Lanka, các nông trại được quản lý tốt, duy trì lớp che phủ đất bằng thực vật kiểm soát được xói mòn ngay cả trên đất có độ dốc cao; những nông trại quản lý kém, mưa đã tác động rất mạnh đến các vùng đất trống làm đất đai bị thoái hoá nghiêm trọng

+ Mở rộng canh tác trên các đất có khả năng thoái hoá tự nhiên (hoặc thoái hoá tiềm tàng) cao Sự tăng dân số đã dẫn đến việc sử dụng rộng rãi các loại đất có nguy

Trang 35

cơ bị thoái hoá cao đó là những loại đất có độ phì nhiêu thấp hoặc đất dễ bị thoái hoá Những loại đất này bao gồm:

- Đất dốc có độ dốc cao;

- Các đất tầng mỏng hoặc đất nhiều cát, hoặc đất có nhiều kết von;

- Đất bán khô hạn và đồng cỏ bán khô hạn dễ biến thành xa mạc

Những loại đất này đòi hỏi phải được quản lý ở trình độ cao, nhưng đáng tiếc, hiện nay những loại đất này thườg được những nông dân nghèo khổ khai thác sử dụng

+ Sự luân phiên cây trồng không thích hợp Do kết quả của sự tăng dân số, thiếu đất đai và áp lực kinh tế, những người nông dân ở một số vùng đã áp dụng luân phiên cây trồng cao độ chỉ giữa các cây ngũ cốc, đặc biệt là dựa vào cây lúa nước và lúa mì ở những nơi lẽ ra phải áp dụng luân phiên cây ngũ cốc với cây họ đậu thì tốt hơn Điều này là nguyên nhân góp phần làm suy giảm độ phì nhiêu của đất

+ Việc sử dụng phân bón không cân đối Ví dụ khi sử dụng nhiều phân đạm, trong một thời gian ngắn giúp cây sinh trưởng nhanh và tăng năng suất cây trồng Tuy nhiên do chỉ tăng lượng phân đạm nên tỷ lệ của N và P cũng như tỷ lệ giữa N với các chất dinh dưỡng khác sẽ tăng lên Khi đó trong đất sẽ xuất hiện sự thiếu của P và các chất dinh dưỡng khác như S, Zn, …

+ Các vấn đề phát sinh do tưới tiêu không hợp lý: sử dụng nước tưói không đúng

se ảnh hưởng tới mực nước ngầm (sử dụng quá nhiều nước tưới làm nâng cao mực nước ngầm), chất lượng nước ảnh hưởng tới tính chất của đất (nước chứa muối làm đất bị mặn hoá, nước tưới chứa nhiều Na làm đất dễ bị mặn kiềm hoá…)

+ Sử dụng quá mức nước ngầm sẽ dẫn đến sự hạ thấp mực nước ngầm (diễn ra

ở Iran, Ấn Độ, Pakistan)

b) Các nguyên nhân thoái hoá cơ bản

+ Thiếu đất đai: Do đất đai là một tài nguyên hạn chế nên dễ nhận thấy sự thiếu đất đai, đặc biệt trong thời gian gần đây ảnh hưởng của sự thiếu đất đai càng rõ Trước đây, sự thiếu lương thực và đói nghèo có thể được chống lại bằng cách khai thác những vùng đất đai mới, chưa sử dụng để canh tác Hiện nay sự tăng dân số ở các vùng nông thôn đã dân đến làm giảm diện tích đất nông nghiệp trên một đầu người ở nhiều nước, đặc biệt các nước ở vùng khí hậu ẩm ướt của châu Á Ví dụ sự giảm một cách tương đối diện tích đất đai trên một đầu người trong giai đoạn 1980 – 1990 là 14% đối với Ấn

Độ và 22% đối Pakistan Ở Iran, tốc độ tăng dân số nông thôn thấp hơn, vì vậy tỷ lệ đất

Trang 36

+ Sự chiếm hữu đất đai: Sự thuê đất và quyền sử dụng không hạn chế đất đai Những người nông dân sẽ không tự nguyện đầu tư vào các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên đất đai nếu như quyền sử dụng nguồn tài nguyên này trong tương lai của họ không được bảo đảm Có hai loại quyền sở hữu dẫn đến tình trạng này đó là sự thuê và quyền sử dụng không hạn chế đất đai Mặc dù những sự cố gắng của pháp luật

và các chương trình cải cách ruộng đất đã trải qua nhiều năm nhưng việc thuê đất trồng trọt vẫn còn rất phổ biến Những người chủ đất hiện nay thường ở các thành phố, còn đất đai thì được trồng trọt bởi những người thuê đất Quan hệ giữa chủ đất và người thuê thường tốt và trong thực tế, việc thuê đất tồn tại ở nông thôn trong nhiều năm Tuy nhiên, việc thuê đất như vậy không khuyến khích duy trì đất đai lâu dài, mà chủ yếu là quan tâm cho thu hoạch trước mắt

Quyền sử dụng không hạn chế đất đai là những quyền cho bất cứ ai, trong thực

tế là những người nghèo và những người không có đất đai, có thể sử dụng, không cần

có các quyền hoa lợi hoặc chiếm hữu Điều này chủ yếu áp dụng cho đất lâm nghiệp, trên danh nghĩa quyền sử hữu của chính phủ

Có sự khác biệt giữa sở hữu công cộng và quyền sử dụng không hạn chế đất đai Trong sở hữu công cộng đất đai việc sử dụng bị hạn chế đối với các thành viên của cộng đồng, làng hoặc xã và thường lệ thuộc vào những nguyên tắc được áp dụng có tính xã hội Ví dụ, những người chăn cừu thường có thói quen khi những diện tích nhất định bị ngừng chăn thả, dân làng sẽ hạn chế chặt cây ở những đất công cộng Đối với quyền sử dụng đất không hạn chế không có những nguyên tắc như vậy Không có cơ sở pháp lý đối với quyền sử dụng đất đai của họ ngoài nhu cầu trước mắt là sự thiếu đất đã khuyến khích họ khai thác đất Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến sự phá rừng, kéo theo

sự xói mòn

+ Các áp lực và quan điểm kinh tế

Việc sở hữu ít đất đai đã dẫn đến những áp lực kinh tế rất khốc liệt đối với nông dân để đạt được lượng lương thực và thu nhập khác đáp ứng cho các nhu cầu trước mắt

Do áp lực nhu vậy nên trong thời gian ngắn các nguồn lao động, đất đai và tài chính không thể dư ra để đầu tư cho việc chăm sóc đất đai, ví dụ như bón phân hữu cơ hoặc duy trì cấu trúc đất Đây cũng là lý do cơ bản đối với hai nguyên nhân trực tiếp khác đã được trình bày ở trên, luân canh cây trồng không thích hợp và sử dụng phân bón không cân đối

Một nhân tố phụ là sự thay đổi các quan điểm về kinh tế thường không được người theo dõi bên ngoài đánh giá đúng Trong thời gian trước đây, hầu hết những người

Trang 37

nông dân chấp nhận hoàn cảnh mà họ phải chịu đựng ngay cả khi nó rất nghèo nàn Những thông tin hiện nay và những ảnh hưởng của nó đã làm tăng lên các nguyện vọng

và yêu cầu hợp lý về thu nhập, vì thế đã làm tăng các áp lực về kinh tế

+ Sự nghèo nàn

Nhiều nước đang phát triển có tiến bộ rất lớn trong phát triển kinh tế, đạt được

sự tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội tính theo đầu người Vấn đề là liệu những cải thiện có tương ứng với phúc lợi xã hội thực tế của lớp dân nghèo nông thôn không Phần lớn những người nông dân vẫn giữ ở mức độ gần hoặc dưới mức nghèo đói đã được định nghĩa dựa trên các nhu cầu thiết yếu của cuộc sống

Sự nghèo đói dẫn đến sự thoái hoá đất đai Một thực tế hầu như được khẳng định chắc chắn rằng những người nông dân khá giả hơn duy trì đất của họ tốt hơn những nông dân nghèo

+ Sự tăng dân số

Cùng với sự thiếu về đất đai, nguyên nhân cơ bản thứ hai của sự thoái hoá là sự tăng liên tục của dân số nông nghiệp ở nông thôn Ví dụ, tỷ lệ tăng dân số từ 1980-1990 đối với sáu nước trong khu vực nam Á dao động từ 2,1 đến 3,6% trong một năm, chỉ ở Srrilanca có cố gắng làm giảm tỷ lệ tăng dân số với mức tăng khoảng 1,4%

Dân số ở vùng thành phố đang tăng nhanh hơn ở vùng nông thôn Tuy nhiên, xu hướng đô thị hoá không đủ để làm đảo ngược một quy luật đó là dân số ở nông thôn vẫn không ngừng tăng lên

2.3 Phân loại thoái hóa đất:

Thoái hoá đất đai có thể được chia thành các loại chủ yếu sau: thoái hóa vật lý, thoái hóa hóa học và thoái hóa sinh học, bao gồm:

(1) Xói mòn đất do nước: Sự di chuyển các hạt đất do tác động của nước Xói mòn do nước bao gồm xói mòn mặt (một lớp đất mỏng trên bề mặt bị mất đi), xói mòn rãnh (tạo thành các rãnh nhỏ trên mặt đất) hoặc xói mòn mương máng (tạo thành khe rộng như sông, suối) Một đặc trưng quan trọng của xói mòn do nước là sự di chuyển chọn lọc cấp hạt mịn hơn và phì nhiêu hơn của đất

(2) Xói mòn đất do gió: Sự di chuyển các hạt đất do tác động của gió Thường thì kiểu xói mòn này là xói mòn mặt, một lớp mỏng trên mặt đất bị bào mòn, nhưng đôi khi tác động của gió có thể khoét thành hố sâu hoắm và những đặc trưng khác Xói mòn

do gió hầu hết xảy ra với các hạt cát trung bình và cát mịn

Ngày đăng: 27/06/2021, 10:27

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w