Tính cấp thiết của đề tài Trong thời gian qua tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ tại nhiều tỉnh, thành phố lớn trên cả nước nhưng chủ yếu tập trung ở các đô thị, thành p
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tác giả cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào Việc tham khảo các nguồn tài liệu đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định
Tác giả luận văn
Nguyễn Thái Thụy
Trang 2LỜI CÁM ƠN
Trong suốt quá trình nghiên cứu thực hiện luận văn, tác giả đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ và tạo điều kiện của Phòng đào tạo Đại học và Sau Đại học, Khoa Công trình trường Đại học Thủy lợi, các thầy giáo, cô giáo, gia đình, đồng nghiệp và bạn bè Đến
nay, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật chuyên ngành Quản lý xây dựng với đề tài: “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội” đã được hoàn thành
Tác giả xin được bày tỏ sự biết ơn sâu sắc và trân trọng đến thầy giáo PGS.TS Dương Đức Tiến, người đã hướng dẫn tác giả có một định hướng toàn diện, xuyên suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thiện luận văn
Tuy nhiên, với thời gian, trình độ, kiến thức còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong thầy cô, các nhà khoa học và các bạn giúp đỡ để đề tài nghiên cứu được hoàn thiện hơn
Trân trọng cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH vi
DANH MỤC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG 4
1.1 Khái quát chung về công trình xây dựng và tình hình phát triển xây dựng của quận Thanh Xuân 4
1.1.1 Khái niệm chung 4
1.2 Đặc điểm và tính chất của công trình xây dựng 15
1.3 Những khó khăn trong quản lý trật tự xây dựng 19
1.4 Kết quả của quá trình quản lý trật tự trong xây dựng 22
1.5 Tình hình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn quận Thanh Xuân 30
Kết luận chương 1 31
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG 32
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý quản lý trật tự trong xây dựng 32
2.1.1 Cơ sở khoa học trong quản lý trật tự xây dựng 32
2.1.2 Cơ sở pháp lý trong quản lý trật tự xây dựng 33
2.1.3 Cơ sở thực tiễn trong quản lý trật tự xây dựng 37
2.2 Nội dung và hình thức quản lý trật tự xây dựng 38
2.2.1 Nội dung quản lý trật tự xây dựng 38
2.2.2 Hình thức quản lý trật tự xây dựng 40
2.3 Phân tích các tình huống có thể xảy ra trong việc quản lý trật tự xây dựng 42
2.3.1 Xây dựng sai phép, lấn chiếm đất công, xử lý vi phạm hành chính, buộc tháo dỡ, trả lại hiện trạng ban đầu 42
2.3.2 Xử lý hành vi vi phạm trật tự xây dựng công trình chưa có giấy phép xây dựng khi khởi công xây dựng công trình 45
2.4 Quy hoạch xây dựng và lập kế hoạch quản lý trật tự trong xây dựng 49
2.4.1 Quy hoạch xây dựng 49
Trang 42.4.2 Yêu cầu đối với từng loại quy hoạch xây dựng 50
2.4.3 Kế hoạch quản lý trật tự trong xây dựng 54
Kết luận chương 2 56
CHƯƠNG 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN THANH XUÂN 57
3.1 Giới thiệu chung về quận Thanh Xuân, TP Hà Nội 57
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 57
3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội 59
3.2 Tình hình quản lý đất đai và hiện trạng sử dụng 64
3.2.1 Tình hình quản lý đất đai 64
3.2.2 Hiện trạng sử dụng đất 66
3.3 Thực trạng quy hoạch xây dựng và quản lý trật tự xây dựng tại quận Thanh Xuân 71
3.3.1 Những kết quả về công tác cấp phép xây dựng và quản lý trật tự xây dựng 71
3.3.2 Kết quả thực hiện thanh tra kiểm tra trật tự xây dựng 72
3.4 Những khó khăn tồn tại và nguyên nhân trong công tác quản lý trật tự xây dựng và cấp phép trên địa bàn quận 73
3.4.1 Công tác quy hoạch 73
3.4.2 Chủ đầu tư xây dựng 74
3.4.3 Tổ chức phòng chuyên môn cấp phép xây dựng 74
3.4.4 Hạn chế từ công tác tổ chức Đội Quản lý trật tự xây dựng đô thị 74
3.4.5 Hệ thống văn bản pháp luật 75
3.4.6 Công tác tuyên truyền vận động 76
3.5 Đề xuất giải pháp tổ chức quản lý trật tự trong xây dựng trên địa bàn quận Thanh Xuân 76
3.5.1 Nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch xây dựng 76
3.5.2 Lập kế hoạch xây dựng phát triển đô thị 78
3.5.3 Công tác đào tạo, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức 78
3.5.4 Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật 79
3.5.5 Tăng cường công tác kiểm tra xử lý vi phạm 79
3.5.6 Công tác phối hợp với các lực lượng 81
Trang 53.5.7 Phát huy dân chủ trong nhân dân 82
3.5.8 Công tác cải cách thủ tục hành chính trong cấp giấy phép xây dựng 82
3.5.9 Hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý nhà nước về xây dựng 83
Kết luận chương 3 83
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 84
TÀI LIỆU THAM KHẢO 86
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH
Hình 1.1 Nhà khu phố cũ Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai 8
Hình 1.2 Nhà khu phố mới đường Nguyễn Xiển 9
Hình 1.3 Nhà ở truyền thống phường Hạ Đình 10
Hình 1.4 Nhà chung cư, phường Thanh Xuân Bắc 10
Hình 1.5 Trụ sở UBND quận Thanh Xuân 11
Hình 1.7 Nhà hội họp số 01 phường Khương Mai, Thanh Xuân 12
Hình 1.8 Trường tiểu học Phan Đình Giót 13
Hình 1.9 Trường trung học cơ sở Khương Mai 13
Hình 1.10 Chợ Thượng Đình 14
Hình 1.11 Tuyến phố điểm Lê Trọng Tấn 14
Hình 1.12 Dự án Garden Hill (số 99 phố Trần Bình, phường Mỹ Đình 2, 22
quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) xây dựng không có giấy phép 22
Hình 1.13 Xử lý công trình vi phạm tại 8B Lê Trực 27
Hình 1.14 Phá dỡ nhà xây dựng không phép ấp 1, xã Vĩnh Lộc B, 28
Hình 1.15 Hình ảnh vi phạm trật tự xây dựng tại Hải Phòng 29
Hình 2.1 Sơ đồ mối quan hệ giữa các loại quy hoạch xây dựng 50
Hình 2.2 Sơ đồ phân cấp quản lý nhà nước về xây dựng 55
Hình 3.1: Bản đồ quy hoạch sử dụng đất quận Thanh Xuân, TP Hà Nội 57
Hình 3.2 Một số hình ảnh quận Thanh Xuân 63
Hình 3.3 Cơ cấu diện tích đất quận Thanh Xuân năm 2012 70
Hình 3.4 Sơ đồ tổ chức bộ máy Đội Quản lý trật tự xây dựng đô thị quận Thanh Xuân…… 86
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Mô tả phương pháp xử lý và kế hoạch hành động 48 Bảng 3.1 Diện tích cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp 67 Bảng 3.2 : Biến động các loại đất năm 2010-2012 68
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong thời gian qua tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa diễn ra mạnh mẽ tại nhiều tỉnh, thành phố lớn trên cả nước nhưng chủ yếu tập trung ở các đô thị, thành phố lớn như thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh… Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu to lớn nhưng cũng còn gặp nhiều khó khăn, vướng mắc trong công tác quản
lý nhà nước nhất là trong công tác quản lý trật tự xây dựng Dựa vào báo cáo đánh giá hàng năm của chính quyền các cấp có thể nhận thấy rằng công tác quản lý trật tự xây dựng ngày càng đi vào nề nếp có hiệu lực, hiệu quả và có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên trong những năm qua có thể nhận thấy tình trạng vi phạm trật tự xây dựng vẫn đang diễn ra với nhiều hình thức, tính chất và mức độ vi phạm ngày càng nghiêm trọng hơn, khó xử lý hơn và việc xử lý chưa kiên quyết, dứt khoát của chính quyền sở tại khiến dư luận bức xúc
Đối với thành phố Hà Nội công tác quản lý trật tự luôn được coi trọng thể hiện ở việc
cơ cấu lại tổ chức lực lượng quản lý trật tự xây dựng đô thị tuy nhiên tình hình vi phạm trật tự xây dựng vẫn đang diễn ra rất phức tạp như tại xã Minh Phú, huyện Sóc Sơn; xã Yên Bài, huyện Ba Vì; số 8B Lê Trực, quận Ba Đình … gây bức xúc trong dư luận Quận Thanh Xuân nằm ở phía Tây Nam Thủ đô Hà Nội là một trong những quận
có tốc độ đô thị hóa nhanh, có tiềm năng, cơ hội lớn trong phát triển kinh tế, xã hội tuy vậy hiện nay quận Thanh Xuân cũng đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức trong công tác quản lý trật tự xây dựng
Nguyên nhân là do áp lực của việc gia tăng dân số dẫn đến nhu cầu nhà ở, đất ở tăng cao, diện tích đất xen kẹt nhiều, các dự án đã được quy hoạch và đang triển khai còn chậm dẫn đến tình trạng xây dựng không phép, trái phép nhằm mục đích trục lợi tiền đền bù giải phóng mặt bằng, mua bán chuyển nhượng trái pháp luật tràn lan Hệ quả của quá trình này dẫn đến tình trạng vi phạm trật tự xây dựng, lấn chiếm đất đai, xây dựng không phép, trái phép, vi phạm quy hoạch… vẫn tiếp tục diễn ra và ngày càng phức tạp hơn Do những vi phạm trật tự xây dựng này dẫn tới phá vỡ quy hoạch, kiến
Trang 10trúc, cảnh quan, gây mất mỹ quan đô thị, gây khó khăn lớn trong việc thực hiện quy hoạch xây dựng đô thị, cản trở việc thu hút đầu tư, gây khó khăn trong công tác giải phóng mặt bằng thực hiện dự án, phát triển của địa phương…
Xuất phát từ những lý do nêu trên, bản thân đang công tác trong lĩnh vực quản lý đất đai, trật tự xây dựng nên tôi tiến hành nghiên cứu thực hiện đề tài “Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn quận Thanh Xuân, Hà Nội”
Tác giả tiếp cận hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn, quy chuẩn quốc gia
và tiếp cận thực tế trên địa bàn nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu tổng quan trên cơ sở thu thập tổng hợp từ các công trình nghiên cứu, các báo cáo khoa học kết hợp với tổng kết kinh nghiệm thực tế
Phương pháp kế thừa các sản phẩm khoa học các đề tài liên quan tới nội dung nghiên cứu
Phương pháp chuyên gia: trao đổi với thầy hướng dẫn và các chuyên gia có kinh nghiệm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu của đề tài là công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị đối với nhà ở riêng lẻ trên địa bàn quận Thanh Xuân
Phạm vi nghiên cứu: Công tác quản lý trật tự đô thị đối với nhà ở riêng lẻ trên địa bàn quận Thanh Xuân, TP Hà Nội
Trang 115 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Ý nghĩa khoa học của đề tài:
Hệ thống được về quy phạm pháp luật, các nguyên tắc cơ bản thực thi pháp luật về trật
tự xây dựng và một số phương pháp hiệu quả trong quản lý trật tự xây dựng
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Đề xuất một số giải pháp thiết thực trong công tác quản lý trật tự xây dựng tại quận Thanh Xuân
6 Kết quả đạt được
Tổng quan về tình hình phát triển đô thị trong những năm đổi mới và quản lý trật tự xây dựng và trọng tâm là quận Thanh Xuân
Hệ thống cơ sở khoa học và pháp lý trong quản lý trật tự xây dựng
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng, phân tích và đề xuất giải pháp hoàn thiện công tác quản lý trật tự xây dựng ở quận Thanh Xuân, Hà Nội
Trang 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH XÂY DỰNG VÀ TÌNH HÌNH QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG
1.1 Khái quát chung về công trình xây dựng và tình hình phát triển xây dựng của quận Thanh Xuân
1.1.1 Khái niệm chung
Chủ đầu tư xây dựng (sau đây gọi là chủ đầu tư) là cơ quan, tổ chức, cá nhân sở hữu vốn, vay vốn hoặc được giao trực tiếp quản lý, sử dụng vốn để thực hiện hoạt động đầu tư xây dựng
Cơ quan quản lý nhà nước về xây dựng gồm Bộ Xây dựng, Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là Ủy ban nhân dân cấp tỉnh) và
Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là Ủy
ban nhân dân cấp huyện)
Công trình xây dựng là sản phẩm được tạo thành bởi sức lao động của con người, vật liệu xây dựng, thiết bị lắp đặt vào công trình, được liên kết định vị với đất, có thể bao gồm phần dưới mặt đất, phần trên mặt đất, phần dưới mặt nước và phần trên mặt nước, được xây dựng theo thiết kế Công trình xây dựng bao gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, giao thông, nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng
Nhà ở riêng lẻ là công trình được xây dựng trong khuôn viên đất ở thuộc quyền sử dụng của hộ gia đình, cá nhân theo quy định của pháp luật
Trang 13Giấy phép xây dựng là văn bản pháp lý do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho chủ đầu tư để xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời công trình
Giấy phép xây dựng có thời hạn là giấy phép xây dựng cấp cho xây dựng công trình, nhà ở riêng lẻ được sử dụng trong thời hạn nhất định theo kế hoạch thực hiện quy hoạch xây dựng
Giấy phép xây dựng theo giai đoạn là giấy phép xây dựng cấp cho từng phần của công trình hoặc từng công trình của dự án khi thiết kế xây dựng của công trình hoặc của dự
án chưa được thực hiện xong
Chỉ giới đường đỏ là đường ranh giới được xác định trên bản đồ quy hoạch và thực địa
để phân định ranh giới giữa phần đất được xây dựng công trình và phần đất được dành cho đường giao thông hoặc công trình hạ tầng kỹ thuật, không gian công cộng khác Chỉ giới xây dựng là đường giới hạn cho phép xây dựng công trình chính trên thửa đất Cốt xây dựng là cao độ xây dựng tối thiểu bắt buộc phải tuân thủ được chọn phù hợp với quy hoạch về cao độ nền và thoát nước mưa
Thi công xây dựng công trình gồm xây dựng và lắp đặt thiết bị đối với công trình xây dựng mới, sửa chữa, cải tạo, di dời, tu bổ, phục hồi; phá dỡ công trình; bảo hành, bảo trì công trình xây dựng
Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật gồm công trình giao thông, thông tin liên lạc, cung cấp năng lượng, chiếu sáng công cộng, cấp nước, thu gom và xử lý nước thải, chất thải rắn, nghĩa trang và công trình khác
Hệ thống công trình hạ tầng xã hội gồm công trình y tế, văn hóa, giáo dục, thể thao, thương mại, dịch vụ công cộng, cây xanh, công viên và công trình khác[1]
Thanh tra là hoạt động kiểm tra, xem xét việc thực hiện chính sách, pháp luật của nhà nước , nhiệm vụ được giao của các cơ quan nhà nước, tổ chức và cá nhân do các cơ quan thanh tra có thẩm quyền thực hiện nhằm phục vụ hoạt động quản lý nhà nước Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan tổ chức và cá nhân
Thanh tra xây dựng là hoạt động thanh tra có tính chuyên ngành Hoạt động thanh tra
Trang 14xây dựng có đặc điểm sau:
+ Hoạt động thanh tra xây dựng được tiến hành trong phạm vị quản lý nhà nước về xây dựng, vật liệu xây dựng, nhà ở, kiến trúc, quy hoạch xây dựng đô thị, hạ tầng kỹ thuật đô thị theo quy định của pháp luật
+ Hoạt động thanh tra xây dựng luôn gắn với hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước
và phục vụ cho quản lý nhà nước trong lĩnh vực xây dựng
+ Hoạt động thanh tra xây dựng do các cơ quan thanh tra chuyên ngành xây dựng tiến hành thực hiện quyền lực nhà nước trong các hoạt động thanh tra
Đối tượng của thanh tra xây dựng là các tổ chức, cá nhân thuộc thẩm quyền quản lý trực tiếp của cơ quan quản lý nhà nước trong các hoạt động thanh tra
Quản lý trật tự xây dựng là công tác hoạt động thanh tra kiểm tra, đề xuất, kiến nghị và
xử lý vi phạm theo thẩm quyền và trình tự luật định về các vấn đề liên quan đến trật tự xây dựng nhằm đảm bảo xây dựng quản lý phù hợp quy hoạch tổng thể và phát triển kinh tế xã hội, an ninh quốc phòng; giữ gìn và phát triển bộ mặt đô thị theo đúng quy hoạch đã được phê duyệt nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân xây dựng, bảo vệ quyền lợi chính đáng hợp pháp của nhân dân, ngăn chặn và tiến tới chấm dứt tình trạng lấn chiếm đất công, sử dụng đất sai mục đích, xây dựng không phép, sai phép giữ gìn
kỷ cương phép nước
1.1.1.1 Phân loại công trình xây dựng
*Theo Luật Xây dựng Việt Nam số 50/2014/QH13 phân loại công trình xây dựng như sau: [1]
- Loại công trình được xác định theo công năng sử dụng gồm công trình dân dụng, công trình công nghiệp, công trình giao thông, công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn, công trình hạ tầng kỹ thuật và công trình quốc phòng, an ninh
+ Công trình dân dụng: Gồm nhà ở và công trình công cộng, trong đó: Nhà ở gồm nhà chung cư và nhà riêng lẻ;
+ Công trình công cộng gồm: công trình văn hóa, công trình giáo dục; công trình y tế;
Trang 15công trình thương nghiệp, dịch vụ; nhà làm việc; khách sạn, nhà khách; nhà phục vụ giao thông; nhà phục vụ thông tin liên lạc, thu phát sóng phát thanh, phát sóng truyền hình, nhà ga, bến xe; công trình thể thao các loại
+ Công trình công nghiệp: Gồm công trình khai thác than; khai thác quặng; công trình khai thác dầu, khí; công trình hóa chất, hóa dầu; công trình kho xăng, dầu, khí hóa lỏng và tuyến ống phân phối khí, dầu; công trình luyện kim; công trình cơ khí, chế tạo; công trình điện tử - tin học; công trình năng lượng; công trình công nghiệp nhẹ; công trình công nghiệp thực phẩm; công trình công nghiệp vật liệu xây dựng; công trình sản xuất và kho chứa vật liệu nổ công nghiệp
+ Công trình giao thông gồm: Công trình đường bộ; công trình đường sắt; công trình đường thủy; cầu; hầm; sân bay
+ Công trình nông nghiệp và phát triển nông thôn gồm: hồ chứa nước; đập; cống; trạm bơm; giếng; đường ống dẫn nước; kênh; công trình trên kênh và bờ bao các loại
+ Công trình hạ tầng kỹ thuật gồm: Công trình cấp nước, thoát nước; nhà máy xử lý nước thải; công trình xử lý chất thải: bãi chứa, bãi chôn lấp rác; nhà máy xử lý rác thải; công trình chiếu sáng đô thị
- Cấp công trình được xác định theo từng loại công trình căn cứ vào quy mô, mục đích, tầm quan trọng, thời hạn sử dụng, vật liệu sử dụng và yêu cầu kỹ thuật xây dựng công trình Cấp công trình gồm cấp đặc biệt, cấp I, cấp II, cấp III, cấp IV và các cấp khác theo quy định của Chính phủ
1.1.1.2 Tình hình phát triển xây dựng của quận Thanh Xuân
Khu vực dân cư
- Khu phố cũ: Khu phố cũ ở Thanh Xuân có quy mô nhỏ, được xây dựng bằng hệ
thống giao thông lưới ô bàn cờ, mặt cắt nhỏ hẹp (khoảng 3m-5m) được hình thành trước năm 1990
Tại đây tập trung nhiều hoạt động thương mại, buôn bán khá sầm uất, các cơ quan hành chính, trường học Khu vực này, chủ yếu là nhà ở với cấu trúc hình ống có cửa hàng
Trang 16buôn bán nhỏ với diện tích trung bình khoảng 30-100/hộ, chiều cao từ 01-05 tầng
Trong quá trình phát triển, kiến trúc khu phố cũ có nhiều thay đổi theo xu hướng bê tông hoá, mái bằng cửa kính khung nhôm Nhìn chung, diện mạo kiến trúc khu vực phố cũ khá tương đồng về hình thức đặc trưng điển hình của nhà ở đô thị
Hình 1.1 Nhà khu phố cũ Lê Trọng Tấn, phường Khương Mai
- Khu phố mới:
Kiến trúc cảnh quan đường phố hiện đại hấp dẫn, có các tuyến cây xanh đường phố Kiến trúc vỉa hè đặc trưng rộng rãi, đáp ứng được các chức năng phục vụ giao thông, vật liệu lát đá trang trí, các hình thức đèn chiếu sáng hiện đại LED, biển hiệu quảng cáo bắt mắt thu hút khách hàng…
Kiến trúc dọc trục đường hầu hết theo xu hướng hiện đại, kết cấu bê tông cốt thép, mái bằng, tầng cao từ 2-5 tầng, kiến trúc dọc trục được xây dựng khang trang hơn nhiều Các công trình do nhà nước quản lý được xây dựng có khoảng lùi để trồng cây xanh Các công trình nhà ở phần lớn thuộc sở hữu tư nhân được xây dựng trùng với chỉ giới đường đỏ, chiều cao các tầng nhà được xây dựng cao thấp khác nhau tuy đã phần nào được chỉnh trang nhưng chưa tạo được tính đồng nhất và hình thức hài hòa cho toàn tuyến phố
Trang 17Hình 1.2 Nhà khu phố mới đường Nguyễn Xiển
- Nhà trong làng xóm cũ:
Mặc dù là đô thị mới nhưng vẫn ẩn trong đó các ngôi nhà cũ vẫn giữ được hình ảnh làng xóm truyền thống Kiến trúc truyền thống, những nét sinh hoạt văn hoá làng xã Hiện tại trên địa bàn cũng còn nhiều loại hình nhà ở khác nhau:
Nhà cổ: cũng tồn tại một số ngôi nhà cổ bằng gỗ có từ rất lâu đời
Nhà ở truyền thống: nhà chính cấp 4, nhà phụ được xây bằng tường gạch hay bằng gỗ, lớp mái ngói, có sân vườn
Trang 18Hình 1.3 Nhà ở truyền thống phường Hạ Đình
- Nhà chung cư
Trên địa bàn hiện còn có một số chung cư cũ được xây dựng từ khoảng những năm
1980, chiều cao từ 2-4 tầng, do các cơ quan xí nghiệp đóng tại địa bàn xây sau đó bán cho cán bộ công nhân viên sinh hoạt từ đó đến nay
Hình 1.4 Nhà chung cư, phường Thanh Xuân Bắc
Trang 19- Các công trình công cộng:
+ Các công trình cơ quan và sự nghiệp: Các trung tâm hành chính nằm rải rác trên địa bàn các phường khác nhau: Trung tâm hành chính, chính trị, văn hóa, thể dục thể thao, giáo dục, y tế Các công trình nằm trên dọc các trục đường chính và được xây dựng kiên cố Kiến trúc không theo xu hướng truyền thống mà được hiện đại hơn thông qua cấu trúc không gian nội ngoại thất và vật liệu sử dụng bằng bê tông cốt thép Trụ sở UBND quận Thanh Xuân là tòa nhà đẹp và điển hình kiến trúc trụ sở được xây dựng từ năm 1999, bố cục không gian hợp lý hài hòa đã tạo nên vẻ trang nghiêm của một công
sở mặc dù công trình có kiến trúc không lớn
Hình 1.5 Trụ sở UBND quận Thanh Xuân
Các công trình công cộng ở một số địa phương theo loại hình kiến trúc phổ thông như: nhà cấp 4 lớp mái tôn đối với nhà Văn hóa, hay những dãy nhà 2-5 tầng theo lối kiến trúc hiện đại đối với các trụ sở UBND xã, phường
Nhà hội họp khu dân cư, nhà văn hóa phường được phân bố đều và khá đầy đủ trên toàn quận thường được bố trí tại các khu đất gần khu dân cư thuận lợi cho nhân dân sinh hoạt cộng đồng
Trang 20Hình 1.6 Nhà văn hóa phường Nhân Chính, quận Thanh Xuân
Hình 1.7 Nhà hội họp số 01 phường Khương Mai, Thanh Xuân
Trang 21+ Các công trình giáo dục, đào tạo:
Hệ thống các công trình giáo dục được bố trí đều trên toàn quận Nhìn chung cơ sở hạ tầng xã hội được đầu tư trang bị hiện đại về cơ sở vật chất Các hệ thống giáo dục tư thục, trường ngoài công lập phát triển
Hình 1.8 Trường tiểu học Phan Đình Giót
Hình 1.9 Trường trung học cơ sở Khương Mai
Trang 22+ Công trình dịch vụ thương mại: các khu chợ, trung tâm thương mại
Hình 1.10 Chợ Thượng Đình
Hình 1.11 Tuyến phố “điểm” Lê Trọng Tấn
Trang 23Tuyến đường Lê Trọng Tấn có giải pháp kiến trúc đồng bộ, hệ thống biển hiệu, đèn quảng cáo của các hộ kinh doanh được UBND TP hỗ trợ kinh phí, đầu tư đồng bộ Các tấm biển quảng cáo được lắp đặt đồng bộ về kích thước, kiểu dáng với hai màu chủ đạo xanh – đỏ Khi cả tuyến phố treo biển giống nhau sẽ tránh được tình trạng nhếch nhác, nhà treo biển to, nhà dựng biển nhỏ
1.1.2 Đặc điểm và tính chất của công trình xây dựng
1.1.2.1 Đặc điểm và tính chất của công trình xây dựng
a Đặc điểm của công trình xây dựng
Công trình xây dựng có rất nhiều đặc điểm tác động chi phối đến hoạt động thi công xây dựng và ảnh hưởng trực tiếp đến việc hoạch định chiến lược phát triển kinh tế xã hội, ảnh hưởng đến phát triển công nghệ xây dựng, máy móc thiết bị xây dựng, ảnh hưởng đến cơ chế chính sách và hệ thống pháp luật quản lý xây dựng
Công trình xây dựng đa dạng, phức tạp, có tính cá biệt cao về công dụng và chế tạo Mỗi công trình khi thiết kế đều có nét đặc thù riêng không thể sản xuất hàng loạt theo dây chuyền tương tự cho toàn bộ sản phẩm, tùy theo yêu cầu về kinh tế và kỹ thuật do khối lượng chất lượng và chi phí xây dựng của mỗi công trình đều khác nhau Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính lưu động, thiếu ổn định và khó kiểm soát
về chất lượng
Với đặc điểm quy mô lớn và kết cấu phức tạp của công trình xây dựng dẫn đến chu kỳ sản xuất lâu dài Vì vậy, cần phải có kế hoạch, lập tiến độ thi công, có biện pháp kỹ thuật thi công hợp lý để đảm bảo chất lượng công trình Ngoài ra nhu cầu về vốn, lao động, vật tư, máy móc thiết bị thi công rất lớn, nếu có những sai sót trong quá trình xây dựng gây lãng phí lớn
Công trình xây dựng được đặt tại một vị trí cố định, nơi sản xuất gắn liền với tiêu thụ sản phẩm, phụ thuộc trực tiếp vào điều kiện địa chất, thủy văn, khí hậu nơi đặt công trình: Đặc điểm này cho thấy nơi tiêu thụ sản phẩm cố định, nơi sản xuất thay đỏi nên lực lượng sản xuất thi công luôn phải lưu động Chất lượng công trình xây dựng chịu ảnh hưởng trực tiếp của điều kiện tự nhiên nơi xây dựng công trình, do vậy công tác điều tra, khảo sát, đo đạc, quan trắc không chính xác sẽ làm cho việc thiết kế công
Trang 24trình không đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật, kết cấu không phù hợp với điều kiện và đặc điểm tự nhiên dẫn đến công trình chất lượng kém
Công trình xây dựng có thời gian sử dụng lâu dài, chất lượng của công trình có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả hoạt động của các ngành khác: Công trình xây dựng đã hoàn thành có thời gian sử dụng lâu dài và tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất, sử dụng nhưng vẫn giữ nguyên hình thái ban đầu cho tới khi thanh lý Từ đặc điểm này đòi hỏi chất lượng công trình phải tốt để các ngành khác ít bị ảnh hưởng Ví dụ ngành sản xuất thép đặt hệ thống máy móc thiết bị trong một cụm công trình, nếu cụm công trình chất lượng kém thậm chí bị hư hỏng thì chi phí tái cấu trúc của xưởng là rất lớn, chưa kể chất lượng thép bị ảnh hưởng
Công trình xây dựng liên quan đến nhiều ngành cả về phương diện cung cấp các yếu tố đầu vào, thiết kế và chế tạo sản phẩm lẫn phương diện sử dụng sản phẩm của xây dựng làm ra Các ngành, đơn vị phải nâng cao chất lượng xây dựng công trình ở trong tất cả các khâu: Điều tra, khảo sát, lập dự án đầu tư, thiết kế, giao nhận thầu, thi công xây dựng, giám sát chất lượng công trình, nghiệm thu và các chế độ bảo hành, bảo trì công trình
Công trình xây dựng mang tính tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hóa nghệ thuật và quốc phòng Đặc điểm này có thể dẫn đến phát sinh các mâu thuẫn, mất cân đối trong quan hệ phối hợp đồng bộ giữa các khâu từ quá trình chuẩn bị đầu tư, chuẩn
bị xây dựng cũng như trong quá trình thi công Đặc điểm này đòi hỏi phải có trình độ
tổ chức, phối hợp các khâu từ công tác thẩm định, thẩm định đấu thầu xây dựng, đấu thầu mua sắm thiết bị, kiểm tra chất lượng từng loại công tác theo kết cấu công trình trong quá trình thi công đến khi nghiệm thu từng phần, tổng nghiệm thu và quyết toán
dự án hoàn thành và đưa vào khai thác sử dụng
b Tính chất của công trình xây dựng và công tác quản lý xây dựng
Công trình xây dựng là những công trình thực hiện một lần duy nhất được gắn liền với mặt đất và sử dụng tại chỗ Có vốn đầu tư xây dựng lớn, thời gian xây dựng và thời gian sử dụng lâu dài vì thế nên khi tiến hành xây dựng công tác quản lý phải thực hiện ngay từ khâu quy hoạch, lập dự án, chọn địa điểm xây dựng, khảo sát thiết kế và đặc
Trang 25biệt là tổ chức thi công xây dựng công trình sao cho hợp lý, đảm bảo tiến độ tránh tình trạng hư hỏng sửa chữa gây thiệt hại về vốn đầu tư và giảm tuổi thọ công trình
Việc mua bán được thực hiện trước khi sản phẩm ra đời, đây là đặc điểm khác so với nhiều ngành khác, vì vậy làm cho việc quản lý chất lượng trở lên khó khăn và phức tạp, cần nhiều sự tham gia của các bên
Nhà nước có vai trò lớn hơn và có trách nhiệm can thiệp sâu hơn vào việc quản lý chất lượng công trình xây dựng so với nhiều loại sản phẩm công nghiệp khác, thể hiện qua các quy định về trình tự thủ tục quản lý đầu tư xây dựng như lập, thẩm định, phê duyệt
dự án đâu tư, thẩm định, cấp phép xây dựng, lựa chọn nhà thầu, bàn giao đưa vào sử dụng Các yêu cầu kỹ thuật đói với công trình được quy định trong tiêu chuẩn, quy chuẩn xây dựng, quy hoạch và quản lý không gian kiến trúc khu vực xây dựng công trình
Yêu cầu đối với chất lượng công trình rất phức tạp, chất lượng công trình phải thỏa mãn các yêu cầu không chỉ của khách hàng mà còn của cả xã hội Đối với công trình xây dựng, yêu cầu của xã hội được quy định rõ ràng trong Luật Xây dựng Vì vậy việc xác định yêu cầu của công trình là bước đầu tiên của việc sản xuất ra một sản phẩm đối với công trình xây dựng là không đơn giản, dễ dàng, đòi hỏi sự thông hiểu về kỹ thuật, kinh tế cũng như xã hội, pháp luật Bản thân khách hàng thường không thể tự xác định nhu cầu của mình một cách đầy đủ, rõ ràng và khả thi, mà phải có sự tham gia của các chuyên gia xây dựng Nhu cầu của khách hàng được xem xét về nhiều mặt như có sự phù hợp với các quy định của pháp luật, quy hoạch xây dựng của khu vực,
có phù hợp với đặc điểm tự nhiên và xã hội tại địa điểm xây dựng hay không, có khả thi về kỹ thuật , kinh phí có phù hợp với khả năng huy động vốn và lợi ích kinh tế hay không Ngay khi thảo luận về hợp đồng tư vấn, nhà tư vấn phải tìm hiểu kỹ lưỡng về nhu cầu của khách hàng đồng thời tư vấn cho họ về pháp luật, trình tự thủ tục đầu tư xây dựng, các yêu cầu của quản lý quy hoạch kiến trúc, các quy định trong quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật cũng như xem xét tính khả thi về kỹ thuật, kinh tế, thời gian hoàn thành để hai bên nhất trí và yêu cầu rõ ràng, cụ thể với công trình, phạm vi của dịch vụ
tư vấn cũng như các điều kiện cần thiết để thực hiện hợp đồng
Trang 26Tính che khuất của kết cấu, bộ phận và giai đoạn thi công công trình Đặc điểm này đòi hỏi trong quá trình quản lý phải hết sức chú trọng trong quá trình nghiệm thu và bàn giao để triển khai các bước tiếp theo đảm bảo chất lượng
Hoạt động xây dựng là một quá trình sản xuất phức tạp, diễn ra trong thời gian dài, sử dụng nhiều bộ phận, ngành nghề khác nhau trên phạm vi rộng vì vậy phải quản lý chất lượng sản phẩm trong nhiều hợp đồng
Phải quản lý chất lượng theo từng dự án, bởi vì công trình xây dựng được gắn cố định vào đất phụ thuộc vào các điều kiện tự nhiên xã hội của địa điểm xây dựng Mỗi công trình xây dựng được tổ chức thiết kế và thi công theo một dự án riêng với những yêu cầu tiêng biệt, tuy vẫn dựa trên một số quá trình kỹ thuật điển hình, lặp đi lặp lại, kể cả trong thiết kế điển hình đã được lập cho toàn bộ dự án cũng phải lập cho mỗi công trình một thiết kế điển hình đã được lập cho toàn bộ dự án cũng phải lập cho mỗi công trình một thiết kế vận dụng riêng để thực hiện một số điều chỉnh, cụ thể cần thiết sao cho phù hợp với địa điểm xây dựng như tổng mặt bằng, thiết kế móng
Trong thi công xây dựng, quản lý chất lượng rất khó khăn và phức tạp, bởi vì không thể kiểm soát từng chi tiết họat động xây lắp với độ tin cậy cao như đối với một dây chuyền sản xuất của một nhà máy Hoạt động thi công xây dựng do nhiều người tiến hành đồng thời nhiều nghề nghiệp khác nhau trên cùng một mặt bằng và không gian lớn, trong đó có nhiều công việc vận chuyển nặng nhọc Các hoạt động được tiến hành chủ yếu ở ngoài trời nên phụ thuộc vào thời tiết và khó kiểm soát được các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng, vì thế cần phải phối hợp tiến độ giữa các công đoạn, các đơn vị, giữa các mùa thời tiết đảm bảo chất lượng, tránh tình trạng phá đi làm lại, tránh lãng phí thời gian do phải chờ đợi nhau, hoặc do thời tiết Thi công xây dựng cần nhiều lao động, trong đó có nhiều lao động đơn giản nhưng vất vả Lực lượng lao động, nhất là lao động giản đơn, không ổn định, vì nhiều người chỉ coi đây là một công việc tạm, luôn tìm cách chuyển nghề để mong tìm được công việc khác đỡ nặng nhọc vất vả Vì vậy việc đào tạo huấn luyện cũng như thực thi các quy trình quản lý rất khó khăn
1.1.2.2 Vai trò quản lý nhà nước các công trình xây dựng
Trong thời gian gần đây, tuy công tác quản lý trật tự xây dựng đã có những tiến bộ
Trang 27nhất định nhưng chúng ta vẫn phải thẳng thắn nhìn nhận rằng: nhìn chung công tác quản lý hoạt động xây dựng của chính quyền các địa phương còn nhiều yếu kém Vẫn chưa chú ý và tập trung nhiều nguồn lực cho công tác quy hoạch xây dựng; việc công
bố công khai các đồ án quy hoạch xây dựng theo quy định chưa được thực hiện nghiêm túc; đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện công tác quản lý trật tự xây dựng chưa có; việc thanh tra, kiểm tra, xử lý các công trình vi phạm còn chưa kịp thời và triệt để; hiện tượng xây dựng nhà không phép, sai phép còn nhiều ảnh hưởng xấu và gây bức xúc trong dư luận, trong công tác quản lý nhà nước về xây dựng hiện nay Trước đây,
do nhiều nguyên nhân, nhiệm vụ quản lý xây dựng ít được quan tâm một cách đúng mức Nhưng gần đây nhiều vấn đề thực tiễn liên quan đến công tác quản lý trật tự xây dựng không cho phép hời hợt, đơn giản trong nhận thức và chậm trễ trong việc thực thi các giải pháp Lâu nay, việc tổ chức xây dựng các công trình cụ thể chủ yếu chúng ta quan tâm đến quy mô và bề rộng mà ít chú ý đến tổng thể mang tính hiện đại, văn minh Quản lý trật tự xây dựng có vai trò quan trọng như là một trong những giải pháp quan trọng tạo cho hoạt động xây dựng các điểm dân cư có tính đồng bộ và thống nhất, môi trường sống, làm việc, tổ chức giao thông thuận lợi
1.1.3 Những khó khăn trong quản lý trật tự xây dựng
Nhiệm vụ quản lý đô thị của nước ta trong nhiều năm qua chưa được quan tâm một cách đúng mức Nhiều vấn đề thực tiễn gần đây liên quan đến đô thị như quản lý quy hoạch, quản lý xây dựng và kiến trúc, quản lý đất đai, quản lý môi trường, quản lý cơ
sở hạ tầng, quản lý nhà ở, quản lý dịch vụ đô thị và quản lý kinh tế đô thị không cho phép chúng ta được lơ là chủ quan Nó ảnh hưởng rất lớn đến đời sống, kinh tế, văn hóa sinh hoạt cộng đồng của toàn xã hội cần được quản lý gắn kết và thống nhất trong một chiến lược và kế hoạch phát triển đồng bộ
Nhưng trên thực tế trật tự xây dựng đô thị còn ngổn ngang trăm bề (ùn tắc giao thông, lấn chiếm vỉa hè, xây dựng sai phép, quảng cáo bừa bãi, thiếu chỗ để xe…) mà nguyên nhân sâu xa xuất phát từ khâu quản lý và ý thức của các cán bộ công chức trong công tác quản lý điều hành, không sát sao thiếu giám sát, có một bộ phận cán bộ chưa làm hết trách nhiệm, buông lỏng quản lý, tiêu cực tham nhũng dẫn đến những hậu quả khôn lường trong công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị (xây dựng không theo quy
Trang 28hoạch, không theo giấy phép xây dựng, sai giấy phép xây dựng, tự tăng số lượng căn
hộ, tăng số tầng làm mật độ dân số tăng cao) Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, dân số tăng kéo theo nhiều hệ lụy gây áp lực cho hạ tầng lâu nay đã quá tải Theo thống kê, hàng năm tại một số địa phương như: Thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh trong 4 năm (2009-2012), Đội thanh tra xây dựng và trật tự đô thị đã phát hiện và xử
lý 453 trường hợp vi phạm về đất đai, xây dựng Các hành vi vi phạm chủ yếu là lấn, chiếm, san gạt đất trái phép, xây dựng công trình không phép, sai phép, chuyển nhượng đất trái pháp luật Nếu như năm 2009, phát hiện và xử lý 72 trường hợp thì đến năm 2010 con số đó là 154 trường hợp (tăng hơn 2 lần) Các năm tiếp theo số vụ
vi phạm bị phát hiện và xử lý tuy có giảm nhưng không đáng kể, năm 2011 với 138 trường hợp và năm 2012 là 130 trường hợp
Sở Xây dựng tỉnh Ninh Thuận đã kiểm tra 45 công trình xây dựng, phát hiện xử lý vi phạm 3 công trình sai phép, với số tiền phạt 65,5 triệu đồng và 1 trường hợp xây dựng sai phép đình chỉ thi công; 1 trường hợp xây dựng sai quy hoạch chi tiết tại Khu Dịch
vụ Văn hóa quần thể Quảng trường-Tượng đài-Bảo tàng tỉnh Riêng Tp Phan Tháp Chàm, đối với việc xây dựng công trình, nhà ở trái phép của các hộ gia đình, cá nhân trên địa bàn, từ đầu năm đến nay, Thanh tra sở đã phối hợp kiểm tra 403 công trình xây dựng, qua đó phát hiện 138 công trình vi phạm (chiếm 34,24% trên tổng số công trình kiểm tra), giảm 10 công trình vi phạm so với cùng kỳ năm 2015 (tỷ lệ giảm 6,75%) UBND Tp Phan Rang-Tháp Chàm đã ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính 76/138 trường hợp; vận động và cưỡng chế phá dỡ 7/138 trường hợp; chấp hành ngừng thi công 20/138 trường hợp; các trường hợp còn lại đang xử lý Còn đối với các huyện, từ đầu năm đến nay, có 123 trường hợp nhà ở xây dựng vi phạm, chủ yếu là khu vực nông thôn
Rang-Theo đánh giá của các cơ quan chức năng thì các hành vi lấn chiếm đất đai rất khó bị phát hiện, hành vi này chỉ bị phát hiện khi đi kèm với các hành vi vi phạm khác như xây dựng công trình Các vi phạm chủ yếu xảy ra ở khu vực xa trung tâm đô thị là nơi người dân nhận thức về pháp luật đất đai và xây dựng còn hạn chế Tại các khu vực trên, đa số các hộ dân có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, quỹ đất tự nhiên rộng, dẫn đến tình trạng lấn chiếm đất đồi, đất lâm nghiệp để xây dựng, chuyển nhượng đất không
Trang 29theo quy định còn diễn ra nhiều Trong lĩnh vực xây dựng, các hành vi xây dựng không phép cũng chủ yếu xảy ra ở khu vực này Ngoài các nguyên nhân trên, còn phải
kể đến năng lực của cán bộ phụ trách tại cơ sở còn nhiều hạn chế, thiếu kinh nghiệm trong quản lý; lãnh đạo một số địa phương phụ trách khối xây dựng không được đào tạo đúng chuyên ngành về quản lý xây dựng do đó việc lãnh đạo, chỉ đạo chưa chính xác, kịp thời
Bên cạnh đó, Nghị định số 59/2015/NĐ-CP của Chính phủ quy định về điều kiện riêng
để được cấp giấy phép xây dựng đối với các loại công trình xây dựng và nhà ở riêng lẻ
là phải phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng, quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc
đô thị, thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Đối với công trình xây dựng ở khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế
đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành Trong cả nước hiện nay, mật
độ quy hoạch chi tiết còn thấp, nhiều địa phương chưa có quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị; chưa có thiết kế đô thị riêng tại các khu vực, các tuyến phố đã ổn định Nếu căn cứ theo quy định trên thì nhiều gia đình, cá nhân sẽ không đủ điều kiện
để cấp phép xây dựng, trong khi đó nhu cầu về nhà ở của người dân trên địa bàn ngày càng lớn và bức thiết và do vậy việc vi phạm là điều khó tránh khỏi [2]
Việc cấp giấy phép xây dựng vẫn còn bất cập như các khu vực đã có quy hoạch nhưng không rõ tiến độ triển khai, việc thực hiện thiếu thống nhất, mỗi địa phương vận dụng một cách khác nhau, ảnh hưởng đến quyền lợi nhiều hộ dân đã sinh sống ổn định tại các khu vực này Việc cấp giấy phép xây dựng nhà ở khu vực nông thôn đã có quy hoạch xây dựng được phê duyệt gặp nhiều khó khăn, chủ yếu mới thực hiện được đối với một số hộ dân xây dựng nhà ở tại các thị trấn, phường và các khu trung tâm hành chính
Trang 30Hình 1.12 Dự án Garden Hill (số 99 phố Trần Bình, phường Mỹ Đình 2,
quận Nam Từ Liêm, Hà Nội) xây dựng không có giấy phép
1.1.4 Kết quả của quá trình quản lý trật tự trong xây dựng
Tình hình quản lý trật tự xây dựng trong cả nước thời gian gần đây đã có những chuyển tích cực đáng ghi nhận Các quận, huyện, thành phố trong cả nước nghiêm túc thực hiện công khai cho người dân biết các văn bản liên quan đến quản lý trật tự xây dựng của nhà nước, thành phố và quận, huyện; quy hoạch chi tiết tỷ lệ 1/500; giấy phép xây dựng các công trình; các trường hợp vi phạm và kết luận giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo liên quan
Những nội dung nhân dân tham gia ý kiến trước khi các cấp có thẩm quyền quyết định, gồm: Dự thảo kế hoạch triển khai xây dựng cơ sở hạ tầng, đầu tư xây dựng trên địa bàn các xã, phường, thị trấn; chủ trương, hình thức, mức đóng góp của nhân dân, các
tổ chức, cơ quan, đơn vị vào việc xây dựng các công trình phúc lợi công cộng; thủ tục liên quan đến việc cấp phép xây dựng các công trình; các biện pháp bảo đảm vệ sinh môi trường trong quá trình xây dựng Hình thức tham gia ý kiến là thông qua họp cử tri, họp tổ dân phố, hòm thư góp ý và qua kênh tiếp nhận của Hội đồng nhân dân, Mặt
Trang 31trận tổ quốc và các đoàn thể Cùng với đó, nhân dân đã tích cực giám sát việc xây dựng theo giấy phép, kết quả xử lý vi phạm trật tự xây dựng, vệ sinh môi trường trong quá trình thi công… Tất cả những hoạt động công khai minh bạch của chính quyền và
sự tham gia góp ý kiến, giám sát của người dân đã tạo nên cơ chế quản lý phối hợp đa chiều khá hiệu quả và góp phần hạn chế đáng kể những tiêu cực trong lĩnh vực phức tạp này
1.1.4.1 Kết quả quản lý trật tự xây dựng tại thành phố Hà Nội
Những năm qua dưới sự phối hợp điều hành của Sở Xây dựng và UBND cấp quận, huyện lực lượng thanh tra xây dựng do Thanh tra Sở quản lý đã có sự lớn mạnh về đội ngũ cán bộ, phát huy đúng chức năng nghiệm vụ, góp phần giảm thiểu nhiều bất cập trong công tác quản lý, xử lý các vi phạm trong lĩnh vực đầu tư xây dựng
Hàng năm, căn cứ vào kế hoạch thanh tra do Giám đốc Sở phê duyệt, Thanh tra Sở Xây dựng đã tổ chức nhiều cuộc thanh, kiểm tra, trong đó lĩnh vực chủ yếu là đầu tư xây dựng, cấp phép xây dựng, hạ tầng, quy hoạch, kiến trúc, an toàn lao động và vệ sinh môi trường trong quá trình thi công xây dựng…
Qua thanh tra, kiểm tra nhiều sai phạm đã được phát hiện và kịp thời xử lý, qua đó thu hồi cho nhà nước nhiều tài sản, tiền ngân sách bị thất thoát Cũng sau thanh tra, kiểm tra nhiều cơ chế chính sách bất cập được đề xuất điều chỉnh, trật tự kỷ cương trong lĩnh vực đầu tư xây dựng, trật tự xây dựng theo đó đã được đảm bảo
∗Năm 2014, tổng số công trình đã kiểm tra: 16.619 công trình Trong đó, lập hồ sơ vi phạm 1.921 trường hợp gồm:
- Không phép: 1.206 trường hợp; - Sai GPXD: 552 trường hợp;
- Sai quy hoạch, sai thiết kế: 41 trường hợp;
- Xây dựng công trình ảnh hưởng đến công trình lân cận, môi trường: 122 trường hợp UBND các cấp đã xử lý: cưỡng chế 502 trường hợp; tự khắc phục tháo dỡ 1666 trường hợp; đã hòa giải, bồi thường 125 trường hợp; đã cấp GPXD 331 trường hợp; đang xử
lý 358 trường hợp
Trang 32Về xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính = 1.528.625.000 đồng (ban hành 984 Quyết định xử phạt VPHC theo Nghị định số 121/2013/NĐ-CP của Chính phủ; ban hành 356 Quyết định xử phạt VPHC theo Nghị quyết 07/2014/NQ-HĐND của HĐND thành phố với số tiền phạt trên 3,3 tỷ đồng)
∗ Năm 2015 tổng số công trình đã kiểm tra: 16.325 công trình Trong đó, lập hồ sơ vi phạm 2.002 trường hợp gồm:
- Không phép: 627 trường hợp; - Sai GPXD: 407 trường hợp;
- Sai quy hoạch, sai thiết kế: 20 trường hợp;
- Xây dựng công trình ảnh hưởng đến công trình lân cận, môi trường: 99 trường hợp; - Xây dựng công trình trên đất nông nghiệp, lâm nghiệp: 849 trường hợp
Về xử phạt vi phạm hành chính: lực lượng Thanh tra Xây dựng đã tham mưu cho cấp chính quyền cơ sở ban hành 1034 quyết định xử phạt trong hoạt động xây dựng với tổng số tiền xử phạt vi phạm hành chính = 7.414.280.000 đồng Trong đó, xử phạt theo Nghị quyết 07/NQ-HĐND của HĐND thành phố là 5.163.200.000 đồng Số tiền xử phạt vi phạm hành chính năm 2015 tăng 385% so với cùng kỳ năm 2014
UBND các cấp đã xử lý: cưỡng chế = 321 trường hợp; tự khắc phục = 1097 trường hợp; đã hòa giải, bồi thường = 03 trường hợp; đã cấp bổ sung, điều chỉnh GPXD = 164 trường hợp; còn lại = 417 trường hợp đang xử lý
* Năm 2016: tổng số công trình đã kiểm tra hơn 10.000 công trình Trong đó, lập hồ
sơ vi phạm 1.592 trường hợp gồm: - Không phép: 559 trường hợp;
- Sai GPXD, thiết kế, quy hoạch: 348 trường hợp; - Vi phạm khác: 685 trường hợp
UBND các cấp đã xử lý 980 trường hợp (cưỡng chế 183 trường hợp); còn hơn 600 trường hợp đang tiếp tục giải quyết
Căn cứ Quy chế phối hợp giữa Sở Xây dựng và UBND các quận, huyện, thị xã, 100% trường hợp vi phạm trật tự xây dựng đã được Thanh tra Xây dựng lập hồ sơ, đề xuất biện pháp xử lý, chuyển cho UBND các cấp xử lý theo thẩm quyền So với 6 tháng đầu
Trang 33năm 2015, tổng số công trình kiểm tra giảm 12%, song số công trình vi phạm bị phát hiện, lập biên bản tăng 29% Đáng chú ý, số quyết định xử phạt vi phạm hành chính, thu hồi sau thanh tra lên tới hơn 1.000 trường hợp, tăng 82%; số tiền xử phạt thu nộp hơn 13,85 tỷ đồng, tăng 12,5%
* Năm 2017- Trật tự xây dựng tiếp tục được tăng cường, văn minh đô thị chuyển biến
rõ nét: Rà soát, kiểm tra số lượng các trường hợp nhà, đất không đủ điều kiện về mặt bằng Tích cực kiểm tra các công trình xây dựng, quyết liệt xử lý vi phạm các trường hợp"siêu mỏng, siêu méo" tồn từ trước 2016 Hệ thống cây xanh, thảm cỏ, các công viên, vườn hoa, chiếu sáng thực hiện theo yêu cầu kỹ, mỹ thuật tiên tiến Tiếp tục thực hiện Chương trình “Một triệu cây xanh” (đã trồng 337 nghìn cây, lũy kế được 462 nghìn cây, đạt 46,2% mục tiêu) Thi công hạ ngầm tại 41/56 tuyến phố theo kế hoạch giai đoạn 1 (16 tuyến đã cơ bản hoàn thành); đồng thời xây dựng kế hoạch hạ ngầm đợt 2 với 124 tuyến phố Tổ chức tốt công tác phân luồng, đảm bảo an toàn giao thông phục vụ các sự kiện chính trị, văn hóa, xã hội và thi công các dự án trọng điểm Sắp xếp điều chuyển 623/681 nốt vận chuyển hành khách liên tỉnh; đưa vào vận hành tuyến buýt nhanh; cơ bản giải quyết 08/41 điểm ùn tắc giao thông Việc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè được kiểm soát Thí điểm dịch vụ Iparking trên 02 tuyến phố, đồng thời khảo sát toàn bộ các điểm đỗ xe, tuyến đường có mặt cắt từ 14 m trở lên thuộc 04 quận
để xem xét điều kiện triển khai ra diện rộng
* Năm 2018 Đội quản lý trật tự xây dựng đô thị đã kiểm tra 16.885 công trình, phát hiện và lập hồ sơ xử lý vi phạm 891 trường hợp, UBND quận huyện đã ban hành 1.068 quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động xây dựng với tổng số tiền là 6.78 tỷ đồng thu về ngấn sách nhà nước số tiền 5.3 tỷ đồng Tiếp tục thu hồi phục vụ mục đích công cộng 32 trường hợp nhà đất không đủ điều kiên mặt bằng; xử lý 57 trường hợp nhà đất không đủ điều kiện về mặt bằng xây dựng hình thành sau khi triển
khai các dự án giao thông [6]
Hạn chế bất cập của cơ chế "song trùng chỉ đạo"
Tại mục 1.4 Điều 3 Quyết định số 46/2013/QĐ-UBND ngày 25/10/2013 của UBND thành phố Hà Nội quy định chức năng, nhiệm vụ và mối quan hệ trong công tác của
Trang 34Đội Thanh tra xây dựng quận, huyện: ‘‘Đội Thanh tra Xây dựng quận, huyện chịu sự quản lý, chỉ đạo trực tiếp của Thanh tra Sở Xây dựng, đồng thời chịu sự chỉ đạo, điều hành của UBND quận, huyện, thị xã về công tác quản lý trật tự xây dựng’’ Sau một thời gian thực hiện cơ chế “song trùng chỉ đạo” cũng nảy sinh việc công trình vi phạm
bị lập hồ sơ, Thanh tra Xây dựng chuyển đến chính quyền các cấp xử lý theo thẩm quyền nhưng có lúc, có nơi, chính quyền cơ sở thiếu quyết liệt, dẫn đến nhiều công trình không được xử lý triệt để
Có xã, phường không cử cán bộ phối hợp kiểm tra với lực lượng thanh tra; Công an phường không thực hiện quy định cấm thợ, phương tiện vận chuyển vật liệu vào công trình theo đề nghị Một số cán bộ Thanh tra Xây dựng hạn chế về kinh nghiệm, chuyên môn nghiệp vụ, ý thức trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ chưa cao nên chưa kiểm tra, phát hiện công trình vi phạm từ lúc mới phát sinh trên địa bàn, không kịp thời thiết lập hồ sơ vi phạm và đề xuất biện pháp xử lý Ngoài ra, quy trình xử lý vi phạm liên quan đến đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất công còn chưa đồng bộ về trình tự, thời gian, thẩm quyền Do vậy, có quan điểm chỉ đạo xử lý, áp dụng giải quyết khác nhau giữa các địa phương; có nơi tiếp nhận hồ sơ vi phạm lại giao Phòng Tư pháp thẩm định, dẫn đến kéo dài thời gian xử lý
Để khắc phục các nội dung trên ngày 18/3/2019 UBND TP Hà Nội đã ban hành Quyết định 04/QĐ-UBND về Quy định quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Hà Nội Quyết định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 4 năm 2019 Quyết định này thay thế Quyết định số 09/2014/QĐ-UBND ngày 14/02/2014 của UBND Thành phố ban hành Quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng giữa Sở xây dựng Hà Nội và UBND quận, huyện, thị xã, UBND xã, phường, thị trấn trên địa bàn Thành phố Các quy định trước đây có nội dung trái với quy định tại Quyết định này đều bãi bỏ
Trang 35Hình 1.13 Xử lý công trình vi phạm tại 8B Lê Trực
1.1.4.2 Kết quả quản lý trật tự xây dựng tại thành phố Hồ Chí Minh
Hiện nay, lực lượng Thanh tra Sở Xây dựng gồm 1.055 người/1.066 biên chế được giao (trong đó có 02 thanh tra viên chính, 94 thanh tra viên, 786 công chức, 148 hợp đồng lao động theo Nghị định 68); về trình độ chuyên môn: Thạc sĩ 8 người, Đại học
651 người, Cao đẳng 53 người, trung cấp 311 người và 32 người trình độ 12/12 Thanh tra Sở có 1 Chánh Thanh tra phụ trách chung và trực tiếp phụ trách Đội Hành chính – Tổng hợp; 04 Phó Chánh Thanh tra được phân công phụ trách các Đội Thanh tra Chuyên ngành, Đội Thanh tra Hành chính, Đội Tiếp Công dân & Giải quyết khiếu nại-
tố cáo, Đội Thanh tra cơ động và Đội Thanh tra địa bàn 24 quận-huyện
Trong 9 tháng năm 2017, thanh tra xây dựng (TTXD) đã phát hiện 2.545 trường hợp vi phạm xây dựng, tăng 355 trường hợp so với cùng kỳ năm 2016, trong đó xây dựng sai phép là 856 trường hợp Các quận có tình trạng xây dựng sai phép tăng cao như quận 9 (106 trường hợp, tăng 72); quận 7 (85 trường hợp, tăng 50), quận Gò Vấp (62 trường hợp, tăng 32) TTXD cũng phát hiện 1.216 trường hợp xây dựng không phép, tăng 135 trường hợp so với cùng kỳ năm 2016, trong đó nhiều nhất là Củ Chi (281 trường hợp,
Trang 36tăng 180), Cần Giờ (92 trường hợp, tăng 55), quận 9 (61 trường hợp, tăng 40) [3] Năm 2018 số giấy phép xây dựng tiếp nhận là 52.275 (trong đó gồm 232 giấy phép xây dựng do Sở Xây dựng cấp, 52.043 giấy phép xây dựng do UBND quận, huyện cấp), giảm 3.990 giấy phép so với năm 2017 (7,1%)”.Trong năm 2018, 100% công trình xây dựng đều được kiểm tra, xử lý vi phạm kịp thời
Qua kiểm tra, lực lượng quản lý xây dựng các cấp đã phát hiện 2.942 trường hợp vi phạm trật tự xây dựng (giảm 488 trường hợp tương đương 14,2% so với năm 2017)
Cụ thể, sai phép là 1.082 trường hợp; không phép là 1.008 trường hợp, các vi phạm khác là 852 trường hợp Chánh Thanh tra Sở ban hành 1.808 Quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền gần 48 tỷ đồng Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, lực lượng Thanh tra xây dựng vẫn còn gặp một số khó khăn trong việc áp dựng pháp luật; về ban hành và tổ chức thực hiện Quyết định cưỡng chế, tháo dỡ công trình vi phạm [4]
Hình 1.14 Phá dỡ nhà xây dựng không phép ấp 1, xã Vĩnh Lộc B,
huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh
1.1.4.3 Kết quả quản lý trật tự xây dựng tại thành phố Hải Phòng
Theo số liệu báo cáo của Thanh tra Xây dựng Hải Phòng, năm 2018, đã kiểm tra 5.742 công trình xây dựng Bao gồm 5.176 công trình có Giấy phép xây dựng (GPXD); 256
Trang 37công trình được miễn GPXD; 281 công trình không có GPXD và 29 công trình xây dựng trên đất không được phép xây dựng
Kết quả kiểm tra phát hiện 428 hành vi vi phạm, giảm 41% so với năm 2017 Trong
đó, 118 trường hợp xây dựng sai GPXD; Xây dựng không có GPXD 281 trường hợp
và xây dựng trên đất không được phép xây dựng là 29 trường hợp
Thanh tra Xây dựng đã đôn đốc, giám sát chính quyền địa phương ban hành các quyết định xử lý vi phạm theo thẩm quyền, buộc các trường hợp vi phạm dừng thi công công trình, khắc phục hậu quả hành vi vi phạm gây ra Địa phương đã ban hành 189 quyết định xử phạt vi phạm hành chính với tổng số tiền xử phạt 6.580,5 triệu đồng; ban hành
17 quyết định đình chỉ thi công đối với công trình vi phạm khi chủ đầu tư không chấp hành dừng thi công
Các trường hợp vi phạm đã dừng thi công, khắc phục hậu quả vi phạm Cụ thể: Đã thu nộp Kho bạc Nhà nước 5.467 triệu đồng; trong đó có 2 trường hợp áp dụng bổ sung biện pháp khắc phục hậu quả là Cty CP Đầu tư và Du lịch Gia Minh (1.850,3 triệu đồng), Cty TNHH Xuất nhập khẩu ôtô và máy công trình Hoàng Mai (866,6 triệu đồng) Bổ sung, điều chỉnh GPXD 160 trường hợp Chính quyền địa phương đôn đốc, yêu cầu chủ đầu
tư tự tháo dỡ công trình hạng mục công trình vi phạm là 38 trường hợp.[5]
Hình 1.15 Hình ảnh vi phạm trật tự xây dựng tại Hải Phòng
Trang 381.1.5 Tình hình vi phạm trật tự xây dựng trên địa bàn quận Thanh Xuân
Thời kỳ khi mới thành lập quận Thanh Xuân năm 1997 giai đoạn này chưa có quy hoạch sử dụng đất, việc lấn chiếm đất đai thường xuyên xảy ra, hình thành nhiều nhà tạm, nhà ở trên đất vườn, đất nông nghiệp, không có thống kê cụ thể số lượng vi phạm trật tự xây dựng, các con số chỉ mang tính chất minh họa Việc quản lý của các phường còn lỏng, không chủ động và ngăn chặn kịp thời
Ngay sau khi thành lập quận, cấp ủy, chính quyền đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo tăng cường công tác quản lý trật tự xây dựng nhằm nâng cao ý thức, trách nhiệm của người dân và trách nhiệm của chính quyền các cấp, xử lý những công trình vi phạm Tập trung chỉ đạo bằng nhiều giải pháp đồng bộ kết hợp với tuyên truyền, giáo dục; phân cấp quản lý, quy định trách nhiệm quản lý trật tự xây dựng đô thị cho chính quyền và các phường Bộ máy và cán bộ quản lý nhà nước về trật tự xây dựng đô thị được củng
* Năm 2017 kiểm tra 1321 trường hợp, xử phạt vi phạm hành chính 68 trường , tổng
số tiền phạt tiền 185,6 triệu đồng
* Năm 2018 kiểm tra 1307 trường hợp, xử phạt vi phạm hành chính 84 trường hợp , tổng số tiền phạt 236,0 triệu đồng
Trang 39Kết luận chương 1
Hiện nay công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị trên toàn quốc còn gặp nhiều khó khăn (tình trạng vi phạm như lấn chiếm vỉa hè, xây dựng sai phép, không phép, quảng cáo bừa bãi, lấn chiếm đất công…còn nhiều) mà nguyên nhân xuất phát từ cách thức quản lý và ý thức của các cán bộ công chức trong công tác quản lý điều hành, không sát sao thiếu giám sát, có một bộ phận cán bộ công chức được giao nhiệm vụ nhưng chưa làm hết trách nhiệm, buông lỏng quản lý, có tình trạng tiêu cực tham nhũng dẫn đến những hậu quả khôn lường trong công tác quản lý trật tự xây dựng đô thị (xây dựng không theo quy hoạch, không theo giấy phép xây dựng, sai giấy phép xây dựng,
tự tăng số lượng căn hộ, tăng số tầng làm mật độ dân số tăng cao) Cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, dân số tăng kéo theo nhiều gây áp lực làm quá tải hệ thống cơ sở
hạ tầng
Tình trạng công trình xây dựng sai phép, không phép vẫn diễn ra thường xuyên xảy ra Công tác quản lý đô thị và cấp phép xây dựng còn gặp nhiều khó khăn hạn chế, sự buông lỏng quản lý, kiểm tra, xử lý thiếu kiên quyết, một số cơ quan chưa thực sự vào cuộc để phối hợp xử lý các trường hợp vi phạm, năng lực, trình độ của một số cán bộ công chức phụ trách còn hạn chế Do vậy cần nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý trật
tự xây dựng ở quận Thanh Xuân là rất cần thiết
Trang 40CHƯƠNG 2: CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ PHÁP LÝ TRONG QUẢN LÝ TRẬT TỰ XÂY DỰNG
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý quản lý trật tự trong xây dựng
2.1.1 Cơ sở khoa học trong quản lý trật tự xây dựng
Công tác quản lý trật tự xây dựng đô thi chịu sự tác động và chi phối của hệ thống chính trị và pháp luật, sự chi phối của phát triển kinh tế xã hội trên các mặt sau đây:
- Cơ sở phương pháp luận chung là lý luận của Chủ nghĩa Mác Lê nin – tư tưởng Hồ Chí Minh
- Cơ sở lý luận chung là lý luận nhà nước về pháp luật trong đó có lý luận về tổ chức hoạt động của bộ máy nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
- Cơ sở lý luận trực tiếp là khoa học hành chính, trong đó có lý luận về chức năng và nhiệm vụ của các cơ quan hành chính nhà nước, về nội dung quản lý nhà nước trên các lĩnh vực về quản lý kinh tế, chính trị, xã hội, an ninh - quốc phòng và quản lý nhà nước về đô thị
- Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp Đô thị là nơi tập trung dân cư, chủ yếu
là lao động phi nông nghiệp sống và làm việc theo kiểu thành thị
- Quản lý nhà nước về đô thị là hoạt động của cơ quan hành chính nhà nước can thiệp vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội, tổ chức khai thác và điều hòa việc sử dụng vào các nguồn lực (bao gồm tài nguyên thiên nhiên, tài chính và con người) nhằm tạo dựng môi trường thuận lợi cho hình thức định cư ở đô thị, trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa lợi ích quốc gia và lợi ích đô thị để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững
Quản lý đô thị trước hết là sự thực thi quyền lực, nhân danh nhà nước Vì vậy, quản lý
đô thị trước hết là quản lý nhà nước ở đô thị Tuy nhiên, quản lý đô thị hiện đại đã có
sự tham gia sâu sắc của các tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp, tổ chức phi chính phủ
và cộng đồng Mặc dù vậy, quản lý đô thị vẫn thể hiện bản chất và vai trò của nhà