Trong những năm qua công tác quản lý nhà nước và thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã đạt được những kết quả nhất định, các cấp chí
Trang 1MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 15
1.1 Các khái niệm cơ bản và vai trò của thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật 15 1.2 Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật 20 1.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách đối với người khuyết tật 26 1.4 Bài học kinh nghiệm ở một số địa phương về thực hiện chính sách đối với người khuyết tật 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ
XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM 36
2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng người khuyết tật tại tỉnh Quảng Nam 36 2.2 Tình hình thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 44 2.3 Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật tại tỉnh Quảng Nam 53
CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM TRONG THỜI GIAN TỚI 59
3.1 Quan điểm, định hướng nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BTXH đối với NKT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 59
Trang 23.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách BTXH đối với NKT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam 62 3.3 Đề xuất, kiến nghị 70
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
1 ASXH An sinh xã hội
2 BTXH Bảo trợ xã hội
3 CRPD Liên hợp quốc về người khuyết tật
4 HĐND Hội đồng nhân dân
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Bảng thống kê NKT chia theo dạng tật trên địa bàn tỉnh
2.2 Bảng thống kê NKT chia theo mức độ khuyết tật trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam giai đoạn 2018 – 2020 43
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Số hiệu
2.1 Thực trạng kinh tế, xã hội Quảng Nam so với 14 tỉnh,
Trang 51
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Theo kết quả Điều tra quốc gia về người khuyết tật tại Việt Nam do Tổng cục Thống kê và UNICEF công bố, hiện nay Việt Nam có khoảng hơn 6,2 triệu người khuyết tật; gần 12 triệu người (khoảng 13% dân số) sống chung trong gia đình có người khuyết tật Đa số người khuyết tật ở Việt Nam thuộc hộ nghèo, chưa bao giờ đi học hoặc không có bằng cấp và trong độ tuổi lao động, sống ở nông thôn Công việc chính của họ là phụ giúp gia đình làm nông, lâm, ngư nghiệp; công việc không ổn định và thu nhập thấp Đây là nhóm đối tượng chịu nhiều thiệt thòi nhất trong xã hội, do đó, cần có nhiều giải pháp, chính sách để trợ giúp, đáp ứng nhu cầu học tập, lao động của người khuyết tật, góp phần bảo đảm an sinh xã hội
Việt Nam đã hình thành hệ thống trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập ở 20 tỉnh, thành phố, trong đó có 18 trung tâm cấp tỉnh và cấp huyện, 7 trung tâm giáo dục trẻ khuyết tật, 97 cơ sở giáo dục chuyên biệt Số lượng học sinh khuyết tật được đến trường trong giai đoạn 2012-2020 đã tăng khoảng 10 lần so với giai đoạn 2000-2010 Chất lượng học tập của trẻ khuyết tật được nâng cao, trên 45,8% trẻ khuyết tật được xếp loại học lực trung bình trở lên Đến nay đã có 282.000 người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo nghề và tạo việc làm, trong đó có 210.000 người khuyết tật được hỗ trợ đào tạo nghề; 50.000 người khuyết tật được tư vấn, giới thiệu việc làm; 22.000 người được vay vốn từ Quỹ Quốc gia về việc làm
Đồng thời, các cấp chính quyền địa phương, cơ quan chức năng đã góp phần tạo việc làm, hỗ trợ sinh kế cho hàng nghìn người dạy nghề Trong đó hơn 3.350 giáo viên đã tham gia dạy nghề cho người khuyết tật ở hàng trăm
Trang 62
cơ sở, mỗi năm hỗ trợ đào tạo nghề cho khoảng 20.000 người khuyết tật theo
Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn Theo kế hoạch trong năm 2021 và giai đoạn 2021-2025 sẽ có 90% người khuyết tật gặp hoàn cảnh khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng kịp thời Đó là những kết quả đáng ghi nhận, thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước ta, những quyết tâm và sự nỗ lực của các cấp chính quyền trong thực hiện chính sách bảo trợ xã hội, đào tạo nghề, tạo điều kiện thuận lợi nhất để các đối tượng người khuyết tật được tiếp cận với cuộc sống cộng đồng, tiếp cận với các dịch vụ văn hóa, y tế, thể thao, đời sống mới, hiện đại trong giai đoạn hiện nay
Trong những năm qua công tác quản lý nhà nước và thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã đạt được những kết quả nhất định, các cấp chính quyền đã tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng phối hợp với các tổ chức, đoàn thể thực hiện tốt nhiệm vụ được giao, các địa phương đã có nhiều chính sách quan tâm, tạo điều kiện cho người khuyết tật được hưởng các chế độ, chính sách bảo trợ xã hội, giúp họ hòa nhập cuộc sống Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn nhất định, việc quản lý, triển khai thực hiện chính sách ở các địa phương chưa được đồng bộ, tác động đến thực hiện chính sách bảo trợ xã hội Thực tiễn cho thấy, nhiều người khuyết tật còn gặp khó khăn trong việc tiếp cận giao thông, đi lại tại những vùng khó khăn, vùng nông thôn; các hệ thống giao thông đô thị, các công trình xây dựng chưa được quan tâm đúng mức theo tiêu chuẩn dành riêng cho người khuyết tật; người khuyết tật chưa thực
sự được tiếp cận với các hoạt động văn hóa, giải trí, thể dục thể thao ở cơ sở Một số địa phương triển khai thực hiện các Đề án trợ giúp người khuyết tật
Trang 73
(NKT), Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng còn nhiều bất cập, kinh phí thực hiện còn hạn chế
Trên cơ sở những kiến thức đã được học tập tại Học viện và thực tiễn đảm nhận nhiệm vụ công tác tại Làng Hòa Bình Quảng Nam thường xuyên tiếp xúc với những trẻ em mô côi, người khuyết tật và các đối tượng chính sách nên đã khái quát được quá trình thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh,
xuất phát từ lý do trên, tôi đã lựa chọn đề tài: “Thực hiện chính sách bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” làm Luận
văn tốt nghiệp chuyên ngành Chính sách công
2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Liên quan đến vấn đề nghiên cứu và vấn đề chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật đã được rất nhiều tác giả nghiên cứu Đặc biệt trong
đó có nhiều Luận văn Thạc sĩ và những bài viết dưới đây đã đề cập đến các khía cạnh của chính sách xã hội đối với người khuyết tật, tuy nhiên chưa có nghiên cứu một cách hệ thống về thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 8Nguyễn Thị Thu Nhàn (2016), Hoạt động thực hiện chính sách xã hội đối với người khuyết tật tại cộng đồng, Luận văn Thạc sỹ xã hội học, Trường
Đại học khoa học xã hội và nhân văn, Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn nghiên cứu hoạt động và hiệu quả thực hiện chính sách xã hội đối với người khuyết tật tại cộng đồng trên địa bàn xã Tản Lĩnh, huyện Ba Vì, thành phố
Hà Nội, đánh giá những tồn tại, hạn chế Qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách xã hội đối với người khuyết tật tại cộng đồng
Nguyễn Ngọc Hà (2016), Thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật
ở Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia Luận văn nghiên cứu việc thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật từ góc độ lý luận; Phân tích thực trạng việc thực hiện chính sách đối với TEKT
ở Việt Nam từ đó chỉ ra những nguyên nhân trong quá trình thực hiện chính sách Đồng thời đề xuất giải pháp và hoàn thiện quy trình thực hiện chính sách đối với trẻ em khuyết tật ở Việt Nam trong giai đoạn 2016 – 2026
Phạm Thị Trang (2016), Pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tại thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ Luật học,
Khoa luật, Đại học quốc gia Hà Nội Luận văn xây dựng cơ sở lý luận về
Trang 95
pháp luật trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật, dựa trên cơ sở lý luận để đánh giá về thực trạng các quy định pháp luật hiện hành, thực tiễn thực hiện trên địa bàn thành phố Hà Nội Qua đó đề xuất những giải pháp hoàn thiện pháp luật về trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật nhằm đáp ứng được yêu cầu thực tiễn về vấn đề bảo vệ, hỗ trợ và thực hiện hóa quyền của người khuyết tật
Nguyễn Thị Thế Vy (2017), Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Bình Định, Luận văn Thạc sỹ công tác
xã hội, Học viện khoa học xã hội Luận văn nghiên cứu hệ thống chính sách hiện có và thực trạng về thực hiện chính sách công tác xã hội (CTXH) đối với người khuyết tại tỉnh Bình Định, trên cơ sở đó đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách CTXH đối với NKT nói chung và tại tỉnh Bình Định nói riêng trong thời gian đến
Lương Lệ Chi (2017), Công tác xã hội trong hỗ trợ sinh kế đối với người khuyết tật tại thành phố Bắc Ninh, Luận văn Thạc sỹ công tác xã hội,
Trường Đại học lao động và xã hội Luận văn tổng hợp cơ sở lý luận về CTXH trong hỗ trợ sinh kế cho NKT; đánh giá thực trạng, nhu cầu hỗ trợ sinh kế của NKT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, thực trạng CTXH trong
hỗ trợ sinh kế (kết quả, hạn chế, nguyên nhân) đối với NKT trên địa bàn thành phố Bắc Ninh Đề xuất giáp pháp tăng cường hoạt động CTXH về quan điểm tiếp cận, quy trình, phương pháp, nội dung, điều kiện bảo đảm, chính sách… trong hỗ trợ sinh kế đối với NKT
Nguyễn Thị Hoa (2018), Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với trẻ
em khuyết tật trên địa bàn quận Đống Đa, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc
sỹ quản lý công, Học viện Hành chính quốc gia Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận chính sách và thực hiện các chính sách trợ bảo trợ xã hội (BTXH) đối với trẻ em khuyết tật (TEKT), đánh giá hoạt động thực hiện các
Trang 106
chính sách BTXH đối với TEKT trên địa bàn Quận Đống Đa, đồng thời đề xuất những giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với TEKT trên địa bàn quận Đống Đa giai đoạn 2018 – 2020
Nguyễn Thanh Hoài (2019), Pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật qua thực tiễn áp dụng tại tỉnh Quảng Bình, Luận văn Thạc sỹ Luật
học, Trường Đại học Luật, Đại học Huế Luận văn nghiên cứu một cách có
hệ thống các vấn đề lý luận để làm rõ bản chất của các quan hệ pháp lý về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật theo pháp luật, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Bình nhằm đưa ra những đánh giá có cơ sở khoa học về thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành các quy định pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Trên cơ sở đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật theo pháp luật ở nước ta hiện nay
Lê Thị Bích Quy (2020), Thực hiện chính sách đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, Luận văn Thạc sỹ quản lý công, Trường Đại học
Nội vụ Hà Nội Luận văn hệ thống hóa vấn đề lý luận thực sách người khuyết tật; đánh giá thực trạng thực sách người khuyết tật địa bàn tỉnh Lâm Đồng và
đề xuất giải pháp hoàn thiện thực sách người khuyết tật tại địa phương
Nguyễn Thị Ánh (2021), Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với phụ nữ khuyết tật tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội, Luận văn Thạc sỹ
công tác xã hội, Trường Đại học lao động xã hội Luận văn hệ thống hóa cơ
sở lý luận về Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với PNKT; Phân tích, làm rõ thực trạng việc làm của phụ nữ khuyết tật và đề xuất các giải pháp phát triển hoạt động Công tác xã hội trong hỗ trợ việc làm đối với PNKT tại huyện Sóc Sơn, thành phố Hà Nội
Một số bài viết
Trang 117
Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt Nam (2012), đề tài nghiên cứu “Mô hình hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại cộng đồng” đã nghiên cứu cơ sở lý luận, thực tiễn trong nước và quốc tế có liên quan đến NKT, bảo trợ xã hội đối với NKT và hỗ trợ sinh kế cho NKT Nghiên cứu này, đã tổng hợp đánh giá mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT ở nước ta giai đoạn 2008 - 2010 Từ kết quả đánh giá thực tiễn, nghiên cứu này đã xây dựng
và đề xuất mô hình phù hợp trong giai đoạn tới Nghiên cứu đề xuất quan điểm, định hướng về công tác hỗ trợ cho NKT giai đoạn 2011 - 2020 và nghiên cứu, xây dựng mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT Trong đó đã đề xuất giải pháp để thực hiện quyền, cũng như hỗ trợ NKT hòa nhập vào cộng đồng,
xã hội, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách và thực hiện nhiều giải pháp trợ giúp người khuyết tật Trong quá trình thực hiện chính sách, giải pháp hỗ trợ đã xuất hiện nhiều mô hình, cách làm hiệu quả thiết thực cần
được tổng kết đánh giá để nhân rộng
Tạp chí lao động và xã hội online (2016), Những khó khăn trong việc thực hiện chính sách trợ giúp người khuyết tật và một số đề xuất, Cổng thông
tin điện tử Tạp chí lao động và xã hội online http://laodongxahoi.net/, cập nhật ngày 17/08/2016 Bài viết đã đánh giá, trong thời gian qua, việc thực hiện chính sách pháp luật về NKT đã tạo ra những chuyển biến tích cực đối với cuộc sống của đối tượng Sự thay đổi về nhận thức xã hội giúp cho NKT
tự tin hơn, hòa nhập vào đời sống xã hội ngày càng thuận lợi Với vai trò chủ đạo của Nhà nước, hoạt động trợ giúp NKT đã thu hút sự quan tâm, phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành, tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư, từng bước giảm dần những rào cản, cải thiện một bước việc đáp ứng các nhu cầu, quyền lợi của NKT, tạo động lực để họ phát huy năng lực, vươn lên hòa nhập với xã hội Đồng thời đề xuất với cơ quan có thẩm quyền nghiên cứu ban hành một số luật liên quan đến NKT như: Luật Trợ giúp xã hội, Luật Sức
Trang 128
khỏe tâm thần; xây dựng kế hoạch tổ chức thực hiện Công ước quốc tế về quyền của NKT Rà soát sửa đổi, bổ sung các chế độ, chính sách về dạy nghề, tạo việc làm ; đối với các địa phương cần tăng cường thực hiện quản
lý Nhà nước về công tác NKT, cụ thể hóa các mục tiêu, giải pháp về công tác NKT vào chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương, ban hành các chính sách cụ thể tạo điều kiện cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân tham gia các hoạt động trợ giúp NKT
Nguyễn Đức Minh (2017), “Chính sách giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật Việt Nam” Bài viết khẳng định Đảng và Nhà nước đã tạo sự bình đẳng
cho trẻ em khuyết tật Việt Nam cơ hội tiếp cận với giáo dục hòa nhập, nhưng trên thực tế tỷ lệ trẻ tiếp cận với lĩnh vực này còn rất hạn chế, đó là do những quy định trong luật người khuyết tật chưa sát với thực tiễn, chính sách chưa
cụ thể, việc xác nhận là người khuyết tật thường được kiểm tra bằng y tế, chưa sử dụng các hình thức kiểm tra tâm lý do đó nhiều trẻ em là trẻ khuyết tật chưa được xác định đúng về mức độ khuyết tật của mình
Thụy Bình (2017), “Về vấn đề gia tăng và một số giải pháp giảm thiểu
sự gia tăng người khuyết tật”, Tạp chí người khuyết tật Bài báo đề cập giải
pháp giảm thiểu sự gia tăng người khuyết tật và trẻ em khuyết tật
Thu Hà (2018), Chính sách đối với giáo dục người khuyết tật, Trang
thông tin điện tử Nhân dân Online https://www.qdnd.vn/, cập nhật ngày 30/3/2018 Bài viết đã khái quát những vấn đề được các đại biểu đề cập đến trong Hội thảo Đối thoại chính sách về giáo dục hòa nhập trẻ khuyết tật do
Bộ GD-ĐT phối hợp với tổ chức UNICEF tại Hà Nội Hội thảo trao đổi về thực trạng, những thách thức và các chính sách hỗ trợ giáo dục TKT trong cơ
sở giáo dục, từ đó đề xuất kế hoạch hỗ trợ các hoạt động giáo dục NKT trong thời gian tới Đồng thời đề cập đến hàng loạt các nhiệm vụ, chính sách nhằm khắc phục những khó khăn, bất cập về: Môi trường học tập, sinh hoạt của
Trang 13về chính sách trợ giúp xã hội, chăm sóc sức khỏe; chăm sóc đời sống văn hóa tinh thần đối với NCT, NKT Bài viết cũng đánh giá, chính sách có nhưng chúng ta làm chưa tốt nên chưa khuyến khích được doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực này; Nhà nước có trách nhiệm phải chăm lo cho họ và khuyến khích họ tham gia lao động sản xuất Vì thế khi sửa Luật Lao động chúng ta chuyển sang hướng khuyến khích doanh nghiệp nhận lao động là NKT Các
cơ quan có thẩm quyền tiếp thu các ý kiến và sẽ tham mưu với Chính phủ để điều chỉnh chính sách đối với NCT, NKT cho phù hợp trong thời gian đến
Nguyễn Minh Phong (2020), Đẩy mạnh công tác xã hội đối với người khuyết tật, Trang thông tin điện tử Báo nhân dân https://nhandan.com.vn/,
cập nhật ngày 02/12/2020 Tác giả đã khái quát nội dung Hội thảo của đại diện Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), Chương trình Phát triển
Trang 14cơ quan chức năng và địa phương cần tập trung rà soát, đánh giá các đề án chương trình giai đoạn tới
Từ những công trình, bài viết nghiên cứu trên có thấy, thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là trách nhiệm của các cấp chính quyền địa phương, các cơ quan chức năng và cả cộng đồng cần tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật, nâng cao nhận thức cho cán bộ, công chức
và mọi tầng lớp nhân dân về việc triển khai thực hiện chính sách đối với
Trang 15khuyết tật, trên cơ sở đó tập trung phân tích, nghiên cứu Đề tài về “Thực
hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam” Hy vọng sẽ có những đóng góp triển khai hiệu quả chính sách
và hoàn thiện thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong giai đoạn hiện nay
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về thực hiện chăm sóc người khuyết tật và chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam, luận văn nghiên cứu hệ thống các chính sách hiện có và đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm góp phần tăng cường thực hiện hiệu quả chính sách này đối với
NKT trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
+ Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách Bảo trợ xã
hội đối với người khuyết tật
+ Phân tích thực trạng chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh, đánh giá những thành công, hạn chế và nguyên nhân hạn chế trong thực hiện chính sách trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ 2018 đến năm
2020
Trang 1612
+ Đề xuất các giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả chính sách Bảo trợ xã
hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian đến
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận và thực trạng thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng
- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách bảo trợ xã
hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam từ năm 2018 đến năm 2020
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý luận
Luận văn sử dụng các quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
về chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật; sử dụng phương pháp
duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phân tích tài liệu, nghiên cứu lý luận kết hợp với nghiên cứu thực tiễn, phân tích tổng hợp những quy định pháp luật và thực thi pháp luật về chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ
Trang 1713
Chí Minh, quan điểm, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay, Luận văn sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu: Dựa vào các nguồn thông
tin được thu thập, tổng hợp thành các bảng biểu số liệu qua các năm làm cơ
sở cho việc đánh giá chính sách
+ Phương pháp phân tích tài liệu: sử dụng các kỹ thuật chuyên môn nhằm thu thập thông tin, số liệu, tài liệu từ các nguồn tài liệu đã được công
bố sử dụng những thông tin cần thiết phục vụ cho quá trình nghiên cứu
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn vận dụng cơ sở lý thuyết phân tích về bảo trợ xã hội đối với NKT vào trường hợp tỉnh Quảng Nam, từ đó góp phần bổ sung thêm khung phân tích chính sách công ở Việt Nam
7 Kết cấu của Luận văn
Luận văn Thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam được chia làm 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách Bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật
Chương 2 Thực trạng thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội đối với
người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 1814
Chương 3 Một số quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện
Chính sách Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian tới
Trang 1915
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH
BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1 Các khái niệm cơ bản và vai trò của thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật
1.1.1 Một số khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Thực hiện chính sách
Thực hiện chính sách là một quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách đối với các đối tượng được quản lý, điều chỉnh các quan hệ xã hội đáp ứng được mục tiêu đặt ra Tổ chức thực thi chính sách bao gồm các bước thực hiện theo quy trình trong một hệ thống chính sách [53]
Điều 1 Công ước về quyền của Người khuyết tật của Liên hợp quốc năm 2006 quy định: “Người khuyết tật bao gồm những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ
và hiệu quả của những người khuyết tật vào xã hội trên cơ sở bình đẳng với những người khác” [44]
Trước khi Luật Người khuyết tật năm 2010 có hiệu lực, pháp luật Việt Nam nhìn nhận người khuyết tật dưới góc độ “Người tàn tật” Theo quy định của Pháp lệnh Người tàn tật năm 1998, “người tàn tật không phân biệt nguồn gốc gây ra tàn tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể
Trang 2016
hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả năng hoạt động, khiến cho việc lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn.”
Theo quy định tại khoản 1 – Điều 2 – Luật Người khuyết tật năm 2010 định nghĩa “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [48]
1.1.1.3 Bảo trợ xã hội
Theo từ điển Tiếng Việt cụm từ “Bảo trợ” có nghĩa là giúp đỡ cho tổ chức hoặc cá nhân có khó khăn về vật chất trong cuộc sống Còn cụm từ “Trợ giúp” có nghĩa giúp đỡ về vật chất cho đỡ khó khăn, thiếu thốn Hai thuật ngữ “bảo trợ xã hội” và “trợ giúp xã hội” có nghĩa gần tương đồng nhau tuy nhiên trong các văn bản, sách báo và giáo trình hiện nay phần lớn sử dụng thuật ngữ “trợ giúp xã hội” Các văn bản pháp luật về bảo trợ xã hội hiện hành sử dụng cụm từ “trợ giúp xã hội thường xuyên” thay cho “bảo trợ xã hội
thường xuyên” hay “cứu tế xã hội thường xuyên”
Theo khái niệm của Quỹ Nhi đồng Liên Hiệp Quốc (UNICEF): Bảo trợ xã hội bao gồm một loạt các chính sách và chương trình cần thiết để giảm hậu quả trong cuộc sống nghèo đói và khó khăn của người dân, hay những thiếu thốn không những về vật chất mà còn là tinh thần Các chương trình hay được tổ chức như: chuyển tiền mặt hỗ trợ cho trẻ em khó khăn, giúp phát triển kỹ năng sống và hơn thế nữa giúp kết nối các gia đình với chăm sóc sức khỏe, thực phẩm bổ dưỡng và giáo dục chất lượng để cung cấp cho tất cả trẻ
em, bất kể chúng sinh ra trong hoàn cảnh nào, một cơ hội công bằng trong cuộc sống
Ở tại Việt Nam bảo trợ xã hội có thể hiểu là sự giúp đỡ của Nhà nước,
xã hội, cộng đồng bằng những biện pháp và các hình thức khác nhau đối với
Trang 2117
các đối tượng bị lâm vào cảnh rủi ro, bất hạn, nghèo đói… vì nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến không đủ khả năng tự lo liệu được cho cuộc sống tối thiểu của bản thân và gia đình, nhằm giúp họ tránh được mối đe dọa của cuộc sống thường nhật hoặc giúp họ vượt qua những khó khăn, ổn định cuộc sống và hòa nhập cộng đồng [5]
Bảo trợ xã hội không chỉ nhằm đảm bảo phúc lợi cho những người nghèo nhất mà hơn thế, nhằm xây dựng nền tảng cho phát triển năng lực của con người; Cải thiện công bằng xã hội; Củng cố tính cấu kết của cộng đồng
và xã hội; Thúc đẩy phát triển kinh tế
Bảo trợ xã hội là những hành động của nhà nước nhằm phản ứng lại với mức độ không chấp nhận được về mặt xã hội của tình trạng dễ bị tổn thương, sự khốn cùng và rủi ro trong khuôn khổ của một chính thể và xã hội [2]
1.1.1.4 Bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Xuất phát từ khái niệm BTXH nói chung, BTXH đối với NKT được hiểu là tổng hợp các cơ chế, chính sách và các giải pháp của Nhà nước và cộng đồng xã hội nhằm trợ giúp và bảo vệ cho NKT, trước hết và chủ yếu là những khoản trợ cấp, hỗ trợ và các chi phí khác nhằm giúp cho đối tượng ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
1.1.2 Vai trò của thực hiện chính sách BTXH đối với NKT
1.1.2.1 Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp chính quyền và nhân dân trong thực hiện chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước
Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, tạo chuyển biến sâu sắc về nhận thức, trách nhiệm trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và các tầng lớp nhân dân về công tác người khuyết tật Tích cực đổi mới nội dung, hình thức tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cho người khuyết tật bằng hình thức phù hợp Tăng
Trang 2218
cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cấp uỷ, tổ chức đảng trong thực hiện đường lối, quan điểm của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với người khuyết tật; hỗ trợ, tạo điều kiện phát huy năng lực của người khuyết tật và các tổ chức người khuyết tật để làm tốt vai trò đại diện, tập hợp, đoàn kết, là cầu nối giữa người khuyết tật với Đảng, Nhà nước; bảo đảm kết hợp chặt chẽ, hợp lý giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, hướng tới một xã hội không rào cản đối với người khuyết tật
1.1.2.2 Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước trong thực hiện chính
sách, pháp luật về người khuyết tật
Tiếp tục thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng; sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật bảo đảm thống nhất, đồng bộ, khả thi, phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội đất nước và các cam kết quốc tế, góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội và an sinh xã hội, thực hiện mục tiêu công bằng xã hội Nâng dần mức trợ cấp xã hội phù hợp với các mức sống trong xã hội, khả năng ngân sách nhà nước; có chính sách tăng số lượng người khuyết tật tham gia mạng lưới an sinh xã hội; tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật tiếp cận các chính sách giáo dục, học nghề, việc làm, tín dụng, bảo trợ xã hội, hoạt động văn hoá, thể dục, thể thao, giải trí, du lịch, đi lại
Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình trợ giúp người khuyết tật; khuyến khích người khuyết tật có khả năng học tập, lao động khắc phục khó khăn, vươn lên sống độc lập, hoà nhập xã hội, góp phần vào phát triển kinh tế - xã hội và giúp đỡ người khuyết tật khác Xây dựng tiêu chuẩn các cơ sở hạ tầng thiết yếu phù hợp cuộc sống của người khuyết tật, tạo cơ hội bình đẳng cho người khuyết tật
Trang 2319
Tăng cường kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật trong việc thực hiện chính sách, pháp luật về người khuyết tật
1.1.2.3 Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động trợ giúp người khuyết tật
Nâng cao trách nhiệm của toàn xã hội trong việc chăm lo, giúp đỡ người khuyết tật và các tổ chức của người khuyết tật; vận động nguồn lực xã hội hỗ trợ cho cuộc sống người khuyết tật và hội viên các tổ chức của người khuyết tật Có cơ chế, chính sách khuyến khích sự tham gia của khu vực ngoài nhà nước đầu tư cho các mô hình phi lợi nhuận chăm sóc người khuyết tật, nhất là người khuyết tật nặng, đặc biệt nặng, phụ nữ, trẻ em khuyết tật, người khuyết tật cao tuổi Tạo điều kiện cho tổ chức của người khuyết tật có
đủ năng lực tham gia thực hiện các dịch vụ công của Nhà nước
1.1.2.4 Phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức xã hội đối với các tổ chức của
người khuyết tật
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức
xã hội tiếp tục nâng cao hiệu quả các cuộc vận động, các phong trào chăm lo, giúp đỡ người khuyết tật; tăng cường quan hệ phối hợp trong các hoạt động trợ giúp người khuyết tật; lồng ghép các cuộc vận động, các phong trào thi đua gắn với việc chăm lo đời sống người khuyết tật ngày càng tốt hơn Tạo điều kiện thúc đẩy quan hệ phối hợp giữa các tổ chức của người khuyết tật với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm trao đổi kinh nghiệm, hỗ trợ, giúp
đỡ lẫn nhau nâng cao hiệu quả hoạt động
1.1.2.5 Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức của
người khuyết tật
Tích cực đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các tổ chức của người khuyết tật theo phương châm "Tăng cường đoàn kết, chủ động vươn lên, bình đẳng, hoà nhập với cộng đồng" Đề cao trách nhiệm và
Trang 2420
sự chủ động của các tổ chức của người khuyết tật trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, các phong trào, các cuộc vận động trong người khuyết tật Thường xuyên giới thiệu, tuyên truyền để nhân rộng trong cả nước những tấm gương tiêu biểu vượt khó vươn lên của người khuyết tật, những cách làm hay trong hoạt động của các tổ chức của người khuyết tật
1.1.2.6 Giúp người khuyết tật hòa nhập cộng đồng
Trong xây dựng và triển khai các mô hình sinh kế cho NKT cần tập trung thực hiện mô hình đào tạo nghề gắn với việc làm doanh nghiệp, cơ sở sản xuất; mô hình đào tạo nghề gắn với sinh kế cho NKT; mô hình phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng nhằm giảm thiểu định kiến xã hội về năng lực của NKT giúp họ tự tin trong cuộc sống, hòa nhập cộng đồng
1.2 Thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
1.2.1 Các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
* Trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng
1 Đối tượng hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng bao gồm:
a) Người khuyết tật đặc biệt nặng, trừ trường hợp quy định
b) Người khuyết tật nặng
2 Đối tượng được hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng bao gồm: a) Gia đình có người khuyết tật đặc biệt nặng đang trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc người đó;
b) Người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng; c) Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này đang mang thai hoặc nuôi con dưới 36 tháng tuổi
3 Người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này là trẻ em, người cao tuổi được hưởng mức trợ cấp cao hơn đối tượng khác cùng mức độ khuyết tật
Trang 2521
4 Mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng đối với từng loại đối tượng theo quy định tại Điều này do Chính phủ quy định
* Nuôi dưỡng người khuyết tật trong cơ sở bảo trợ xã hội
1 Người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội
2 Nhà nước cấp kinh phí nuôi dưỡng người khuyết tật quy định tại khoản 1 Điều này cho các cơ sở bảo trợ xã hội bao gồm:
Người khuyết tật đang hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng được hỗ trợ chi phí mai táng khi chết Chính phủ quy định mức hỗ trợ chi phí mai táng
* Cơ sở chăm sóc người khuyết tật
1 Cơ sở chăm sóc người khuyết tật là cơ sở nuôi dưỡng, cung cấp dịch
vụ tư vấn, trợ giúp người khuyết tật
2 Cơ sở chăm sóc người khuyết tật bao gồm:
a) Cơ sở bảo trợ xã hội;
b) Cơ sở dịch vụ hỗ trợ người khuyết tật;
c) Trung tâm hỗ trợ người khuyết tật sống độc lập;
d) Cơ sở chăm sóc người khuyết tật khác
3 Chính phủ quy định điều kiện thành lập, hoạt động, giải thể cơ sở chăm sóc người khuyết tật
4 Nhà nước đầu tư cơ sở vật chất và bảo đảm kinh phí hoạt động cho
cơ sở chăm sóc người khuyết tật công lập
* Xã hội hóa hoạt động trợ giúp người khuyết tật
1 Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư, tài trợ, trợ giúp về tài chính, kỹ thuật để thực hiện hoạt động chỉnh hình, phục hồi chức năng, chăm sóc, giáo dục, dạy nghề, tạo việc làm, cung cấp dịch vụ khác trợ giúp người khuyết tật
Trang 26* Quỹ trợ giúp người khuyết tật
1 Quỹ trợ giúp người khuyết tật là quỹ xã hội từ thiện nhằm huy động nguồn lực trợ giúp người khuyết tật
2 Quỹ trợ giúp người khuyết tật được hình thành từ các nguồn như đóng góp tự nguyện, tài trợ của tổ chức, cá nhân trong nước, nước ngoài; Hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; Các khoản thu hợp pháp khác
3 Quỹ trợ giúp người khuyết tật được thành lập và hoạt động theo quy định [48]
Các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật bao gồm mức chuẩn xác định các mức trợ cấp xã hội, mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng và mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng; Hệ số tính mức trợ cấp xã hội hàng tháng, mức hỗ trợ chi phí mai táng; Hệ số tính mức hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng; Hệ số tính mức trợ cấp nuôi dưỡng hàng tháng và các mức cấp kinh phí chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng trong cơ sở bảo trợ xã hội; Điều kiện đối với người nhận nuôi dưỡng, chăm sóc người khuyết tật đặc biệt nặng; Hồ sơ đề nghị trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng; Thủ tục thực hiện trợ cấp xã hội, hỗ trợ kinh phí chăm sóc hàng tháng; Hồ sơ, thủ tục hỗ trợ chi phí mai táng; Hồ sơ, thủ tục, tiếp nhận người khuyết tật đặc biệt nặng vào nuôi dưỡng chăm sóc trong cơ sở bảo trợ
xã hội [22]
1.2.2 Các bước thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Trang 27có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để điều chỉnh, thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Đồng thời tham mưu giúp Chính phủ, Quốc hội ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, các văn bản hướng dẫn thi hành liên quan đến công tác bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật tại các địa phương
Để đạt được hiệu quả cao trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, điều trước tiên cần phải xây dựng kế hoạch cụ thể, chi tiết và rõ ràng như: kế hoạch tổ chức điều hành, kế hoạch cung cấp nguồn nhân lực, kế hoạch thời gian triển khai thực hiện, kế hoạch kiểm tra đôn đốc thực hiện chính sách Qua đó, nhằm cụ thể hóa các nội dung hoạt động của Kế hoạch phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương; chỉ đạo triển khai thực hiện các nội dung của Kế hoạch tại địa phương mình.… Bố trí kinh phí, nhân lực, cơ sở vật chất thực hiện các hoạt động của Kế hoạch trên địa bàn đạt hiệu quả
1.2.2.2 Phổ biến, tuyên truyền thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Các cấp, các ngành xác định công tác thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị theo hướng tổ chức Đảng tập trung lãnh đạo, chính quyền tích cực triển khai thực hiện, các đoàn thể và các cơ quan liên quan tích cực tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật về Luật người khuyết tật nói chung và quy định của pháp luật về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nói riêng, vận động
Trang 2824
nhân dân thực hiện đúng chủ trương, chính sách, đồng thời đảm bảo quyền lợi của người khuyết tật Trong thời gian triển khai thực hiện chính sách các cấp chính quyền địa phương luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, thực hiện thuyết phục cán bộ, công chức và nhân dân chấp hành các chủ trương của Đảng, thực hiện tốt các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, bảo đảm thực hiện đạt kế hoạch của các địa phương hàng năm
Qua việc thực hiện công tác tuyên truyền đã tác động rất lớn đến tư tưởng, nhận thức của người dân, tổ chức, cộng đồng trong việc phối hợp, chấp hành, triển khai thực hiện công tác bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật đạt kết quả tốt Nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, thực tiễn áp dụng đúng đắn, tuân thủ triệt để pháp luật, thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật đã giúp cho mọi đối tượng người khuyết tật được chăm sóc sức khỏe, đào tạo, dạy nghề, tạo việc làm, được hòa nhập cộng đồng, từng bước nâng cao đời sống nhân dân, góp phần phát triển kinh
tế, an sinh xã hội đạt hiệu quả trong thực tiễn [53, tr.1]
1.2.2.3 Tổ chức triển khai, đôn đốc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Trong quá trình đổi mới, xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, cùng với việc phát triển kinh tế, thì giải quyết các vấn đề xã hội,
an sinh xã hội là một trong những nội dung quan trọng nhằm đảm bảo mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Trong đó, việc xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách BTXH cho người khuyết tật (NKT) là một trong những nội dung quan trọng trong công tác trợ giúp người khuyết tật ổn định cuộc sống, hòa nhập cộng đồng, là một trong những yếu tố căn bản đảm bảo thực hiện quyền người khuyết tật theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền của người khuyết tật
Trang 2925
(CRPD) Đây là vấn đề luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm, chỉ đạo nhằm giúp người khuyết tật phát huy hết khả năng của mình; tạo điều kiện để người khuyết tật vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội, góp phần xây dựng cộng đồng và xã hội
Đôn đốc việc thực hiện chính sách BTXH đối với NKT là việc làm thường xuyên, liên tục của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền trong việc xác nhận và chi trả trợ cấp cho các đối tượng Qua quá trình tổ chức triển khai, gắn với việc đôn đốc kịp thời phát hiện các vấn đề phát sinh, tồn tại trong quá trình thực hiện, từ đó tham mưu, điều chỉnh, sửa đổi hoàn thiện chính sách hơn nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong việc thực hiện chính sách
1.2.2.4 Thanh tra, kiểm tra, giám sát việc về thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Thanh tra, kiểm tra để tìm ra những địa phương điển hình, thực hiện, áp dụng pháp luật người khuyết tật, các văn bản hướng dẫn và triển khai thực hiện chính sách đạt kết quả; phát hiện các địa phương chưa chỉ đạo sâu sát
và giám sát chặt chẽ việc thực hiện pháp luật người khuyết tật và các chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Thông qua công tác triển khai thực hiện chính sách, thực hiện thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật nhằm nêu cao trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền theo quy định của Luật người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn, nâng cao năng lực, trách nhiệm cán bộ, công chức và các tổ chức, cộng đồng trong việc thực thi chính sách về bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
1.2.2.5 Đánh giá, rút kinh nghiệm công tác thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật
Trang 3026
Đánh giá, rút kinh nghiệm là quá trình xem xét việc điều hành và chấp hành thực thi chính sách, là nhiệm vụ cần thiết của các cấp chính quyền địa phương Qua đó đánh giá thực chất hiệu quả thực hiện chính sách và những bài học kinh nghiệm để áp dụng, sửa đổi, bổ sung chính sách phù hợp trong giai đoạn tiếp theo Đảm bảo thực hiện hiệu quả quá trình này nhằm ổn định cuộc sống người dân, tăng cường an sinh xã hội, phát triển kinh tế bền vững tại các địa phương
Qua công tác này để các cấp chính quyền địa phương, công chức thực hiện nhiệm vụ có thể chia sẻ những kinh nghiệm trong quá trình triển khai thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật Đồng thời chia
sẻ những bất cập của pháp luật, những vướng mắc, khó khăn trong quá trình thực hiện, áp dụng pháp luật trong thực tiễn, đề xuất những sáng kiến, giải pháp thực hiện hiệu quả, nâng cao vai trò của mỗi cá nhân, tổ chức, cộng đồng và các cấp chính quyền trong việc tham gia thực hiện chính sách bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật ở cơ sở, nhằm tăng cường công tác phối hợp, tạo sự chuyển biến tích cực về nhận thức, hoạt động trợ giúp NKT của người dân và các cấp chính quyền nhằm thúc đẩy sự chuyển biến tích cực trong công tác đào tạo nghề, tạo sinh kế phù hợp giúp NKT tự tin, tự lập trong cuộc sống, bảo đảm thực thi chính sách này tại các địa phương trong giai đoạn hiện nay
1.3 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách BTXH đối với người khuyết tật
1.3.1 Yếu tố bản thân chính sách
Chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật được xây dựng, ban hành và sửa đổi bổ sung từ Pháp lệnh Người tàn tật, Luật Người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn thi hành
Trang 3127
Theo quy định của pháp luật, người khuyết tật nặng và khuyết tật đặc biệt nặng là đối tượng được hưởng trợ giúp xã hội thường xuyên Tuy nhiên, trên thực tế còn nhiều đối tượng khác cần sự giúp đỡ về vật chất hoặc tinh thần của Nhà nước và cộng đồng nhưng chưa được pháp luật quy định như người mắc bệnh tâm thần, bệnh tự kỷ, bệnh trầm cảm; mức tiền lương cơ sở hiện nay đã thay đổi nhưng mức trợ cấp đối với các đối tượng trợ giúp xã hội
là người khuyết tật không thay đổi… Chính vì vậy, khi thực hiện các chính sách xã hội, bảo trợ xã hội sẽ gặp nhiều khó khăn, thiếu đồng bộ, ảnh hưởng đến quyền lợi của những người khuyết tật nói chung và người khuyết tật nặng
và khuyết tật đặc biệt nặng nói riêng tại các địa phương
Từ những phân tích trên cho thấy bản thân những quy định của chính sách đã tác động đến việc triển khai thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật tại các địa phương Nếu chính sách được ban hành phù hợp với tình hình thực tế tại các địa phương sẽ giúp cho các cấp chính quyền địa phương thực hiện chính sách đạt hiệu quả và ngược lại
1.3.2 Chủ thể thực hiện chính sách
Vấn đề thực hiện bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật là một vấn đề rất nhạy cảm vì nó tác động, ảnh hưởng cực kỳ lớn đến tâm lý, cuộc sống, sự hòa nhập, bình đẳng của người khuyết tật tại các địa phương Chính vì những vấn đề này, đòi hỏi các tổ chức, cộng đồng, cán bộ, công chức thực thi công
vụ, thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật, ngoài những việc am hiểu chính sách pháp luật, cần phải có những kỹ năng nghiệp vụ để chia sẻ, đồng cảm, động viên, hiểu được tâm lý của từng người khuyết tật, nâng cao nhận thức pháp luật, chấp hành chủ trương của nhà nước về chính sách bảo trợ xã hội, bảo vệ quyền lợi cho họ và thực hiện chính sách đạt hiệu quả tại địa phương
Trang 3228
Nếu tổ chức, cộng đồng xã hội, công chức thực hiện công vụ không có tâm, thiếu tinh thần trách nhiệm sẽ không cảm nhận, thấu hiểu được những tâm tư, tình cảm của những người khuyết tật, không nhận được sự đồng thuận của mọi người trong việc thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở cơ sở Năng lực của đội ngũ công chức, chủ thể thực hiện chính sách làm công tác xã hội, bảo trợ xã hội, thiện nguyện cũng tác động lớn đến đời sống, sinh hoạt của NKT và hiệu quả thực hiện chính sách này
Trong những năm qua, Đảng ta tiến hành đổi mới phương thức lãnh đạo trên nhiều khía cạnh song có một điểm thống nhất, xuyên suốt đó là Đảng đề
ra chủ trương đường lối còn việc cụ thể hóa những ý tưởng đó thông qua các văn bản quy phạm pháp luật đó là công việc của Nhà nước Để thực hiện được vấn đề nêu trên một cách có hiệu quả thì chính sách trong nội bộ Đảng phải giải quyết được ba vấn đề:
Một là, có phương thức để thu thập ý kiến phù hợp để xác định vấn đề chính sách công cho đúng và trúng Thường những ý kiến có được từ nguồn thông tin và đánh giá tình hình của chính đội ngũ đảng viên làm việc trong bộ máy nhà nước
Hai là, đảm bảo cho các khâu tiếp theo của chính sách không đi trệch khỏi vấn đề cần giải quyết được đặt ra ban đầu
Ba là, chính sách nội bộ của Đảng phải đồng bộ, phù hợp với chính sách của Đảng như là công cụ để lãnh đạo đất nước nhằm giúp cho các đảng viên của đảng được cử tham gia vào bộ máy nhà nước có thể hoàn thành đồng thời hai chức trách của mình
Tóm lại, Đảng Cộng sản Việt Nam, xét ở phạm vi quốc gia là chủ thể chính sách công ở Việt Nam hiện nay Với tư cách là chủ thể có vai trò quan
Trang 3329
trọng nhất, Đảng sẽ tham gia như thế nào trong quá trình thực hiện chính sách sẽ có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sự vận động và phát triển của đất nước ta trong tương lai [34]
1.3.3 Đối tượng chịu tác động của chính sách
Hầu hết các chính sách về bảo trợ xã hội đều liên quan đến đời sống những người yếu thế, người khuyết tật, nhân dân ở các địa phương Nếu chính sách triển khai được sự đồng thuận, nhất trí cao của cán bộ, công chức, các tổ chức, doanh nghiệp, cộng đồng xã hội và người dân thì quá trình thực hiện sẽ gặp nhiều thuận lợi, bảo đảm mọi chế độ, chính sách bảo trợ xã hội cho mọi đối tượng người khuyết tật được thực hiện đúng đối tượng, đáp ứng được nguyện vọng của mọi tầng lớp nhân dân Đồng thời góp phần triển khai thực hiện các Đề án, Dự án trợ giúp NKT đúng tiến độ, hiệu quả; triển khai thực hiện chính sách phù hợp với từng đối tượng, từng khu dân cư và hoạt động các tổ chức bảo trợ xã hội, cơ sở chăm sóc nuôi dưỡng người khuyết tật tại các địa phương
Nếu cán bộ, công chức và cả cộng đồng xã hội có ý thức trách nhiệm tốt thì công tác này sẽ triển khai nhanh chóng, hiệu quả Ngược lại, nếu đối tượng chịu tác động của chính sách không hợp tác, không đáp ứng được yêu cầu nguyện vọng của những người khuyết tật thì công tác xây dựng kế hoạch, triển khai chính sách bảo trợ xã hội sẽ gặp nhiều trở ngại, khó khăn Chính vì vậy đối tượng chịu tác động của chính sách, có vai trò quyết định sự thành bại trong quá trình triển khai thực hiện
1.3.4 Điều kiện tài chính và cơ sở vật chất để thực thi chính sách
Yếu tố này có ý nghĩa quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi chính sách của nhà nước Nguồn lực tài chính và cơ sở vật chất cho thực thi chính sách có đầy đủ hay không cũng là một yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực
Trang 3430
thi chính sách Ngay cả khi chính sách được ban hành rất rõ ràng, cụ thể, nhưng nếu cơ quan thực thi chính sách thiếu nguồn lực cần thiết, thì kết quả của việc thực thi chính sách đó cũng không thể đạt được mục tiêu chính sách như mong muốn Vì thế, bảo đảm nguồn lực cho thực thi chính sách là yếu tố không thể thiếu để thực thi chính sách có hiệu quả Nguồn lực cho thực thi chính sách bao gồm: nguồn lực kinh phí, nguồn lực con người (nguồn nhân lực), nguồn lực thông tin, nguồn lực thiết bị Theo đó, cơ quan có thẩm quyền, chính quyền địa phương cần quan tâm phân bổ kinh phí để đáp ứng yêu cầu thực thi chính sách; đảm bảo nguồn nhân lực, chất lượng triển khai thực hiện chính sách
1.4 Bài học kinh nghiệm ở một số địa phương về thực hiện chính sách đối với người khuyết tật
1.4.1 Kinh nghiệm trong thực hiện chính sách dành cho NKT tại tỉnh Quảng Ngãi
Tỉnh Quảng Ngãi ban hành Kế hoạch số 66/KH-UBND về việc triển khai thực hiện Chính sách trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2016 – 2020 Theo đó, các cấp các ngành xác định tạo bước chuyển biến trong nhận thức của cộng đồng về các quyền của người khuyết tật; đẩy mạnh hoạt động truyền thông về trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật để đông đảo người khuyết tật biết về quyền được trợ giúp pháp lý
và tiếp cận với dịch vụ pháp lý miễn phí này; đồng thời, tăng cường năng lực
và hiệu quả hoạt động trợ giúp pháp lý cho đối tượng là người khuyết tật, tập trung thực hiện vụ việc trợ giúp pháp lý (trong đó, chú trọng thực hiện vụ việc tham gia tố tụng, đại điện ngoài tố tụng và tư vấn pháp luật tiền tố tụng) cho người khuyết tật khi họ có yêu cầu
Thực hiện Công văn số 4068-CV/TU ngày 20/12/2019 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về triển khai thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW ngày
Trang 3531
01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật, Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch số 30/KH-UBND ngày 20/02/2020 của UBND tỉnh Quảng Ngãi triển khai thực hiện Chỉ thị 39-CT/TW ngày 01/11/2019 của Ban Bí thư về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác người khuyết tật trên địa bàn tỉnh
Trên cơ sở đó giao cho các ngành Sở Lao động - Thương binh và Xã hội; Sở Kế hoạch và Đầu tư; Sở Tài chính; Sở Y tế; Sở Giáo dục và Đào tạo;
Sở Xây dựng; Sở Giao thông vận tải; Sở Thông tin và Truyền thông; Sở Nội vụ; Sở Tư pháp; Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch; Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố; Các Hội: Người khuyết tật, Người mù, Chữ thập đỏ, Nạn nhân chất độc da cam/dioxin tỉnh Phối hợp với chính quyền địa phương vận động các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hỗ trợ và giúp đỡ người khuyết tật Thường xuyên giới thiệu, tuyên truyền để nhân rộng những tấm gương tiêu biểu vượt khó vươn lên của người khuyết tật, những tổ chức, cá nhân tích cực trong các hoạt động trợ giúp khuyết tật, những cách làm hay trong hoạt động của Hội Đồng thời chú trọng đầu tư các cơ sở hạ tầng, giao thông để người khuyết tật được tiếp cận; đẩy mạnh phong trào người khuyết tật đến từng địa phương, giúp người khuyết tật tự tin hòa nhập cộng đồng; khuyến khích hình thành cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động người khuyết tật; Phối hợp với các
tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm tổ chức thực hiện tốt công tác chăm sóc sức khỏe, điều trị, phẫu thuật chỉnh hình, hỗ trợ máy trợ thính, hỗ trợ xe lăn, xe lắc trợ giúp cho những người tàn tật; Quan tâm trong việc xây dựng mới các công trình công cộng, nâng cấp các công trình hiện có theo quy chuẩn xây dựng để người khuyết tật dễ tiếp cận và sử dụng [65]
Theo thống kê của Sở LĐ-TB&XH, toàn tỉnh có hơn 59.000 NKT Đa
số NKT có trình độ học vấn thấp, hầu hết thuộc diện hộ nghèo, hộ cận nghèo,
Trang 3632
không có nghề nghiệp ổn định Để chăm sóc, giúp đỡ, tạo điều kiện cho NKT vượt qua mặc cảm để hòa nhập với cộng đồng, thời gian qua, các cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội trong tỉnh đã triển khai nhiều chương trình, hoạt động vì NKT Ngoài các chính sách bảo trợ xã hội, nhiều
tổ chức xã hội, nhân đạo, từ thiện được thành lập, trở thành “chỗ dựa” của những phận đời kém may mắn, như Hội NKT, Hội Nạn nhân chất độc Da cam/Dioxin, Hội Người mù
Với phương châm xã hội hóa công tác chăm sóc và trợ giúp NKT, toàn tỉnh đã vận động các tổ chức, cá nhân được hàng nghìn chiếc xe lăn; làm chân giả, nạn, nẹp cấp cho NKT vận động Nhiều NKT được phẫu thuật tim, phẫu thuật chỉnh hình; trợ giúp pháp lý, dạy nghề, tạo việc làm Năm 2018, Hội NKT tỉnh đã vận động, tổ chức trao quà, học bổng cho gần 1.300 gia đình NKT, trẻ mồ côi và người nghèo, với tổng số tiền và hiện vật trị giá gần
xã hội, vươn lên trong cuộc sống
Tỉnh Thừa Thiên Huế còn huy động, vận động các nguồn lực để đảm bảo thực hiện các mục tiêu của kế hoạch như: huy động ngân sách Nhà nước, vận động các tổ chức kinh tế, xã hội, các tổ chức phi chính phủ, cá nhân trong và ngoài nước; Hỗ trợ, tạo điều kiện thành lập tổ chức "Tự lực" của
Trang 3733
người tàn tật và những hiệp hội phụ huynh và gia đình NKT; Trợ giúp phụ nữ tàn tật; Phát hiện, can thiệp sớm và phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; lồng ghép hoạt động trợ giúp NKT vào các chương trình kinh tế - xã hội của địa phương; tổ chức 12 lớp tập huấn về công tác khảo sát và phổ biển một số văn bản, chính sách mới về người khuyết tật cho 899 học viên là cán bộ địa phương, tổ/thôn trưởng, thân nhân người khuyết tật cùng với 50 học viên của các cơ sở bảo trợ xã hội; Tập huấn nâng cao năng lực cho cán bộ chủ chốt của Hội NKT các cấp trên địa bàn tỉnh về kỹ năng lãnh đạo và gây quỹ; giám sát, đánh giá; Tập huấn về quy chuẩn, tiêu chuẩn về nhà ở, công trình công cộng đảm bảo tiếp cận cho người khuyết tật…
Bằng nhiều hoạt động cụ thể, tỉnh Thừa Thiên Huế đã chỉ đạo các cơ quan, đơn vị liên quan triển khai thực hiện nhiều giải pháp nhằm chăm sóc sức khỏe cho NKT, với mục tiêu giúp NKT được thụ hưởng đầy đủ các chính sách, dịch vụ chăm sóc, cải thiện sức khỏe, đủ khả năng lao động nuôi sống bản thân và gia đình và đóng góp cho sự phát triển chung của xã hội Công tác xác định mức độ khuyết tật đã được triển khai thực hiện kịp thời, đảm bảo cho NKT được thực hiện đầy đủ quyền lợi theo quy định của pháp luật
Phấn đấu100% người khuyết tật có nhu cầu cần xác định mức độ khuyết tật được Hội đồng xác định mức độ khuyết tật cấp xã đánh giá và cấp giấy xác nhận chứng nhận khuyết tật; 90% người khuyết tật được tiếp cận các dịch vụ y tế dưới các hình thức khác nhau như: được phẫu thuật chỉnh hình, phục hồi chức năng và cung cấp các dịch vụ trợ giúp phù hợp; 100% học sinh, sinh viên bị khuyết tật thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo được hưởng các chính sách miễn giảm học phí, hỗ trợ học bổng và phương tiện học tập theo quy định; Ít nhất 70% công trình là trụ sở làm việc của cơ quan nhà nước; nhà ga, bến xe, bến tàu; cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; cơ sở giáo dục,
Trang 381.4.3 Kinh nghiệm về thực hiện chính sách BTXH đối với NKT tại tỉnh Quảng Nam
Hiện nay công tác thực hiện chính sách BTXH đối với NKT tại tỉnh Quảng Nam luôn được Đảng và nhà nước quan tâm Nhiều đề án trợ giúp NKT được ban hành, đặc biệt là đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012-2020, tỉnh Quảng Nam đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các cấp, các ngành địa phương thực hiện theo chức nảng, nhiệm vụ Ngành LĐTB&XH đã thực hiện đầy đủ, kịp thời chế độ trợ cấp xã hội hằng tháng cho NKT nặng, đặc biệt nặng tại cộng đồng và chăm sóc nuôi dưỡng tại các cơ sở trợ giúp xã hội Có nhiều chính sách hỗ trợ đối với NKT như giáo dục, dạy nghề, được vay vốn giải quyết việc làm…
Thường xuyên thanh kiểm tra đột xuất công tác thực hiện chính sách BTXH đối với NKT nhằm đảm bảo mọi đối tượng khuyết tật được hưởng chế
độ kịp thời và đúng quy định Ngoài ra, tỉnh đã vận động được nhiều nguồn lực để hỗ trợ NKT như hỗ trợ sinh kế, cải thiện nhà ở, tạo điều kiện cho NKT
có việc làm, phát triển sản xuất, tăng thu nhập
Trang 3935
Việc thực hiện chính sách trợ giúp về giáo dục cho NKT luôn được các cấp, các ngành quan tâm, tạo điều kiện cho các em trong độ tuổi đến trường được đi học Các trường nghề trên địa bàn tỉnh đã hỗ trợ đào tạo nghề cho NKT, các cơ sở sản xuất kinh doanh, làng nghề truyền thống địa phương đã tạo điều kiện dạy nghề thủ công và tạo việc làm cho NKT có thu nhập ổn định
Nhìn chung việc thực hiện chính sách BTXH đối với NKT trên địa bàn tỉnh Quảng nam ngày càng đạt hiệu quả cao NKT luôn được các cấp chính quyền, các hội đoàn thể hỗ trợ nhiều hoạt động thiết thực, luôn tạo điều kiện
để NKT tiếp cận các chính sách chăm sóc sức khỏe, giáo dục, đào tạo nghề, việc làm, tín dụng, BTXH, hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí … giúp NKT tự tin vươn lên trong cuộc sống, hoà nhập cộng đồng
Tiểu kết Chương 1
Xuất phát từ lịch sử nghiên cứu vấn đề cho thấy thiếu vắng những nghiên cứu, đánh giá về chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở Quảng Nam cho nên luận văn đã dựa trên khung phân tích về chính sách công lần lượt luận giải: khái niệm người khuyết tật, bảo trợ xã hội, các bước thực hiện chính sách, vai trò của chính sách đối với người khuyết tật, các nhân tố tác động đến chính sách và kinh nghiệm ở 2 tỉnh lân cận Quảng Ngãi
và Thừa Thiên Huế làm cơ sở cho việc triển khai nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách bảo trợ xã hội đối với người khuyết tật ở địa bàn tỉnh Quảng Nam
Trang 4036
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO TRỢ XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM
2.1 Khái quát chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội và thực trạng người khuyết tật tại tỉnh Quảng Nam
2.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
2.1.1.1 Điều kiện tự nhiên
Quảng Nam có tổng diện tích tự nhiên 10.574,74km2 ( khu vực miền núi 7.760,7km2, chiếm 73,4%); phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và tỉnh Kon Tum, phía Nam giáp tỉnh Quảng Ngãi và phía Bắc giáp thành phố Đà Nẵng; Địa hình với 4 dạng chính là: địa hình núi cao, địa hình đồi cao núi thấp, địa hình đồi gò và địa hình đồng bằng bị chia cắt theo các lưu vực sông Vu Gia, Thu Bồn, Tam Kỳ… Địa hình núi cao phân bố ở phía Tây Bắc và Tây Nam của tỉnh, gồm nhiều dãy núi chạy nối tiếp theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao trung bình từ
500 – 1000m, nằm trong hệ thống dãy Trường Sơn, có nhiều ngọn núi cao, trong đó cao nhất là Ngọc Linh (2.567m) Địa hình núi cao có hướng dốc từ Tây sang Đông và từ Bắc xuống Nam, càng về phía Đông Nam địa hình càng thấp dần Ngoài ra, ở ven biển Quảng Nam còn có nhiều hòn đảo lớn nhỏ Vùng đồi núi chiếm 72% Vùng ven biển là dãi cồn cát chạy dài từ xã Điện Nam huyện Điện Bàn đến xã Tam Nghĩa huyện Núi Thành
Hệ thống sông ngòi Quảng Nam với tổng chiều dài hơn 900 km, nối liền miền xuôi và miền ngược, thuận lợi cho giao lưu kinh tế bằng đường thủy giữa các địa phương, giữa Hội An, Vĩnh Điện, Tam Kỳ và Đà Nẵng, tạo nên lợi thế trao đổi buôn bán trong tỉnh thông qua đường thủy từ nhiều thế kỷ trước Con sông lớn nhất của Quảng Nam là sông Thu Bồn, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn, chảy qua các huyện Nam Trà My, Bắc Trà My, Phước Sơn,