Việc thực hiện chính sách CTXH đối với người khuyết tật đã tạo ra nhữngchuyển biến tích cực đối với cuộc sống của NKT, hoạt động trợ giúp NKT đã thuhút sự quan tâm và phát huy trách nhiệ
Trang 1VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
Trang 2VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ THẾ VY
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÌNH ĐỊNH
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS NGUYỄN NGỌC TOẢN
HÀ NỘI, 2017
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi Các tàiliệu, trích dẫn, số liệu ghi trong luận văn đều có nguồn gốc rõ ràng và trung thực.Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ côngtrình nào khác
Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về sự cam kết này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Thế Vy
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp, bản thân tôi
đã gặp một số khó khăn nhất định về thời gian, thu thập, xử lý và phân tích tài liệunghiên cứu, Tuy nhiên, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ tận tình, cũng như
sự khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi của thầy cô, gia đình, bạn bè và đồngnghiệp trong suốt quá trình nghiên cứu
Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn đến Ban Giám đốc, các khoa, phòng vàquý thầy, cô trong Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hộiViệt Nam, Học viện Châu Á (Philippin) đã tận tình truyền đạt kiến thức và tạo điềukiện giúp đỡ cho tôi trong quá trình học tập Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết
ơn chân thành và sâu sắc nhất tới người hướng dẫn khoa học TS Nguyễn NgọcToản, người đã luôn tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu
và hoàn thành luận văn
Xin gửi lời cảm ơn tới Ban Lãnh đạo, đồng nghiệp ngành Lao động –Thương binh và Xã hội tỉnh Bình Định đã tạo điều kiện hợp tác, giúp đỡ tôi trongsuốt quá trình nghiên cứu Dù đã có nhiều cố gắng, song chắc chắn không thể tránhkhỏi thiếu sót Tác giả rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của quý thầy, côgiáo, bạn bè và đồng nghiệp
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 03 năm 2017
Tác giả
Nguyễn Thị Thế Vy
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 10
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT 20
1.1 Khái quát về người khuyết tật và những đặc trưng của người khuyết tật 20
1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 23
1.3 Công tác xã hội và thực hiện chính sách CTXH đối với người khuyết tật 28
1.4 Nhân tố tác động thực hiện chính sách CTXH đối với người khuyết tật 34
1.5 Hệ thống luật pháp, chính sách về công tác xã hội đối với người khuyết tật 36
Tiểu kết chương 1 40
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 41
2.1 Đặc điểm, địa bàn nghiên cứu 41
2.2 Thực trạng NKT tại tỉnh Bình Định 43
2.3 Kết quả thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại tỉnh Bình Định 47
Tiểu kết chương 2 74
Chương 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH BÌNH ĐỊNH 76
3.1 Quan điểm, mục tiêu tăng cường chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật 76
3.2 Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách CTXH đối với NKT 77
3.3 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo giải pháp có tính khả thi cao 91
Tiểu kết chương 3 94
KẾT LUẬN 95 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7Bảng 2.1 Tổng số NKT tỉnh Bình Định năm 2015 chia theo nhóm tuổi 43Bảng 2.2 Tổng số NKT tỉnh Bình Định bị khuyết tật tâm thần có hành vi nguyhiểm 45Bảng 3.1 Tổng nhu cầu nguồn nhân lực CTXH tỉnh Bình Định 79
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 8Biểu đồ 2.1 Tổng số NKT tỉnh Bình Định năm 2015 chia theo nhóm tuổi 43 Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ dạng tật của NKT tỉnh Bình Định năm 2015 44 Biểu đồ 2.3 NKT tỉnh Bình Định chia theo mức độ khuyết tật 46
DANH MỤC CÁC HỘP
Trang 9Hộp 2.1 Thảo luận nhóm của cán bộ về hoạt động truyền thông CTXH trên địa bàntỉnh Bình Định 48Hộp 2.2 Kết quả thảo luận nhóm cán bộ về hạn chế truyền thông về CTXH trên địabàn Bình Định 49Hộp 2.3 Tổng hợp kết quả thảo luận nhóm cán bộ về chính sách phát triển nguồnnhân lực làm CTXH của tỉnh Bình Định 68Hộp 2.4 Kết quả thảo luận nhóm cán bộ về chính sách phát triển hệ thống cung cấpdịch vụ CTXH đối với NKT trên địa bàn Bình Định 71Hộp 2.5 Tổng hợp kết quả thảo luận nhóm về huy động nguồn lực thực hiện chínhsách CTXH đối với NKT 73
MỞ ĐẦU
Trang 101 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay Việt Nam có khoảng 7 triệu người khuyết tật (NKT), chiếm 7,8%dân số Trong đó, có khoảng 28,9% NKT đặc biệt nặng và nặng, 58% NKT là nữ,28,3% NKT là trẻ em, 10,2% NKT là người cao tuổi, 61,5% NKT trong độ tuổi laođộng và khoảng 10% NKT thuộc hộ nghèo [2] Đây là bộ phận dân cư luôn gặp khókhăn, cần sự trợ giúp về y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, hòa nhập cộngđồng Luật Người khuyết tật và hệ thống luật pháp chính sách quy định về quyềncủa người khuyết tật và trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan tổ chức và gia đìnhtrong việc bảo đảm quyền của người khuyết tật Cụ thể hóa luật pháp, Chính phủ đãban hành và thực hiện hệ thống chính sách chăm sóc, trợ giúp người khuyết tật trêncác lĩnh vực giáo dục, chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, việc làm, văn hóathể thao, đời sống và hỗ trợ hòa nhập Song song cùng với luật pháp, Chính phủ đãphê duyệt và thực hiện Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020, ViệtNam đã ký tham gia Công ước của Liên hiệp quốc về quyền của NKT vào tháng10/2007 và Quốc hội phê chuẩn Công ước vào tháng 11/2014 Việt Nam cam kếttham gia Chiến lược Incheon nhằm hiện thực hóa quyền cho NKT giai đoạn 2013-
2022 được Liên Chính phủ cùng các tổ chức NKT các nước Châu Á – Thái BìnhDương thông qua ngày 01/11/2012 tại Incheon, Hàn Quốc Gần đây nhất, Thủtướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1717/QĐ-TTg ngày 06/10/2015 vềviệc thành lập Ủy ban Quốc gia về NKT Việt Nam
Việc thực hiện chính sách CTXH đối với người khuyết tật đã tạo ra nhữngchuyển biến tích cực đối với cuộc sống của NKT, hoạt động trợ giúp NKT đã thuhút sự quan tâm và phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, cánhân, cộng đồng dân cư, từng bước giảm dần những rào cản, tạo động lực để NKTphát huy năng lực của mình, vươn lên hòa nhập cộng đồng, đến nay có trên 1 triệungười khuyết tật được hưởng trợ cấp xã hội, hơn 60 ngàn người khuyết tật đangđược chăm sóc và phục hồi chức năng tại 250 cơ sở bảo trợ xã hội (BTXH) chuyênbiệt và các cơ sở bảo trợ xã hội tổng hợp, nhiều mô hình thí điểm trợ giúp đã được
Trang 11triển khai nhân rộng Nhờ đó mà đời sống vật chất, tinh thần và hòa nhập cộng đồngcủa người khuyết tật ngày càng thay đổi
Tuy nhiên trong quá trình thực hiện chính sách CTXH đối với NKT, bên cạnhnhững mặt tích cực đã đạt được cũng bộc lộ nhiều hạn chế, khó khăn: nhiều cơ quanban ngành, địa phương chưa quan tâm đúng mức đến NKT, công tác truyền thôngnâng cao nhận thức và chăm lo đời sống NKT chưa đi vào chiều sâu; một số chínhsách, quy định được hướng dẫn thi hành chậm nên việc thực hiện trợ giúp khôngđồng bộ, có những quy định vẫn chưa được thi hành, tổ chức thực hiện Bên cạnh
đó là những khó khăn về nguồn lực hỗ trợ, mặc dù ngân sách nhà nước đầu tư ngàycàng cao nhưng vẫn thiếu nguồn kinh phí thực hiện, đội ngũ cán bộ làm công tác trợgiúp người khuyết tật còn thiếu về số lượng và yếu về chuyên môn nghiệp vụ, cơ sởvật chất của các Hội, tổ chức tự lực, cơ sở sản xuất kinh doanh có sử dụng lao động
là người khuyết tật còn gặp nhiều khó khăn
Tỉnh Bình Định là một tỉnh thuộc khu vực Duyên hải Nam Trung Bộ, dân số1,6 triệu người, có 32.372 người khuyết tật Trong đó, có 28.766 người đang hưởngtrợ cấp xã hội, có 704 người khuyết tật được nuôi dưỡng trong 03 cơ sở bảo trợ xãhội Công tác xã hội (CTXH) với người khuyết tật là lĩnh vực mới, đã và đang pháthuy vai trò hỗ trợ trong cung cấp dịch vụ chăm sóc trực tiếp và hỗ trợ triển khai chế
độ chính sách đối với người khuyết tật Tỉnh đã và đang tổ chức thực hiện chínhsách CTXH đối với NKT Kết quả các chính sách đã tác động làm thay đổi đời sốngvật chất và tinh thần của NKT Tuy nhiên, mới chỉ là kết quả ban đầu và còn hạnchế nhất định, đặc biệt là trong thực hiện chính sách CTXH đối với người khuyếttật Để từng bước nâng cao hiệu quả thực hiện CTXH đối với người khuyết tật thìyếu tố thực hiện chính sách công tác xã hội đóng vai trò then chốt, đặc biệt trongbối cảnh ở Việt Nam nói chung và tỉnh Bình Định nói riêng
Xuất phát từ thực tiễn trên, đề tài luận văn về “Thực hiện chính sách công
tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Bình Định” là cần thiết, vừa
có ý nghĩa lý luận và thực tiễn, vừa có ý nghĩa đóng góp vào sự phát triển chung,nâng cao hiệu quả về CTXH đối với người khuyết tật tại tỉnh Bình Định
Trang 122 Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong thời gian qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề người khuyếttật và thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật như:
Viện nghiên cứu phát triển xã hội (2008) đã công bố báo cáo nghiên cứu
Người khuyết tật ở Việt Nam từ kết quả điều tra xã hội tại Thái Bình, Quảng Nam,
Đà Nẵng và Đồng Nai Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục đích giúp chúng ta
hiểu sâu hơn những khó khăn đa dạng và nhiều mặt mà người khuyết tật hiện đanggặp phải Nghiên cứu cũng cung cấp cơ sở thông tin giúp cho việc hoàn thiện chínhsách cũng như thiết kế các chương trình hỗ trợ hiệu quả [34]
Đỗ Thị Liên (2014), Công tác xã hội đối với NKT từ thực tiễn thành phố Thanh Hóa Tác giả đã đánh giá thực trạng hỗ trợ NKT tại thành phố Thanh Hóa và
đưa những dịch vụ trợ giúp cho NKT tại đây, đồng thời tác giả cũng đã đưa ranhững đề xuất những giải pháp phù hợp để thực hiện quá trình trợ giúp cho NKT[13]
Nguyễn Ngọc Toản (2009), bài viết về Trợ giúp xã hội cho cá nhân và hộ gia đình nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người khuyết tật Tạp chí Lao động và Xã
hội Tác giả cho rằng hệ thống chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam luôn đảm bảothực hiện quyền của NKT và luôn nhìn nhận họ là một bộ phận của nguồn nhân lực,tạo một môi trường bình đẳng và không rào cản tiếp cận cho NKT; Nâng cao chấtlượng dịch vụ chăm sóc đời sống, giáo dục, y tế, giao thông, công nghệ thông tin Cùng với đó là cải cách thủ tục hành chính, tăng cường hệ thống giám sát, thực thicũng như xã hội hóa, phân cấp và tăng cường sự tham gia của NKT [27] Tuy nhiên,công tác chăm lo cho người khuyết tật cũng còn gặp nhiều khó khăn Đó là vẫn tồntại những định kiến nhất định cản trở sự hòa nhập và đóng góp cho xã hội của ngườikhuyết tật Một số phong trào, hoạt động trợ giúp người khuyết tật còn hình thức,thiếu bền vững Công tác kiểm tra, giám sát hoạt động hỗ trợ người khuyết tật từtrung ương đến địa phương chưa được thường xuyên, việc điều phối còn chưa kịpthời và kém hiệu quả Chưa có nhiều cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, cơ sở sản xuấtkinh doanh thu hút lao động là người khuyết tật
Trang 13Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) cũng đã nghiên cứu và xây dựng giáo trìnhđào tạo CTXH với NKT ở bậc Đại học và sau đại học với ba nội dung chính Đó làtổng quan về về NKT; Trải nghiệm khuyết tật; và Các kỹ năng thực hành CTXH [8]
Công trình nghiên cứu của tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổngquát nhất về công tác xã hội với người khuyết tật, các mô hình hỗ trợ, các phươngpháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với NKT, vai trò củanhân viên CTXH đối với NKT, các kỹ năng làm việc với người khuyết tật Đây làgiáo trình đào tạo Công tác xã hội ở hệ trung cấp nghề [22]
Nguyễn Thị Báo (2008), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật
ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí
Minh [1] Tác giả đã chỉ rõ từ thực tiễn và quá trình tổ chức thực hiện pháp luật vềquyền của người khuyết tật ở Việt Nam, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã bộc
lộ những hạn chế cản trở người khuyết tật hoà nhập vào cộng đồng Việc nghiêncứu những cơ sở lý luận và thực tiễn đảm bảo tính pháp lý lâu dài, ổn định có ýnghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh thay đổi mạnh mẽ về kinh tế-xã hội đấtnước, hướng tới để bảo vệ, chăm sóc và tạo điều kiện tốt hơn cho người khuyết tật,góp phần phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, làm cơ sở chophát triển kinh tế xã hội của đất nước
Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Báo cáo kết quả thực hiện Luật người khuyết tật và đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2010 - 2015 [3].
Báo cáo được xây dựng dựa trên quá trình khảo sát, phân tích, đánh giá một cách kỹlưỡng, đồng thời lấy ý kiến tham gia của các tổ chức, cá nhân có liên quan Từ thựctiễn thi hành Luật người khuyết tật cho thấy đã có thay đổi nhận thức xã hội về vấn
đề người khuyết tật, phương thức, cách thức trợ giúp, hỗ trợ NKT Đời sống vậtchất và tinh thần của NKT đã được thay đổi và có điều kiện tham gia các hoạt động
xã hội, hòa nhập với cộng đồng Tuy nhiên, vẫn còn một số hạn chế, khó khăn,vướng mắc, bất cập cũng đã bộc lộ, ảnh hưởng tới hiệu quả của công tác trợ giúpngười khuyết tật, trong đó có những vấn đề xuất phát từ những quy định của Luậtcòn bất cập so với điều kiện thực tế của đất nước
Trang 14Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và Việc làm cho người khuyết tật Việt Nam”, năm 2010 đã cung cấp một cách nhìn tổng thể
về các tổ chức của NKT, các tổ chức vì NKT và các dịch vụ dạy nghề, việc làm vàphát triển cơ sở sản xuất kinh doanh của NKT, cơ sở sản xuất kinh doanh có tuyểndụng NKT vào làm việc Trong đó tập trung đối với các cơ sở của phụ nữ khuyếttật, dịch vụ dành riêng cho phụ nữ khuyết tật Cùng với những thành công đã đạtđược trong quá trình thực hiện Bộ Luật lao động, Pháp lệnh về người tàn tật năm
1998, Báo cáo đã chỉ ra giai đoạn từ năm 2010 trở về trước ở Việt Nam NKT rất ítđược đào tạo nghề, hướng dẫn về việc làm, cũng như thành lập và phát triển các cơ
sở kinh doanh của mình Hệ thống pháp luật cũng chưa có những quy định đầy đủ
và toàn diện về lĩnh vực này Trong khi đó nhu cầu trợ giúp việc làm của NKTnhiều [28]
Đại Học College London, Anh Quốc, thực hiện dự án nghiên cứu về “Báo trợ xã hội dành cho người khuyết tật tại Việt Nam”, 2012-2014 đã thực hiện khảo
sát định tính về bảo trợ xã hội và y tế đối với NKT, hộ gia đình và các cơ quan tổchức có liên quan Kết quả sơ bộ ban đầu được báo cáo tại hội thảo về Bảo trợ xãhội đối với người khuyết tật tại Hà Nội đã cho thấy nhìn về những chính sách đạtđược, nhu cầu và những khó khăn của NKT Trong đó đã đề cập đến những nhu cầuviệc làm và những khó khăn khi tìm việc làm của người khuyết tật, được nhìn nhận
về học nghề và tiếp cận dịch vụ học nghề của NKT là rất hạn chế và cần có các biệnpháp hỗ trợ Trong đó có đề cập đến các giải pháp, biện pháp công tác xã hội [29]
Hội Bảo trợ người tàn tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, đề tài nghiên cứu “Mô hình hỗ trợ sinh kế cho người khuyết tật tại cộng đồng” (2012) đã nghiên cứu cơ sở
Trang 15lý luận, thực tiễn trong nước và quốc tế có liên quan đến người khuyết tật, bảo trợ
xã hội đối với người khuyết tật và hỗ trợ sinh kế cho NKT Đồng thời tổng hợpđánh giá mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT ở nước ta giai đoạn 2008 - 2010 Từ kếtquả đánh giá thực tiễn đã xây dựng và đề xuất mô hình phù hợp trong giai đoạn tới,bao gồm cả việc xác định mục tiêu, tiêu chí, đối tượng, phương thức, cách thức tổchức thực hiện, nguồn lực và các giải pháp kèm theo Đề xuất quan điểm, địnhhướng về công tác hỗ trợ cho NKT giai đoạn 2011 - 2020 và nghiên cứu, xây dựng
mô hình hỗ trợ sinh kế cho NKT, cùng với hệ thống các giải pháp vĩ mô và vi mô
để đưa ra mô hình áp dụng để các địa phương trong phạm vi cả nước Trong đó có
đề cập đến một số lĩnh vực liên quan đến các hoạt động công tác xã hội trong hỗ trợsinh kế cho NKT [10]
Những nghiên cứu, đề tài, báo cáo trên chỉ tiếp cận ở khía cạnh ảnh hưởng vàtác động của chính sách an sinh xã hội tại địa phương ảnh hưởng đến đời sống củangười khuyết tật và gia đình họ; tìm hiểu về vấn đề chăm sóc sức khỏe, trợ giúp xãhội, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội, hay đánh giá hiệu quả của việc thực hiệnLuật người khuyết tật dưới góc nhìn của người làm chính sách nói chung chứ không
có đề tài nào đi sâu vào việc nghiên cứu sâu sắc về thực hiện chính sách CTXH đốivới NKT, nhất là ở tỉnh Bình Định
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu hệ thống chính sách hiện có và thực trạng về thực hiện chính sáchCTXH đối với người khuyết tại tỉnh Bình Định, từ đó đề xuất giải pháp tăng cườngthực hiện chính sách CTXH đối với NKT nói chung và tại tỉnh Bình Định nói riêng
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng hợp khái quát cơ sở lý luận về thực hiện chính sách CTXH đối vớiNKT
- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách CTXH đối với NKT cũng như cácyếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại địa bàntỉnh Bình Định;
Trang 16- Đề xuất giải pháp tăng cường thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tạitỉnh Bình Định nói riêng và cả nước nói chung.
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hệ thống chính sách hiện có và các hoạt động thực hiện chính sách CTXH đốivới người khuyết tật tỉnh Bình Định
4.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi chính sách: Tập trung vào các chính sách tuyên truyền nâng caonhận thức về công tác xã hội; chính sách phát triển nhân lực làm công tác xã hội;chính sách đào tạo cán bộ nhân viên, người làm công tác xã hội; chính sách huyđộng nguồn lực cho thực hiện công tác xã hội; chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụcông tác xã hội đối với người khuyết tật
- Khách thể nghiên cứu: Cán bộ, công chức và viên chức làm việc tại Sở Laođộng-Thương binh và Xã hội (LĐTBXH), Phòng LĐTBXH cấp huyện, cơ sở bảotrợ xã hội có chăm sóc người khuyết tật, cán bộ làm công tác LĐTBXH cấp xã vàngười khuyết tật, hộ gia đình có người khuyết tật tại Bình Định
- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2016
- Không gian nghiên cứu: Tại tỉnh Bình Định
5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp luận
Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để phân tích, đánh giáthực trạng về đời sống của NKT, thực trạng thực hiện chính sách CTXH đối vớiNKT tại tỉnh Bình Định, rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất vềgiải pháp để tăng cường việc thực hiện chính sách CTXH đối với người khuyết tậttại tỉnh Bình Định Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm cơ sở lýluận, khoa học cũng như phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp trong nghiêncứu về các vấn đề liên quan như CTXH, thực hiện chính sách công tác xã hội vàmột số vấn đề lý luận về người khuyết tật
5.2 Phương pháp nghiên cứu
Trang 17- Phương pháp tổng hợp phân tích tài liệu thứ cấp: Tổng hợp phân tích tài
liệu: (i) Công trình nghiên cứu liên quan đến NKT, vấn đề thực hiện chính sáchCTXH đối với NKT; (ii) Báo cáo của Sở Lao động - Thương binh và Xã hội BìnhĐịnh, các tổ chức Hội có liên quan đến người khuyết tật trên địa bàn tỉnh BìnhĐịnh, báo cáo các cơ sở BTXH, báo cáo tổng kết của phòng Lao động – TBXH một
số huyện, thị xã, thành phố cung cấp
- Phương pháp quan sát: Quan sát, thu thập thông tin về hoàn cảnh sống, thái
độ, thể trạng, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinh hoạt hằng ngày củaNKT; thái độ, hành vi của cán bộ trực tiếp làm việc đối với NKT, gia đình có NKT
và quan sát thực trạng đời sống kinh tế - xã hội địa phương, thái độ, hành vi củangười dân, của chính quyền đối với các vấn đề liên quan đến thực hiện chính sáchCTXH đối với NKT…
- Phương pháp xử lý số liệu: Đề tài không thực hiện điều tra khảo sát riêng về
NKT, mà lồng ghép câu hỏi vào với điều tra NKT của tỉnh Bình Định năm 2016.Đồng thời có sử dụng cơ sở dữ liệu thứ cấp của các cuộc khảo sát về NKT vàCTXH của tỉnh Bình Định do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội thực hiệntrong các năm 2010, 2013, 2015 và 2016 Đây là các khảo sát được thiết kế phiếuhỏi và có thực hiện phỏng vấn sâu đối với cán bộ, nhân viên thực hiện các hoạtđộng CTXH ở các cấp cơ sở và các trung tâm bảo trợ xã hội trong tỉnh Trong quátrình thực hiện nghiên cứu đề tài đã sử dụng các phương pháp phân tích thống kê để
xử lý dữ liệu điều tra
- Phương pháp thảo luận nhóm: Đề tài đã thực hiện 01 thảo luận nhóm đối với
cán bộ làm công tác quản lý ở Sở LĐTBXH và cán bộ lãnh đạo trung tâm bảo trợ xãhội; 01 thảo luận nhóm đối với cán bộ cấp huyện và 01 thảo luận nhóm với cán bộcấp xã và đại diện người khuyết tật về các nội dung thực hiện các chính sách côngtác xã hội đối với NKT Tổng số đối tượng tham gia thảo luận nhóm là 36 người(mỗi thảo luận nhóm 12 người) Nội dung thảo luận theo các chủ đề chính sáchCTXH Trong đó tập trung chủ yếu về những hạn chế của các chính sách tuyêntruyền, chính sách phát triển nguồn nhân lực, chính sách hỗ trợ phát triển hệ thống
Trang 18dịch vụ, chính sách tài chính… Kết quả thảo luận nhóm được tóm tắt cụ thể trongnội dung luận văn
6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1 Ý nghĩa lý luận
Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ lý luận về thực hiện chính sách CTXHđối với NKT từ thực tiễn tỉnh Bình Định, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm vềcách nhìn nhận, đánh giá về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại tỉnh BìnhĐịnh nói riêng và trên cả nước nói chung
Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết vềchính sách xã hội (CSXH), lý thuyết về CTXH nói chung và CTXH đối với NKTnói riêng là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ đó góp phần nâng caohiệu quả thực hiện chính sách CTXH với NKT ở nước ta nhằm nâng cao chấtlượng, hiệu quả trong việc xây dựng cũng như tổ chức thực hiện Là nguồn tài liệutham khảo hữu ích đối với những người có quan tâm đến CTXH nói chung và thựchiện chính sách CTXH đối với NKT nói riêng
6.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài tổng hợp thực trạng chính sách CTXH đối với NKT, qua đó đóng góphoàn thiện cơ chế, chính sách đối với NKT, đồng thời nâng cao công tác tuyêntruyền, phổ biến chính sách, chương trình có liên quan đến NKT cũng như toàn thểngười dân biết và thực hiện kịp thời, có hiệu quả các chế độ, dịch vụ, chính sách thụhưởng Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về chính sách CTXH đối vớiNKT, nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển CTXH trở thành một nghề chuyênnghiệp
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh sáchcác phụ lục, danh mục các chữ viết tắt, phần nội dung của luận văn được chia làm
ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về thực hiện chính sách công tác xã hội đối với ngườikhuyết tật
Trang 19Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách công tác xã hội đối với ngườikhuyết tật tại tỉnh Bình Định.
Chương 3: Giải pháp tăng cường thực hiện chính sách công tác xã hội đối vớingười khuyết tật tại tỉnh Bình Định
Trang 20Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT
1.1 Khái quát về người khuyết tật và những đặc trưng của người khuyết tật
1.1.1 Khái niệm người khuyết tật
Theo quan điểm của Tổ chức Quốc tế Người khuyết tật: Người khuyết tật trởthành tàn tật là do thiếu cơ hội để tham gia các hoạt động xã hội và có một cuộcsống giống như thành viên khác (Disabled People International- DPI, 1982)
Tại Điều 1 của Công ước Quốc tế về quyền của người khuyết tật năm 2006 đãkhẳng định: “Người khuyết tật bao gồm những người có khiếm khuyết lâu dài vềthể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương tác với các rào cản khácnhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ trong xã hội trên một nềntảng công bằng như những người khác trong xã hội” [6, trang 11]
Tại khoản 1, Điều 2 của Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành ngày17/06/2010 định nghĩa về người khuyết tật như sau: “Người khuyết tật là người bịkhiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu
hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn” [16] Với
khái niệm này, người được coi là khuyết tật có đủ 2 điều kiện là: (i) Phải có khiếmkhuyết hoặc có suy giảm chức năng cơ thể và (ii) Khiếm khuyết và suy giảm chứcnăng này có ảnh hưởng đến lao động, học tập và sinh hoạt cá nhân của chính người
đó
Với Việt Nam việc sử dụng khái niệm NKT thay cho khái niệm người tàn tật(như trong Pháp lệnh người tàn tật năm 1998) là một bước tiến mới trong cách nhìn
về NKT Việt Nam đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về quyền của NKT năm 2007
và đang trong quá trình hoàn thiện hệ thống pháp luật, cũng như từng bước thay đổitrong chính sách, dịch vụ … hướng tới đảm bảo quyền của NKT
1.1.2 Phân loại khuyết tật
Trang 21Trên thế giới có rất nhiều cách phân loại về khuyết tật, tuy nhiên việc phân loạikhuyết tật ở Việt Nam đã được cụ thể hóa trong Luật Người khuyết tật năm 2010
Việc phân loại mức độ khuyết tật thường được dựa trên nhiều tiêu chí khácnhau: dựa vào các dạng tật và dựa vào các mức độ khuyết tật [8]
(i) Tiêu chí thứ nhất, về các dạng khuyết tật
Căn cứ vào Khoản 1, Điều 2, Chương 1, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày10/4/2012 của Chính Phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều củaLuật người khuyết tật [4], đã quy định 6 dạng khuyết tật cơ bản như sau:
• Khuyết tật vận động: Là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu,
cổ, chân, tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển
• Khuyết tật nghe, nói: là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc
cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp,trao đổi thông tin bằng lời nói
• Khuyết tật nhìn: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánhsáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường
• Khuyết tật thần kinh, tâm thần: là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc,kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất thường
• Khuyết tật trí tuệ: là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duybiểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện tượng,giải quyết sự việc
• Khuyết tật khác: là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiếncho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc cáctrường hợp được quy định tại các dạng trên
(ii) Tiêu chí thứ hai, về các mức độ khuyết tật:
• Khuyết tật đặc biệt nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàntoàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đilại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cánhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn
Trang 22• Khuyết tật nặng: là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặcsuy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một số hoạtđộng đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinhhoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc
• Khuyết tật nhẹ: là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại haimức độ trên
1.1.3 Đặc trưng của người khuyết tật
(i) Sức khỏe yếu, cần đến các hoạt động phục hồi chức năng: Những NKT
do bị khiếm khuyết về một hoặc một số bộ phận chức năng của cơ thể nên sức khỏecủa họ kém hơn so với người bình thường Ở mỗi dạng tật, tình hình sức khỏe lạikhác nhau Phần lớn những người khuyết tật vận động không có khả năng sức khỏe
để làm những công việc thủ công, những công việc đòi hỏi phải có sức khỏe Nhữngngười hạn chế nghe, nói, tâm thần kinh thì đặc trưng về sức khỏe cũng có những sựkhác biệt nhất định so với những người bình thường Nhìn chung về thể trạng vàtâm thần của người khuyết tật đều có những đặc trưng riêng Một số ít về thể trạngkhỏe mạnh, còn lại đa phần là có thể trạng yếu và khó có thể vận động như nhữngngười không khuyết tật
(ii) Sống rất khép kín, ít thích giao tiếp, ít hòa nhập cộng đồng: Nguyên
nhân là do bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần nên họ dễ bị tổn thương vềmặt tinh thần Bên cạnh đó, họ còn phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử từphía cộng đồng do nhận thức chưa đúng của xã hội Tâm lý chung là mặc cảm nghĩrằng mình là người thừa, là gánh nặng của gia đình và xã hội Do đó, để đảm bảocuộc sống cho NKT thì không chỉ dừng lại ở các chính sách về chăm sóc sức khỏe,phục hồi chức năng mà còn phải tiến tới xoá bỏ các rào cản đối với NKT nhằmnâng cao nhận thức và trách nhiệm của Nhà nước, xã hội, gia đình, cộng đồng vàcủa mọi cá nhân đối với NKT, giảm thiểu hoặc xoá bỏ những rào cản, giúp ngườikhuyết tật chủ động hòa nhập, có cơ hội tham gia một cách bình đẳng vào các hoạtđộng của xã hội
Trang 23(iii) Có ý chí vươn lên khỏi hoàn cảnh, số phận của mình: Đại đa số NKT
đều có nghị lực và ý thức vượt lên số phận Họ mong muốn có thể tự chủ đượctrong công việc và cuộc sống Nếu có được sự hỗ trợ thích hợp của gia đình và xãhội, người khuyết tật sẽ đạt được nhiều thành tích cao trong lao động và học tập, trởthành tấm gương sáng, thành nguồn động lực cho nhiều người noi theo
(iv) Cũng còn tư tưởng ỷ lại: Một bộ phận NKT nghĩ rằng mình là đối tượng
được bảo trợ, được gia đình và xã hội quan tâm Vì vậy, đã ỷ lại, trông chờ vàongười khác hỗ trợ, không có ý thức tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên hòa nhập xãhội
(v) Khó khăn khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ: NKT là những người bị
khiếm khuyết (thiếu, không có hoặc bị mất đi) bộ phận nào đó trên cơ thể, bị suygiảm sức khỏe khó có thể phục hồi, bị hạn chế hoặc không có khả năng nhận thức,tiếp thu các tư tưởng văn hóa và giáo dục như các chủ thể thông thường khác Khảnăng thực hiện quyền và nghĩa của người khuyết tật sẽ hạn chế hơn đối với nhữngđối tượng thông thường Do bị khiếm khuyết về thể chất, tâm thần, trí tuệ hoặc giácquan mà những NKT sẽ khó khăn khi thực hiện các công việc lao động, học tập,sinh hoạt, vui chơi giải trí, tham gia các quan hệ xã hội, hoạt động xã hội khác kémhiệu quả hơn các đối tượng thông thường
1.2 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1 Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội
Thuyết vị trí vai trò trong xã hội nhấn mạnh đến các bộ phận cấu thành của
xã hội và cho rằng mỗi cá nhân có một vị trí xã hội nhất định, được thừa nhận trong
cơ cấu xã hội, gắn liền với những quyền lợi, nghĩa vụ hay kỳ vọng để định hướngcho những hành vi xã hội của cá nhân đó Nó được xác định trong sự đối chiếu sosánh với các vị trí xã hội khác [17]
Mỗi xã hội có cơ cấu phức tạp bao gồm các vị trí, vai trò xã hội khác nhau
Lý thuyết về vị trí - vai trò xã hội cho rằng, mỗi cá nhân có một vị trí xã hội là vị trítương đối trong cơ cấu xã hội, hệ thống quan hệ xã hội Nó được xác định trong sựđối chiếu so sánh với các vị trí xã hội khác nhau Vị thế xã hội là vị trí xã hội gắnvới những trách nhiệm và quyền hạn kèm theo Mỗi cá nhân có vị trí xã hội khác
Trang 24nhau, do đó cũng có nhiều vị thế khác nhau Những vị thế xã hội của cá nhân có thểlà: vị thế đơn lẻ, vị thế tổng quát hoặc có thể chia theo cách khác là: vị thế có sẵn -được gắn cho, vị thế đạt được, một số vị thế vừa mang tính có sẵn, vừa mang tínhđạt được [21].
Vai trò của cá nhân được xác định trên cơ sở các vị thế xã hội tương ứng.Vai trò là những đòi hỏi của xã hội đặt ra với các vị thế xã hội Những đòi hỏi đóluôn dựa vào các chuẩn mực của xã hội Tùy thuộc vào đặc thù văn hóa của mỗivùng, của mỗi dân tộc mà có những chuẩn mực riêng của nó Vì vậy một vị thế xãhội nhưng tùy vào đặc thù của xã hội đó mà có những vai trò khác nhau
Trong Công tác xã hội, thuyết này được ứng dụng để khi tiếp cận với đốitượng thì nhân viên công tác xã hội phải hiểu rõ từng vị trí mà họ đuợc thừa nhậntrong gia đình và ngoài xã hội Khi con người có tiếng nói riêng của mình, được giađình và xã hội coi trọng thì họ sẽ thực hiện tốt các vai trò của mình và sẽ đáp ứngđược nhiều mong đợi từ người khác
Lý thuyết vị trí - vai trò xã hội được sử dụng trong luận văn này nhằm mụcđích nói lên rằng trong công tác xã hội khi hoạt động ở từng lĩnh vực cụ thể thì cũng
có những vai trò cụ thể đối với từng lĩnh vực Trong thực hiện chính sách CTXHđối với NKT thì nhân viên công tác xã hội có vai trò như thế nào để hỗ trợ NKTđược đảm bảo các quyền của NKT Trong quá trình hỗ trợ NKT thì nhân viên côngtác xã hội phải hiểu rõ vai trò và vị thế của NKT trong gia đình và ngoài xã hội, qua
đó giúp NKT có cơ hội tham gia vào quá trình lao động sản xuất cũng như tham giacác hoạt động xã hội
1.1.2 Lý thuyết hệ thống
Thuyết hệ thống ra đời từ năm 1940, do nhà sinh vật học Ludwig VonBertaLffy phát hiện Để phản đối chủ nghĩa đơn giản hóa và việc cô lập của các đốitượng khoa học, ông đưa ra quan điểm rằng tất cả các cơ quan đều là các hệ thống,bao gồm những hệ thống nhỏ hơn và là phần tử của các hệ thống lớn hơn Từ mộtquan điểm trong ngành sinh học, ý tưởng về hệ thống đã có nhiều ảnh hưởng tới cácngành khoa học khác, kể cả công tác xã hội
Thuyết hệ thống cung cấp cho nhân viên công tác xã hội một phương tiện để
tổ chức tư duy vấn đề, đặc biệt là khi vấn đề có sự tương quan phức tạp giữa các
Trang 25thông tin và khi khối lượng thông tin lớn Thuyết hệ thống sử dụng trong công tác
xã hội chú ý tới nhiều các quan hệ giữa những phần tử nằm trong hệ thống hơn làchú ý tới trong phần tử là mỗi cá nhân với các thuộc tính của phần tử (cá nhân) đó
Thuyết hệ thống được sử dụng trong công tác xã hội như một công cụ trợgiúp nhân viên xã hội sắp xếp, tổ chức những lượng thông tin lớn thu thập được, đểxác định mức độ nghiêm trọng của vấn đề và cách can thiệp Thuyết hệ thống làmột bộ phận không thể tách rời của quan điểm sinh thái Hành vi của con ngườikhông phải bộc lộ tự phát một cách độc lập, mà nằm trong mối quan hệ qua lại vớinhững hệ thống khác trong xã hội
Cá nhân được coi là một hệ thống vi mô, cá nhân không nằm đơn lẻ mà luônchịu sự tác động của các hệ thống gia đình, hệ thống xã hội Các hệ thống luôn có
sự tác động qua lại với nhau
Tác giả vận dụng lý thuyết hệ thống trong việc nghiên cứu luận văn của mìnhnhằm nhìn nhận sự tác động qua lại của NKT như thế nào ở các hệ thống trong xãhội Cụ thể, NKT đã có những tiếp cận như thế nào về hệ thống các chính sách xãhội, đặc biệt trong chính sách như trợ cấp xã hội, chăm sóc sức khỏe, vay vốn, dạynghề, việc làm Mặc dù, sống trong một cộng đồng nhưng không phải cá nhân nàocũng có cơ hội tiếp cận các chính sách và dịch vụ như nhau Qua đó, tìm hiểunguyên nhân để có những giải pháp nhằm giúp họ có cơ hội tiếp cận các chính sách
và dịch vụ một cách nhanh nhất
1.1.3 Thuyết nhu cầu của Abraham Maslow
Mỗi con người sinh ra trong xã hội ai cũng có những nhu cầu cho cuộc sốngsinh tồn của mình, đó là nhu cầu về vật chất và nhu cầu về tinh thần Các nhu cầu
đó rất đa dạng, phong phú và phát triển Nhu cầu của con người phản ánh nhữngmong muốn chủ quan hoặc khách quan tùy theo hoàn cảnh sống, yếu tố văn hóa,nhận thức và vị trí xã hội của họ Để tồn tại và phát triển trong xã hội, con ngườicần phải đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống như: ăn, mặc, ở vàchăm sóc y tế… rồi đến các nhu cầu cao hơn như: nhu cầu được an toàn, được họchành, được yêu thương, được tôn trọng và phát triển Khi con người được đáp ứngcác nhu cầu cơ bản thì họ mới có động lực và đó cũng chính là điều kiện để đượcđáp ứng các nhu cầu cao hơn
Trang 26Theo thuyết động cơ của Maslow, con người là một thực thể sinh - tâm lý xãhội Dó đó, con người có nhu cầu cá nhân cần cho sự sống (nhu cầu về sinh học) vànhu cầu về xã hội Ông chia nhu cầu con người thành 5 bậc thang từ thấp đến cao:
- Nhu cầu sống còn, bao gồm: nhu cầu về không khí, nước, thức ăn, quần áo,nhà ở, nghỉ ngơi…
- Nhu cầu an toàn: Ai cũng có mong muốn được sống trong một thế giới hòabình, không có chiến tranh, không có bạo lực, kể cả trong những trường hợp bị mất
kế sinh nhai được Nhà nước và xã hội bảo vệ và giúp đỡ
- Nhu cầu giao tiếp: Là con người xã hội, con người có các nhu cầu giao tiếp,nhu cầu sự yêu thương, chia sẻ Họ không muốn có sự cô đơn, bị bỏ ra ngoài lề xãhội, họ mong muốn có hạnh phúc gia đình, sự tham gia và thuộc một nhóm nào đó(gia đình, bạn bè, cộng đồng)
- Nhu cầu được tôn trọng: Tự trọng là giá trị của chính cá nhân mỗi người;được người khác tôn trọng là sự mong muốn được người khác thừa nhận giá trị củamình
- Nhu cầu hoàn thiện: Trong cuộc sống, ai cũng mong muốn tự khẳng địnhmình và được xã hội tạo điều kiện để hoàn thiện và phát triển cá nhân [15]
Tuy nhiên, không phải trong xã hội, ai cũng luôn được đáp ứng các nhu cầu
đó một cách đầy đủ, vẫn tồn tại những con người thiếu thốn các nguồn lực để đápứng các nhu cầu của các nhân và gia đình Có những người có nguy cơ bị đe dọađến cuộc sống thường ngày Vì vậy, những người này rất cần được sự giúp đỡ củaNhà nước và xã hội
Dựa vào thuyết nhu cầu để nhận định những nhu cầu nói chung của conngười Tuy nhiên, phải tùy vào hoàn cảnh của từng cá nhân và gia đình cụ thể đểxem xét họ đang thiếu và cần những nhu cầu gì Vì họ là những cá thể khác nhaunên họ có những nhu cầu khác nhau Vì thế khi tiếp cận theo những nhu cầu sẽ giúpnhân viên xã hội hiểu rõ từng hoàn cảnh sống của từng cá nhân khác nhau và sẽhiểu rõ hơn những nhu cầu mà cá nhân họ đang cần để khi hỗ trợ và cung cấp cácdịch vụ không theo hướng chủ quan
Tiếp cận theo nhu cầu giúp nhân viên xã hội thấu hiểu được tâm tư nguyệnvọng của đối tượng, biết họ đang cần và thiếu cái gì và biết lắng nghe để cảm thôngvới những mong muốn của đối tượng Vì thế, khi hiểu rõ những nhu cầu mà đối
Trang 27tượng đang cần thì nhân viên xã hội cố gắng để động viên khích lệ họ tham gia vàothực hiện các hoạt động và cùng với sự hỗ trợ từ các nguồn lực nhằm đạt được nhucầu mà họ đang mong muốn.
Trong xã hội, thường có những cá nhân thiếu các nguồn lực để đáp ứng cácnhu cầu cơ bản nên họ không có khả năng đảm bảo được cuộc sống của mình, cóthể bị đe dọa đến sự an toàn của cuộc sống Vì thế họ rất cần đến sự trợ giúp của xãhội Khi các nhu cầu cơ bản của cuộc sống được đáp ứng chính là động cơ để thúcđẩy họ tham gia vào các hoạt động sản xuất và các hoạt động trong xã hội Từ đógiúp họ tăng năng lực và tự chủ trong cuộc sống hàng ngày
Trong luận văn này, tác giả sử dụng thuyết nhu cầu nhằm nói lên rằng, mỗicon người trong xã hội ai cũng có những nhu cầu đó, nhưng tùy theo hoàn cảnhsống và địa vị của từng con người mà họ có những nhu cầu khác nhau Là một nhàcông tác xã hội, muốn giúp đỡ và giải quyết khó khăn của NKT thì trước hết phảihiểu và nắm bắt được nhu cầu của NKT Ví dụ, do sự thiếu hụt về thể chất dẫn tớikhả năng hoạt động chức năng của NKT có thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp khó khăntrở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập Do đó gia đình và xã hội cần có sự hỗtrợ cho NKT như chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng, cấp xe lăn, máy trợthính Hay NKT khó khăn đi lại hoặc giao tiếp nên hoạt động lao động, giao lưu hạnchế hơn so với người bình thường, do đó gia đình và xã hội cần tạo điều kiện choNKT hòa nhập vào cuộc sống xã hội, ví dụ như tổ chức các câu lạc bộ, các sinh hoạtgiải trí, thể thao Khi nhu cầu được đáp ứng cũng chính là động lực để họ tham giavào quá trình sản xuất cũng như các hoạt động xã hội, nhằm tạo điều kiện cho họnâng cao năng lực và ngày càng phát triển hoàn thiện hơn
1.3 Công tác xã hội và thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật
Trang 28trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa xã hội và môi trường Chính sách thường thể chếhóa quy định trong hệ thống pháp luật quốc gia Chính sách luôn là các yếu tố chủthể chính sách (xây dựng và tổ chức thực thi), đối tượng xã hội chịu tác động vàmôi trường thực thi chính sách.
b) Khái niệm công tác xã hội
Cộng đồng quốc tế đã đưa ra khái niệm công tác xã hội là nghề tham gia vàogiải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi
xã hội, tăng cường sự trao quyền và giải phóng quyền lực nhằm nâng cao chấtlượng sống của con người CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và
lý luận về hệ thống xã hội vào can thiệp sự tương tác của con người với môi trườngsống” [7]
Việt Nam các chuyên gia đã đưa ra khái niệm công tác xã hội là hoạt độngthực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc,phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề Công tác xã hộitheo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội [7] Như vậy,công tác xã hội được xem là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp phầngiải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn nhu cầu cănbản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của mình
c) Công tác xã hội đối với người khuyết tật
Trong tất cả các đối tượng mà CTXH cần trợ giúp, hỗ trợ thì NKT có thể nói
là một nhóm đối tượng cần được sự quan tâm và trợ giúp đặc biệt Việc trợ giúp củanhân viên CTXH đối với NKT được coi là một lĩnh vực chuyên môn sâu của ngườilàm CTXH, lĩnh vực này được gọi là “CTXH đối với NKT”
Mục đích của CTXH đối với NKT là tạo điều kiện để giúp đỡ NKT pháttriển năng lực bản thân một cách tốt nhất và tạo được môi trường phát triển, hòanhập tốt cho NKT Muốn đạt được mục đích nêu trên, bản thân NKT cần được giúp
đỡ về mọi mặt, từ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục, đến tạo cơ hội việc làm và thunhập; từ việc nâng cao đời sống vật chất đến nâng cao đời sống tinh thần… Mặtkhác NKT là đối tượng có hạn chế về thể lực, tâm lý… vì vậy đòi hỏi nhân viên
Trang 29CTXH khi làm việc với NKT phải có tấm lòng bao dung, nhân hậu, cảm thông vàchia sẻ, đồng thời nhân viên CTXH phải có những phẩm chất, đạo đức, phươngpháp và kỹ năng làm việc chuyên nghiệp thì mới có thể đem lại hiệu quả tốt nhấtcho NKT.
Từ những phân tích, nhận định về CTXH đối với NKT như trên, chúng ta cóthể hiểu: Công tác xã hội đối với NKT là hoạt động chuyên nghiệp của nhân viêncông tác xã hội giúp đỡ những NKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện cácchức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để
hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ mộtcách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt
động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội.
d) Chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật
Như phân tích trên, CTXH là một nghề và nghề CTXH cũng là một lĩnh vựchoạt động lao động, với đội ngũ cán bộ, nhân viên, cộng tác viên công tác xã hộiđược đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu những tri thức, kỹ năng, đạo đức của nghềnghiệp để cung cấp các dịch vụ công tác xã hội (DVCTXH), đáp ứng được nhu cầunâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã hội của cá nhân, gia đình và cộng đồngcần sự trợ giúp
Chính sách CTXH đối với NKT là sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải phápcủa Nhà nước trong việc hình thành và phát triển CTXH thành một nghề chuyênnghiệp, đảm bảo cho nhân viên CTXH triển khai các cách tiếp cận, phương phápcủa nghề CTXH và chuyên nghiệp hóa (DVCTXH) đối với NKT theo quan điểm,đường lối của Đảng trong thực hiện chính sách đối với NKT, nhằm đảm bảo thựchiện quyền của NKT, góp phần hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triểncon người toàn diện
e) Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật
Từ những phân tích về chính sách CTXH đối với NKT, chúng ta nhận địnhviệc thực hiện chính sách CTXH đối với NKT là toàn bộ quá trình chuyển hóa hệthống chính sách CTXH đối với NKT thành hiện thực, đưa chính sách đi vào cuộc
Trang 30sống, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của NKT, gia đình NKT Tổ chức thực thichính sách CTXH đối với NKT là sự kết nối, chuyển hóa liên tiếp các quy định, cácchính sách đến với NKT Việc hoạch định chính sách CTXH đối với NKT đúng, cóchất lượng là rất quan trọng, nhưng thực hiện chính sách CTXH đối với NKT cònquan trọng hơn Có chính sách đúng nhưng không được thực hiện sẽ trở thành khẩuhiệu suông, không những không có ý nghĩa, mà còn ảnh hưởng đến uy tín của chủthể hoạch định và ban hành chính sách Ngoài ra nếu chính sách CTXH đối vớiNKT không được thực hiện đúng sẽ dẫn đến sự thiếu tin tưởng và sự phản ứng củathân chủ đối với nhân viên CTXH Điều này hoàn toàn bất lợi quá trình tác nghiệpcủa nhân viên CTXH Qua thực hiện mới biết được chính sách CTXH có đúng, phùhợp và đi vào cuộc sống hay không Thực hiện chính sách CTXH là thước đo, là cơ
sở đánh giá một cách chính xác, khách quan sự đúng đắn của chính sách CTXH.Việc đưa chính sách CTXH vào thực tiễn cuộc sống là một quá trình phức tạp đầybiến động, chịu sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau giúp các nhà hoạch định và
tổ chức thực hiện chính sách CTXH có kinh nghiệm để đề ra được các giải pháphữu hiệu trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách CTXH
Từ sự phân tích và đánh giá trên, khái niệm thực hiện chính sách CTXH đối
với NKT có thể khái quát như sau: Thực hiện chính sách CTXH là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách CTXH đối với NKT thành hiện thực,
là bước đặc biệt quan trọng để đưa chính sách CTXH vào cuộc sống, nhằm đáp ứng nhu cầu nguyện vọng chính đáng của NKT Chất lượng, hiệu quả thực hiện
chính sách CTXH đối với NKT phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ nhânviên CTXH trong thực thi chính sách
1.3.2 Nội dung của chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật
Xét về bản chất, mục tiêu cuối cùng của chính sách CTXH nói chung vàcông tác xã hội đối với NKT nói riêng là các biện pháp, giải pháp và các can thiệpbằng các công cụ quản lý của nhà nước vào xã hội để thừa nhận và phát triển côngtác xã hội thành một nghề chuyên nghiệp và được các đối tượng chịu tác động cũngnhư hưởng lợi của CTXH chấp nhận và sử dụng thường xuyên các hoạt động
Trang 31CTXH Chính vì vậy nội dung của chính sách CTXH sẽ rất rộng, bao gồm:
(i) Các chính sách tuyên truyền về CTXH
(ii) Các chính sách phát triển nguồn nhân lực làm CTXH (chính sách cán bộ,chính sách tiền lương, ưu đãi ngành nghề, chính sách đào tạo…)
(iii) Chính sách tài chính, ưu tiên nguồn lực cho CTXH
(iv) Chính sách đầu tư phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội(hệ thống Trung tâm, cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội, hành nghề công tác xãhội, khuôn khổ pháp luật đầu tư….)
(v) Chính sách hỗ trợ đối tượng thụ hưởng xử dụng các dịch vụ CTXH Ởchừng mực nào đó khi CTXH chưa thành nghề, xã hội chưa biết đến và sử dụng,tiêu dùng nó như một nhu cầu cần thiết thì cũng cần có các chính sách hỗ trợ củanhà nước Cụ thể như giảm giá, miễn phí, khuyến khích thay đổi thói quen…
1.3.3 Nội dung thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật
Sau khi chính sách CTXH đối với NKT được hoạch định, chính sách đó cầnđược thực thi thì mục tiêu của chính sách đó mới đạt được Khâu thực hiện là khâuthứ hai trong cả quá trình chính sách, nhằm mục tiêu biến các chính sách thànhnhững hoạt động và những kết quả cụ thể Cơ quan hành chính nhà nước, cụ thể là
cơ quan LĐTBXH các cấp chịu trách nhiệm chính tổ chức thực hiện chính sáchCTXH đối với NKT Như vậy, có thể hiểu thực hiện chính sách CTXH đối vớiNKT là một quá trình do cơ quan nhà nước các cấp thực hiện nhằm biến các chínhsách CTXH thành những kết quả cụ thể và để đạt được các mục tiêu đã đặt ra củachính sách Quá trình thực hiện chính sách CTXH đối với NKT là một quá trìnhthường xuyên liên tục và qua 3 giai đoạn với các nội dung cụ thể sau:
Giai đoạn 1 Giai đoạn chuẩn bị triển khai thực hiện chính sách
Đây là giai đoạn đầu của thực hiện chính sách, nhiệm vụ của giai đoạn này làbảo đảm về cơ cấu tổ chức bộ máy và chuẩn bị nguồn lực thực hiện chính sách Giaiđoạn này gồm các nội dung là:
(i) Xây dựng bộ máy tổ chức thực hiện,
Trang 32(ii) Lập kế hoạch triển khai thực hiện,
(iii) Ban hành văn bản hướng dẫn và
(iv) Tổ chức tập huấn cán bộ, cơ quan và các đối tượng tham gia trong quátrình thực hiện chính sách
Trong đó tổ chức bộ máy, cán bộ thực hiện chính sách CTXH và chính sáchđối với NKT ở địa phương đã và đang phân công cho ngành LĐTBXH tổ chức thựchiện Chính vì vậy, giai đoạn này ở cấp nào thì do cơ quan LĐTBXH cấp đó chủ trì,phối hợp với các sở, ban ngành của địa phương thực hiện
Giai đoạn 2: Chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách
Đây là khâu quan trọng nhất của quá trình thực hiện chính sách nói chung vàchính sách CTXH nói riêng Nhiệm vụ của chỉ đạo thực hiện chính sách là các hoạtđộng, nội dung để đưa chính sách vào cuộc sống Giai đoạn này được chia làm cácbước cụ thể như sau:
(i) Truyền thông và tư vấn về các nội dung chính sách và các hoạt động tổchức thực hiện chính sách, nguồn lực thực hiện chính sách Hướng tới việc bảo đảmđồng thuận trong quá trình thực hiện
(ii) Triển khai thực hiện các chế độ chính sách cụ thể đối với từng nhóm đốitượng
(iii) Quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực (các quỹ) cho các chínhsách công tác xã hội
(iv) Điều hành, phối hợp các cơ quan, tổ chức cá nhân tham gia trong quátrình tổ chức thực hiện
(v) Vận hành hệ thống cung cấp dịch vụ CTXH đối với NKT
Giai đoạn 3: Giai đoạn kiểm tra thực hiện chính sách
Đây là giai đoạn cuối của tổ chức thực hiện chính sách Nhiệm vụ của giaiđoạn này là giám sát, đo lường, đánh giá thực hiện, phát hiện những vấn đề nảy sinhtrong thực tế, duy trì hệ thống thông tin phản hồi về chính sách, nhằm điều chỉnhhoạt động của các bên như: Cơ quan LĐTBXH, các sở, ban ngành liên quan, các cơ
sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội (trung tâm BTXH), nhân viên công tác xã hội,
Trang 33người thụ hưởng dịch vụ công tác xã hội (NKT) Đồng thời đưa ra khuyến nghị điềuchỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn Bao gồm cả điều chỉnh về nội dung chínhsách và các điều chỉnh về nội dung tổ chức thực hiện chính sách Các điều chỉnhnày vẫn phải giữ được mục tiêu, cũng như những yêu cầu cần đạt được của chínhsách Giai đoạn này gồm các bước:
(i) Xây dựng hệ thống thông tin báo cáo, giám sát, phản hồi và thu thậpthông tin
(ii) Tổ chức kiểm tra, thanh tra cấp dưới Cụ thể tỉnh kiểm tra thanh trahuyện, xã và các cơ sở cung cấp dịch vụ Huyện kiểm tra cấp xã, cá nhân cung cấpdịch vụ
(iii) Tổ chức đánh giá thực hiện chính sách Việc đánh giá phải được thựchiện thường xuyên theo định kỳ và đột xuất Đánh giá chính sách cần có phươngpháp, công cụ và người thực hiện đánh giá Thông thường mỗi nội dung chính sáchCTXH cần có các công cụ, phương pháp và cách thức đánh giá riêng biệt
(iv) Đề xuất sửa đổi chính sách cho phù hợp Khâu này cũng rất quan trọng,nhưng thường ít được các cơ quan quan tâm và thực hiện nghiêm túc và đầy đủ.Trong quá trình thực hiện rất tốn kém chi phí và nguồn lực cho đánh giá chính sách
và khuyến nghị các giải pháp hoàn chỉnh Tuy nhiên, người ta quan tâm nhiều đếnđánh giá kết quả đạt được, chưa đạt được Ít tìm hiểu sâu xem chưa đạt được là donguyên nhân gì và vì sao Từ đó có đề xuất các khuyến nghị một cách tốt nhất chođiều chỉnh, sửa đổi, bổ sung hay bãi bỏ những chính sách chưa phù hợp
1.4 Nhân tố tác động thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật
Để việc thực hiện chính sách CTXH đối với NKT một cách có hiệu quả, đòihỏi phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như yếu tố về trình độ học vấn, yếu tốnhận thức của cộng đồng, sự phát triển chuyên nghiệp của nghề CTXH, tình hìnhkinh tế - chính trị, yếu tố đặc điểm của NKT… Mỗi yếu tố đều có ảnh hưởng đếnhoạt động CTXH ở các mức độ khác nhau, các yếu tố này có thể ảnh hưởng tíchcực, giúp cho hoạt động công tác xã hội được triển khai một cách rộng rãi và đạt
Trang 34hiệu quả cao, nhưng cũng có thể ảnh hưởng tiêu cực, tác động làm cho hoạt độngcông tác xã hội đối với NKT bị trì trệ Trong phạm vi đề tài, tác giả đưa ra 05 yếu tốảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội đối với NKT, cụ thể:
1.4.1 Nhân tố của người khuyết tật
Thực hiện các chính sách công tác xã hội đối với NKT thì nhân tố của NKT
là vô cùng quan trọng, chính sách thực hiện hiệu quả còn tùy thuộc vào khả năngtiếp cận của bản thân họ Chính NKT là người sẽ thụ hưởng chính của các chínhsách ưu đãi xã hội
Việc thực hiện chính sách công tác xã hội đối với NKT đã tạo ra nhữngchuyển biến tích cực đối với cuộc sống của đối tượng Sự thay đổi về nhận thức xãhội giúp cho NKT tự tin hơn, hòa nhập vào đời sống xã hội ngày càng thuận lợi,từng bước giảm dần những rào cản, cải thiện một bước việc đáp ứng các nhu cầu,quyền lợi của NKT, tạo động lực để họ phát huy năng lực, vươn lên hòa nhập với xãhội
1.4.3 Nhân tố điều kiện cơ sở vật chất
Cơ sở vật chất có ảnh hưởng lớn đối với chất lượng của việc thực hiện cácchính sách xã hội Trong quá trình thực hiện, nếu địa phương, cơ sở xã hội nào có
Trang 35cơ sở vật chất đầy đủ hiện đại sẽ mang lại sự tiện lợi và đáp ứng được những nhucầu cần hỗ trợ cho NKT Ngược lại, cơ sở vật chất nghèo nàn, lạc hậu thì sẽ làm choviệc thực hiện các chính sách gặp trở ngại, khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hộidành cho NKT sẽ vô cùng hạn chế Vì vậy, để đánh giá hiệu quả cũng như ghi nhậnnhân tố có ảnh hưởng đáng kể đến thực hiện chính sách CTXH cho NKT thì nhân tốđiều kiện cơ sở vật chất là vô cùng quan trọng
1.4.4 Hệ thống chính sách, chương trình
Để người NKT tiếp nhận được nguồn hỗ trợ và các chính sách ưu đãi củaNhà nước, song song với yếu tố cán bộ và điều kiện cơ sở vật chất đáp ứng thì hệthống chính sách chương trình hỗ trợ là nhân tố không thể tách rời Chính hệ thốngcác chính sách chương trình này là điều kiện và là nhân tố tiên quyết ảnh hưởng đếnviệc đưa các chính sách dành cho NKT vào cuộc sống, xem xét khả năng tiếp cậncủa đối tượng và hiệu quả sau khi triển khai vào đời sống xã hội
Hệ thống các chính sách, chương trình càng đầy đủ, phong phú và rõ ràngphù hợp với đối tượng thì khả năng thực tế thực hiện sẽ đạt hiệu quả vô cùng to lớn.Ngược lại, nếu các chính sách không đầy đủ và các chương trình triển khai thựchiện không phù hợp với điều kiện thực tế thì chắc chắn việc thực thi các chính sách
sẽ gặp rất nhiều bất cập, chồng chéo và khó khăn
1.4.5 Nguồn lực thực hiện chính sách
Nguồn lực là một yếu tố rất quan trọng và thiết thực Các hoạt động củaCTXH trước hết phải xuất phát từ cái “Tâm” nhưng nếu không có nguồn lực đểthực hiện những hoạt động cụ thể thì hiệu quả đạt công sẽ không cao Nguồn kinhphí dành cho việc trợ giúp NKT được trích từ ngân sách Nhà nước, ngân sách địaphương Ngoài ra, còn có sự hỗ trợ kinh phí từ các tổ chức phi chính phủ, nguồn lựckinh phí từ cộng đồng và gia đình NKT Tuy nhiên, nguồn kinh phí cho hoạt độngđưa chính sách CTXH đối với NKT còn chưa nhiều
NKT là đối tượng yếu thế, gặp nhiều khó khăn về thể xác và tinh thần nên cáchình thức và phương án hỗ trợ họ cần nhiều thời gian, kinh phí Vì thế, rất cần có
Trang 36kinh phí hỗ trợ dồi dào, đầy đủ thì các hoạt động CTXH tiến hành dễ dàng và hiệuquả cao
1.5 Hệ thống luật pháp, chính sách về công tác xã hội đối với người khuyết tật
1.5.1 Hệ thống chính sách, pháp luật về người khuyết tật
Để giúp cho người khuyết tật giảm bớt những khó khăn trong cuộc sống vàtham gia một cách bình đẳng vào các hoạt động của xã hội, nhân viên CTXH làmviệc với NKT cần phải nắm biết các văn bản pháp lý về trợ giúp cho người khuyếttật và gia đình để có thể tận dụng các nguồn lực phù hợp trong việc hỗ trợ ngườikhuyết tật Hệ thống chính sách đối với NKT đã được quy định cụ thể trong hệthống văn bản pháp luật và các đề án của Chính phủ Cụ thể:
- Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được Quốc hội thôngqua năm 1992, sửa đổi năm 2001 và năm 2013, việc bảo vệ người khuyết tật đượcnêu tại Điều 59 và Điều 61;
- Công ước quốc tế về NKT được ban hành ngày 13 tháng 12 năm 2006;
- Luật Người khuyết tật;
- Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chitiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật người khuyết tật;
- Nghị định số 136/2013/NĐ-CP ngày 21/10/2013 của Chính phủ quy địnhchính sách trợ giúp xã hội đối với đối tượng bảo trợ xã hội;
- Quyết định số 32/2010/QĐ - TTg ngày 25/03/2010 của Thủ tướng Chínhphủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010- 2020;
- Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012-2020;
- Quyết định số 1215/QĐ-TTg ngày 22/7/2011 của Thủ tướng Chính phủ phêduyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rốinhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng giai đoạn 2011 – 2020;
Trang 37- Thông tư số 09/2013/TTLT-BLĐTBXH-BNV ngày 10 tháng 6 năm 2013của Bộ LĐTBXH - Bộ Nội vụ hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơcấu tổ chức của Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội công lập.
- Thông tư số 01/2015/TT-BLĐTBXH ngày 06/01/2015 của Bộ Lao động –TBXH, Hướng dẫn về quản lý trường hợp với người khuyết tật
Nội dung chính sách được quy định trong Luật người khuyết tật và các vănbản quy định chi tiết và hướng dẫn Luật người khuyết tật bao gồm:
(i) Nhà nước bố trí ngân sách để thực hiện chính sách về người khuyết tật.(ii) Phòng ngừa, giảm thiểu khuyết tật bẩm sinh, khuyết tật do tai nạn thươngtích, bệnh tật và nguy cơ khác dẫn đến khuyết tật
(iii) Trợ giúp người khuyết tật trong chăm sóc sức khỏe, giáo dục, dạy nghề,việc làm, văn hóa, thể thao, giải trí, tiếp cận công trình công cộng và công nghệthông tin, tham gia giao thông; ưu tiên thực hiện chính sách bảo trợ xã hội và hỗ trợngười khuyết tật là trẻ em, người cao tuổi
(iv) Lồng ghép chính sách về người khuyết tật trong chính sách phát triểnkinh tế - xã hội
(v) Tạo điều kiện để người khuyết tật được chỉnh hình, phục hồi chức năng;khắc phục khó khăn, sống độc lập và hòa nhập cộng đồng
(vi) Đào tạo, bồi dưỡng người làm công tác tư vấn, chăm sóc NKT
(vii) Khuyến khích hoạt động trợ giúp người khuyết tật; tạo điều kiện để tổchức của người khuyết tật, tổ chức vì người khuyết tật hoạt động;
(viii) Khen thưởng cơ quan, tổ chức, cá nhân có thành tích, đóng góp trongviệc trợ giúp người khuyết tật; xử lý nghiêm minh cơ quan, tổ chức, cá nhân cóhành vi vi phạm quy định
Như vậy, Chính phủ và các Bộ, ngành, các cơ quan từ Trung ương đến địaphương nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy định chính sách trợ giúp NKT trongcác lĩnh vực của đời sống xã hội, xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan chứcnăng Sự quan tâm này đã và đang góp phần cải thiện đời sống NKT, làm thay đổi
Trang 38nhận thức xã hội về NKT, đồng thời tạo môi trường pháp lý, môi trường xã hộithuận lợi để NKT hòa nhập cộng đồng.
1.5.2 Hệ thống chính sách, pháp luật về công tác xã hội
Chính sách có vai trò hết sức quan trọng và là cơ sở pháp lý để thực hiệnchính sách CTXH đối với NKT Trên thực tế, CTXH với những biểu hiện cụ thểcủa nó đã được đề cập trong pháp luật Việt Nam từ rất sớm, ngay những năm 40-50của thế kỷ trước thông qua các hoạt động trợ giúp, hỗ trợ người cao tuổi, trẻ em mồcôi, khuyết tật, những người gặp hoàn cảnh đặc biệt khó khăn do cá nhân, tổ chứcnhư Hội Chữ thập đỏ, phụ nữ, thanh niên Tuy nhiên, cho đến nay nghề CTXH mớiđược khẳng định CTXH đã được coi là một nghề và có mã số, ngạch bậc, có ngườithực hiện ở các cấp Đầu những năm 1990 CTXH mới được biết đến thông quakhóa tập huấn ngắn hạn, qua các chương trình đào tạo ở một số trường đại học, caođẳng, hoặc khi Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành mã số đào tạo cho CTXH là mộtngành học ở cấp cao đẳng và đại học 2004, hay đến khi có Quyết định số32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề ánphát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2010-2020 Tiếp đến nhiều
Bộ, ngành đã ban hành nhiều chính sách nhằm phát triển nguồn nhân lực, môitrường làm việc, mạng lưới cơ sở dịch vụ cho sự phát triển nghề CTXH như Thông
tư số 08/2010/TT-BNV ngày 25/8/2010 của Bộ Nội vụ ban hành chức danh, mã sốcác ngạch viên chức CTXH, Thông tư số 01/2017/TT-BLĐTBXH ngày 02/02/2017của Bộ LĐTBXH quy định về tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp đối với người làmcông tác xã hội… Đây được xem là một dấu ngoặc trong tiến hành phát triển CTXHthành một nghề chuyên nghiệp ở Việt Nam
Đã có những văn bản có liên quan đến hoạt động CTXH được quy định trongcác lĩnh vực cụ thể là cơ sở thuận lợi cho việc bổ sung, điều chỉnh, xây dựng cácquy định pháp luật về nghề CTXH trong thời gian tới Nhiều nội dung liên quanđến CTXH đã được qui định trong pháp luật Việt Nam, có liên quan đến nhiều lĩnhvực của các Bộ, ngành Pháp luật Việt Nam đã có một số văn bản quy định trực tiếp
Trang 39về CTXH như Luật Nuôi con nuôi, Nghị định số 19/2011/NĐ-CP của Chính phủhướng dẫn Luật nuôi con nuôi,…
Bên cạnh đó có nhiều văn bản mặc dù không quy định cụ thể về CTXHnhưng đã có quy định thể hiện khá rõ nét bản chất của CTXH và dịch vụ CTXH.Việc tổ chức thực hiện các quy định có liên quan đến CTXH và dịch vụ công tác xãhội về cơ bản đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền, lãnh đạo các ban ngành, tổchức quan tâm chỉ đạo, triển khai và đã đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận, đó là
cơ sở để từng bước đóng góp vào sự phát triển, hoàn thiện nghề CTXH
Hầu hết các văn bản trong các lĩnh vực: Hình sự, Dân sự, Hôn nhân và giađình, Nuôi con nuôi, Trợ giúp pháp lý; Lao động-Xã hội; Giáo dục, Y tế…có liênquan đến hoạt động CTXH về cơ bản đảm bảo tính hợp Hiến, hợp pháp, đa dạng,
có kế thừa, phát huy, điều chỉnh và bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tiễn đặt
ra và đảm bảo tuân thủ và thực hiện đúng đường lối, chính sách của Đảng và phápluật Nhà nước Trong mỗi giai đoạn phát triển của xã hội, các văn bản đã được triểnkhai thực hiện và cơ bản đã đáp ứng những vấn đề có liên quan đến những hoạt
động phục vụ con người, cộng đồng, xã hội Hệ thống chính sách, pháp luật về
CTXH có tác động quyết định trong thực hiện chính sách CTXH, là cơ sở để hìnhthành, xây dựng và phát triển cho CTXH và thực hiện chính sách CTXH
Tiểu kết Chương 1
Chương 1 đã tổng hợp và khái quát lý luận về NKT và các nội dung cơ bản
về chính sách CTXH cũng như những nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chínhsách CTXH đối với NKT để làm cơ sở cho việc triển khai điều tra nghiên cứu vềthực trạng cũng như đề xuất các giải pháp tăng cường thực hiện chính sách Từ cơ
sở lý luận cho thấy chính sách CTXH nói chung và chính sách CTXH đối với NKTnói riêng đã và đang được hình thành cơ sở khoa học một cách toàn diện Tuy nhiên
Trang 40cũng vẫn còn những điểm hạn chế cần tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện Trong đó đặcbiệt là nghiên cứu mô hình thực tiễn ở cấp tỉnh để tổng kết hoàn thiện thêm bướcnữa
Kết quả phân tích ở chương 1 đã cơ bản làm rõ được vấn đề về nội dung thựchiện chính sách CTXH đối với NKT cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quảthực hiện chính sách CTXH đối với NKT