Thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề tại Trung tâm .... Tuy nhiên, hiện chưa có nhiều các nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội cá nhân hỗ trợ
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÚY HÒA
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ TẠI TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ BẢO TRỢ
XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
HÀ NỘI – 2019
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THỊ THÚY HÒA
ỨNG DỤNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ TẠI TRUNG TÂM NUÔI DƯỠNG NGƯỜI CÓ CÔNG VÀ BẢO TRỢ
XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH
Chuyên ngành: Công tác xã hội ứng dụng
Mã số: 60.90.01.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
Người hướng dẫn khoa học: TS.Nguyễn Thị Thái Lan
HÀ NỘI - 2019
Trang 3DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CTXHCN Công tác xã hội cá nhân
NDNCC&BTXH Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội
NVCTXH Nhân viên công tác xã hội
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG 8
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ 9
Mở đầu 5
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu 6
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu 8
4 Câu hỏi nghiên cứu 9
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu 5
7 Bố cục của luận văn 15
Phần 2 Nội dung chính 16
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ 16
1.1 Lý luận về khuyết tật 16
1.1.1 Khái niệm về người khuyết tật 16
1.1.2 Các dạng và mức độ khuyết tật 16
1.2 Khái niệm học nghề và người khuyết tật học nghề 18
1.2.1 Khái niệm về học nghề 18
1.2.2 Khái niệm người khuyết tật học nghề 18
1.3 Lý luận về công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề 18
1.3.1 Khái niệm Công tác xã hội 18
1.3.2 Công tác xã hội với cá nhân 19
1.3.3 Công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề 20
1.4 Tiến trình công tác xã hội cá nhân 20
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề 22
1.5.1 Bản thân người khuyết tật 22
1.5.2 Nhân viên công tác xã hội 23
1.5.3 Yếu tố gia đình người khuyết tật 23
1.5.4 Cơ sở trợ giúp người khuyết tật học nghề 23
1.6 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 24
1.6.1 Lý thuyết nhu cầu 24
Trang 51.6.2 Lý thuyết hệ thống và sinh thái 26
1.7 Hệ thống luật pháp quy định về hoạt động học nghề đối với người khuyết tật 28
1.8 Giới thiệu địa bàn thực hiện nghiên cứu 29
Chương 2 THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ 34
2.1 Đặc điểm chung về người khuyết tật trong trung tâm 34
2.2 Thông tin về khách thể tham gia nghiên cứu 36
2.2.1 Thông tin chung về khách thể tham gia nghiên cứu 36
2.2.2 Dạng khuyết tật của khách thể nghiên cứu 36
2.2.3 Thực trạng hoạt độnghọc nghề của khách thể nghiên cứu 37
2.2.4 Đánh giá về nhu cầu học nghề và hỗ trợ học nghề của người khuyết tật 37
2.2.5 Thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề tại Trung tâm 39
2.2.6 Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động công tác xã hội cá nhân 44
Chương 3 ỨNG DỤNG TIẾN TRÌNH CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ 53
3.1 Mô tả trường hợp 53
3.2 Tiến trình công tác xã hội cá nhân 53
3.2.1 Tiếp cận và thu thập thông tin 53
3.2.4 Thực hiện kế hoạch hỗ trợ S 63
3.2.5 Lượng giá, kết thúc 66
3.3 Bài học kinh nghiệm/ đánh giá việc áp dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân hỗ trợ NKT học nghề 67
3.3.1 Mối liên hệ giữa lý thuyết và thực tế 67
3.3.2 Thực hiện lập và triển khai kế hoạch 67
3.3.3 Giải quyết khó khăn 68
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 70
4.1 Kết luận 70
Trang 64.2 Khuyến nghị 71
4.2.1 Đối với nhân viên công tác xã hội 71
4.2.2 Đối với người khuyết tật 71
4.2.3 Đối với gia đình 72
4.2.4 Đối với Trung tâm Nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội 72
TÀI LIỆU THAM KHẢO 74
PHỤ LỤC 77
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin về độ tuổi và giới tính của người khuyết tật tại Trung tâm 34
Bảng 2.2: Thông tin về dạng khuyết tật của khách thể nghiên cứu 36
Bảng 2.3 Nhu cầu hỗ trợ của NKT về hoạt động công tác xã hội cá nhân trong quá trình học nghề 39
Bảng 2.4 Kết quả các hoạt động hỗ trợ CTXHCN 41
Bảng 2.5 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân NKT đến hoạt động CTXHCN 44
Bảng 3.1: Kết quả quan sát thân chủ 55
Bảng 3.2: Thông tin chi tiết về thân chủ 56
Bảng 3.3: Phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với thân chủ 58
Bảng 3.4: Kế hoạch hỗ trợ S 61
Bảng 3.5: Tình hình của thân chủ trước khi can thiệp và hiện tại 66
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Tiến trình Công tác xã hội cá nhân với NKT học nghề 21
Sơ đồ 1.2: Tháp nhu cầu của Maslow 24
Sơ đồ 2.1: Mô tả cơ cấu tổ chức của Trung tâm 30
Biểu đồ 2.1 Các dạng khuyết tật của đối tượng tại Trung tâm 35
Biểu đồ 2.2 Phân loại ngành nghề đào tạo của NKT tại Trung tâm 35
Biểu đồ 2.3: Giới tính của khách thể nghiên cứu 36
Biểu đồ 2.4: Loại hình nghề NKT đang được đào tạo tại Trung tâm 37
Biểu đồ 2.5: Mức độ nhận được hỗ trợ tư vấn nghề, hướng nghiệp của NKT 40
Biểu đồ 2.6 Đánh giá hiệu quả của hoạt động tư vấn nghề, hướng nghiệp 42
Biểu đồ 2.7 Đánh giá hiệu quả của hoạt động tham vấn, hỗ trợ kỹ năng giao tiếp, hỗ trợ tìm kiếm nguồn lực 43
Biểu đồ 2.8 Mức độ rất ảnh hưởng của các yếu tố cá nhân NKT đến hoạt động CTXHCN 45
Biểu đồ 2.9 Mức độ rất ảnh hưởng của các yếu tố trình độ chuyên môn của NVCTXH đối với hoạt động CTXHCN 46
Biểu đồ 2.10 Mức độ rất ảnh hưởng của các yếu tố kỹ năng nghề của NVCTXH đối với hoạt động CTXHCN 47
Biểu đồ 2.11 Mức độ rất ảnh hưởng của các yếu tố thái độ, đạo đức của NVCTXH đối với hoạt động CTXHCN 48
Biểu đồ 2.12 Mức độ rất ảnh hưởng của các yếu tố sự tận tâm, yêu nghề của NVCTXH đối với hoạt động CTXHCN 49
Trang 9Mở đầu
1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu
Theo công bố về khuyết tật và sức khoẻ (Disability and Health) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 2018, trên thế giới có khoảng trên một tỷ người (tương đương 15% dân số) có một hoặc một số dạng khuyết tật, trong đó có khoảng gần 190 triệu người lớn bị khuyết tật ảnh hưởng nặng đến việc thực hiện các chức năng Số lượng người khuyết tật sống tại các nước đang phát triển có thu nhập thấp chiếm 2/3 tổng số người khuyết tật (NKT)
Tại Việt Nam, số liệu công bố của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (BLĐTBXH) (2018) cho thấy cả nước có khoảng 8 triệu người khuyết tật (chiếm 7,8% dân số) trong đó 4,06 triệu người là nữ (chiếm 58% Người khuyết tật); 1,981 triệu người khuyết tật là trẻ em (chiếm 28,3% người khuyết tật) và
714 nghìn người cao tuổi khuyết tật (chiếm 10,2% người khuyết tật) Tuy nhiên chỉ có 1,5 triệu NKT được cấp giấy xác nhận khuyết tật và 1.012.623 NKT nặng
và đặc biệt nặng được hưởng trợ cấp xã hội hàng tháng (BLĐTBXH, 2019) Tại Bắc Ninh, báo cáo cuối năm 2018 thống kê hiện có 21.721 NKT ở cả 6 dạng tật: khuyết tật vận động, nghe nói, nhìn, thần kinh tâm thần, trí tuệ và khuyết tật khác Tại Trung tâm Nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh (2018) hiện đang chăm sóc và hỗ trợ 170 người khuyết tật chủ yếu là người khuyết tật nghe, nói
Để đảm bảo người khuyết tật (NKT) có được môi trường tiếp cận hòa nhập cộng đồng không rào cản và tạo mọi cơ hội để không ai bị bỏ lại phía sau, Đảng
và Chính phủ nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, tại hành lang pháp lý và thực hiện nhiều chương trình dành cho NKT Việt Nam cũng đã phê chuẩn Công ước Quốc tế về Quyền của NKT vào ngày 22 tháng 10 năm 2007 Mới đây nhất, tháng 3 năm 2019, Chủ tịch nước phê chuẩn Việt Nam gia nhập Công ước 159 của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) về Tái thích ứng nghề nghiệp và việc làm cho NKT Có thể thấy Nhà nước đã có nhiều nỗ lực, cam kết về tạo mọi điều kiện để NKT học nghề, có việc làm ổn định Những hoạt động này giúp cho NKT tăng thêm thu nhập cho bản thân, xóa bỏ mặc cảm tự ti để hòa nhập vào cộng đồng xã hội Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy việc áp dụng các chính sách pháp luật liên quan đến dạy nghề, tạo việc làm còn nhiều thách thức, tỷ lệ NKT học nghề và tìm được việc làm phù hợp còn hạn chế
Trang 10Chính vì vậy, hoạt động dạy nghề cho NKT có vai trò quan trọng: Việc dạy nghề tốt, phù hợp sẽ hỗ trợ giải quyết được vấn đề việc, từ đó giúp cho NKT phát huy được nhân tố con người, phát triển kinh tế, ổn định xã hội, đảm bảo được quyền cơ bản của con người, quyền được lao động và hòa nhập cộng đồng
và các quyền lợi chính đáng khác của NKT Một trong những khâu quan trọng
để giúp NKT có thể học nghề một cách hiệu quả là cần có sự hỗ trợ về tâm lý, tinh thần, hoà nhập xã hội của các dịch vụ công tác xã hội
Công tác xã hội là một nghề chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng
xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch
vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn
đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội Thông qua nhiều phương pháp hỗ trợ chuyên nghiệp, công tác xã hội có đóng góp quan trọng trong việc hỗ trợ NKT (Bùi Thị Xuân Mai, 2012)
Công tác xã hội cá nhân là phương pháp trợ giúp tập trung vào cá nhân để việc trợ giúp cụ thể hơn, hiệu quả hơn Công tác xã hội cá nhân có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ NKT học nghề như vai trò huy động nguồn lực, tư vấn chương trình dạy nghề, kết nối việc làm sau khi NKT hoàn thành khóa học, Vì vậy thực hiện những nghiên cứu về CTXH trong hỗ trợ NKT học nghề là cần thiết và có ý nghĩa thiết thực đối với NKT
Tuy nhiên, hiện chưa có nhiều các nghiên cứu về hoạt động công tác xã hội
cá nhân hỗ trợ NKT trong học nghề ở Việt Nam và đặc biệt tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh và Trung tâm Nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Ninh
Từ những lý do nêu trên, tác giả lựa chọn đề tài: “Ứng dụng công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề tại Trung tâm Nuôi dưỡng Người
có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Ninh” là đề tài luận văn để phân tích làm rõ
thực trạng hoạt động và ứng dụng công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ người khuyết tật học nghề tại trung tâm và đưa ra những khuyến nghị tăng cường tính hiệu quả của phương pháp hỗ trợ chuyên nghiệp này đối với người khuyết tật học nghề
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Trang 11Nghiên cứu nhằm phân tích thực trạng hoạt động học nghề của NKT, thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân (CTXHCN) hỗ trợ NKT học nghề, phân tích những yếu tố ảnh hưởng và áp dụng tiến trình CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề Quan trọng hơn, nghiên cứu thực hiện ứng dụng can thiệp cá nhân, từ đó
đề tài sẽ đưa ra đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề tại Trung tâm Nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Ninh
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Đề tài thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu sau:
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề, các
lý thuyết ứng dụng, các yếu tố ảnh hưởng đến CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề
và cơ sở pháp lý về hoạt động học nghề của NKT
Nghiên cứu thực trạng hoạt động học nghề, thực trạng các hoạt động CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề tại Trung tâm và những yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề
Ứng dụng quy trình CTXHCN trong can thiệp hỗ trợ NKT học nghề
Đưa ra các đề xuất về giải pháp nâng cao CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề tại Trung tâm nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh và là
mô hình tham khảo cho các trung tâm có dạy nghề cho NKT tại Việt Nam
3 Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và bảo trợ xã hội Tỉnh Bắc Ninh
3.2 Khách thể nghiên cứu
Khách thể nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Người khuyết tật trong độ tuổi từ 14 đến 18 tuổi đang học nghề tại Trung tâm
- Lãnh đạo trung tâm
- Giáo viên dạy nghề trong trung tâm
- Nhân viên công tác xã hội trong trung tâm
Trang 123.3 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Đề tài nghiên cứu thực trạng và ứng dụng tiến trình
công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề
Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 01/2018 đến tháng
05/2019
Phạm vi không gian: Nghiên cứu được tiến hành tại Trung tâm Nuôi dưỡng
người có công và bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Ninh
4 Câu hỏi nghiên cứu, giả thuyết nghiên cứu
4.1 Câu hỏi nghiên cứu
1) Thực trạng hoạt động dạy nghề cho NKT tại trung tâm hiện nay như thế nào?
2) Thực trạng hoạt động công tác xã hội cá nhân và những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hỗ trợ NKT học nghề tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Ninh như thế nào?
3) Công tác xã hội cá nhân có thể được ứng dụng trong việc hỗ trợ cá nhân NKT học nghề như hay không? Làm thế nào nâng cao các hoạt động CTXHCN
hỗ trợ NKT học nghề?
4.2 Giả thuyết nghiên cứu
1) Hoạt động công tác xã hội cá nhân trong trung tâm chưa được quan tâm
và trợ giúp chưa đúng tiến trình
2) Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hỗ trợ NKT học nghề trong
đó có các yếu tố từ bản thân NKT, nhân viên CTXH, lãnh đạo trung tâm
3) Việc ứng dụng công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ NKT học nghề theo tiến trình 5 bước cụ thể, logic và có hiệu quả
5 Phương pháp nghiên cứu
5.1 Phương pháp phân tích tài liệu
Tác giả áp dụng phương pháp phân tích tài liệu trong nghiên cứu này nhằm thu thập các thông tin liên quan đến thực trạng NKT học nghề, các hoạt động công tác xã hội cá nhân với NKT học nghề, những yếu tố ảnh hưởng đến NKT học nghề, Những thông tin tác giả thu thập được từ nguồn văn bản, tài liệu,
Trang 13báo cáo, các công trình nghiên cứu sẽ xử lý một các khoa học, đảm bảo tính khách quan cho thông tin nhưng vẫn chứa đựng được nội hàm của luận văn
5.2 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Đề tài áp dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi để có thể thu thập được một lượng thông tin lớn mang tính đại chúng trong quá trình điều tra và thu thập thông tin Để điều tra và lấy thông tin từ người được hỏi, tác giả đã tiến hành chọn mẫu là toàn bộ 106 NKT (100% NKT) trong độ tuổi từ 14-18 tuổi hiện đang học nghề tại trung tâm để đánh giá thực trạng NKT học nghề và các hoạt động CTXH cá nhân trong hỗ trợ NKT học nghề
5.3 Phương pháp quan sát
Tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằmthu thập thông tin về tiến trình CTXHCN trong hỗ trợ NKT học nghề thông qua cách quan sát việc cùng tham gia vào tiến trình can thiệp, khi được sự đồng ý của các khách thể nghiên cứu và Trung tâm Bên cạnh đó, tác giả quan sát thực tế tại trung tâm và tham dự các buổi can thiệp để đánh giá được hiệu quả và sự tương tác giữa NVCTXH và NKT
5.4 Phương pháp phỏng vấn sâu
Nghiên cứu thực hiện phương pháp phỏng vấn sâuvới NKT học nghề và đội ngũ cán bộ liên quan Những vấn đề liên quan đến đề tài nghiên cứu được soạn thảo chi tiết thành một bảng câu hỏi bán cấu trúc được chuẩn bị trước để người phỏng vấn sử dụng trong quá trình tiến hành các cuộc phỏng vấn Đề tài thực hiện 11 phỏng vấn sâu, trong đó có 6 NKT, 1 cán bộ lãnh đạo trung tâm, 3 NVCTXH và 1 cán bộ quản lý NKT
5.5 Ứng dụng phương pháp can thiệp - công tác xã hội cá nhân
Luận văn ứng dụng phương pháp CTXHCN với trường hợp NKT học nghề
để thấy được tính hiệu quả trong thực hiện quy trình CTXHCN đối với NKT học nghề tại trung tâm Nuôi dưỡng Người có công và Bảo trợ xã hội tỉnh Bắc Ninh
6 Tổng quan về tình hình nghiên cứu
6.1 Tổng quan nghiên cứu nước ngoài
Những nghiên cứu trên thế giới về NKT tập trung vào mô tả và phân tích những khó khăn, rào cản trong hoà nhập và đảm bảo công bằng tiếp cận an sinh
Trang 14xã hội Bên cạnh đó có một số nghiên cứu về học nghề đối với NKT phân tích được thực trạng và đề xuất những giải pháp thúc đẩy hỗ trợ NKT học nghề và có việc làm
- Nghiên cứu chung về người khuyết tật
Báo cáo về Kiểm soát giáo dục toàn cầu (GEM) (GEM report summary on
disabilities and education) tóm tắt về vấn đề khuyết tật và giáo dục của tổ chức UNESCO (2017) khẳng định trẻ em và thanh niên khuyết tật là một trong những người không được hoà nhập, bị loại trừ nhất trên thế giới và phân tích tiêu chí về bình đẳng của Mục tiêu Phát triển bền vững của Liên hợp quốc
Tác phẩm Chuyển đổi sang tuổi trưởng thành với thanh niên khuyết tật:Những vấn đề với trẻ khuyết tật và gia đình (Transition to adulthood for
youth with disability: Issues for the disabled child and family) (2013), Pandey và Agarwal cũng cho rằng thanh niên khuyết tật phải đối mặt với nhiều thay đổi và thách thức khi họ chuyển sang tuổi trưởng thành, và đối với những người đã tham gia vào các hệ thống phúc lợi xã hội khác nhau, những thay đổi này thậm chí còn sâu sắc hơn Những vấn đề của nhóm thanh niên khuyết tật có thể phát sinh liên quan đến vai trò xã hội, nghề nghiệp và giải trí làm ảnh hưởng đến tuổi trẻ, lòng tự trọng, và cảm giác hy vọng Việc làm đối với thanh niên khuyết tật cũng thấp chỉ bằng 1/3 so với nhóm không khuyết tật
Nghiên cứu Developmental Disabilities and Independent Living: A Systematic Literature Review (Khuyết tật Phát triển và sống độc lập: Tổng quan tài liệu), của tác giả Benjamin Dieffenbach (2012) xem xét các tài liệu có
sẵn trên sự tương quan giữa chất lượng cuộc sống và cách sắp xếp cuộc sống cho người khuyết tật Các mục đích là để kiểm tra xem người khuyết tật với cuộc sống được bán độc lập sẽ có những trải nghiệm so với những người khuyết tật sống tại nhà theo cách truyền thống
Luận án: “Assistive technology solutions as mediators of equal outcomes for people living with disability” (Các giải pháp công nghệ giúp đỡ người khuyết tật)củatác giả: Natasha Ann Layton tập trung vào phân tích sự bình đẳng
của người khuyết tật Úc Mục đích của luận án là tạo ra kiến thức hữu ích để thay đổi, và do đó cải thiện bình đẳng cho người khuyết tật yêu cầu sự trợ giúp
Trang 15cho cuộc sống của họ
- Nghiên cứu về đào tạo nghề cho người khuyết tật
Trong cuốn tài liệu hướng dẫn của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về cách thức thu hút sự tham gia của người khuyết tật trong đào tạo nghề (Inclusion of People with disabilities in vocational training: A practical guide)
(2013) đưa ra những đề xuất quan trọng: i) Những nhà quản lý và đào tạo cần phải cùng làm việc với nhau để tạo ra được một môi trường hoà nhập cho người khuyết tật dựa trên những cam kết về chính trị và các nguồn lực cho công tác đào tạo nghề; ii) Cần phát triển hệ thống luật pháp và chính sách về hoà nhập trong lĩnh vực đào tạo nghề cho người khuyết tật; iii) Cần có kế hoạch về chính sách và tài chính cho công tác này
Trung tâm thông tin phục hồi quốc gia của Mỹ (2017) cung cấp bài học
hữu ích về mô hình đào tạo nghề sớm và kinh nghiệm làm việc tích hợp có thể mang lại lợi ích cho tất cả thanh thiếu niên khuyết tật, kể cả thanh thiếu niên thiểu số Nghiên cứu đưa ra đề xuất nên cung cấp các dịch vụ nghề nghiệp, đặc biệt là các cơ hội kinh nghiệm làm việc cho thanh niên trong khi họ vẫn còn ở trường trung học và cần đảm bảo tất cả thanh thiếu niên khuyết tật đều nhận được các dịch vụ chuyển tiếp hiệu quả
Cải thiện quá trình chuyển đổi sang việc làm cho thanh thiếu niên khuyết tật vận động: tiến trình cho can thiệp cùng giúp đỡ (Improving Transition to
Employment for Youth With Physical Disabilities: Protocol for a Peer Electronic Mentoring Intervention) của Eysenbach (2017) đề xuất một cách tiếp cận đáng khích lệ được nghiên cứu đưa ra để giải quyết các khoảng trống trong lập trình dạy nghề là thông qua tư vấn điện tử cùng trang lứa (e-mentoring), có thể vừa tạo thuận lợi cho việc chuyển tiếp sangtuổi trưởng thành một cách dễ dàng hơn bằng cách hỗ trợ nâng cao kỹ năng đối phó
Đánh giá chung cho thấy các nghiên cứu quốc tế đã đề cập đến những khó khăn, thách thức của NKT trong hoà nhập cuộc sống và đưa ra một số mô hình gợi mở để thúc đẩy NKT tham gia vào học nghề Tuy nhiên không có nghiên cứu được tìm thấy liên quan đến dịch vụ CTXHCN trong hỗ trợ NKT học nghề
Trang 166.2 Tổng quan nghiên cứu trong nước
Những công trình nghiên cứu và xuất bản trong nước về đào tạo nghề cho NKT, CTXH với người khuyết tật đã nêu thực trạng hoạt động đào tạo nghề cho NKT; khái quát hoá được những vấn đề mang tính chất lý luận cơ bản như nguyên tắc, vai trò, kỹ năng của CTXH với NKT
- Nghiên cứu về đào tạo nghề cho NKT
Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và việc làm cho người khuyết tật Việt Nam của ILO năm 2008 đã mô tả bức tranh tương đối toàn diện về vấn đề pháp
lý, môi trường chính sách, các tổ chức và dịch vụ liên quan đến việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam Trong các dịch vụ đào tạo nghề cho người khuyết tật có hoạt động đào tạo nghề hòa nhập, đào tạo nghề chuyên biệt dành cho người khuyết tật, các tổ chức tự giúp của người khuyết tật và các dịch vụ đào tạo đến từ các tổ chức phi chính phủ Về việc làm cho người khuyết tật, nghiên cứu chỉ rõ hạn ngạch tuyển dụng người khuyết tật, các dịch vụ việc làm thông thường, các dịch vụ việc làm dành riêng cho người khuyết tật, phát triển doanh nghiệp cho người khuyết tật (ILO, 2008) Tuy nhiên, nếu nhìn vào danh mục nghề đào tạo sẽ thấy rõ sự phân biệt đối với người khuyết tật khi các nghề mặc định cho chỉ là may mặc, may vá, thêu, mát-xa
Dù có sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước, các tổ chức phi chính phủ hay các tổ chức tự giúp của người khuyết tật nhưng số lượng người khuyết tật được tiếp cận với dạy nghề, giới thiệu việc làm, hỗ trợ khởi nghiệp chưa cao (Huỳnh Thảo, 2017; Bảo Bình 2017) Chính vì vậy, việc làm của người khuyết tật rất khó khăn và thu nhập thì bấp bênh Số liệu Tổng Điều tra dân số năm 2009 chỉ ra rằng, tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của người khuyết tật thấp hơn người không khuyết tật với tỷ lệ tương ứng là 72% và 82,7% Mức
độ khuyết tật tỷ lệ nghịch với tỷ lệ tham gia lực lượng lao động và tỷ lệ thuận với tỷ lệ thất nghiệp Chỉ có 25,3% người khuyết tật nặng tham gia lực lượng lao động (Tổng Điều tra dân số, 2009)
Viện nghiên cứu phụ nữ - Học viện Phụ nữ Việt Nam và tác giả Lưu Song
Hà (2012) đã tiến hành dự án Điều tra cơ bản thực trạng và phương hướng hỗ trợ phụ nữ khuyết tật trong đào tạo nghề, việc làm và chăm sóc sức khỏe Dự án
Trang 17đã đánh giá thực trạng việc làm, những khó khăn, thuận lợi của phụ nữ khuyết tật trong công việc cũng như trên con đường tìm kiếm việc làm
Huỳnh Viết Thiên Ân, Nguyễn Thị Thanh Tâm (2012) trong bài viết Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho Người khuyết tật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng đã phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng đào tạo nghề cho người khuyết tật trên địa bàn thành phố Đà Nẵng, tìm ra ảnh hưởng và tác động của từng nhân tố trong việc cải thiện chất lượng đào tạo nghề cho Người khuyết tật, nhằm nâng cao hiệu quả công tác dạy nghề, thu hút việc tham gia đào tạo nhiều hơn trong nhóm người yếu thế
-Viện Khoa học Lao động và Xã hội và Tổ chức Hanns Seidel Foundation (2016) đã phối hợp khảo sát, nghiên cứu về An sinh xã hội cho lao động là NKT
ở Việt Nam nhằm phân tích các nguồn vốn, hoạt động sinh kế của NKT, đánh giá vai trò của hệ thống an sinh xã hội hiện hành và đề xuất các biện pháp can thiệp an sinh xã hội phù hợp với người lao động khuyết tật Theo nghiên cứu, trình độ chuyên môn của lao động khuyết tật còn thấp Lao động khuyết tật vẫn chủ yếu làm trong khu vực nông nghiệp - một lĩnh vực có thu nhập thấp, điều kiện sản xuất khắc nghiệt hơn các khu vực khác
- Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả Bùi Thị Huệ (2011) với nghiên cứu “Vai trò của nhân viên công tác
xã hội trong việc giải quyết vấn đề của NKT” chỉ ra nhân viên công tác xã hội
có vai trò hết sức thiết thực và cụ thể hỗ trợ trực tiếp can thiệp hỗ trợ NKT phục hồi chức năng và hỗ trợ về tâm lý Bên cạnh đó NVCTXH cũng là cầu nối để NKT có thể tiếp cận được các chính sách và nguồn lực hỗ trợ từ gia đình và xã hội
Giáo trình công tác xã hội với người khuyết tật (2014) của tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa đã khái quát những vấn đề cơ bản về NKT và nêu nên các loại hình chăm sóc trợ giúp NKT và vai trò của nhân viên Công tác xã hội với NKT Giáo trình còn đề cập đến những kỹ năng, nguyên tắc cần thiết của một nhân viên công tác xã hội khi làm việc cá nhân, làm việc nhóm, làm việc với gia đình, cũng như các nguồn lực trong quá trình trợ giúp NKT
Trang 18Mai Thị Phương (2014) với đề tài: Vấn đề Công tác xã hội với Người khuyết tật đã nêu lên vai trò của công tác xã hội đối với NKT trên tất cả các phương diện, đặc biệt là vấn đề dạy nghề và tìm việc làm
Hà Thị Thư (2015) với bài viết về Cơ sở lý luận và thực tiễn ngành công tác xã hội đối với người khuyết tật, tác giả đã phân tích vai trò của nhân viên xã hội trong trợ giúp NKT, cụ thể: Nhân viên xã hội có thể tham gia các chương trình can thiệp sớm cho người khuyết tật; chương trình giúp NKT trong hòa nhập giáo dục; tham gia vào việc phục hồi chức năng cho NKT dựa vào cộng đồng
Tác giả Hoàng Văn Tuấn (2017), phân tích hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động tại thành phố Thanh Hóa Luận văn phân tích sâu ba hoạt động CTXHCN bao gồm hoạt động tham vấn; hoạt động quản lý trường hợp và hoạt động can thiệp khủng hoảng Có thể thấy, những công trình nghiên cứu áp dụng phương pháp CTXH cá nhân trong hỗ trợ NKT học nghề còn rất khiêm tốn Chính vì vậy, cần có thêm các nghiên cứu về ứng dụng của công tác xã hội cá nhân trong hỗ trợ NKT học nghề Từ đó có thể đề xuất, khuyến nghị về mặt chính sách và chương trình để nâng cao hiệu quả của phương pháp can thiệp này trong hỗ trợ NKT học nghề hiệu quả hơn
7 Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục từ viết tắt và các phụ lục Luận văn có bố cục 3 chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề
Chương 2 Thực trạng người khuyết tật học nghề và hoạt động công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề
Chương 3 Ứng dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề
Trang 19Phần 2 Nội dung chính Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CÔNG TÁC XÃ HỘI
CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ
1.1 Lý luận về khuyết tật
1.1.1 Khái niệm về người khuyết tật
Người khuyết tật được định nghĩa trong Công ước về quyền của người khuyết tật được Hội đồng Liên Hợp Quốc phê chuẩn ngày 06 tháng 12 năm
2006 là “Những người bị suy giảm về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, có ảnh hưởng qua lại với hàng loạt những rào cản có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào xã hội trên
cơ sở bình đẳng với những người khác”
Tại Việt Nam Luật Người khuyết tật xác định: “Người khuyết tật là người
bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động sinh hoạt học tập gặp khó khăn” (Khoản 1,Điều 2 Chương I - Luật số 51/2010/QH12)
Từ những khái niệm trên, nghiên cứu này sử dụng định nghĩa: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận trên cơ thể hay bị suy giảm các chức năng về thể chất, thần kinh, trí tuệ hay giác quan trong một thời gian dài, làm cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của người khuyết tật vào các hoạt động xã hội và đảm bảo cuộc sống ổn định”
1.1.2 Các dạng và mức độ khuyết tật
Theo Điều 2, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP ngày 10/4/2012 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Người khuyết
tật quy định có 6 dạng tật khuyết tật, bao gồm:
(1) Khuyết tật vận động là tình trạng giảm hoặc mất chức năng cử động đầu, cổ,
chân tay, thân mình dẫn đến hạn chế trong vận động, di chuyển
(2) Khuyết tật nghe, nói là tình trạng giảm hoặc mất chức năng nghe, nói hoặc
cả nghe và nói, phát âm thành tiếng và câu rõ ràng dẫn đến hạn chế trong giao tiếp, trao đổi thông tin bằng lời nói
Biểu hiện của khuyết tật nghe, nói:
Trang 20Không thể nghe, không thể nói (không phát âm được hoặc phát âm khó) như bình thường hoặc sức nghe giảm từ khoảng cách trên 3 mét
Không có khả năng nói mặc dù cơ quan phát âm hoàn toàn bình thường Suy giảm chức năng nghe do nhiều nguyên nhân khác nhau; mắc chứng nói ngọng, nói lắp hoặc không nói được
(3) Khuyết tật nhìn là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhìn và cảm nhận ánh sáng, màu sắc, hình ảnh, sự vật trong điều kiện ánh sáng và môi trường bình thường
(4) Khuyết tật thần kinh, tâm thần là tình trạng rối loạn tri giác, trí nhớ, cảm xúc, kiểm soát hành vi, suy nghĩ và có biểu hiện với những lời nói, hành động bất
thường
(5) Khuyết tật trí tuệ là tình trạng giảm hoặc mất khả năng nhận thức, tư duy biểu hiện bằng việc chậm hoặc không thể suy nghĩ, phân tích về sự vật, hiện
tượng, giải quyết sự việc
(6) Khuyết tật khác là tình trạng giảm hoặc mất những chức năng cơ thể khiến cho hoạt động lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn mà không thuộc các
trường hợp trên
Cũng tại Nghị định này, các mức độ khuyết tật, gồm:
(1) Người khuyết tật đặc biệt nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất hoàn toàn chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được các hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc hoàn toàn (2) Người khuyết tật nặng là những người do khuyết tật dẫn đến mất một phần hoặc suy giảm chức năng, không tự kiểm soát hoặc không tự thực hiện được một
số hoạt động đi lại, mặc quần áo, vệ sinh cá nhân và những việc khác phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày mà cần có người theo dõi, trợ giúp, chăm sóc
(3) Người khuyết tật nhẹ là người khuyết không thuộc trường hợp khuyết tật đặc biệt nặng và khuyết tật nặng
Trang 211.2 Khái niệm học nghề và người khuyết tật học nghề
1.2.1 Khái niệm về học nghề
Theo Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014: “Học nghề là quá trình học tập tích lũy kiến thức nghề nghiệp của con người để hướng tới mục đích chủ yếu là giải quyết việc làm” Học nghề theo nghĩa này được thể
hiện bằng nhiều hình thức: giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng,… thậm chí là quá trình
tự học của con người
Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014) quy định giáo dục nghề nghiệp là một bậc học của hệ thống giáo dục quốc dân nhằm đào tạo trình độ sơ cấp, trình độ trung cấp, trình độ cao đẳng và các chương trình đào tạo nghề nghiệp khác cho người lao động, đáp ứng nhu cầu nhân lực trực tiếp trong sản xuất, kinh doanh
và dịch vụ, được thực hiện theo hai hình thức là đào tạo chính quy và đào tạo thường xuyên
Cũng theo Luật Giáo dục nghề nghiệp (2014), đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp
1.2.2 Khái niệm người khuyết tật học nghề
Tổng hợp từ những khái niệm trên, trong nghiên cứu này, khái niệm
người khuyết tật học nghề được định nghĩa là: “quá trình người khuyết tật tham
gia học tập, tích lũy kiến thức nghề nghiệp để hướng tới mục đích tìm được việc làm phù hợp, tự nuôi sống bản thân”
1.3 Lý luận về công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề
1.3.1 Khái niệm Công tác xã hội
Liên đoàn Nhân viên CTXH Quốc tế (IFSW) và Hiệp hội Quốc tế các
Trường đào tạo CTXH (IASSW) năm 2014, định nghĩa: “Công tác xã hội là một nghề thực hành và một l nh vực học thuật thúc đẩy biến đổi x hội và phát triển
x hội cố kết x hội và tăng cường việc trao quyền và giải phóng con người Trọng tâm của CT H là các nguyên tắc về công b ng x hội quyền con người trách nhiệm tập thể và tôn trọng sự khác biệt Được xây dựng trên nền tảng các
Trang 22l thuyết CT H khoa học x hội nhân văn và các tri thức bản địa CT H thu hút con người và các tổ chức vào việc giải quyết các thách thức trong cuộc sống con người và củng cố an sinh” (Tr.1)
Đề án 32 của Thủ tướng Chính phủ (2010) định nghĩa: CTXH góp phần giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa con người và con người, hạn chế phát sinh các vấn đề xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống của thân chủ xã hội hướng tới một xã hội lành mạnh, công b ng, hạnh phúc cho người dân và xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến"
Bùi Xuân Mai và cộng sự (2012) đưa khái niệm: "Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nh m trợ giúp các cá nhân gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng x hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nh m giúp cá nhân gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội" [tr.19]
Như vậy, luận văn sử dụng định nghĩa CTXH là một nghề chuyên nghiệp nhằm trợ giúp NKT giải quyết vấn đề khó khăn về tâm lý, xã hội, nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực nhằm giúp NKT giải quyết và phòng ngừa các vấn
đề xã hội thông qua thúc đẩy các hoạt động học nghề và tạo việc làm góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho chính NKT và cộng đồng, xã hội
1.3.2 Công tác xã hội với cá nhân
Các tác giả Fardey cùng cộng sự (2000) giới thiệu khái niệm: “CTXHCN
là phương pháp trợ giúp mà ở đó nhân viên x hội sử dụng hệ thống giá trị, kiến thức hành vi con người và các kỹ năng chuyên môn về công tác xã hội để giúp
đỡ cá nhân và gia đình giải quyết các vấn đề tâm lý xã hội, xử lý các mối quan
hệ giữa con người với môi trường xung quanh thông qua mối quan hệ tương tác 1-1” [tr.61]
Tác giả Nguyễn Thị Oanh (1998) định nghĩa CTXHCN súc tích tập trung
vào can thiệp những vấn đề nhân cách của đối tượng: "CTXHCN là một biện pháp can thiệp quan tâm đến những vấn đề nhân cách mà một đối tượng cảm nghiệm" [tr.29]
Trang 23Tác giả Lê Chí An (2006) mô tả khái niệm CTXHCN rất chi tiết:
“CTXHCN là một phương pháp giúp đỡ con người giải quyết các vấn đề khó khăn Nó mang đặc thù, khoa học và nghệ thuật Nó giúp các cá nhân có những vấn đề riêng tư cũng như những vấn đề bên ngoài và vấn đề môi trường Đó là một phương pháp giúp đỡ thông qua mối quan hệ để khai thác tài nguyên cá nhân và những tài nguyên khác nh m giải quyết các vấn đề Lắng nghe, quan sát, vấn đàm v ng gia và đánh giá những công cụ chủ yếu của CTXHCN mà cá nhân thân chủ thay đổi thái độ suy ngh và hành vi của mình” [tr.13]
Qua nghiên cứu, luận văn sử dụng khái niệm CTXHCN của tác giả
Nguyễn Thị Thái Lan, Bùi Thị Xuân Mai (2011) trong luận văn này: “Công tác
xã hội cá nhân là phương pháp của công tác xã hội thông qua tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp, nh m hỗ trợ cá nhân tăng cường năng lực tự giải quyết vấn đề của mình Trong tiến trình này nhân viên CTXH cần biết vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác đồng thời sử dụng kỹ năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, sát cánh cùng đối tượng, hỗ trợ họ tự giải quyết vấn đề của bản thân và có khả năng vượt qua những vấn đề khác có thể xảy ra trong tương lai”[tr.27]
1.3.3 Công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề
Từ khái niệm công tác xã hội cá nhân trên đây, đề tài sử dụng khái niệm
CTXHCN hỗ trợ NKT học nghề là tiến trình giúp đỡ khoa học và chuyên nghiệp giữa NVCTXH và NKT, nh m hỗ trợ NKT về tâm lý, tinh thần tập trung tốt vào quá trình học nghề Trong tiến trình này NVCTXH vận dụng nền tảng kiến thức khoa học tâm lý học, xã hội học và các khoa học xã hội liên quan khác đồng thời sử dụng kỹ năng tuân thủ đạo đức nghề nghiệp, cùng NKT, hỗ trợ họ trong quá trình tiếp cận và học nghề
1.4 Tiến trình công tác xã hội cá nhân
Áp dụng tiến trình công tác xã hội cá nhân theo 5 bước của tác giả Nguyễn Thị Thái Lan (2019) trong hỗ trợ người khuyết tật học nghề (Sơ đồ 1.1)
Trang 24Sơ đồ 1.1 Tiến trình Công tác xã hội cá nhân với NKT học nghề
Bước 1: Tiếp nhận và thu thập thông tin về NKT học nghề
Bưới này bao gồm các hoạt động cụ thể sau:
a) Tiếp nhận NKT (Làm quen và tiếp nhận NKT tham gia vào quá trình can thiệp CTXHCN)
b) Thu thậpthông tin
Thu thập thông tin ban đầu
Thu thhập thông tin toàn diện: Thông tin về NKT; Thông tin gia đình; Thông tin về môi trường xung quanh: bạn bè, hàng xóm, nhà trường, các tổ chức
xã hội tại cộng đồng, hệ thống dịch vụ xã hội cho NKT học nghề; Thông tin về chính sách, chương trình NKT đang được hưởng
Bước 2: Đánh giá và xác định vấn đề
Bước 2 với mục tiêu là đánh giá lại toàn bộ thông tin, nhu cầu và xác định vấn đề của NKT:
- Đánh giá thông tin
- Xác định nhu cầu vấn đề của thân chủ
Bước 3: Lập kế hoạch hỗ trợ/can thiệp
Mục tiêu của Bước 3 là xây dựng được một kế hoạch hỗ trợ cho NKT, bao gồm các hoạt động:
- Xác định Mục tiêu hỗ trợ/can thiệp
- Xác định các hoạt động hỗ trợ/can thiệp
Trang 25- Xác định các nguồn lực, người chịu trách nhiệm
- Xác định thời gian
- Xác định kết quả mong đợi và cách thức đánh giá kết quả mong đợi
Bước 4: Thực hiện kế hoạch hỗ trợ/can thiệp
Bước này được tác giả thực hiện trực tiếp với các hoạt động:
- Chuẩn bị các điều kiện cần thiết thực hiện kế hoạch hỗ trợ
- Chuyển giao đến dịch vụ phù hợp (nếu cần)
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến tiến trình công tác xã hội cá nhân hỗ trợ người khuyết tật học nghề
1.5.1 Bản thân người khuyết tật
Bản thân thân chủ ảnh hưởng rất nhiều đến tiến trình CTXH cá nhân hỗ trợ NKT học nghề Do có một số NKT còn mang tâm lý mặc cảm về dạng khuyết tật dẫn đến dễ bị tự ti Họ thường sống cuộc sống bi quan, cô lập với mọi người
và môi trường xung quanh Một số còn cho rằng mình là gánh nặng cho gia đình
và xã hội nên thường chán nản, thái độ bất cần vì có cố gắng nỗ lực cũng khó được ghi nhận Chính vì vậy bản thân NKT gặp nhiều khó khăn trong việc lựa chọn và theo học nghề Nếu NKT nhiệt tình, hứng thú, tương tác tích cực với NVCTXH thì quá trình trợ giúp sẽ diễn ra suôn sẻ, mọi điều mà NVCTXH hướng đến thay đổi tích cực cho thân chủ đều có thể thực hiện Như vậy, tiến trình CTXH cá nhân hỗ trợ thân chủ học nghề đạt hiệu quả cao
Ngược lại, nếu như NKT còn có nhiều khó khăn về tâm lý, mặc cảm tự ti, không hợp tác với NVCTXH, tương tác hạn chế với NVCTXH thì quá trình hỗ trợ sẽ có nhiều khó khăn và đôi khi không được thực hiện
Trang 261.5.2 Nhân viên công tác xã hội
NVCTXH đóng vai trò trực tiếp trong việc hỗ trợ NKT tiếp cận cơ hội được lựa chọn học nghề và tìm kiếm phù hợp với nhu cầu và năng lực của bản thân, được tham gia và cống hiến thể lực và trí lực cho sự phát triển của xã hội
Để thực hiện được vai trò này, NVCTXH cần phải có đủ năng lực trình độ chuyên môn, tính chuyên nghiệp, kỹ năng, phương pháp làm việc với NKT Họ cần thực hiện cung cấp các dịch vụ nghề nghiệp có chất lượng như tham vấn, tư vấn cho NKT học nghề và tạo việc làm đồng thời phát huy vai trò kết nối nguồn lực, kết nối với các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, tổ chức cá nhân, cộng đồng, cách dịch vụ xã hội đối với NKT Bên cạnh đó họ cần phải tuân thủ nguyên tắc
và đạo đức nghề nghiệp, thể hiện tâm huyết với trong hỗ trợ NKT tham gia các hoạt động học nghề và tìm kiếm việc làm hòa nhập xã hội.Kinh nghiệm của NVCTXH trong lĩnh vực hỗ trợ NKT học nghề cũng sẽ góp phần vàoquá trình trợ giúp NKT học nghềhiệu quả hơn
1.5.3 Gia đình người khuyết tật
Gia đình NKT có vai trò quan trọng trong quá trình chăm sóc và hỗ trợ NKT học nghề Việc ủng hộ, động viên, hỗ trợ các điều kiện về nhân lực và tài chính cho NKT học nghề từ phía gia đình đóng góp phần rất quan trọng vào thành công của NKT trong học nghề và tìm kiếm việc làm sau này Điều này cũng tạo thuận lợi hơn cho quá trình thực hiện hoạt động công tác xã hội cá nhân đối với NKT
1.5.4 Cơ sở trợ giúp người khuyết tật học nghề
Yếu tố thứ nhất là sự ủng hộ và quan tâm của lãnh đạo trung tâm có ảnh hưởng quan trọng đến việc xây dựng và triển khai các hoạt động CTXH nói chung và CTXHCN nói riêng.Nếu lãnh đạo trung tâm nhiệt tình ủng hộ NVCTXH thì quá trình trợ giúp sẽ hiệu quả hơn, mọi điều mà NVCTXH muốn làm cho cho thân chủ đều có thể thực hiện Vì thế tiến trình CTXHCN trong hỗ trợ thân chủ học nghề đạt hiệu quả cao
Ngược lại, lãnh đạo trung tâm không ủng hộ NVCTXH, NVCTXH làm việc gì cũng phản đối thì quá trình hỗ trợ thân chủ giải quyết vấn đề gặp khó
Trang 27khăn và đôi khi không được thực hiện Chính vì vậy, tiến trình CTXH cá nhân trong hỗ trợ thân chủ học nghề không thể thực hiện
Yếu tố tiếp theo là chế độ, chính sách của Trung tâm trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động chuyên môn CTXH Đặc biệt hơn là các chính sách về đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn và chế độ đãi ngộ đối với NVCTXH
1.6 Các lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
Luận văn áp dụng hai lý thuyết làm nền tảng cho việc đánh giá thực trạng, nhu cầu và xây dựng kế hoạch hỗ trợ với NKT học nghề
1.6.1 Lý thuyết nhu cầu
Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) là nhà khoa họctiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn.Năm 1943, ông đã phát triển lý thuyết nhu cầu, có tầm ảnh hưởng rộng rãi và được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, bao gồm cả lĩnh vực công tác xã hội Trong lý thuyết nhu cầu, Maslowsắp xếp các nhu cầu của con người theo một hệ thống trật tự cấp bậc Theo ông, cần phải thoả mãn các nhu cầu ở cấp thấp trước khi thực hiện các nhu cầu ở mức độ cao hơn.Maslow đã sắp xếp các nhu cầu của con người theo 5 cấp bậc (Sơ đồ 1.2) (Nguyễn Hồi Loan, Trần Thu Hương, 2018)
Sơ đồ 1.2: Tháp nhu cầu của Maslow
Trang 28- Nhu cầu sinh lý:
Đây là nhu cầu cơ bản để duy trì cuộc sống của con người như nhu cầu ăn uống, ngủ, nhà ở, sưởi ấm và thỏa mãn về tình dục, các nhu cầu làm cho con người thỏa mái Đây là những nhu cầu cơ bản nhất và mạnh nhất của con người Nếu thiếu những nhu cầu cơ bản này con người sẽ không thể tồn tại được
- Nhu cầu về an toàn, an ninh
Khi con người đã được đáp ứng các nhu cầu cơ bản, tức là các nhu cầu này không còn điều khiển suy nghĩ và hành động của họ nữa, họ sẽ có nhu cầu cao hơn Đó là những nhu cầu về an toàn, không bị đe dọa về tài sản, công việc, sức khỏe, tính mạng và gia đình… nghĩa là một môi trường không nguy hiểm,
có lợi cho sự phát triển liên tục và lành mạnh của con người
An toàn sinh mạng là nhu cầu cơ bản nhất, là tiền đề cho các nội dung khác như an toàn lao động, an toàn môi trường, an toàn nghề nghiệp, an toàn kinh tế, an toàn ở và đi lại, an toàn tâm lý, an toàn nhân sự,…
Nhu cầu này cũng thường được khẳng định thông qua các mong muốn về
sự ổn định trong cuộc sống, được sống trong các khu phố an ninh, sống trong xã hội có pháp luật, có nhà cửa để ở,… Nhiều người tìm đến sự che chở bởi các niềm tin tôn giáo, triết học cũng là do nhu cầu an toàn này, đây chính là việc tìm kiếm sự an toàn về mặt tinh thần
- Nhu cầu về xã hội (nhu cầu được thừa nhận, yêu thương)
Là những nhu cầu về tình yêu, được chấp nhận, mong muốn được tham gia vào một tổ chức hay một đoàn thể nào đó Do con người là thành viên của xã hội nên họ cần được những người khác chấp nhận Con người luôn có nhu cầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầu giao tiếp để phát triển
Nhu cầu này bắt nguồn từ những tình cảm của con người đối với sự lo sợ bị
cô độc, bị coi thường, bị buồn chán, mong muốn được hòa nhập, lòng tin, lòng trung thành giữa con người với nhau
- Nhu cầu được tôn trọng và tự trọng
Trang 29Nội dung của nhu cầu này bao gồm 2 loại: lòng tự trọng và được người khác tôn trọng
Lòng tự trọng bao gồm: nguyện vọng muốn giành được lòng tin, có năng lực, có bản lĩnh, có thành tích, độc lập, tự tin, tự do, tự trưởng thành,, tự biểu hiện và tự hoàn thiện
Nhu cầu được người khác tôn trọng gồm khả năng giành được uy tín, được thừa nhận, được tiếp nhận, có địa vị, có danh dự, Tôn trọng là được người khác tôn trọng, ngưỡng mộ Khi được người khác tôn trọng cá nhân sẽ tìm mọi cách
để làm tốt công việc được giao
- Nhu cầu được thể hiện mình (Nhu cầu phát triển)
Maslow xem đây là nhu cầu cao nhất trong phân cấp về nhu cầu của ông
Đó là sự mong muốn để đạt tới, làm cho tiềm năng của một cá nhân đạt tới mức
độ tối đa và hoàn thành được mục tiêu nào đó Nội dung của nhu cầu này bao gồm: nhu cầu về nhận thức (học hỏi, hiểu biết, nghiên cứu, ), nhu cầu thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cái hài, ), nhu cầu được thực hiện mục đích của mình bằng khả năng của cá nhân
Tác giả vận dụng lý thuyết nhu cầu vào đề tài nghiên cứu trong việc xác định những nhu cầu của người khuyết tật, đặc biệt là những nhu cầu liên quan đến hỗ trợ học nghề cho NKT Ngoài những nhu cầu cơ bản ăn, uống, mặc, ở thì nhu cầu học nghề và có việc làm nuôi sống chính bản thân NKT là một nhu cầu thiết thực và cần đáp ứng Chính vì vậy, muốn NKT có được việc làm thì cần hỗ trợ để NKT học đúng nghề phù hợp với khả năng bản thân, có việc làm ổn định sau khi hoàn thành chương trình học nghề
1.6.2 Lý thuyết hệ thống và sinh thái
Lý thuyết hệ thống trong công tác xã hội bắt nguồn từ lý thuyết hệ thống tổng quát của Bertalanffy được phát triển vào năm 1940 Bertalanffy quan niệm tất cả các cơ quan đều là hệ thống, bao gồm những hệ thống nhỏ hơn và là phần
tử của hệ thống lớn hơn Sau này, lý thuyết hệ thống được các nhà khoa học khác nghiên cứu: Hanson (1995), Mancoske (1981), Siporin (1980),… và phát triển Người có công đưa lý thuyết hệ thống áp dụng vào thực tiễn công tác xã
Trang 30hội phải kể đến công lao của Pincus va Minahan cùng các đồng sự khác Tiếp đến là Germain và Giterman
Áp dụng lý thuyết này vào phân tích trong hệ thống xã hội thì con người là một bộ phận của xã hội, đồng thời cũng tạo nên từ những phần tử nhỏ hơn Các
hệ thống có mối liên hệ mật thiết, tác động qua lại lẫn nhau Khi một hệ thống thay đổi kéo theo sự thay đổi của hệ thống khác và ngược lại khi muốn thay đổi một hệ thống thì phải thay đổi hệ thống nhỏ tạo nên nó và thay đổi cả hệ thống lớn bao trùm nó Lý thuyết hệ thống sử dụng trong công tác xã hội chú ý nhiều tới các quan hệ giữa các phần tử nằm trong hệ thống hơn là chú ý tới thuộc tính
của phần tử (Bùi Thị Xuân Mai, 2012)
Lý thuyết hệ thống sinh thái nói lên sự liên hệ giữa các tổ chức nhóm và vai trò của cá nhân trong môi trường sống Lý thuyết này dựa trên giả thuyết rằng, mỗi cá nhân đều trực thuộc vào hoàn cảnh sống Vì vậy, trong công tác xã hội
“bất cứ một việc can thiệp, giúp đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó, đều có liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống đó” Quan điểm này, chỉ ra các lớp cắt của môi trường sinh thái, bao gồm ba cấp độ: Vi mô, trung mô và vĩ mô Cấp
độ vi mô, là các quan hệ trực tiếp của từng cá nhân, hay nói cách khác, nó chính
là cuộc sống của cá nhân mỗi con người Cấp độ trung mô bao gồm hai loại: Cấp trung mô nội sinh và cấp trung mô ngoại sinh Cấp trung mô nội sinh là sự tương tác giữa hai hệ thống ở cấp vi mô và có ảnh hưởng trực tiếp lên đối tượng Cấp
độ vĩ mô là những yếu tố là bản chất hay quy định của xã hội, cộng đồng có ảnh hưởng đến cá nhân nằm trong đó Nói cách khác, tổng thể đó được xem xét trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị và văn hóa tác động tới cuộc sống các thành viên Tác giả sử dụng lý thuyết hệ thống và hệ thống sinh thái vào đề tài nghiên cứu nhằm mục đích giải thích NKT trong một hệ thống vi mô, chịu sự tác động của hệ thống trung mô (gia đình, cộng đồng, tổ chức xã hội, cơ sở đào tạo nghề)
và hệ thống vĩ mô (luật pháp, chính sách, văn hoá, truyền thống, ) Việc học nghề của NKT muốn thành công thì cần tác động nhiều yếu tố, cả hệ thống trung
mô và vĩ mô Có như vậy, việc học nghề của NKT mới đạt được hiệu quả cao
Trang 311.7 Hệ thống luật pháp quy định về hoạt động học nghề đối với người khuyết tật
Hoạt động đào tạo nghề đối với NKT đã được Nhà nước Việt Nam quan tâm và chỉ đạo tổ chức thực hiện Bộ Luật Lao động năm 2012 đã có 3 điều quy định lao động là NKT Cụ thể tại điều 176, Bộ Luật này đã quy định:
- Nhà nước bảo trợ quyền lao động, tự tạo việc làm của lao động là người khuyết tật, có chính sách khuyến khích và ưu đãi người sử dụng lao động tạo việc làm và nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc, theo quy định của Luật Người khuyết tật
- Chính phủ quy định chính sách cho vay vốn ưu đãi từ Quỹ quốc gia về việc làm đối với người sử dụng lao động sử dụng nhiều lao động là người khuyết tật
Luật Người khuyết tật năm 2010 đã quy định về vấn đề dạy nghề và việc làm cho NKT trong chương V, thể hiện cụ thể ở 04 điều Trong đó có điều 32 quy định về Dạy nghề đối với NKT như sau:
1 Nhà nước bảo đảm để người khuyết tật được tư vấn học nghề miễn phí, lựa chọn và học nghề theo khả năng, năng lực bình đẳng như những người khác
2 Cơ sở dạy nghề có trách nhiệm cấp văn bằng, chứng chỉ, công nhận nghề đào tạo khi người khuyết tật học hết chương trình đào tạo và đủ điều kiện theo quy định của thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề
3 Cơ sở dạy nghề tổ chức dạy nghề cho người khuyết tật phải bảo đảm điều kiện dạy nghề cho người khuyết tật và được hưởng chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật
4 Người khuyết tật học nghề, giáo viên dạy nghề cho người khuyết tật được hưởng chế độ, chính sách theo quy định của pháp luật
Hơn nữa các luật khác như Luật Việc làm ban hành năm 2013 cũng có những quy đình định về chính sách hỗ trợ người sử dụng lao động là người khuyết tật
Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014 có điều khoản quy định chính sách đối với cơ sở giáo dục nghề nghiệp đối với người khuyết tật, người khuyết tật tham gia học nghề được miễn giảm học phí,… Bên cạnh đó luật cũng quy định
Trang 32các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp cho người khuyết tật phải đảm bảo các điều kiện sau đây:
Cơ sở Giáo dục nghề nghiệp được thành lập hoặc cho phép thành lập khi có
đề án thành lập đáp ứng các điều kiện theo quy định của Thủ trưởng cơ quan quản lý Nhà nước về Giáo dục nghề nghiệp quy định ở Trung ương và phù hợp với quy hoạch mạng lưới cơ sở Giáo dục nghề nghiệp đã được phê duyệt
Cơ sở Giáo dục nghề nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện quy định như đã nêu ở trên và các điều kiện khác theo quy định của Pháp luật về đầu tư
Có cơ sở vật chất, thiết bị đào tạo, giáo trình, phương pháp và thời gian đào tạo phù hợp với người khuyết tật Các công trình xây dựng phục vụ cho người khuyết tật học tập phải đảm bảo các tiêu chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật theo quy định của Pháp luật về xây dựng
Có đội ngũ nhà giáo có chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giảng dạy cho người khuyết tật
Ngày 20/06/2017 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành theo Quyết định số 899/QĐ-TTg “Chương trình mục tiêu Giáo dục nghề nghiệp- Việc làm và An toàn lao động giai đoạn 2016-2020” Trong đó “Hỗ trợ tạo việc làm cho người khuyết tật” là một nội dung quan trọng trong Dự án Phát triển thị trường lao động và việc làm thuộc Chương trình này
1.8 Giới thiệu địa bàn thực hiện nghiên cứu
Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và Bảo trợ xã hội, trực thuộc Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Bắc Ninh trước đây là Trung tâm Nuôi dạy trẻ mồ côi và tàn tật tỉnh Bắc Ninh Mặc dù có nhưng thay đổi về tên gọi và địa điểm, tuy nhiên nhiệm vụ đặc thù của Trung tâm vẫn luôn được trú trọng vào hoạt động chăm lo, giáo dục cho trẻ em và người có hoàn cảnh đặc biệt, trong đó
có NKT Là một đơn vị sự nghiệp của tỉnh Bắc Ninh, Trung tâm có cơ cấu tổ chức bao gồm ban giám đốc và 7 phòng, ban chức năng (sơ đồ 2.1)
Trang 33Sơ đồ 2.1: Mô tả cơ cấu tổ chức của Trung tâm
đề xuất với Giám đốc về công tác tuyển sinh, phối hợp với các phòng, ban liên quan trong Trung tâm
Phòng Quản
lý đối tƣợng
Phòng Công tác xã hội
Phòng Chăm sóc phục hồi sức khỏe
Phòng dạy chữ
Phòng dạy nghề
Trang 34- Phòng Quản lý đối tượng
Phòng quản lý đối tượng được giao trách nhiệm quản lý NKT học nghề 24/24 giờ Bên cạnh đó phòng cũng chủ trì việc tổ chức các hoạt động tập thể nhưvăn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao, lao động cho toàn bộ NKT đang theo học nghề tại Trung tâm
+ Xây dựng kế hoạch can thiệp và trợ giúp đối tượng; giám sát và rà soát lại các hoạt động can thiệp, trợ giúp và điều chỉnh kế hoạch
+ Thực hiện các biện pháp phòng ngừa đối tượng rơi vào hoàn cảnh khó khăn và
bị xâm hại, bạo lực, ngược đãi
+ Hỗ trợ đối tượng hòa nhập cộng đồng
+ Quản lý đối tượng được cung cấp dịch vụ công tác xã hội
+ Cung cấp các dịch vụ về giáo dục xã hội và nâng cao năng lực:
+ Tổ chức đào tạo, tập huấn về công tác xã hội cho đội ngũ nhân viên, cộng tác viên công tác xã hội
+ Tổ chức các khóa tập huấn, hội thảo cung cấp kiến thức, kỹ năng cho các nhóm đối tượng có nhu cầu;
+ Phát triển cộng đồng
+ Trợ giúp đối tượng lang thang, cơ nhỡ
+ Tổ chức các hoạt động truyền thông, nâng cao nhận thức
+ Được thực hiện các hoạt động dịch vụ có thu theo quy định của pháp luật
Các ngành nghề đào tạo của Trung tâm
Trong những năm qua, Trung tâm đã cố gắng tìm hiểu thị trường và mở các ngành nghề đào tạo cho NKT bám sát thực tế về nhu cầu nhân lực Theo đăng ký
Trang 35ngành nghề đào tạo với Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Bắc Ninh thì
Trung tâm thực hiện đào tạo 5 nhóm nghề sau:
+ Nghề may công nghiệp
+ Nghề thêu tranh nghệ thuật
Trang 36Tiểu kết chương 1
Chương 1 thao tác hoá hệ thống các khái niệm chính của đề tài Công tác
xã hội cá nhân hỗ trợ NKT học nghề Bên cạnh đó tác giả chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến thực hiện tiến trình công tác xã hội cá nhân hỗ trợ NKT học nghề Tại chương 1, tác giả trình bày và phân tích 2 lý thuyết: Lý thuyết nhu cầu
và lý thuyết hệ thống và sinh thái, được sử dụng trong xây dựng khung nghiên cứu và xác định vấn đề nghiên cứu Phần cuối chương tác giả phân tích cơ sở luật pháp về hoạt động học nghề đối với người khuyết tật Những nội dung chương 1 làm nền tảng để cho việc phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động hỗ trợ NKT học nghề và hoạt động CTXHCN trong hỗ trợ NKT học nhề tại chương
2 và chương tiếp theo
Trang 37Chương 2
THỰC TRẠNG NGƯỜI KHUYẾT TẬT HỌC NGHỀ VÀ HOẠT ĐỘNG CÔNG TÁC XÃ HỘI CÁ NHÂN HỖ TRỢ NGƯỜI KHUYẾT TẬT
HỌC NGHỀ
2.1 Đặc điểm chung về người khuyết tật trong trung tâm
Trung tâm hiện đang chăm sóc và dạy nghề cho tổng số 170 trẻ khuyết tật
và NKT Bảng 2.1 mô tả về độ tuổi, giới tính của đối tượng trong Trung tâm
Bảng 2.1: Thông tin về độ tuổi và giới tính của người khuyết tật tại Trung tâm
(Nguồn: Báo cáo nhiệm vụ công tác năm 2018)
Kết quả trên cho thấy tổng số NKT đa phần ở độ tuổi từ 14-18 tuổi (chiếm 62,4%) Mặc dù có nhiều cách để phân chia độ tuổi từ 8-18 tuổi, tuy nhiên tác giả đưa ra cách phân chia theo 2 giai đoạn 8-13 tuổi và từ 14-18 tuổi là vì tuổi quy định được đào tạo nghề là đủ 14 tuổi trở lên
Về giới tính, tỷ lệ NKT là nữ cao hơn một chút so với NKT là nam, tỷ lệ tương ứng là 52,4% và 47,6%
Về các dạng khuyết tật, có gần 1/2 (48,2%) NKT có khuyết tật về nghe nói.Tiếp đó là dạng khuyết tật trí tuệ (22,4%) khuyết tật vận động (20,6%), và khuyết tật khác (8,8%) (Biểu đồ 2.1)
Trang 38(Nguồn: Báo cáo nhiệm vụ công tác năm 2018)
Biểu đồ 2.1 Các dạng khuyết tật của đối tượng tại Trung tâm
Với đặc điểm có nhiều người khuyết tật nghe, nói nên NKT ở Trung tâm vẫn có thể chăm sóc bản thân tốt, học chữ học nghề vì các em có năng lực trí tuệ tiếp thu kiến thức và kỹ năng
Về các ngành nghề hiện nay 170 em đang được tham gia đào tạo tỷ lệ các ngành nghề đều ở mức dưới 40% Ngành may công cộng thu hút được nhiều NKT học nhất cũng chỉ ở mức 38,2%) (Biểu đồ 2.2)
(Nguồn: Báo cáo nhiệm vụ công tác năm 2018)
Biểu đồ 2.2 Phân loại ngành nghề đào tạo của NKT tại Trung tâm
Trang 392.2 Thông tin về khách thể tham gia nghiên cứu
2.2.1 Thông tin chung về khách thể tham gia nghiên cứu
Vì nghiên cứu thực hiện khảo sát với nhóm NKT học nghề nên số lượng phiếu khảo sát được thực hiện là 106 phiếu, tương ứng 100% NKT học nghề tại Trung tâm
Biểu đồ 2.3 dưới đây mô tả về giới tính của khách thể tham gia nghiên cứu với tỷ lệ NKT là nữ nhiều hơn số người khuyết tật là nam (tỷ lệ tương ứng là 53,8% và 46,2%)
(Nguồn: Kết quả khảo sát, 2018)
Biểu đồ 2.3: Giới tính của khách thể nghiên cứu
2.2.2 Dạng khuyết tật của khách thể nghiên cứu
Khá tương đồng với tỷ lệ các dạng khuyết tật theo tỷ lệ chung của toàn bộ đối tượng tại Trung tâm, tỷ lệ NKT nghe nói tham gia vào nghiên cứu cao nhất (62,3%), xếp thứ hai là dạnh khuyết tật vận động (23,6%), có trên 10% NKT tham gia nghiên cứu có khuyết tật trí tuệ dạng nhẹ vẫn tham gia được các hoạt động học nghề
Bảng 2.2: Thông tin về dạng khuyết tật của khách thể nghiên cứu
Trang 402.2.3 Thực trạng hoạt động học nghề của khách thể nghiên cứu
Với tổng số khách thể tham gia nghiên cứu là 106 người, các ngành nghề NKT hiện đang tham gia ở cả 5 loại hình nghề đang được đào tạo tại Trung tâm Kết quả khảo sát cho thấy số lượng phân bổ cho các nghề khá rải rác, từ nghề may công nghiệp (35,8%); đến học nghề tin học văn phòng (24,5%); nghề làm hoa lụa (18,9%); thêu tranh nghệ thuật (cùng tỷ lệ 18,9%); thấp nhất là nghề may tre đan (Biểu đồ 2.4)
(Nguồn: Kết quả khảo sát, 2018)
Biểu đồ 2.4: Loại hình nghề NKT đang được đào tạo tại Trung tâm
Đáng chú ý, kết quả khảo sát cho thấy nghề mây tre đan là nghề được đào tạo ít nhất, một phần là do nghề mây tre đan cũng là nghề khó kết nối việc làm
và tại địa bàn tỉnh Bắc Ninh Hiện nay tỉnh chỉ có duy nhất một cơ sở dạy nghề
và tạo việc làm mây tre đan ở tuyến huyện cho người khuyết tật, thu nhập từ công việc này thấp, tốn thời gian hoàn thành sản phẩm
2.2.4 Đánh giá về nhu cầu học nghề và hỗ trợ học nghề của người khuyết tật
Khi được hỏi về nhu cầu học nghề, có đến 87,7% NKT tham gia nghiên cứu trả lời có nhu cầu Tuy nhiên vẫn còn 12,3% nói không có nhu cầu Kết quả phản ánh thực trạng nhu cầu học nghề và hỗ trợ việc làm của người khuyết tật chịu sự tác động của yếu tố tâm, sinh lý; nhu cầu việc làm của người khuyết tật thể hiện tính đối tượng và tính xã hội Nhu cầu việc làm của người khuyết tật nếu được thỏa mãn sẽ giúp họ có nguồn thu nhập nuôi sống bản thân và gia đình mình, tự khẳng định giá trị bản thân và được xã hội thừa nhận, tôn trọng, Đây