Để tổ chức thực hiện chính sách này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt với sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa V
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-o0o -
NGUYỄN THỊ TUYẾT MAI
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BẢO HIỂM XÃ HỘI
ĐỐI VỚI LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý Kinh tế
PGS TS Lê Danh Tốn
Hà Nội - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tác giả luận văn: Tôi, Nguyễn Thị Tuyết Mai là cao học viên khóa 2013 -
2015, chuyên ngành: Quản lý Kinh tế, Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia
Hà Nội, xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được ai công bố trong bất cứ một công trình nào khác
Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả quá trình học tập tại trường, kết hợp với kinh nghiệm trong quá trình thực tiễn và nghiên cứu công tác, với sự cố gắng nỗ lực của bản thân
Lời đầu tiên tôi xin dành bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo
- TS Hoàng Khắc Lịch là người trực tiếp hướng dẫn khoa học, đã tận tình hướng
dẫn cho tôi cả chuyên môn và phương pháp nghiên cứu và chỉ bảo cho tôi nhiều kinh nghiệm trong thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cám ơn Bảo hiểm Xã hội Việt Nam, Viện nghiên cứu
KH, LĐ &XH – Bộ LĐ, TB & XH đã giúp đỡ tôi trong quá trình thu thập dữ liệu và cung cấp thông tin của luận văn
Tôi xin chân thành cám ơn các thầy, cô giáo trong Trường Đại học kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội và bạn bè đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập cũng như trong quá trình hoàn thành luận văn này
Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học cũng như thực hiện luận văn
Mặc dù với sự nỗ lực cố gắng của bản thân, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi mong nhận được sự góp ý chân thành của quý Thầy, quý Cô, đồng nghiệp và bạn bè để luận văn được hoàn thiện hơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Nguyễn Thị Tuyết Mai
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ iii
DANH MỤC HÌNH iv
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BHXH 4
1.1 Tình hình nghiên cứu về chính sách BHXH cho NLĐ: 4
1.2 Khái quát chung về chính sách BHXH 7
1.2.1 Khái niệm BHXH 7
1.2.2 Bản chất của BHXH: 10
1.2.3 Tổ chức quản lý BHXH: 11
1.3 Chính sách BHXH và việc thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ 14
1.3.1 Lịch sử phát triển chính sách BHXH: 14
1.3.2 Sự cần thiết chính sách BHXH: 17
1.3.3 Nội dung khi thực hiện chính sách BHXH: 22
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách: 29
1.3.5 Các chỉ tiêu đánh giá việc thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ, LĐN: 31
1.4 Các đặc thù của LĐN và sự cần thiết phải BHXH cho LĐN: 33
1.4.1 Các đặc thù của LĐN: 33
1.4.2 Những điểm cần lưu ý đối với BHXH cho LĐN: 34
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 35
2.1 Nguồn tài liệu và dữ liệu: 35
2.2 Các phương pháp nghiên cứu: 36
2.2.1 Phương pháp luận: 36
2.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu: 37
Trang 62.2.3 Phương pháp thống kê: 38
2.24 Phương pháp phân tích: 39
2.2.5 Phương pháp nghiên cứu tài liệu: 40
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHXH CHO LAO ĐỘNG NỮ Ở VIỆT NAM 41
3.1 Lao động nữ và hệ thống pháp luật BHXH cho LĐN 41
3.1.1 Thực trạng lao động nữ ở Việt Nam: 41
3.1.2 Hệ thống chính sách, pháp luật về BHXH Việt Nam cho LĐN 44
3.2 Thực trạng thực hiện chính sách BHXH cho LĐN ở Việt Nam : 46
3.2.1 Tổ chức thực hiện chính sách BHXH: 46
3.2.2 Thực hiện chính sách BHXH cho LĐN 52
3.3 Đánh giá các thành tựu và hạn chế của việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động nữ ở Việt Nam 61
3.3.1 Thành tựu: 61
3.3.2 Những hạn chế trong việc thực hiện chính sách BHXH cho LĐN: 65
3.4 Phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách BHXH cho lao động nữ ở Việt Nam 68
3.4.1 Các nhân tố từ môi trường bên ngoài: 68
3.4.2 Các nhân tố từ môi trường bên trong: 71
3.4.3 Các nhân tố khác ảnh hưởng đến quyền lợi của LĐN: 73
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH BHXH CHO NLĐ, LĐN 75
4.1 Quan điểm và mục tiêu thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ, LĐN: 75
4.1.1 Dự báo tình hình, xu hướng phát triển chính sách BHXH: 75
4.1.2 Mục tiêu thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ, LĐN: 75
4.2 Phương hướng thực hiện chính sách BHXH cho những năm tiếp theo: 77
4.3 Giải pháp nâng cao việc thực hiện đối với LĐN: 80
4.3.1 Các giải pháp chung: 80
4.3.2 Các giải pháp liên quan đến LĐN trong thực hiện chính sách BHXH: 83 KẾT LUẬN 84 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7DANH MỤC VÀ CỤM TỪ VIẾT TẮT
2 BHTN Bảo hiểm thất nghiệp
7 Cedaw Công ước LHQ xóa bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử đối với phụ nữ
8 CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa
20 UBCV ĐXH Ủy ban các Vấn đề Xã hội
22 UN Women Cơ quan LHQ về bình đẳng giới và trao
quyền cho phụ nữ
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 3.1 NSNN chi hỗ trợ các chế độ BHXH từ năm 2011-2014 50
2 Bảng 3.2 Số lượng LĐ tham gia BHXH bắt buộc, 2011–2014 53
3 Bảng 3.3 Số lượng LĐN tham gia BHXH bắt buộc, 2011–2014 54
4 Bảng 3.4 Số lượng và tỷ lệ LĐ nữ tham gia BHXH tự nguyện,
5 Bảng 3.5 Số lượng và tỷ lệ tham gia bảo hiểm thất nghiệp,
6 Bảng 3.6 Chi các chế độ BHXH cho NLĐ từ năm 2011-2014 59
7 Bảng 3.7 Chi các chế độ Ốm đau, Thai sản, Nghỉ dưỡng sức cho
9 Bảng 4.1 Số lượng LĐ dự kiến tham gia BHXH từ năm 2016-2020 79
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
1 Biểu đồ 3.1 Số lượng lao động nam và nữ từ năm 2011-2014 41
2 Biểu đồ 3.2 So sánh số LĐ nam và nữ tham gia BHXH bắt
Trang 10DANH MỤC HÌNH
1 Hình 1.1 Sơ đồ hệ thống BHXH Việt Nam 25
2 Hình 1.2 Sơ đồ trách nhiệm các cơ quan QLNN về BHXH 26
3 Hình 1.3 Mô hình hóa hệ thống chính sách xã hội 30
4 Hình 3.1 Hệ thống văn bản pháp luật liên quan 45
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, nền kinh tế Việt Nam đã có nhiều thay đổi và đạt đuợc nhiều thành tựu quan trọng, cùng với sự phát triển của nền kinh tế theo định hướng CNH-HĐH
là sự lớn mạnh không ngừng của hệ thống an sinh xã hội, đặc biệt là BHXH đã góp phần không nhỏ vào việc ổn định xã hội, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh,
xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Bảo hiểm xã hội (BHXH) là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, luôn được ghi nhận trong các văn kiện của Đảng và Hiến pháp qua các thời kỳ Để tổ chức thực hiện chính sách này, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật, đặc biệt với sự ra đời của Luật Bảo hiểm xã hội (được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 9 thông qua ngày 29/6/2006) đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách BHXH, đáp ứng nguyện vọng của đông đảo người lao động
Theo thống kê cho thấy lao động nữ chiếm gần 50% lực lượng lao động, là nhóm đối tượng tiềm năng đông đảo, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của đất nước Việc thu hút thêm hàng chục triệu lao động nữ tham gia BHXH không những góp phần thực hiện mục tiêu an sinh xã hội của quốc gia, mà còn góp phần phát triển bền vững hệ thống BHXH Tuy nhiên, thực tế cho thấy lao động nữ gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình tham gia BHXH, tập trung chủ yếu
ở một số khía cạnh về quy định điều kiện tuổi đời để được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng có sự phân biệt về nam, nữ (nam 60 tuổi, nữ 55 tuổi); Quy định về đối tượng tham gia BHXH như: theo số liệu “Báo cáo tình hình quản lý và sử dụng quỹ BHXH năm 2012” của BHXH Việt Nam gửi UBCV ĐXH Quốc hội ngày 20/2/2013 thì Lao đô ̣ng nữ chiếm tỷ lệ cao ở những ngành /nghề/lĩnh vực không thuộc đối tượng BHXH bắt buộc (lao động tự tạo việc làm; lao động gia đình không hưởng lương); (ii) Lao động nữ chiếm tỷ lệ cao hơn ở khối doanh nghiệp tư nhân nhỏ lẻ,
hộ kinh doanh cá thể,… Đây lại là khu vực có tỷ lệ người lao động tham gia BHXH
Trang 12bắt buộc thấp nhất (chỉ đạt 60-70%, so với các khu vực khác 80-90%); Tình hình nợ đóng, chậm đóng BHXH của nhiều doanh nghiệp làm ảnh hưởng đến quyền lợi của người lao động, đặc biệt là lao động nữ sinh đẻ, ốm đau trong hoàn cảnh này sẽ không được hưởng chế độ thai sản Bên cạnh đó, đề tài “Định hướng mở rộng độ bao phủ an sinh xã hội năm 2020” của Viện Khoa học Lao động và Xã hội: năm
2012 có 65% lao động không được tham gia BHXH ngắn hạn, trong đó 52% là lao động nữ cho thấy tỷ lệ lao động nữ không được tham gia đầy đủ vào BHXH ngắn hạn ít hơn lao động nam Như vậy, lao động nữ luôn có nhiều rào cản, khó khăn trong việc tham gia BHXH đồng nghĩa với việc thu hút, mở rộng quy mô đối tượng tham gia BHXH đang còn nhiều trở ngại, kéo theo các vấn đề về mục tiêu an sinh
xã hội quốc gia và phát triển hệ thống BHXH
Xuất phát từ cơ sở và thực trạng đặt ra, tác giả lựa chọn chủ đề “Thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam” làm luận văn thạc
sỹ, chuyên ngành quản lý kinh tế
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu:
- Mục đích nghiên cứu của đề tài là đánh giá viê ̣c thực hiê ̣n chính sách BHXH Việt Nam từ 2011 đến nay dưới góc độ quyền của người lao động và lao động nữ qua đó đề xuất một số kiến nghị, giải pháp nâng cao việc thực hiện chính sách BHXH cho lao đô ̣ng nữ ở Việt Nam trong thời gian tới
- Câu hỏi nghiên cứu: việc thực hiện chính sách BHXH đối với LĐN ở Việt Nam như thế nào và những giải pháp nào nhằm nâng cao việc thực thi chính sách đối với nhóm đối tượng này?
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về BHXH, việc thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ, LĐN
Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách BHXH cho lao động nữ từ
2011 đến nay và chỉ ra nguyên nhân của những điểm còn hạn chế
Đề xuất các giải pháp để nâng cao hiệu lực thực thi chính sách BHXH cho LĐN
Trang 133 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
3.1 Đối tượng của luận văn:
Đối tượng của luận văn là việc thực hiện chính sách BHXH cho lao động nữ
ở Việt Nam (bao gồm các nội dung các chế độ chính sách BHXH cho LĐN, bộ máy thực thi chính sách, thủ tục hành chính,…)
3.2 Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu việc thực hiện chính sách BHXH cho người lao động nữ ở Việt Nam
- Phạm vi về thời gian: từ 2011 đến nay
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được chia thành 4 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và một số vấn đề lý luận chung
về BHXH
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng thực hiện chính sách BHXH cho LĐN
Chương 4: Phương hướng và giải pháp nhằm nâng cao việc thực hiện
chính sách BHXH cho LĐN
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ LUẬN
VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH BHXH
1.1 Tình hình nghiên cứu về chính sách BHXH cho NLĐ
Hiện nay, ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về chính sách BHXH cho người lao động nói chung và lao động nữ nói riêng như:
- Cuốn sách “Đổi mới và phát triển BHXH ở Việt Nam” của Tiến sĩ Dương
Văn Thắng chủ biên, xuất bản năm 2014 đã khái quát lịch sử hình thành và phát triển của BHXH Việt Nam từ những năm trước cách mạng tháng 8 cho đến thời điểm hiện nay Tác giả đã phân tích rõ nguồn gốc sự ra đời của BHXH trong lịch
sử, trong đó dấu ấn là các chính sách và hoạt động BHXH trong các thời kỳ, cải cách chính sách phù hợp với đường lối phát triển KT-XH của Đảng, thí điểm mô hình BHXH ngoài quốc doanh cho đến xây dựng hệ thống BHXHVN hiện đại, chuyên nghiệp Cuốn sách đã được viết khá đầy đủ và chi tiết về những văn bản pháp luật đầu tiên quy định về BHXH cho NLĐ, trong đó đã có một số văn bản liên quan đến chế độ thai sản cho công nhân Điều này cho thấy rằng đội ngũ cán bộ công nhân viên chức Nhà nước đã được Đảng và Nhà nước quan tâm và dần mở rộng đến các nhóm đối tượng là NLĐ ở các thời kỳ sau Tuy nhiên, việc nhắc đến nhóm công nhân viên chức là nữ trong các các sắc lệnh, thông tư, nghị định, thực hiện chính sách về BHXH không nhiều trong khi đây cũng là nhóm đối tượng chính tham gia đóng hưởng BHXH Đồng thời việc đổi mới và phát triển BHXH Việt Nam căn bản cũng dựa trên nhu cầu của các nhóm đối tượng, cần phải có hiện trạng, nguyên nhân thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ trong các thời kỳ và cũng không thể bỏ qua nhóm lao động đang chiếm gần 50% lực lượng tham gia BHXH
- Bài viết “Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, thực trạng pháp luật và phương hướng hoàn thiện” của thạc sĩ Trần Thúy Lâm trong mục nghiên cứu –
trao đổi của Tạp chí Luật học, Đặc san Phụ nữ (năm 2009) đề cập đến những quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ, phân tích những điểm
Trang 15còn bất cập của pháp luật và trên cơ sở đó đưa ra hướng hoàn thiện Tuy nhiên, bài viết chỉ đề cập đến những quy định riêng về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ thể hiện ở các yếu tố đặc thù như: chế độ nghỉ để chăm sóc con ốm, chế độ trợ cấp thai sản và chế độ hưu trí, chưa đánh giá được tổng quát thực trạng pháp luật đối với các loại bảo hiểm xã hội như bảo hiểm tự nguyện, bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp đối với lao động nữ có những tồn tại nào, nguyên nhân và biện pháp khắc phục
- Đề tài luận văn thạc sĩ ngành Luật kinh tế, trường Đại học Luật” Pháp luật
về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ ở Việt Nam hiện nay” (2012), của tác giả
Nguyễn Lan Hương đã đưa ra được các vấn đề lý luận chung về BHXH và BHXH cho lao động nữ, đồng thời phân tích và làm rõ các quy định, thực trạng áp dụng cho chế độ BHXH cho người lao động nữ theo pháp luật hiện hành Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cập đến thực tế thực hiện, kết quả đạt được và những tồn tại trong việc thực hiện BHXH cho lao động nữ, đưa ra đề xuất để hoàn thiện các quy định
về chế độ BHXH cho lao động nữ ở Việt Nam dựa trên việc nghiên cứu pháp luật quốc tế và pháp luật của một số nước về BHXH Nghiên cứu này được đặt trong bối cảnh nghiên cứu luật pháp quốc tế và pháp luật của một số nước để chỉ ra được những điều mà Việt Nam chưa làm được Điều quan trọng thực trạng luật pháp về thực hiện BHXH đối với lao động nữ cần phải được đặt trong bối cảnh chung về người lao động, Đề tài nghiên cứu cũng chỉ dừng ở nghiên cứu lý luận là chính, chưa đưa ra được thực tiễn thực hiện pháp luật BHXH cho LĐN như thế nào
- Bài viết“ Nội luật hóa Cedaw về bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ khi
dự thảo luật bảo hiểm xã hội” viết của thạc sĩ Nguyễn Thị Kim Phụng đăng trên
mục pháp luật lao động Việt Nam với việc thực hiện CEDAW, Tạp chí luật học số 3/2006 Trong bài viết này, tác giả tập trung đánh giá các quy định riêng của BHXH đối với lao động nữ theo pháp luật hiện hành, trên cơ sở các nguyên tắc chung trong Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử đối với phụ nữ (Cedaw)
để đưa ra kiến nghị nhằm hoàn thiện Dự thảo Luật BHXH 2006 Bên cạnh đó, tác giả nhấn mạnh trong điều kiện toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, cần phải hứơng
Trang 16đến sự bình đẳng giữa nam và nữ, lao động nam và lao động nữ trong quyền lợi và nghĩa vụ thực hiện BHXH Bài viết đã phân tích rõ các quy định riêng cho LĐN và
so sánh, đối chiếu với quy định của CEDAW để áp dụng sửa đổi trong dự thảo luật BHXH năm 2006 Tác giả không phân tích các chế độ BHXH này đã phù hợp với LĐN ở Việt Nam chưa, hiện trạng đối tượng LĐN này thực hiện chính sách này ra sao và gặp những khó khăn gì để từ đó cần phải nội luật hóa CEDAW đảm bảo quyền lợi NLĐ nhưng vẫn phù hợp với bối cảnh của đất nước
- Bài viết” Bảo hiểm xã hội đối với lao động nữ trong pháp luật một số nước Asean và những kinh nghiệm cho Việt Nam” của Ts Nguyễn Thị Kim
Phụng và Ts Nguyễn Hiền Phương đăng trong mục Quyền của phụ nữ theo pháp luật các nước Asean ,Tạp chí luật học số 2/2010 đã phân tích được những quy định, các chính sách cơ bản về BHXH dành cho lao động nữ ở các nước trong khu vực ASEAN, đưa ra được sự tương đồng và khác biệt về pháp luật quy định về BHXH cho đối tượng lao động là nữ giữa Việt Nam và các nước trong khối, từ đó đưa ra các đề xuất và bài học kinh nghiệm áp dụng cho Việt Nam Tuy nhiên, bài viết chỉ dừng ở việc phân tích các quy định, các văn bản pháp luật liên quan đến chế độ BHXH cho lao động nữ, so sánh và đối chiếu với lao động nam mà chưa nêu rõ thực trạng thực hiện các quy định này tại các nước như thế nào, trong quá trình thực hiện còn tồn tại, yếu kém gì để có các biện pháp khắc phục, đề xuất trong quá trình xây dựng luật để bảo vệ quyền lợi cho lao động nữ
- Ngoài các đề tài nghiên cứu và các bài viết nghiên cứu ở trên còn có rất
nhiều các công trình nghiên cứu, bài viết, hội thảo khác về các rào cản của phụ nữ trong việc tham gia BHXH, Luật BHXH và các chính sách cho lao động nữ, về việc kiến nghị và đóng góp ý kiến trong việc hoàn thiện các dự thảo Luật BHXH, thực trạng thực hiện chính sách BHXH ở nước ta hiện nay Tuy nhiên, trong phạm vi hiểu biết của tác giả, chưa có công trình nào nghiên cứu về thực trạng thực hiện BHXH dành riêng cho người lao động nữ Có thể nói việc lồng ghép yếu tố Giới trong các văn bản pháp luật ở Việt Nam vẫn còn nhiều trở ngại, bên cạnh công tác thống kê ở các lĩnh vực hoạt động chưa có quy định phải phân tách số liệu giới gây
Trang 17khó khăn cho việc báo cáo, thống kê giới trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là BHXH
1.2 Khái quát chung về chính sách BHXH
sự tư hữu về tư liệu sản xuất, xuất hiện giai cấp Từ đó, kéo theo nhu cầu sức lao động ngày càng tăng Theo Mác” Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong cơ thể một con người đang sống và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” Sức lao động là yếu tố cơ bản của mọi quá trình sản xuất và trở thành hàng hóa khi người lao động được tự do về thân thể, tức là có quyền tự chủ về sức lao động của mình và chỉ bán sức lao động trong một thời gian nhất định và khi người lao động không có
tư liệu sản xuất, họ phải bán sức lao động của mình để duy trì cuộc sống Như vậy,
để làm ra hàng hóa thông thường, để tạo ra lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức lao động và để tạo ra giá trị gia tăng thì các yếu tố về tinh thần, thể chất tồn tại trong người lao động phải đuợc tái tạo thường xuyên
Năng lực lao động của con người không phải là vô hạn, mà là hữu hạn và không phải bất kỳ người lao động nào cũng có đủ điều kiện về sức khỏe thể chất và tinh thần
để hoàn thành nhiệm vụ lao động Khi nền kinh tế phát triển, yêu cầu và đòi hỏi về lao động ngày càng tăng để đáp ứng sự phát triển và đòi hỏi của kinh tế thị trường thì việc tái tạo lại sức lao động đóng vai trò vô cùng quan trọng Cũng keo kinh tế học Mác Lê Nin thì “tái sản xuất mở rộng sức lao động về mặt chất lượng thể hiện ở sự tăng lên về thể lực (sức khỏe) và trí tuệ của người lao động qua các chu kỳ sản xuất ”, theo Mác cho thấy việc tái sản xuất sức lao động này phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mục đích của nền sản xuất xã hội, chế độ phân phối sản phẩm và địa vị người lao động; những đặc trưng mới của lao động do cách mạng khoa học công nghệ đòi hỏi, các chính sách
Trang 18y tế, giáo dục và đào tạo của mỗi quốc gia Như đã đề cập ở trên, sức lao động của con người là hữu hạn và trong thực tế cuộc sống, người nào cũng có thể gặp phải những rủi
ro, tai nạn, ốm đau, già yếu hoặc mất việc làm do nhiều yếu tố tự nhiên, xã hội Do đó,
để duy trì được sức lao động cho con người, cần phải có sự san sẻ và trợ giúp từ xã hội, các nguồn lực bên ngoài để giúp họ duy trì cuộc sống và nâng cao thể lực, tái tạo sức lao động của mình
Nếu người lao động chỉ nhận lương để chi trả cho cuộc sống thì những mối nguy hiểm và rủi ro đe dọa cuộc sống của họ phải giải quyết như thế nào trong khi
họ vẫn phải bán sức lao động của mình để nuôi sống gia đình Nếu như trước kia, hầu hết người lao động đều giúp đỡ, cưu mang nhau khi con người hoạn nạn hay
ốm đau, ở một số nơi con người còn đóng góp một phần thu nhập tạo thành một quỹ
để giúp đỡ những người ốm đau, tai nạn Tuy nhiên, các hình thức này chỉ tồn tại ở dạng tự phát khi nền kinh tế chưa phát triển, các đòi hỏi về việc hồi phục sức khỏe chưa cao Từ thế kỷ 18, khi nền công nghiệp phát triển ở châu Âu thì lực lượng làm công ăn lương ngày càng đông Những người này do bán sức lao động để nhận tiền lương trang trải cho cuộc sống Khi gặp phải những trường hợp ốm đau, tai nạn, già yếu không làm việc được nên không có tiền lương để sinh sống, lâm vào cảnh khốn cùng, phát sinh nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội Đồng thời những hình thức trợ cấp xã hội tự phát không đủ khả năng về kinh phí để trợ cấp ổn định lâu dài Thực tế
đã bắt buộc chính phủ ở một số nước phải xem xét đến vấn đề bảo hiểm xã hội, nhằm mục đích huy động sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động,
có sự hỗ trợ của nhà nước để trợ cấp cho người lao động khi gặp những trường hợp phải nghỉ việc không có tiền lương để đảm bảo cho cuộc sống của họ
Vì vậy, bản chất của bảo hiểm xã hội là sự tương trợ cộng đồng, là sự đoàn kết đùm bọc chia sẻ rủi ro cho nhau, mang tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc Tuy nhiên, để hiểu đúng về BHXH thì có nhiều cách tiếp cận khái niệm về bảo hiểm xã hội như: Thứ nhất, xuất phát từ nguyên nhân hình thành BHXH: BHXH hình thành
từ nhu cầu của con người, do quá trình lao động sản xuất, con người gặp phải những rủi ro, tai nạn xã hội hoặc nghề nghiệp, những khó khăn làm giảm hoặc
Trang 19mất thu nhập của họ Cần phải có sự chia sẽ, hỗ trợ từ xã hội Từ khái niệm này cần phải hiểu:
- Những rủi ro, tai nạn xã hội hoặc nghề nghiệp có thể hiểu là: tai nạn lao
động, bệnh tật, ốm đau
- Những khó khăn làm giảm hoặc mất thu nhập: thất nghiệp, phụ nữ sinh đẻ
Do vậy, khái niệm này được hiểu sự ra đời của BHXH đề trợ giúp những người lao động khi họ gặp rủi ro để đảm bảo thu nhập cho họ và gia đình
Thứ hai, từ lịch sử hình thành BHXH do những người lao động tự giúp đỡ nhau, những người sử dụng lao động thành lập một quỹ trong quỹ xã hội để giúp đỡ những người ốm đau, tai nạn, các tổ chức đứng ra đóng góp và hỗ trợ Và để đảm bảo sự trợ giúp người lao động một cách bền vững thì BHXH ra đời với sự đóng góp của các bên: người lao động, người sử dụng lao động và hỗ trợ của nhà nước
Theo Tổ chức Lao động quốc tế ILO thì bảo hiểm xã hội là “sự bảo vệ của
cộng đồng xã hội đối với các thành viên của mình thông qua sự huy động các nguồn đóng góp vào quỹ bảo hiểm xã hội để trợ cấp trong các trường hợp ốm đau, tai nạn, thương tật, già yếu, thất nghiệp Đồng thời chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con để ổn định đời sống của thành viên và đảm bảo an toàn của xã hội”
Theo khái niệm này thì BHXH các trường hợp hưởng lợi lại bị thu hẹp, không nêu
rõ được các hoạt động khác làm ảnh hưởng hay suy giảm sức khỏe con người như: bệnh nghề nghiệp, thai sản, hết tuổi lao động, mất việc làm
Theo luật BHXH quy định: “BHXH là sự bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một
phần thu nhập của người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ
sở đóng vào quỹ BHXH” Luật BHXH chưa nêu rõ hoạt động và sự đóng góp vào
quỹ BHXH bao gồm những đối tượng nào và mục tiêu của BHXH đối với sự phát triển kinh tế xã hội ra sao
Vậy, có thể hiểu khái niệm BHXH như sau: “Bảo hiểm xã hội là sự đảm bảo
thay thế được bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp, tàn
Trang 20tật, thất nghiệp, tuổi già, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của Nhà nước theo pháp luật, nhằm bảo đảm an toàn đời sống cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần bảo đảm an toàn xã hội”
1.2.2 Bản chất của BHXH:
Bản chất của BHXH là một phần thu nhập của người lao động vì các lý do sau: Mục tiêu lao động của con người là thu nhập, thu nhập này để trang trải các chi phí trong cuộc sống của con người bao gồm những nhu cầu thiết yếu cá nhân và tiêu dùng của gia đình Tuy nhiên, để làm ra thu nhập hay nói cách khác là để tham gia lao động, con người cần có đầy đủ các yếu tố về sức khỏe, thể lực, kiến thức, kinh nghiệm…và cũng không phải trong suốt cuộc đời con người có thể làm ra thu nhập, khi con người còn trẻ, già yếu, ốm đau bệnh tật chính là lúc họ không tạo ra thu nhập mà chi phí cho cuộc sống còn nhiều hơn thế Điều này buộc con người phải tìm ra thu nhập ngay cả lúc họ chưa và không tham gia hoặc tạm ngừng lao động
Những rủi ro trong cuộc sống mà con người phải đối mặt như: sức khỏe giảm sút
do môi trường lao động, tai nạn lao động làm suy giảm hoặc mất khả năng lao động, các thảm họa thiên nhiên gây ảnh hưởng đến cuộc sống con người, sinh đẻ và tuổi về già, cõi chết…thì lúc này thu nhập và chi tiêu của con người không đồng nhất Con người không làm ra thu nhập nhưng vẫn phải tiêu dùng hàng ngày, đây cũng là lý do buộc người lao động phải tìm cách tích lũy cho những lúc hoạn nạn, ốm đau
Lịch sử về BHXH đã chứng minh con người ngày xa xưa vẫn thường chia sẻ ngọt bùi, đẳng cay khi hoạn nạn và người ta gọi tên cho các hành động này” lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều” Nhưng, cùng với sự phát triển kinh tế xã hội và nhận thức con người ngày càng cao thì họ đã tìm ra những giải pháp phù hợp cho số đông và có thể áp dụng cho toàn XH BHXH ra đời và áp dụng đầu tiên
ở các nước phương Tây nơi mà có khoa học kỹ thuật phát triển và lan rộng đến nhiều quốc gia trong đó có Việt Nam Dựa trên nguyên tắc thực hiện chung của BH
là lấy “ số đông bù số ít” và “được bồi hoàn” nên được đông đảo người lao động hưởng ứng và tham gia Phần lớn các tầng lớp lao động tham gia BHXH theo hình
Trang 21thức này có nghĩa là chia sẻ phần bồi hoàn cho nhau, những người trong các điều kiện không thể làm ra thu nhập hoặc tạm dừng lao động họ sẽ nhận được khoản hỗ trợ nhất định để ổn định cuộc sống từ những đóng góp của nhiều lao động khác và chính từ đóng góp của họ ở thời gian trước đó Có thể hiểu cách khác rằng, người lao động đã trích một phần từ thu nhập của mình có được trong thời gian thu nhập đóng góp vào quỹ chung của xã hội để trang trải chi tiêu trong khoảng thời gian không làm ra thu nhập, trang trải cuộc sống
Vậy, bản chất của BHXH là một phần thu nhập của người lao động được tích lũy,
để dành, người lao động sẽ nhận lại thu nhập này khi không có thu nhập Trong suốt quá trình lao động, người lao động sẽ tham gia đóng góp theo tỷ lệ nhất định được tính trong thu nhập và chi phí này sẽ chi trả lại cho họ Bên cạnh đó, để thể hiện trách nhiệm của người chủ trong việc chăm lo đời sống cho cán bộ công nhân của mình, người sử dụng lao động sẽ trích lại phần thu nhập của người lao động đóng góp vào quỹ
Các đặc trưng của BHXH thể hiện các vấn đề sau:
- BHXH dành cho người lao động trong và sau quá trình lao động
- Người lao động muốn được quyền hưởng trợ cấp BHXH phải có nghĩa vụ đóng
BHXH, người chủ sử dụng lao động cũng phải có nghĩa vụ đóng BHXH cho người lao động mà họ thuê Việc đóng góp của người lao động và người sử dụng lao động hình thành nguồn quỹ dùng để chi trả các trợ cấp có nhu cầu phát sinh về BHXH
- Các rủi ro của người lao động liên quan đến thu nhập của họ như: ốm đau, tai
nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, chết…sẽ làm giảm hoặc mất khả năng lao động, do đó cần có khoản thu nhập khác bù vào,đây chính là đặc trưng chính của BHXH
- Các hoạt động BHXH được thực hiện trong khuân khổ pháp luật, các chế độ
Trang 22Quản lý BHXH bao gồm các phương thức quản lý BHXH và các tổ chức/cơ quan có chức năng, nhiệm vụ quản lý BHXH
Các quốc gia khác nhau về hệ thống kinh tế, chính trị, xã hội nên việc xây dựng hệ thống BHXH ở mỗi quốc gia sẽ có những đặc thù riêng, phù hợp với trình
độ phát triển của từng nước Sẽ không có một mô hình chung về việc tổ chức BHXH cho tất cả các nước Do điều kiện kinh tế – xã hội và chính trị của mỗi nước khác nhau nên hệ thống BHXH của các nước được xây dựng khác nhau và vì vậy không có mô hình tổ chức BHXH chung cho tất cả các nước Tuy nhiên, đa phần thì hoạt động sự nghiệp BHXH được giao cho cơ quan BHXH độc lập đảm nhận dưới
sự quản lý của Nhà Nước
Thứ hai, xây dựng pháp luật BHXH: bất cứ hoạt động quản lý nào cũng cần có công cụ và phương pháp quản lý để đạt được mục tiêu đề ra Nhà nước sử dụng các văn bản pháp luật BHXH: các luật, các văn bản pháp quy gồm Nghị định, quyết định…và các văn bản dưới luật để thực hiện pháp luật BHXH thống nhất trong phạm vi toàn quốc, đồng thời đảm bảo mục tiêu tăng trưởng kinh tế và công bằng
xã hội Pháp luật là cơ sở và là công cụ để giúp nhà nước quản lý các hoạt động, trong đó có BHXH Như vậy, muốn quản lý hệ thống BHXH một cách hiệu quả, cần phải xây dựng pháp luật chặt chẽ, tuy nhiên cũng cần phải bám vào thực tế thực hiện để có các chính sách phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ Xây dựng pháp luật BHXH được coi là chức năng quan trọng nhất của quản
lý Nhà nước về BHXH bao gồm:
Trang 23Thứ ba, định hướng về các hoạt động BHXH:
- Về định hướng chính sách, theo lịch sử hình thành và phát triển BHXH cho
thấy chính sách BHXH được thực hiện qua nhiều thời kỳ và trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung Việc sửa đổi, bổ sung được cân nhắc đến các yếu tố về kinh tế - xã hội, chính trị trong đó có việc mở rộng, thu hẹp các chế độ, đối tượng, nội dung và
cơ chế thực hiện BHXH do Nhà nước quy định
- Về định hướng tài chính: hoạt động tài chính là cốt lõi của BHXH, bởi nó
duy trì sự hoạt động cho cả một hệ thống BHXH trong cả nước Để hoạt động này đảm bảo có hiệu quả và thực sự
Thứ tư, thanh tra, kiểm tra các hoạt động sự nghiệp BHXH: để hoạt động BHXH hoạt động theo đúng định hướng và mục tiêu đề ra, Nhà nước thanh tra và kiểm tra, xử lý các vi phạm, các khiếu kiện và tranh chấp liên quan đến BHXH theo đúng pháp luật đồng thời để đảm bảo cho các bên tham gia thực hiện đúng nghĩa vụ
và quyền lợi hợp pháp của họ
Thứ năm, bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHXH: BHXH là chính sách nhằm đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia, do vậy nhà nước luôn bảo hộ và bảo trợ cho các hoạt động BHXH để đảm bảo quyền lợi người được hưởng không bị tác động bởi các yếu tố biến động về kinh tế xã hội
Tổ chức hoạt động sự nghiệp BHXH: Hoạt động sự nghiệp BHXH tập trung vào các chức năng sau:
1 Quản lý đối tượng: Đối tượng của BHXH bao gồm đối tượng tham gia và
đối tượng thụ hưởng BHXH
Nhóm đối tượng tham gia bao gồm người lao động và người sử dụng lao động, khi tham gia nhóm đối tượng này phải đóng mức phí theo quy định Để tránh trường hợp bị lạm dụng BHXH, cơ quan BHXH quản lý nhóm đối tượng này bằng số thẻ
và có các thông tin đầy đủ về đối tượng tham gia
2 Quản lý quỹ BHXH: Để đảm bảo nguồn thu cho quỹ, cơ quan BHXH phải
nắm rõ được số lượng và những thay đổi của các đơn vị tham gia bên cạnh các thông tin đầy đủ về người lao động Quản lý quỹ BHXH bao gồm: quản lý công tác
Trang 24thu chi, xây dựng chiến lược tăng trưởng đầu tư quỹ vào các hoạt động khác, tham gia vào thị trường tài chính
3 Thực hiện thu chi BHXH: các cơ quan BHXH các cấp tiến hành thu phí
tham gia BHXH của đối tượng tham gia và chi trả cho các đối tượng thụ hưởng, chi cho phí quản lý Mặc dù quỹ BHXH là quỹ tài chính độc lập nhưng vẫn việc thu chi vẫn phải tuân thủ theo quy định tài chính trong nước
4 Thực hiện thanh tra, kiểm tra: Nhà nước có chức năng thanh kiểm tra các
hoạt động BHXH để BHXH đi đúng định hướng và tuân thủ theo đúng pháp luật, tuy nhiên, trong hệ thống các cơ quan BHXH cũng có chức năng thanh tra và kiểm
tra nhằm đảm bảo các hoạt động BHXH đúng với các quy định của pháp luật
1.3 Chính sách BHXH và việc thực hiện chính sách BHXH cho NLĐ
1.3.1 Lịch sử phát triển chính sách BHXH:
Lịch sử hơn 50 năm phát triển chính sách bảo hiểm xã hội từ năm 1961 khi Chính phủ ban hành Nghị định 218 về điều lệ tạm thời các chế độ bảo hiểm xã hội đối với công nhân viên chức Nhà nước và 20 năm đổi mới chính sách này, đã khẳng định đây là chính sách quan trọng và ngày càng phát triển mạnh mẽ, trở thành trụ cột chính của hệ thống An sinh xã hội, là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội bền vững
- Trước năm 1995: Chưa có pháp luật về BHXH, chính sách BHXH thời kỳ
này quy định ở các văn bản dưới luật Các chế độ BHXH ngắn hạn gồm ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp do Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam (Tổng LĐLĐ VN) đảm nhận Các chế độ BHXH dài hạn như hưu trí, mất sức lao động và tử tuất do Bộ Thương binh - Xã hội (nay là Bộ LĐ-TB&XH) đảm nhiệm Đặc điểm giai đoạn này là các cơ quan được giao quản lý vừa có trách nhiệm xây dựng ban hành chính sách; vừa tổ chức thực hiện Chính sách BHXH gắn liền với nền kinh tế tập trung, bao cấp; công nhân, viên chức trong biên chế Nhà nước và người làm việc trong lực lượng vũ trang được tham gia BHXH, NLĐ làm việc ở các thành phần kinh tế khác chưa có BHXH; diện bao phủ về BHXH hẹp, chưa có sự công bằng giữa NLĐ làm việc ở khu vực ngoài quốc doanh với NLĐ trong biên chế
Trang 25Nhà nước; nguồn kinh phí chi trả BHXH do ngân sách nhà nước (NSNN) bao cấp;
mô hình quản lý tổ chức thực hiện phân tán , kém hiệu quả , nguồn kinh phí do NSNN không đảm bảo chi trả kịp thời, tình trạng nợ lương hưu diễn ra phổ biến Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN theo đường lối đổi mới của Đảng, đòi hỏi phải cải cách thể chế BHXH, cũng như hệ thống quản lý, tổ chức thực hiện BHXH phù hợp với yêu cầu thực tiễn.Tại Điều 56 Hiến pháp năm
1992 quy định: “Nhà nước ban hành chính sách, chế độ bảo hộ lao động, chế độ tiền lương, chế độ nghỉ ngơi và chế độ BHXH đối với viên chức nhà nước và những người làm công ăn lương; khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với NLĐ” Thể chế hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992, trên cơ sở tổng kết thí điểm thực hiện BHXH đối với NLĐ làm việc trong các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh, bước đột phá đầu tiên là khi Chính phủ ban hành Nghị định 43/CP ngày 22/06/1993 quy định tạm thời BHXH gồm 05 chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, hưu trí, tử tuất; áp dụng đối với công nhân, viên chức Nhà nước, lực lượng vũ trang, các tổ chức Đảng, đoàn thể và NLĐ làm việc hưởng tiền lương hoặc tiền công trong các DN ngoài quốc doanh có sử dụng từ 10 lao động trở lên thuộc đối tượng tham gia BHXH bắt buộc Ngoài ra, còn quy định hình thức BHXH tự nguyện, những người không thuộc đối tượng BHXH bắt buộc được tham gia BHXH tự nguyện đây là loại hình BHXH mới nhằm mở rộng mạng lưới
an sinh xã hội bảo vệ NLĐ và người dân
- Từ 1995 đến 2006: ngày 23/06 /1994, tại Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa IX, Quốc hội đã thông qua Bộ luật Lao động, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/1995 Trong đó, tại Chương XII với 13 Điều quy định về BHXH, trên cơ sở luật hóa các quy định hiện hành Như vậy, từ ngày 01/01/1995 trở đi, pháp luật về BHXH chính thức được ban hành Theo đó, Nhà nước quy định về chính sách BHXH nhằm từng bước mở rộng và nâng cao việc bảo đảm vật chất, góp phần ổn định đời sống cho NLĐ và gia đình trong các trường hợp ốm đau, thai sản, hết tuổi lao động, chết, bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, mất việc làm, gặp rủi ro hoặc các khó khăn khác Các loại hình BHXH bắt buộc hoặc tự nguyện được áp dụng đối với từng loại
Trang 26đối tượng và từng loại DN để bảo đảm cho NLĐ được hưởng các chế độ BHXH thích hợp
Đặc điểm cơ bản của thời kỳ này là đối tượng tham gia BHXH được mở rộng, tạo sự bình đẳng giữa những NLĐ ở các thành phần kinh tế khi tham gia và thụ hưởng các chế độ BHXH; tăng nhanh độ bao phủ về an sinh xã hội; hình thành Quỹ BHXH độc lập với NSNN từ đóng góp của NLĐ, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà nước; Quỹ BHXH được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, được Nhà nước bảo hộ
Ngày 16/02/1995, Chính phủ ban hành Nghị định số 19/CP thành lập BHXH Việt Nam trên cơ sở thống nhất các tổ chức BHXH thuộc Bộ LĐ-TB&XH và Tổng LĐLĐ VN BHXH Việt Nam đươ ̣c tổ chức theo hê ̣ thống ngành do ̣c gồm 03 cấp từ Trung ương đến cấp huyê ̣n , để thống nhất thực hiện việc thu, chi, quản lý Quỹ BHXH và thực hiện các chế độ BHXH cho NLĐ, phấn đấu thực hiên mục tiêu BHXH đối với mọi NLĐ, góp phần bảo đảm an sinh xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế và hội nhập
- Từ 2007 đến nay: ngày 29/06/2006, Quốc hội đã thông qua Luật BHXH và
có hiệu lực thi hành từ 01/01/2007 đối với BHXH bắt buộc, từ 01/01/2008 đối với BHXH tự nguyện và từ 01/01/2009 đối với BH thất nghiệp Việc ban hành Luật chuyên ngành là bước phát triển vượt bậc trong xây dựng thể chế BHXH, đánh dấu thời kỳ mới có ý nghĩa hết sức quan trọng trong tổ chức thực hiện BHXH theo hiến pháp và pháp luật một cách hiệu quả Các quy định của Luật BHXH về cơ bản được
kế thừa từ các quy định hiện hành và có phát triển một số nội dung, đặc biệt là quy định lại loại hình BHXH tự nguyện (bao gồm chế độ hưu trí, tử tuất được quy định liên thông với BHXH bắt buộc) và bổ sung loại hình BH thất nghiệp Việc quy định
cụ thể các chế độ trong BHXH tự nguyện được liên thông với BHXH bắt buộc đã tạo điều kiện để người dân tham gia và thụ hưởng chế độ hưu trí khi về già, đảm bảo an sinh xã hội về lâu dài Đặc biệt là việc thiết kế chính sách tuân thủ đúng nguyên tắc đóng - hưởng, có sự chia sẻ theo nhóm đối tượng để bảo đảm khả năng chi trả của Quỹ BHXH (quy định mức tiền lương, tiền công đóng BHXH thấp nhất,
Trang 27bằng mức lương tối thiểu chung, nhưng tối đa không quá 20 lần mức lương tối thiểu chung- nay là mức lương cơ sở đã khắc phục tình trạng mức hưởng BHXH của một
số trường hợp cao bất thường trước khi có Luật BHXH)
Mô hình tổ chức thực hiện BHXH theo quy định tại Nghị định
94/2008/NĐ-CP, Nghị định 116/ 2011/NĐ-CP và Nghị định số 05/2014/NĐ-CP ngày 17/01/2014, theo đó, BHXH Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ, có chức năng tổ chức thực hiện chế độ, chính sách BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BHYT; tổ chức thu, chi chế độ BH thất nghiệp; quản lý và sử dụng các quỹ BHXH bắt buộc, BHXH tự nguyện, BH thất nghiệp, BHYT theo quy định của pháp luật Mô hình cơ cấu tổ chức và chức năng của BHXH Việt Nam được kiện toàn phù hợp với cơ chế quản lý hoạt động BHXH Công tác chỉ đạo, điều hành hoạt động chung của BHXH Việt Nam đã được đổi mới kịp thời, sát thực tế, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao, phục vụ tốt hơn đối tượng tham gia và thụ hưởng chính sách
1.3.2 Sự cần thiết chính sách BHXH:
Chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng trong chính sách kinh tế và xã
hội của Nhà nước, là những chủ trương, quan điểm, nguyên tắc BHXH để giải quyết các vấn đề xã hội liên quan đến một tầng lớp đông đảo người lao động và các vấn
đề kích thích phát triển kinh tế của từng thời kỳ Trong mỗi giai đoạn phát triển kinh
tế khác nhau, chính sách BHXH được Nhà nước đề ra và thực hiện phù hợp với mục
tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế, xã hội từng giai đoạn.“Bảo hiểm xã hội là chính
sách lớn của Đảng và Nhà nước góp phần bảo đảm ổn định đời sống cho người lao động ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng đất nước, bảo vệ tổ quốc” (Trích chỉ thị số 15-CT/TW ngày 26/5/1997 của bộ chính trị)
- Sự cần thiết của chính sách BHXH:
Việc thực hiện chính sách BHXH là nhằm ổn định cuộc sống người lao
động, trợ giúp người lao động khi gặp rủi ro như ốm đau, tai nạn lao động - bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp sớm trở lại trạng thái sức khỏe ban đầu cũng như sớm có việc làm
Trang 28Về phía người lao động, theo phương thức BHXH người lao động khi có việc làm và khỏe mạnh sẽ đóng góp một phần tiền lương, thu nhập vào quỹ dự phòng Quỹ này hỗ trợ người lao động khi ốm đau, tai nạn, lúc sinh đẻ và chăm sóc con cái, khi không làm việc, lúc già cả để duy trì và ổn định cuộc sống của người lao động và gia đình họ Do vậy, hoạt động BHXH vừa đòi hỏi tính trách nhiệm cao của từng lao động đối với bản thân mình, với gia đình và đối với cộng đồng, xã hội theo phương châm “mình vì mọi người, mọi người vì mình” thông qua quyền và nghĩa vụ; mặt khác, thể hiện sự gắn kết trách nhiệm giữa các thành viên trong xã hội, giữa các thế hệ kế tiếp nhau trong một quốc gia, tạo thành một khối đoàn kết thống nhất về quyền lợi trong một thể chế chính trị - xã hội bền vững
Về phía người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng góp BHXH, cho người lao động Từ việc đóng góp BHXH cho người lao động có thể sẽ làm tăng chi phí sản xuất, giảm lợi nhuận của doanh nghiệp Nhưng bản chất, về lâu dài, phương thức BHXH đã chuyển giao trách nhiệm bảo vệ người lao động khi gặp rủi
ro về phía xã hội, rủi ro được điều tiết trên phạm vi toàn xã hội, giúp cho chủ sử dụng lao động bớt những khó khăn, lo lắng về nguồn lao động của doanh nghiệp, yên tâm tổ chức sản xuất, kinh doanh Đối với nước ta, nguồn lao động với trình độ chuyên môn cao, người lao động có mức thu nhập ở mức bình quân chung toàn xã hội là chủ yếu thì biện pháp điều tiết thu nhập mang tính cộng đồng là rất cần thiết Thực tế cho thấy, nhiều doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến thủy sản,
hải sản; da giày; dệt may sử dụng nhiều lao động, nhất là doanh nghiệp có nhiều lao động nữ đều rất coi trọng chính sách BHXH để bảo vệ và duy trì nguồn lao động của doanh nghiệp mình
Đối với Nhà nước trong hoạt động BHXH, Nhà nước tiến hành xây dựng chính sách, chế độ, tổ chức triển khai và giám sát quá trình thực hiện nhằm thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của người tham gia BHXH Như vậy nhà nước giữ vai trò quản lý về BHXH, bảo hộ cho quỹ BHXH mà không phải chi từ ngân sách nhà nước cho lĩnh vực này Mặt khác, chính sách BHXH là một bộ phận quan trọng của chính sách xã hội, giúp Nhà nước điều tiết mối quan hệ giữa chính sách kinh tế và
Trang 29xã hội trên phương diện vĩ mô, bảo đảm cho nền kinh tế liên tục phát triển và giữ gìn ổn định xã hội trong từng thời kỳ cũng như trong suốt quá trình
Thứ hai, thực hiện tốt chính sách BHXH, nhất là chế độ hưu trí, góp phần ổn
định cuộc sống của người lao động khi hết tuổi lao động hoặc không còn khả năng lao động
Theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội, người lao động tham gia đóng BHXH
từ 20 năm trở lên khi hết tuổi lao động hoặc mất sức lao động thì được hưởng lương hưu hoặc trợ cấp hằng tháng Với nguồn lương hưu và trợ cấp BHXH, người cao tuổi
có thu nhập ổn định, bảo đảm cuộc sống sinh hoạt hằng ngày Trong nhiều năm qua, kể
từ khi chính sách BHXH được thực hiện, cùng với sự phát triển kinh tế, mức lương hưu cũng không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung của toàn xã hội Vào các thời điểm tăng mức lương tối thiểu chung cũng như việc xem xét chỉ số giả cả, Nhà nước đều có sự điều chỉnh lương hưu một cách hợp lý Mức lương hưu không ngừng được điều chỉnh cho phù hợp với mức sống chung toàn xã hội tại thời điểm hưởng lương hưu đã bảo đảm cuộc sống của người nghỉ hưu, tạo sự an tâm, tin tưởng của người về hưu sau cả cuộc đời lao động Tương tự như vậy, các quyền lợi về về chế
độ ốm đau, chế độ tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; mức trợ cấp tử tuất một lần cũng được cải thiện rõ rệt Sở dĩ có được điều kiện nâng cao và mở rộng các quyền lợi của BHXH là do phương thức tài chính ở nước ta được hình thành theo cách lập quỹ và
có sự tính toán điều chỉnh quan hệ đóng - hưởng trong phạm vi toàn xã hội theo những
dự báo về các yếu tố kinh tế - xã hội trong tương lai Theo phương thức lập quỹ, người lao động, trước hết phải có trách nhiệm với bản thân trong việc đóng góp lập quỹ BHXH, dành dụm cho mai sau, tránh tình trạng đẩy toàn bộ gánh nặng chi trả cho thế
hệ mai sau Mặt khác, với việc lập quỹ BHXH đã gắn kết được trách nhiệm của các thế
hệ kế tiếp trong cùng chính sách BHXH Chính sự phát triển với tốc độ nhanh của nền kinh tế nước ta của thế hệ đương thời theo truyền thống “con hơn cha” góp phần cải thiện rõ nét mức sống của người về hưu đã có đóng góp một phần trước đây Vì vậy, nguồn quỹ BHXH được Nhà nước bảo hộ và phát triển cân đối bền vững sẽ là cơ sở để
Trang 30cải thiện không ngừng các chế độ BHXH nói chung và đời sống của người nghỉ hưu nói riêng
Thực hiện chính sách BHXH góp phần ổn định và nâng cao chất lượng lao
động, bảo đảm sự bình đẳng về vị thế xã hội của người lao động trong các thành phần kinh tế khác nhau, thúc đẩy sản xuất phát triển
Chính sách BHXH hoạt động dựa trên nguyên tắc cơ bản “đóng - hưởng” đã tạo ra bước đột phá quan trọng về sự bình đẳng của người lao động về chính sách BHXH Khi đó, mọi người lao động làm việc ở các thành phần kinh tế, các ngành nghề, địa bàn khác nhau, theo các hình thức khác nhau đều được tham gia thực hiện các chính sách BHXH Phạm vi đối tượng tham gia BHXH không ngừng được mở rộng đã thu hút hàng triệu người lao động làm việc trong các thành phần kinh tế khác nhau, khuyến khích họ tự giác thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi BHXH, tạo sự
an tâm, tin tưởng và yên tâm lao động, sản xuất, kinh doanh
Người lao động tham gia BHXH khi ốm đau sẽ được khám chữa bệnh và được quỹ chi trả phần lớn chi phí; được nhận tiền trợ cấp khi ốm đau không đi làm được, được nghỉ chăm con ốm; khi thai sản được nghỉ khám thai, được nghỉ khi sinh đẻ và nuôi con, được nhận trợ cấp khi sinh con và trợ cấp thai sản; khi bị tai nạn lao động hoặc bệnh nghề nghiệp sẽ được nhận phần trợ cấp do giảm khả năng lao động do tai nạn, bệnh nghề nghiệp gây ra Ngoài ra, người lao động còn được nghỉ dưỡng sức và phục hồi sức khỏe sau khi ốm đau, sinh đẻ hay điều trị thương tật nhằm nâng cao thể lực Khi người lao động mất việc làm sẽ được hưởng trợ cấp thất nghiệp và được giới thiệu việc làm hoặc gửi đi học nghề để có cơ hội tìm kiếm việc làm mới Với những quyền lợi của người lao động khi tham gia BHXH đã góp phần thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, giữ gìn và nâng cao thể lực cho người lao động trong suốt quá trình lao động, sản xuất Việc được tham gia BHXH khi đang làm việc và được hưởng lương hưu sau này đã tạo ra cho người lao động sự phấn khởi, tâm lý ổn định, an tâm vào việc làm mà họ đang thực hiện Thực tế là nhiều doanh nghiệp, khi tuyên truyền quảng cáo tuyển dụng lao động, thì tiêu thức được tham gia BHXH cũng
Trang 31là một quyền lợi quan trọng thu hút được nhiều lao động
Sự an tâm của người lao động cũng như việc bảo vệ sức lao động của họ thông qua chính sách BHXH đã trở thành một chính sách thu hút nguồn lao động vào nền sản xuất xã hội, bảo đảm sự ổn định và thúc đẩy sản xuất phát triển
BHXH là một công cụ đắc lực của Nhà nước, góp phần vào việc phân phối
lại thu nhập quốc dân một cách công bằng, hợp lý giữa các tầng lớp dân cư, đồng thời giảm chi cho ngân sách nhà nước, bảo đảm an sinh xã hội bền vững
Trên thị trường lao động, “tiền lương là giá cả sức lao động” được hình thành
tự phát căn cứ vào quan hệ cung cầu, vào chất lượng lao động cũng như các điều kiện khung mà trong đó Nhà nước chỉ đóng vai trò quản lý thông qua những quy định về mức lương tối thiểu và những điều kiện lao động cần thiết Quá trình hình thành tiền lương theo thỏa thuận giữa chủ sử dụng lao động và người lao động là sự phân phối lần đầu và phân phối trực tiếp cho từng người lao động Do vậy, người lao động có tay nghề cao, có nghề nghiệp thích ứng với nhu cầu của xã hội sẽ có thu nhập cao Đó là sự hợp lý và khuyến khích làm giàu chính đáng Sau khi đã thực hiện thuế thu nhập, Nhà nước sẽ tiến hành phân phối lại thông qua chính sách BHXH Khi đó, người có năng lực hơn, nhận được tiền lương cao hơn sẽ đóng góp nhiều hơn cho xã hội để trợ giúp những người “yếu thế” hơn trong xã hội Một bộ phận lao động khác do gặp phải rủi ro trong cuộc sống như về sức khỏe, về năng lực, về hoàn cảnh gia đình có việc làm và thu nhập thấp hơn sẽ nhận được các quyền lợi BHXH để duy trì cuộc sống Bên cạnh đó, chế độ hưu trí, tử tuất với nguyên tắc tương đồng giữa mức đóng và mức hưởng đã khuyến khích người lao động khi làm việc có thu nhập cao và đóng góp ở mức cao, với thời gian dài thì sau này sẽ được hưởng tiền lương hưu với mức cao, an tâm nghỉ ngơi khi tuổi già Bảo hiểm xã hội được thực hiện theo nguyên tắc đóng - hưởng, có nghĩa là người tham gia đóng góp vào quỹ BHXH thì người đó mới được hưởng quyền lợi
về BHXH Như vậy, nguồn để thực hiện chính sách là do người lao động đóng góp, Nhà nước không phải bỏ ngân sách ra nhưng vẫn thực hiện được mục tiêu an sinh
xã hội lâu dài
Trang 321.3.3 Nội dung khi thực hiện chính sách BHXH:
Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội ngày càng mở rộng Thời kỳ 1995- 2003, chỉ bao gồm những người lao đô ̣ng có hợp đồng lao đô ̣ng, hợp đồng làm việc trên 3 tháng, làm việc trong cơ quan, doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh có qui mô từ 10 lao đô ̣ng trở lên Từ 2003 đến nay, mọi người lao động có hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc từ 3 tháng trở lên, không phân biệt quy mô lao động của doanh nghiệp, đều thuộc diện điều chỉnh của Chính sách bảo hiểm xã hô ̣i bắt buộc
Bảo hiểm xã hội bắt buộc là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động và người sử dụng lao động bắt buộc phải tham gia.( Điều 3, Luật BHXH 2006)
Chính sách bảo hiểm xã hội bắt buộc được thiết kế theo nguyên tắc tọa thu tọa chi với 5 chế độ bảo hiểm : ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp , hưu trí và tử tuất (trong đó chế đô ̣ hưu trí và tử tuất là xương sống của chính sách bảo hiểm xã hội ) Những chế đô ̣ này nhằm phòng ngừa và giảm thiểu những rủi ro về sức khỏe, tai na ̣n lao đô ̣ng-bê ̣nh nghề nghiê ̣p, tuổi già và các rủi ro khác dẫn đến tử vong mà ai cũng có thể gă ̣p phải
BHXH tự nguyện:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội mà người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng bảo hiểm xã hội ( Điều 3, Luật BHXH 2006) Bảo hiểm xã hội tự nguyê ̣n được triển khai thực hiê ̣n từ năm 2008 với 2 chế độ bảo hiểm là hưu trí và tử tuất Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện là công dân Việt Nam trong độ tuổi lao động không thuô ̣c diê ̣n tham gia bảo hiểm xã hô ̣i bắt buô ̣c , bao gồm: người
Trang 33lao động làm việc theo hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng; cán bộ không chuyên trách cấp xã; người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ,
kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã; người lao động tự tạo việc làm; Người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc hoặc đã nhận bảo hiểm
xã hội một lần; người tham gia khác
NLĐ khi tham gia BHXH tự nguyện đuợc hưởng các quyền lợi như:
- Được hưởng quyền lợi như tham gia BHXH bắt buộc:
- Được hưởng chế độ hưu trí khi đóng được ít nhất 20 năm và hết tuổi lao động
- Được hưởng chế độ BHXH 1 lần nếu không đủ điều kiện hưu trí hoặc muốn nhận sớm
- Thân nhân được hưởng Tử Tuất nếu người đóng chẳng may qua đời
BHXH thất nghiệp: BHTN là quá trình hình thành và sử dụng quỹ tài chính thông qua việc đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động và sự hỗ trợ của nhà nước, nhằm hỗ trợ về mặt thu nhập cho người lao động trong thời kỳ họ bị mất việc làm, tạo điều kiện cho họ tìm kiếm việc làm mới trong thị trường lao động Vậy, BHTN là công cụ góp phần giải quyết thất nghiệp nhưng đồng thời cũng
là chính sách đảm bảo an sinh xã hội BHTN bù đắp thu nhập cho người thất nghiệp
và tạo điều kiện thuận lợi cho họ trở lại thị trường lao động, tìm kiếm việc làm và
có khả năng tìm được việc làm giúp họ có động lực tích cực tìm kiếm và sẵn sàng tham gia lao động Do đó, BHTN vừa có ý nghĩa to lớn với NLĐ, NSDLĐ và với quốc gia
Đối tượng được hưởng BHTN gồm: người thất nghiệp đã đóng bảo hiểm thất nghiệp đủ mười hai tháng trở lên trong thời gian hai mươi bốn tháng trước khi thất nghiệp; đã đăng ký thất nghiệp với tổ chức bảo hiểm xã hội; chưa tìm được việc làm sau mười lăm ngày kể từ ngày đăng ký thất nghiệp theo quy định
- Giải quyết và chi trả chế độ BHXH:
BHXH giải quyết chế độ chính sách cho NLĐ theo quy định dựa trên việc quản lý các đối tượng thụ hưởng
Trang 34Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, ngoài phần giải quyết và chi trả các chế độ cho NLĐ nói chung, tác giả chỉ đi sâu vào việc phân tích việc chi trả các chế
độ đặc thù cho LĐN như chế độ ốm đau, thai sản
Đặc điểm của thu BHXH là số tiền thu lớn và từ nhiều nguồn đóng góp khác nhau với nhiều hình thức : tiền mă ̣t , chuyển khoản , séc, ủy nhiệm chi Do đó , hê ̣ thống BHXH phải thực hiê ̣n công tác hoa ̣ch toán kế toán , thống kê, báo cáo và kiểm tra toàn bô ̣ s ố tiền thu BHXH theo đúng quy định của pháp luật , quản lý chặt chẽ đúng theo nguyên tắc tài chính
Mức đóng của người tham gia BHXH của người lao đô ̣ng và các đơn vi ̣ sử dụng lao động theo quy đinh của pháp luật BHXH Trong cơ chế thi ̣ trường, các đơn
vị sử dụng lao động thường không tự giác tham gia BHXH cho người lao động , họ tìm cách gian lận hoặc đóng chậm không theo quy định Viê ̣c quản lý chă ̣t chẽ buô ̣c chủ sử dụng lao động phải cung cấp đầ y đủ số liê ̣u về lao đô ̣ng , quỹ lương , đóng đầy đủ BHXH là vấn đề quan tro ̣ng
Do đó, tình trạng nợ đóng BHXH cho người lao động ở các doanh nghiệp xảy ra ngày càng nhiều Bên cạnh đó, Luật Bảo hiểm xã hội hiện hành quy định lãi chậm đóng bằng mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội trong năm, trong khi đó mức lãi suất của hoạt động đầu tư từ quỹ bảo hiểm xã hội thường thấp hơn nhiều so với lãi suất cho vay của các ngân hàng Mặt khác, mức phạt tiền đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm xã hội theo quy định còn thấp
Vì vậy, nhiều doanh nghiệp cố tình nợ đóng, chậm đóng bảo hiểm xã hội và chấp nhận chịu phạt để chiếm dụng tiền đóng bảo hiểm xã hội
Trang 351.3.3.2 Tổ chức thực hiện chính sách:
Xây dựng và tổ chức bộ máy thực hiện:
Xây dựng bộ máy và công tác cán bộ:
Về tổ chức bộ máy BHXH gồm có Hội đồng quản lý và hệ thống BHXH Việt Nam được tổ chức theo ngành dọc gồm 3 cấp quản lý
Hình 1.1: Sơ đồ hệ thống BHXH Việt Nam
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp và xây dựng)
Tại cấp trung ương: BHXH Việt Nam gồm có 16 phòng ban và 8 đơn vị khác gồm có: Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm xã hội Ban Thực hiện chính sách bảo hiểm y tế; Ban Thu; Ban Tài chính - Kế toán; Ban Sổ - Thẻ; Ban Tuyên truyền; Ban Hợp tác quốc tế; Ban Kiểm tra; Ban Thi đua - Khen thưởng; Ban Kế hoạch và Đầu tư; Ban Tổ chức cán bộ; Ban Pháp chế; Ban Đầu tư quỹ; Ban Dược và Vật tư y tế; Ban Kiểm toán nội bộ; Văn phòng (có đại diện tại Thành phố Hồ Chí Minh); Viện Khoa học bảo hiểm xã hội; Trung tâm Công nghệ thông tin; Trung tâm Lưu trữ; Trung tâm Giám định bảo hiểm y tế
và Thanh toán đa tuyến khu vực phía Bắc; Trung tâm Giám định bảo hiểm y tế và Thanh toán đa tuyến khu vực phía Nam; Trường Đào tạo nghiệp vụ bảo hiểm xã hội; Báo Bảo hiểm xã hội; Tạp chí Bảo hiểm xã hội
Nhiệm vụ chính của cơ quan BHXH là tiếp nhận đăng ký tham gia BHXH, tổ chức thu đóng BHXH, hoạch toán các khoản đóng góp, thực hiện các khoản trợ cấp, quản lý quỹ BHXH, giải đáp thắc mắc của các đối tượng tham gia về BHXH Vậy,
để thực hiện được các nhiệm vụ chính này, cơ quan BHXHVN phân công cụ thể
Hệ thống
BHXHVN
Cấp trung ương
Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương
Cấp Quận, Huyện, Thị xã
BHXH Việt Nam gồm 24 đơn vị
BHXH Tỉnh gồm có
11 phòng ban
BHXH Huyện gồm có
5 tổ
Trang 36cho từng đơn vị thực hiện, từ đó các phòng ban phải có trách nhiệm và triển khai kế hoạch đề ra để đạt được mục tiêu chính
Bên cạnh đó, đội ngũ cán bộ công chức viên chức trong ngành cũng phải đáp ứng được các yêu cầu về năng lực, trình độ và kinh nghiệm để giải quyết được các chế độ BHXH cho các đối tượng tham gia
Trách nhiệm của các bên tham gia quản lý thực hiện chính sách:
Như vấn đề về huy động các nguồn lực để thực hiện có đề cập đến việc không chỉ có sự tham gia của Nhà nước và Cơ quan BHXH mà cần phải huy động mọi nguồn lực trong việc thực hiện chính sách BHXH, cần phải phân rõ trách nhiệm của các bên tham gia trong việc thực hiện Các Bộ, Ban, ngành, hệ thống BHXH từ trung ương đến địa phương có những trách nhiệm cụ thể, rõ ràng nào để thực hiện tốt, tránh sự chồng chéo và không thống nhất giữa các bên Bên cạnh đó, trách nhiệm của các bên trong việc việc báo cáo chính phủ, kiểm tra và đánh giá thực hiện chính sách cũng cần phải được làm rõ
Hình 1.2: Sơ đồ trách nhiệm các cơ quan QLNN về BHXH
(Nguồn: tác giả tự tổng hợp và xây dựng)
UBND các cấp thực hiện quản lý về BHXH trong phạm vi địa phương theo phân cấp của chính phủ
Bộ, các cơ quan ngang bộ thực hiện quản
lý về BHXH theo phạm vi và quyền hạn
của mình
Bộ LĐ, TB & XH chịu trách nhiệm quản lý BHXH trước Chính phủ
Chính phủ thống nhất quản
lý BHX
H
Trang 37Hơn thế nữa, trách nhiệm của các bên tham gia quản lý BHXH, cần đề cập đến tổ chức công đoàn và đại diện NSDLĐ trong quá trình thực hiện chính sách liên quan đến tuyên truyền, phổ biến các chế độ chính sách, tham gia xây dựng và sửa đổi luật pháp BHXH, đặc biệt là việc kiểm tra, giám sát việc thi hành pháp luật về BHXH cho NLĐ
Các vấn đề chính cần quan tâm khi thực hiện chính sách có đảm bảo các đối tượng được tham gia đầy đủ không, giải quyết và chi trả các chế độ cho NLĐ ra sao, hiện trạng thu và nợ của đối tượng tham gia ảnh hưởng đến quyền lợi NLĐ như thế nào? Tuy nhiên, bên cạnh đó chúng ta cũng cần xét đến các yếu tố có liên quan trong quá trình thực hiện như bộ máy, các nguồn lực về nhân lực, vật lực, tài lực… trong việc thực thi chính sách để đạt được mục tiêu đề ra Tác giả sẽ phân tích cụ thể các nội dung này trong chương 3
- Huy động các nguồn lực thực hiện:
Độ bao phủ hệ thống BHXH đối với đối tượng tham gia tương đối lớn, nên không thể nào chỉ có sự tham gia của Nhà nước Tuy nhiên, BHXH không thể tự hình thành và phát triển nếu không có sự tham gia và điều tiết của Nhà nước, không có định hướng ngay từ đầu trong việc phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Việt Nam Chính mặt trái của cơ chế thị trường lại làm cho Nhà nước phải điều chỉnh lại hệ thống BHXH để đảm bảo sự ổn định kinh
tế, chính trị và xã hội cho đất nước Nhà nước không chỉ tạo ra cơ chế, môi trường thuận lợi cho việc phát triển hệ thống BHXH mà còn cung cấp các nguồn lực để thực hiện chính sách này
Bên cạnh việc Nhà nước đóng vai trò điều tiết thực hiện chính sách, việc phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đóng vai trò vô cùng quan trọng Việc tận dụng và phát huy các nguồn lực sẽ tạo ra sức mạnh tổng hợp cho sự phát triển, trong đó yếu tố nội lực đóng vai trò quyết định trực tiếp, nguồn lực bên ngoài giữ vai trò quan trọng Nội lực được tăng cường sẽ đảm bảo thu hút và
sử dụng hiệu quả ngoại lực
Trang 38Nguồn lực để đảm bảo thực hiện chính sách BHXH có từ nhiều nguồn khác nhau như: nguồn nhân lực, nguồn lực tài chính, khoa học công nghệ, chủ trương, chính sách…
- Phổ biến, tuyên truyền chính sách:
Nhận thức về lợi ích tham gia chính sách BHXH đóng vai trò quyết định đến việc thực thi chính sách, đặc biệt là người lao động là đối tượng ít được tiếp cận thông tin, cập nhật các thông tin một cách đầy đủ về quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia Do đó, việc phổ biến và tuyên truyền chính sách là thực sự cần thiết để đảm bảo việc thực thi chính sách có hiệu quả
Bộ LĐ, TB& XH có trách nhiệm phối hợp với các Bộ, ngành, tổ chức có liên quan từ Trung ương đến địa phương thực hiện công tác tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật: mở lớp tập huấn, bồi dưỡng nghiệp vụ, tổ chức phổ biến, giới thiệu Luật BHXH và các văn bản hướng dẫn
Hệ thống BHXH từ Trung ương đến địa phương phối hợp với các Sở, Ban, ngành từ Trung ương đến địa phương có trách nhiệm tuyên truyền, phổ biến tới người lao động và người sử dụng lao động với nhiều hình thức như: truyền tải thông tin qua các phương tiện thông tin đại chúng Báo, Đài phát thanh, truyền hình phát sóng thông qua các chuyên mục, thực hiện phóng sự, trả lời phỏng vấn; xuất bản các ấn phẩm, panô, phát tờ rơi, tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho cán bộ doanh nghiệp làm bảo hiểm xã hội, hoặc tổ chức các hội nghị đối thoại trực tiếp với người lao động, cơ quan, tổ chức trên địa bàn
- Kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách:
Để đảm bảo chính sách BHXH được thực hiện đúng và hiệu quả theo quy định pháp luật, bên cạnh việc huy động các nguồn lực thực hiện, tuyên truyền phổ biến thông tin và cơ chế, trách nhiệm phối hợp giữa các bên có liên quan thì việc kiểm tra, giám sát và theo dõi thực hiện đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với thực thi chính sách để phát hiện ra các vấn đề tồn tại, hạn chế và đưa ra các đề xuất để bổ sung, điều chính chính sách cho phù hợp Nếu như chính sách chỉ đưa ra các quy
Trang 39định để thực hiện mà không có cơ chế giám sát việc thực hiện đó để đưa ra các chế tài xử phạt và răn đe thì gần như chính sách và quy định đó không có hiệu lực Do
đó, song song với việc tổ chức và thực hiện cần phải có biện pháp để mục tiêu BHXH đi đúng định hướng và đảm bảo quyền lợi cho các đối tượng tham gia
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách:
Các nhân tố từ môi trường bên ngoài
- Điều kiê ̣n kinh tế - xã hội:
Điều kiê ̣n kinh tế – xã hội là một trong những yếu tố quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến viê ̣c làm hoa ̣ch đi ̣nh chủ trương, chính sách và quá trình đảm bảo thực thi chính sách BHXH cho NLĐ Nền kinh tế – xã hội Việt Nam đã có nhiều thay đổi và biến chuyển theo hướng tích cực, tăng trưởng kinh tế hàng năm, công an viê ̣c làm của NLĐ ổn đi ̣nh, bền vững, ASXH được đảm bảo Tuy nhiên, điều kiê ̣n kinh tế – xã hội cũng sẽ là cản lực cho việc thực hiện chính sách BHXH nếu như các nhà hoạch định chính sách, bô ̣ máy thực thi chính sách không nắm được quy luâ ̣t, sự điều tiết của nền kinh tế và sản xuất trong nước mô ̣t cách hợp lý Vì thế, cùng với việc hoạch định chính sách và thực thi chính sách, cơ quan quản lý Nhà nước phải có những chính sách phù
hơ ̣p với đă ̣c điểm phát triển trong nước nhằm thực hiê ̣n có hiê ̣u quả chính sách BHXH, góp phần duy trì và nâng cao thực hiện chính sách cho NLĐ
- Hệ thống chính sách xã hội:
Với tư cách là một chính sách, BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách khác của Nhà nước mà trước hết là với chính sách về an sinh xã hội và các chính sách xã hội
Chính sách BHXH có mối quan hệ chặt chẽ với các chính sách XH khác trên quan hệ tương tác nhau và chịu ảnh hưởng bởi các chính sách kinh tế- xã hội khác, đặc biệt là các chính sách xã hội Chính vì thế, chính sách BHXH có phát triển, có hiệu quả hay không cũng phụ thuộc vào tác động từ các chính sách về dân số, việc làm, chăm sóc sức khỏe dân cư…
Trang 40Hình 1.3: Mô hình hóa hệ thống chính sách xã hội
(Nguồn: BHXH Bộ Quốc Phòng)
Các nhân tố từ môi trường bên trong:
- Bô ̣ máy và con người làm nhiệm vụ tổ chức thực thi chính sách BHXH:
Thành công của chính sách BHXH phụ thuộc vào khả năng và sự hoạt dộng của cơ quan BHXH Việt Nam và cán bộ thực hiện chính sách Nếu cơ quan BHXH hoạt động không có hiệu quả, đội ngũ cán bộ công chức thiếu năng lực, thiếu trách nhiệm và yếu kém thì việc thực hiện chính sách sẽ khó khăn, không hiệu quả và không đạt đuợc mục tiêu của chính sách
Bên cạnh bộ máy và nguồn nhân lực, việc phân công, phân nhiệm rõ ràng về nhiệm vụ, chức năng, quyền hạn, lợi ích của các cơ quan liên quan trong việc thực hiện chính sách cũng là yếu tố quan trọng Không chỉ có cơ quan BHXH Việt Nam
là chủ chốt có trách chính trong việc thực hiện chính sách mà trách nhiệm của Bộ
LĐ, TB và XH là đơn vị chủ trì thực hiện và các cơ quan có liên quan cần phải có
sự phối hợp chặt chẽ để đảm bảo thực hiện đúng mục tiêu của chính sách đề ra
- Thủ tục hành chính và quá trình thực thi chính sách:
Để thực hiện chính sách một cách khoa học và có hệ thống, bất kỳ một chính sách nào cũng có những quy chế, thủ tục cần thiết Các thủ tục này tạo ra môi