1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh phú yên

88 283 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 847,05 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách CTXH đối với NKT vẫn còn những hạn chế hệ thống chính sách CTXH đối với NKT chưa được ban hành kịp thời và đầy đủ, công tá

Trang 1

VIỆN HÀN LÂM

KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM

HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

GS.TS VÕ KHÁNH VINH

HÀ NỘI, 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn Thạc sĩ

Công tác xã hội “Thực hiện chính sách Công tác xã hội đối với người khuyết tật

từ thực tiễn tỉnh Phú Yên” là hoàn toàn trung thực và không trùng lặp với các đề

Trang 3

MỤC LỤC

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

1.1 Khái quát về thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật 8

1.2 Nội dung của thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật 17 1.3.Hệ thống luật pháp, chính sách về công tác xã hội đối với người khuyết tật 20 1.4 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ

HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH PHÚ YÊN 28

2.2 Thực trạng hoạt động trợ giúp người khuyết tật tại địa phương

2.3 Thực trạng thực hiện chính sách tuyên truyền về công tác xã hội đối với

người khuyết tật

31

35 2.4 Thực trạng thực hiện các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với cán bộ

2.5 Thực trạng thực hiện các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với cán bộ

2.7.Thực trạng thực hiện chính sách đảm bảo cho nhân viên công tác xã hội triển khai các cách tiếp cận, phương pháp công tác xã hội đối với người khuyết

tật

45

2.8.Thực trạng thực hiện chính sách hỗ trợ phát triển dịch vụ công tác xã hội

Chương 3 HOÀN THIỆN THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ

HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TỪ THỰC TIỄN TỈNH PHÚ

YÊN

55

3.1 Quan điểm, mục tiêu hoàn thiện thực hiện chính sách công tác xã hội đối

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm đến công tác người khuyết tật Hệ thống chính sách, pháp luật về NKT không ngừng được hoàn thiện, tạo môi trường pháp lý nhằm bảo vệ, chăm sóc, trợ giúp, hỗ trợ tạo việc làm

để NKT phát huy khả năng của mình, vượt qua khó khăn, hòa nhập cuộc sống, vươn lên tham gia bình đẳng vào các hoạt động kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, Việt Nam

đã ký tham gia Công ước của LHQ về quyền của NKT vào tháng 10/2007 và Quốc hội phê chuẩn Công ước vào tháng 11/2014 Việt Nam cam kết tham gia Chiến lược Incheon nhằm hiện thực hóa quyền cho NKT giai đoạn 2013-2022 được Liên Chính phủ cùng các tổ chức NKTcác nước Châu Á – Thái Bình Dương thông qua ngày 01/11/2012 tại Incheon, Hàn Quốc Gần đây nhất, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1717/QĐ-TTg ngày 06/10/2015 về việc thành lập Ủy ban Quốc gia về NKT Việt Nam

Việc tổ chức thực hiện chính sách CTXH đối với NKT đã tạo ra những chuyển biến tích cực đối với cuộc sống của NKT Sự thay đổi về nhận thức xã hội giúp NKT tự tin hơn, hòa nhập vào đời sống xã hội ngày càng thuận lợi Với vai trò chủ đạo của Nhà nước, hoạt động trợ giúp NKT đã thu hút sự quan tâm và phát huy trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức, cá nhân, cộng đồng dân cư tới mọi mặt đời sống của NKT, từng bước giảm dần những rào cản, cải thiện một bước việc đáp ứng các nhu cầu, quyền lợi chính đáng của NKT, tạo động lực để NKT phát huy năng lực của mình, vươn lên hòa nhập, đóng góp cho xã hội và trợ giúp thiết thực đối với người cùng hoàn cảnh Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện chính sách CTXH đối với NKT vẫn còn những hạn chế hệ thống chính sách CTXH đối với NKT chưa được ban hành kịp thời và đầy đủ, công tác dạy nghề cho NKT hiệu quả chưa cao, nhận thức của một bộ phận cán bộ làm công tác hỗ trợ người khuyết tật, cộng đồng và người dân còn hạn chế, xem công tác NKT thuộc trách nhiệm của ngành Lao động - Thương binh và xã hội và trợ giúp NKT chỉ là hoạt động từ thiện… Do vậy đời sống của một bộ phận không nhỏ NKT còn nhiều khó khăn, vẫn còn nhiều NKT chưa được tiếp cận hoặc tiếp cận chưa đầy đủ các dịch vụ

xã hội cơ bản

Trang 6

Theo số liệu của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, hiện nay Việt Nam

có khoảng 7 triệu người khuyết tật, chiếm 7,8% dân số Trong đó, có khoảng 28,9% NKT đặc biệt nặng và nặng, 58% NKT là nữ, 28,3% NKT là trẻ em, 10,2% NKT là người cao tuổi, 61,5% NKT trong độ tuổi lao động và khoảng 10% NKT thuộc hộ nghèo Thực tiễn tại tỉnh Phú Yên, việc thực hiện chính sách CTXH đối với NKT cũng gặp không ít khó khăn Theo số liệu thống kê, toàn tỉnh Phú Yên có 20.140 người khuyết tật, chiếm 2,26% dân số Công tác Xã hội đối với NKT nhằm đáp ứng nhu cầu của cá nhân, giúp cho NKT phát huy khả năng tự lực của mình, vượt qua khó khăn để hòa nhập cộng đồng Quyền tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của NKT là một trong những nội dung thể hiện trong Công ước của LHQ về quyền của NKT và đã được quy định khá đầy đủ trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam Tuy nhiên việc thực hiện chính sách CTXH đối với NKT hiện nay trên địa bàn tỉnh hầu như chỉ là việc “cho và nhận”

Các công trình nghiên cứu về công tác xã hội với người khuyết tật, chính sách xã hội đối với người khuyết tật đã có Tuy nhiên, nghiên cứu về thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật là một nội dung khá mới

Từ những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài : “Thực hiện chính sách công

tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Phú Yên ” làm luận văn tốt

nghiệp thạc sĩ của mình

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Trong những năm gần đây, các vấn đề về NKT luôn nhận được sự quan tâm

đặc biệt của các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các chuyên gia, học giả trong và ngoài nước Trong phạm vi nghiên cứu luận văn này, tác giả lựa chọn và phân tích một số công trình nghiên cứu, bài viết, tạp chí tiêu biểu như sau:

Các nghiên cứu về pháp luật, chính sách xã hội đối với người khuyết tật

Tác giả Trần Thái Dương (Trường Đại học Luật Hà Nội) đã nghiên cứu về những điểm khác biệt giữa pháp luật Việt Nam với pháp luật Quốc tế, đặc biệt là những quy định của Công ước về quyền của NKT trong việc bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của NKT, từ đó đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện pháp luật, thực hiện trọn vẹn nghĩa vụ quốc gia khi Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên chính thức của Công ước [7, tr.12]

Trang 7

Tác giả Trần Thị Thúy Lâm đã có bài viết phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về dạy nghề cho NKT trên các phương diện: Chính sách đối với cơ sở dạy nghề, NKT học nghề và giáo viên dạy nghề cho NKT; đồng thời đưa ra một số khuyến nghị nhằm nâng cao hiệu quả việc học nghề đối với NKT

cả ở phương diện hoàn thiện pháp luật và biện pháp tổ chức thực hiện.[10, tr.18]

Nguyễn Thị Báo (2007), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật

ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí

Minh [….] Tác giả đã chỉ rõ từ thực tiễn và quá trình tổ chức thực hiện pháp luật về quyền của NKT ở Việt Nam, bên cạnh những mặt tích cực cũng đã bộc lộ những hạn chế cản trở NKT hoà nhập vào cộng đồng Việc nghiên cứu những cơ

sở lý luận và thực tiễn đảm bảo tính pháp lý lâu dài, ổn định có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong bối cảnh thay đổi mạnh mẽ về kinh tế-xã hội của đất nước, hướng tới bảo vệ, chăm sóc và tạo các điều kiện tốt hơn cho NKT, góp phần phát triển và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội toàn diện, làm cơ sở cho phát triển kinh tế xã hội của đất nước

Các nghiên cứu lý luận phục vụ đào tạo công tác xã hội đối với người khuyết tật

Về vấn đề nghiên cứu lý luận phục vụ đào tạo CTXH đối với NKT, có thể kể

đến một số công trình tiêu biểu sau:

Công trình nghiên cứu của Tác giả Hà Thị Thư đã trình bày một cách tổng quát nhất về CTXH với NKT, các mô hình hỗ trợ, các phương pháp tiếp cận, các chương trình chính sách của nhà nước đối với NKT, vai trò của nhân viên CTXH đối với NKT, các kỹ năng làm việc với NKT Đây là giáo trình đào tạo CTXH ở

hệ trung cấp nghề

Tác giả Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) cũng đã nghiên cứu và xây dựng giáo trình đào tạo CTXH với NKT ở bậc Đại học và Sau đại học với ba nội dung chính

Đó là tổng quan về NKT; Trải nghiệm khuyết tật và Các kỹ năng thực hành CTXH

Để hỗ trợ cho đội ngũ cán bộ làm việc với NKT một cách chuyên nghiệp, Cục Bảo trợ xã hội thuộc Bộ LĐ-TBXH, phối hợp cùng Cơ quan phát triển quốc tế Hoa

Kỳ (USAID) và Tổ chức hỗ trợ NKT xây dựng tài liệu về quản lý trường hợp với

Trang 8

NKT đề cập tới những quan điểm về cung cấp dịch vụ cho NKT và các giai đoạn của quản lý trường hợp với NKT

Các nghiên cứu về thực trạng và đề xuất giải pháp

Tác giả Thạc sĩ Đỗ Lan Phương có bài nghiên cứu về Pháp luật về nghề công tác xã hội tại Việt Nam và một số kiến nghị Tác giả đã đánh giá về sự phát triển nghề công tác xã hội ở Việt Nam nhất là thời gian sau khi có Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ Qua nghiên cứu tác giả có một số đề xuất kiến nghị về phương pháp tiếp cận CTXH; sửa đổi, bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan đến quy định vai trò, quyền hạn và trách nhiệm của cán

bộ, viên chức, nhân viên CTXH ; Bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật liên quan về quy định thủ tục và trình tự cung cấp dịch vụ CTXH của viên chức, nhân viên CTXH đồng thời quy định Quy tắc đạo đức nghề CTXH và tiêu chuẩn cung cấp dịch vụ CTXH cần được ưu tiên nghiên cứu và quy định trong văn bản quy phạm pháp luật

Riêng đối với tình hình tại tỉnh Phú Yên chưa có một nghiên cứu nào về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Nghiên cứu những vấn đề lý luận và và thực trạng về thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tại tỉnh Phú Yên; từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách CTXH đối với NKT nói chung và tại tỉnh Phú Yên nói riêng

3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để thực hiện được mục đích nghiên cứu đã đề ra, luận văn tập trung giải quyết những nhiệm vụ sau:

- Tổng hợp khái quát cơ sở lý luận về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT

- Đánh giá thực trạng thực hiện chính sách CTXH đối với NKT cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại địa bàn tỉnh Phú Yên ;

- Đề xuất giải pháp thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại tỉnh Phú Yên nói riêng và cả nước nói chung

Trang 9

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu:

Hệ thống chính sách hiện có và kết quả thực hiện chính sách CTXH đối với

NKTtỉnh Phú Yên

4.2 Phạm vi nghiên cứu

- Nội dung nghiên cứu: Tình hình thực hiện chính sách CTXH đối với NKT

- Địa bàn nghiên cứu: Tại tỉnh Phú Yên

- Thời gian nghiên cứu: Từ năm 2012 đến năm 2016

5 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp luận nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng để phân tích, đánh giá thực trạng về đời sống của NKT, thực trạng thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại tỉnh Phú Yên, rút ra được những lý luận và đưa ra được những đề xuất về giải pháp để nâng cao hiệu quả việc thực hiện chính sách CTXH đối với NKTtại tỉnh Phú Yên

Những phát hiện của nghiên cứu này sẽ bổ sung thêm cơ sở lý luận, khoa học cũng như phát triển hệ thống các lý luận, phương pháp trong nghiên cứu về các vấn

đề liên quan như CTXH, thực hiện chính sách CTXHvà một số vấn đề lý luận về người khuyết tật

5.2 Phương pháp nghiên cứu

5.2.1 Phương pháp nghiên cứu phân tích tài liệu:

(i) Tra cứu các tài liệu về Công ước quốc tế; các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước về NKT như Luật người khuyết tật, Bộ luật lao động, Luật việc làm, Đề án trợ giúp NKT giai đoạn 2012 - 2020, Nghị định số 28/2012/NĐ-CP, Thông tư số 26/2012/TT-BLĐTBXH, Thông tư liên tịch số

01/2015/TT-BLĐTBXH và các Công trình nghiên cứu liên quan đến NKT, vấn đề thực hiện chính sách CTXH đối với NKT;

(ii) Báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và xã hội, các báo cáo của các cơ quan lập pháp liên quan đến đánh giá tình hình thực hiện chính sách đối với NKT, của

Sở Lao động - Thương binh và Xã hội Phú Yên, các Hội và Tổ chức có liên quan đến NKT trên địa bàn tỉnh Phú Yên, báo cáo các cơ sở bảo trợ xã hội, báo cáo tổng kết của

phòng Lao động – TB&XH một số huyện, thị xã, thành phố cung cấp

Trang 10

5.3.2 Phương pháp quan sát

Phương pháp quan sát là phương pháp thu thập thông tin thông qua các tri giác như nghe, nhìn để thu thập các thông tin từ thực tế xã hội nhằm đáp ứng mục tiêu nghiên cứu của đề tài Trong đề tài nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp quan sát nhằm thu thập, bổ sung thông tin còn thiếu và kiểm tra độ tin cậy của các thông tin thông qua việc quan sát hoàn cảnh sống, thái độ, thể trạng của đối tượng được tiếp xúc, cụ thể:

Quan sát về môi trường, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinh hoạt hằng ngày của NKT; quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý của NKT; quan sát thái độ, hành vi của cán bộ trực tiếp làm việc đối với NKT, gia đình NKT và quan sát thực trạng đời sống kinh tế - xã hội địa phương, thái độ, hành

vi của người dân, của chính quyền đối với các vấn đề liên quan đến chính sách CTXH đối với NKT… Những quan sát này sẽ góp phần làm sáng tỏ thêm những kết quả nghiên cứu định lượng đã thu thập được

5.2.3 Phương pháp xử lý số liệu

Phương pháp xử lý số liệu thống kê, khai thác có hiệu quả các số liệu; rút ra được những nhận xét, kết luận khoa học khách quan đối với vấn đề nghiên cứu

5.2.4 Phương pháp khảo sát điều tra bằng bảng hỏi

Điều tra trên 40 người thân của NKT về thực hiện chính sách đối với NKT, NKT đã và đang tiếp cận những chính sách, dịch vụ nào? Những đề xuất và giải pháp nào để nâng cao hiệu quả trong công tác thực hiện chính sách CTXH với người khuyết tật?

5.2.5 Phương pháp phỏng vấn sâu

Phỏng vấn 10 cán bộ, nhân viên của Trung tâm Công tác xã hội và Bảo trợ

xã hội, các cơ sở bảo trợ có chăm sóc, nuôi dưỡng người khuyết tật để tìm hiểu về tác động, hiệu quả của thực hiện chính sách CTXH đối với NKT; Những bất cập và thuận lợi trong thực hiện chính sách CTXH đối với NKT; Những đề xuất khuyến

nghị của họ nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách CTXH đối với NKT

Phỏng vấn sâu 20 công chức Lao động – TB&XH cấp xã và Cộng tác viên CTXH cấp xã để tìm hiểu về tác động, hiệu quả của thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tới công việc của họ; Những thận lợi, khó khăn trong thực hiện chính sách CTXH đối với NKT đã ảnh hưởng tới công việc của họ; Những đề xuất khuyến nghị

Trang 11

của họ nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách CTXH đối với NKT, từ đó

giúp cho công việc của họ được thực hiện tốt hơn

6 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

6.1 Ý nghĩa lý luận của luận văn

Luận văn nghiên cứu và làm sáng tỏ lý luận về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT từ thực tiễn tỉnh Phú Yên, qua đó bổ sung và làm phong phú thêm về cách nhìn nhận, đánh giá về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại tỉnh Phú Yên nói riêng và trên cả nước nói chung

Kết quả nghiên cứu đề tài minh chứng cho việc vận dụng các lý thuyết về CSXH, lý thuyết về CTXH nói chung và CTXH đối với NKT nói riêng là cần thiết trong quá trình nghiên cứu thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách CTXH với NKT ở nước ta nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả trong việc xây dựng cũng như tổ chức thực hiện Là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đối với những người có quan tâm đến CTXH nói chung và thực hiện chính sách CTXH đối với NKT nói riêng

6.2 Ý nghĩa thực tiễn của luận văn

Đề tài tổng hợp thực trạng chính sách CTXH đối với NKT, qua đó đóng góp hoàn thiện cơ chế, chính sách đối với NKT, đồng thời nâng cao công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, chương trình có liên quan đến NKT cũng như toàn thể người dân biết và thực hiện kiệp thời, có hiệu quả các chế độ, dịch vụ, chính sách thụ hưởng Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức về chính sách CTXH đối với NKT, nâng cao hiệu quả xây dựng và phát triển CTXH trở thành một nghề chuyên nghiệp

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mục lục, mở đầu, kết luận và kiến nghị, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày theo 3 chương:

Chương 1: Những vấn đề lý luận về thực hiện chính sách Công tác xã hội đối với người khuyết tật

Chương 2: Thực trạng thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật từ thực tiễn tỉnh Phú Yên.

Trang 12

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH

CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT

1.1 Khái quát về thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật

1.1.1 Khuyết tật, người khuyết tật

1.1.1.1 Khuyết tật: Có nhiều cách hiểu cũng như nhiều định nghĩa khác nhau

về khuyết tật, tuy nhiên mỗi cách hiểu đều xét trên những mục đích và quan điểm khác nhau

Trong hệ thống “Phân loại Quốc tế về Chức năng, Khuyết tật và Sức khỏe” (ICF) (năm 2001) của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã đưa ra định nghĩa khuyết tật

như sau: “Khuyết tật là thuật ngữ chung chỉ tình trạng khiếm khuyết, hạn chế vận

động và tham gia, thể hiện những mặt tiêu cực trong quan hệ tương tác giữa cá nhân một người (về mặt tình trạng sức khỏe) với các yếu tố hoàn cảnh của người đó (bao gồm yếu tố môi trường và các yếu tố cá nhân khác)”[9, tr.26] Như vậy, với

khái niệm này có thể hiểu “khuyết tật” chỉ đơn giản là bị khiếm khuyết mà không

phải xác định nguyên nhân của một dạng khuyết tật

Như vậy, định nghĩa khuyết tật theo cách tiếp cận khái niệm mới có thể hiểu

là: “Tình trạng thiếu hụt chức năng hay rối loạn chức năng so với chuẩn sinh lý

bình thường làm cho cá nhân bị trở ngại trong học tập, làm việc, giao tiếp, vui chơi giải trí và sinh hoạt” [23, tr 8]

1.1.1.2 Người khuyết tật :

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về NKT ở các quốc gia khác như Úc, Anh hay Trung Quốc, song tựu chung lại đều xoay quanh hai vấn đề đó chính là các khiếm khuyết hay sự suy giảm các chức năng khác nhau và những điều đó cản trở

cá nhân tham gia một cách bình thường vào cuộc sống xã hội [4, tr 9]

Trong phạm vi đề tài, tác giả sử dụng định nghĩa về NKT theo Luật Người khuyết tật Việt Nam ban hành vào năm 2010 Đây là định nghĩa khá đầy đủ, tổng hợp được các cách hiểu khác nhau về khuyết tật và phù hợp với điều kiện và hoàn

cảnh Việt Nam, đó là: “Người khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều

Trang 13

bộ phận cơ thể hoặc suy giảm chức năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”.[4, tr.10]

- Khó khăn về nghe-nói: câm, điếc

- Khó khăn về học: hội chứng Down, hội chứng ngu đần

- Hành vi xa lạ, khác thường: tâm thần phân liệt

- Động kinh

- Mất cảm giác: bệnh phong

- Đa tật

Theo qui định tại khoản 1, Điều 3, Luật Người khuyết tật Việt Nam (2010),

các dạng tật cũng được chia làm 6 nhóm, tuy nhiên cách phân loại có khác đôi chút,

Về phân loại mức độ khuyết tật: NKT đặc biệt nặng; NKT nặng; NKT nhẹ

- NKT đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

- NKT nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày;

- NKT nhẹ là NKT không thuộc trường hợp nêu trên

1.1.1.4 Đặc điểm của người khuyết tật

(i) Sức khỏe yếu, cần đến các hoạt động phục hồi chức năng: Những NKT

do bị khiếm khuyết về một hoặc một số bộ phận chức năng của cơ thể nên sức khỏe

Trang 14

của họ kém hơn so với người bình thường Ở mỗi dạng tật, tình hình sức khỏe lại khác nhau Phần lớn những NKT vận động không có khả năng để làm những công việc thủ công, những công việc đòi hỏi phải có sức khỏe Vì vậy qua các vấn đề mà NKT và gia đình NKT gặp phải, nhân viên CTXH cần xác định nhu cầu, mục tiêu

và kế hoạch can thiệp trước các vấn đề đó Việc này cần được thực hiện như một kế hoạch trợ giúp

(ii) Sống rất khép kín, út thích giao tiếp, ít hòa nhập cộng đồng

Nguyên nhân là do bị khiếm khuyết về thể chất hoặc tinh thần nên họ dễ bị tổn thương về mặt tinh thần Bên cạnh đó, họ còn phải đối mặt với sự kỳ thị và phân biệt đối xử từ phía cộng đồng do nhận thức chưa đúng của xã hội Vì vậy NKT và người nhà của NKT có thái độ thiếu động lực và buông xuôi, cho rằng NKT sống ngày này nào hay ngày đấy Đối với những trường hợp này NVXH cần kiên trì thăm hỏi, động viên Có thể mời những NKT có hoàn cảnh tương tự nhưng đã phục hồi đến thăm để tạo động lực và niềm tin chữa trị phục hồi NVXH cần tư vấn cho gia đình những hậu quả có thể xảy ra cho bản thân NKT và gia đình nếu họ không

nỗ lực và hợp tác trong việc PHCN cho NKT

(iii) Có ý chí vươn lên khỏi hoàn cảnh, số phận của mình

Đại đa số NKT có đều có nghị lực và ý thức vượt lên số phận Họ mong muốn có thể tự chủ được trong công việc và cuộc sống Nếu có được sự hỗ trợ thích hợp của gia đình và xã hội, người khuyết tật sẽ đạt được nhiều thành tích cao trong lao động và học tập, trở thành tấm gương sáng, thành nguồn động lực cho nhiều người noi theo

(iv) Cũng còn tư tưởng ỷ lại: Một bộ phận NKT nghĩ rằng mình là đối tượng

được bảo trợ, được gia đình và xã hội không quan tâm Vì vậy, đã ỷ lại, trông chờ vào người khác hỗ trợ, không có ý thức tự rèn luyện, phấn đấu vươn lên hòa nhập

xã hội NVXH cần tư vấn, giúp kết nối tới các dịch vụ tư vấn cá nhân để NKT sớm vượt qua khủng hoảng tâm lý, biết chấp nhận thực trạng, lên kế hoạch cuộc sống cho bản thân Giúp kết nối với nhóm đồng cảnh để cùng sinh hoạt chia sẻ, hỗ trợ nhau Tư vấn và hướng nghiệp cho họ: kết nối cơ sở dạy nghề để NKT học nghề phù hợp

Trang 15

(v) Khó khăn khi thực hiện các quyền và nghĩa vụ: NKT là những người bị

khiếm khuyết (thiếu, không có hoặc bị mất đi) bộ phận nào đó trên cơ thể, bị suy giảm sức khỏe khó có thể phục hồi, bị hạn chế hoặc không có khả năng nhận thức Khả năng thực hiện quyền và nghĩa của người khuyết tật sẽ hạn chế hơn đối với những đối tượng thông thường Vì vậy NVXH cần tư vấn và giúp gia đình từng bước tháo gỡ khó khăn, hướng dẫn gia đình làm thủ tục để xin hỗ trợ dụng cụ PHCN từ các Dự án có ở địa phương Gia đình phân công người đưa NKT đi tập PHCN và học kỹ thuật PHCN để tập thêm cho NKT ngay tại nhà Đồng thời NHXH cần có mặt động viên tư vấn để giảm bớt căng thẳng, áp lực mà người nhà đang gặp phải Nếu cần thiết thì phối hợp với các chuyên gia tư vấn chuyên nghiệp để tư vấn cho gia đình

1.1.2 Chính sách , chính sách xã hội

1.1.2.1 Chính sách

Chính sách là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế - xã hội, qua tìm hiểu, nghiên cứu các tài liệu cho thấy khái niệm, định nghĩa chính sách được thể hiện khác nhau như: (i) Chính sách là những sách lược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lối chính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra (ii) Chính sách là các chủ trương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vực chính trị - xã hội…

Có rất nhiều loại chính sách, trong đó có loại chính sách chung như: Chính sách đối ngoại, chính sách kinh tế…, trong các loại chính sách chung lại có các chính sách riêng đối với từng lĩnh vực Tóm lại, có nhiều loại chính sách khác nhau,

có chính sách chung, chính sách cụ thể tuỳ thuộc vào nội dung và lĩnh vực kinh tế -

xã hội Chính sách được thực thi khi được thể chế hoá bằng pháp luật Nói một cách khác, pháp luật là kết quả thể chế hoá đường lối, chính sách, là công cụ để thực thi chính sách Do chính sách có các loại và cấp độ khác nhau, có những chính sách mang tính định hướng, có những chính sách cụ thể, nên các cấp phê duyệt chính sách và nguồn chính sách cũng khác nhau, do các cấp khác nhau ban hành

Trong khuôn khổ nghiên cứu của đề tài này, Chính sách của Nhà nước được hiểu là tập hợp văn bản mà Chính phủ xây dựng, ban hành với mục đích rõ ràng, tác động đến nhóm người hoặc toàn bộ người dân trong xã hội Ở nghĩa rộng hơn,

Trang 16

chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể quản lý sử

dụng để tác động lên các đối tượng và khách thể quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định trong một giai đoạn, thời kỳ lịch sử cụ thể

1.1.2.2 Chính sách xã hội

CSXH là công cụ để đảm bảo nền an sinh xã hội CSXH ở một nghĩa rộng nhất được hiểu như một bộ phận cấu thành chính sách chung của một Nhà nước, chính quyền hướng tới lĩnh vực xã hội nhằm giải quyết vấn đề liên quan tới cuộc sống của con người, đến lợi ích của nhóm người trong xã hội góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội cho phù hợp với mục tiêu của giai cấp, chính đảng

CSXH được xem như sự định hướng hay những can thiệp liên quan tới các vấn đề xã hội tạo nên sự thay đổi hoặc duy trì điều kiện sống đảm bảo an sinh cho con người Các CSXH được xây dựng nhằm cải thiện an sinh xã hội và đáp ứng nhu cầu của con người như: y tế, giáo dục, việc làm, nhà ở và an toàn xã hội…

Dinitto & Dye (1983) định nghĩa về CSXH: “Tất cả những điều chính quyền làm hoặc không làm mà ảnh hưởng đến cuộc sống của mọi công dân” Theo định nghĩa tổng quát này thì CSXH có thể bao gồm tất cả những vấn đề về thuế, quốc phòng, bảo vệ môi trường, giáo dục, y tế, nhà ở và những chương trình cứu trợ Và trong phạm vi hẹp có thể định nghĩa CSXH một cách cụ thể là những hoạt động của chính quyền có mục đích tác động đến sự an sinh của công dân thông qua những chương trình, dịch vụ tạo thu nhập, các chính sách liên hệ trực tiếp đến chương trình

xã hội có tính chất trợ giúp và bảo hiểm với những nhóm đối tượng đặc biệt trong hoàn cảnh khó khăn

Từ cách tiếp cận trên, khái niệm CSXH có thể hiểu là sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc giải quyết vấn đề xã hội liên quan đến từng nhóm người hay toàn bộ dân cư, trên cơ sở phù hợp với quan điểm, đường lối của Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người

1.1.3 Công tác xã hội và công tác xã hội đối với người khuyết tật

1.1.3.1 Khái niệm về công tác xã hội

Có nhiều khái niệm về CTXH được đưa ra ở các góc độ khác nhau:

Trang 17

Theo từ điển Bách khoa ngành CTXH (1995) : “CTXH là một khoa học ứng dụng nhằm tăng cường hiệu quả hoạt động của con người, tạo ra những chuyển biến

xã hội và đem lại nền an sinh cho người dân trong xã hội” [29, tr.12]

Hiệp hội quốc gia nhân viên công tác xã hội Mỹ (NASW – 1970): “Công tác

xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm, hoặc cộng đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó” [29, tr.171]

Hiệp hội nhân viên công tác xã hội Quốc tế thông qua tháng 7 năm 2000 tại Montreal, Canada (IFSW): “Nghề công tác xã hội thúc đẩy sự thay đổi xã hội, giải quyết vấn đề trong mối quan hệ của con người, tăng năng lực về giải phóng cho con người, nhằm giúp cho cuộc sống của họ ngày càng thoải mái, dễ chịu Vận dụng các

lý thuyết về hành vi con người và hệ thống, công tác xã hội tương tác vào những điểm giữa con người với môi trường của họ Nhân quyền và công bằng xã hội là các nguyên tắc cơ bản của nghề” [29, tr.171]

CTXH ở Việt Nam cũng được các tác giả xem xét từ những khía cạnh khác nhau điển hình có tác giả Nguyễn Thị Oanh cho rằng: CTXH là hoạt động thực tiễn, mang tính tổng hợp được thực hiện và chi phối bởi các nguyên tắc, phương pháp hỗ trợ cá nhân, nhóm và cộng đồng giải quyết vấn đề CTXH theo đuổi mục tiêu vì phúc lợi, hạnh phúc con người và tiến bộ xã hội’’ [28, tr.26]

CTXH tại Việt Nam cũng được xem như là sự vận dụng các lý thuyết khoa học về hành vi con người, về hệ thống xã hội nhằm khôi phục lại các chức năng xã hội và thúc đẩy sự thay đổi vai trò của cá nhân, nhóm, cộng đồng người yếu thế hướng tới bình đẳng và tiến bộ xã hội Đây là lĩnh vực cung cấp các dịch vụ chuyên môn góp phần giải quyết những vấn đề xã hội liên quan tới con người để thỏa mãn những nhu cầu căn bản, mặt khác góp phần giúp cá nhân tự nhận thức về vị trí, vai trò xã hội của mình [29, tr.17]

Và như vậy ta có thể hiểu một cách chung nhất theo như định nghĩa của PGS.TS Bùi Thị Xuân Mai: “CTXH là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp

nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính

Trang 18

sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội, góp phần đảm bảo an sinh xã hội” [29,tr.19]

1.1.3.2 Công tác xã hội đối với người khuyết tật:

Trong tất cả các đối tượng mà CTXH cần trợ giúp, hỗ trợ thì NKT có thể nói

là một nhóm đối tượng cần được sự quan tâm và trợ giúp đặc biệt Việc trợ giúp của nhân viên CTXH đối với NKT được coi là một lĩnh vực chuyên môn sâu của người làm CTXH, lĩnh vực này được gọi là “CTXH đối với NKT”

CTXH với NKT như một lĩnh vực hoạt động của thực hành CTXH, làm việc với NKT có nghĩa là làm việc với những trường hợp bị khiếm thị, khiếm thính, thiểu năng, khó hăn về vận động và những người là nạn nhân của các khiếm khuyết thân thể khác bao gồm cả những người ốm đau về tâm thần và tật nguyền

Mục đích của CTXH đối với NKT là tạo điều kiện để giúp đỡ NKT phát triển năng lực bản thân một cách tốt nhất và tạo được môi trường phát triển, hòa nhập tốt cho NKT Muốn đạt được mục đích nêu trên, bản thân NKTcần được giúp đỡ về mọi mặt, từ chăm sóc sức khỏe, y tế, giáo dục, đến tạo cơ hội việc làm và thu nhập; từ việc nâng cao đời sống vật chất đến nâng cao đời sống tinh thần…Mặt khác NKT là đối tượng có hạn chế về thể lực, tâm lý… vì vậy đòi hỏi nhân viên CTXH khi làm việc với NKTphải có tấm lòng bao dung, nhân hậu, cảm thông và chia sẽ đồng thời nhân viên CTXH phải có những phẩm chất, đạo đức, phương pháp và kỹ năng làm việc chuyên nghiệp thì mới có thể đem lại hiệu quả tốt nhất cho NKT

Từ những phân tích, nhận định về CTXH đối với NKT như trên, chúng ta có thể hiểu: CTXH đối với NKT là hoạt động chuyên nghiệp của nhân viên CTXH giúp đỡ những NKT tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ, huy động nguồn lực, xác định những dịch vụ cần thiết để hỗ trợ NKT, gia đình và cộng đồng triển khai hoạt động chăm sóc trợ giúp họ một cách hiệu quả, vượt qua những rào cản, đảm bảo sự tham gia đầy đủ vào các hoạt động xã hội trên nền tảng sự công bằng như những người khác trong xã hội

1.1.3.3 Chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật

Trước hết, chính sách CTXH cũng là một CSXH Bởi lẽ, như phân tích trên, CTXH là một nghề và nghề CTXH cũng là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, nhân viên CTXH có được những tri thức, những kỹ

Trang 19

năng, đạo đức nghề nghiệp để cung cấp các DV CTXH, đáp ứng được những nhu cầu nâng cao năng lực, tăng cường chức năng xã hội của cá nhân, gia đình và cộng đồng cần sự trợ giúp Chính sách CTXH định hướng, điều chỉnh cho sự vận động, phát triển của CTXH và suy cho cùng, chính sách CTXH là để phát triển con người

và thúc đẩy sự phát triển

Vậy, chính sách CTXH là sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc hình thành và phát triển CTXH với mục đích phát huy vai trò, chức năng của nghề CTXH trong việc trợ giúp đối tượng theo quan điểm, đường lối của Đảng, nhằm hướng tới công bằng, tiến bộ xã hội và phát triển toàn diện con người

Từ việc định nghĩa NKT, chính sách CTXH đề cập trên, ta có hệ quả khái niệm về chính sách CTXH đối với NKT đó là: Sự thể chế hóa, cụ thể hóa các giải pháp của Nhà nước trong việc hình thành và phát triển CTXH thành một nghề chuyên nghiệp, đảm bảo cho nhân viên CTXH triển khai các cách tiếp cận, phương pháp của nghề CTXH và chuyên nghiệp hóa DV CTXH đối với NKT theo quan điểm, đường lối của Đảng trong thực hiện chính sách đối với NKT nhằm góp phần hướng tới công bằng, tiến bộ xă hội và phát triển con người toàn diện

1.1.3.4 Vai trò của nhân viên công tác xã hội trong thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật :

(i) Là người vận động nguồn lực trợ giúp NKT (cá nhân, gia đình, cộng đồng ) tìm kiếm nguồn lực (nội lực, ngoại lực) cho giải quyết vấn đề

(ii) Là người kết nối - khai thác, giới thiệu NKT tiếp cận tới các dịch vụ, chính sách nguồn tài nguyên đang sẵn có trong cộng đồng

(iii) Là người biện hộ/vận động chính sách giúp bảo vệ quyền lợi cho đối tượng để họ được hưởng những dịch vụ, chính sách, quyền lợi của họ đặc biệt trong những trường hợp họ bị từ chối những dịch vụ, chính sách mà họ là đối tượng được hưởng

(iv) Là người giáo dục cung cấp kiến thức kỹ năng nâng cao năng lực cho cá nhân, gia đình, nhóm hay cộng đồng qua tập huấn, giáo dục cộng đồng để họ có hiểu biết, tự tin và tự mình nhìn nhận vấn đề đánh giá vấn đề phân tích và tìm kiếm nguồn lực cho vấn đề cần giải quyết

(v) Là người tham vấn giúp cho những đối tượng có khó khăn về tâm lý, tình cảm và xã hội vượt qua được sự căng thẳng, khủng hoảng duy trì hành vi tích cực đảm bảo chất lượng cuộc sống

Trang 20

(vi) Là người chăm sóc, người trợ giúp đối tượng như trực tiếp cung cấp dịch

vụ chăm sóc đối tượng yếu thế

(vii) Là người trợ giúp xây dựng và thực hiện kế hoạch cộng đồng: trên cơ sở nhu cầu của cộng đồng đã cộng đồng được xác định, nhân viên công tác xã hội giúp cộng đồng xây dựng chương trình hành động phù hợp với điều kiện hoàn cảnh, tiềm năng của cộng đồng để giải quyết vấn đề của cộng đồng

(viii) Là người tạo sự thay đổi về đời sống cũng như tư duy của người yếu thế và người dân trong cộng đồng nghèo vươn lên làm chủ cuộc sống

(ix Là người nhà đào tạo, nghiên cứu và quản lý hành chính giúp đào tạo thế

hệ nhân viên CTXH, đưa ra những nghiên cứu lý luận và xây dựng mô hình giúp đỡ đối tượng và quản lý các hoạt động, các chương trình, lên kế hoạch và triển khai kế hoạch các chương trình dịch vụ cho cá nhân, gia đình và cộng đồng

1.1.4 Thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật:

Có nhiều cách diễn đạt và khái niệm về thực hiện chính sách Theo PGS TS Văn Tất Thu thì thực hiện chính sách là toàn bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng trong chu trình chính sách: hiện thực hóa chính sách, đưa chính sách vào cuộc sống Chất lượng, hiệu quả thực hiện chính sách phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi chính sách

Theo khái niệm và phân tích trên cho thấy thực hiện chính sách CTXH đối với NKT là toàn bộ quá trình chuyển hóa hệ thống chính sách CTXH đối với NKT thành hiện thực, đưa chính sách đi vào cuộc sống, đáp ứng nhu cầu và nguyện vọng của NKT Tổ chức thực thi chính sách CTXH đối với NKT là sự kết nối liên tiếp các khâu (các bước) trong quá trình chuyển hóa các quy định, các cơ chế chính sách đến với NKT

Ví dụ để triển khai thực hiện Thông tư số 01 của Bộ Lao động Thương binh

và xã hội về việc Hướng dẫn quản lý trường hợp đối với người khuyết tật thì trước hết chúng ta phải xây dựng kế hoạch triển khai, tổ chức tập huấn cho cộng tác viên CTXH xã, phường và đội ngũ cán bộ ngành Lao động Thương binh và xã hội các cấp, thực hiện truyền thông để cộng đồng dân cư hiểu và bản thân người khuyết tật biết, phân công đội ngũ cán bộ trực tiếp triển khai thực hiện, nguồn kinh phí lấy từ đâu … và cuối cùng là theo dõi, kiểm tra, đôn đốc và đánh giá hiệu quả qua quá

Trang 21

trình thực hiện Như vậy thực hiện chính sách công tác xã hội nói chung và đối với NKT nói riêng phải thực hiện theo một chuỗi dài các khâu công việc theo một quy trình nhất định Tuy nhiên tùy theo từng chính sách mà mỗi khâu công việc có thể đầu tư nhiều hay ít, cần sự phối hợp với cơ quan đơn vị nào… nhưng mục đích cuối cùng là đưa chính sách đó vào cuộc sống

Từ sự phân tích và đánh giá nêu trên, có thể khái niệm thực hiện chính sách

CTXH đối với NKT có thể khái quát như sau : Thực hiện chính sách CTXH là toàn

bộ quá trình chuyển hóa ý chí của chủ thể chính sách CTXH đối với NKT thành hiện thực, là bước đặc biệt quan trọng để đưa chính sách CTXH vào cuộc sống, nhằm đáp ứng nhu cầu nguyện vọng chính đáng của NKT Chất lượng, hiệu quả

thực hiện chính sách CTXH đói với NKT phụ thuộc nhiều vào năng lực của đội ngũ nhân viên CTXH trong thực thi chính sách

1.2 Nội dung của thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật

1.2.1 Nội dung của chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật

Mục tiêu cuối cùng của chính sách CTXH nói chung và Chính sách CTXH đối với NKT nói riêng là các biện pháp, giải pháp và các can thiệp bằng các công cụ quản lý của nhà nước vào xã hội để phát triển công tác xã hội thành một nghề chuyên nghiệp , được NKT chấp nhận, sử dụng các dịch vụ đó thường xuyên Chính

vì vậy nội dung của chính sách CTXH đối với NKT sẽ bao gồm:

(i) Các chính sách tuyên truyền về CTXH đối với NKT

(ii) Các chính sách phát triển nguồn nhân lực (chính sách phát triển đội ngũ nhân viên CTXH , chính sách ưu đãi về tiền lương, ưu đãi ngành nghề…)

(iii) Chính sách tài chính, ưu tiên nguồn lực cho CTXH đối với NKT

(iv) Chính sách đầu tư phát triển các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội (hệ thống chung tâm, cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội, hành nghề công tác xã hội, khuôn khổ pháp luật đầu tư….)

(v) Chính sách hỗ trợ đối tượng thụ hưởng sử dụng các dịch vụ CTXH Ở chừng mực nào đó khi CTXH chưa thành nghề, xã hội chưa biết đến và sử dụng, tiêu dùng nó như một nhu cầu cần thiết thì cũng cần có các chính sách hỗ trợ của nhà nước Cụ thể như giảm giá, miễn phí, khuyến khích thay đổi thói quen…

Trang 22

1.2.2 Nội dung thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật

Sau khi chính sách CTXH đối với NKT được hoạch định, chính sách đó cần được thực thi thì mục tiêu của chính sách đó mới đạt được Khâu thực hiện là khâu thức hai trong cả quá trình chính sách, nhằm mục tiêu biến các chính sách thành những hoạt động và những kết quả cụ thể Cơ quan hành chính nhà nước, cụ thể là

cơ quan LĐTBXH các cấp chịu trách nhiệm chính tổ chức thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Như vậy, có thể hiểu thực hiện chính sách CTXH đối với NKT là một quá trình do cơ quan nhà nước các cấp thực hiện nhằm biến các chính sách CTXH thành những kết quả cụ thể và để đạt được các mục tiêu đã đặt ra của chính sách Quá trình thực hiện chính sách CTXH đối với NKT là một quá trình thường xuyên liên tục và qua 3 giai đoạn với các nội dung cụ thể sau:

1.2.2.1 Giai đoạn chuẩn bị triển khai thực hiện chính sách

Đây là giai đoạn đầu của thực hiện chính sách, nhiệm vụ của giai đoạn này là bảo đảm về cơ cấu tổ chức bộ máy và chuẩn bị nguồn lực thực hiện chính sách Giai đoạn này gồm các nội dung là:

(i) Xây dựng bộ máy tổ chức thực hiện,

(ii) Lập kế hoạch triển khai thực hiện,

(iiii) Tổ chức tập huấn cán bộ, cơ quan và các đối tượng tham gia trong quá trình thực hiện chính sách

Trong đó tổ chức bộ máy, cán bộ thực hiện chính sách CTXH và chính sách đối với NKT ở địa phương đã phân công cho từng ngành theo chức năng nhiệm vụ

để tổ chức thực hiện Do vậy, giai đoạn này chính sách CTXH đối với NKT thuộc ngành nào quản lý thì ngành đó chủ trì, phối hợp với các sở, ban ngành của địa phương thực hiện

1.2.2.2 Giai đoạn chỉ đạo triển khai thực hiện chính sách

Đây là khâu quan trọng nhất của quá trình thực hiện chính sách nói chung và chính sách CTXH đối với NKT nói riêng Nhiệm vụ của chỉ đạo thực hiện chính sách là các hoạt động, nội dung để đưa chính sách vào cuộc sống Giai đoạn này được chia làm các bước cụ thể như sau:

(i) Truyền thông và tư vấn về các nội dung chính sách và các hoạt động tổ chức thực hiện chính sách và ý nghĩa của nó, nguồn lực thực hiện chính sách, phân

Trang 23

công trách nhiệm thực hiện, phạm vi địa bàn thực hiện chính sách, đối tượng truyền thông Hướng tới việc bảo đảm đồng thuận trong quá trình thực hiện

(ii) Triển khai thực hiện các chế độ chính sách cụ thể đối với từng nhóm đối tượng

(iii) Quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực cho các chính sách CTXH (iv) Điều hành, phối hợp các cơ quan, tổ chức cá nhân tham gia trong quá trình tổ chức thực hiện

(v) Vận hành hệ thông cung cấp dịch vụ CTXH đối với NKT

1.2.2.3 Giai đoạn kiểm tra thực hiện chính sách

Đây là gia đoạn cuối của tổ chức thực hiện chính sách Nhiệm vụ của giai đoạn này là giám sát, đo lường, đánh giá thực hiện, phát hiện những vấn đề nảy sinh trong thực tế, duy trrì hệ thống thông tin phản hồi về chính sách, nhằm điều chỉnh hoạt động của các bên như: Cơ quan LĐTBXH, các sở, ban ngành liên quan, các cơ

sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội (trung tâm BTXH), nhân viên công tác xã hội, người thụ hưởng dịch vụ công tác xã hội (NKT) Đồng thời đưa ra khuyến nghị điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tiễn Bao gồm cả điều chỉnh về nội dung chính sách và các điều chỉnh về nội dung tổ chức thực hiện chính sách Các điều chỉnh này vẫn phải giữ được mục tiêu, cũng như những yêu cầu cần đạt được của chính sách Cụ thể giai đoạn này gồm các bước:

(i) Xây dựng hệ thống thông tin báo cáo, giảm sát, phản hồi và thu thập thông tin (ii) Tổ chức kiểm tra, thanh tra cấp dưới Cụ thể tỉnh kiểm tra thanh tra huyện,

xã và các cơ sở cung cấp dịch vụ Huyện kiểm tra cấp xã, cá nhân cung cấp dịch vụ (iii) Tổ chức đánh giá chính sách Việc đánh giá phải được thực hiện thường xuyên theo định kỳ và đột xuất Đánh giá chính sách cần có phương pháp, công cụ

và người thực hiện đánh giá Thông thường mỗi nội dung chính sách CTXH cần có các công cụ, phương pháp và cách thức đánh giá riêng biệt

(iv) Đề xuất sửa đổi chính sách cho phù hợp Khâu này cũng rất quan trọng, nhưng thường ít được các cơ quan quan tâm và thực hiện nghiêm túc và đầy đủ Trong quá trình thực hiện rất tốn kém chi phí và nguồn lực cho đánh giá chính sách

và khuyến nghị các giải pháp hoàn chỉnh Tuy nhiên, người ta quan tâm nhiều đến đánh giá kết quả đạt được, chưa đạt được Ít tìm hiểu sâu xem chưa đạt được là do

Trang 24

nguyên nhân gì và vì sao Từ đó có đề xuất các khuyến nghị một cách tốt nhất cho điều chỉnh chính sách

1.3 Hệ thống luật pháp, chính sách về công tác xã hội đối với người khuyết tật

1.3.1 Chính sách xã hội đối với Người khuyết tật :

Luật Người khuyết tật được Quốc hội nước Cộng hoà Xã hội Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 17 tháng 6 năm 2010, Luật Người khuyết tật gồm

10 chương, 53 điều và có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 2011 với các nội dung bản như sau:

(i) Về xác nhận khuyết tật: Gồm 6 điều, từ Điều 15 đến Điều 20 quy định về Trách nhiệm xác định mức độ khuyết tật; Hội đồng xác định mức độ khuyết tật; Phương pháp xác định mức độ khuyết tật; Thủ tục xác định mức độ khuyết tật; xác định lại mức độ khuyết tật

(ii) Về y tế và chăm sóc sức khỏe: Nội dung này gồm 6 điều, từ Điều 21 đến Điều 26 quy định về Chăm sóc sức khỏe ban đầu tại nơi cư trú; Khám bệnh, chữa bệnh; Trách nhiệm của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; Cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng; Phục hồi chức năng dựa vào cộng đồng; Nghiên cứu khoa học, đào tạo chuyên gia, kỹ thuật viên, sản xuất trang thiết bị dành cho người khuyết tật

(iii) Về lĩnh vực giáo dục: Nội dung này gồm 4 điều, từ Điều 27 đến Điều 31 quy định về chính sách giáo dục đối với người khuyết tật; các phương thức giáo dục NKT bao gồm giáo dục hòa nhập, giáo dục bán hòa nhập và giáo dục chuyên biệt

(iv) Về dạy nghề và việc làm : Chính sách việc làm với mục tiêu phải tạo ra điều kiện và cơ hội để mọi người lao động có việc làm, có thu nhập bảo đảm cuộc sống bản thân và gia đình đồng thời đóng góp một phần cho xã hội Chính sách việc làm và giải quyết việc làm là yêu cầu cho mọi người lao động nhưng đặc biệt quan tâm những người lao động yếu thế trong xã hội do có những khiếm khuyết đã ngăn cản hoặc hạn chế họ tham gia thuận lợi vào thị trường lao động để có một việc làm

ổn định

(v) Về văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch : Nội dung này quy định

chính sách, trách nhiệm của nhà nước, xã hội và các cơ sở văn hóa, thể dục, thể

Trang 25

thao, giải trí và du lịch trong việc bảo đảm các điều kiện để NKT tiếp cận và tham gia các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch

Về tiếp cận các công trình công cộng, giao thông, công nghệ thông tin và truyền thông: Nội dung này từ Điều 39 đến Điều 43 quy định về các điều kiện trong việc phê duyệt thiết kế đầu tư xây dựng mới, lộ trình cải tạo công trình công cộng nhằm bảo đảm các điều kiện tiếp cận và sử dụng của người khuyết tật; tham gia giao thông của người khuyết tật; phương tiện giao thông và các chính sách, biện pháp bảo đảm NKT tiếp cận giao thông, tiếp cận công nghệ thông tin và truyền thông

(vi) Về chính sách bảo trợ xã hội: Quy định về các chính sách trợ cấp xã hội

đối với người khuyết tật, gia đình người khuyết tật, người nhận nuôi dưỡng và chăm sóc người khuyết tật; chính sách nuôi dưỡng tập chung trong cơ sở chăm sóc người khuyết tật; chính sách hỗ trợ mai táng; cơ sở chăm sóc người khuyết tật NKT nặng

và đặc biệt nặng được trợ cấp xã hội hàng tháng Đối với NKT đặc biệt nặng không nơi nương tựa, không tự lo được cuộc sống được tiếp nhận vào nuôi dưỡng tại cơ sở bảo trợ xã hội được chăm sóc, nuôi dưỡng tại các Trung tâm bảo trợ xã hội thì trợ cấp xã hội hàng tháng…

Bên cạnh Luật Người khuyết tật, Chính phủ và các bộ ngành Trung ương từ năm 2010 đến nay đã ban hành 13 Nghị định và Quyết định của Chính phủ, 21 Thông tư và Quyết định của các bộ ngành trung ương, đây là hệ thống văn bản chính sách để tổ chức thực hiện, triển khai các chính sách, dịch vụ cho NKT tại Việt Nam (có mục lục đính kèm)

1.3.2 Chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật

Nhận thức tầm quan trọng và ý nghĩa của việc phát triển CTXH như một nghề chuyên nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã có ý kiến chỉ đạo tại công văn số 1817/VPCP-VX ngày 06/4/2006 giao cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì và phối hợp với các bộ, ngành liên quan xây dựng Đề án “Phát triển nghề công tác xã hội” Năm 2010 là năm đánh dấu cột mốc quan trọng về phát triển nghề CTXH tại Việt Nam Ngày 25/3/2010, Thủ Tướng Chính phủ ký Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg về việc phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn

2010 - 2020 Ðề án phát triển nghề CTXH tập trung vào 04 hoạt động chủ yếu sau: (i) Xây dựng và ban hành hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về CTXH; (ii)

Trang 26

Củng cố, phát triển mạng lưới các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH và đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên CTXH; (iii) Xây dựng, hoàn thiện chương trình, nội dung đào tạo và dạy nghề CTXH; (iv) Tuyên truyền nâng cao nhận thức về nghề CTXH Triển khai các nhiệm vụ của Đề án 32, một số văn bản quan trọng đã được ban hành và bước đầu mang lại kết quả về ban hành mã số ngạch, chức danh và tiêu chuẩn nghiệp vụ các ngạch viên chức CTXH và ban hành tiêu chuẩn nghiệp vụ cán bộ, viên chức, nhân viên CTXH của các cơ sở cung cấp dịch vụ CTXH

Ngoài ra, các bộ ngành Trung ương đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo hướng dẫn để quyết tâm thực hiện mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 công tác xã hội trở thành một nghề thực thụ trong hoạt động đời sống xã hội ở Việt Nam UBND các tỉnh, thành phố cũng đã ban hành kế hoạch phát triển nghề công tác xã hội, đề ra những nhiệm vụ và mục tiêu cụ thể, phân công phối hợp triển khai thực hiện nhất là trong nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực, truyền thông và phát triển mạng lưới dịch

vụ CTXH

1.4 Các yếu tố tác động đến thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật

Thực hiện chính sách CTXH đối với NKT chịu sự tác động bởi các yếu tố

như yếu tố về chính sách, hệ thống tổ chức, nhân sự, nhu cầu của NKT, nguồn lực

tài chính và hội nhập quốc tế, cụ thể như sau:

1.4.1 Yếu tố chính sách

Chính sách có vai trò hết sức quan trọng và là cơ sở pháp lý để thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Đây là nguồn lực chính, cơ bản để thực hiện chính sách công tác xã hội đối với người khuyết tật Chính sách công tác xã hội có đáp ứng được nhu cầu, nguyện vọng và quyền của đương nhiên được thụ hưởng của người khuyết tật hay không đều phụ thuộc rất nhiều vào yếu tố chính sách, nhất là trong điều kiện hiện nay công tác xã hội hóa còn nhiều khó khăn Yếu tố chính chính còn là cơ chế, phương thức để giúp cho NKT tiếp cận với các chính sách của nhà nước Vì vậy yếu tố chính sách có vai trò hết sức quan trọng đối với thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Sự vận hành đồng bộ các chính sách này sẽ thúc đẩy toàn diện CTXH đối với NKT

Trang 27

Về chính sách CTXH đối với NKT trên địa bàn tỉnh Phú Yên chủ yếu là thực hiện theo các chính sách quy định của Trung ương Tuy nhiên với điều kiện và khả năng của tỉnh, UBND tỉnh Phú Yên đã ban hành Quyết định số 1767/QĐ-UBND ngày 29 tháng 10 năm 2012 của UBND tỉnh về việc phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật tỉnh Phú Yên giai đoạn 2012-2020; Quyết định số 1260/QĐ-UBND ngày

29 tháng 08 năm 2012 về việc phê duyệt Đề án trợ giúp xã hội và phục hồi chức năng cho người tâm thần, người rối nhiễu tâm trí dựa vào cộng đồng tỉnh Phú Yên, giai đoạn 2012-2020 và Quyết định số 61/2016/QĐ-UBND ngày tháng năm 2016

về việc triển khai các chính sách trợ giúp xã hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội nói chung và NKT nói riêng

Về lĩnh vực công tác xã hội UBND Tỉnh Phú Yên đã ban hành Quyết định số 2027/QĐ-UBND ngày 09/12/2010 về việc phê duyệt Kế hoạch triển khai Đề án

“Phát triển nghề CTXH tỉnh Phú Yên giai đoạn 2010-2020”; với các nội dung gồm: Nâng cao nhận thức của toàn xã hội về nghề công tác xã hội; xây dựng đội ngũ cán

bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hội đủ về số lượng, đạt yêu cầu về chất lượng gắn với phát triển hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại các cấp, góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tiên tiến

1.4.2 Yếu tố về hệ thống tổ chức, nhân sự

Yêu cầu về hệ thống tổ chức, nhân sự đảm bảo đủ năng lực để thực hiện chính sách CTXH đối với NKT là một nội dung rất quan trọng trong thực hiện chính sách CTXH đối với NKT, để chuyển tải đầy đủ các chính sách trợ giúp của nhà nước đề với NKT, cung cấp dịch vụ CTXH đối với NKT, đảm bảo hệ thống này phải được điều hành thông suốt, chuyên nghiệp ở các cấp hành chính trong đó chú trọng đội ngũ nhân viên CTXH, cộng tác viên CTXH đủ số lượng và chất lượng, đặc biệt là ở cấp cơ sở Hệ thống này phải được giám sát đánh giá về hiệu quả hoạt động toàn diện và chuyên sâu các mặt quản lý Để đáp ứng được các nhu cầu trên đội ngũ nhân viên CTXH bắt buộc phải được đào tạo chuyên ngành CTXH, Tùy theo nhiệm vụ được giao mà nhân viên CTXH được đào tạo từ trung cấp trở lên Cộng tác viên và tình nguyện viên cần được bồi dưỡng thường xuyên về kiến thức

kỹ năng CTXH

Trang 28

Hệ thống tổ chức thực hiện chính sách CTXH đối với NKT hiện nay trên địa bàn tỉnh Phú Yên gồm :

(i) Các cơ quan quản lý nhà nước thuộc ngành Lao động - Thương binh và

Xã hội các cấp, trực tiếp thực hiện CTXH đối với các đối tượng yếu thế trong đó có NKT Đây là nhân tố quan trọng quyết định cho việc thực hiện chính sách CTXH đối với NKT trên địa bàn tỉnh

(ii) Các đơn vị cung cấp dịch vụ CTXH đối với NKT như Bưu điện, cơ sở bệnh viện, các cơ sở trợ giúp xã hội (công lập và ngoài công lập), các cơ sở trường học, Trung tâm trợ giúp pháp lý …

(iii) Các tổ chức đoàn thể (Hội phụ nữ, Hội chữ thập đỏ, Hội người cao tuổi, dân số gia đình trẻ em), các tổ chức hội của NKT như Hội người mù, Hội bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi, Hội chất độc mà da cam …

Mạng lưới nhân viên CTXH được hình thành đồng thời với quá trình phát triển mạng lưới các tổ chức sử dụng số nhân viên này Ở đâu có tổ chức cung cấp dịch vụ CTXH thì ở đó có nhân viên CTXH Tuy nhiên, phạm vi hoạt động của mạng lưới nhân viên đó luôn rộng hơn so với mạng lưới tổ chức nhằm đáp ứng nhu cầu của các tổ chức, cá nhân sử dụng các dịch vụ CTXH Qua tổng hợp đến nay toàn tỉnh có 796 nhân viên CTXH làm việc ở các cấp từ tỉnh đến xã, phường và nhân viên trong các đơn vị dịch vụ CTXH

1.4.3 Yếu tố thuộc về nhu cầu của người khuyết tật

Những nhu cầu của NKT đã được đáp ứng:

(i) Nhóm nhu cầu về các dịch vụ xã hội cơ bản về nhà ở, y tế, khám chữa bệnh, phục hồi chức năng, chăm sóc, giáo dục… đối với NKT trên địa bàn tỉnh Phú Yên cơ bản đã được đáp ứng Đây thật sự là những chính sách quan trọng giải quyết các nhu cầu tối thiểu cho NKT Với hệ thống chính sách xã hiện nay nói chung và chính sách CTXH đối với NKT nói riêng thì việc đáp ứng các nhu cầu trên cơ bản là tích cực, tạo điều kiện để NKT tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản của NKT

(ii) Nhóm nhu cầu về phát triển kinh tế, tăng thu nhập về vốn vay, học nghề,

cơ hội việc làm đã cơ bản được đáp ứng Tuy nhiên, việc tăng thu nhập còn rất hạn chế, cơ chế cho vay, chính sách dạy nghề, giải quyết việc làm cho NKT còn

Trang 29

nhiều bất cấp cần tiếp tục nghiên cứu đề xuất để việc dạy nghề, tạo việc làm cho NKT ngày càng hiệu quả hơn

(iii) Nhu cầu được tư vấn, giúp đỡ để vượt qua khó khăn: Kết quả khảo sát cho thấy NKT tiếp cận các chính sách của nhà nước và nguồn lực từ xã hội là khá nhiều và đa dạng, tuy nhiên mục tiêu của sự giúp đỡ này phần nhiều là mang tính chất “cho, nhận” , chưa thực hiện CTXH trong việc tiếp cận các chính sách và nguồn lực nên ít có tác dụng nâng cao năng lực của NKT Vấn đề hiện nay là đáp

ứng nhu cầu nâng cao năng lực cho NKT bằng tiến trình CTXH

Biểu đồ 2.1 Đánh giá nhu cầu của người khuyết tật

( Khảo sát 40 người thân của NKT )

1.4.4 Yếu tố nguồn lực tài chính

Bảo đảm nguồn lực tài chính là yếu tố rất quan trọng để thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Nội dung của nguồn lực tài chính phải bảo đảm cho hoạt động trực tiếp thường xuyên của bộ máy làm CTXH như tài chính cho việc triển khai thực hiện các chính sách đối với NKT , thực hiện các hoạt động kiểm huấn, tuyên truyền, kiểm tra giám sát,… trong đó tài chính cho thực hiện chính sách CTXH đối với NKT, phải bảo đảm nguồn lực tài chính hoạt động này Ngoài ra, cần nguồn tài chính cho đào tạo nhân viên CTXH, cán bộ quản lý, xây dựng mô hình, học tập kinh nghiệm và nghiên cứu khoa học

Phú Yên là một tỉnh nghèo trong khu vực, thu nhập bình quân đầu người khoảng 33 triệu đồng/người/năm, thấp hơn mức trung b ình của cả nước Thu ngân sách hàng năm đạt 2.300 tỷ đồng, ngân sách trung ương hỗ trợ hàng năm ( chiếm 2/3 tổng chi ngân sách của tỉnh) Do vậy nguồn lực tài chính để thực hiện các chính

Trang 30

sách cho NKT phần lớn từ ngân sách trung ương hỗ trợ, từ chính sách về cấp thẻ BHYT, chính sách hỗ trợ giáo dục, dạy nghề, chăm sóc đời sống đều do ngân sách

hỗ trợ

Tuy nhiên các cấp ủy đảng và chính quyền địa phương của tỉnh Phú Yên nhận thức rất đầy đủ về trách nhiệm và nghĩa vụ đối với NKT, đã phê duyệt Đề án trợ giúp cho NKT giai đoạn 2012-2020, bố trí hơn 5.040 triệu đồng ( mỗi năm 630 triệu đồng )

để triển khai các hoạt động trợ giúp nâng cao năng lực cho NKT Bên cạnh đó, theo Đề

án phát triển nghề CTXH, tỉnh đã bố trí hơn 11.816 triệu đồng từ ngân sách địa phương

để thực hiện các chính sách CTXH nói chung và chính sách CTXH đối với NKT nói riêng Ngoài ra, các đơn vị, tổ chức hội, các đơn vị cung cấp dịch vụ đã huy động các nguồn tài chính từ các tổ chức, cá nhân để trợ giúp cho NKT

1.4.5 Yếu tố hội nhập quốc tế

Hợp tác quốc tế có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Nước ta chưa có nhiều kinh nghiệm về lĩnh vực CTXH, phương pháp tiếp cận của CTXH đối với người yếu thế nói chung, trong đó có NKT còn nhiều khó khăn Sự liên hệ hành vi con người và môi trường xã hội, cụ thể hoá các phương pháp từ xây dựng chính sách đến tổ chức thực hiện luôn cần có sự hỗ trợ và chia sẻ về nguồn lực lực tài chính của các tổ chức quốc tế, cũng như quốc gia trên thế giới Ngoài việc tài trợ về nguồn lực, chia sẻ các bài học kinh nghiệm, nâng cao năng lực nhân viên CTXH , hỗ trợ kỹ thuật, xây dựng các mô hình trợ giúp NKTcó hoàn cảnh đặc biệt cũng hết sức cần thiết và có yếu tố quan trọng tác động đến thực hiện chính sách CTXH đối với NKT

Từ góc độ CTXH thời gian qua tỉnh Phú Yên đã có một tổ chức điển hình thực hiện có hiệu quả công tác trợ giúp cho NKT nhằm nâng cao năng lực cho NKT, cụ thể đó là :

- Tổ chức Y tế Hà Lan hỗ trợ cho NKT trong lĩnh vực PHCN, hỗ trợ sinh kế, giáo dục hòa nhập

- Tổ chức VNAH hỗ trợ trong lĩnh vực dụng cụ PHCN cho NKT, khám sàn lọc và thực hiện mổ chỉnh hình PHCN

- Tổ chức Vinacapttal hỗ trợ Chương trình mổ tim bẩm sinh cho trẻ em khuyết tật nghèo

- Dự án hỗ trợ trẻ em lang thang do Cộng đồng Châu âu hỗ trợ, thực hiện hỗ trợ kỷ thuật, sinh kế, học nghề, học văn hóa cho trẻ em khuyết tật, trẻ em lao động trong điều kiện nặng nhọc độc hại, trẻ em lang thang

Trang 31

Qua đánh giá các tổ chức này đều có hệ thống thông tin ghi chép, theo dõi hoạt động và thực hiện kiểm tra giám sát thường xuyên nên có tác động tích cực đến với NKT Tác dụng của việc hỗ trợ quản lý trực tiếp NKT tại cộng đồng và hướng dẫn NKT quản lý các nguồn lực theo phương pháp quản lý CTXH đã đem lại hiệu quả cao trong các hoạt động sinh kế và chi tiêu sinh hoạt gia đình, góp phần ổn định thu nhập, giảm bớt khó khăn cho NKT Đây được xem là những mô hình tiêu biểu

để nhân rộng trong thời gian đến

Kết luận chương 1

Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong lĩnh vực NKT, chính sách đối với NKT Tuy nhiên theo hiểu biết của tác giả chưa có nhiều công trình nghiên cứu nào về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

Việc nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực trạng về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT ở Việt Nam và từ thực tiễn thực hiện chính sách CTXH đối với NKT tại tỉnh Phú Yên, giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về lĩnh vực mà CTXH hướng đến, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc hoàn thiện và thực hiện chính sách CTXH đối với NKT, góp phần đưa CTXH sớm trở thành một nghề chuyên nghiệp tỉnh tỉnh Phú Yên nói tiêng và cả nước nói chung

Trong chương 1 tác giả đã trình bày khái quát một số vấn đề lý luận về thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Từ các các khái niệm, pháp luật liên quan và những đặc điểm chung của NKT; cụ thể các khái niệm về khuyết tật, NKT, về CTXH, CTXH đối với NKT, về chính sách, CSXH, chính sách CTXH, thực hiện chính sách CTXH đối với NKT… những khái niệm này làm rõ về khách thể nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đồng thời, chương này cũng trình bày về nội dung của thực hiện chính sách CTXH đối với NKT; quy trình các bước của chính sách CTXH nói chung và thực hiện chính sách CTXH đối với NKT nói riêng Hệ thống pháp luận chính sách xã hội đối với NKT hiện nay, các chính sách hỗ trợ NKT trên nhiều lĩnh vực và xác định những yếu tố tác động đến thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Như vậy, qua hệ thống cơ sở lý luận ở Chương 1 sẽ định hướng cho việc nghiên cứu thực trạng thực hiện chính sách CTXH đối với NKT từ thực tiễn tỉnh Phú Yên

Trang 32

Chương 2 THỰC TRẠNG THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI TỈNH PHÚ YÊN

2.1 Khái quát địa bàn nghiên cứu

2.1.1 Khát quát tình hình kinh tế - xã hội

Phú Yên là một tỉnh thuộc vùng duyên hải Nam Trung bộ Diện tích tự nhiên

toàn tỉnh là 5.060 km2, phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp tỉnh Khánh Hòa, phía Tây giáp tỉnh Gia Lai và Đắk Lắk, phía Đông giáp biển Đông Phú Yên

có vị trí địa lý và giao thông tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội, có bở biển dài hơn 185 km, đây là điều kiện hết dức thuận lợi cho phát triển kinh tế biển Tỉnh có 09 đơn vị hành chính gồm các huyện: Đồng Xuân, Đông Hòa, Sông Hinh, Sơn Hòa, Phú Hòa, Tây Hòa, Tuy An, thị xã Sông Cầu và thành phố Tuy Hòa (là trung tâm tỉnh lỵ) Toàn tỉnh có 112 xã, phường thị trấn, 665 thôn, buôn, khu phố Dân số của tỉnh Phú Yên (tính đến năm 2015) là 890.100 người, mật độ dân số là

182 người/km2 Tổng số lao động làm việc trong nền kinh tế quốc dân toàn tỉnh Phú Yên là 498.710 người Trong đó, tỷ lệ lao động trong khu vực nông, lâm, ngư nghiệp là 295.236 người chiếm 59,2%; khu vực công nghiệp - xây dựng là 81.789 người chiếm 16,4%; khu vực dịch vụ là 121.685 người chiếm 24,4% tổng số lao động làm việc trong các ngành kinh tế quốc dân Thu ngân sách hàng năm đạt 2.300

tỷ đồng,thu nhập bình quân đầu người đạt 33 triệu đồng/người/năm (bẳng 70% bình quân cả nước) Tỷ lệ hộ nghèo 12,62 %, có 02 huyện nghèo và 35 xã nghèo đặc biệt khó khăn

2.1.2 Thực trạng người khuyết tật

2.1.2.1 Thực trạng số lượng người khuyết tật

Theo kết quả điều tra rà soát cuối năm 2016,toàn tỉnh có 20.140 người ; Trong đó:

+ Khuyết tật vận động: 9.061 người, chiếm tỷ lệ 44,99%

+ Khuyết tật nghe, nói: 1.403 người, chiếm tỷ lệ 6,96 %

+ Khuyết tật nhìn: 1.951 người, chiếm tỷ lệ 9,68 %

+ Khuyết tật thần kinh, tâm thần: 3.542 người, chiếm tỷ lệ 17,58 %

Trang 33

+ Khuyết tật trí tuệ: 1.672 người, chiếm tỷ lệ 8,32 %

+ Các dạng tật khác: 2.511 người, chiếm tỷ lệ 12,46 %

Biểu đồ 2.2 Phân loại dạng khuyết tật năm 2016

(nguồn số liệu từ Sở LĐTBXH Phú Yên )

Một thực trạng rất đáng lo ngại đó là tỷ lệ NKT ngày càng tăng nhanh Nếu theo số liệu báo cáo của năm 2012, Số NKT trên địa bàn tỉnh có 16.655 người thì đến năm 2016 số NKT tăng lên 20.140 người (tăng 21% so với năm 2012, bình quân mỗi năm tăng thêm 5%) Nguyên nhân do nhiều yếu tố khác nhau nhưng chủ yếu là bệnh tật (tai biến) và tai nạn giao thông

2.1.2.2 Phân theo mức độ khuyết tật :

+ Mức độ đặc biệt nặng: 3.886 người, chiếm tỷ lệ 19.3 %

+ Mức độ nặng: 15.424 người, chiếm tỷ lệ 76.6 %

+ Mức độ nhẹ: 830 người, chiếm tỷ lệ 4.1 %

Trang 34

15,424.0

830.0 0

Đặc biệt nặng Nặng

Nhẹ

Biểu đồ 2.3 Phân loại mức độ khuyết tật

( Nguồn số liệu từ Sở LĐTBXH Phú Yên 2016)

2.1.2.3 Phân theo độ tuổi :

+ Dưới 16 tuổi : 1.925 người;

+ Từ 16 – 60 tuổi : 11.173 người

+ Trên 60 tuổi : 7.042 người

Biểu đồ 2.4 Phân loại theo độ tuổi

( Nguồn số liệu từ Sở LĐTBXH Phú Yên 2016)

Qua kết qua phân loại nêu trên cho chúng ta thấy có sự chưa hợp lý giữa các nhóm tuổi, tỷ lệ NKT người cao tuổi chiếm tỷ lệ khá cao (gần 35 %) , trong khi đó Người cao tuổi chỉ chiếm gần 10% so với dân số

Trang 35

2.2 Thực trạng hoạt động trợ giúp người khuyết tật tại địa phương

2.2.1 Công tác xác định mức độ khuyết tật và cấp giấy chứng nhận cho NKT

Căn cứ Thông tư số 37 của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Bộ Y Tế, Bộ Giáo dục Đào tạo, các địa phương đã thành lập hội đồng xác định mức độ khuyết tật cho NKT và tiến hành đánh giá theo đúng quy trình và hướng dẫn 100% NKT sau khi đánh giá mức độ đều được cấp giấy chứng nhận Đã tạo điều kiện cho NKT được tiếp cận với các chính sách hiện có của Nhà nước

Tuy nhiên theo chính sách trợ giúp hiện nay nhóm NKT nhẹ hầu như chưa có chính sách nào đáng kể Vì vậy phần đông NKT không đăng ký để xác định mức độ khuyết tật, nên không được cấp giấy chứng nhận, do vậy thống kê NKT nhẹ chỉ chiếm hơn 4% so với tổng số NKT (như thể hiện ở biểu đồ 2.2)

Mặc khác việc đánh giá và xác định mức độ khuyết tật hiện nay còn nhiều khó khăn và bất cập Do trình độ của các thành viên hội đồng cấp xã không đồng đều, việc phân định giữa khuyết tật và bệnh tật gặp nhiều khó khăn, hơn nữa thang bảng điểm làm cơ sở đánh giá mức độ khuyết tật chủ yếu là định tính, nên phần nào

đã ảnh hưởng đến chất lượng công tác xác định dạng tật và đánh giá mức độ khuyết tật của NKT Đây cũng là một hạn chế cần nghiên cứu bổ sung để đảm bảo tính thống nhất, có cơ sở định lượng trong việc đánh giá xác định mức độ khuyết tật

2.2.2 Về hỗ trợ y tế và chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng

Đến nay, toàn tỉnh đã cấp cho 19.516 thẻ BHYT cho NKT, có 1.550 NKT được theo dõi phục hồi chức năng tại nhà trong đó có 560 NKT tiến bộ hòa nhập cộng đồng; Tổ chức đưa 502 NKT đi khám và làm dụng cụ chỉnh hình PHCN tại Bệnh viện chỉnh hình và phục hồi chức năng Quy Nhơn; tổ chức mổ đục thủy tinh thể cho 10.129 người khiếm thị Trao tặng 1.350chiếc xe lăn, xe lắc trị giá 6.820 triệu đồng cho NKT trên địa bàn tỉnh; Tổ chức khám sàn lọc và tiến hành mổ tim miễn phí cho

240 trẻ em bị tật tim bẩm sinh, với tổng kinh phí hỗ trợ hơn 13.637 triệu đồng Đã

tổ chức khám sàn lọc cho 11.816 trẻ em từ 0 đến dưới 6 tuổi, phẩu thuật 215 trẻ khuyết tật vận động, 182 trẻ khuyết tật hở hàm ếch, 20 trẻ khuyết tật về mắt và 125

em khuyết tật về khiếm thính

Trang 36

2.2.3.Về hỗ trợ giáo dục

Ngành Giáo dục Đào tạo đã chỉ đạo các địa phương vận động trẻ khuyết tật trong độ tuổi đi học, với nhiều loại hình và phương thức khác nhau như giáo dục hòa nhập, giáo dục chuyên biệt Có 91 trẻ khuyết tật ở độ tuổi mần non đã thực hiện can thiệp sớm Có 577 trẻ khuyết tật đang học hòa nhập tại các trường phổ thông, 507 trẻ khuyết tật đã và đang được giáo dục chuyên biệt tại Trung tâm hỗ trợ phát triển giáo dục hòa nhập tỉnh trong đó chủ yếu là trẻ khiếm thị, khiếm thắnh và các dạng tật đặc biệt khác Ngoài ra, các sở, ngành và địa phương đã thực hiện đầy đủ chắnh sách hỗ trợ cho học sinh khuyết tật theo nghị định số 49/2010/NĐ-CP nhằm tạo điều kiện cho các em có điều kiện đến lớp, học văn hóa, học nghề và tự tạo việc làm

Tuy nhiên công tác giáo dục hòa nhập cho trẻ khuyết tật cũng còn nhiều khó khăn Hầu hết các trường phổ thông chưa bảo đảm điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy và học cho học sinh khuyết tật tham gia giáo dục hòa nhập Phần lớn cán

bộ quản lý, giáo viên dạy học sinh khuyết tật chưa được đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng, nghiệp vụ chuyên môn về giáo dục hòa nhập đối với học sinh KT

2.2.4 Dạy nghề và việc làm

Đã tổ chức dạy nghề cho 273 người khuyết tật, với các ngành nghề chủ yếu

là cắt tóc, sửa chữa xe máy, kỹ thuật làm nấm rơm, sản xuất hàng mây tre đan, may Công nghiệp Với những kiến thức đã được đào tạo, số lao động khuyết tật đã tự tạo việc làm, góp phần tăng thu nhập và cải thiện đời sống Riêng Hội người mù huyện Tuy An đã phối hợp với Trung tâm dạy nghề huyện Tuy An tổ chức dạy nghề bó chổi đót cho người 13 khuyết tật và tạo việc làm ổn định tại cơ sở sản xuất ở địa phương, đến nay 13 NKT đã có việc làm, với thu nhập bình quân hơn 2 triệu đồng Đồng thời đã hỗ cho vay 45 người khuyết tật mù,với số tiền 560 triệu đồng, các hộ vay đã sử dụng đúng mục đắch, trả nợ vay đúng hạn và góp phần cải thiện đời sống cho NKT

Tuy nhiên hiện nay công tác đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho NKT còn nhiều khó khăn Chưa có nguồn vốn cho vay dành riêng hỗ trợ tạo việc làm cho NKT Phần lớn NKT tự tạo việc làm là chắnh, nên việc làm không ổn định, thu nhập thấp Chưa thành lập được các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh của người

Trang 37

khuyết tật Hơn nữa theo chương trình dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg thì người học nghề phải tập trung học tại cơ sở dạy nghề hoặc học tại các cơ sở sản xuất và yêu cầu phải có Đề án, được cấp có thẩm quyền phê duyệt Trong khi đó các cơ sở sản xuất tại cộng đồng như cơ sở mộc, sửa chữa xe gắn máy, cơ

sở thủ công mỹ nghề khả năng truyền nghề rất tốt nhưng không đủ điều kiện để cấp giấy phép dạy nghề; đây là rào cản rất lớn làm cho NKT khó tiếp cận được với công tác dạy nghề và tạo việc làm tại cộng đồng theo Đề án 1956 của Chính phủ

2.2.5 Văn hóa, thể dục, thể thao, giải trí và du lịch :

Tỉnh đã tổ chức nhiều hoạt động văn hóa,thể dục thể thao cho NKT Đưa Đoàn NKT tỉnh Phú Yên tham gia Hội thi tiếng hát NKT toàn quốc lần thứ I-2014 tại

TP Hồ Chí Minh Với kết quả đạt được 3 huy chương bạc Tổ chức 05 lần Hội thao cho NKTcấp tỉnh, thu hút hơn 450 vận động viên tham gia thi đấu (trao 70 huy chương vàng, 70 huy chương bạc và 90 huy chương đồng) Cử 40 vận động viên khuyết tật tham gia Hội thi thể thao NKT toàn quốc, kết quả đạt được 03 huy chương vàng, 04 huy chương bạc và 03 huy chương đồng

Tuy nhiên các hoạt động văn hóa thể thao chưa được tổ chức thường xuyên, chưa trở thành phong trào và đi vào chiều sâu, mới chỉ bước đầu phát triển và chủ yếu là tập trung ở các khu vực thị tứ, thị trấn; Riêng khu vực nông thôn, miền núi, vùng còn khó khăn chưa được quan tâm đúng mức Qua khảo sát ở 40 người thân của NKT chỉ có 5% NKT tham gia các hoạt động văn hóa và thể dục thể thao

2.2.6 Thực hiện chính sách Bảo trợ xã hội

Tính đến ngày 31/12/2016, toàn tỉnh có 19,154 NKT được trợ cấp xã hội, chiếm tỷ lệ hơn 95,1 % so tổng số NKT, với tổng kinh phí hàng năm thực hiện hơn

100 tỷ đồng, đồng thời thực hiện trợ cấp cho 1.986 người chăm sóc người khuyết tật, với tổng kinh phí là 4.654 triệu đồng Hiện có 36 NKT đang nuôi dưỡng và chăm sóc tại Trung tâm Nuôi dưỡng người có công và Bảo trợ xã hội, các đối tượng được chăm sóc chu đáo và thực hiện đầy đủ các chính sách theo quy định của NKT

2.2.7 Trợ giúp pháp lý

Từ năm 2012-2016, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh đã thực hiện trợ giúp pháp lý cho 67 người khuyết tật Nội dung trợ giúp pháp lý chủ yếu về chính sách đối với NKT như chính sách về dạy nghề tạo việc làm, chính sách bảo trợ xã hội, chính sách tín dụng ưu đãi, bảo hiểm y tế khám chũa bệnh, hôn nhân gia đình

Trang 38

Tuy nhiên trong công tác trợ giúp pháp lý cho người khuyết tật, đội ngũ trợ giúp viên pháp lý, cộng tác viên trợ giúp pháp lý còn thiếu kỹ năng Chưa xây dựng được đội ngũ cộng tác viên là những cán bộ, thành viên của các cơ quan, tổ chức NKT hoặc bản thân họ là NKT

2.2.8 Tiếp cận các công trình công cộng, giao thông

Sở Giao thông Vận tải hướng dẫn các đơn vị vận tải trên địa bàn tỉnh thực hiện các chính sách ưu tiên cho NKTtham gia giao thông Đã có 15/15 đơn vị tuyến

cố định,xe buýt thực hiện giảm giá vé cho NKT nặng và đặc biệt nặng Tuy nhiên việc sửa chữa,bổ sung các quy chuẩn,tiêu chuẩn để NKT sử dụng phương tiện giao thông đảm bảo quy chuẩn kỹ thuật về giao thông chưa thực hiện Đồng thời chỉ đạo kiểm tra rà soát đưa các hạng mục công trình giao thông xây dựng mới hoặc cải tạo như nhà ga, bến xe, bến cảng thuận tiện cho NKT tiếp cận và sử dụng

Sở Xây dựng đã tiến hành kiểm tra ở 27 công trình xây dựng, kết quả có 18 công trình áp dụng và 09 công trình không áp dụng quy chuẩn, tiêu chuẩn Đã yêu cầu các chủ đầu tư khắc phục và đảm bảo đúng quy chuẩn tạo điều kiện cho NKT tiếp cận

2.2.9 Các mô hình trợ giúp xã hội đối với người khuyết tật :

(i) Mô hình phục hồi chức năng cho NKT tại cộng đồng : Dự án “Phát triển

sức khỏe do cộng đồng quản lí” do Ủy ban Y tế Hà Lan-Việt Nam (MCNV) hỗ trợ thực hiện ở tỉnh Phú Yên Phương pháp tiếp cận: Phát hiện sớm NKT và cung cấp các dịch vụ hỗ trợ toàn diện như phục hồi thể chất, xã hội và phát triển kinh tế

Kết quả đạt được: 535 NKT được hỗ trợ PHCN tại cơ sở y tế và PHCN tai gia đình, 135 NKT được hỗ trợ học nghề, triển khai khám sàn lọc cho 7.225 trẻ, qua thực hiện có 70 trẻ phát hiện giảm chức năng và đã thực hiện kế hoạch thực hiện can thiệp cho 43 trẻ Ngoài ra dự án đã hỗ trợ vốn vay phát triển sản xuất Hiện đang quản lý 1.675 triệu đồng với 285 hội viên đang vay để phát triển kinh tế và cải thiện điều kiện sống

(ii) Mô hình chi trả trợ cấp xã hội cho NKT thông qua đơn vị dịch vụ (Bưu điện): Căn cứ Công văn số 4517/LĐTBXH-BTXH ngày 04/11/2015 của Bộ LĐ-TB&XH của Bộ Lao động Thương binh và xã hội về việc chi trả chính sách trợ giúp xã hội hằng tháng cho đối tượng bảo trợ xã hội qua hệ thống bưu điện, UBND tỉnh Phú Yên đã có Quyết định số 2109/QĐ-UBND ngày 5/9/2016 về việc phê duyệt phương án thực hiện chi trả trợ cấp bảo trợ xã hội qua hệ thống bưu điện Với

Trang 39

hình thức chi trả bằng tiền mặt cho người hưởng theo danh sách do Phòng Lao động Thương binh & Xã hội huyện/thị xã/thành phố cung cấp Đồng thời thực hiện chi trả tại gia đình đối với những trường hợp đặc biệt, các đối tượng hưởng không thể

tự đến điểm chi trả như: NKT đặc biệt nặng, NKT nặng, người cao tuổi mà không

có người nhận trợ cấp thay Qua hơn 05 tháng thực hiện đã cho thấy có nhiều ưu điểm so với hình thức chi trả do cán bộ cấp xã thực hiện Đó là có sự tách bạch giữa lĩnh vực quản lý nhà nước và các dịch vụ xã hội Đảm bảo việc thực hiện chi trả mang tính chuyên nghiệp, chính xác, nhanh chóng, ít rủi ro, công khai, minh bạch

và chi trả tận tay đối tượng Đây là giải pháp ngăn chặn tình trạng dễ phát sinh tiêu cực trong công tác chi trả

(iii) Mô hình sinh kế cho NKT : Dự án đã hỗ trợ vốn cho 20 hộ gia đình

nghèo có thành viên là NKT để phát triển sản xuất trong đó có 12 hộ trồng các loại rau như hành, cải, ngò, xà lách và 08 hộ tròng dưa leo cao sản Qua 01 năm triển khai thực hiện dự án, với sự quan tâm chỉ đạo sâu sát của Ban quản lý dự án, sự nỗ lực, cố gắng của các hộ tham gia dự án,nên dự án đến nay đã đạt kết quả rất đáng phấn khởi Trong tổng số 20 hộ tham gia dự án, đã có 17 hộ qua 01 năm thực hiện

đã có lãi, với mức bình quân từ 12-15 triệu đồng/năm và hiện nay các hộ tham gia

đều thoát nghèo bền vững

2.3 Thực trạng thực hiện chính sách tuyên truyền về công tác xã hội đối với người khuyết tật

Hoạt động truyền thông là một trong những nhiệm vụ hết sức quan trọng ,

là một khâu không thể thiếu trong thực hiện chính sách CTXH đối với NKT Thời gian qua tỉnh Phú Yên đã xây dựng chuyên trang, chuyên mục trên các phương tiện thông tin đại chúng của tỉnh để tuyên truyển về phát triển Nghề công tác xã hội như Chuyên mục “Nâng cao nhận thức về phát triển Nghề công tác xã hội”

trên trang Báo Phú Yên, Xây dựng chuyên mục “Nghề công tác xã hội” trên Đài

phát thanh, thực hiện các phóng sự phát thanh, truyền hình về các hoạt động thuộc

Đề án Phát triển nghề CTXH Ngoài ra cập nhật các bản tin, bài, ảnh, các văn bản pháp luật của Trung ương và địa phương qua chuyên mục hoạt động phát triển nghề CTXH của website Phú Yên đất nước con người; phát tờ rơi, tờ bướm ở các

tụ điểm đông dân cư để người dân tiếp cận và biết cách sử dụng dịch vụ công tác

xã hội Thông qua công tác tuyên truyền, đã nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư về vai trò, vị trí của công tác xã hội, giúp người dân

Trang 40

tiếp cận và biết sử dụng dịch vụ công tác xã hội, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả CTXH trên địa bàn tỉnh

Bên cạnh đó, tổ chức tuyên truyền về nội dung của Luật người khuyết tật và các văn bản hướng dẫn nhất là nhân ngày nhân ngày bảo vệ, chăm sóc người khuyết tật Việt Nam 18/4; tuyên truyền trên Đài phát thanh và Truyền hình Phú Yên (03 lần/tháng), hàng quí phát sóng 01 chuyên mục người khuyết tật trên VTV Phú Yên; phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông nâng cấp và duy trì 01 trang thông tin điện tử

Tuy nhiên hoạt động truyền thông chưa đi vào chiều sâu và những nhóm đối tượng cụ thể, thực nhiện còn dàn trải, hình thức truyền thông còn đơn điệu chưa đa dạng phong phú nên chưa thu hút sự quan tâm của người dân, do vậy một bộ phận người dân trong đó có cả cán bộ các cấp nhận thức về nghề công tác xã hội còn hạn chế Bản thân người khuyết tật và gia đình người khuyết tật cũng chưa hiểu rõ về công tác xã hội cũng như các chính sách trợ giúp nên họ vẫn còn mặc cảm, tự ti, vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại

2.4 Thực trạng thực hiện các chính sách khuyến khích, ưu đãi đối với cán bộ, nhân viên làm công tác xã hội đối với người khuyết tật

2.4.1 Phát triển đội ngũ cán bộ, viên chức, nhân viên và cộng tác viên công tác xã hôi các cấp và chế độ tiền lương ưu đãi nghề

Qua hơn 5 năm thực hiện, tỉnh Phú Yên đã xây dựng được hệ thống tổ chức nhân sự CTXH tương đối phù hợp và đã đi vào hoạt động Đã có 112/112 xã, phường, thị trấn đã có Công tác viên CTXH với chức năng nhiệm được quy định theo thông tư số 07 của Bộ Lao động Thương binh và xã hội, các cộng tác viên CTXH được hưởng phụ cấp bằng mức lương cơ sở Đội ngũ nhân viên CTXH chuyên nghiệp của các Trung tâm công tác xã hội, bảo trợ xã hội, các hội, đoàn thể cũng đã từng bước kiện toàn và hình thành, tuy chưa đáp ứng yêu cầu về mặc số lượng và chất lượng, nhưng cũng đã bước đầu tiếp cận được với NKT

Đặc biệt thực hiện theo thông tư số 43/2015/TTBYT của Bộ Y Tế, ngành Y

tế tỉnh Phú Yên đã quyết định thành lập 14 phòng CTXH tại các bệnh viện (từ bệnh viện loại 3 trở lên) với 52 nhân viên công tác xã hội Với chức năng nhiệm vụ là Hỗ trợ, tư vấn giải quyết các vấn đề về CTXH cho người bệnh và người nhà người bệnh trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh Qua thời gian thực hiện chưa được lâu nhưng bước đầu đã được tiếp cận với phương pháp, quy trình của CTXH, thực hiện

Ngày đăng: 15/06/2017, 17:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Chí An (2006), Công tác xã hội cá nhân, Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội cá nhân
Tác giả: Lê Chí An
Năm: 2006
3. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Quản lý trường hợp với người khuyết tật, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý trường hợp với người khuyết tật
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2015
4. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội (2015), Tài liệu hướng dẫn thực hành Công tác xã hội với người khuyết tật, Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Tài liệu hướng dẫn thực hành Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2015
5. Nguyễn Thị Báo (2008), “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay”, Luận án Tiến sĩ Luật học, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Hoàn thiện pháp luật về quyền của người khuyết tật ở Việt Nam hiện nay
Tác giả: Nguyễn Thị Báo
Năm: 2008
6. TS. Trần Thái Dương (2014), “Bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật, sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế”, Tạp chí Luật học số ra tháng 10 năm 2014, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền tiếp cận công lý, quyền được trợ giúp pháp lý của người khuyết tật, sự tương thích của pháp luật Việt Nam với pháp luật quốc tế
Tác giả: TS. Trần Thái Dương
Năm: 2014
7. PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên) (2014), Công tác xã hội với người khuyết tật, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: PGS.TS. Nguyễn Thị Kim Hoa (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2014
8. PGS.TS Văn Tất Thu ( 2016), “Năng lực thực hiện chính sách công - những vấn đề lý luận và thực tiễn” , Tạp chí Tổ chức và Nhà nước số ra tháng 01 năm 2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực thực hiện chính sách công - những vấn đề lý luận và thực tiễn”
9. TS. Trần Thị Thúy Lâm (2013), “Pháp luật về học nghề đối với người khuyết tật - Thực trạng và một số khuyến nghị”, Tạp chí Luật học số ra tháng 10 năm 2013, Đại học Luật Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Pháp luật về học nghề đối với người khuyết tật - Thực trạng và một số khuyến nghị”
Tác giả: TS. Trần Thị Thúy Lâm
Năm: 2013
10. Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) (2010), “Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo khảo sát về đào tạo nghề và tạo việc làm cho người khuyết tật tại Việt Nam
Tác giả: Tổ chức Lao động quốc tế (ILO)
Năm: 2010
12. Lê Thị Quý (2010), Giáo trình Xã hội học giới, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Xã hội học giới
Tác giả: Lê Thị Quý
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2010
13. Mai Thị Kim Thanh (2011), Giáo trình Nhập môn công tác xã hội, Nxb Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nhập môn công tác xã hội
Tác giả: Mai Thị Kim Thanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
14. Bài viết “Mô hình công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở Úc: Định hướng về hòa nhập xã hội ” tại Hội thảo về Đổi mới Công tác xã hội trong nền kinh tế thị trường, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Hà Nội (2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mô hình công tác xã hội với trẻ khuyết tật ở Úc: Định hướng về hòa nhập xã hội ” tại
17. Nguyễn Ngọc Toản (2009), Trợ giúp xã hội cho cá nhân và hộ gia đình nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người khuyết tật, Tạp chí Lao động và Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trợ giúp xã hội cho cá nhân và hộ gia đình nhằm đảm bảo an sinh xã hội cho người khuyết tật
Tác giả: Nguyễn Ngọc Toản
Năm: 2009
18. TS. Hà Thị Thư (2012), Giáo trình trung cấp nghề Công tác xã hội với người khuyết tật, Nxb Lao động – Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình trung cấp nghề Công tác xã hội với người khuyết tật
Tác giả: TS. Hà Thị Thư
Nhà XB: Nxb Lao động – Xã hội
Năm: 2012
19. TS. Hà Thị Thư (2012), Kỹ năng Công tác xã hội nhóm của sinh viên ngành Công tác xã hội, Nxb Từ điển bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ năng Công tác xã hội nhóm của sinh viên ngành Công tác xã hội
Tác giả: TS. Hà Thị Thư
Nhà XB: Nxb Từ điển bách khoa
Năm: 2012
20. TS. Hà Thị Thư (2016), Sự chuyên nghiệp trong DVCTXH đối với các nhóm đối tượng yếu thế, Hội thảo khoa học quốc tế nâng cao chất lượng đào tạo CTXH với chuyên nghiệp hóa DVCTXH Sách, tạp chí
Tiêu đề: TS. Hà Thị Thư (2016), "Sự chuyên nghiệp trong DVCTXH đối với các nhóm đối tượng yếu thế
Tác giả: TS. Hà Thị Thư
Năm: 2016
21. TS. Hà Thị Thư (2012), Công tác xã hội với trẻ khuyết tật, Tài liệu đào tạo bồi dưỡng nghề công tác xã hội cho cán bộ tuyến cõ sở Sách, tạp chí
Tiêu đề: ông tác xã hội với trẻ khuyết tật
Tác giả: TS. Hà Thị Thư
Năm: 2012
22. Trần Đình Tuấn (2008), Công tác xã hội lý thuyết và thực hành, Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công tác xã hội lý thuyết và thực hành
Tác giả: Trần Đình Tuấn
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc Gia Hà Nội
Năm: 2008
23. USAID và VNAH (2015), Tài liệu tập huấn về chính sách trợ giúp người khuyết tật, quyền và quy trình thực thi quyền của người khuyết tật, Nxb Dân trí Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu tập huấn về chính sách trợ giúp người khuyết tật, quyền và quy trình thực thi quyền của người khuyết tật
Tác giả: USAID và VNAH
Nhà XB: Nxb Dân trí
Năm: 2015
27. Thủ tướng Chính phủ ( 2010), Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012: Phê duyệt Đề án trợ giúp người khuyết tật giai đoạn 2012 – 2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 1019/QĐ-TTg ngày 05/8/2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w