1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH của NGÂN HÀNG THƯƠNG mại

34 10,9K 22
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Chỉ Tiêu Đánh Giá Hiệu Quả Hoạt Động Kinh Doanh của Ngân Hàng Thương Mại
Trường học Đại học Ngân hàng TP.HCM
Chuyên ngành Kinh tế ngân hàng
Thể loại Báo cáo luận văn
Năm xuất bản Năm 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 269 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của ngân hàng từ việc cho vay- Chỉ tiêu càng cao thì tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũng như tình hình tài

Trang 1

CÂU 1: CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

Như chúng ta đã biết huy độn vốn và cho vay là những mảng hoạt động kinh doanhtruyền thống của các Ngân hàng thương mại (NHTM), nó tạo ra nguồn lợi nhuận chủ yếu chongân hàng Khác với những ngân hàng thương mại khác trên thế giới với nhiều sản phẩm tàichính đa dạng, phong phú đã hình thành nên những nguồn thu đa dạng cho các ngân hàng thì cácNHTM Việt Nam vẫn chỉ dậm chân tại hai mảng hoạt động truyền thống trên Vì thế để đánh giáhiệu quả hoạt động kinh doanh của NHTM nhóm xin được chia thành các nhóm chỉ tiêu theo haimảng hoạt động trên:

A Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động tín dụng:

1 Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%):

(Dư nợ năm nay - Dư nợ năm trước)

Tỷ lệ tăng trưởng dư nợ (%) = - x 100%

Dư nợ năm trước

- Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng dư nợ tín dụng qua các năm để đánh giá khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng

- Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của NH càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại NH đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả

2 Tỷ lệ tăng trưởng doanh số cho vay (DSCV) (%):

(DSCV năm nay - DSCV năm trước)

Tỷ lệ tăng trưởng DSCV (%) = - x 100%

DSCV năm trước

- Chỉ tiêu này dùng để so sánh sự tăng trưởng tín dụng qua các năm để đánh khả năng cho vay, tìm kiếm khách hàng và đánh tình hình thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng (tương tự như chỉ tiêu tăng trưởng dư nợ, nhưng bao gồm toàn bộ dư nợ cho vay trong năm đến thời điểm hiện tại và dư nợ cho vay trong năm đã thu hồi)

- Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của NH càng ổn định và có hiệu quả, ngược lại NH đang gặp khó khăn, nhất là trong việc tìm kiếm khách hàng và thể hiện việc thực hiện kế hoạch tín dụng chưa hiệu quả

3 Tỷ lệ thu lãi (%):

Tổng lãi đã thu trong năm

Tỷ lệ thu lãi (%) = - x 100%

Tổng lãi phải thu trong năm

- Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch tài chính của ngân hàng, đánh giá

Trang 2

khả năng đôn đốc, thu hồi lãi và tình hình thực hiện kế hoạch doanh thu của ngân hàng từ việc cho vay

- Chỉ tiêu càng cao thì tình hình thực hiện kế hoạch tài chính cũng như tình hình tài chính của

NH càng tốt, ngược lại NH đang gặp khó khăn trong việc thu lãi, ảnh hưởng nghiêm trọng đến doanh thu của ngân hàng, chỉ tiêu này cũng thể hiện tình hình bất ổn trong cho vay của ngân hàng, có thể nợ xấu (tín dụng đen) trong ngân hàng tăng cao nên ảnh hưởng đến khả năng thu hồilãi của ngân hàng, và có thể ảnh hưởng đến khả năng thu hồi nợ trong tương lai (Thông thường

tỷ lệ này phải trên 95% mới là tốt)

4 Tỷ lệ Dư nợ/Tổng nguồn vốn ( % ):

- Dựa vào chỉ tiêu này, so sánh qua các năm để đánh giá mức độ tập trung vốn tín dụng của NH

- Chỉ tiêu càng cao thì mức độ hoạt động của NH, đánh giá khả năng sử dụng vốn để cho vay củangân hàng, chỉ tiêu càng cao thì khả năng sử dụng vốn càng cao, ngược lại càng thấp thì ngân hàng đang bị trị trệ vốn, sử dụng vốn bị lãng phí, có thể gây ảnh hưởng đến doanh thu cũng như

tỷ lệ thu lãi của ngân hàng

5 Tỷ lệ Dư nợ/Vốn huy động ( % ):

-Chỉ tiêu này phản ánh NH cho vay được bao nhiêu so với nguồn vốn huy động, nó còn nói lên hiệu quả sử dụng vốn huy động của ngân hàng, thể hiện ngân hàng đã chủ động trong việc tích cực tạo lợi nhuận từ nguồn vốn huy đông hay chưa

- Chỉ tiêu này lớn thể hiện khả năng tranh thủ vốn huy động, nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1 thì ngân hàng chưa thực hiện tốt việc huy động vốn, vốn huy động tham gia vào cho vay ít, khả năng huy động vốn của NH chưa tốt, nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả toàn

bộ nguồn vốn huy động, gây lãng phí

6 Hệ số thu nợ ( % ):

Doanh số thu nợ

Hệ số thu nợ ( % ) = - x 100%

Doanh số cho vay

- Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của NH

- Nó phản ánh trong 1 thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn

Trang 3

- Nó thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng, đánh giá khả năng thu hồi nợ của các khoản tín dụng đã cho vay, đồng thời đánh giá hiệu quả thực hiện kế hoạch tín dụng của ngân hàng, kế hoạch cho vay, đôn đốc thu hồi nợ của ngân hàng.

- Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như rủi ro tín dụng tại ngân hàng

- Tỷ lệ nợ quá hạn càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém , và ngược lại

- Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng tín dụng của ngân hàng càng kém , và ngược lại

( Dư nợ đầu kỳ + Dư nợ cuối kỳ )

Dư nợ bình quân trong kỳ =

2

- Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của ngân hàng, thời gian thu hồi nợ của ngân hàng là nhanh hay chậm Vòng quay vốn càng nhanh thì được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn

Trang 4

11 Số khách hàng được vay vốn:

- Chỉ tiêu này phản ánh số lượng khách hàng của ngân hàng qua các thời kỳ, cho thấy khả năng thu hút khách hàng của ngân hàng trong thời gian qua

B Các chỉ tiêu đánh giá hoạt động huy động vốnhuy động vốn:

1 Tỷ trọng các loại tiền gửi: chỉ tiêu này thể hiện cơ cấu vốn huy động theo các tiêu thức: thời

gian, loại tiền, sản phầm: tiền gửi thanh toán, tiền gửi tiết kiệm,thẻ tín dụng,thanh toán POS

2 Vốn huy động/Vốn tự có: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của ngân hàng so với

vốn tự có, chỉ tiêu này khoảng 20 lần là tốt

3 Vốn huy động/tổng nguồn vốn: chỉ tiêu này đánh giá tỷ lệ vốn huy động được so với tổng

nguồn vốn, cho thấy trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng có bao nhiêu vốn hình thành

từ huy động

4 Vốn huy động/dư nợ: Chỉ tiêu này đánh giá khả năng huy động vốn của các chi nhánh để

phục vụ cho vay, chỉ tiêu này còn đánh giá ngân hàng có sử dụng hiệu quả vốn huy động để cho vay hay không

5 Tỷ lệ chi phí huy động vốn/tổng chi phí: Chỉ tiêu này đánh giá chi phí của ngân hàng phải

bỏ ra cho hoạt động huy động vốn so với tổng chi phí hoạt động

6 Tỷ lệ doanh số huy động vốn/doanh số cho vay: thể hiện khả năng và hiệu quả sử dụng vốn

của ngân hàng,nếu chỉ tiêu này lớn hơn 1,cho thấy ngân hàng chưa sử dụng vốn hợp lý, số vốn huy động về còn dư thừa chưa sử dụng hết

7 Tỷ lệ lãi thu từ hoạt động cho vay/lãi chi cho hoạt động huy động vốn: chỉ tiêu này phản

ánh tỷ lệ chênh lệch giữa doanh thu từ cho vay và chi phí cho hoạt động huy động vốn

8 Chênh lệch thu chi: (thu từ cho vay trừ chi cho huy động vốn) Chỉ tiêu này thể hiện thu nhập

ròng mà ngân hàng nhận được trong hoạt động kinh doanh giữa huy động vốn và cho vay

9 Tỷ lệ chênh lệch thu chi/tổng doanh thu: Chỉ tiêu này cho thấy tỷ lệ thu nhập ròng từ hoạt

động cho vay và huy động vốn trên tổng doanh thu

10 Vòng quay huy động vốn: tổng doanh thu/tổng vốn huy động

Trang 5

CÂU 2: PHÂN TÍCH RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGÂN HÀNG VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG NGỪA

Có 4 loại rủi ro: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, rủi ro tỷ giá, rủi ro lãi suất.

1 Rủi ro tín dụng:

a Khái niệm rủi ro tín dụng

RRTD là loại rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, biểu hiện trênthực tế qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.Căn cứ vào khoản 01 Điều 02 của Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dựphòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD (Ban hành theo Quyết định số

493 /2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì “Rủi ro tíndụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngânhàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ củamình theo cam kết.”

b Phân loại rủi ro tín dụng

Nếu căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, RRTD được phân chia thành các loại sau:

- Rủi ro giao dịch: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn

chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng Rủi ro giao dịch có ba

bộ phận chính là rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ

+ Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, khi ngân

hàng lựa chọn những phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay

+ Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng

cho vay, các loại TSĐB, chủ thể đảm bảo, hình thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trịcủa TSĐB

+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay,

bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản vay có vấnđề

Trang 6

- Rủi ro danh mục: là một hình thức của RRTD mà nguyên nhân phát sinh là do những

hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành hai loại là rủi ronội tại và rủi ro tập trung

+ Rủi ro nội tại: xuất phát từ các yếu tố, các đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt bên

trong của mỗi chủ thể đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế Nó xuất phát từ đặc điểm hoạtđộng hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn

+ Rủi ro tập trung: là trường hợp ngân hàng tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số

khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vựckinh tế; hoặc trong cùng một vùng địa lý nhất định; hoặc cùng một loại hình cho vay córủi ro cao

c Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng

Trong quan hệ tín dụng có hai đối tượng tham gia là ngân hàng cho vay và người đi vay.Nhưng người đi vay sử dụng tiền vay trong một thời gian, không gian cụ thể, tuân theo sự chiphối của những điều kiện cụ thể nhất định mà ta gọi là môi trường kinh doanh, và đây là đốitượng thứ ba có mặt trong quan hệ tín dụng RRTD xuất phát từ môi trường kinh doanh gọi làrủi ro do nguyên nhân khách quan Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay gọi làrủi ro do nguyên nhân chủ quan

i Nguyên nhân chủ quan

- Nguyên nhân thuộc về năng lực quản trị của ngân hàng

Trước hết phải nói đến các ngân hàng còn thiếu một chính sách tín dụng nhất quán, chínhsách tín dụng ở đây phải bao gồm định hướng chung cho việc cho vay, chế độ tín dụng ngắnhạn, trung và dài hạn, các quy định về bảo đảm tiền vay, danh mục lựa chọn khách hàng trongtừng giai đoạn,… Nguyên nhân gây ra RRTD từ phía ngân hàng có thể được khái quát cơ bảndưới đây:

+ Ngân hàng không có đủ thông tin về các số liệu thống kê, chỉ tiêu để phân tích, đánh giákhách hàng dẫn đến xác định sai hiệu quả của phương án xin vay, hoặc xác định thời hạncho vay và trả nợ không phù hợp với phương án kinh doanh

+ Sự lơi lỏng trong quá trình giám sát trong và sau khi cho vay nên không phát hiện kịp thờihiện tượng sử dụng vốn sai mục đích

Trang 7

+ Quá tin tưởng vào tài sản thế chấp, bảo lãnh, bảo hiểm, coi đó là vật đảm bảo chắc chắncho sự thu hồi cả gốc và lãi tiền vay.

+ Chạy theo số lượng mà sao lãng việc coi trọng chất lượng khoản vay, quá lạc quan và tintưởng vào sự thành công của phương án kinh doanh của khách hàng

+ Ngân hàng thiếu một bộ phận chuyên trách theo dõi, quản lý rủi ro, quản lý hạn mức tíndụng tối đa cho từng khách hàng thuộc từng ngành nghề, sản phẩm địa phương khác nhau

để phân tán rủi ro, các dự báo cần thiết trong từng thời kỳ

+ Năng lực và phẩm chất đạo đức của một số CBKH ngân hàng chưa đáp ứng đủ yêu cầu vàvấn đề quản lý sử dụng, đãi ngộ cán bộ ngân hàng chưa thỏa đáng

+ Cạnh tranh giữa các TCTD chưa thực sự lành mạnh, việc chạy theo quy mô, bỏ qua cáctiêu chuẩn, điều kiện trong cho vay, thiếu quan tâm đến chất lượng khoản vay

- Nguyên nhân thuộc về phía khách hàng

+ Sử dụng vốn sai mục đích, không có thiện chí trong việc trả nợ vay: Đa số các doanhnghiệp khi vay vốn đều có phương án kinh doanh cụ thể, khả thi Doanh nghiệp sử dụngvốn sai mục đích, cố ý lừa đảo ngân hàng chiếm đoạt tài sản không nhiều Nhưng những

vụ việc phát sinh lại hết sức nặng nề, ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng, tác động xấuđến các doanh nghiệp khác

+ Năng lực quản lý kinh doanh kém, đầu tư nhiều lĩnh vực vượt quá khả năng quản lý: Khicác doanh nghiệp vay tiền ngân hàng để mở rộng quy mô kinh doanh, đa phần là tập trungvốn đầu tư vào tài sản vật chất chứ ít doanh nghiệp nào mạnh dạn đổi mới cung cách quản

lý, đầu tư cho bộ máy giám sát kinh doanh, tài chính, kế toán theo đúng chuẩn mực Quy

mô kinh doanh phình ra quá to so với tư duy quản lý là nguyên nhân dẫn đến sự phá sảncủa các phương án kinh doanh đầy khả thi mà lẽ ra nó phải thành công trên thực tế

+ Khách hàng vay vốn tại nhiều TCTD dưới một danh nghĩa hay nhiều thực thể khác nhaunên thiếu sự phân tích trên tổng thể, khó theo dõi được dòng tiền dẫn đến việc sử dụng vốnvay chồng chéo và làm mất khả năng thanh toán dây chuyền

+ Tình hình tài chính doanh nghiệp yếu kém, thiếu minh bạch Quy mô tài sản, nguồn vốnnhỏ bé, tỷ lệ nợ so với vốn tự có cao là đặc điểm chung của hầu hết các doanh nghiệp ViệtNam Ngoài ra, thói quen ghi chép đầy đủ, chính xác, rõ ràng các sổ sách kế toán vẫn chưađược các doanh nghiệp tuân thủ nghiêm chỉnh và trung thực Do vậy, sổ sách kế toán mà

Trang 8

các doanh nghiệp cung cấp cho ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức hơn làthực chất Do đó, khi cán bộ ngân hàng lập các bản phân tích tài chính của doanh nghiệpdựa trên số liệu do các doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính thực tế và xác thực.+ Doanh nghiệp cố tình lừa đảo ngân hàng.

ii Nguyên nhân khách quan

- Sự thay đổi của môi trường tự nhiên như: thiên tai, dịch bệnh, bão lụt gây tổn thất chokhách hàng vay vốn kinh doanh

- Sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường trong nước và thế giới:Các chính sách quản lý kinh tế của Nhà nước thay đổi quá nhiều và quá nhanh khiến cho cácdoanh nghiệp không thích ứng kịp thời Đặc biệt là các chính sách như xuất nhập khẩu, chínhsách thuế, chính sách quản lý tài nguyên, quy hoạch đô thị gây ảnh hưởng nghiêm trọng đếnhoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộcquá nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng, chế biếnthực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với rủi ro thời tiết và giá

cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến động xấu

- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế: Quá trình tự do hoá tàichính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng khi tạo ra một môi trường cạnh tranhgay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp, những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phảiđối mặt với nguy cơ thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nghiệt của thị trường Bên cạnh đó, bảnthân sự cạnh tranh của các NHTM trong nước và quốc tế trong môi trường hội nhập kinh tếcũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro

nợ xấu tăng lên bởi hầu hết các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nướcngoài thu hút

- Sự tấn công của hàng nhập lậu: Với hàng trăm km biên giới trên bộ và trên biển cùng địahình địa lý phức tạp và tình hình nghèo khó của dân cư vùng biên giới, cuộc chiến đấu với hàngnhập lậu đã kéo dài dai dẳng từ rất nhiều năm qua mà kết quả là hàng lậu vẫn tràn lan tại cácthành phố lớn, làm điêu đứng các doanh nghiệp trong nước và các ngân hàng đầu tư vốn cho cácdoanh nghiệp này

- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến khủng hoảng thừa về đầu

tư trong một số ngành: Nền kinh tế thị trường tất yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh

sẽ tìm kiếm ngành nào có lợi nhất để đầu tư và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận

Trang 9

cho họ và do đó có sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một hiệntượng khách quan Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã phát triển một cách tựphát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý, hợp tác, phân công lao động, chuyênmôn hoá lao động, sự bất lực trong vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ môcủa Nhà nước Điều này dẫn đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đếnkhủng hoảng thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia.

- Rủi ro do môi trường pháp lý chưa thuận lợi và sự kém hiệu quả của cơ quan pháp luật cấpđịa phương trong việc triển khai: Trong những năm gần đây, Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốchội, Chính phủ, NHNN và các cơ quan liên quan đã ban hành nhiều luật, văn bản dưới luậthướng dẫn thi hành luật liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng Tuy nhiên, luật và các vănbản đã có, song việc triển khai vào hoạt động ngân hàng thì lại hết sức chậm chạp và còn gặpphải nhiều bất cập

- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN Bên cạnh những cố gắng và kếtquả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiệncăn bản về chất lượng; năng lực cán bộ thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu; nội dung

và phương pháp thanh tra, giám sát còn lạc hậu, chậm được đổi mới; vai trò kiểm toán chưađược phát huy và hệ thống thông tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu; thanh tra tại chỗ vẫn

là phương pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro cònyếu;…

- Hệ thống thông tin quản lý còn bất cập Hiện nay, nguồn cung cấp thông tin chủ yếu chohoạt động tín dụng của các NHTM là Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) củaNHNN, Trung tâm đã hoạt động hơn một thập niên và đã đạt được những kết quả bước đầu rấtđáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin tín dụng Tuy nhiên, thông tin cung cấp còn đơnđiệu, thiếu cập nhật, chưa đáp ứng được đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin

- Sự thay đổi về lãi suất, tỷ giá hối đoái, lạm phát, chỉ số giá cả tăng, nguyên vật liệu đầuvào tăng làm ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của khách hàng, khó khăn tài chính dẫn đếnkhông có khả năng trả nợ

d Tác động của rủi ro tín dụng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng và nền kinh

tế xã hội

- Ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng: NH không

thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng NH phải trả vốn và lãi cho khoản tiền

Trang 10

huy động khi đến hạn, điều này sẽ làm cho ngân hàng mất cân đối trong việc thu chi,vòng quay vốn tín dụng giảm làm cho ngân hàng kinh doanh không hiệu quả, chi phí củangân hàng tăng lên so với dự kiến Nguy cơ RRTD càng cao, ngân hàng phải trích lập

dự phòng càng lớn ảnh hưởng đến lợi nhuận đạt được

- Ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội: Khi phải đối phó với RRTD,

các NH sẽ thực hiện các chính sách tín dụng, ảnh hưởng đến tình hình sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng nền kinh tế: suy thoái, giá cả tăng, sức mua giảm,thất nghiệp tăng, xã hội mất ổn định Chẳng hạn như việc ngân hàng thắt chặt điều kiệntín dụng, điều chỉnh lãi suất cho vay,…làm cho nhiều khoản tín dụng không được chấpnhận sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp

e Một số phương pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng

o Mô hình xếp hạng của Moody và Standard & Poor: Đối với Moody xếp hạng

cao nhất từ Aaa nhưng với Standard & Poor thì cao nhất là AAA Việc xếp hạnggiảm dần từ Aa (Moody) và AA (Standard & Poor) sau đó thấp dần để phản ánhrủi ro không được hoàn vốn cao Trong đó, khoản cho vay trong 4 loại đầu đượcxem như loại cho vay mà ngân hàng nên đầu tư, còn các khoản cho vay bên dướiđược xếp hạng thấp hơn thì ngân hàng không đầu tư (không cho vay)

o Mô hình điểm số Z (Z – Credit scoring model):ây là mô hình do E.I Altman

dùng để cho điểm tín dụng đối với các doanh nghiệp vay vốn Đại lượng Z dùnglàm thước đo tổng hợp để phân loại RRTD đối với người đi vay và phụ thuộcvào:

+ Trị số của các chỉ số tài chính của người vay

+ Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất vỡ nợ của ngườivay trong quá khứ

Từ đó Altman đã xây dựng mô hình điểm như sau:

Z = 1,2X1 + 1,4X2 + 3,3X3 + 0,6X4 + 1,0X5

Trong đó:

X1 = Hệ số vốn lưu động / tổng tài sản (Working Capitals/Total Assets)

Trang 11

X2 = Hệ số lãi chưa phân phối / tổng tài sản (Retain Earnings/Total Assets)

X3 = Hệ số lợi nhuận trước lãi vay và thuế / tổng tài sản (EBIT/Total Assets)

X4 = Hệ số giá trị thị trường của tổng vốn sở hữu / giá trị hạch toán của nợ (MarketValue of Total Equity / Book values of total Liabilities)

X5 = Hệ số doanh thu / tổng tài sản (Sales/Total Assets)

Trị số Z càng cao, thì xác suất vỡ nợ của người đi vay càng thấp (bất cứ công ty nào cóđiểm số thấp hơn 1,81 phải được xếp vào nhóm có nguy cơ RRTD cao)

- Đánh giá rủi ro tín dụng:Các chỉ số thường được sử dụng để đánh

o Tỷ trọng nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay: Theo quy định hiện nay, tỷ

lệ này không được vượt quá 3%

Trang 12

- Phương pháp khác

o Thực hiện đúng các quy định của pháp luật về cho vay, bảo lãnh, cho thuê tàichính, chiết khấu, bao thanh toán và bảo đảm tiền vay Xem xét và quyết địnhviệc cho vay có bảo đảm bằng tài sản hoặc không có bảo đảm bằng tài sản, chovay có bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay, tránh các vướng mắc khi xử

lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ vay Đặc biệt chú trọng thực hiện các giải phápnâng cao chất lượng tín dụng, không để nợ xấu gia tăng

o Phải tăng cường kiểm tra, giám sát việc chấp hành các nguyên tắc, thủ tục chovay và cấp tín dụng khác, tránh xảy ra sự cố gây thất thoát tài sản; sắp xếp lại tổchức bộ máy, tăng cường công tác đào tạo cán bộ để đáp ứng yêu cầu kinh doanhngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế

o Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ phù hợp với hoạt động kinh doanh,đối tượng khách hàng, tính chất rủi ro của khoản nợ của TCTD

o Thực hiện chính sách quản lý RRTD, mô hình giám sát RRTD, phương pháp xácđịnh và đo lường RRTD có hiệu quả, trong đó bao gồm cách thức đánh giá vềkhả năng trả nợ của khách hàng, hợp đồng tín dụng, các tài sản bảo đảm, khảnăng thu hồi nợ và quản lý nợ của TCTD

o Thực hiện các quy định bảo đảm kiểm soát rủi ro và an toàn hoạt động tíndụng:

+ Xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ thống các quy chế, quy trình nội bộ về quản lýrủi ro; trong đó đặc biệt chú trọng việc xây dựng chính sách khách hàng vay vốn, sổ taytín dụng, quy định về đánh giá, xếp hạng khách hàng vay, đánh giá chất lượng tín dụng

Trang 13

thế chấp, cầm cố và bảo lãnh, khởi kiện lên cơ quan tòa án.

o Phân tán rủi ro trong cho vay: không dồn vốn cho vay quá nhiều đối với mộtkhách hàng hoặc không tập trung cho vay quá nhiều vào một ngành, lĩnh vựckinh tế có rủi ro cao

o Thực hiện tốt việc thẩm định khách hàng và khả năng trả nợ trước khi quyết địnhtín dụng

o Mua bảo hiểm cho các khoản tiền gửi, tiền vay

o Phải có chính sách tín dụng hợp lý và duy trì các khoản dự phòng để đối phó vớirủi ro

o Trước khi cho một khách hàng vay, ngân hàng phải xem xét các điều kiện cơ bảnnhư là: Khả năng trả nợ của khách hàng so với mức cho vay; Trị giá TSĐB sovới mức cho vay; Giới hạn tổng dư nợ cho vay một khách hàng, một nhóm kháchhàng có liên quan;…

2 Rủi ro lãi suất

a Định nghĩa

Rủi ro lãi suất (Interest Rate Risk): là loại rủi ro xuất hiện khi có sự thay đổi của lãi suất thị

trường hoặc của những yếu tố có liên quan đến lãi suất dẫn đến tổn thất về tài sản hoặc làm giảmthu nhập của ngân hàng

Rủi ro lãi suất là thay đổi tiểm tàng về thu nhập lãi ròng và giá trị thị trường của vốn ngân hàngxuất phát từ sự thay đổi của mức lãi suất hay rủi ro lãi suất là rủi ro khi thay đổi lãi suất thịtrường dẫn đến tài sản sinh lời của ngân hàng thương mại giảm giá trị Qua đó, ta thấy rủi ro lãisuất là những tổn hại về thu nhập ròng và giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu của một tổ chứctín dụng, xuất phát từ sự thay đổi của lãi suất thị trường

b Phân loại và nguyên nhân gây ra rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất bao gồm các loại sau:

Rủi ro độ lệch lãi suất: phát sinh khi có những chênh lệch tren số lượng tài sản có, tài sản

nợ và các tài sản ngoại bảng đáo hạn hay được đánh giá lại cho một kỳ hạn định trước theothỏa thuận với khách hàng

Trang 14

Rủi ro về biên độ lãi suất tín dụng: xảy ra khi có thay đổi về biên độ lãi suất tín dụng do

thay đổi quan niệm, nhìn nhận của thị trường về chất lượng tín dụng và tính thanh khoản ởcấp độ chung hay ở một khía cạnh cụ thể

Rủi ro lãi suất cơ bản: phát sinh khi các chỉ số định giá lãi suất chuẩn mà tổ chức tín dụng

sử dụng để định giá sản phẩm thay đổi

Rủi ro quyền chọn: phát sinh từ ảnh hưởng của biến động về lãi suất và thay đổi về giá trị

thị trường của quyền chọn trong danh mục đầu tư của tổ chức tín dụng

c Các chỉ số đánh giá rủi ro lãi suất

i Hệ số rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất =

Tài sản nhạy cảm với lãi suấtNguồn vốn nhạy cảm với lãi suất

ii Hệ số rủi ro lãi suất

Hệ số chênh lệch lãi thuần =

Thu nhập lãi – Chi phí lãi suấtTổng tài sản sinh lời

d Các dấu hiệu nhận biết rủi ro lãi suất

Ngân hàng có các hệ thống đo lường rủi ro lãi suất có khả năng nhận biết hầuhết các nguồn rủi rolãi suất cũng như đánh giá được tác động của biến động lãi suấtđối với phạm vi hoạt độngcủa ngân hàng Đồng thời, ngân hàng cũng có thể ápdụng nhiều hệ thống đo lường rủi

ro cũng như nhiều phương pháp quản trị rủi rocho những hoạt động khác nhau Rủi ro lãisuất có thể xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, và ngân hàng phải có hệ thống đo lường đa

Trang 15

dạng để có thể tiếp cận với từng loại rủi ro lãi suất Dấu hiệu rủi ro lãi suất của ngân hàng cóthể là rủi ro đánh giá lại, rủi ro cơ bản hay rủi ro kỳ hạn.

 Rủi ro định giá lại: Hình thức cơ bản và phổ biến nhất của rủi ro lãi suất xuất phát từ sựchênhlệch thời hạn (trường hợp lãi suất cố định) và việc tái định giá (trường hợp lãi suấtthảnổi) đối với các TSC-TSN và các giao dịch ngoại bảng Trong hoạt động ngânhàng, chênhlệch tái định giá là vấn đề rất cơ bản và cũng làm cho thu nhập cũng như trị giá kinh tếcủa ngân hàng biến động thất thường khi lãi suất thay đổi Ví dụ :ngân hàng tài trợ một khoản vaydài hạn lãi suất cố định bằng nguồn vốn ngắn hạnsẽ có nguy cơ đối mặt với rủi ro thu nhập trongtương lai và trị giá ẩn giảm đi khi lãisuất tăng lên Nguyên nhân là do dòng tiền của khoảncho vay này luôn cố địnhtrong suốt kỳ hạn của nó trong khi chi phí lãi suất phải trả chonguồn vốn huy độngngắn hạn lại biến đổi khi nó đến kỳ hạn

 Rủi ro cơ bản: Rủi ro cơ bản là rủi ro bắt nguồn từ mối tương quan không hoàn hảotrongviệc điều chỉnh mức lãi suất đi vay và cho vay đối với các sản phẩm tài chínhcócùng đặc điểm khi quy định lại mức lãi suất Khi lãi suất thay đổi, các chênh lệchnày sẽ dẫnđến thay đổi không mong muốn lên dòng tiền và lợi nhuận của các TSN-TSC và các hạng mụcngoại bảng có cùng thời hạn hoặc có cùng đặc điểm quy địnhlại mức lãi suất

 Rủi ro quyền chọn: Giao dịch quyền chọn cho phép người chủ giao dịch được quyền, chứkhông phải là nghĩa vụ, mua, bán hay theo một cách nào đó làm thay đổi trị giá dòng tiền củacông cụ hay hợp đồng tài chính Đó là các điều khoản được quyền chọn mua hay chọnbán các loại trái phiếu, kỳ phiếu và hàng loạt các công cụ huy động vốnkhác cho phép chủ tàikhoản được quyền rút vốn bất kỳ lúc nào mà không phải chịu phạt Nếu không được quản lýđúng mức, đặc điểm mất cân đối giữa rủi ro - lợi íchcủa các công cụ có tính chất quyền chọn

sẽ đưa ngân hàng đứng trước rủi ro do các quyền chọn này hoàn toàn không có lợi chongân hàng mà chỉ có lợi cho đối tác Nếu ngân hàng đã bán quyền chọn cho khách hàng,

số tiền thu được hay giá trị vốnmà ngân hàng có thể bị mất từ một biến động không có lợicủa lãi suất có thể vượtsố tiền mà ngân hàng đạt đượt nếu lãi suất biến động theo chiềuhướng có lợi Kếtquả là ngân hàng có thể bị rủi ro giảm giá nhiều hơn là thu nhập tăng

e Biện pháp ngăn ngừa rủi ro lãi suất

Đối với ngân hàng nhà nước

Trang 16

- Điều hành linh hoạt, thận trọng chính sách tiền tệ, lãi suất và tỷ giá để tạo môi trường kinh tế

vĩ mô thuận lợi cho hoạt động của các TCTD, kiểm soát lạm phát; hạn chế sử dụng các liệupháp can thiệp hành chính đối với thị trường để tránh gây sốc hoặc làm gia tăng rủi ro đối vớicác TCTD.Một giải pháp khác là ngân hàng có thể sử dụng công nghệ chứng khoán để điềuchỉnh cơ cấu kỳ hạn của bảng cân đối năm Chứng khoán hóa là việc ngân hàng nhóm các tàisản có sinh lời rồi chuyển ra ngoại bảng thông qua trung gian là người được ủy thác – một tổchức được đảm bảo không bị phá sản và hoạt động chuyên nghiệp về phát hành chứng khoán

- Đảm bảo nắm bắt, phân tích, đánh giá kịp thời diễn biến của thị trường tài chính, trong đó,nắm bắt nhanh những diễn biến của các yếu tố thị trường như: lãi suất, tỷ giá, giá vàng, giá

cổ phiếu, dự báo diễn biến tình hình kinh tế có tác động liên quan đến ngân hàng nhằm phục

vụ hiệu quả cho hoạt động quản lý của NHNN Tổ chức và triển khai kịp thời cơ chế chínhsách của NHNN theo chương trình kế hoạch cụ thể đối với các TCTD trên địa bàn, đảm bảothực hiện tốt cơ chế chính sách và hạn chế các rủi ro lien quan đến pháp luật phát sinh

- Cần tập trung thanh tra, giám sát chặt chẽ hoạt động cho vay bất động sản, tín dụng tiêudùng, cho vay đầu tư, kinh doanh chứng khoán, đầu tư; tài trợ dự án, kinh doanh ngoại hối,nghiệp vụ ngân hàng mới

- NHNN cần hình thành cơ chế điều hành lãi suất, cùng với nghiệp vụ thị trường mở theohướng khuyến khích các NHTM vay mượn lẫn nhau trên thị trường trước khi tiếp cận nguồnvốn NHNN

- Cần phải có những chế tài xử phạt đối với các TCTD không thực hiện chuyển nợ quá hạntheo đúng quy định, đồng thời theo dõi tỷ lệ nợ quá hạn của các TCTD để được phản ánh đầy

đủ, chính xác chất lượng tín dụng của TCTD

Đối với các Ngân hàng TMCP trong nước

- Kiềm chế tốc độ tăng trưởng và kiểm soát chất lượng tăng trưởng TSC và dư nợ tín dụng đểđảm bảo an toàn tăng trưởng và hiệu quả kinh tế theo quy mô Việc mở rộng quy mô hoạtđộng phải gắn liền với việc cải thiện tương xứng về năng lực quản trị, kiểm soát hoạt động

- Nâng cao năng lực quản trị điều hành trên cơ sở áp dụng các nguyên tắc, thông lệ quản trịngân hàng hiện đại Trước hết, cần quan tâm hoàn thiện các chính sách, quy trình, thủ tục nội

bộ phù hợp để kiểm soát có hiệu quả các rủi ro trọng yếu Nhanh chóng giảm tỷ lệ nợ xấu của

Trang 17

hệ thống ngân hàng xuống mức trung bình trong khu vực vào năm 2010; tiếp tục tăng cườngnăng lực tài chính cho các NH TMCP;

- Đẩy nhanh tiến độ hiện đại hĩa cơng nghệ ngân hàng, tăng cường trang bị các trang thiết bịhiện đại phục vụ cơng tác thu thập và xử lý thơng tin; tiếp tục triển khai các mơ hình tổ chức

và mơ thức quản trị hiện đại, phù hợp với chuẩn mực và thơng lệ quốc tế; phát triển hệ thốngthơng tin quản trị; tăng cường nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới; đa dạng hĩa dịch vụngân hàng đặc biệt là các dịch vụ phi tín dụng

- Các NHTM phối hợp với các đơn vị liên quan thường xuyên tổ chức các khĩa đào tạo và bồidưỡng kiến thức để nâng cao năng lực đánh giá, đo lường, phân tích rủi ro cho cán bộ Trongviệc đánh giá rủi ro, yếu tố kinh nghiệm của nhân viên rất quan trọng nên NHTM cần đào tạo

và nuơi dưỡng một đội ngũ cán bộ chuyên mơn hĩa và cĩ kinh nghiệm về quản lý rủi ro.Trong quản trị TSN – TSC, các Ngân hàng cần phân loại các kỳ hạn theo đúng bản chất của

nĩ Cụ thể: đối với các khoản tiền gửi rút gốc linh hoạt, khi phân tích kỳ hạn khơng được dựavào kỳ hạn khách hàng cam kết gửi mà phải đưa vào khoản tiền gửi khơng kỳ hạn Nghiêmtúc thực hiện quy định về việc tính số tiền dự trữ bắt buộc phải duy trì, các khoản tiền gửi cĩ

kỳ hạn ghi trên hợp đồng phải phản ánh đúng kỳ hạn mà khách hàng thực gửi

- Xây dựng quy trình xét duyệt tín dụng chặt chẽ để cĩ thể xây dựng được kế hoạch giải ngântương đối chính xác Đồng thời thiết lập tốt mối quan hệ với khách hàng để cĩ những dự báođúng về khả năng rút vốn, khả năng trả nợ của khách hàng nhằm phục vụ tốt cơng tác dự báothanh khoản của ngân hàng Xây dựng cơ cấu đầu tư hợp lý, bên cạnh việc tập trung đầu tưvào lĩnh vực truyền thống của ngân hàng, cần mở rộng sang những lĩnh vực khác để cĩ thểgiảm thiểu rủi ro do yếu tố khách quan mang lại

3 Rủi ro tỷ giá hối đối:

a Khái niệm:

Rủi ro tỷ giá là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay ngoại tệ hoặc quá trình kinh doanh ngoại tệ của ngân hàng khi tỷ giá biến động theo chiều hướng bất lợi cho ngân hàng

-NH cho vay, đi vay bằng ngoại tệ.

-NH kinh doanh ngoại tệ.

b Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tỷ giá:

- Có 2 nguyên nhân chính làm phát sinh rủi ro tỷ giá

Ngày đăng: 14/12/2013, 15:19

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w