1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG QUĨ VÌ NGƯỜI NGHÈO

117 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,83 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chính phủ đã đầu tư kinh phí cho chương trình xoá đói giảm và hỗ trợ các xã, huyện đặc biệt khó khăn trong cả nước; các địa phương, bộ, ngành, đoàn thể đã triển khai thực hiện chương trì

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của bản thân tác giả Các kết quả nghiên cứu và các kết luận trong luận văn là trung thực, không sao chép từ bất kỳ một nguồn nào và dưới bất kỳ hình thức nào.Việc tham khảo các nguồn tài liệu (nếu có) đã được thực hiện trích dẫn và ghi nguồn tài liệu tham khảo đúng quy định

Tác giả luận văn

Trần Thị Phương Tân

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin trân trọng cám ơn các thầy, côvà các đồng nghiệp tại phòng Đào tạo Đại học và Sau đại học đóng góp ý kiến cho việc soạn thảo tài liệu Hướng dẫn trình bày Luận văn thạc sĩ này

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠNDANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH ẢNHDANH MỤC BẢNG BIỂU ii

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH ẢNHDANH MỤC BẢNG BIỂU vi

DANH MỤC VIẾT TẮTPHẦN MỞ ĐẦU viii

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG QUỸ VÌ NGƯỜI NGHÈO 5

1.1 Cơ sở lý luận về Quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo 5

1.1.1 Khái niệm vai trò quỹ vì người nghèo 5

1.1.2 Nguyên tắc quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo 10

1.1.3 Công cụ quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo 11

1.1.4 Nội dung quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo 11

1.1.5 Những đối tượng tham gia quản lý quỹ vì người nghèo 14

1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý quỹ vì người nghèo 17

1.2.1 Chính sách của Nhà nước 17

1.2.2 Phát triển kinh tế - xã hội 19

1.2.3 Chuẩn quy định hộ nghèo 19

1.2.4 Hoạt động của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, Ban vận động Ngày vì người nghèo các cấp 22

1.3 Bài học thực tiễn về quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo 23

1.3.1 Những kinh nghiệm về quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo ở các địa phương 23

1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý sử dụng quỹ vì nghèo của huyện Hạ Hòa 25

1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu 26

1.4.1 Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài 26

1.4.2 Các nghiên cứu của các tác giả trong nước 28

Kết luận chương 1 29

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG QUĨ VÌ NGƯỜI NGHÈO CỦA HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ 31

Trang 4

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên 31

2.1.2 Đặc điểm về xã hội 33

2.1.3 Đặc điểm về kinh tế 41

2.2 Thực trạng quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 – 2018 46

2.2.1 Cơ cấu bộ máy quản lý quỹ vì người nghèo 46

2.2.2 Về chính sách của tỉnh, huyện đối với công tác xóa đói, giảm nghèo 47

2.2.3 Tiêu chí xác định hộ nghèo 54

2.2.4 Quản lý thu quỹ vì người nghèo 59

2.2.5 Quản lý chi quỹ vì người nghèo 61

2.2.6 Hoạt động kiểm tra, giám sát 64

2.3 Đánh giá thực trạng quản lý quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ 65

2.3.1 Những kết quả của quĩ vì người nghèo ở huyện Hạ Hòa 65

2.3.2 Những hạn chế của quản lý sử dụng quĩ vì người nghèo 68

Kết luận chương 2 71

CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG QUỸ VÌ NGƯỜI NGHÈO CỦA HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ 72

3.1 Quan điểm, định hướng về việc quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo trên địa bàn huyện Hạ Hòa 72

3.1.1 Quan điểm về việc quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo 72

3.1.2 Mục tiêu về phát triển kinh tế - xã hội, mục tiêu về xóa đói giảm nghèo trên địa bàn huyện Hạ Hòa 72

3.1.3 Mục tiêu quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo đến năm 2022 73

3.2 Đề xuất tăng cường công tác quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo 74

3.2.1 Đổi mới công tác ban hành văn bản và xây dựng kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện 74

3.2.2 Tăng cường công tác phổ biến tuyên truyền về các chính sách của Nhà nước về Quỹ vì người nghèo 77

3.2.3 Giải pháp tăng cường huy động quỹ vì người nghèo 79

Trang 5

3.2.4 Giải pháp tăng cường quản lý thu quĩ vì người nghèo 81

3.2.5 Tăng cường hoạt động giám sát, kiểm tra 85

3.2.6 Nhóm giải pháp hoàn thiện cơ chế chính sách và tổ chức thực hiện quản lý quỹ vì người nghèo 86

3.2.7 Nhóm giải pháp tạo môi trường thuận lợi cho người nghèo, hộ nghèo 90

3.2.8 Các giải pháp hỗ trợ trực tiếp cho người nghèo 93

3.3 Một số kiến nghị 99

3.3.1 Kiến nghị với Chính phủ 99

3.3.2 Kiến nghị với Ban Thường trực Uỷ ban TWMTTQ Việt Nam 100

3.3.3 Kiến nghị đối với Ban quản lý quĩ vì người nghèo huyện Hạ Hòa 101 KẾT LUẬN 103

TÀI LIỆU THAM KHẢO 104

Trang 6

DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH ẢNH

Sơ đồ 2.1 Bộ máy quản lý quỹ vì người nghèo huyện Hạ Hòa 46

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1 Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn 21

Bảng 2.1 Hiện trạng sử dụng đất của huyện Hạ Hòa 34

giai đoạn 2016 - 2018 34

Bảng 2.2 Tình hình biến động dân số và lao động của huyện Hạ Hòa 37

Bảng 2.3 Tình hình phát triển giáo dục đào tạo của huyện Hạ Hòa 40

Bảng 2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Hạ Hòa giai đoạn 2016 - 2018 43 Bảng 2.5 Kết quả thực hiện giảm nghèo của Hạ Hòa 3 năm (2016 - 2018) 44

Bảng 2.6 Thực trạng nghèo của nhóm hộ điều tra 46

Bảng 2.7 Chuẩn nghèo theo thu nhập 56

Bảng 2.8 Tình hình Quỹ vì người nghèo qua giai đoạn từ năm 2016 - 2018 60

Bảng 2.9 Tình hình chi Quỹ vì người nghèo qua giai đoạn từ năm 2016 - 2018 63

Bảng 3.1 Mục tiêu tăng trưởng kinh tế của huyện Hạ Hòa giai đoạn 2019 - 2022 73

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

ĐHTL Đại học Thủy lợi

IEEE Institute of Electrical and Electronics Engineers LVThS Luận văn Thạc sĩ

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

Đói nghèo là một vấn đề xã hội bức xúc của cả thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng; Trên thế giới hiện nay có tới ¼ dân số đang sống trong tình trạng đói nghèo; hàng triệu người không có cơ hội được hưởng những thành quả văn minh tiến bộ của loài người, đói nghèo không chỉ có ở những nước nghèo, chậm phát triển mà ngay cả trong lòng những nước lớn, phát triển; đói nghèo gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng đối với phát triển kinh tế xã hội, tàn phá môi trường sinh thái Đói nghèo không được giải quyết thì không một mục tiêu nào mà cộng đồng quốc tế cũng như các quốc gia đặt ra như tăng trưởng kinh tế, cải thiện đời sống, hòa bình ổn định, đảm bảo các quyền con người được thực hiện

Trong 30 năm đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng và Nhà nước đã đề ra các chủ trương, chính sách nhằm phát triển kinh tế - xã hội, tạo động lực phát triển đất nước; bên cạnh việc phấn đấu cho mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội, Đảng, Nhà nước

đã đặt biệt quan tâm và tạo cơ hội cho người nghèo thoát khỏi cảnh nghèo đói, từng bước xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Chính phủ đã đầu tư kinh phí cho chương trình xoá đói giảm và hỗ trợ các xã, huyện đặc biệt khó khăn trong cả nước; các địa phương, bộ, ngành, đoàn thể đã triển khai thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo với nhiều biện pháp linh hoạt, sáng tạo giúp đỡ hộ nghèo, xã nghèo tháo

gỡ khó khăn như: Vay vốn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Chính sách xã hội, hướng dẫn cách làm giầu, chuyển giao kỹ thuật sản xuất, khám chữa bệnh miễn phí, giúp đỡ

học sinh nghèo được đến trường; xây dựng nhà "Đại đoàn kết", nhà "Mái ấm cho

người nghèo nơi biên giới", nhà tình thương, nhà tình nghĩa Xoá đói giảm nghèo là

chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta, là thể hiện tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, vừa khuyến khích nhân dân làm giàu chính đáng, vừa giúp đỡ người nghèo tự tin vươn lên hoà nhập với sự phát triển chung của đất nước trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng

Trang 10

Công tác xóa đói, giảm nghèo được Đảng bộ huyện Hạ Hòa xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm cần tập trung nguồn lực để sớm đưa huyện Hạ Hòa thoát khỏi tỉnh nghèo, từng bước vươn lên là tỉnh khá trong khu vực Công tác xóa đói, giảm nghèo của tỉnh trong những năm qua tuy đã đạt được nhiều kết quả, song chưa tương xứng với khả năng của tỉnh và tiền lực có thể huy động từ các nguồn lực trong và ngoài huyện

Cho đến nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về công tác xóa đói giảm nghèo, các công trình trước chủ yếu nghiên cứu về chính sách xóa đói giảm nghèo, thực trạng đói nghèo, thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về công tác xóa đói, giảm nghèo, ngay cả nghiên cứu về sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

Xuất phát từ những lý do như trên học viên đã chọn đề tài “Quản lý sử dụng quỹ vì

người nghèo của huyện Hạ Hòa” làm đề tài nghiên cho luận văn thạc sĩ của mình, với

mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé vào công cuộc xoá đói, giảm nghèo của huyện

Hạ Hòa thông qua công tác quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của đề tài là nhằm đánh giá đúng thực trạng của công tác quản lý

sử dụng Quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân; đồng thời phải đề xuất được các giải pháp nhằm tăng cường quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa đến năm 2022 Từ mục đích trên, đề tài

có 3 nhiệm vụ sau:

- Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về: Quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa từ đó rút ra ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của công tác quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa

- Đề xuất được các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa đến năm 2022

Trang 11

Đối tượng nghiên cứu của đề tài: Những vấn đề lý luận và thực tiễn về quản lý quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa

Phạm vi nghiên cứu:

- Về nội dung: Công tác xoá đói, giảm nghèo nói chung, công tác quản lý sử dụng quỹ

vì người nghèo nói riêng đã và đang mang lại nhiều kết quả quan trọng trong việc giảm nghèo nhanh và bền vững; Đề tài quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện

Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ là một nội dung của công tác XĐGN, đề tài nghiên cứu về thực trạng, những thành công, hạn chế và nguyên nhân trong công tác quản lý sử dụng quỹ

vì người nghèo của huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2016 - 2018 Đề xuất giải pháp quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa đến năm 2020

- Về không gian: Địa bàn huyện Hạ Hòa

- Về thời gian: Công tác quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo giai đoạn 2016 – 2018 và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo đến năm 2022

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, học viên đã sử dụng một số phương pháp thu thập dữ liệu sau: Với dữ liệu thứ cấp: Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập qua các số liệu báo cáo của UBND huyện, Ủy ban MTTQ huyện Hạ Hòa, phòng Lao động thương binh và xã hội, Ban Dân tộc huyện, Ban Vận động quỹ vì người nghèo huyện qua các năm 2016 đến 2018; Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020, Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ XIV, nhiệm kỳ 2015 – 2020

Với dữ liệu sơ cấp: Để nghiên cứu sâu hơn và có cơ sở cho các nhận xét, đánh giá về công tác quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa, học viên đã tiến hành nghiên cứu khảo sát, thu thập thêm thông tin sơ cấp qua phương pháp điều tra bằng bảng hỏi được thiết kế sẵn (Phiếu khảo sát, phụ lục,…)

Khảo sát qua lấy ý kiến của lãnh đạo UBND huyện, lãnh đạo Uỷ ban MTTQ huyện, Ban vận động Ngày vì nghèo, lãnh đạo các ngành LĐTB&XH, Ban Dân tộc huyện, lấy

Trang 12

chính sách của huyện đối với công tác xóa đói, giảm nghèo Bảng hỏi được phát cho

150 người

Thời gian khảo sát: Từ tháng 9/2018 đến tháng 11/2018

Kết quả đã khảo sát được thực trạng công tác quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo của huyện Hạ Hòa trong giai đoạn 2016 – 2018; qua nội dung của phiếu khảo sát người dân đã tham gia đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả đối với các chính sách hỗ trợ hộ nghèo và công tác xóa đói, giảm nghèo của huyện

6 Ý nghĩa của vấn đề nghiên cứu

Luận văn đã kế thừa, tiếp thu nhiều tài liệu nghiên cứu liên quan đến công tác xoá đói giảm nghèo, trên cơ sở đó có bổ sung, phát triển phù hợp với yêu cầu của đối tượng nghiên cứu, đó là:

- Làm rõ sự cần thiết khách quan cần tăng cường vai trò của Nhà nước, sự vào cuộc của các cấp, các ngành, sự ủng hộ của các nhà hảo tâm, sự đồng thuận của quần chúng nhân dân đối với công tác XĐGN, đặc biệt là với một tỉnh còn nhiều khó khăn như huyện Hạ Hòa

- Với những kiến nghị và giải pháp đưa ra sẽ góp phần từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống cho đồng bào vùng sâu, vùng xa, vùng cao, biên giới, vùng đặc biệt khó khăn

7 Kết cấu của đề tài

Đề tài được kết cầu, ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3 chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về quản lý sử dụng quỹ "Vì người nghèo" Chương 2: Thực trạng quản lý sử dụng quỹ "Vì người nghèo" của huyện Hạ Hòa giai đoạn 2016 - 2018

Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý sử dụng quỹ "Vì người nghèo" của huyện

Hạ Hòa giai đoạn đến năm 2022

Trang 13

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ SỬ DỤNG QUỸ VÌ NGƯỜI NGHÈO

1.1 Cơ sở lý luận về Quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo

1.1.1 Khái niệm vai trò quỹ vì người nghèo

- Khái niệm về nghèo:

Theo Hội nghị chống đói nghèo khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc, Thái Lan tháng 9/1993 định nhĩa: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng thỏa mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương”

Tại Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát tiển xã hội tổ chức tại Copenhagen - Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn 1 đôla (USD) mỗi ngày cho mỗi người,

số tiền được coi như đủ để mua sản phẩm thiết yếu tồn tại”

Theo quan điểm của Ngân hàng Thế giới WB (World bank):

Ngưỡng nghèo là mốc mà nếu cá nhân hay hộ gia đình có thu nhập nằm dưới mốc này thì bị coi là nghèo Ngưỡng nghèo là yếu tố chính yếu để quy định thành phần nghèo của một quốc gia Theo WB thì đói nghèo là những hộ không có khả năng chi trả cho

số hàng hóa lương thực của mình đủ cung cấp 2.100 calori mỗi người mỗi ngày

Tóm lại những quan niệm về đói nghèo nêu trên đều phản ánh ba khía cạnh chủ yếu của người nghèo đó là:

Có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng dân cư

Không được thụ hưởng những nhu cầu cơ bản ở mức tối thiểu dành cho con người Thiếu cơ hội lựa chọn và tham gia vào quá trình phát triển của cộng đồng

- Khái niệm về xóa đói, giảm nghèo:

Xóa đói là làm cho bộ phận dân cư nghèo sống dưới mức tổi thiểu và thu nhập không

đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì mức sống, từng bước nâng cao mức sống đến mức tối thiểu và có thu nhập đủ để đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống

Trang 14

Giảm nghèo là giúp bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo Điều này được thể hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống Hay giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên mức sống cao hơn

Sự thống nhất giữa hai mục tiêu này: Nếu giảm nghèo đạt được mục tiêu thì đồng thời cũng xóa được đói, Do vậy thực chất giảm nghèo và xóa đói là đồng nghĩa

- Khái niệm về quỹ vì người nghèo:

Tại Quyết định số 901/QĐ-TMTW-BTT, ngày 25/9/2011 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTTQ Việt Nam quyết định ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng "Quỹ vì người nghèo” sửa đổi, khẳng định:

"Quỹ vì người nghèo được hình thành trên cơ sở vận động sự tự nguyện ủng hộ của cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước Quỹ hoạt động không vì mục đích lợi nhuận mà áp dụng hình thức trợ giúp cho người nghèo, hộ nghèo theo chuẩn mực của Nhà nước công bố từng thời kỳ”

Quỹ vì người nghèo được thành lập ở 4 cấp: Trung ương, tỉnh (thành phố), huyện (quận, thị

Tổ chức vận động ủng hộ "Quỹ vì người nghèo” mỗi năm tập trung cao điểm từ 17/10

đến 18/11 và khuyến khích các tổ chức, cá nhân ủng hộ nhiều lần trong năm Tồn quỹ năm trước được chuyển sang năm sau sử dụng"

Sau khi nước nhà giành được độc lập, đời sống kinh tế-xã hội gặp rất nhiều khó khăn Với nỗ lực của Đảng, Nhà nước, nhân dân, công cuộc xóa đói giảm nghèo đã đạt được những kết quả rất quan trọng Tuy nhiên, sau 25 năm giải phóng, một bộ phận dân cư nhất là ở vùng nông thôn, miền núi vẫn còn trong tình trạng nghèo đói

Chính vì vậy, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng các đoàn thể chính trị-xã hội đã nhận

Trang 15

vững Ngày 17-10-2000, hưởng ứng "Ngày thế giới chống đói nghèo" của Liên hợp quốc, trên cơ sở thống nhất với Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã phát động Cuộc vận động "Ngày vì người nghèo", gắn với đó là hình thành Quỹ "Vì người nghèo" trên phạm vi cả nước và lấy ngày 17-10 hàng năm là "Ngày Cả nước vì người nghèo."

Hưởng ứng lời kêu gọi của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, thông qua Cuộc vận động đã huy động được sự hỗ trợ rất lớn của xã hội Cụ thể, từ khi phát động đến nay (17-10-2000 đến 30-9-2016), Quỹ "Vì người nghèo" 4 cấp đã vận động, tiếp nhận được 11.454 tỷ đồng; vận động ủng hộ trực tiếp cho chương trình an sinh xã hội

ở các địa phương được trên 31.150 tỷ đồng Nguồn vốn này đã hỗ trợ người nghèo hết sức có ý nghĩa

Kết quả, từ sự vận động trên, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp đã phối hợp với chính quyền hỗ trợ, xây dựng, sửa chữa gần 1,5 triệu căn nhà Đại đoàn kết cho hộ nghèo; hàng chục triệu lượt hộ nghèo được hỗ trợ về vốn, tư liệu sản xuất; hàng nghìn công trình dân sinh (trường học, trạm xá, cầu dân sinh, đường giao thông nông thôn ) được xây dựng; hàng triệu người được hỗ trợ kinh phí để khám, chữa bệnh

- Vai trò của công tác XĐGN:

Xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội hướng vào phát triển con người, nhất là đối với nhóm người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế -xã hội của đất nước Ngay từ những ngày đầu tiên của chế độ mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa vấn đề xoá đói giảm nghèo vào danh mục những công việc bức xúc của chính phủ cần làm ngay Do đó thấy được vai trò quan trọng của xoá đói giảm nghèo đối với sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội [5]

Có thể nói rằng xoá đói giảm nghèo có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội góp phần khắc phục hậu quả tiêu cực của phân hoá giàu nghèo Nếu để xảy ra tình trạng trên, gây mất ổn định chính trị xã hội, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa Không giải quyết thành công về vấn đề xoá đói giảm nghèo

sẽ không thực hiện được mục tiêu công bằng xã hội và như vậy mục tiêu phát triển bền vững của CNXH cũng không thể thực hiện được

Trang 16

Xoá đói giảm nghèo có vai trò quan trọng tạo tiền đề cơ sở cho sự phát triển xã hội; xoá đói giảm nghèo là một trong những chính sách xã hội hướng vào phát triển con người, nhất là nhóm người nghèo, tạo cơ hội cho họ tham gia vào quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước như: Phát triển kinh tế tăng thu nhập, được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như: học hành, khám chữa bệnh miễn phí, tiếp cận với thông tin khoa học… góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhất là đồng bào sinh sống ở miền núi

Xoá đói giảm nghèo góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội và là cơ sở để bảo vệ môi trường sinh thái

Đói nghèo là một nguy cơ, là một nguyên nhân chủ yếu gây nên tội phạm, các tệ nạn

xã hội, bạo lực, mất an toàn xã hội Nó không chỉ kéo theo hệ quả kinh tế - xã hội nghiêm trọng cho các nước đang phát triển nói chung, miền núi và vùng đồng bào dân tộc nói riêng mà còn là nguyên nhân quan trọng của xung đột, mất ổn định chính trị

Vì vậy xóa đói giảm nghèo là một trong những biện pháp góp phần đảm bảo ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội [5]

Lịch sử đã chứng minh rằng, đói nghèo bao giờ cũng tham gia vào quá trình khai thác bừa bãi tài nguyên, tàn phá môi trường sinh thái Bởi vậy xoá đói giảm nghèo có vai trò cực kỳ quan trọng nhằm bảo vệ môi trường sinh thái giữ gìn thiên nhiên đa dạng hoá sinh học Tạo điều kiện cho khai thác hợp lý tài nguyên ở miền núi

Xoá đói giảm nghèo góp phần mở rộng cơ hội lựa chọn cho cá nhân nhất là nhóm người nghèo nói chung và đồng bào các dân tộc thiểu số ở miền núi nơi có điều kiện sống cực kỳ khó khăn, nâng cao năng lực cá nhân để thực hiện có hiệu quả sự lựa chọn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống Mặt khác xoá đói giảm nghèo tạo điều kiện và cơ hội cho sự phát triển đồng đều giữa các vùng, giảm khoảng cách và sự chênh lệch quá mức về mức sống giữa nông thôn và thành thị, giữa miền núi và miền xuôi, giữa đồng bào các dân tộc thiểu số với đồng bào kinh

Xoá đói giảm nghèo tham gia vào điều chỉnh cơ cấu đầu tư hợp lý hơn, từng bước thực hiện sự phân phối công bằng cả trong khâu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản

Trang 17

Xoá đói giảm nghèo tạo cơ hội cho người nghèo nhất là đồng bào dân tộc thiểu số cư trú ở miền núi có điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội như: giáo dục, chăm sóc sức khoẻ và hưởng thụ các hoạt động văn hoá…

Trong kế hoạch phát triển bền vững của Việt Nam về thực thiện các mục tiêu thiên niên kỷ Việt Nam cam kết dành ưu tiên hàng đầu cho mục tiêu xoá đói giảm nghèo là định hướng quan trọng để tranh thủ sự giúp đỡ nhiều mặt của cộng đồng quốc tế về: Kinh nghiệm, kỹ thuật và nguồn lực, góp phần đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào nền kinh tế thế giới [5]

- Vai trò của quỹ vì người nghèo:

Quỹ vì người nghèo có vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác XĐGN, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế - xã hội, khắc phục hậu quả của sự phân hóa giàu nghèo; tạo cơ hội cho người nghèo có điều kiện cải thiện đời sống, tăng thu nhập, được tiếp cận với các dịch vụ cơ bản như: Học tập, khám chữa bệnh, tiếp cận với thông tin, khoa học công nghệ, khoa học kỹ thuật; góp phần đảm bảo an ninh trật tự, bảo vệ môi trường sinh thái [5]

Trong những năm qua từ nguồn quỹ vì người nghèo đã hỗ trợ tích cực cho chương trình xoá đói giảm nghèo như hỗ trợ các hộ nghèo đang ở nhà dột nát có điều kiện cải

thiện nhà ở, làm nhà "Đại đoàn kết"; xây dựng nhà "Mái ấm cho người nghèo nơi biên

giới"; xây dựng các công trình dân sinh như: Lớp học cắm bản, xây dựng nhà Văn hoá;

hỗ trợ người nghèo đón Tết; hỗ trợ vốn sản xuất cho hộ nghèo; hỗ trợ học sinh nghèo sinh viên được đến trưởng, làm đường giao thông nông thôn, đường giao thông liên bản, liên xã,

Giúp cho người nghèo được mở rộng cơ hội lựa chọn cho cá nhân nhất là những người nghèo vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, nơi có điều kiện sống cực

kỳ khó khăn, nâng cao năng lực cá nhân để thực hiện có hiệu quả sự lựa chọn việc làm, tăng thu nhập và nâng cao chất lượng cuộc sống; thu hẹp khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng, giữa các đồng bào dân tộc thiểu số và đồng bào kinh

Trang 18

Từ sự hỗ trợ của quỹ vì người nghèo, sự vào cuộc của Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức thành viên, công tác xoá đói giảm nghèo của tỉnh từng bước được quan tâm, đầu tư và triển khai có hiệu quả, tình hình kinh tế - xã hội có bước phát triển khá, mức sống và thu nhập của các hộ nghèo ngày càng được nâng lên rõ rệt về mọi mặt [5]

1.1.2 Nguyên tắc quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo

- Hoạt động của Quỹ theo nguyên tắc tự tạo vốn, tự trang trải các chi phí cho hoạt động vì người nghèo, hộ nghèo, khuyến khích việc Uỷ ban nhân dân cùng cấp hỗ trợ ngân sách cho công tác quản lý quỹ [8]

- Ban vận động "Ngày vì người nghèo” các cấp được sử dụng con dấu riêng để giao

dịch; có tư cách pháp nhân; được mở tài khoản tại hệ thống Kho bạc Nhà nước để theo dõi thu, chi Quỹ

- Quỹ "Vì người nghèo” các cấp chỉ được mở tài khoản tại Ngân hàng để tiếp nhận các khoản ủng hộ bằng ngoại tệ của các tổ chức, cá nhân từ nước ngoài và tiến hành quy đổi ra VND để chuyển về Kho bạc Nhà nước cùng cấp sử dụng theo Quy chế Quỹ

- Ban vận động ở từng cấp có nhiệm vụ về quản lý tài chính như sau:

Chỉ đạo việc xây dựng, quản lý, sử dụng Quỹ; kiểm tra các hoạt động của Quỹ thuộc cấp mình quản lý, đảm bảo thu, chi đúng quy định; thực hiện công khai mọi khoản thu, chi và chấp hành đúng chế độ tài chính, kế toán của Nhà nước

Lập dự toán thu, chi Quỹ báo cáo Ban vận động cấp trên và cơ quan Tài chính cùng cấp Ở cấp Trung ương, Ban vận động lập dự toán thu, chi báo cáo Bộ Tài chính Ban vận động cấp trên trực tiếp có quyền điều tiết số tiền huy động được từ cấp có nguồn thu cao sang cấp có nguồn thu thấp Việc điều chuyển do Trưởng ban vận động cấp trên quyết định, sau khi có sự trao đổi thống nhất với cấp bị điều tiết, để sử dụng

theo các nội dung chi quy định tại Điều 8, Quyết định số: 901/QĐ-MTTW, ngày 25/4/2011 “Về việc ban hành Quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng quỹ Vì người

nghèo” sửa đổi

Trang 19

1.1.3 Công cụ quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo

- Quản lý bằng văn bản pháp luật: Trên cơ sở các Văn bản luật và văn bản quy phạm pháp luật về quản lý tài chính; Thông tư 77/2007/TT-BTC ngày 05/7/2007 của Bộ Tài

chính về hướng dẫn kế toán áp dụng cho “Quỹ vì người nghèo”; các văn bản của UBND

tỉnh ban hành các quy định về sử dụng kinh phí đối với công tác xoá đói, giảm nghèo; nguồn ngân sách cấp cho Ban vận động thực hiện cuộc vận động, kinh phí huy động từ nhân dân,

- Quản lý thông qua các cơ quan, đơn vị: Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì việc vận động xây dựng Quỹ; Phối hợp với các Bộ ngành liên quan trong việc quản lý và sử dụng Quỹ, cụ thể như sau: Bộ Lao động- Thương binh và Xã hội hướng dẫn xác định đối tượng hộ nghèo được hỗ trợ căn cứ vào chuẩn nghèo theo quy định của Nhà nước Uỷ ban Dân tộc và miền núi xác định mức hỗ trợ đối với người nghèo, hộ nghèo ở các xã đặc biệt khó khăn miền núi cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới, hải đảo Bộ Tài chính hướng dẫn, kiểm tra, giám sát việc thu, chi Quỹ theo đúng pháp luật và chế độ tài chính, kế toán, thống kê của Nhà nước

- Quản lý thông qua dư luận của quần chúng nhân dân: Trong triển khai các chính sách liên quan đến đời sống của nhân dân, ý kiến phẩn hồi của nhân dân có yếu tố quyết định đến sự thành công hay thất bại, chính sách nhận được sự đồng thuận, sự ủng hộ của nhân dân thì được nhân dân hưởng ứng, nhân dân tham gia thực hiện; chính sách

đi ngược lại lòng dân và nhân dân không đồng thuận thì chính sách đó không được triển khai thực hiện Nhân dân không chỉ phản hồi về chính sách mà còn phản hồi cả

về thái độ phục vụ nhân dân của cán bộ được thay mặt nhà nước trực tiếp làm việc với nhân dân [8]

1.1.4 Nội dung quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo

Quản lý Quĩ vì người nghèo:

- Quản lý quĩ vì người nghèo là một hình thức của quản lý kinh tế, có sự tác động giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý "Việc quản lý, sử dụng quỹ vì người nghèo được

Bộ Tài chính, Uỷ ban Trung MTTQ Việt Nam ban hành các văn bản quy định rất chặt

Trang 20

1 Công tác kế toán, quyết toán thu, chi và quản lý quỹ:

Quỹ vì người nghèo các cấp phải tổ chức và thực hiện công tác kế toán, thống kê theo

quy định của pháp luật về kế toán, thống kê; mở sổ sách ghi chép đầy đủ danh sách các

cơ quan, tổ chức, cá nhân đóng góp, tài trợ và danh sách, địa chỉ các đối tượng được Quỹ vì người nghèo giúp đỡ

Việc hạch toán kế toán, quyết toán kinh phí của Quỹ vì người nghèo thực hiện theo Thông tư 77/2007/TT-BTC ngày 05/7/2007 của Bộ Tài chính về hướng dẫn kế toán áp dụng cho Quỹ vì người nghèo Nghiêm cấm việc để ngoài sổ sách kế toán bất kỳ khoản thu, chi, một loại tài sản, tiền quỹ, công nợ hay khoản đóng góp nào của các đơn

vị, tổ chức, cá nhân

Đối với các nguồn viện trợ, thực hiện theo dõi, hạch toán và quyết toán theo đúng các quy định hiện hành của Nhà nước về việc tiếp nhận, quản lý, sử dụng các nguồn viện trợ

Hàng quý, năm, quỹ vì người nghèo các cấp có trách nhiệm lập báo cáo tài chính và quyết toán thu, chi Quỹ báo cáo Ban vận động cùng cấp, Ban Thường trực Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cùng cấp và Ban vận động cấp trên"

2 Công tác quản lý Quỹ:

Quỹ vì người nghèo phải thực hiện công khai mọi khoản thu, chi và chấp hành đúng chế độ tài chính, kế toán của Nhà nước nhằm cung cấp những thông tin cần thiết phục vụ cho công tác quản lý, chỉ đạo điều hành thu, chi của Quỹ

Định kỳ và đột xuất, Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc và cơ quan tài chính cùng cấp có trách nhiệm kiểm tra việc quản lý, sử dụng nguồn tài chính của Quỹ Trưởng Ban vận động từng cấp chịu trách nhiệm trước pháp luật về toàn bộ hoạt động thu, chi của Quỹ

- Nghiêm cấm các tổ chức, cá nhân lợi dụng việc thành lập và hoạt động của Quỹ để

thu lợi và hoạt động bất hợp pháp"

- Quỹ "Vì người nghèo" được sử dụng theo nguyên tắc dân chủ, công khai và được hỗ trợ đúng đối tượng vào các nội dung:

Trang 21

Hỗ trợ cho người nghèo, hộ nghèo, trợ giúp tiền mua vật tư nông nghiệp như giống

cây, con ; Trợ giúp xây dựng mới và sửa chữa nhà ở; Trợ giúp cho con đi học; Trợ giúp chữa bệnh khi ốm đau nằm viện dài ngày; Trợ giúp cứu đói khi cần thiết

Mức chi, cụ thể cho các nội dung nêu trên do Trưởng Ban vận động Quỹ từng cấp

quyết định sau khi có ý kiến thống nhất của các thành viên Ban vận động Quỹ, bảo đảm phù hợp với tình hình thực tế và khả năng của Quỹ Đối với các dự án được tài trợ, nội dung và mức chi thực hiện theo thoả thuận hoặc văn bản ký kết giữa Quỹ và nhà tài trợ

3 Chi cho hoạt động quản lý quỹ: Các khoản chi hoạt động quản lý Quỹ không được

vượt quá 5% tổng số tiền thu hàng năm của Quỹ ở từng cấp; Nội dung chi hoạt động quản lý Quỹ bao gồm: Chi công tác tuyên truyền, vận động huy động nguồn lực cho Quỹ; Chi cho công tác khen thưởng các đơn vị, tổ chức, cá nhân có công đóng góp cho hoạt động của Quỹ; Chi Hội nghị sơ kết, tổng kết; Chi công tác phí phục vụ công tác chỉ đạo, kiểm tra; Chi lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho cán bộ hợp đồng Quỹ; Chi thanh toán dịch vụ công cộng; Chi văn phòng phẩm; Các khoản chi nghiệp

vụ khác [8]

Mức chi cho các nội dung nêu trên theo định mức, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước đối với cơ quan hành chính, sự nghiệp Riêng đối với các khoản chi cho các hoạt động nghiệp vụ đặc thù của Quỹ (khoản 8) nêu trên, mức chi cụ thể cho từng nội dung do Trưởng Ban vận động Quỹ từng cấp quyết định sau khi có ý kiến thống nhất của các thành viên Ban vận động Quỹ

- Tuỳ theo tình hình thực tế, “Quỹ vì người nghèo” các cấp có thể được phân bổ cho

các tổ chức thành viên của MTTQ cùng cấp để chăm lo cho hộ nghèo theo quy chế quỹ"

4 Giám sát quỹ:

Việc triển khai thực hiện làm nhà ở cho hộ nghèo từ nguồn kinh phí hỗ trợ của “Quỹ người nghèo”, “Quỹ cứu trợ” tỉnh đối với các đối tượng:

Trang 22

+ Nhà ở cho hộ nghèo đã được các đơn vị khảo sát gửi về Ban vận động “Ngày vì người nghèo” tỉnh cuối năm 2014 để hỗ trợ làm nhà ở

+ Nhà ở cho hộ nghèo đối với các đơn vị nằm trong diện được hỗ trợ làm nhà tránh bão lũ theo Quyết định 48 của Thủ tướng Chính phủ (nếu có)

- Việc phân bổ nguồn hỗ trợ, lựa chọn đối tượng, tiến độ làm nhà và giải ngân nguồn kinh phí trích từ nguồn Quỹ “vì người nghèo”, “Quỹ cứu trợ” của tỉnh hỗ trợ làm nhà

ở cho hộ nghèo có hoàn cảnh khó khăn

1.1.5 Những đối tượng tham gia quản lý quỹ vì người nghèo

Tại điều 9, chương 3, Quy chế xây dựng, quản lý và sử dụng quỹ vì người nghèo sửa đổi, ban hành kèm theo Quyết định số 901/QĐ-TMTW-BTT, ngày 25/9/2011 của Ban Thường trực Uỷ ban Trung ương MTTQ Việt Nam, quy định về Tổ chức, quản lý và điều hành quỹ vì người nghèo, như sau:

- Ban vận động “Ngày vì người nghèo" các cấp đồng thời là Ban vận động “Quỹ vì người nghèo”:

Ban vận động cấp Trung ương do Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam quyết định thành lập trên cơ sở có sự thống nhất giữa Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam với Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc, Bộ

Tài chính

Trang 23

Ban vận động cấp Trung ương do Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam làm Trưởng ban; Lãnh đạo Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, Ủy ban Dân tộc làm phó Trưởng ban

Các thành viên bao gồm: đại diện lãnh đạo Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt

Nam, Bộ Tài Chính, Hội Liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam, Hội chữ thập đỏ Việt Nam, Liên hiệp các tổ chức Hữu nghị Việt Nam, Liên minh các hợp tác xã Việt Nam, Phòng Thương mại và Công

nghiệp Việt Nam, Uỷ ban người Việt Nam ở nước ngoài, Báo Nhân dân, Đài Truyền

hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam

Ban vận động cấp tỉnh do Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh quyết định thành lập trên cơ sở đề nghị của Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp tỉnh, Giám đốc Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Trưởng ban Dân tộc, Sở Tài chính Ban vận động cấp tỉnh do Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc cấp tỉnh làm Trưởng ban; Lãnh đạo Sở Lao động Thương binh và Xã hội, Ban dân tộc làm phó Trưởng ban; Các thành viên gồm: lãnh đạo một số thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và Sở Tài chính, một số cơ quan báo chí, truyền thông cấp tỉnh

Ban vận động cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện quyết định thành lập theo đề nghị của Thường trực Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, phòng Tổ chức Lao động Thương binh và Xã hội, phòng Tài chính Ban vận động cấp huyện do Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện làm Trưởng ban; Lãnh đạo phòng Tổ chức Lao động Thương binh và Xã hội làm phó Trưởng ban; Các thành viên gồm: đại diện lãnh đạo cấp huyện của một số ngành, một

số tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp huyện, đại diện cơ quan truyền thông cùng cấp

Ban vận động cấp xã do Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã quyết định thành lập theo đề nghị của Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã Ban vận động cấp xã do Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã làm Trưởng ban;

Trang 24

Trưởng ban xoá đói giảm nghèo xã làm phó ban; Các thành viên gồm: đại diện lãnh đạo của một số tổ chức thành viên của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã

- Thường trực của Ban vận động từng cấp gồm Trưởng ban và các phó Trưởng ban

- Ban vận động cấp Trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện có bộ phận giúp việc gồm một

số cán bộ kiêm nhiệm của Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc, Lao động Thương binh và Xã hội, Uỷ ban Dân tộc, Tài chính Văn phòng giúp việc đặt tại cơ quan Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cùng cấp

Ban vận động cấp xã có bộ phận giúp việc đặt tại trụ sở xã

Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam hướng dẫn việc thành lập và hoạt động của bộ phận giúp việc Ban vận động từng cấp

- Đối tượng vận động xây dựng Quỹ được quy định cho từng cấp chủ yếu như sau: Cấp xã, vận động những đối tượng trên địa bàn cấp xã trực tiếp quản lý

Cấp huyện, vận động những đối tượng đang làm việc tại các cơ quan hành chính, đơn

vị sự nghiệp cấp huyện; Các cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức

xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp do cấp huyện trực tiếp quản lý; Các doanh nghiệp do cấp huyện trực tiếp quản lý

Cấp tỉnh, vận động những đối tượng đang làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp cấp tỉnh; Các cơ quan của Đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và

tổ chức xã hội-nghề nghiệp do cấp tỉnh trực tiếp quản lý; Các doanh nghiệp do cấp tỉnh trực tiếp quản lý (trừ các doanh nghiệp Trung ương đóng trên địa bàn ở cấp tỉnh) Cấp Trung ương vận động đối với những đối tượng đang làm việc tại các cơ quan hành chính sự nghiệp cấp Trung ương; Các cơ quan của Trung ương Đảng, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức xã hội và tổ chức xã hội-nghề nghiệp; Các doanh nghiệp do Trung ương trực tiếp quản lý

Đối với lực lượng vũ trang (Thuộc Bộ Quốc phòng, Bộ Công An) ủng hộ theo hệ thống của mình và nộp về Quỹ cấp Trung ương

Trang 25

Các cơ quan, đơn vị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và cá nhân nước ngoài (cả những người Việt Nam đang làm việc và học tập ở nước ngoài) ủng hộ vào Quỹ cấp nào là tuỳ thuộc vào sự tự nguyện của đơn vị, tổ chức, cá nhân đó

- Quỹ có các nguồn thu sau: Các khoản thu từ sự đóng góp tự nguyện bằng tiền hoặc hiện vật của các cơ quan, tổ chức, cá nhân ở trong nước và nước ngoài; viện trợ quốc

tế Tiếp nhận tài trợ có mục đích, có địa chỉ cụ thể để thực hiện theo uỷ quyền của cơ quan, tổ chức, cá nhân tài trợ Lãi thu được từ các khoản tiền gửi, các khoản thu hợp pháp khác (nếu có) [8]

1.2 Nhân tố ảnh hưởng đến quản lý quỹ vì người nghèo

+ Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sản xuất cho các

xã ĐBKK, xã biên giới, xã an toàn khu, các thôn, bản ĐBKK;

+ Chính sách hỗ trợ nhà ở, đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt cho hộ đồng bào DTTS nghèo theo Quyết định 1592/2009/QĐ-TTg và Quyết định 755/QĐ-TTg ngày 20/05/2013 của Thủ tướng Chính phủ;

+ Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP của Chỉnh phủ tại 5 huyện nghèo;

+ Chính sách hỗ trợ di dân thực hiện ĐCĐC theo Quyết định 33/2007/QĐ-TTg;

+ Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho người dân thuộc hộ nghèo theo Quyết định 102/2009/QĐ-TTg;

Trang 26

+ Chính sách đối với người có uy tín trong đồng bào DTTS theo Quyết định 18/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ;

+ Chính sách cấp một số ấn phẩm báo chí cho vùng DTTS và miền núi, vùng đặc biệt khó khăn theo Quyết định 975/2006/TTg và Quyết định 2472/2011/TTg của Thủ tướng Chính phủ;

+ Thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia Nông thôn mới trong đồng bào dân tộc thiểu số;

+ Chương trình quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2011-2015;

+ Quyết định số 85/2010/QĐ-TTg ngày 21/12/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành một số chính sách hỗ trợ cho học sinh bán trú và trường phổ thông dân tộc bán trú;

+ Quyết định số 12/2013/QĐ-TT ngày 24/01/2013 của Thủ tướng Chính phủ Quy định chính sách hỗ trợ học sinh trung học phổ thông ở vùng có điều kiện KT-XH đặc biệt khó khăn;

+ Quyết định số 36/2013/QĐ-TTg ngày 18/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc Chính sách hỗ trợ gạo cho học sinh tại các trường ở khu vực có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;

+ Nghị định số 134/2006/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2006 của Chính phủ Quy định chế độ cử tuyển vào các cơ sở giáo dục trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp thuộc hệ thống giáo dục quốc dân;

+ Chính sách hỗ trợ cho hộ nghèo vay vốn theo Quyết định 32/2007/QĐ-TTg và Quyết định 54/2012/QĐ-TTg;

+ Chính sách hỗ trợ hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ;

+ Chính sách hỗ trợ người có công với cách mạng về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 24/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ".[18tr7]

Trang 27

Các chính sách trên giúp người nghèo có điều kiện phát tiển khi tế - xã hội, tiếp cận với các nhu cầu, dịch vụ thiết yếu để người nghèo có điều kiện vươn lên trong cuộc sống, thúc đẩy nhanh công cuộc xoá đói, giảm nghèo của cả nước nói chung và của tỉnh Sơn La nói riêng

1.2.2 Phát triển kinh tế - xã hội

Trong giai đoạn 2015 – 2017, nền kinh tế của đất nước đã vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, quy mô và tiềm lực được nâng lên; kinh tế vĩ mô dần ổn định, lạm phát được kiểm soát; tăng trưởng kinh tế tuy thấp hơn 5 năm trước, nhưng vẫn đạt tốc độ khá và có chiều hướng phục hồi Đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế

và thực hiện ba đột phá chiến lược được tập trung thực hiện, đạt kết quả tích cực bước đầu; cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa Giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, xã hội tiếp tục phát triển An sinh xã hội được quan tâm nhiều hơn và cơ bản được bảo đảm, đời sống của nhân dân tiếp tục được cải thiện Bảo vệ tài nguyên, môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu

có những chuyển biến tích cực Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, hòa bình,

ổn định được giữ vững để phát triển đất nước Quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, có hiệu quả Vị thế, uy tín quốc tế của nước ta tiếp tục được nâng cao Dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được phát huy [8]

1.2.3 Chuẩn quy định hộ nghèo

Trong những năm qua Việt Nam tồn tại song song một số phương pháp xác định chuẩn nghèo phục vụ cho các mục đích khác nhau, đó là cách xác định chuẩn nghèo của Chính phù do Bộ LĐ-TB&XH công bố Chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới đưa ra để đánh giá nghèo đói trên giác độ vĩ mô, [8]

- Phương pháp xác định chuẩn nghèo của Tổng cục thống kê và Ngân hàng thế giới: Tổng cục Thống kê với vai trò thu thập, công bố và đánh giá số liệu cấp quốc gia và có thể so sánh quốc tế đã cùng ngần hàng thế giới áp dụng phương pháp xác định chuẩn

Trang 28

cuộc khát sát mức sống dân cư ở Việt Nam (các năm 1992 – 1993 và 1997 – 1998) để xây dựng đường đói nghèo

Đường đói nghèo ở mức thấp là đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm, được xác định bởi chi phí cần thiết để mua lương thực, thực phẩm cung cấp đủ lượng calo tiêu dùng bình quân 1 người/ngày (2.100 calo) Đường đói nghèo ở mức cao hơn gọi là đường đói nghèo chung (bao gồm các mặt hàng lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm) Trên cơ sở xây dựng đường đói nghèo Tổng cục Thống kê và Ngân hành thế giới đưa ra chuẩn nghèo của Việt Nam như sau:

- Chuẩn nghèo đói về lương thực, thực phẩm 1993 là 750 nghìn đồng/người/năm và năm 1998 là 1.287nghìn đồng/người/năm tương đương với 92 USD

- Chuẩn nghèo đói chung năm 1993 là 1.160 nghìn/người/năm và năm 1998 là 1.788 nghìn/người/năm tương đương 128 USD

Tuy nhiên phương pháp này có một số hạn chế đó là: Chỉ sử dụng rổ hàng hóa từ năm

1993 đến nay đã hơn 20 năm không thể phản ánh được thực tế tiêu dùng hiện tại của đại đa số người dân Việt Nam Sử dụng chuẩn nghèo duy nhất áp dụng cho cả thành thị và nông thôn, không xác lập được danh sách hộ nghèo của từng địa phương

- Phương pháp xác định chuẩn nghèo theo tiêu chí quốc gia:

Đến nay chuẩn nghèo đói theo tiêu chí Quốc gia đã được xây dựng qua 6 giai đoạn, giai đoạn đầu chuẩn nghèo được xác định dựa vào nhu cầu chi tiêu, sau đó chuyển sang mức thu nhập, kết quả của các lần công bố chuẩn nghèo đói cho từng giai đoạn khác nhau (Bảng 1.1)

Trang 29

Bảng 1.1 Chuẩn mực đánh giá nghèo đói qua các giai đoạn

Loại hộ Địa bàn Thu nhập bình quân/người/tháng qua các giai đoạn

- Miền núi hải đảo <15kg gạo <15kg gạo 80.000đ

- Đồng bằng trung du <20kg gạo <20kg gạo 100.000đ

(Nguồn: Theo Bộ Lao động - Thương binh và xã hội Việt Nam)

Trang 30

Ở mỗi giai đoạn khác nhau, chuẩn quy định hộ nghèo cũng khác nhau, khi chuẩn quy định hộ nghèo thay đổi thì số hộ nghèo cũng thay đổi, chuẩn thay đổi tăng lên theo thu nhập thì số hộ nghèo cũng tăng theo tỷ lệ thuận với chuẩn quy định nghèo Sơn La là một ví dụ, năm 2010 Chính phủ đang áp dụng chuẩn quy định hộ nghèo có thu nhập bình quân đối với khu vực nông thôn là từ 200.000đ/người/tháng hoặc 2.400.000đ/người/năm trở xuống là hộ nghèo, đối với khu vực thành thị là 260.000đ/người/tháng hoặc 3.120.000đ/người/năm trở xuống là hộ nghèo; với chuẩn quy định nghèo như trên, năm 2010 Phú Thọ có số hộ nghèo giảm còn trên 28%; năm

2011 chuẩn quy định hộ nghèo của Chính phủ có thay đổi nâng mức thu nhập bình quân đối với khu vực nông thôn là từ 400.000đ/người/tháng hoặc

4.800.000đ/người/năm trở xuống là hộ nghèo, đối với khu vực thành thị là từ 500.000đ/người/tháng hoặc 6.000.000đ/người/năm trở xuống là hộ nghèo, thì số hộ nghèo cũng tăng lên 31,91%

1.2.4 Hoạt động của các cấp chính quyền, các tổ chức chính trị xã hội, Ban vận động Ngày vì người nghèo các cấp

Cuộc vận động Ngày vì người nghèo được phát động từ năm 2000 đến nay đã tác động tích cực đến công tác xoá đói, giảm nghèo nói chung và sự tham gia đóng góp quỹ vì người nghèo nói riêng; từ cuộc vận động trên đã kêu gọi được rất nhiều nguồn lực tham gia công tác xoá đói, giảm nghèo; kêu gọi sự hảo tâm của cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân, các cơ quan, đợn vị, doanh nghiệp, doanh nhân, các nhà hảo tâm trong và ngoài nước đóng góp bằng vật chất, tinh thần cho công cuộc xoá đói, giảm nghèo [8]

Hàng năm Ban Vận động ngày vì nghèo các cấp luôn được đón nhận sự giúp đỡ cả về vật chất, tinh thần cho cuộc vận động Ngày vì người nghèo; của cấp uỷ, chính quyền, các tổ chức chính trị xã, các cơ quan, đơn vị, các tổ chức, cá nhân; của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, chiến sỹ các lực lượng vũ trang, quần chúng nhân dân, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp, doanh nhân, các nhà hảo tâm đã tích cực tham gia xây dựng quỹ vì người nghèo, đóng góp quan trong vào việc giúp đỡ người nghèo có điều kiện vươn lên trong cuộc sống

Trang 31

Cuộc vận động Ngày vì người nghèo đã ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam, đứng trước các hoàn cảnh khó khăn mỗi người dân luôn sẵn sàng chia sẽ, động viên, nhường cơm sẻ áo với tinh thần "Tương thân, tương ái"; Đất nước còn nhiều khó khăn xong với truyền thống đoàn kết quí báu "Lá lành đùm lá rách" Việt Nam đã có nhiều thành công trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo, duy trì khoảng cách giàu nghèo hợp lý [8]

1.3 Bài học thực tiễn về quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo

1.3.1 Những kinh nghiệm về quản lý sử dụng quỹ vì người nghèo ở các địa phương

1.3.1.1 Kinh nghiệm của Huyện Tân Sơn

Tân Sơn được thành lập năm 2007, trên cơ sở điều chỉnh địa giới hành chính tách huyện Thanh Sơn thành hai huyện Thanh Sơn và Tân Sơn Tách ra từ một huyện nghèo, Tân Sơn trở thành huyện miền núi vùng cao với số dân gần 77 nghìn người, trong đó 82,3% là đồng bào dân tộc thiểu số (đông nhất là dân tộc Mường, Dao, Mông, Tày) Tỷ lệ hộ nghèo chiếm gần 62% Đây là huyện nghèo nhất tỉnh Phú Thọ và cũng

là một trong 62 huyện nghèo của cả nước Chính quyền và nhân dân địa phương đã có nhiều cố gắng trong giảm nghèo Với sự giúp đỡ của nhiều nguồn lực khác nhau đặc biệt là từ Quỹ vì người nghèo của huyện mà cuộc sống của người dân Tân Sơn đã được đổi thay rõ rệt Tỷ lệ hộ nghèo từ 62% (năm 2007) xuống còn 30,34% cuối năm

2017

Mặc dù còn gặp nhiều khó khăn về nguồn lực, đặc biệt là nguồn nhân lực có trình độ;

về nguồn vốn đầu tư, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân huyện Tân Sơn xác định trong giai đoạn tới sẽ tập trung thực hiện các nhiệm vụ về phát triển kinh tế, kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế với đẩy mạnh phát triển văn hoá, xã hội, đảm bảo an sinh xã hội Huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn đầu tư xã hội để tiếp tục thực hiện 3 khâu đột phá về đầu tư kết cấu hạ tầng then chốt, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển kinh tế phục vụ du lịch Để giảm nghèo nhanh và bền vững, Tân Sơn đã và đang tiếp tục triển khai đồng loạt các chính sách đã quy định trong Nghị quyết 30a, đặc biệt là chính sách hỗ trợ sản xuất, tạo việc làm, tăng thu nhập cho người

Trang 32

dân Đảm bảo đạt được các nội dung của đề án giảm nghèo nhanh và bền vững theo Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP của Chính phủ vào năm 2015

1.3.1.2 Kinh nghiệm của huyện Cẩm Khê

Cẩm Khê là một huyện miền núi thuộc tỉnh Phú Thọ, Huyện có 1 thị trấn và 30 xã với

số dân gần 13 vạn người Trong phát triển sản xuất nông nghiệp, huyện đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu, cây trồng, con nuôi nhằm tăng giá trị trên một đơn vị diện tích canh tác Quy hoạch và khuyến khích nông dân chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp để khoanh vùng chăn nuôi thủy sản, đầu tư trồng chè, trồng rừng và chăn nuôi gia súc gia cầm,

Đến nay, diện tích lúa lai, lúa chất lượng cao chiếm 50-70% diện tích gieo trồng của toàn huyện Trong năm 2017, Cẩm Khê gieo trồng được gần 15.000 ha trong đó diện tích trồng lúa hơn 7.600 ha, tổng sản lượng lương thực có hạt hơn 51.000 tấn, năng suất lúa đạt cao nhất từ trước tới nay, bình quân đạt 54,1 tạ/ha Huyện đã nhân rộng được hàng trăm mô hình cánh đồng, khu đồi rừng có thu nhập cao Điển hình như mô hình: Cá rô phi đơn tính, chép lai 3 máu, tôm càng xanh, trồng nấm, khoai tây, đậu tương, ngô lai, lúa lai,

Những năm gần đây, Cẩm Khê đã đẩy mạnh phát triển thủy sản một ngành kinh tế trọng điểm mũi nhọn của huyện với nhiều chính sách Năm 2017, Cẩm Khê duy trì 5 lớp trung cấp nghề, mở 22 lớp sơ cấp nghề cho 842 lao động, góp phần tạo việc làm mới cho 2.203 người Từ việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, đa dạng hóa các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp, chú trọng các chương trình kinh tế trọng điểm, mũi nhọn, Cẩm Khê đã giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống còn 44,9%, tăng mức thu nhập bình quân đạt gần 10,13 triệu đồng/ người/ năm

Để có nguồn lực đầu tư cơ sở hạ tầng, huyện Cẩm Khê đã lồng ghép nhiều chương trình, dự án phát triển kinh tế, nhất là huy động nguồn lực đầu tư xây dựng, cải thiện

cơ sở hạ tầng về giao thông, thuỷ lợi, giáo dục và y tế; tập trung triển khai hiệu quả nhiều dự án lớn trên địa bàn huyện như: Dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai Cẩm Khê còn thực hiện khá tốt các chính sách trợ giúp các đối tượng bảo trợ xã hội theo đúng quy định Năm 2017, cấp trên 41.000 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo, đối

Trang 33

tượng bảo trợ xã hội; hỗ trợ tiền điện cho gần 31.000 lượt hộ nghèo với số tiền trên 3

tỷ đồng; chi trả trợ cấp khó khăn cho 2.572 cán bộ, công chức, viên chức, người hưởng lương hưu có mức lương thấp, người có công, hộ nghèo có đời sống khó khăn với số tiền trên 503 tỷ đồng

Các hoạt động thăm hỏi, tặng quà cho đối tượng chính sách, học sinh nghèo, tạo điều kiện cho học sinh, sinh viên nghèo vay vốn, được tổ chức thường xuyên, góp phần động viên, hỗ trợ kịp thời cho hộ nghèo vươn lên Đến cuối năm 2017, toàn huyện đã đóng góp vốn, công lao động xây dựng xóa xong 1.090 ngôi nhà tạm cho hộ nghèo Triển khai đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp trên, Cẩm Khê đã tạo ra nhiều bước đột phá mới trong công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo từ 30,61% năm 2010 xuống còn 24,78% năm 2017 (giảm 5,83%) Kết quả này sẽ là tiền đề quan trọng để Cẩm Khê tiếp tục phát triển kinh tế - xã hội một cách nhanh và bền vững trong lộ trình giảm nghèo Nhằm phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 20% trong năm 2018, huyện tiếp tục thực hiện các chính sách hỗ trợ người nghèo, đi đôi với việc đẩy mạnh xây dựng cơ sở sản xuất chế biến, phát triển ngành nghề, từng bước đưa khoa học kỹ thuật vào chế biến tiêu thụ sản phẩm và ngoài ra đồng thời đẩy mạnh công tác xuất khẩu lao động

1.3.2 Bài học kinh nghiệm về quản lý sử dụng quỹ vì nghèo của huyện Hạ Hòa

Huyện Hạ Hòa là huyện nằm ở phía Bắc tỉnh Phú Thọ có nhiều nét tương đồng với hai huyện trên Với những kinh nghiệm giảm nghèo từ Quỹ vì người nghèo của địa phương ta có thể rút ra một số kinh nghiệm quý báu cho Huyện Hạ Hòa trong thực hiện quản lý sử dụng Quỹ vì người nghèo góp phần trong công tác giảm nghèo là:

- Tiến hành điều tra cặn kẽ để xây dựng được cơ sở dữ liệu đầy đủ, chính xác, từ đó xác định được quy mô, đặc điểm, mức độ nghèo đói của từng vùng cụ thể để đưa ra chính sách, giải pháp phù hợp nhăm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu giảm nghèo trên địa bàn huyện

- Để làm tốt chương trình giảm nghèo, trước hết phải làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục, nâng cao nhận thức của chính quyền các cấp, nhân dân các xã nghèo, xã đặc

Trang 34

quyền địa phương Đồng thời cần phải chú trọng việc kiện toàn bộ máy chính quyền ở

cơ sở, đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng như phâm chất đạo đức cho cán bộ ở cơ sở để đảm bảo triển khai các chương trình giảm nghèo có hiệu quả

- Xã hội hoá các hoạt động giảm nghèo, tạo ra phong trào sôi động trong toàn huyện, huy động sự tham gia của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, sự chia sẻ trách nhiệm của các cơ quan, đoàn thể và cộng đồng xã hội trong việc giúp người nghèo

- Kinh phí của chương trình giảm nghèo phải được đầu tư có trọng điểm việc đầu tư,

hỗ trợ của chương trình phải gắn chặt với việc hướng dẫn, kiểm tra để đảm bảo cho các nguồn lực được sử dụng đúng mục đích và đạt kết quả KT-XH Thiết lập được cơ chế lồng ghép các chương trình phát triển KT-XH với giảm nghèo, mọi sự giúp đỡ của Nhà nước, cộng đồng phải hướng tới nâng cao năng lực nội tại của hộ nghèo để họ tự vươn lên, tự giải quyết lấy việc làm, thu nhập trong tương lai một cách bền vững

1.4 Tổng quan các công trình nghiên cứu

1.4.1 Các nghiên cứu của các tác giả nước ngoài

Với mục tiêu hỗ trợ cho Chính phủ Việt Nam xây dựng chiến lược tấn công đói nghèo toàn diện, thời gian qua có rất nhiều công trình nghiên cứu của các tác giả trên thế giới

và tổ chức phi chính phủ đã được thực hiện Hầu hết các nghiên cứu này tập trung chủ yếu vào vấn đề đói nghèo, chỉ một số rất nhỏ đánh giá một chính sách hoặc một số chính sách cụ thể trong hệ thống chính sách xóa đói giảm nghèo ở nước ta

Một nghiên cứu được coi là đầu tiên của Ngân hàng thế giới (WB) được thực hiện với

quy mô và phạm vi lớn hơn với tự đề “Đánh giá đói nghèo và chiến lược 1995 Ngân

hàng thế giới, Việt Nam; Đánh giá đói nghèo và chiến lược, Hà Nội

Công trình nghiên cứu này bên cạnh việc đánh giá thực trạng đói nghèo của Việt Nam còn bước đầu hệ thống hóa các giải pháp của hệ thống các chính sách đã được hoạch định và thực hiện tác động đến giảm nghèo ở Việt Nam Kết quả nghiên cứu cho thấy,

để tấn công đói nghèo không chỉ có các chính sách tăng trưởng kinh tế mà cần phải có các chính sách tác động trực tiếp đến người nghèo, trong đó các chính sách; đất đai, cơ

Trang 35

Một nghiên cứu của Chương trình phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP) cũng được tiến

hành đồng thời với tựa đề “ Xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam’", 1995 Điểm nổi bật

trong nghiên cứu này là đã làm rõ nguyên nhân gây ra đói nghèo ở Việt Nam và phân tích các nhóm giải pháp được thực hiện tương ứng để giải quyết các nguyên nhân của đói nghèo Có thể nói các nghiên cứu trên đều có một điểm chung đó là đề cập đến một số chính sách liên quan trực tiếp đến XĐGN Các nghiên cứu này đã góp phần quan trọng giúp cho Chính Phủ trong việc xây dựng chương trình XĐGN giai đoạn 1995-2000 Sau khi triển khai chính sách XĐGN (giai đoạn 1998 - 2000), với hệ thống chính sách trực tiếp tác động đến người nghèo, một loạt các nghiên cứu của các tổ chức phi Chính phủ được thực hiện với mục tiêu tiếp tục hỗ trợ Chính phủ xây dựng chính sách XĐGN trong những giai đoạn tiếp theo

Một nghiên cứu khác về XĐGN là công trình “Nghèo đói và chính sách giảm nghèo

đói ở Việt Nam, kinh nghiệm từ nền kinh tế chuyển đổi của Tuan Phong Don và Hosein

Jalian, 1997 Poverty and Policy of poverty reduction in Vietnam, experience from transformation economy, Hanoi Trong nghiên cứu này các tác giả đã tập trung phân tích, đánh giá một số chính sách giảm nghèo như; chính sách đất đai, chính sách tín dụng ưu đãi cho người nghèo và chính sách xây dựng cơ sở hạ tầng Với việc nghiên cứu những hợp phần cơ bản của chính sách xóa đói gảm nghèo tại Việt Nam, các tác giả đã phác họa tương đối rõ nét về bức tranh nghèo đói cũng như hệ thống chính sách giải quyết vấn đề nghèo đói ở Việt Nam Đồng thời, nghiên cứu đã chỉ ra được tầm quan trọng của các chính sách giảm nghèo trong công cuộc XĐGN ở Việt Nam

Nghiên cứu với tựa đề “tấn công đói nghèo”, 2000 của WB được coi là nghiên cứu

đầu tiên mà trong đó điểm nổi bật là các đánh giá tác động của chính sách XĐGN trên phạm vi toàn quốc, kết quả đánh giá có ý nghĩa rất lớn vì đã chỉ ra những tác động tích cực của các chính sách cũng như những điểm bất hợp lý của hệ thống chính sách giảm nghèo Chính những điểm bất hợp lý mà nhất là những bất hợp lý trong khâu tổ chức thực hiện đã tạo ra rào cản cho việc đạt được mục tiêu của chính sách Đây được xem

là nguồn cứ liệu quan trọng cho công tác hoạch định chính sách XĐGN giai đoạn

20012005 tại Việt Nam

Trang 36

1.4.2 Các nghiên cứu của các tác giả trong nước

Trong giai đoạn 2006-2010, điểm khác biệt so với các giai đoạn trước đó, các nghiên cứu được triển khai theo vùng hay trên phạm vi toàn quốc được thực hiện có phần ít đi

mà thay vào đó là các nghiên cứu tập trung vào những chính sách cụ thể như; đề tài

NCKH cấp bộ: “Đánh giá việc thực hiện chính sách khám chữa bệnh cho người nghèo

ở miền núi phía Bắc”, 2006, của tác giả Nguyễn Thành Trung và các cộng sự đã tập

trung đánh giá tác động của chính sách hỗ trợ y tế cho người nghèo Nghiên cứu của

Viện Chiến lược và Chính sách Y tế: “Tác động của Quỹ khám chữa bệnh cho người

nghèo đối với hộ gia đình tại hai tỉnh Hải Dương và Bắc Giang”, 2005, của tác giả

Đàm Việt Cường Cả hai công trình của hai nhóm tác giả này đều có chung một nhận xét là chính sách có tác động tích cực đên người nghèo nhưng chưa thực sự cao vì nhiêu lý do liên quan đến cơ chế chính sách mà đặc biệt là quá trình tổ chức triển khai thực hiện chính sách, Bên cạnh những nghiên cứu trên, các cơ quan có trách nhiệm

tổ chức thực hiện chính sách XĐGN cũng đã tiến hành những đánh giá riêng lẻ từng chính sách nhưng cũng chưa làm rõ những thành tựu cũng như tồn tại trong quá trình

tổ chức triển khai thực hiện chính sách XĐGN của các cơ quan nhà nước, đặc biệt là chưa đánh giá được hiệu lực và chỉ ra được những yếu tố ảnh hưởng đến hiệu lực thực thi chính sách XĐGN trên phạm vi cả nước nói chung và ở từng vùng lãnh thổ nói riêng Phân lớn các đánh giá này mang nặng tính hành chính nhiều hơn là một nghiên cứu, do đó kết quả của nghiên cứu cũng không phục vụ được nhiêu cho công tác thực hiện chính sách

Năm 2009 có một công trình nghiên cứu luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Hoa

với tựa đề “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến

năm 2015”, đây là một công trình nghiên cứu công phu dựa vào khung lý thuyết vê tân

công đói nghèo của WB và phương pháp đánh giá chính sách đói nghèo Nghiên cứu góp phân bổ sung các vấn đề lý luận và thực tiễn vê công tác hoạch định chính sách XĐGN, qua đó tác giả đã tập trung đánh giá tình hình thực hiện một số chính sách XĐGN chủ yếu Quá trình phân tích và đánh giá được dựa trên các sô liệu cập nhật nhât, đã chỉ ra mặt được mà mỗi chính sách mang lại đồng thời cũng tìm ra các vấn đề bất cập trong triên khai thực hiện chính sách, tác giả đã tiên hành đánh giá chính sách

Trang 37

XĐGN nhằm chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của mỗi chính sách đến công cuộc giảm nghèo của Việt Nam Trên cơ sở đó đề xuất định hướng cũng như giải pháp hoàn thiện chính sách XĐGN của Việt Nam đến năm 2015

Cũng trong năm 2009 một nghiên cứu luận án tiến sĩ của tác giả Lê Văn Bình với đề

tài “Quản lý nhà nước về xóa đói giảm nghèo vùng Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung

bộ trong giai đoạn hiện nay”, nghiên cứu đã hệ thông hóa lý luận và kinh nghiệm thực

tiễn của Việt Nam và khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ trong việc giải quyết đói nghèo từ đó tạo ra cơ sở lý luận để đổi mới công tác quản lý nhà nước về XĐGN nói chung đặc biệt là khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ Từ nghiên cứu của mình tác giả đã đưa ra những ý kiến nhận xét về việc giải quyết, xử lý thực trạng nghèo đói khu vực Bắc Trung bộ và Duyên hải Trung bộ, những điểm mạnh, điểm yếu của chính sách, trong tổ chức bộ máy quản lý và quy trình vận hành nhằm thực hiện mục tiêu XĐGN

Có thể thấy đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về công tác xóa đói giảm nghèo, các công trình trước chủ yếu nghiên cứu về chính sách xóa đói giảm nghèo, thực trạng đói nghèo, thực hiện đề án quốc gia về xóa đói giảm nghèo nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống về công tác xóa đói, giảm nghèo, quản lý quỹ vì người nghèo, ngay cả nghiên cứu về sử dụng các nguồn vốn của Nhà nước về xoá đói, giảm nghèo ở huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ Chính vì vậy việc nghiên cứu công tác quản lý quỹ vì người nghèo ở huyện Hạ Hòa là hết sức cần thiết

Trang 38

tốt chính sách XĐGN thì công tác quản lý Quỹ vì người nghèo phải được đặt lên hàng đầu trong thời gian sắp tới

Nội dung của chương 1 đã tập trung khái quát những vấn đề cơ bản mang tính lý luận

về công tác quản lý Quỹ vì người nghèo như: vai trò của quỹ, nguyên tắc sử dụng quỹ, các công cụ để quản lý quỹ và nội dung quản lý Quỹ vì người nghèo Trong chương này luận văn cũng đã nghiên cứu, phân tích kinh nghiệm của một số địa phương trong công tác quản lý Quỹ vì người nghèo đồng thời rút ra những bài học kinh nghiệm cho huyện Hạ Hòa trong công cuộc XĐGN sắp tới Đồng thời một số các công trình nghiên cứ khoa học có nội dung liên quan đến công tác xóa đói, giảm nghèo đã được đưa ra

Trang 39

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ SỬ DỤNG QUĨ VÌ NGƯỜI NGHÈO CỦA HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

2.1 Đặc điểm kinh tế - xã hội huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ

2.1.1 Đặc điểm về điều kiện tự nhiên

2.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình, khí hậu

- Vị trí địa lý:

Hạ Hòa là một huyện miền núi nằmở phía Bắc của tỉnh Phú Thọ, cách thành phố Việt Trì khoảng 70km, phía Bắc giáp huyện Yên Bình, Trấn Yên, Văn Trấn của tỉnh Yên Bái, phía Tây giáp huyện Yên Lập, phía Đông giáp huyện Đoan Hùng, phía Nam giáp huyện Sông Thao và Thanh Ba

Trên địa bàn huyện có sông Thao chảy qua địa giới của 9 xã hữu ngạn và 11 xã phía tả ngạn, trong huyện có nhiều ngòi lớn như Ngòi Lao, Ngòi Giành, Ngòi Vần, Ngòi Lửa Việt, có một hồ lớn như hồ Ao Châu, Chính Công, Đầm Đào, Đầm Xây, Đầm Thanh Ba, Từ đặc điểm trên đã hình thành trên địa bàn huyện nhiều vùng đất khác nhau, vừa có thuận lợi cho việc phát triển hệ thống thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp và cũng gây ra không ít những ảnh hưởng của thiên tai như lũ lụt, hạn hán ở nhiều xã trong huyện

Với địa bàn chủ yếu là đồi, núi, giao thông đi lại còn khó khăn, dân số phân bố không đồng đều và đặc biệt là trước khi được tái lập năm 1996 thì Hạ Hòa gồm 33 xã thuộc vùng sâu, vùng xa của huyện Thanh Hoà và Sông Thao, do vậy có nhiều khó khăn trong việc phát triển kinh tế, giao lưu văn hoá, khoa học kỹ thuật với các vùng khác trong tỉnh

- Địa hình: Do vị trí địa lý của huyện nằm trong vùng trung du miền núi phía Bắc

nên huyện Hạ Hòa chịu ảnh hưởng và mang đặc điểm của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, thời tiết khí hậu ở đây được chia làm bốn mùa, nhưng biểu hiện thành hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô

- Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 với đặc điểm là oi bức, nắng lắm mưa

Trang 40

- Mùa khô thường kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, thường có gió mùa đông bắc, thời tiết hanh khô và giá rét

Nhiệt độ trung bình hàng năm trên phạm vi toàn huyện là 240C, mức cao nhất là 380C

và thấp nhất là 140C, có những năm trời rét đậm nhiệt độ xuống tới 100C; Độ ẩm trung bình là 85%, biên độ giao động giữa các tháng trong năm khoảng từ 3 - 6%

Hàng năm ở khu vực này vào tháng riêng và tháng hai thường có sương mù và sương muối, vào mùa mưa thỉnh thoảng có mưa đá, gió mùa đông bắc thường xảy ra gây không ít thiệt hại và khó khăn đến sản xuất nông nghiệp, ảnh hưởng đến đời sống và nhân dân trong huyện

- Khí hậu: Hạ Hòa nằm trong khu vực nhiệt đới gió mùa, mang nhiều nét đặc trưng

của khí hậu miền núi phía tây bắc Nhiệt độ trong năm trung bình từ 220 - 240; cao nhất vào tháng 5 - 6 là 33,60, có lúc lên tới 410; thấp nhất vào tháng 1 là 13,40C có lúc xuống tới 40 C Lượng mưa trung bình trong toàn huyện đo được 2.000 mm Mùa mưa

từ tháng 5 - 10, chiếm 80 - 85% lượng mưa cả năm (cao điểm vào các tháng 6,7,8) Mùa khô từ tháng 11 đến tháng 12 chiếm 15-20% lượng mưa cả năm

2.1.1.2 Về tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên nước: Hạ Hòa có nguồn tài nguyên nước dồi dào, với một hệ thống hồ

đầm rất phong phú như đầm Chính Công, Phai Lón (Quân Khê); Móng Hội, Đầm Trì (Lâm Lợi); Láng Thượng, Thùi (Chuế Lưu); Hầm Kỳ (Xuân Áng); Cửa Hoảng (Văn Lang); Khe Bảo, Khe Gân (Vô Tranh); Đầm Đào (Minh Côi); Đồng Phai (Hậu Bổng); Cửa Khâu (Phụ Khánh); Khe Luồn (Yên Luật),

Với mạng lưới sông ngòi và hồ đầm phong phú như vậy không chỉ giúp cho việc cung cấp nước cho sản xuất và sinh hoạt, tạo điều kiện cho giao thông đường thuỷ mà còn giúp cân bằng môi trường sinh thái Bên cạnh đó, Hạ Hòa còn luôn được bổ sung một lượng nước mưa thường xuyên, mức độ trung bình khoảng 2.000 mm/năm Đồng thời

có lượng nước ngầm chất lượng khá tốt và có trữ lượng tương đối lớn Có thể nói, tài nguyên nước ở Hạ Hòa rất dồi dào, tuy nhiên huyện cần có quy hoạch bảo vệ và khai thác một cách hợp lý theo hướng lâu dài, bền vững

Ngày đăng: 19/06/2021, 23:31

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN