.6 iểm soát chặt chẽ các khoản thu chi tài chính và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển văn hóa -
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan tất cả các nội dung của Luận văn này hoàn toàn được hình thành và phát triển từ những quan điểm của chính cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nghiêm Văn Lợi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận văn tốt nghiệp là hoàn toàn trung thực, chưa được ai công bố trong các công trình nghiên cứu khoa học nào trước đó
Tác giả
Triệu Anh Tuấn
Trang 2Xin chân thành cảm ơn!
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC HÌNH VẼ vi
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU vii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ Ở L LU N, TH C TI N V QUẢN L CHI NG N ÁCH NH NƯ C CHO NGHI P PHÁT T IỂN V N H A – THỂ DỤC, THỂ THAO 5
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa – thể dục thể thao 5
1.1.1 Một số khái niệm liên quan 5
1.1 Vai tr của việc tăng cường quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa – thể thao 15
1.1.3 Nội dung quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa – thể dục thể thao 17
1.1.4 Các chỉ tiêu đánh giá quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa – TDTT 25
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa – TDTT 26
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - thể thao 30
1 .1 inh nghiệm quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - thể thao ở một số địa phương Việt Nam 30
1 Bài học rút ra cho huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên trong công tác quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - thể dục thể thao 34
1.3 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đề tài 35
ết luận chương 1 37
CHƯƠNG TH C T ẠNG QUẢN L CHI NGHI P CHO PHÁT T IỂN V N H A – THỂ DỤC THỂ THAO T ÊN ĐỊA B N HUY N VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN 39
Trang 41 Tổng quan về huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 39 1.1 Đặc điểm điều kiện tự nhiên [20] 39 1 Đặc điểm kinh tế - xã hội 40 1.3 Đặc điểm lĩnh vực văn hóa – thể thao trên địa bàn huyện Võ Nhai Thuận lợi – khó khăn trong hoạt động phát triển văn hóa – thể thao trên địa bàn huyện
Võ Nhai [22] 43
* Thuận lợi, khó khăn trong hoạt động phát triển văn hóa – thể thao trên địa bàn huyện Võ Nhai 44 2.2 Phân tích thực trạng quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - thể thao trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 46 1 Các chính sách liên quan đến quản lý chi ngân sách cho văn hóa - thể thao 46 Thực trạng chi sự nghiệp văn hóa – thể thao ở huyện Võ Nhai 46 3 Mô hình quản lý chi N NN cho văn hóa - TDTT ở huyện Võ Nhai 49 4 Quy trình quản lý chi N NN cho văn hóa – TDTT tại huyện Võ Nhai 50 3 Đánh giá chung về quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - TDTT trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 57 3.1 ết quả đạt được quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - TDTT trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 57 3 Những tồn tại và nguyên nhân 60
ết luận chương 64 CHƯƠNG 3 GIẢI PHÁP T NG CƯỜNG QUẢN L CHI NGHI P CHO PHÁT T IỂN V N H A – TDTT T ÊN ĐỊA B N HUY N VÕ NHAI, TỈNH THÁI NGUYÊN 65 3.1 Phương hướng phát triển và tăng cường quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - TDTT trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên đến năm 0 5 65 3.1.1 Phương hướng phát triển văn hóa – TDTT trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 65 3.1 Phương hướng tăng cường quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - thể thao trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 67
Trang 53 Giải pháp tăng cường quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - thể thao
trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên 69
3 .1 à soát và hoàn thiện hệ thống tiêu chí phân bổ ngân sách cho văn hóa – thể thao 69
3 Hoàn thiện công tác lập dự toán chi thường xuyên N NN trong lĩnh vực Văn hóa – TDTT 71
3 .3 Quản lý việc thực hiện dự toán chi thường xuyên N NN cho văn hóa - thể thao 73
3 .4 Tăng cường công tác quản lý qua quyết toán, thanh tra, kiểm tra chi thường xuyên N NN cho văn hóa - TDTT 74
3 .5 Nâng cao năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý chi thường xuyên N NN trong lĩnh vực Văn hóa, TDTT 76
3 .6 iểm soát chặt chẽ các khoản thu chi tài chính và đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển văn hóa - thể dục thể thao 77
3 .7 Các biện pháp hỗ trợ khác 78
ết luận chương 3 81
ẾT LU N V IẾN NGHỊ 82
T I LI U THAM HẢO 85
Trang 6DANH MỤC HÌNH VẼ
Bảng 1 Chi N NN cho văn hóa - TDTT trong chi thường xuyên 47 Bảng ự phát triển ự nghiệp Văn hóa - TDTT 48 Bảng 3 Cơ cấu chi ngân sách huyện cho văn hóa - TDTT theo mục lục ngân sách 54 Hình 4 Cơ cấu các nguồn vốn đầu tư cho sự nghiệp văn hóa, TDTT……….62
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Hình 1.1 Hệ thống Ngân sách nhà nước 7
Hình 1Cơ cấu thu - chi ngân sách huyện Võ Nhai 48
Hình Cơ cấu chi sự nghiệp văn hóa – TDTT huyện Võ Nhai 49
Hình 3 Cơ cấu chi ngân sách huyện cho văn hóa - TDTT huyện Võ Nhai 54
Bảng 4: Cơ cấu ngân sách sự nghiệp Văn hóa – Thông tin, ự nghiệp thể thao và vốn xã hội hóa cho TDTT……… ………64
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
TABMIS Hệ thống thông tin quản lý ngân sách và kho bạc
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội ong, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội, văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hoạt động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội, được biểu hiện trong các kiểu hình thức tổ chức đời sống và hoạt động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra Theo từ điển bách khoa toàn thư người ta định nghĩa "Văn hoá là hoạt động của con người và toàn xã hội nhằm cải tạo tự nhiên" Như vậy văn hoá chính là hoạt động của con người nhằm vào tự nhiên Trong những tài liệu hiện đại, nội dung khái niệm văn hoá phong phú và đa dạng hơn Văn hoá bao gồm hoạt động sáng tạo của con người chinh phục tự nhiên, những phương tiện, phương pháp hoạt động và những kết quả hoạt động đem lại cho cá nhân và xã hội Tương tự, thể thao là tất cả các loại hình hoạt động thể chất và tr chơi có tính cạnh tranh, với mục đích sử dụng, duy trì và cải thiện các kĩ năng và năng lực thể chất, đem lại niềm vui, hứng khởi cho những người tham gia và sự giải trí cho người xem; Nhìn chung người ta coi thể thao là các hoạt động dựa trên sức mạnh hay sự khéo léo thể chất Các đại hội thể thao lớn như Thế vận hội cũng chỉ áp dụng các môn thể thao đáp ứng tiêu chí này, và các tổ chức như Ủy hội châu Âu cũng loại các hoạt động không chứa yếu tố thể chất khỏi danh mục các môn thể thao Vậy Thể dục Thể thao (TDTT) được hiểu là sự luyện tập cơ thể cải tạo cơ thể bằng sự vận động tích cực của cơ bắp Đối tượng của TDTT là điều khiển quá trình phát triển thể chất của con người
Để văn hóa, Thể thao có thể đi đầu, qua đó phát triển nhân tố con người, động lực trực tiếp của sự phát triển Nhất là trong điều kiện hiện nay phát triển nền kinh tế tri thức thì tri thức được coi là một yếu tố quan trọng của lực lượng sản xuất Qua mục tiêu phát triển kinh tế xã hội cho thấy Đảng và Nhà nước ta luôn quan tâm phát triển văn hóa - giáo dục, TDTT không ngừng tăng cường đầu tư cho sự nghiệp Văn hóa, TDTT
Trang 10nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài để đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế mới, thị trường lao động mới ở trong và ngoài nước Phát triển văn hóa - TDTT vừa là mục tiêu, vừa là động lực cho sự phát triển kinh tế xã hội Đối với mỗi quốc gia muốn phát triển nhanh kinh tế, xã hội, bắt kịp thời đại không c n con đường nào khác là phát triển nhanh và mạnh hơn nữa khoa học công nghệ và văn hóa - TDTT Ngân sách Nhà nước vẫn là nguồn tài chính cơ đào tạo chính là hoạt động đầu
tư - đầu tư cho tương lai
Thực trạng đầu tư Ngân sách Nhà nước cho văn hóa - TDTT trong những năm qua cho thấy tỷ trọng chi Ngân sách cho văn hóa - TDTT hàng năm tăng lên đáng kể Lĩnh vực Văn hóa, TDTT được ưu tiên đầu tư nguồn lực lớn từ ngân sách nhà nước (N NN) Theo như số liệu thống kế từ Bộ tài chính trong năm 017 Trong tổng chi từ N TW 90 030 tỷ đồng, cũng bố trí .536 tỷ đồng hỗ trợ hoạt động thường xuyên cho sự nghiệp Văn hóa thông tin và sự nghiệp Thể dục thể thao
Chi ngân sách nhà nước cho phát triển văn hóa - TDTT tại địa phương, đặc biệt tại huyện Võ Nhai nhìn chung trong những năm qua chưa có chiến lược tài chính, công tác quản lý điều hành ngân sách chưa hợp lý, thể hiện từ công tác lập, phân bổ dự toán đến công tác quyết toán Mô hình tổ chức bộ máy quản lý chi ngân sách cho văn hóa - TDTT chưa đáp ứng được nhiệm vụ quản lý ngân sách toàn ngành Đã có một số đề tài nghiên cứu về công tác quản lý cho phát triển văn hóa - TDTT tại huyện Võ Nhai, song chưa có đề tài nào nghiên cứu một cách có hệ thống cơ chế quản lý chi sự nghiệp cho văn hóa - TDTT, trong các đề tài đã nghiên cứu c n một số vấn đề c n bỏ ngỏ cần phải bổ sung để nêu ra các giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện cơ chế quản lý chi sự nghiệp cho văn hóa - TDTT ở huyện Võ Nhai Từ đó hoạt động chi cho sự nghiệp này tại huyện Võ Nhai sẽ có nề nếp, phát huy hiệu quả theo yêu cầu
Do vậy, cần phải có những định hướng chiến lược đúng đắn cũng như cần phải đổi mới và hoàn thiện chính sách, cơ chế quản lý chi Ngân sách cho Văn hóa - TDTT để phát triển Văn hóa - TDTT vì mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ, văn minh Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đang công tác tại Trung tâm Văn hóa, Thể thao - Truyền thông huyện Võ Nhai, tôi mong muốn nghiên cứu các quy định của nhà nước
về vấn đề quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - TDTT, tình hình thực tế của
Trang 11địa phương, từ đó đề xuất các giải pháp, biện pháp góp phần quản lý tốt hơn về văn
hóa - TDTT trên phạm vi địa bàn huyện Chính vì vậy vấn đề, tác giả chọn đề tài "Giải pháp quản l hi n n á h nh n h n hi p phá i n n h – h dụ ,
h h ại huy n Võ Nh i, ỉnh Thái N uyên ", làm đề tài nghiên cứu của Luận văn
thạc sỹ của mình, vừa mang tính lý luận vừa mang tính thực tiễn cao
2 Mục đích nghiên cứu của đề tài
Đề tài nghiên cứu nhằm đề xuất ra một số giải pháp có căn cứ khoa học nhằm tăng cường quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - TDTT tại huyện Võ Nhai
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối ợn n hiên ứu ủ đề i
Công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa - TDTT trên địa bàn huyện và các nhân tố ảnh hưởng
b Phạm i n hiên ứu ủ đề i
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu về công tác quản lý chi ngân sách nhà nước cho
sự nghiệp phát triển văn hóa - TDTT trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu được lấy số liệu khảo sát từ năm 015 – 2018 để phân tích các giải pháp được để xuất đến 0 2
4 Phương pháp nghiên cứu của đề tài
a Phương pháp thu thập thông tin và tổng hợp thông tin
ố liệu thu thập trong luận văn là số liệu sơ cấp được lấy từ nhiều nguồn khác nhau như báo cáo số liệu ph ng Tài chính kế hoạch huyện Võ Nhai, Ph ng Văn hóa - Thông tin huyện, Trung tâm Văn hóa, Thể thao - Truyền thông huyện Võ Nhai như số liệu kiểm kê, dân số, kinh tế - xã hội,…
Trang 12au khi thu thập được các thông tin sơ cấp, tiến hành phân loại, sắp xếp thông tin theo thứ tự ưu tiên về độ quan trọng của thông tin Đối với các thông tin là số liệu thì phải lập trên bảng biểu
b Phương pháp phân tích thông tin
Phân tích định tính: Trên cơ sở số liệu, tài liệu để phân tích những vấn đề đã được giải quyết, những vấn đề cần phải tìm giải pháp giải quyết nhằm đạt được mục tiêu đề ra Trong phân tích có sử dụng các biểu đồ để làm rõ thông tin thu thập được
Phân tích định lượng: Tìm ra những mối quan hệ nhân quả giữa các thông tin, từ đó chỉ ra các vấn đề cần phải xử lý
c Phương pháp xử lý và phân tích số liệu
Phương pháp phân tổ thống kê: Trên cơ sở tổng hợp số liệu sơ cấp, tiến hành phân tích theo từng nội dung của công tác quản lý ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa – thể dục thể thao tại huyện Võ Nhai, từ đó nêu ra những kết quả đạt được và tồn tại trong công tác quản lý
Phương pháp phân tích thống kê mô tả: ố liệu sơ cấp được xử lý dưới dạng bảng biểu thống kê, trên cơ sở đó phân tích hiện trạng thực trạng quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa – thể dục thể thao
Đề tài được thực hiện tổng hợp các phương pháp thống kê kinh tế, phân tích hoạt động kinh tế, đồng thời áp dụng các phương pháp nghiên cứu cả định tính và định lượng để giải quyết nhiệm vụ nghiên cứu
Trang 13CHƯƠNG 1 CƠ Ở L LU N TH C TI N V UẢN L CHI NG N ÁCH NH NƯ C CHO NGHI P PHÁT T IỂN V N H A – THỂ DỤC THỂ THAO
1.1 Cơ sở lý luận về quản lý chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp phát triển văn hóa – thể dục thể thao
1.1.1 Mộ ố khái ni m liên qu n
1.1.1.1 Ngân sách Nhà nước
Luật N NN 2015 có hiệu lực thi hành từ năm ngân sách 2017, đã nêu: “Ngân sách nhà
nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước, đã được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các
chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước” [1]
Đây có thể coi là khái niệm cơ bản được thống nhất khi nghiên cứu về N NN
Nội dung khoa học của N NN: Là phạm trù kinh tế - lịch sử; là phạm trù kinh tế, N NN gắn với sự phát triển của nền sản xuất hàng hóa; là phạm trù lịch sử, nó gắn với sự ra đời
và phát triển của nhà nước và là công cụ kinh tế của nhà nước Nhà nước sử dụng ngân sách để thực hiện các quan hệ phân phối dưới hình thái giá trị các nguồn lực tài chính, bằng việc huy động một bộ phận thu nhập của xã hội dưới hình thức thuế và các hình thức động viên khác để đáp ứng các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của nhà nước
Các quan điểm trên không có sự khác nhau nhiều, chúng đều thể hiện nội hàm của khái niệm N NN trên các góc độ khác nhau nhưng chưa đầy đủ do chỉ mô tả hình thức biểu hiện bên ngoài mà chưa phản ánh được nội dung kinh tế bên trong của N NN Do vậy, cần xem xét N NN một cách tổng thể trên các phương diện
- Xét về mặt hình thức: N NN là một bản dự toán thu và chi do Chính phủ lập ra, đệ trình Quốc hội và giao cho Chính phủ thực hiện
- Xét về mặt thực thể: N NN bao gồm những nguồn thu cụ thể, những khoản chi cụ thể và được định lượng
- Xét trong tổng thể một hệ thống tài chính thống nhất: N NN là khâu chủ đạo trong
hệ thống tài chính quốc gia
Trang 14- Xét về các nội dung kinh tế chứa đựng trong hoạt động của N NN: các khoản thu - luồng nhập quỹ N NN, các khoản chi - nguồn xuất quỹ N NN là quá trình hình thành
và sử dụng quỹ tiền tệ của Nhà nước Trong quá trình đó xuất hiện hàng loạt các quan
hệ tài chính giữa một bên là Nhà nước với một bên là các chủ thể phân phối trong quá trình phân phối nguồn lực tài chính của một quốc gia
Như vậy, thực chất N NN là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của một quốc gia Ở nhiều quốc gia U - Mỹ, N NN được thực hiện với luật ngân sách thường niên Tuy nhiên,
ở Việt Nam chỉ có luật N NN cố định và được bổ sung các khoản thu chi theo yêu cầu tăng trưởng kinh tế của các năm kế hoạch Việc bổ xung này là Quốc hội hoặc Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định
- Bản chất của N NN:
+ Về phương diện pháp lý: N NN là một đạo luật dự trù các khoản thu, chi bằng tiền của Nhà nước trong thời gian ngắn nhất định thường là một năm Đạo luật này được cơ quan lập pháp của quốc gia đó ban hành
+ Về bản chất kinh tế: N NN là hệ thống những mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước
và xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu các chức năng của Nhà nước
Các quan hệ kinh tế này bao gồm:
+ Quan hệ kinh tế giữa N NN với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh
+ Quan hệ kinh tế giữa N NN với các đơn vị HC N
+ Quan hệ kinh tế giữa N NN với các tầng lớp nhân dân
+ Quan hệ kinh tế giữa N NN và thị trường tài chính
+ Quan hệ kinh tế giữa N NN với các hoạt động tài chính đối ngoại
Về tính chất: N NN là bảng tổng hợp các khoản thu, chi của Nhà nước, là mức động viên các nguồn tài chính vào tay Nhà nước, là các khoản cấp phát của Nhà nước cho các nhu cầu tiêu dùng và đầu tư phát triển, đó cũng là đóng góp theo nghĩa vụ hay tự
Trang 15nguyện của mỗi thành viên trong xã hội cho Nhà nước và Nhà nước cấp phát kinh phí đầu tư cho mỗi thành viên xã hội
Hình 1.1 Hệ thống Ngân sách nhà nước
1.1.1.2 Quản lý chi ngân sách nhà nước[2]
a Quản lý chi ngân sách nhà nước
Quản lý chi ngân sách là quá trình phân phối lại quỹ tiền tệ tập trung một cách có hiệu quả nhằm thực hiện chức năng của nhà nước trên cơ sở sử dụng hệ thống chính sách, pháp luật Chi ngân sách mới thể hiện ở khâu phân bổ ngân sách c n hiệu quả sử dụng ngân sách như thế nào thì phải thông qua các biện pháp quản lý õ ràng quản lý chi ngân sách sẽ quyết định hiệu quả sử dụng vốn ngân sách
Quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình thực hiện có hệ thống các biện pháp phân phối và sử dụng quỹ tiền tệ tập trung nhằm phục vụ chi tiêu cho bộ máy và thực hiện các chức năng của Nhà nước Thực chất quản lý chi Ngân sách nhà nước là quá trình
sử dụng các nguồn vốn chi tiêu của Nhà nước từ khâu lập kế hoạch đến khâu sử dụng ngân sách đó nhằm đảm bảo quá trình chi tiết kiệm và hiệu quả, phù hợp với yêu cầu của thực tế đang đặt ra theo đúng chính sách chế độ của nhà nước phục vụ các mục tiêu KT-XH
Trang 16Vấn đề quan trọng trong quản lý chi Ngân sách nhà nước là việc tổ chức quản lý giám sát các khoản chi sao cho tiết kiệm và có hiệu quả cao, muốn vậy cần phải quan tâm các mặt sau:
– Quản lý chi phải gắn chặt với việc bố trí các khoản chi làm cơ sở cho việc quản lý xây dựng quy chế kiểm tra, kiểm soát
– Bảo đảm yêu cầu tiết kiệm và hiệu quả trong việc bố trí và quản lý các khoản chi tiêu ngân sách nhà nước
– Quản lý chi phải thực hiện các biện pháp đồng bộ, kiểm tra giám sát trước, trong và sau khi chi
– Phân cấp quản lý các khoản chi cho các cấp chính quyền địa phương và các tổ chức trên cơ sở phải phân biệt rõ nhiệm vụ phát triển T-XH của các cấp theo luật ngân sách để bố trí các khoản chi cho thích hợp
– Quản lý chi ngân sách phải kết hợp quản lý các khoản chi ngân sách thuộc vốn nhà nước với các khoản chi thuộc nguồn của các thành phần kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp, nâng cao hiệu quả chi
Quản lý chi ngân sách nhà nước là hoạt động không thể thiếu ở mọi quốc gia, hoạt động này không chỉ giúp tiết kiệm những khoản chi không cần thiết mà c n hạn chế tình trạng thâm hụt ngân sách, tham ô, đục khoét
b Nội dung chi ngân sách cho sự nghiệp Văn hóa
Chi ngân sách nhà nước cho sự nghiệp văn hóa là một trong các khoảng cho thuộc nhiệm vụ chi thường xuyên của ngân sách nhà nước với mục tiêu nâng cao tri thức và thẩm mỹ cho mọi tâng lớp nhân dân nhằm xây dựng nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc Và thể hiện có hiệu quả các hoạt động văn hóa nghệ thuật, nhà nước ta cần đầu tư một khoản ngân sách rất lớn cho hoạt động này với các nội dung được quy định cụ thể đó là: chi hệ thống bảo tồn, bảo tàng, thư viện, nhà văn hóa, cho cho các hoạt động sáng tạo văn hóa nghệ thuật, các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác, cho cho các chương trình quốc gia về văn hóa…
c Chi ngân sách cho sự nghiệp TDTT
Ngân sách nhà nước đầu tư cho sự nghiệp TDTT cũng đang chiếm một tỷ trọng lớn trong các mục chi của ngân sách nhà nước Theo thống kê các khoản chi thường tập
Trang 17chung vào các danh mục: Chi cho đầu tư cơ sở hạn tầng, chi cho thể thao thành tích cao, chi cho đào tạo vận động viên, cho cho phát triển thể thao quần chúng, chi cho hoạt động khoa học TDTT
1.1.1.3 Văn hóa
Văn hóa là bao gồm tất cả những sản phẩm của con người Văn hóa bao gồm cả khía cạnh, khía cạnh phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và các khía cạnh vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,… cả khía cạnh cần thiết để làm
ra sản phẩm và đó là 1 phần của văn hóa
Văn hóa là sản phẩm của loài người, văn hóa được tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con người và xã hội ong, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con người và duy trì sự bền vững và trật tự xã hội, văn hóa được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa Văn hóa được tái tạo và phát triển trong quá trình hoạt động và tương tác xã hội của con người Văn hóa là trình độ phát triển của con người và của xã hội, được biểu hiện trong các kiểu hình thức tổ chức đời sống và hoạt động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà do con người tạo ra
Chức năng của văn hóa:
- Chức năng giáo dục:
Là chức năng mà văn hóa thông qua các hoạt động, các sản phẩm của mình nhằm tác động một các có hệ thống đến sự phát triển tinh thần, thể chất của con người, làm cho con người dần dần có những phẩm chất và năng lực theo những chuẩn mực
xã hội đề ra Văn hóa thực hiện chức năng giáo dục không chỉ bằng những giá trị đã
ổn định là truyền thống văn hóa mà c n bằng cả những giá trị đang hoàn thành Các giá trị này tạo thành một hệ thống chuẩn mực mà con người hướng tới Nhờ vậy, văn hóa đóng vai tr quan trọng trong việc hoàn thành nhân cách ở con người, trong việc “ trồng người”
Văn hóa tạo nên sự phát triển liên tục của lịch sử mỗi dân tộc cũng như lịch sử nhân loại Văn hóa duy trì và phát triển bản sắc dân tộc và là cầu nối hữu nghị gắn bó các
Trang 18dân tộc, gắn kết các thế hệ trong mục tiêu hướng đến cái Chân- Thiện- Mĩ
- Chức năng nhận thức:
Là chức năng đầu tiên, tồn tại trong mọi hoạt động văn hóa Bởi con người không có nhận thức thì không thể có bất cứ một hoạt động văn hóa nào Nâng cao trình độ nhận thức của con người là phát huy những tiềm năng ở con người
- Chức năng thẩm mĩ:
Cùng với nhu cầu hiểu biết con người c n có nhu cầu hưởng thụ, hướng tới cái đẹp Con người nhào nặn hiện thực theo quy luật của cái đẹp cho nên văn hóa phải có chức năng này
Văn hóa là sự sáng tạo của con người theo quy luật của cái đẹp, trong đó văn học nghệ thuật là biểu hiện tập trung nhất sự sáng tạo ấy
1.1.1.4 Thể dục thể thao
Thể dục thể thao được coi là một hoạt động: Đây là một hoạt động của con người, nó
là một hoạt động có đối tượng là con người, đặc biệt của hoạt động này là một hoạt động hỗ trợ bổ sung cho hoạt động chính cơ bản Nó là một hoạt động phụ làm tăng hiệu quả của hoạt động chính Nó là hoạt động phụ bổ sung nâng cao hiệu quả hoạt động sống cơ bản TDTT ra đời gắn liền với lao động cụ thể gắn liền với nghề săn bắn Nghề săn bắn đ i hỏi con người phải có sức mạnh khéo léo bền bỉ, phải có kỹ năng leo trèo rình rập b trườn và đặc biệt là lao ném Nhờ có ý thức phát triển mà con người nhận thức được mối liên hệ nhân quả giữa chuẩn bị trước cho lao động và kết quả lao động vì vậy nó nảy sinh hình thức tập luyện để chuẩn bị trước cho lao động Ở những nước Châu Phi, Châu Úc c n lại những di tích chứng tỏ người cổ xưa đã tập luyện săn bắn như hình vẽ của thú vật trên đá
Vậy nó là hoạt động chuẩn bị cho lao động, đi trước lao động để làm tăng hiệu quả của lao động, phục vụ cho lao động đây là chức năng xã hội vốn có của TDTT và lúc đó giáo dục thể chất cũng thuộc phạm trù vĩnh hằng Cùng với sự phát triển của xã hội loài người, tính chất của lao động thay đổi lao động chân tay ngày càng giảm nhẹ lao động trí óc và lao động bằng máy ngày càng tăng lên Nhưng mối quan hệ giữa TDTT
Trang 19với lao động không hề bị xoá bỏ Nếu như trước đây TDTT liên hệ trực tiếp với lao động mang tính thực dụng trực tiếp nhưng ngày nay nó mang tính chất gián tiếp Ảnh hưởng của nó là nâng cao sức khoẻ, chúng thúc đẩy nhanh quá trình hồi phục sau lao động nâng cao khả năng hoạt động thể lực
Thể dục thể thao là tổng hoà giá trị vật chất và tinh thần: Đó là những công cụ phương tiện được sáng tạo ra tác động vào tự nhiên, đó là nhưng giá trị vật chất và tinh thần được lưu trữ và truyền bá ví dụ: Xây nhà phải có những phương pháp dụng cụ sáng tạo
ra gọi là văn hoá (trong trường hợp này TDTT bao gồm những môn tập những bài tập
mà con người sáng tạo ra như thể dục nhịp điệu, thể dục thể hình, phương pháp tập luyện) được sử dụng trong thi đấu và tập luyện
Phát triển thể dục thể thao: đây luôn là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta Ngay từ khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng h a non trẻ mới ra đời, công tác thể dục thể thao, nâng cao sức khỏe cho nhân dân đã được Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm Ngày 7-3-1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã công bố ắc lệnh số 3 thành lập Nha Thanh niên và Thể dục thuộc Bộ Quốc gia Giáo dục, đánh dấu sự ra đời của nền thể dục thể thao cách mạng Việt Nam Từ đó tới nay, dù gặp nhiều khó khăn nhưng thể dục thể thao nước ta vẫn liên tục có những bước phát triển đáng ghi nhận, góp phần vào thắng lợi của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc và xây dựng đất nước Trong xu thế phát triển mới của thể dục thể thao thế giới và điều kiện kinh tế - xã hội
cụ thể của đất nước, ngày 03-1 - 010, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số
19 /QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược phát triển thể dục, thể thao Việt Nam đến năm
2020, trong đó đặt ra mục tiêu của ngành thể dục thể thao Việt Nam là xây dựng và phát triển nền thể dục, thể thao nước nhà, chú trọng đến các nội dung như thể dục, thể thao quần chúng, giáo dục thể chất và thể thao trong nhà trường, thể dục thể thao trong lực lượng vũ trang, thể thao thành tích cao và chuyên nghiệp, góp phần nâng cao sức khỏe nhân dân, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng tuổi thọ của người Việt Nam theo tinh thần vì dân cường, nước thịnh, hội nhập và phát triển Tiếp đó, Nghị quyết số 0 -NQ/TW ngày 01-
1 - 011 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của ảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ về thể dục, thể thao đến năm 0 0 cũng kh ng định: phát triển thể dục, thể
Trang 20thao là một yêu cầu khách quan của xã hội, là trách nhiệm của các cấp ủy đảng, chính quyền và nhân dân; góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân; giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân; mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác quốc tế Quan điểm của Đảng
ta luôn xác định việc đầu tư cho thể dục, thể thao là đầu tư cho con người, cho sự phát triển của đất nước; việc giữ gìn, tôn vinh những giá trị thể dục, thể thao dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại và phát triển nền thể dục, thể thao nước ta mang tính dân tộc, khoa học, nhân dân, văn minh, là những quan điểm có ý nghĩa quan trọng trong quá trình hội nhập và phát triển
Như vậy việc phát triển thể dục, thể thao nhằm nâng cao sức khỏe, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực; đồng thời giáo dục ý chí, đạo đức, xây dựng lối sống và môi trường văn hóa lành mạnh, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân
1.1.1.5 Vai trò của NSNN đối với văn hóa – TDTT [5] [6]
Văn hóa - TDTT là hoạt động hết sức cần thiết đối với phát triển xã hội và tăng cường kinh tế hông thể có một xã hội phát triển ở trình độ cao mà không có một nguồn nhân lực phát triển cả về thể chất, trí tuệ và tinh thần ản phẩm của văn hóa – thể dục thể thao là con người, con người là yếu tố sản xuất hết sức quan trọng ỹ năng của con người có tác động đến năng suất lao động, trình độ quản lý và muốn hình thành kỹ năng thì phải có giao dục Đặc biệt là trong bối cảnh thế giới bước sang thời đại mới - thời đại trí tuệ và trong môi trường toàn cầu hóa, trong đó, các yếu tố tri thức và thông tin trở thành những yếu tố hàng đầu và là nguồn tài nguyên giá trị nhất thì văn hóa, thể thao trở thành đ n bẩy cho sự phát triển kinh tế Chính vì vậy, đầu tư cho văn hóa - TDTT chính là đầu tư cho tương lai, đầu tư hiệu quả nhất
Đầu tư tài chính giữ vai tr như một trong những yếu tố có tính chất quyết định đối với việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống văn hóa – các phong trào TDTT trong toàn dân Thông qua quan hệ tín dụng, tài chính có thể huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi để đầu tư cho văn hóa - TDTT trong việc nâng cấp trang thiết bị, đầu tư cho đội những người làm văn hóa, đào tạo các thế hệ vận động viên, phát triển các phong trào, mô hình trong lĩnh vực văn hóa, TDTT từ cấp cơ sở trở lên Trong số các
Trang 21nguồn lực tài chính đầu tư cho văn hóa - TDTT thì đầu tư từ N NN là tất yếu, đóng vai tr chủ đạo trong việc nâng cao chất lượng và hiệu quả văn hóa - TDTT bởi:
Thứ nhất, Trong hệ thống tài chính nước ta thì tài chính Nhà nước chiếm tỷ trọng lớn
Trong tài chính Nhà nước bao gồm N NN và tín dụng Nhà nước thì N NN có tỷ trọng lớn nhất, N NN đảm bảo nhu cầu tiêu dùng xã hội theo chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước, trong đó nhu cầu văn hóa – TDTT có vai tr rất to lớn Mặt khác, văn hóa - TDTT là dịch vụ công cộng, tạo ra những hiệu ứng tích cực và có vai tr quyết định đến nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế xã hội của một quốc gia Đầu tư từ N NN cho văn hóa - TDTT nhằm đảm bảo điều kiện tài chính cần thiết để giải quyết vấn đề phát triển của hệ thống văn hóa - TDTT quốc dân ở tầm
vĩ mô như về phát triển rộng khắp mạng lưới các cơ sở văn hóa - TDTT xây dựng các
cơ sở văn hóa – thể thao trọng điểm quốc gia, điều chỉnh quy mô và cơ cấu, nâng cao chất lượng và hiệu quả văn hóa – thể thao Bởi vậy, N NN là nguồn tài chính cơ bản,
to lớn nhất để duy trì và phát triển hệ thống văn hóa - TDTT quốc dân theo đúng chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước
Thứ hai, đầu tư của N NN có tác dụng hướng dẫn, huy động các nguồn vốn khác đầu
tư cho văn hóa - TDTT vì văn hóa - TDTT là dịch vụ công cộng, tạo ra những ngoại ứng tích cực và có vai tr quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực - nhân tố quyết định sự phát triển kinh tế - xã hội của một quốc gia Đầu tư N NN cho văn hóa - TDTT như một cú huých ban đầu để khuyến khích nhân dân đóng góp xây dựng và sửa chữa các cơ sở văm hóa, thu hút các nguồn đầu tư từ lao động sản xuất, từ hợp đồng NC H của các trường, đóng góp của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế nhằm thực hiện phương châm “ Nhà nước và nhân dân cùng chăm lo phát triển
sự nghiệp văn hóa – thể thao”, đồng thời là nguồn chính để phát huy nguồn viện trợ và vay của nước ngoài để đầu tư cho văn hóa – thể thao Lợi ích của việc đầu tư vào văn hóa - TDTT đem lại không chỉ cho những người trực tiếp được hưởng văn hóa – thể thao mà c n cho cả xã hội nói chung Tuy nhiên, trong thực tế các cá nhân hầu như không tính đến tác động trong việc lựa chọn quyết định có nên đầu tư vào văn hóa – thể thao hay không Trong một số trường hợp, họ có thể không biết đến tác động ngoại ứng tích cực của văn hóa – thể thao Trong trường hợp khác, họ biết tác động đó song
Trang 22thiếu sự khuyến khích và tạo điều kiện của Nhà nước để đi đến quyết định đầu tư Như vậy, nếu không có sự đầu tư từ N NN để hỗ trợ và khuyến khích thì mức đầu tư của tư nhân cho sự phát triển văn hóa – thể thao sẽ thấp hơn khả năng sẵn có
Thứ ba, N NN đầu tư cho văn hóa - TDTT sẽ đảm bảo từng bước ổn định đời sống
của đội ngũ cán bộ văn hóa, người hoạt động thể thao Tuy đời sống của cán bộ văn hóa, huấn luyện viên, vận động viên c n chưa cao nhưng N NN đã đảm bảo tiền lương chính cho đội ngũ cán bộ văn hóa, vận động viên Ngoài ra còn dành một phần
N NN để ưu đãi riêng cho ngành văn hóa – thể thao làm thêm giờ …
Thứ tư, N NN có vai tr điều phối cơ cấu văn hóa – thể thao toàn ngành Thông qua
định mức chi N NN cho văn hóa – TDTT hàng năm đã góp phần định hướng và mức
độ tổ chức các hoạt động văn hóa, thể thao Các chương trình bồi dưỡng, đào tạo trong công tác văn hóa, thể thao …
Thứ năm, đầu tư từ N NN cho văn hóa – thể thao nhằm đảm bảo công bằng xã hội
trong văn hóa – thể thao Ở các quốc gia không phải mọi công dân đều có khả năng chi trả các khoản chi phí trực tiếp hay gián tiếp liên quan đến việc trực tiếp hưởng thụ văn hóa – thể thao Nếu văn hóa – thể thao được cung cấp hoàn toàn theo cơ chế thị trường
mà không có sự đầu tư từ N NN thì bộ phận dân cư không có khả năng chi trả các khoản chi phí liên quan đến văn hóa – thể thao sẽ không có cơ hội được hưởng thụ văn hóa, tập luyện thể thao, từ đó dẫn đến mất công bằng xã hội trong văn hóa – thể thao Hơn nữa, công bằng xã hội trong văn hóa – thể thao c n là điều kiện quan trọng để đạt đến công bằng xã hội nói chung
Thứ sáu, đầu tư của Nhà nước cho văn hóa – thể thao nhằm để khắc phục khiếm
khuyết của thị trường vốn Nghiên cứu kinh tế học văn hóa - thể thao, các nhà kinh tế đều cho rằng, thị trường vốn cho việc đầu tư vào văn hóa thể thao, là không hoàn hảo
Có nhiều rủi ro cho cả người vay và người cho vay khi đầu tư vào văn hóa - thể thao Hầu như không có cơ sở cho việc xác định khả năng chắc chắn có việc làm và có được mức thu nhập sau khi đã kết thúc khóa học để có thể cho vay vốn các khoản nở vay cho học tập của các cá nhân Do vậy, các chủ thể cho vay vốn không dễ dàng chấp nhận bỏ vốn để cho vay đầu tưn vào học tập của các cá nhân hắc phục khuyết điểm
Trang 23của thị trường vốn cần thiết phải có sự can thiệp và đầu tư của Nhà nước cho văn hóa - thể thao
Tóm lại, đối với Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, nguồn lực tài chính để phát triển
văn hóa - thể thao chủ yếu là từ nguồn N NN N NN đóng vai tr quan trọng, là yếu
tố chính quyết định đối với sự nghiệp văn hóa - thể thao quốc dân
1.1.2 Vai trò ủ i n ờn quản l hi n hi p h phá i n n h –
h h
Một thời gian khá dài cơ chế quản lý tài chính của nước ta vẫn c n chịu nhiều ảnh hưởng của thời kỳ kế hoạch hóa tập trung bao cấp, không c n phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế Cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế không những tác động đến mục tiêu của văn hóa - thể thao mà c n đ i hỏi sự đổi mới của quản lý trong ngành văn hóa - TDTT Trong cơ chế thị trường, các cơ sở văn hóa - Thể thao phải có tính tự chủ cao, kể cả tự chủ tài chính để thực hiện chức năng nhiệm vụ Với nguồn kinh phí từ N NN thì cơ sở văn hóa - thể thao vẫn phải được chủ động
sử dụng Cơ chế tài chính cũ với những quy định quá chặt chẽ, chi tiết và cứng nhắc đã hạn chế, cản trở sự chủ động của đơn vị khi thực hiện nhiệm vụ, sử dụng kinh phí kém hiệu quả và đôi khi phải vận dụng để qua mặt cac cơ quan quản lý tài chính nên dễ nảy sinh tiêu cực
Cơ chế thị trường đ i hỏi xã hội hóa văn hóa - thể thao Văn hóa - thể thao không còn
là việc riêng của Nhà nước mà là của toàn xã hội, của nhiều thành phần kinh tế Xã hội hóa văn hóa - thể thao mới có khả năng đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ, tập luyện tăng lên nhanh chóng của xã hội và mới thực sự có đủ nguồn để đáp ứng yêu cầu đó Trong cơ chế thị trường và văn hóa - thể thao được xã hội hóa thì người học mới có nhiều cơ hội chọn địa điểm vui chơi, tập luyện theo nhu cầu và sở thích của bản thân
Cơ sở văn hóa - thể thao phải được chủ động sử dụng huy động nguồn kinh phí hợp pháp để hoàn thành nhiệm vụ của mình
Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, sản phẩm của văn hóa - thể dục thể thao
ở một khía cạnh nhất định phải được xem như hàng hóa dịch vụ Hàng hóa dịch vụ cũng có chi phí và giá cả Người sản xuất đ i hỏi phải bù đắp được chi phí và có lãi cần thiết để tồn tại và phát triển, người mua hàng hóa dịch vụ phải trả đúng giá cả của
Trang 24hàng hóa Đối với các trường công lập thì nguồn kinh phí chủ yếu vẫn là N NN Song,
do yêu cầu phát triển nhanh chóng của văn hóa - thể thao đ i hỏi phải đầu tư cho văn hóa - thể thao, cơ sở vật chất, thiết bị hiện đại tăng rất lớn thì N NN không thể đáp ứng Nhà nước cần huy động thêm vốn từ phía người hưởng thụ Cần có chế độ học phí phù hợp với từng cấp độ, phù hợp với trình độ phát triển kinh tế xã hội ở từng vùng Nhà nước không nên can thiệp quá sâu, quy định quá chi tiết các khoản thu của đơn vị, tuy nhiên nhà nước cần có chế độ thanh tra, kiểm tra tài chính một cách khoa học, đảm bảo hoạt động tài chính công khai, minh bạch, đúng mục đích và xử lý nghiêm những sai phạm trong hoạt động tài chính
Trong cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế, văn hóa - thể dục thể thao cũng diễn
ra sự cạnh tranh Các cơ sở văn hóa - thể thao từng bước xây dựng thương hiệu cho mình Tuy nhiên sự cạnh tranh trong văn hóa - thể thao không phải về giá cả mà về chất lượng, chính chất lượng văn hóa - thể thao làm nên thương hiệu các đơn vị, các trung tâm
Văn hóa - thể thao luôn là sự kết hợp, văn hóa - thể thao để nâng cao dân trí, đào tạo nguồn vận động viên, bồi dưỡng nhân tài là yếu tố khách quan Nhà nước có trách nhiệm phát triển văn hóa - thể dục thể thao và dảm bảo cung ứng dịch vụ văn hóa - thể thao cho xã hội một cách công bằng C n đối với cá nhân thì tập luyện, rèn luyện để có sức khỏe, kỹ năng bên cạnh đó cũng nhằm định hướng công việc, coi là một nghề để
ổn định cuộc sống, có việc làm và thu nhập tức là đáp ứng yêu cầu cá nhân
Hơn nữa, sự phát triển kinh tế - thể thao ở các vùng miền thường có sự mất cân đối, thu nhập của các tầng lớp dân cư cũng khác nhau Vì vậy, N NN đầu tư cho sự nghiệp phát triển văn hóa - thể dục thể thao vào các vùng, các khu vực cũng khác nhau không thể dàn trải Như vậy, cơ chế thị trường và hội nhập quốc tế đặt ra những yêu cầu mới
về văn hóa - thể dục thể thao và những đ i hỏi phải hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các đơn vị sự nghiệp văn hóa - thể thao không thể tách rời quá trình hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việc hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính là một đ i hỏi có tính tất yếu khách quan trên bình diện quốc gia cũng như đối với bất kỳ địa phương nào
Trang 251.1.3 Nội dun quản l hi n hi p h phá i n n h – h dụ h h
1.1.3.1 Nội dung chi sự nghiệp từ NSNN cho phát triển văn hóa
Mục tiêu của các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao là nhằm nâng cao tri thức và thẩm mỹ cho mọi tầng lớp dân cư nhằm xây dựng một nền văn hóa đậm đà bản sắc dân tộc, có nội dung nhân đạo, dân chủ và tiến bộ, phát triển đạo đức xã hội và truyền thống dân tộc
Các mục tiêu của các hoạt động này cho phép mỗi công dân phát triển toàn diện về chính trị, tư tưởng và đạo đức Vì tính chất quan trọng của các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, thể thao nên việc thực hiện các mục tiêu của chúng gắn liền một khoản cấp phát từ ngân sách nhà nước Về nội dung khoản chi này bao gồm:
- Chi cho hệ thống thư viện, bảo tàng, nhà văn hóa
- Chi cho hệ thống phát thanh, truyền hình và các hoạt động thông tin khác
- Chi cho các hoạt động biểu diễn nghệ thuật và các hoạt động văn hóa khác
- Chi cho sự nghiệp thể dục thể thao
- Chi cho các chương trình quốc gia về văn hóa, nghệ thuật, thể dục thể thao
Chi cho các hoạt động văn hoá cơ sở, căn cứ vào số lượng đơn vị hành chính trên địa bàn các huyện, thành phố, thị xã để phân bổ dự toán hàng năm
Nội dung chi hỗ trợ trang thiết bị hoạt động Trung tâm văn hóa cấp huyện: hông quá
500 triệu đồng/01 Trung tâm văn hóa, thể thao cấp huyện cho cả giai đoạn đến năm
0 0 (từ nguồn vốn sự nghiệp)
1.1.3.2 Nội dung chi sự nghiệp từ NSNN cho phát triển thể thao
Nội dung chi N NN cho văn hóa - TDTT gắn liền với cơ cấu, nhiệm vụ của ngành trong mỗi giai đoạn lịch sử và được xem xét ở các giác độ khác nhau
* Căn cứ vào cơ cấu tổ chức của ngành văn hóa - Thể thao và du lịch có thể hiện nội dung chi N NN cho văn hóa bao gồm:
- Chi ngân sách cho hệ thống các Tổng cụ thuộc bộ; các trung tâm đào tạo, tập huấn về
Trang 26vận động viên, huấn luyện viên
- Chi ngân sách cho các cơ quan quản lý Nhà nước về văn hóa: Bộ văn hóa Thể thao
và du lịch; ở văn hóa các địa phương; ph ng văn hóa cơ sở
* Theo cách phân loại chi N NN theo yếu tố và phương thức quản lý các khoản chi cho văn hóa - thể dục thể thao bao gồm:
- Chi thường xuyên
- Chi xây dựng cơ bản
Đối với các khoản chi thường xuyên căn cứ vào đối tượng của việc sử dụng kinh phí
N NN có thể chia thành 4 nhóm mục chi sau:
+ Các khoản chi cho con người: Chi lương, các khoản phụ cấp theo lương, chi BHXH, BHYT, PCĐ, chi phúc lợi tập thể cho cán bộ, công nhân viên,
+ Chi về quản lý hành chính, chi về công tác phí, công vụ phí, điện nước, xăng xe, văn
ph ng phẩm, chi hội nghị về công tác quản lý,
+ Chi cho hoạt động chuyên môn: Chi mua tài liệu, đồ dùng tập luyện, các hoạt động chuyên đề về chuyên môn
+ Chi mua sắm sửa chữa, xây dựng nhỏ phục vụ cho hoạt động chuyên môn như: Mua sắm trang thiết bị, sửa chữa nhỏ trong các cơ sở, trung tâm
Ngoài ra N NN c n chi tiêu cho các đơn vị thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa - thể dục thể, Hầu hết các chi khoản mục trên là những khoản chi phí phát sinh thường xuyên, tương đối ổn định và có thể định mức được Do vậy, trong công tác quản lý các khoản chi này phải lấy định mức làm cơ sở, riêng các khoản mua sắm sửa chữa nhỏ không phát sinh thường xuyên nên phải căn cứ vào thực trạng nhà cửa trang thiết bị, chế độ chính sách của Nhà nước trong từng thời kỳ và đặc biệt là khả năng nguồn vốn của N NN để cấp phát và chi tiêu
Đối với chi đầu tư XDCB tập trung, tùy theo yêu cầu quản lý nội dung chi đầu tư XDCB được phân loại theo những tiêu thức khác nhau Xét theo hình thức tái sản xuất
Trang 27T CĐ, chi đầu tư XDCB cho văn hóa - thể dục thể thao được phân thành:
Chi đầu tư xây dựng mới các T CĐ phục vụ cho văn hóa - thể dục thể thao như các cấp, các trung tâm thể theo,
Chi cải tạo, nâng cấp mở rộng các T CĐ hiện có nhằm tăng thêm công suất và hiện đại hóa T CĐ như nâng cấp trung tâm, cơ sở văn hóa,
1.1.3.3 Quy trình của quản lý chi sự nghiệp từ NSNN cho phát triển văn hóa - thể thao
Chi N NN nói chung và cho lĩnh vực văn hóa - thể thao nói riêng có nội dung hết sức phong phú và phức tạp Nó được tiến hành cho nhiều đối tượng và bao gồm nhiều khoản chi có tính chất, đặc điểm khác nhau Vì vậy, muốn phát huy được hiệu quả các khoản chi đảm bảo tiết kiện cho N NN cần phải thực hiện tốt các nội dung quản lý chi
N NN cho văn hóa - thể thao
Thực chất quản lý chi N NN cho văn hóa - thể thao là các hoạt động và tổ chức các hoat động phân phối N NN, kiểm tra giám sát việc phân phối và sử dụng N NN cho văn hóa - thể dục thể thao theo đúng quy định của pháp luật Nội dung quản lý chi
N NN cho văn hóa - thể dục thể thao bao gồm:
- Quản lý định mức chi:
Trong quản lý các khoản chi thường xuyên cho N NN, nhất thiết phải có định mức cho từng nhóm mục chi hay cho mỗi đối tượng cụ thể Nhờ đó mà các ngành các cấp các đơn vị mới có căn cứ pháp lý để triển khai các công việc cụ thể thuộc quá trình quản lý chi thường xuyên của N NN
Định mức chi là cơ sở quan trọng để lập dự toán chi, cấp phát và quyết toán các khoản chi, đồng thời là chuẩn mực để phân bổ và kiểm tra, giám sát tình hình sử dụng kinh phí ngân sách Nhà nước
Định mức chi phải đảm bảo được các yêu cầu sau:
Thứ nhất: Các định mức chi phải được xây dựng một cách khoa học, từ việc phân loại
đối tượng đến trình tự, cách thức xây dựng định mức phải được tiến hành một cách
Trang 28chặt chẽ có cơ sở khoa học xác đáng Nhờ đó mà các định mức chi đảm bảo được tính phù hợp với mỗi loại hình hoạt động, phù hợp với từng đơn vị
Thứ hai: Các định mức chi phải có tính thực tiễn cao Tức là nó phải phản ảnh mức độ
phù hợp của các định mức với nhu cầu kinh phí cho các hoạt động Chi có như vậy định mức chi mới trở thành chuẩn mực cho cả quá trình quản lý kinh phí chi thường xuyên
Thứ ba: Định mức chi phải đảm bảo thống nhất đối với từng khoản chi với từng đối
tượng thụ hưởng ngân sách cùng loại
Thứ tư: Định mức chi phải đảm bảo tính pháp lý cao
Định mức chi thường xuyên của N NN thường bao gồm hai loại
- Định mức chi tiết: là loại định mức xác định dựa trên cơ cấu chi của ngân sách Nhà nước cho mỗi đơn vị được hình thành từ các mục chi nào, người ta tiến hành xây dựng định mức chi cho từng mục đó ví dụ như: Chi công tác phí, hội nghị, chi lương, học bổng
- Định mức chi tổng hợp: Là loại định mức dùng để xác định nhu cầu chi từ ngân sách Nhà nước cho mỗi loại hình đơn vị thụ hưởng Do vậy, với mỗi loại hình đơn vị khác nhau sẽ có đối tượng để tính định mức chi tổng hợp khác nhau
Mỗi loại định mức chi đều có những ưu nhược điểm riêng của nó Tuỳ theo mục đích quản lý mà có sự lựa chọn hoặc vận dụng kết hợp các loại định mức chi cho hợp lý Đối với định mức chi tiết theo ưu điểm của nó là tính chính xác và tính thực tiễn khá cao nên nó thường được sử dụng trong quá trình nghiên cứu ban hành các chế độ chi thường xuyên của N NN Ngoài ra, nó cũng c n được sử dụng trong quá trình thẩm định tính khả thi của các dự toán kinh phí và dự toán chi N NN, đối với định mức chi tổng hợp ưu điểm của nó là có thể xác định được dự toán chi N NN nhanh, nhưng ngược lại nó cũng bộc lộ một nhược điểm là tính chính xác không cao vì vậy nó được lấy làm căn cứ để hướng dẫn cho các ngành các cấp tiến hành xây dựng dự toán kinh phí đồng thời nó cũng là một trong những cơ sở cho cơ quan tài chính khi thẩm định
dự toán kinh phí của các đơn vị trực thuộc
Trang 29Trong lĩnh vực văn hóa - thể dục thể thao, định mức chi tiết thường được áp dụng theo
hệ thống định mức chi ngân sách Nhà nước áp dụng chung cho lĩnh vực hành chính sự nghiệp c n định mức chi tổng hợp được sử dụng chủ yếu trong khâu phân bổ ngân sách văn hóa - thể dục thể thao cho các địa phương, các đơn vị Định mức chi tổng hợp cho văn hóa - thể dục thể thao có thể được xác định theo đầu dân số và theo từng thời
kỳ có thay đổi cho phù hợp
Hệ thống định mức tiêu chuẩn chi tiêu có ảnh hưởng quyết định đến toàn bộ quá trình lập, duyệt, phân bổ, chấp hành và kiểm tra, duyệt quyết toán N NN chi cho văn hóa - thể dục thể thao Nếu có đầy đủ các loại định mức, tiêu chuẩn chi tiêu cũng như việc xác định số biên chế, vận động viên cần thiết được tính toán một cách có khoa học phù hợp với khối lượng công việc do từng đơn vị đảm nhiệm thì nhu cầu chi N NN sẽ được phản ánh chính xác, trung thực trong dự toán N NN; đồng thời đó cũng là các căn cứ để các cơ quan chức năng duyệt và kiểm tra, giám sát quá trình chấp hành
N NN của các đơn vị Ngược lại nếu hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu không đầy đủ, không hoàn thiện thì bản thân các đơn vị thiếu những cơ sở để lập dự toán chi, các cơ quan quản lý không có căn cứ để duyệt dự toán, cơ quan ho bạc Nhà nước không có căn cứ để kiểm soát chi, cơ quan thanh tra, kiểm toán không có căn cứ để kiểm tra và xác nhận tính chính xác, hợp lệ, hợp pháp của các khoản chi cũng như quyết toán chi tiêu của các đơn vị
Từ sự phân tích trên cho thấy, trong quản lý chi N NN cho văn hóa - thể dục thể thao không những phải xây dựng được hệ thống định mức, chế độ chi tiêu một cách đầy đủ,
có cơ sở khoa học, quá trình quản lý phải tuân thủ triệt để hệ thống định mức, tiêu chuẩn chi tiêu đó mà c n phải đánh giá, phân tích tình hình thực tế chi theo định mức nhằm xem xét tính phù hợp của hệ thống định mức hiện hành Xu hướng chung, các loại hoạt động càng ngày càng phát triển nên làm nảy sinh các nhu cầu mới Đặc biệt, trong điều kiện c n xảy ra mất giá của tiền tệ càng dễ làm cho định mức chi dễ bị lạc hậu so với thực tiễn
- Lập dự toán chi NSNN cho văn hóa - thể dục thể thao
ế hoạch là một trong những công cụ quan trọng được sử dụng trong quản lý (kể cả
Trang 30quản lý vĩ mô và quản lý vi mô) “Quản lý theo dự toán” là một nguyên tắc quan trọng trong quản lý chi ngân sách Nhà nước hi lập dự toán chi ngân sách nhà nước cho văn hóa - thể dục thể thao phải dựa trên những căn cứ sau:
Thứ nhất: Chủ trương của Đảng và Nhà nước về duy trì phát triển sự nghiệp văn hóa -
thể thao trong từng thời kỳ Dựa vào căn cứ này sẽ giúp cho việc xây dựng dự toán chi ngân sách cho văn hóa - thể dục thể thao có sự cân đối với dự toán chi ngân sách chi lĩnh vực khác
Thứ hai: Phải dựa vào chỉ tiêu kế hoạch phát triển văn hóa - thể thao đặc biệt là các chỉ
tiêu có liên quan trực tiếp đến việc cấp phát kinh phí của ngân sách trong kỳ như chỉ tiêu về số lượng cơ sở văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng, khu vui chơi tập chung
Thứ ba: Căn cứ nhu cầu kinh phí, khả năng huy động các nguồn vốn ngoài ngân sách
cũng như khả năng đáp ứng của N NN trong kỳ kế hoạch để lập dự toán chi
Thứ tư: Các chính sách, chế độ, định mức chi tiêu sử dụng kinh phí N NN hiện hành
và dự đoán những điều chỉnh hoặc thay đổi có thể xảy ra kỳ kế hoạch
Thứ năm: Căn cứ vào kết quả phân tích đánh giá tình hình quản lý và sử dụng kinh phí
của năm trước
Quy trình lập kế hoạch chi cho văn hóa - thể thao được tiến hành theo các bước sau:
Bước 1: Căn cứ vào dự toán sơ bộ về thu chi N NN kỳ kế hoạch để xác định mức chi
dự kiến phân bổ cho ngành văn hóa - thể thao Trên cơ sở đó, hướng dẫn các đơn vị tiến hành lập dự toán kinh phí
Bước 2: Các đơn vị cơ sở văn hóa - thể thao căn cứ vào chỉ tiêu được giao (số kiểm
tra) và văn bản hướng dẫn của cấp trên để lập dự toán kinh phí của đơn vị mình để gửi đơn vị dự toán cấp trên hoặc cơ quan tài chính Cơ quan tài chính xét duyệt tổng hợp
dự toán chi ngân sách cho văn hóa - thể thao vào dự toán chi N NN nói chung để trình
cơ quan chính quyền và cơ quan quyền lực nhà nước xét duyệt
Bước 3: Căn cứ vào dự toán chi đã được cơ quan quyền lực Nhà nước thông qua, cơ
Trang 31quan tài chính sau khi xem xét điều chỉnh lại cho phù hợp sẽ chính thức phân bổ mức chi theo dự toán cho các đơn vị thuộc ngành văn hóa - thể thao
- Chấp hành chi NSNN cho văn hóa - thể thao
Thực hiện kế hoạch chi ngân sách nhà nước cho văn hóa - thể thao cần chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:
- Đảm bảo phân phối nguồn vốn một cách hợp lý, trên cơ sở dự toán chi đã xác định
- Tiến hành cấp phát vốn, kinh phí một cách đầy đủ, kịp thời, tránh mọi sơ hở gây lãng
phí, thất thoát vốn của ngân sách nhà nước
- Trong quá trình sử dụng các khoản chi ngân sách phải hết sức tiết kiệm, đúng chính
sách chế độ nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của mỗi khoản chi
Quá trình tổ chức điều hành cấp phát và sử dụng khoản chi N NN cho văn hóa - thể thao cần dựa trên những căn cứ sau:
- Dựa vào định mức chi đã được duyệt của từng chỉ tiêu trong dự toán Đây là căn cứ
tác động có tính chất bao trùm đến việc cấp phát và sử dụng các khoản chi bởi vì mức chi của từng chỉ tiêu là cụ thể hoá mức chi tổng hợp đã được cơ quan quyền lực Nhà nước phê duyệt
- Dựa vào khả năng nguồn kinh phí ngân sách Nhà nước có thể đáp ứng chi cho văn
hóa - thể thao Trong quản lý và điều hành ngân sách Nhà nước phải quán triệt quan điểm “lường thu mà chi” Mức chi trong dự toán mới chỉ là con số dự kiến, khi thực hiện phải căn cứ vào điều kiện thực tế, của năm kế hoạch mới chuyển hoá được chỉ tiêu dự kiến thành hiện thực
- Dựa vào định mức, chế độ chỉ tiêu sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước hiện hành
Đây là những căn cứ có tính pháp lý bắt buộc quá trình cấp phát và sử dụng các khoản chi phải tuân thủ, là căn cứ để đánh giá tính hợp lệ, hợp pháp của việc cấp phát và sủ dụng các khoản chi
Các biện pháp cơ bản để tổ chức tốt công tác cấp phát và sử dụng các khoản chi ngân sách Nhà nước cho văn hóa - thể thao bao gồm:
Trang 32- Cụ thể hoá dự toán chi tổng hợp cả năm thành dự toán chi hàng quý, tháng để làm
căn cứ quản lý, cấp phát
- Quy định rõ ràng trình tự cấp phát, trách nhiệm và quyền hạn của mỗi cơ quan (Tài
chính, ho bạc, Văn hóa.) trong quá trình cấp phát, sử dụng các khoản chi ngân sách Nhà nước
Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho văn hóa
- thể dục thể thao, bàn bạc với cơ quan văn hóa - thể thao điều chỉnh kịp thời dự toán chi trong phạm vi cho phép
- Hướng dẫn các đơn vị cơ sở trong ngành văn hóa - thể thao thực hiệp tốt chế độ hạch
toán kế toán áp dụng cho các đơn vị hành chính sự nghiệp, hạch toán đầy đủ rõ ràng các khoản chi cho từng loại hoạt động
- Thường xuyên kiểm tra tình hình nhận và sử dụng kinh phí N NN ở các đơn vị văn
hóa - thể thao, đảm bảo đúng dự toán, phù hợp với định mức chế độ chi Ngân sách Nhà nước hiện hành
- Quyết toán, kiểm toán chi:
Mục đích chủ yếu của công việc này là tổng hợp, phân tích đánh giá tình hình thực hiện
kế hoạch chi, từ đó rút ra những ưu, nhược điểm trong quản lý để có biện pháp khắc phục Công việc cụ thể được tiến hành là kiểm tra, quyết toán các khoản chi Trong quá trình kiểm tra, quyết toán các khoản chi phải chú ý đến các yêu cầu cơ bản sau:
+ Phải lập đầy đủ các loại báo cáo tài chính và gửi kịp thời cho các cơ quan có thẩm quyền xét duyệt theo quy định
+ ố liệu trong báo cáo phải đảm bảo tính chính xác, trung thực Nội dung các báo cáo tài chính phải tuân thủ theo đúng nội dung ghi trong dự toán được duyệt và theo đúng mục lục N NN quy định
+ Báo cáo quyết toán năm của các đơn vị trước khi trình cơ quan Nhà nước có thẩm quyền phê duyệt phải có xác nhận của ho bạc Nhà nước đồng cấp và phải được cơ quan kiểm toán nhà nước kiểm toán
Trang 33+ Báo cáo quyết toán của các đơn vị không được để xẩy ra tình trạng quyết toán chi lớn hơn thu
hi các yêu cầu trên được tôn trọng đầy đủ thì công tác quyết toán các khoản chi
N NN cho văn hóa - thể dục thể thao sẽ được tiến hành thuận lợi Đồng thời, nó sẽ tạo
cơ sở vững chắc cho việc phân tích đánh giá quá trình chấp hành dự toán một cách chính xác, trung thực và khách quan
- Thanh tra, kiểm tra nội dung chi
Đây là khâu quan trọng để kiểm soát tình hình chi đúng, chi đủ của các đơn vị tránh thất thoát ngân sách nhà nước
Trong điều kiện hiện nay, “ngành Văn hóa - TDTT đã và đang phải giải một bài toán rất khó là phái thỏa mãn đồng thời yêu cầu tăng số lượng, đảm bảo chất lượng nâng cao hiệu quả văn hóa - TDTT trong điều kiện nguồn lực c n hạn hẹp”
Để tạo ra sự chuyển biến cơ bản, toàn diện về văn hóa - thể thao, “ đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn lực phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”, bên cạnh các chính sách tăng đầu tư cho văn hóa giáo dục từ N NN và đẩy mạnh xã hội văn hóa - thể thao thì việc sử dụng N NN chủ động và có hiệu quả, tăng cường kiểm soát các khoản chi, kiên quyết chống lãng phí, thất thoát, nâng cao hiệu quả đầu tư bằng nguồn vốn N NN cho văn hóa - thể thao là một trong những nhu cầu
thiết yếu trong giai đoạn hiện nay và sắp tới
Vì vậy, có thể nói việc hoàn thiện công tác quản lý chi N NN cho văn hóa - thể thao là một đ i hỏi có tính tất yếu khách quan đối với bất cứ một địa phương, đơn vị nào
1.1.4 Cá hỉ iêu đánh iá quản l hi n hi p h phá i n n h – TDTT
1.1.4.1 Các chỉ tiêu định tính
- Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiện trạng của địa phương
- Chỉ tiêu đánh giá hiện trạng dân số và lao động
- Chỉ tiêu đánh giá hiện trạng cơ sở hạ tầng: Giao thông, điện, nước, thông tin liên lạc,
y tế, giáo dục
Trang 34- Chỉ tiêu phản ánh cơ cấu kinh tế của huyện qua các năm
- Chỉ tiêu phản ánh sự phát triển của T-XH: thu nhập bình quân đầu người; thu nhập lương thực bình quân đầu người
- Chi cho nghiệp vụ chuyên môn: bao gồm các khoản mua sắm trang thiết bị, đồ dùng tập luyện,
- Chi quản lý hành chính: đây là khoản chi nhằm đảm bảo nhu cầu vật chất phục vụ cho hoạt động của các đơn vị như: điện, nước, văn ph ng phẩm, mạng intemet,
- Chi về mua sắm, sửa chữa lớn, xây dựng nhỏ: bao gồm các khoản chi về mua săm, xây dựng có tính ổn định không cao phụ thuộc vào tình trạng trang thiết bị và nhà cửa của đơn vị, trung tâm nên không thể định mức chi được
Những chỉ tiêu được đánh giá đúng mục đích, phản ánh việc sử dụng và chi tiêu có hiệu quả nguồn N NN cho sự nghiệp phát triển văn hóa - TDTT, Như vậy, việc quản
lý chi N NN cho sự nghiệp phát triển văn hóa - TDTT được đảm bảo
1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa – TDTT
1.1.5.1 Chế độ chính sách quản lý tài chính công [8]
Đó là sự ảnh hưởng của những văn bản của Nhà nước có tính quy phạm pháp luật chi phối hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chi thường xuyên
N NN cho văn hóa - thể dục thể thao Quy định phạm vi, đối tượng chi của các cấp chính quyền; quy định, chế định việc phân công, phân cấp nhiệm vụ chi, quản lý chi của các cấp chính quyền; quy định quy trình, nội dung lập, chấp hành và quyết toán ngân sách Quy định chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của cơ quan nhà nước trong
Trang 35quá trình quản lý chi ngân sách, sử dụng quỹ ngân sách Thể chế tài chính quy định, chế định những nguyên tắc, chế độ, định mức chi tiêu
Do vậy, nói đến nhân tố ảnh hưởng đến quản lý chi ngân sách trước hết phải nói đến chế độ chính sách quản lý tài chính công Vì nó chính là những văn bản của Nhà nước
có tính quy phạm pháp luật chi phối mọi quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước trong quá trình quản lý chi ngân sách Thực tế cho thấy nhân tố về chế độ chính sách quản lý tài chính công có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả quản lý chi ngân sách trên một lãnh thổ địa bàn nhất định, do vậy đ i hỏi phải ban hành những thể chế tài chính đúng đắn phù hợp mới tạo điều kiện cho công tác nói trên đạt được hiệu quả
1.1.5.2 Chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với lĩnh vực văn hóa - thể
thao [9]
Văn hóa - thể thao có tầm quan trọng lớn lao, sự phát triển của văn hóa- thể thao
có ảnh hưởng đến các lĩnh vực trong đời sống xã hội, đặc biệt là việc phát triển văn hóa, xã hội Nhằm phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đưa nước
ta trở thành quốc gia phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn coi trọng văn hóa - thể thao là nhiệm vụ quan trọng Xuất phát từ chủ trương, chính sách ấy mà Nhà nước
ta dần có sự thay đổi về phương thức quản lý, đặc biệt là quản lý tài chính đối với lĩnh vực văn hóa - thể thao Đầu tiên phải kể đến đó là Nghị định số 10/ 00 /NĐ -
CP ngày 16/01/2002 đơn vị sự nghiệp có thu được trao quyền tự chủ về tài chính giúp tháo gỡ khó khăn cho các đơn vị trong điều hành ngân sách, tự chủ trong chi tiêu điều đó hạn chế những tiêu cực lãng phí, làm tăng thu, tiết kiệm chi phí nâng cao thu nhập cho cán bộ, công chức làm trong ngành văn hóa - thể thao au đó là Nghị định số 43/ 006/NĐ- Cp ngày 25/4/2006 thay thế cho Nghị định số 10/2002
NĐ – Cp, nghị định 16/ 015/NĐ-CP ban hành ngày 14/ / 015 thay thế cho Nghị định số 43/ 006/NĐ- Cp ngày 25/4/2006, theo đó đơn vị sự nghiệp công lập không những được trao quyền tự chủ về tài chính mà c n được trao quyền tự chủ,
tự chịu rách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy và biên chế Cơ chế quản lý tài chính đối với đơn vị sự nghiệp có thu hoạt động trong lĩnh vực văn hóa
- thể thao là một bước cụ thể hóa đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta nhằm nâng cao hơn nữa chất lượng của các đơn vị sự nghiệp
Trang 36Nếu việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chính quyền cấp trên, cấp dưới, giữa các ngành không rõ ràng, cụ thể thì dễ xảy ra tình trạng hoặc thiếu trách nhiệm, hoặc lạm quyền trong việc thực hiện nhiệm vụ quản lý chi ngân sách, nhất là đối với ngành văn hóa, một ngành thực hiện rất nhiều nhiệm vụ chi thường xuyên bởi
hệ thống lớn, nếu bộ máy và cán bộ năng lực trình độ thấp, không đảm bảo thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi thường xuyên ngân sách Do đó tổ chức bộ máy và cán bộ là nhân tố rất quan trọng trong quá trình tổ chức quản lý chi thường xuyên ngân sách cho văn hóa - thể thao
1.1.5.4 Mạng lưới tổ chức hoạt động sự nghiệp văn hóa - thể thao
Mạng lưới tổ chức hoạt động Văn hóa - thể thao là hệ thống các nhà văn hóa, trung tâm học tập cộng đồng, trung tâm vui chơi, luyện tập và thi đấu thể thao, cơ cấu tổ chức cán bộ quản lý, nhân viên phục vụ Nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp tới khoản chi lương, phụ cấp lương, phúc lợi tập thể cũng như chi phí quản lý hành chính
Tính hợp lý hay không hợp lý trong việc tổ chức mạng lưới văn hóa - thể thao sẽ tác động mạnh tới số chi, một mạng lưới văn hóa - thể thao vừa gọn nhẹ vừa đủ, bố trí trường lớp hợp lý đảm bảo được chất lượng công tác quản lý thì phần nào sẽ giảm chi cho N NN và ngược lại thì chi N NN sẽ tăng lên, hiệu quả sử dụng
N NN sẽ giảm xuống
Với ảnh hưởng của nhân tố này theo quan điểm về lâu về dài là từng bước hợp lý hóa
Trang 37mạng lưới tổ chức, tinh giảm gọn nhẹ biên chế, nâng cao chất lượng phục vụ, từng bước cải cách hành chính trong hệ thống Văn hóa - thể thao Ngành tài chính cần có biện pháp xác định quản lý số chi N NN cho Văn hóa - thể thao để khoản chi đó có tác dụng tích cực tới tổ chức mạng lưới Văn hóa - thể thao
1.1.5.5 Cơ sở vật chất, trang thiết bị, phương tiện phục vụ cho Văn hóa - thể thao
Nhân tố này có ảnh hưởng đến các khoản chi có tính chất không thường xuyên của
N NN cho Văn hóa - thể thao như khoản chi sửa chữa, mua sắm máy móc, thiết bị , khoản chi này không có định mức quản lý và được xác định tùy thuộc vào thực trạng của từng cơ sở văn hóa
Hệ thống máy móc thiết bị tại các cơ sở văn hóa - thể thao đã cực kỳ lỗi thời, vô cùng chậm chạp khiến cho công việc nhập và xử lý số liệu mất rất nhiều thời gian Các cán
bộ phụ trách tài chính đã nhiều lần kiến nghị lên xin chi nâng cấp, nhưng vì nguồn vốn của các địa phương vô cùng hạn hẹp và cần phải chi cho rất nhiều các hoạt động khác trong địa phương nên cho đến nay vẫn chưa được đáp ứng
Mặt khác, hệ thống cơ sở vật chất như bàn, ghế, tủ đựng tài liệu, của các cơ sở văn hóa, trung tâm thể thao cơ bản đã cũ nát và không được nâng cấp nhiều năm nay Điều này ảnh hưởng rất lớn tới công tác lưu trữ, bảo quản các tài liệu quan trọng về quản lý tài chính
1.1.5.6 Hệ thống kiểm tra, kiểm soát tình hình tài chính của đơn vị như thanh tra tài
chính, kiểm tra tài chính, kiểm soát, kiểm toán nội bộ, thuế [10]
Với bất kỳ cơ chế quản lý nào đều phải được giám sát thực hiện bởi một hệ thống kiểm tra, kiểm soát Đây có thể là công tác kiểm tra nội bộ trong đơn vị hay là sự giám sát của các cơ quan khác ngoài đơn vị như cơ quan thanh tra, cơ quan kiểm toán Việc kiểm tra giám sát luôn luôn cần thiết và ảnh hưởng trực tiếp đến cơ chế tài chính Bởi trong quá trình điều hành ngân sách, thực thi các nhiệm vụ của mình, đơn vị có thể vấp phải sai sót Việc kiểm tra, kiểm soát sẽ tìm ra những thiếu sót trong cơ chế quản lý tài chính từ đó kịp thời đưa ra các biện pháp khắc phục Đặc biệt là khi có người lợi dụng
kẽ hở của quản lý tài chính để tham ô, tham nhũng hi đó, việc kiểm tra, kiểm soát sẽ vấp phải những khó khăn song nó sẽ giúp cơ chế quản lý ngày cang hoàn thiện hơn
Trang 381.1.5.7 Trình độ phát triển kinh tế và mức thu nhập
Việc quản lý chi ngân sách luôn chịu ảnh hưởng của nhân tố về trình độ phát triển kinh
tế và mức thu nhập của người dân trên địa bàn hi trình độ kinh tế phát triển và mức thu nhập bình quân của người dân tăng lên, không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động nguồn ngân sách và sử dụng có hiệu quả, mà nó c n đ i hỏi các chính sách, chế độ, định mức kinh tế - tài chính, mức chi tiêu ngân sách phải thay đổi phù hợp với
sự phát triển kinh tế và mức thu nhập, mức sống của người dân Do đó, ở nước ta cũng như các nước trên thế giới, người ta luôn quan tâm chú trọng đến nhân tố này, trong quá trình quản lý hoạch định của chính sách thu chi N NN Thực tế cho thấy, khi trình
độ phát triển kinh tế và mức thu nhập bình quân trên địa bàn c n thấp cũng như ý thức
về sử dụng các khoản chi chưa được đúng mức c n có tư tưởng ỷ lại Nhà nước thì sẽ ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý chi NSNN
Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng tới số chi NSNN cho văn hóa - thể thao giúp chúng ta có cơ sở phân tích tính hợp lý về những ảnh hưởng của các nhân tố trên đối với việc quản lý chi N NN cho văn hóa - thể thao ở các năm, giải thích được sự khác nhau của nó ở các giai đoạn lịch sử, đồng thời từ những biến đổi của các hiện tượng kinh tế xã hội mà thấy được sự cần thiết phải thay nội dung, mức độ chi cho phù hợp
hi ấy các nhân tố ảnh hưởng đã thực sự trở thành các cơ sở khoa học để xác định số chi NSNN cho văn hóa - thể thao Ngoài ra trong công tác quản lý tài chính cũng thấy được sự ảnh hưởng của các nhân tố đó mà áp dụng các biện pháp quản lý thích hợp trong từng thời kỳ
1.2 Cơ sở thực tiễn về quản lý chi sự nghiệp cho phát triển văn hóa - thể thao
1.2.1 Kinh n hi m quản l hi n hi p h phá i n n h - h h mộ ố
đ ph n Vi N m
1.2.1.1 Kinh nghiệm của huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình
Huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình là huyện c n nghèo, song đã có những cơ chế tích cực
để huy động nguồn vốn ngoài ngân sách để phát triển cho văn hóa - thể thao Việc đầu
tư cho văn hóa - thể thao hiện nay từ nguồn vốn ngân sách vẫn là chủ yếu, song đầu tư cho văn hóa - thể thao vẫn chưa tương xứng với sự phát triển của ngành này ở huyện
Vũ Thư, tỉnh Thái Bình Để tăng cường nguồn lực tài chính đầu tư cho văn hóa - thể
Trang 39thao, bên cạnh nguồn vốn ngân sách nhà nước huyện Vũ Thư, tỉnh Thái Bình đã áp dụng chính sách đa dạng hóa các nguồn tài chính và sử dụng theo quy định, các trường trên địa bàn huyện đã mạnh dạn đầu tư để khai thác nguồn thu từ các hoạt động cung ứng dịch vụ như mở các trung tâm dịch vụ thi đấu thể thao để đáp ứng nhu cầu tập luyện, thi đấu ngày càng cao của người yêu thể thao, của cán bộ, công nhân viên chức
và nhân dân
Công tác quản lý định mức chi: Để quản lý định mức chi thường xuyên, UBND huyện
đã ban hành định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên cho từng cấp ngân sách theo từng tiêu chí, cụ thể
Tuy nhiên, định mức chi ngân sách chưa được điều chỉnh cho phù hợp với biến động của thị trường dẫn đến việc bổ sung ngoài dự toán vẫn c n xảy ra, hầu hết các sự nghiệp đều phải bổ sung mặc dù cuối năm vẫn phải chi chuyển nguồn sang năm sau (9%)
Công tác quản lý lập dự toán: Huyện Vũ Thư thực hiện tăng thời gian chuẩn bị lập dự toán N NN nói chung và chi thường xuyên N NN lên 1 tháng, thực hiện dân chủ trong việc lập dự toán, đúng quy trình lập dự toán phải đi từ cơ sở, xem xét đến việc xác định các chỉ tiêu trong dự toán theo nhiệm vụ, mục tiêu hoạt động trong năm kế hoạch, phù hợp với điều kiện cụ thể hiện có của đơn vị nên dự toán rất sát với thực tế
Từ đó đánh giá được hiệu quả chi phí hoạt động của đơn vị
Công tác quản lý chấp hành dự toán: Công tác quản lý và điều hành ngân sách của các đơn vị, các địa phương trên địa bàn huyện bám sát dự toán giao, không có phát sinh lớn ngoài dự toán (trừ các nội dung bổ sung từ nguồn dự ph ng ngân sách khắc phục hậu quả thiên tai và những vấn đề an sinh xã hội) UBND huyện thường xuyên chỉ đạo các địa phương, các ngành chức năng tăng cường công tác giám sát kiểm tra, kịp thời uốn nắn và xử lý nghiêm túc những trường hợp chi sai, vượt chế độ, định mức của chế
độ chi tiêu tài chính hiện hành Đồng thời vẫn tiếp tục thực hiện thực hiện chế độ tự chủ cho 100% các cơ quan quản lý nhà nước theo Nghị định 130/ 005/NĐ- CP của Chính phủ, thực hiện tự chủ cho 100% các đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện cơ chế
tự chủ, tự chịu trách nhiệm đã tạo sự chủ động và gắn trách nhiệm rất cao đối với thủ
Trang 40trưởng các cơ quan, đơn vị trong việc sắp xếp nội dung chi gắn với nhiệm vụ chuyên môn, do đó chi thường xuyên cho bộ máy đáp ứng kịp thời, sát với dự toán được giao Tiếp tục thực hiện phân cấp ngân sách xuống các đơn vị để các đơn vị chủ động quản
lý và sử dụng ngân sách ử dụng kinh phí ngân sách theo đúng mục đích, chế độ, tiết kiệm và có hiệu quả Bằng việc mạnh dạn thực hiện phân cấp nhiệm vụ chi cho các cấp ngân sách địa phương huyện Vũ Thư tỉnh Thái Bình đã thu được những kết quả đáng khích lệ inh tế địa phương tăng trưởng, ổn định chính trị xã hội
1.2.1.2 Kinh nghiệm huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên
Trước đây, khi chưa có sự phân cấp rõ ràng nhiệm vụ chi của từng cấp ngân sách một cách cụ thể, dẫn đến tình trạng đưa đẩy giữa các cấp ngân sách trong việc bố trí các khoản chi cho các cơ sở văn hóa - thể thao Chính vì vậy, trong một thời gian khá dài, tình hình đầu tư ngân sách cho văn hóa - thể thao từ trung ương cho tới địa phương cấp huyện chỉ mang tính chất thụ động, thất thường giữa các năm, không có định hướng ổn định, cụ thể
inh nghiệm huyện Đại Từ, tỉnh Thái Nguyên trong công tác chi sự nghiệp trong công tác văn hóa- thể thao là:
Công tác lập dự toán: huyện Đại Từ thực hiện nâng cao chất lượng dự báo kinh tế - xã hội của địa phương, phục vụ cho công tác lập và thảo luận dự toán nên dự toán đơn vị đưa ra rất sát với thực tế, tiết kiệm và hiệu quả
Công tác quản lý chấp hành dự toán: Nhờ hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức quản lý chi thường xuyên N NN, đào tạo cán bộ quản lý ngân sách và khối các đơn vị dự toán nâng cao trình độ quản lý tài chính nên công tác chấp hành dự toán của các đơn vị được thực hiện tốt, không bổ sung nhiều nhiệm vụ trong năm Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; ph ng, chống tham nhũng
và thực hiện công khai tài chính, ngân sách nhà nước
Công tác quyết toán: được thực hiện một cách nghiêm túc đúng quy trình quản lý ngoài ra tỉnh cũng thực hiện có hiệu quả, khai thác được các chức năng của hệ thống
thông tin quản lý ngân sách và ho bạc (TABMI ) [11] Đồng thời ứng dụng công
nghệ thông tin, các phần mềm chuyên dụng vào quản lý chi thường xuyên N NN