1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tài liệu luận văn Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Thu Nhập Của Người Nghèo

73 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Phạm vi nghiên cứu Đề tài nghiên cứu về thu nhập của các hộ gia đình thuộc diện nghèo theo xếp loại của thành phố Rạch Giá có vay vốn từ các chương tình cho vay của Ngân hàng chính sách

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN QUỲNH HOA

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này được hoàn thành dựa trên kết quả nghiên cứu của bản thân và tham khảo tài liệu để viết Các đoạn trích dẫn sử dụng số liệu trong luận văn đều được trích nguồn và có độ chính xác cao nhất có thể

TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017

Người thực hiện

Huỳnh Tất Hải

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC KÝ TỰ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1

1.1 Vấn đề nghiên cứu 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa thực tiễn đề tài 3

1.6 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 5

2.1 Một số khái niệm 5

2.1.1 Khái niệm về tín dụng và tín dụng chính sách 5

2.1.2 Khái niệm về hộ gia đình 6

2.1.3 Khái niệm về hộ nghèo 6

2.1.4 Khái niệm về thu nhập 8

2.2 Vai trò của nguồn vốn tín dụng chính sách hỗ trợ cho phát triển sản xuất kinh doanh và giảm nghèo 8

2.2.1 Vai trò của tín dụng trong việc hỗ trợ sản xuất kinh doanh đối với hộ nghèo 8

2.2.2 Vai trò của tín dụng chính sách trong công tác giảm nghèo 11

2.3 Mối quan hệ giữa tín dụng và thu nhập của hộ nghèo 13

Trang 5

2.4 Các chương trình cho vay cho người nghèo của Ngân hàng chính sách xã

hội thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang 14

2.5 Một số nghiên cứu liên quan 15

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 Thiết kế nghiên cứu 23

3.2 Khung phân tích 24

3.3 Xây dựng mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu 25

3.3.1 Mô hình nghiên cứu 25

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu 26

3.4 Mô tả dữ liệu 26

3.4.1 Thu thập và xử lý số liệu 26

3.4.2 Thu nhập của hộ gia đình và các nhân tố 27

3.4.2.1 Thu nhập của hộ gia đình 27

3.4.2.2 Mô tả các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân hộ gia đình 27

3.4.2.3 Bảng kỳ vọng dấu của các nhân tố 31

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 34

4.1 Mô tả mẫu dữ liệu 34

4.1.1 Các thông tin về nhân khẩu học của hộ gia đình 34

4.1.2 Các thông tin về tài sản và việc vay vốn tín dụng của chủ hộ 36

4.1.3 Đặc điểm về thu nhập của hộ gia đình 37

4.2 Mối quan hệ đơn biến giữa các biến số trong mẫu dữ liệu 40

4.3 Kết quả kiểm định đa cộng tuyến: 41

4.4 Kết quả nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người nghèo ở thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang 42

4.5 Phân tích kết quả của các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình nghèo ở thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang: 46

4.5.1 Yếu tố về trình độ học vấn và tỷ lệ phụ thuộc 46

4.5.2 Yếu tố về tài sản 47

4.5.3 Yếu tố mức tín dụng cho hộ nghèo 47

Trang 6

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 48

5.1 Kết luận 48

5.2 Hàm ý chính sách 48

5.3 Một số hạn chế và hướng phát triển nghiên cứu 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1 Thu nhập bình quân của hộ nghèo tại thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang

giai đoạn 2011 - 2015 10

Bảng 2 Số hộ nghèo chia theo nghề nghiệp chính giai đoạn 2011-2015 11

Bảng 3 Số hộ nghèo chia theo dân tộc trên địa bàn thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2016-2020 30

Bảng 4 Tóm tắt các biến trong mô hình nghiên cứu 32

Bảng 5 Thông tin vay theo độ tuổi 35

Bảng 6 Thông tin vay theo đặc điểm quy mô hộ 35

Bảng 7 Thông tin về tổng tài sản của hộ gia đình 36

Bảng 8 Thông tin về số tiền vay vốn tín dụng của hộ gia đình 37

Bảng 9 Tình hình thu nhập của hai nhóm hộ vay 37

Bảng 10 Kiểm định trung bình và phương sai theo đặc điểm trình độ học vấn giữa chủ hộ học cấp 1 và chủ hộ học cấp 2 38

Bảng 11 Kiểm định trung bình và phương sai theo đặc điểm trình độ học vấn giữa chủ hộ học cấp 1 và chủ hộ học cấp 3 39

Bảng 12 Kiểm định hệ số tương quan đơn biến giữa các biến số trong mô 40

hình hồi quy 40

Bảng 13 Kết quả hồi quy mô hình các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của các hộ gia đình nghèo ở thành phố Rạch Giá 42

Bảng 14 Kiểm định về sự phù hợp của mô hình hồi quy 44

Bảng 15: Kết quả hồi quy phụ kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi 45

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 1 Đặc điểm giới tính của chủ hộ gia đình 34

Hình 2 Đặc điểm về trình độ học vấn của chủ hộ gia đình 36

Biểu đồ 1: Biểu đồ tần số Histogram 46

Biểu đồ 2: Biểu đồ phân phối tích lũy P-P Plot 46

Trang 10

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 1.1 Vấn đề nghiên cứu

Thành phố Rạch Giá là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của tỉnh Kiên Giang, cũng là nơi giao thương đầu mối quan trọng của tỉnh Địa giới hành chính được chia thành 11 phường và 01 xã Dân số có 50.065 hộ, với 238.292 khẩu Trong những năm qua, công tác giảm nghèo đã được triển khai tích cực bằng nhiều giải pháp Qua đó, tỷ lệ hộ nghèo đã giảm từ 2,62% (1.323 hộ, năm 2011) xuống còn 1,76% (889 hộ năm 2015)

Trong những năm qua để thực hiện thành công công tác giảm nghèo, thành phố Rạch Giá đã triển khai nhiều chương trình, chính sách, dự án giảm nghèo: cho 9.278 lượt hộ nghèo, 2.303 hộ cận nghèo vay vốn ưu đãi với kinh phí 506 tỷ đồng

để phát triển sản xuất Giải ngân 22 tỷ đồng cho học sinh, sinh viên thuộc hộ nghèo vay vốn phục vụ học tập Hỗ trợ miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí học tập cho 3.119 lượt học sinh với sồ tiền trên 25 tỷ đồng Hỗ trợ đào tạo nghề cho 2.076 lao động thuộc hộ nghèo, 955 lao động thuộc hộ cận nghèo Tạo việc làm cho hơn 5.545 lao động Hỗ trợ tiền điện cho 3.212 lượt hộ nghèo với kinh phí 2,4 tỷ đồng.NHCSXH tỉnh Kiên Giang đã luôn làm tốt vai trò là cầu nối giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, tạo việc làm, cải thiện điều kiện sống, vươn lên thoát nghèo Theo

đó, ngân hàng đã xây dựng được nhiều chương trình tín dụng chính sách, vận động linh hoạt các nguồn vốn huy động để bố trí đủ vốn cho các nhu cầu vay Để đồng vốn đến tay các đối tượng thụ hưởng đạt hiệu quả, NHCSXH tỉnh Kiên Giang đã phối hợp chặt chẽ với UBND phường xã và các tổ chức hội, đoàn thể như: Hội phụ

nữ, Hội nông dân, Đoàn thanh niên… xây dựng hợp đồng ủy thác, triển khai rà soát, xác định đối tượng để cho vay vốn Từ đó đã hình thành mạng lưới Tổ tiết kiệm và vay vốn trên địa bàn từng khu phố, ấp đưa vốn vay ưu đãi đến đúng đối tượng, tạo điều kiện cho hộ nghèo và các đối tượng chính sách được tiếp cận dễ dàng vốn vay Hiện nay, tổng dư nợ cho vay ủy thác tại các phường xã và hội, đoàn thể trên địa bàn thành phố Rạch Giá đạt gần 123 tỷ đồng Trong năm 2015 đã có 3.393 đối

Trang 11

tượng chính sách được hỗ trợ vay vốn, trong đó có 889 hộ nghèo Điều này đã góp phần giúp các hộ vay vươn lên thoát nghèo, giải quyết việc làm cho hàng trăm lao động có thu nhập ổn định Các hộ nghèo sử dụng vốn đúng mục đích, phát triển sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống và thu nhập

Tuy nhiên, bước sang giai đoạn mới, chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo 2016 - 2020 có những thay đổi theo Quyết định 59/QĐ-TTg của Chính phủ quy định việc tiếp cận đo lường nghèo trong đó có tiêu chí về thu nhập, tiêu chí mức

độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Xuất phát từ tình hình trên, tác giả chọn

đề tài "Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo thành phố Rạch Giá"

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo thành phố Rạch Giá từ đó đưa ra các kiến nghị nhằm cải thiện mức thu nhập từ đó thoát nghèo

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu

Các yếu tố nào tác động tích cực đến mức thu nhập của hộ gia đình nghèo không?

Cần có những chính sách cụ thể nào để hỗ trợ và nâng cao hơn nữa mức sống cho những hộ nghèo ở thành phố Rạch Giá?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hộ gia đình nghèo ở thành phố Rạch Giá

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu về thu nhập của các hộ gia đình thuộc diện nghèo (theo xếp loại của thành phố Rạch Giá) có vay vốn từ các chương tình cho vay của Ngân hàng chính sách xã hội

Dữ liệu chính được sử dụng trong việc xác định các yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo lấy từ bộ dữ liệu điều tra hộ nghèo và các chương trình cho vay

từ NHCSXH trên địa bàn thành phố Rạch Giá

Thời gian điều tra số liệu là năm 2015

Trang 12

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên, tác giả nghiên cứu các mô hình lý thuyết tổng quát trên thế giới nhằm xác định mô hình nghiên cứu phù hợp để áp dụng cho luận văn

Tiếp đó, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê thu thập số liệu từ

Bộ số liệu đều tra hộ nghèo để phân tích tổng quan tình hình thu nhập

Sau đó, tác giả sử dụng phương pháp phân tích định lượng để đánh giá những yếu tố tác động đến thu nhập của hộ nghèo trong thành phố Rạch Giá Trong phần này, tác giả sử dụng phần mềm Excel và phần mềm SPSS để phân tích thống

kê mô tả các số liệu thu thập được, đồng thời sau đó sử dụng phương pháp hồi quy OLS để đánh giá những yếu tố tác động đến thu nhập của các hộ gia đình nghèo trên địa bàn thành phố Rạch Giá

1.5 Ý nghĩa thực tiễn đề tài

Với việc sử dụng bộ dữ liệu điều tra trong năm 2015 đề tài nghiên cứu tìm ra những yếu tố tác động đến thu nhập của hộ gia đình nghèo Điều này phản ánh được những hạn chế trong chính sách và đề xuất giải pháp phát huy tác dụng trong việc nâng cao thu nhập cho các hộ gia đình nghèo ở thành phố Rạch Giá

1.6 Kết cấu của đề tài

Chương 1: Giới thiệu chung vấn đề nghiên cứu, bao gồm: Vấn đề nghiên

cứu; Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu; Đối tượng và phạm vi nghiên cứu; Phương pháp nghiên cứu;Ý nghĩa thực tiễn đề tài; Kết cấu của đề tài

Chương 2: Tổng quan lý thuyết nghiên cứu bao gồm: Một số khái niệm

nghiên cứu liên quan; Vai trò của tín dụng từ ngân hàng trong việc hỗ trợ giảm nghèo và tăng thu nhập của hộ nghèo; Vai trò của Nhà nước trong thị trường tín dụng; Các nghiên cứu liên quan

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu gồm: trình bài phương pháp được sử

dụng trong đánh giá tác động như Phương pháp phân tích thống kê thu thập số liệu, Phương pháp phân tích định lượng; các biến sử dụng mô hình; mô tả dữ liệu xây dựng mô hình

Trang 13

Chương 4: Kết quả nghên cứu, gồm: Dựa trên phương pháp và mô hình xây

dựng, chương này tiến hành trình bày kết quả nghiên cứu và phân tích tác động của tín dụng từ ngân hàng đến thu nhập của hộ gia đình nghèo ở thành phố Rạch Giá

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách, chương này nhằm tóm lược các

kết quả của Chương 4 và đưa ra những gợi ý chính sách tín dụng phù hợp với thực tiễn nghiên cứu

Trang 14

CHƯƠNG II: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU

và bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc và lãi cho Ngân hàng khi đến hạn thanh toán

Theo Christen et al (2003), tín dụng vi mô là khái niệm tài chính vi mô được dùng theo một nghĩa hẹp hơn Thuật ngữ tín dụng vi mô nói đến việc cung cấp các món vay nhỏ và không cần thế chấp tài sản cho những người không có khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn để khởi xướng các hoạt động kinh doanh nhỏ hoặc các hoạt động tạo thu nhập của họ

Chính phủ Việt Nam đã có chính sách tín dụng hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo và các đối tượng chính sách khác trong lĩnh vực ASXH như học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn, doanh nghiệp nhỏ, tạo việc làm mới, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo… Loại hình tín dụng này mang tính chính sách nên Nhà nước có chính sách ưu đãi, đặc thù riêng đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho vay, điều kiện, thủ tục vay vốn

Tín dụng chính sách cho các đối tượng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động, cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay vốn với các ưu đãi so với tín dụng thông thường, để phục vụ mục đích sản xuất kinh doanh và tiêu dùng, tạo việc làm, cải thiện đời sống góp phần thực hiện mục tiêu giảm nghèo bảo đảm an sinh xã hội

Tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay được triển khai qua hình thức cho vay theo nhóm hay cho vay gắn kết trách nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả của hợp đồng tín dụng Tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách nâng cao được khả năng tiếp cận thị thường thông qua việc tiếp

Trang 15

cận được vốn tín dụng họ biết cách xây dựng và triển khai một kế hoạch kinh doanh

ở mức độ đơn giản

2.1.2 Khái niệm về hộ gia đình

Theo Điều 106 của Bộ Luật Dân Sự 2005: "Hộ gia đình mà các thành viên cùng đóng góp công sức, tài sản chung để hợp tác kinh tế chung trong hoạt động sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc trong một số lĩnh vực kinh doanh khác do pháp luật quy định, là chủ thể trong các quan hệ dân sự đó; hộ gia đình mà đất ở được giao cho hộ cũng là chủ thể trong quan hệ dân sự liên quan đến đất ở đó"

Theo Phòng thống kê Liên Hiệp Quốc (Unied Nations Statistics Division) đã đưa ra khái niệm về hộ gia đình bao gồm hộ gia đình một người và hộ gia đình nhiều người Đây có thể được xem là định nghĩa được nhiều người nghiên cứu sử dụng, cụ thể:

Hộ gia đình một người được định nghĩa như là một sự sắp xếp, trong đó có một thành viên cung cấp thực phẩm và các yếu tố cần thiết cho nhu cầu bản thân mà không cần kết hợp với bất kỳ người nào khác để tạo thành một phần của một hộ gia đình đa thành viên

Hộ gia đình nhiều người, được định nghĩa là một nhóm của hai hay nhiều thành viên cùng chung sống với nhau và cùng lập dự phòng chung cho thực phẩm

và các yếu tố cần thiết khác cho cuộc sống Những người trong hộ gia đình này có thể góp chung thu nhập của họ và hình thành một ngân sách chung với mức độ nhiều hay ít; Những người này có thể có mội quan hệ hoặc không có quan hệ hoặc một sự kết hợp của những người liên quan và không liên quan

2.1.3 Khái niệm về hộ nghèo

Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu á - Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9-1993 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau:

“Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình

độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương

Năm 2015 Thủ tướng ban hành Quyết định 1614/QĐ-TTg ngày 15/9/2015 về

Trang 16

việc phê duyệt đề án "Chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo từ đơn chiều sang đa chiều" Theo đó, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 gồm tiêu chí về thu nhập, mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản Với tiêu chí về thu nhập, quyết định quy định chuẩn nghèo ở khu vực nông thôn là 700.000 đồng/người/tháng, ở khu vực thành thị 900.000 đồng/người/tháng Về tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, quyết định nêu rõ, các dịch vụ xã hội cơ bản bao gồm 5 dịch vụ: y tế, giáo dục, nhà

ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin Các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch

vụ xã hội cơ bản gồm 10 chỉ số: Tiếp cận các dịch vụ y tế; Bảo hiểm y tế; Trình độ giáo dục của người lớn; Tình trạng đi học của trẻ em; Chất lượng nhà ở; Diện tích nhà ở bình quân đầu người; Nguồn nước sinh hoạt; Hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; Sử dụng dịch vụ viễn thông; Tài sản phục vụ tiếp cận thông tin

Tiêu chí xác định chuẩn nghèo

Quyết định cũng quy định rõ chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020 Cụ thể, hộ nghèo khu vực nông thôn

là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 1-Có thu nhập bình quân đầu người/tháng

từ đủ 700.000 đồng trở xuống; 2-Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Hộ nghèo khu vực thành thị là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: 1-Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; 2-Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ

03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên

Mức chuẩn nghèo trên là căn cứ để đo lường và giám sát mức độ thiếu hụt về thu nhập và tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản của người dân; Là cơ sở xác định đối tượng để thực hiện các chính sách giảm nghèo và an sinh xã hội; Hoạch định các chính sách kinh tế - xã hội khác trong giai đoạn 2016 - 2020

Trang 17

2.1.4 Khái niệm về thu nhập

Theo Tổng cục thống kê (2010) định nghĩa "Thu nhập của hộ là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm"

Thu nhập của hộ bao gồm: thu nhập từ tiền công, tiền lương, thu nhập từ sản xuất nông lâm thủy hải sản (sau khi đã trừ chi phí và thuế sản xuất); Thu nhập từ sản xuất ngành nghề phi nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản (sau khi đã trừ chi phí

và thuế sản xuất); Thu khác được tính vào thu nhập như thu cho, biếu, mừng, lãi xuất tiết kiệm các khoản thu không tính vào thu nhập gồm rút tiền tiết kiệm, thu

nợ, bán tài sản, vay nợ, tạm ứng và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được do liên doanh, liên kết trong sản xuất kinh doanh

Công thức tính TNBQ đầu người theo Tổng cục thống kê Việt Nam:

TNBQ 1người/ 1tháng = Tổng TN trong năm của hộ / Tổng số người trong

Đặc điểm nổi bật của tín dụng cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác xuất phát từ đặc điểm của chính họ là cuộc sống sinh hoạt và lao động sản xuất kinh doanh phần lớn gắn với hoạt động nông nghiệp có tính mùa vụ cao, đa dạng về đối tượng tài trợ Thu nhập từ sản xuất, buôn bán nông sản, gia cầm, gia súc và

Trang 18

tiền lương lao động từ làm thuê là hai bộ phận cấu thành trong thu nhập của người nghèo Do sản phẩm từ nông nghiệp có tính mùa vụ cao và các khoản thu từ lao động làm thuê không ổn định, nguồn thu nhập, nhu cầu vay mượn có mức biến động cao, khó dự báo Nhu cầu vay vốn của người nghèo và các đối tượng chính sách khác phụ thuộc nhiều vào đời sống sinh hoạt và hoạt động sản xuất kinh doanh Các hộ nghèo khác nhau có nhu cầu vay mượn khác nhau như cải tạo công trình vệ sinh môi trường, chữa bệnh, đi học nghề, đi xuất khẩu lao động cho tới nhu cầu mua vật nuôi, mua cây giống, mua vật tư sản xuất Ngoài chi cho hoạt động sản xuất, nhu cầu chi tiêu của hộ nghèo còn bao gồm các khoản đột xuất khác như đau ốm, thiên tai dịch bệnh và đây không phải là các khoản cho vay truyền thống của ngân hàng thương mại nhưng lại rất cần thiết đối với hộ nghèo do các đối tượng này thường dễ bị tổn thương bởi các nhân tố bên ngoài và khả năng tự chống chọi là rất thấp Có thể thấy, tín dụng chính sách dành cho hộ nghèo không chỉ phát huy hiệu quả trong việc bổ sung vốn tức thời cho các hộ nghèo phát triển sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp, làm tăng thu nhập, cải thiện mức sống của hộ mà còn gián tiếp giải quyết việc làm nhàn rỗi và kích cầu thị trường yếu tố đầu vào của khu vực nông nghiệp

Trang 19

Bảng 1 Thu nhập bình quân của hộ nghèo tại thành phố Rạch Giá

tỉnh Kiên Giang giai đoạn 2011 - 2015

Đơn vị hành chính Tổng

số

hộ nghèo

Chia theo mức thu nhập đầu

người/tháng

Từ 400.000 đồng trở xuống

Từ 401.000 đến 500.000 đồng

Từ 500.000 đồng trở lên

Trang 20

Bảng 2 Số hộ nghèo chia theo nghề nghiệp chính giai đoạn 2011-2015

Đơn vị hành chính

Tổng

số

hộ nghèo

Công chức, viên chức

Chia theo diện hộ

Nông, lâm, thuỷ sản

Phi nông, lâm, thuỷ sản

(Theo cuốn Thực trạng hộ nghèo và hộ cận nghèo tỉnh Kiên Giang 2016)

2.2.2 Vai trò của tín dụng chính sách trong công tác giảm nghèo

Để thực hiện mục tiêu quốc gia về giảm nghèo, đảm bảo ASXH, Chính phủ Việt Nam đã có chính sách tín dụng hỗ trợ người nghèo, vùng nghèo và các đối

Trang 21

tượng chính sách khác trong lĩnh vực ASXH như học sinh, sinh viên có hoàn cảnh

khó khăn, doanh nghiệp nhỏ, tạo việc làm mới, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo…

Loại hình tín dụng này mang tính chính sách nên Nhà nước có chính sách ưu đãi,

đặc thù riêng đối với người vay về cơ chế cho vay, cơ chế xử lý rủi ro, lãi suất cho

vay, điều kiện, thủ tục vay vốn

Thông qua tín dụng chính sách, người nghèo và các đối tượng chính sách

khác sẽ giải quyết được khó khăn về nguồn lực tài chính, vốn dĩ luôn cản trở họ

trong đời sống sinh hoạt cũng như lao động Cũng nhờ tín dụng mà các đối tượng

chính sách sẽ được tiếp cận với các dịch vụ xã hội cơ bản khác như y tế, văn hóa,

giáo dục… để cùng với các chính sách khác của Nhà nước và chính sự nỗ lực của

bản thân để nhanh chóng thoát nghèo bền vững, bảo đảm an sinh xã hội

Tín dụng giúp các đối tượng chính sách vượt qua những yếu tố đã cản trở họ

với công cuộc thoát nghèo, thoát khỏi những khó khăn thường nhật trong cuộc sống

sinh hoạt và lao động Một trong những nguyên nhân căn bản dẫn tới nghèo là

người nghèo và các đối tượng chính sách khác không có năng lực lao động hoặc có

năng lực lao động nhưng không có đủ nguồn lực cần thiết để lao động Ở khía cạnh

thứ nhất, tín dụng chính sách giúp họ chữa trị bệnh tật hoặc được tham gia các

chương trình giáo dục, đào tạo để có năng lực lao động, qua đó có được việc làm,

tránh được tình trạng thất nghiệp, cải thiện thu nhập và xa hơn là thoát nghèo Ở

khía cạnh thứ hai, nhờ có tín dụng chính sách mà họ có thể đầu tư cơ sở sản xuất,

trang thiết bị lao động, mua các nguyên vật liệu đầu vào cho sản xuất, được trang bị

các công cụ lao động cần thiết, họ sẽ tập trung vào làm việc, nâng cao năng suất lao

động, từ đó cải thiện đời sống

Tín dụng chính sách giúp các đối tượng chính sách không phải vay từ các tổ

chức, cá nhân cho vay nặng lãi với mức lãi suất quả cao so với khả năng tài chính

của mình Không tiếp cận được với nguồn tín dụng thương mại đòi hỏi các yêu cầu

khắt khe về hồ sơ pháp lý, năng lực tài chính, tài sản bảo đảm… khiến người nghèo

và các đối tượng chính sách khác phải vay với lãi suất cao từ các tổ chức, cá nhân

trên địa bản địa phương, góp phần tạo điều kiện cho thị trường tín dụng phi chính

Trang 22

thức này phát triển Vay nợ với lãi suất cao hơn nhiều so với mức sinh lời tạo ra từ lao động đặt ra áp lực trả nợ lớn cho nhóm đối tượng này và xa hơn là khiến cho họ ngày càng gặp khó khăn hơn về tài chính, chủ không thực sự giúp họ vượt qua khó khăn Tín dụng chính sách với những ưu đãi về mặt lãi suất (thấp hơn lãi suất thị trường) và đi kèm là các ưu đãi khác về thời hạn trả nợ, phương thức trả nợ giúp cho các đối tượng chính sách cân bằng được mức sinh lời trong các hoạt động sản xuất kinh doanh, giúp họ không phải tìm đến các khoản tín dụng nặng lãi

2.3 Mối quan hệ giữa tín dụng và thu nhập của hộ nghèo

Nghiên cứu về đánh giá tác động của tín dụng đến thu nhập hay mức sống của hộ nghèo nhằm tìm ra mối quan hệ giữa việc vay tín dụng có tác động làm tăng thu nhập và cải thiện phúc lợi của hộ nghèo đã được thực hiện bởi nhiều tác giả ở các quốc gia khác nhau trên thế giới như nghiên cứu của Diagne và đồng sự (2000)

ở Bangladesh và Malawi; M Jahangir Alam Chowdhury (2002) ở Bangladesh; Saloulet và de-Janvry (1995); Quách Mạnh Hào (2005); Nguyễn Việt Cường (2008)

và Phan Đình Khôi (2012) ở Việt Nam; Brett E.Coleman ở Đông Bắc Thái Lan

Theo Saloulet và de-Janvry (1995) cho rằng các hộ nghèo có xu hướng giữ lại một phần sản phẩm có được từ sản xuất nông nghiệp hay lao động để tiêu dùng cho riêng hộ trong thị trường hoàn hảo Chỉ khi các sản phẩm hoặc lao động này dư thừa thì các hộ mới bán ra ngoài thị trường và khi hộ gia đình rơi vào tình trạng thiếu các yếu tố này thì sẽ tìm mua hoặc thuê lao động nhằm đảm bảo cho cuộc sống và sản xuất nông nghiệp Thông qua mô hình hành vi quyết định của hộ gia đình, Sadoulet và de-Janvry nhận thấy các hộ gia đình tham gia sản xuất và giao dịch trong thị trường hoàn hảo là không thực tế Thất bại thị trường xảy ra trong thị trường vốn thuộc khu vực sản xuất nông nghiệp, xuất phát từ đặc thù của ngành nông nghiệp là rủi ro cao và thu nhập phụ thuộc nhiều về thời tiết nên các hộ khó có thể tiếp cận được nguồn vốn tín dụng Thu nhập bếp bênh và không ổn định, trong khi các hộ gia đình vẫn phải chi tiêu dùng và tái đầu tư mở rộng sản xuất Do đó, hạn chế về mặt tín dụng làm cho quyết định của hộ nghèo phụ thuộc vào các yếu tố thuộc về đặc trưng của hộ, đặc trưng sản xuất và tiếp cận tín dụng

Trang 23

Nhìn chung, từ các kết quả nghiên cứu và mô hình về hành vi quyết định của

hộ gia đình cho thấy tín dụng có tác động đến thu nhập hay mức sống của hộ nghèo, giúp hộ nghèo có được những quyết định tối ưu cho hoạt động sản xuất của mình từ

đó có thể cải thiện phúc lợi của hộ gia đình

2.4 Các chương trình cho vay cho người nghèo của Ngân hàng chính sách xã hội thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang

Trong Báo cáo thường niên năm 2016 của NHCSXH cho thấy, tính đến 31/12/2016 thì tổng dư nợ đạt 128 tỷ đồng, tăng 5 tỷ đồng so với năm 2015, tương đương tỷ lệ tăng là 3,9%, trong đó:

Cho vay hộ nghèo chiếm tỷ trọng vốn 8,6% tổng dư nợ, tương ứng với 11 tỷ đồng

Cho vay HSSV đi học là 44 tỷ đồng, chiếm 34,3%

Cho vay giải quyết việc làm chiếm tỷ trọng vốn 8,6% tổng dư nợ 11 tỷ đồng Cho vay xuất khẩu lao động có thời hạn ở nước ngoài chiếm tỷ trọng vốn 0,2% tổng dư nợ 0,3 tỷ đồng

Cho vay cụm tuyến dân cư nhà vượt lũ chiếm tỷ trọng vốn 5,4% tổng dư nợ

Cho vay Quyết định 32, 74, dư nợ 1 tỷ đồng

Cho vay thương nhân vùng khó khăn 60 triệu đồng

Cho vay cận nghèo 12 tỷ đồng

Những thành tựu của NHCSXH minh chứng bằng các kết quả ấn tượng, đã giúp cho 8.519 hộ nghèo và đối tượng chính sách khác được vay vốn tín dụng ưu đãi, 2.457 hộ vượt qua được ngưỡng nghèo, tạo việc làm cho hơn 5.860 lao động; hơn 2.033 HSSV có hoàn cảnh khó khăn vay vốn đi học ( năm 2015, 2016)

Trang 24

Có thể thấy NHCSXH cũng là một trong những ngân hàng có nguồn cung vốn tín dụng quan trọng trong việc giúp các hộ gia đình nghèo có khả năng vay vốn

để tiếp tục thực hiện sản xuất nông nghiệp, mua bán kinh doanh mang đến cơ hội phát triển kinh tế gia đình nhằm cải thiện thu nhập để thoát nghèo Bên cạnh đó, từ những nguồn vốn ưu đãi từ NHCSXH, những hộ nghèo này có thể đầu tư vốn vào nguồn lực con người như nâng cao trình độ giáo dục, phát triển đào tạo nghề nhằm từng bước góp phần thay đổi diện mạo thành phố Rạch Giá trong quá trình công nghiệp hóa - hiện đại hóa

2.5 Một số nghiên cứu liên quan

Theo Ủy ban Châu Âu (European Commission, 2000), khái niệm tài chính vi

mô được hiểu theo nghĩa rộng hơn: Nó là sự cung cấp dịch vụ tài chính trên một phạm vi rộng bao gồm tiết kiệm, cho vay, dịch vụ tiền trả, chuyển giao tiền và bảo hiểm tới người nghèo và các hộ gia đình thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ Tài chính vi mô cần được hiểu rộng hơn sự tiếp cận và phân phối tiền, nó bao hàm những vấn đề sâu hơn như tiền được sử dụng, đầu tư và tiết kiệm như thế nào Ủy ban Châu Âu cũng cho rằng tài chính vi mô là một cách để giúp người dân tiếp cận đến cơ hội mới, cải thiện sự tự tin để tham gia vào đời sống xã hội

Hulme và Mosley (1996, trích trong Nichols 2004), đã nghiên cứu ảnh hưởng của tài chính vi mô đến từng đối tượng hộ nghèo, nghiên cứu được thực hiện

ở 13 tổ chức tài chính vi mô tại 1 quốc gia Bằng chứng cho thấy tác động của một khoản vay vào thu nhập của những đối tượng người nghèo theo mức độ khác nhau, đối tượng nghèo nằm ở "giữa" và “trên’ nghèo có nhiều khả năng được hưởng lợi nhiều hơn “lõi" nghèo Khách hàng ở “trên" ngưỡng nghèo sẵn sàng chấp nhận rủi

ro và đầu tư công nghệ để tăng khả năng tạo ra thu nhập Trong khi đó những người

ở “lõi” của nghèo thường vay để lại chi phí sinh hoạt, có xu hướng đầu tư nhỏ, manh mún, hiếm khi đầu tư vào công nghệ mới Thu nhập từ khoản vay của người nghèo (1988 - 1992) tăng bình quân trên các nhóm khác nhau từ 10 đến 12% ở Indonesia, khoảng 30% ở Bangladesh và Ấn Độ đối với những hộ nghèo có tham gia chương trình tài chính vi mô

Trang 25

Rogaly (1996) chỉ ra năm vấn đề của tài chính vi mô gồm: khuyến khích tình trạng áp dụng một phương pháp duy nhất để phân bổ nguồn lực trong giảm nghèo; Những người nghèo nhất khó tiếp cận và tài chính vi mô không hiệu quả đối với nhóm người này; Quá tập trung vào vấn đề quy mô tín dụng; Mới chỉ tiếp cận được một khía cạnh, một khái niệm đơn giản tài chính vi mô; Chưa đáp ứng đủ yêu cầu

về đào tạo và những nội dung cần thay đổi để thoát nghèo

Wright (2000) nhận định những lý do khiến tài chính vi mô nhận những chỉ trích là không tiếp cận đến được những người nghèo nhất, mang lại ít tác động đến thu nhập, khiến người phụ nữ ngày một phải phụ thuộc vào người đàn ông trong gia đình cũng như chưa cung cấp được những dịch vụ cần thiết cho người nghèo Tác giả đã chỉ ra có sự khác biệt rất lớn giữa việc tăng thu nhập và giảm nghèo: theo đó, việc tăng thu nhập cho người nghèo, các tổ chức tài chính vi mô chưa chắc đã làm giảm nghèo mà điều này còn phụ thuộc nhiều vào cách thức người nghèo sử dụng tín dụng Điểm mấu chốt là phải giúp cho người nghèo duy trì được một mức sống tốt nhất định một cách bền vững thông qua việc cung cấp cho họ những dịch vụ tài chính đã được thiết kế phù hợp với nhu cầu và khả năng

Nghiên cứu của Pitt và Khandker (2001) về các chương trình tín dụng cho người nghèo ở nông thôn Bangladesh đã kiểm chứng tác động của hình thức cho vay theo nhóm cho những người nghèo không có đất ở Bangladesh tới tiêu dùng của hộ gia đình và nguồn cung lao động theo mùa vụ Bởi lẽ như nhiều quốc gia Nam Á hoạt động nông nghiệp ở Bangladesh phụ thuộc nhiều vào thời tiết, mang tính chất mùa vụ rõ rệt, gây ra chênh lệch trong thu nhập, tiêu dùng và cung - cầu lao động vào các thời điểm khác nhau trong năm Chính vì vậy, người nghèo mong muốn có vốn để tham gia vào các hoạt động sản xuất phi nông nghiệp, ít gắn với các đặc trưng thời tiết Kết quả nghiên cứu dựa trên số liệu khảo sát năm 1991-1992

từ 1.798 hộ gia đình của 87 xã trong 29 huyện nông thôn Bangladesh chỉ ra rằng những hoạt động kinh tế tự phát được tài trợ bởi vốn tín dụng không tạo ra được thu nhập đáng kể hơn so với các hoạt động nông nghiệp Tuy nhiên, bằng việc tiết kiệm

và cho vay lại những người không tiếp cận được chương trình tín dụng theo nhóm,

Trang 26

tiêu dùng của các hộ gia đình được duy trì tốt hơn Như vậy, các khoản tín dụng được cho là đã giúp người nghèo có những khoản thu nhập đều đặn hơn, giúp họ tiêu dùng một cách thoải mái hơn ngay cả khi không vào chính vụ sản xuất nông nghiệp.

Otero (1999) nhận định tín dụng cho phép người nghèo tiếp cận với nguồn lực tài chính để cùng với sức lao động, thông qua đào tạo và giáo dục, và các nỗ lực

xã hội khác, giúp cho họ thoát khỏi nghèo đói Thông qua độ người nghèo có khả năng tham gia vào cộng đồng kinh tế và xã hội một cách dễ dàng hơn

Littcfielđ và Rosenbcrg (2004) nhận định rằng người nghèo là nhóm đối tượng khó tiếp cận các dịch vụ tài chính nên các tổ chức tài chính vi mô cung cấp tín dụng cho đối tượng này đã giải quyết khoảng trống về nguồn vốn Nhờ vậy, các

tổ chức tài chính vi mô trở thành một tổ chức của hệ thống tài chính chính thức và huy động được nguồn vốn phục vụ cho công tác tín dụng, tăng dần phạm vi và chất lượng phục vụ của mình

Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự (2005) đã thu thập số liệu từ

640 hộ nông dân ở Ninh Thuận và 619 hộ nông dân ở Bình Phước làm nguồn số liệu chính cho đề tài Các số liệu được phân tích dựa trên mô hình kinh tế lượng, với hàm hồi quy Logistic Biến phụ thuộc là chỉ tiêu bình quân/người, các biến giải thích là: việc làm, dân tộc thiểu số, diện tích đất canh tác, được vay vốn là những biến số có ý nghĩa thống kê để giải thích nguyên nhân ảnh hưởng tới nghèo đói của

hộ nông dân Khi các yếu tố khác không thay đổi với xác suất nghèo của một hộ gia đình là 30% ở Ninh Thuận cho thấy nếu hộ này được vay vốn tín dụng chính thức thì xác suất nghèo của hộ sẽ giảm xuống 20,7%; Ở Bình Phước, cho thấy nếu hộ này được vay vốn tín dụng chính thức thì xác suất nghèo của hộ sẽ giảm xuống 29%

Lê Việt Phương (2012) nghiên cứu về tác động của tài chính vi mô đến khả năng thoát nghèo của hộ gia đình nghèo tại huyện Bình Chánh, thành phố Hồ Chí Minh Tác giả khảo sát 250 mẫu ngẫu nhiên đại diện cho những hộ nghèo tham gia tài chính vi mô trên phạm vi toàn huyện Bình Chánh Các biến trình độ học vấn có

Trang 27

việc làm, số tiền vay vốn tập huấn, tương quan ý nghĩa với biến tình trạnh nghèo với mức ý nghĩa 1%, và mục đích sử dụng vốn vay với mức ý nghĩa 5%; Biến giới tính của chủ hộ và quy mô hộ không có ý nghĩa thống kê Kết quả nghiên cứu đã cho thấy 2 nhóm nhân tố có tác động tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ đó

là nhóm nhân tố thuộc bản thân hộ gia đình nghèo (trình độ học vấn và số người có việc làm trong hộ) và nhóm nhân tố thứ 2 Nhóm nhân tố tài chính vi mô, cũng góp phần không nhỏ cho việc thoát nghèo của hộ (tổng số tiền vay, số lần tham gia tập huấn từ chương trình tài chính vi mô, mục đích sử dụng vốn của hộ)

Tại Hội nghị Nhóm tư vấn các nhà tài trợ cho Việt Nam năm 2008, Ngân hàng Thế giới đã có báo cáo “Huy động và sử dụng vốn” bàn về phương thức để Việt Nam huy động và sư dụng vốn hiệu quả Báo cáo chỉ ra NHCSXH là tổ chức cung cấp các khoản vay theo mục tiêu cho người nghèo và các nhóm bị thiệt thòi Cũng giống như nhiều tổ chức tài chính vi mô trên thế giới, hoạt động cho vay chủ yếu dựa vào các tổ tiết kiệm và vay vốn, NHCSXH có điểm riêng là có sự hợp tác chặt chẽ với các tổ chức quần chúng, hội, đoàn thể và chính quyền địa phương để các tổ chức này giúp lựa chọn đối tượng cần vay vốn đồng thời thẩm tra xem họ có

đủ điều kiện vay vốn ưu đãi hay không Báo cáo nhận định trong điều kiện hoạt động đang được mở rộng nhanh chóng, NHCSXH đã sẵn sàng chiếm lĩnh vị trí thống lĩnh thị trường tài chính vi mô và sự độc quyền này làm nản lòng các ngân hàng thương mại và các tổ chức tài chính vi mô hoạt động trên thị trường Điều này

sẽ làm giám hiệu suất nói chung của hoạt động cho vay tài chính hướng tới các nhóm dân cư đang cần giúp đỡ nhất Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ đề cập một cách khái quát tới hoạt động cho vay và huy động của NHCSXH mà chưa phân tích sâu

về công tác quản lý tín dụng tại ngân hàng

Ngân hàng Thế giới (2013) cũng công bố “Báo cáo đánh giá nghèo Việt Nam 2012" với chủ đề “Khởi đầu tốt, nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn tượng của Việt Nam trong giảm nghèo và nhũng thách thức mới" Trong báo cáo này, Ngân hàng Thế giới nhận định Việt Nam đã đạt được thành tích lớn về tăng trưởng kinh tế và giam nghèo trong hai thập kỷ qua, trên cả khía cạnh thu nhập lẫn

Trang 28

các khía cạnh đời sống khác Báo cáo tập trung vào việc cập nhật hệ thống theo dõi nghèo đói của Việt Nam so với Ngân hàng Thế giới để xây dựng bức tranh nghèo cập nhật Thách thức mới nổi trong giảm nghèo là tình trạng bất bình đẳng ngày càng tăng Ngoài các báo cáo về tình hình nghèo trên cả nước còn có một số nghiên cứu về tình hình nghèo tại từng địa phương như “Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Thành phố Hồ Chí Minh", "Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Quảng Trị", “Đánh giá nghèo theo vùng - Vùng đồng bằng sông Hồng"

Theo Trịnh Hồ Hạ Nghị và cộng sự (2003) đã thực hiện Nghiên cứu "Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại thành phố Hồ Chí Minh" như là một nghiên cứu về vấn để nghèo đô thị của thành phố Hồ Chí Minh, cũng là một phần của nghiên cứu đánh giá tình trạng nghèo trên cả nước, với khung nghiên cứu được

Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Thế giới và Nhóm hành động chống đói nghèo, các viện nghiên cứu và các tổ chức phi chính phủ thực hiện Trước hết, nghiên cứu này nhằm nâng cao khái niệm và sự hiểu biết về vấn đề nghèo bằng cách tham vấn

ý kiến người nghèo về nguyên nhân nghèo, dựa trên đó các chính sách giảm nghèo

có thế được thực hiện hiệu quả hơn nhờ xác định những hành động ưu tiên giải quyết các vấn đề mà người nghèo nhận thấy quan trọng Nghiên cứu cũng chỉ ra các

hệ quả của tình trạng thiếu hộ khẩu thường trú có bao gồm việc tiếp cận các chương trình tín dụng bên cạnh vấn để không bình đẳng quyền lợi trong tiếp cận giáo dục, chăm sóc sức khoẻ, thụ hướng chương trình ưu đãi của Nhà nước Nghiên cứu

“Đánh giá nghèo có sự tham gia của cộng đồng tại Quảng Trị" năm 2003 chỉ ra nghèo đói có xu hướng tập trung tại các vùng núi cao, ven biển, bãi ngang và vùng đồng bằng hạ tầng cơ sở kém phát triền Các tổ chức như Hội phụ nữ có vai trò quan trong trong triển khai các mô hình xóa đói giảm nghèo như thành lập các tổ nhóm tin dụng tiết kiệm tín chấp vay vốn giảm nghèo Nhìn chung các nghiên cứu

kể trên không đề cập cụ thể tới NHCSXH mà chỉ khái quát về hoạt động cấp tín dụng cho người nghèo

Trang 29

Luận án “Hoàn thiện các chính sách xóa đói giảm nghèo chủ yếu của Việt Nam đến năm 2015" của Tiến sĩ Nguyễn Thị Hoa hoàn thành vào năm 2009 Dựa vào khung lý thuyết về tấn công đói nghèo của Ngân hàng thế giới và phương pháp đánh giá chính sách đói nghèo, luận án đã tiến hành đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam Từ đó tác giả đã chỉ ra những tác động tích cực và tiêu cực của mỗi chính sách và đề xuất những định hướng và giải pháp hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo của Việt Nam đến năm 2015 Cụ thể, luận án đã hệ thống hóa lý luận về đói nghèo và các phương pháp đánh giá chính sách xóa đói giảm nghèo và chỉ ra chính sách xóa đói giảm nghèo cần bao phủ một cách toàn diện đến các khía cạnh của đói nghèo Chính phủ đóng một vai trò đặc biệt trọng trong việc đưa ra các chính sách giải quyết tính đa chiều của đói nghèo Bên cạnh việc đưa ra các giải pháp chung cho hoàn thiện khâu hoạch định, thực hiện và giám sát đánh giá chính sách Kết quả đã đề xuất giải pháp cụ thể cho bốn chính sách xóa đói giảm nghèo là chủ yếu và xây dụng một ma trận khung hoàn thiện chính sách xóa đói giảm nghèo với mong muốn đảm bảo tính đồng bộ cũng như thống nhất trong cuộc xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam

Theo nghiên cứu của TS Tôn Thu Hiền “Sử dụng một số công cụ tài chính nhằm thực hiện mục tiêu giảm nghèo ở các tỉnh Tây Nguyên" đã hệ thống hóa và phân tích các vấn đề lý luận về nghèo và sự can thiệp của Chính phủ trong lĩnh vực giảm nghèo Theo luận án, trong khu vực chính thức NHCSXH đóng vai trò quan trọng nhất trong việc làm cầu nối tín dụng cho các hộ nghèo được nhận tín dụng để đầu tư phát triển sản xuất Bên cạnh hoạt động của NHCSXH, người nghèo ở nông thôn còn được tiếp cận với nguồn vốn vay của các tổ chức tài chính vi mô trong khu vực bán chính thức Đây là các tổ chức tài chính vi mô được thành lập bởi các tổ chức chính trị - xã hội và thực hiện các hoạt động tín dụng bằng nguồn vốn tài trợ của các tổ chức phi chính phủ trong nước và quốc tế Mạng lưới tài chính vi mô thường được tổ chức dưới hình thức hội, nhóm tiết kiệm phụ nữ hoặc Quỹ tín dụng Nhân dân, hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện tham gia, góp vốn tiết kiệm của các thành viên nhằm tạo ra quỹ vốn quay vòng tự quản lý tại cấp cộng đồng Dù đã có

Trang 30

những đóng góp đáng ghi nhận vào kết quả giảm nghèo, vẫn còn tình trạng rò rỉ về

đối tưọng tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi Một số chương trình cho vay chưa phù

hợp với nhu cầu của người nghèo và sử dụng vốn vay chưa hiện quả Qua nghiên

cứu đã đề xuất một số giải pháp bao gồm điều chỉnh các quy định nhằm tạo hành

lang pháp lý phù hợp phát triển hoạt động tài chính vi mô, nâng cao chất lượng hoạt

động tín dụng của NHCSXH (xác định đúng đối tượng, lãi suất, hạn mức tín dụng),

tăng cường các hoạt động phi tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay

Theo nghiên cứu của TS Lê Kiên Cường về "Tài chính vi mô hỗ trợ xóa đói

giảm nghèo tại tỉnh Đồng Nai đến năm 2020” tập trung vào phân tích thực trạng các

tổ chức tài chính vi mô đã rút ra một số kết luận đáng chú ý NHCSXH trong nhiều

khía cạnh được xem là tổ chức tài chính vi mô hơn các tổ chức tài chính khác, sự

hiện diện của NHCSXH có độ bao phủ tương đối rộng đến người nghèo trên cả

nước

Luận án tiến sĩ “Cơ sở khoa học của việc giảm nghèo bền vững cho các hộ

nông dân trên địa bàn tỉnh Bắc Kạn" của TS Hà Quang Trung năm 2014 đã chỉ ra

cần tiếp tục thực hiện tốt chính sách về tín dụng cho người nghèo, nâng mức vay

cao hơn, thời hạn cho vay dài hơn để phù hợp với yêu cầu sản xuất của người dân

Về nghiên cứu các hoạt động của NHCSXH, đề tài nghiên cứu khoa học

“Đánh giá ảnh hưởng của chương trình cho vay hộ nghèo đến sản xuất và đời sống

của người dân nông thôn" do NHCSXH thực hiện Đề tài hướng tới các mục tiêu về

tìm hiểu mục tiêu, nội dung và tiến trình thực thi của chương trình cho vay hộ

nghèo, đánh giá ảnh hưởng của chương trình đến việc cái thiện sản xuất và đời sống

của người nghèo ở khu vực nông thôn, tìm ra những nhân tố làm hạn chế hiệu quả

và tính bền vững của chương trình và từ đó đề xuất các giải pháp cải thiện hiệu quả

và duy trì tính bền vững của chương trình Để có đánh giá toàn diện về Chương

trình trên phạm vi toàn quốc, nhóm nghiên cứu chọn điểm nghiên cứu tại 4 khu vực,

tại mỗi khu vực chọn NHCSXH cấp tỉnh Sau đó chọn phòng giao dịch NHCSXH

cấp huyện từ đó tiến hành phỏng vấn các hộ nghèo vay vốn về các vấn đề tiếp cận

và sử dụng vốn vay Kết quả cho thấy, đa số hộ nghèo đã được tiếp cận vốn vay

Trang 31

thuận lợi trừ một số trường hợp như hộ nghèo thuộc diện già cả, neo đơn không có khả năng lao động, hộ nghèo không biết cách làm ăn hoặc không có ý thức lao động Hầu hết các hộ vay vốn điều đánh giá thủ tục và quy trình vay vốn đơn giản

và tiện lợi, lãi suất và thời hạn vay vốn tương đối phù hợp nhưng mức vay thực tế còn thấp hơn so với nhu cầu của một số hộ có khả năng và kinh nghiệm quản lý vốn vay tốt Hiệu quả sử dụng vốn vay và thu hồi vốn ảnh hưởng bởi năng lực và nhận thức của người sử dụng vốn cũng như năng lực và tinh thần trách nhiệm của cán bộ hội, tổ và cán bộ ngân hàng

Nghiên cứu về tín dụng nông thôn ở 4 tỉnh Hà Tây, Phú Thọ, Quảng Nam và Long An, Barslund và Tarp (2008) kết luận rằng hầu hết các món vay của các tổ chức cung cấp dịch vụ chính thức tập trung vào mục tiêu hỗ trợ sản xuất và tích lũy tài sản trong khi các hộ gia đình thực tế cần vay để chỉ trả cho nhu cầu tiêu thụ và chăm sóc sức khỏe hoặc xoay sở với rủi ro Thị trường tín dụng ở các khu vực có sự khác nhau ở tất cả các khía cạnh Vì vậy, tiếp cận chính sách một mức vay cho tất

cả các vùng là không hiệu quả Điều này đòi hỏi chính sách công cần được thiết kế một cách cẩn thận mới mang lại hiệu quả và sự bền vững

Trang 32

CHƯƠNG III: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3.1 Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu này được thiết kế thực hiện tuần tự theo hai bước Bước 1, là nghiên cứu khám phá sử dụng phương pháp định tính được tiến hành thông qua kỹ thuật tổng hợp các lý thuyết về tiếp cận tín dụng của các hộ nghèo, các khảo lược nghiên cứu thực nghiệm có liên quan đến việc tiếp cận vốn vay của hộ nghèo ở khu vực nông thôn tại Việt Nam và thế giới, kết hợp với phân tích tình hình thực tiễn của hộ nghèo được nghiên cứu, mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất được xây dựng Bước 2, phân tích dữ liệu nhằm kiểm chứng mô hình lý thuyết đã xây dựng ở Bước 1

Trên cơ sở mô hình nghiên cứu lý thuyết đề xuất, tác giả tiến hành thu thập thông tin và dữ liệu từ kết quả điều tra hộ nghèo của thành phố Rạch Giá và số liệu cho vay từ NHCSXH thành phố, dữ liệu thu thập về được tổng hợp, làm sạch và xử

lý trước khi phân tích Bằng viê ̣c sử du ̣ng mô hình OLS, tác giả sẽ tiến hành sử dụng phần mền SPSS để kiểm chứng, làm rõ tác động của viê ̣c tiếp cận tín du ̣ng từ NHCSXH và các yếu tố khác đến thu nhập của các hộ nghèo tại thành phố Rạch Giá tỉnh Kiên Giang Cuối cùng, tác giả tiến hành các kiểm định đánh giá mô hình phù hợp và phân tích kết quả

Trang 33

Mục tiêu Lý thuyết Phân tích Kết quả Thảo luận

Tổng hợp

lý thuyết nghiên cứu

Thu thập dữ liệu từ các nguồn

Phân tích

Phân tích các yếu

tố ảnh hưởng đến thu nhập của các

hộ nghèo ở thành phố Rạch Giá bằng phương pháp hồi quy OLS

Kiểm định độ phù hợp và kiểm chứng mô hình lý thuyết

Tổng hợp và

xử lý dữ liệu trước khi phân tích

Xây dựng mô hình nghiên cứu lý thuyết

Phân tích thống kê

mô tả các biến nghiên cứu

Trang 34

3.3 Xây dựng mô hình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

3.3.1 Mô hình nghiên cứu

Trong phần lược khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả vận dụng để xây dựng mô hình phân tích của đề tài

Mô hình hồi quy tuyến tính logarit có dạng:

 : Sai số ngẫu nhiên

Biến độc lập hay còn gọi là các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân của hộ gia đình bao gồm:

X1: Biến giới tính của chủ hộ, được quy định: Nam = 1, nữ =0

Y = Tổng thu nhập của các thành viên hộ gia đình trong năm

Trang 35

X2: Biến thể hiện độ tuổi của chủ hộ

X3: Biến thể hiện trình độ học vấn của chủ hộ

X4: Biến quy mô hộ gia đình

X5: Biến tỷ lệ phụ thuộc

X6: Biến tổng tài sản của hộ

X7: Biến tín dụng nghèo, thể hiện số tiền vay của hộ nghèo

3.3.2 Phương pháp nghiên cứu

Từ nguồn số liê ̣u thứ cấp được cung cấp bởi Kết quả điều tra hộ nghèo năm 2015 và số liệu cho vay từ NHCSXH thành phố Rạch Giá, tác giả xây dựng thành hệ thống các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân của hộ, thông qua

mô hình nghiên cứu OLS Tác giả lấy logarithm của các chuỗi dữ liệu về tổng thu nhập của các hộ gia đình, tổng giá trị tài sản của hộ gia đình và tổng tín dụng cho hộ nghèo để làm trơn dữ liệu, giảm tính biến động của dữ liệu Bước tiếp theo sau khi

mô hình được xây dựng, tác giả tiến hành xử lý số liệu và lưu thành bộ cơ sở dữ liệu chéo bằng Excel Từ bộ cơ sở dữ liệu vừa được xử lý, tác giả tiến hành thực hiện phương pháp phân tích thống kê bằng phần mềm SPSS, thông qua phương pháp thống kê mô tả người đọc sẽ có được cái nhìn tổng quan về tình hình và những đặc điểm chung của mẫu nghiên cứu Tiếp theo, tác giả tiếp tục phân tích định lượng bằng phương pháp bình phương nhỏ nhất (OLS) Theo Gujarati (1993), đây là phương pháp có một số tính chất thống kê hấp dẫn làm cho nó trở thành phương pháp phân tích hồi quy mạnh nhất và phổ biến nhất

Trang 36

Excel, rồi từ Excel chuyển số liệu đó vào phần mềm SPSS Từ đó, tác giả tiến hành thực hiện các bước thống kê mô tả, tiếp theo tiến hành chạy hồi quy, sau khi chạy hồi qui bằng phương pháp OLS tác giả thu được kết quả cuối cùng, lấy kết quả đó làm cơ sở cho những kết luận của bài nghiên cứu

3.4.2 Thu nhập của hộ gia đình và các nhân tố

3.4.2.1 Thu nhập của hộ gia đình

Biến số tổng thu nhập của hộ gia đình là biến phụ thuộc trong bài nghiên cứu Đây là biến số mục tiêu trong việc xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của hộ nghèo thành phố Rạch Giá

3.4.2.2 Mô tả các nhân tố tác động đến thu nhập bình quân hộ gia đình

Quy mô hộ: Là số nhân khẩu trong hộ gia đình gồm trẻ em, người lớn và

người già Số nhân khẩu càng lớn thì thu nhập bình quân đầu người và chi tiêu bình quân đầu người càng giảm Do đó, quy mô hộ sẽ có mối quan hệ nghịch biến với thu nhập và mức chi tiêu của hộ gia đình Điều này được tìm thấy trong các nghiên cứu đánh giá tác động đến thu nhập hộ gia đình như: Phan Đình Khôi (2012), Nguyễn Việt Cường (2008) và Báo cáo phát triển Việt Nam (2004) của Ngân hàng Thế giới Kỳ vọng về tác động của quy mô hộ gia đình đến thu nhập của hộ gia đình

là mối quan hệ nghịch (dấu -)

Tỷ lệ người phụ thuộc: Là tỷ lệ các thành viên trong hộ chưa tới tuổi lao

động, ngoài độ tuổi lao động hoặc những người trong độ tuổi lao động nhưng không

có việc làm, người tàn tận cần nuôi dưỡng trên tổng số thành viên của hộ Đây là những thành viên trong hộ không có khả năng tạo ra thu nhập và sống nhờ vào thu nhập của các thành viên khác trong gia đình (các thành viên có tham gia lao động và tạo ra thu nhập) Những người phụ thuộc này được chia làm 03 nhóm chính: nhóm người dưới 15 tuổi, chưa có khả năng ký kết hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật và không tạo ra thu nhập; Nhóm người quá tuổi lao động hay về hưu (trên

60 tuổi đối với nam và 55 tuổi đối với nữ); Nhóm người trong độ tuổi lao động nhưng không có việc làm, người tàn tận cần nuôi dưỡng Tỷ lệ phụ thuộc cao thì mức sống của hộ gia đình giảm xuống, do số thành viên không tạo ra thu nhập càng

Ngày đăng: 13/05/2021, 22:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w