Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hiện đại, thuế không chỉ là nguồn thu cho Ngân sách Nhà nước mà còn là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô Tại Việt Nam, thuế gián thu, đặc biệt là thuế giá trị gia tăng (GTGT), đóng vai trò quan trọng trong tổng thu ngân sách Thuế GTGT là loại thuế tiến bộ, ảnh hưởng đến hầu hết người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, do đó có tác động lớn đến các lĩnh vực kinh tế, chính trị và xã hội Trong bối cảnh toàn cầu hóa, quản lý thu thuế GTGT trở thành ưu tiên hàng đầu của các quốc gia.
Chi Cục thuế huyện Chi Lăng, thuộc Cục thuế tỉnh Lạng Sơn, được thành lập từ năm 1990 và đã nỗ lực hoàn thành nhiệm vụ thu ngân sách địa phương Sự phát triển của huyện đã giúp Chi cục thuế Chi Lăng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào nguồn thu ngân sách nhà nước Trong giai đoạn 2014-2018, số thu thuế GTGT tăng dần từ 7,2 tỷ lên 11,5 tỷ đồng, nhưng vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của huyện Các vấn đề như sử dụng hóa đơn giả, khai khống hóa đơn, gian lận thuế và nợ đọng kéo dài đã ảnh hưởng đến doanh thu thuế Do đó, việc tăng cường quản lý thu thuế và hoàn thiện chính sách thuế GTGT là nhiệm vụ trọng tâm trong chiến lược phát triển ngành thuế giai đoạn 2020-2025, nhằm tăng thu cho ngân sách địa phương và đảm bảo tính minh bạch, công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế.
Dựa trên những vấn đề đã nêu và kinh nghiệm làm việc tại Chi cục thuế Huyện Chi Lăng, tác giả quyết định chọn đề tài "Quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp trên địa bàn Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn" làm nội dung cho luận văn thạc sĩ của mình.
Mục đích nghiên cứu của đề tài
Mục đích của chuyên đề này là nghiên cứu sâu về công tác quản lý thu thuế GTGT đối với doanh nghiệp tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn Bài viết sẽ làm rõ những vấn đề lý luận chưa phù hợp với thực tiễn và ngược lại, từ đó đề xuất các giải pháp khả thi, phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội của huyện, nhằm khắc phục những tồn tại và khó khăn trong quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp.
Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu đề tài luận văn chuyên ngành kinh tế, tác giả áp dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, đồng thời xem xét các quy luật kinh tế trong bối cảnh nền kinh tế thị trường.
Luận văn sử dụng các phương pháp sau đây để triển khai nội dung nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập số liệu
- Phương pháp phân tích, so sánh
- Phương pháp thống kê, tổng hợp
5 Ý nghĩa kho học và thực tiễn của đề tài a Ý nghĩa khoa học của đề tài
Nghiên cứu này phân tích các khía cạnh lý luận và thực tiễn liên quan đến quản lý thu thuế Giá trị gia tăng tại huyện Chi Lăng Đề tài có ý nghĩa thực tiễn quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả công tác quản lý thu thuế, nhằm phát hiện những hạn chế và tồn tại hiện có Từ đó, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu thuế đối với doanh nghiệp trong khu vực huyện Chi Lăng.
6 Kết quả dự kiến đạt được của để tài
Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn trong công tác quản lý thu thuế giá trị gia tăng là rất quan trọng đối với doanh nghiệp tại huyện Chi Lăng Việc này giúp nâng cao hiệu quả thu ngân sách và đảm bảo tính công bằng trong quản lý thuế Các phương pháp quản lý cần được áp dụng một cách đồng bộ và hiệu quả, nhằm hỗ trợ doanh nghiệp phát triển bền vững và tuân thủ các quy định pháp luật Đồng thời, cần tăng cường công tác tuyên truyền, hướng dẫn cho doanh nghiệp về nghĩa vụ thuế, từ đó góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế trong cộng đồng doanh nghiệp.
Bài viết này phân tích thực trạng quản lý thu thuế Giá trị gia tăng tại huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế trong thời gian tới.
7 Nội dung của luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được chia thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp
Chương 2: Thực trạng quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp trên địa bàn huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý thu thuế giá trị gia tăng đối với doanh nghiệp tại Chi cục thuế Huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ THU THUẾ GIÁ TRỊ GIA TĂNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP
1.1 Thuế giá trị gia tăng và quản lý thu thuế giá trị gia tăng
1.1.1 Tổng quan về thuế Giá trị gia tăng
Vào năm 1954, Pháp đã thử nghiệm thuế giá trị gia tăng (TVA), hay còn gọi là VAT, nhằm thay thế thuế sản xuất và một số sắc thuế gián thu khác Chỉ sau một năm, TVA đã chính thức được áp dụng tại Pháp Hiện nay, nhiều quốc gia trong Liên minh châu Âu (EU) và các cường quốc kinh tế như Đức, Nhật Bản, và Canada cũng đã thực thi thuế này Thuế giá trị gia tăng hiện đã được áp dụng tại hơn 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên toàn thế giới.
Chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, Đảng và Nhà nước đang thực hiện các chính sách đổi mới kinh tế, thúc đẩy công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Trong bối cảnh toàn cầu hóa, thuế doanh thu không còn phù hợp và cần được thay thế bằng thuế GTGT, một loại thuế hiện đại đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều nước phát triển.
Vào ngày 05-07-1993, Bộ Tài chính đã ban hành quyết định số 486TC/QĐ/BTC, triển khai thí điểm thuế giá trị gia tăng (GTGT) tại một số doanh nghiệp quốc doanh trong các ngành có quy trình chuyển từ sản xuất đến tiêu dùng phức tạp, như sản xuất ximăng, sợi, dệt và đường.
Tổng cộng có 11 doanh nghiệp đã đăng ký và thực hiện thí điểm Nhà nước đã liên tục tiến hành cải cách thuế qua hai giai đoạn: bước 1 từ năm 1990 đến 1996 và bước 2 sau đó.
Sau một thời gian triển khai thực hiện luật thuế GTGT, dự thảo luật đã được thông qua tại kỳ họp Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 11 Dưới sự chỉ đạo của chính phủ, các ban soạn thảo đã tích cực chuẩn bị các văn bản hướng dẫn thi hành luật Đến ngày 31-12-1998, đã có đủ các văn bản hướng dẫn cần thiết cho việc thực hiện luật thuế này Từ ngày 1-1-1999, luật thuế GTGT chính thức được áp dụng trên toàn quốc theo Nghị định số 18/1998/NĐ-CP và Thông tư số 89/1998/TT-BTC.
1.1.2 Khái niệm, đặc trưng của thuế giá trị gia tăng
Thuế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, phản ánh bản chất của chế độ xã hội Để bảo đảm nguồn thu này và khuyến khích sự đóng góp của toàn dân, cần quản lý thuế một cách hiệu quả nhằm tạo ra nguồn lực tài chính mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng đất nước.
Thuế Giá trị gia tăng (GTGT) là một loại thuế hiện đại, đã được nghiên cứu từ sớm bởi các nhà kinh tế Xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1917, thuế GTGT đã trải qua nhiều giai đoạn áp dụng và kiểm nghiệm ở nhiều quốc gia, dẫn đến sự hình thành nhiều quan điểm và cách nhìn nhận khác nhau về loại thuế này.
Thuế giá trị gia tăng (GTGT) là loại thuế đánh vào phần giá trị tăng thêm của hàng hóa và dịch vụ trong suốt quá trình sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Tại Việt Nam, thuế GTGT do các cơ sở sản xuất kinh doanh thu hộ từ người tiêu dùng và người tiêu dùng là đối tượng chịu thuế Điều này có nghĩa là thuế GTGT được tính dựa trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ trong từng giai đoạn của chuỗi cung ứng.
Thuế GTGT là loại thuế gián thu áp dụng cho hàng hóa và dịch vụ, ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả mà người tiêu dùng phải trả Nó được tính vào giá bán của nhà cung cấp, đồng nghĩa với việc giá mua hàng hóa và dịch vụ mà người tiêu dùng thanh toán đã bao gồm thuế GTGT.
Thuế GTGT là loại thuế đánh vào giá trị gia tăng của hàng hóa và dịch vụ trong các giai đoạn sản xuất, lưu thông và tiêu dùng Tổng số thuế GTGT thu được từ tất cả các giai đoạn sẽ tương đương với số thuế GTGT tính trên giá bán cuối cùng cho người tiêu dùng.
Nguyên tắc thu thuế GTGT chỉ áp dụng ở khâu bán hàng cuối cùng, nhưng thực tế khó xác định rõ đâu là khâu này và đâu là khâu trung gian Do đó, mọi hành vi mua hàng đều phải chịu thuế Số thuế GTGT ở các khâu trước sẽ được cộng vào giá bán ở khâu sau, dẫn đến người tiêu dùng cuối cùng phải gánh toàn bộ số thuế phát sinh qua từng giai đoạn trong quá trình sản xuất và kinh doanh hàng hóa, dịch vụ.
Thuế GTGT là loại thuế có tính trung lập cao, được biểu hiện ở hai khía cạnh: